Bản dịch
CND 1 — Kệ Ngôn Giới Thiệu
1. Vatthugāthā
1. Có vị Bà-la-môn tinh thông chú thuật, trong khi ước nguyện về trạng thái vô sở hữu, từ thành phố đáng yêu của xứ Kosala đã đi đến khu vực phía Nam.
2. Vị ấy đã trú ngụ ở địa phận Assaka, kế bên vùng Mūlaka, bên bờ sông Godāvarī (sống) bằng vật lượm lặt và trái cây.
3. Và đã có một ngôi làng rộng lớn kề cận với bờ sông ấy. Với thu nhập phát sanh từ nơi ấy, vị Bà-la-môn đã sắp đặt một cuộc tế lễ vĩ đại.
4. Sau khi đã cống hiến cuộc tế lễ vĩ đại, vị Bà-la-môn đã đi vào lại nơi ẩn cư. Khi vị ấy đã đi vào trong, một người Bà-la-môn khác đã đi đến.
5. Và người ấy, với bàn chân bị sưng vù, run lập cập, có răng đóng bợn, với đầu lấm bụi, đã đi đến gần vị Bà-la-môn và cầu xin năm trăm (tiền).
6. Sau khi nhìn thấy kẻ ấy đấy, (Bà-la-môn) Bāvarī đã mời chỗ ngồi, đã hỏi về sự an lạc và tốt lành, rồi đã nói lời này:
7. “Quả thật, cái gì thuộc về tôi mà là vật có thể bố thí, thì tôi đã ban phát tất cả rồi. Này ông Bà-la-môn, xin hãy hiểu cho tôi, tôi không có năm trăm.”
8. “Nếu trong khi được tôi cầu xin, mà ngài không ban cho, thì vào ngày thứ bảy, cái đầu của ngài hãy bể tan thành bảy mảnh.”
9. Sau khi làm thủ thuật, kẻ dối trá ấy đã thốt lời hăm dọa. Sau khi nghe được lời nói ấy của kẻ ấy, Bāvarī đã trở nên sầu khổ.
10. (Vị ấy) trở nên héo mòn, không thức ăn, đã bị đâm trúng bởi mũi tên sầu muộn, Rồi cũng thế, đối với người có tâm như vậy, ý không vui thích trong việc tham thiền.
11. Sau khi nhìn thấy Bāvarī bị run sợ, bị sầu khổ, vị Thiên nhân có lòng mong mỏi điều tốt đẹp, đã đi đến gặp Bāvarī và đã nói lời này:
12. “Gã ấy không nhận biết về cái đầu. Gã dối trá ấy là kẻ tầm cầu tài sản. Sự hiểu biết của gã ấy về cái đầu hay về việc làm vỡ cái đầu không hiện hữu.”
13. “Thưa tiên nữ, nếu nàng biết, khi được tôi hỏi, xin nàng hãy nói với tôi về điều ấy, về cái đầu và về việc làm vỡ cái đầu. Chúng tôi xin lắng nghe lời nói của nàng về điều ấy.”
14. “Ngay cả tôi cũng không biết về điều này; sự hiểu biết của tôi về lĩnh vực này không hiện hữu. Kiến thức ở lĩnh vực này, cái đầu và việc làm vỡ cái đầu, chỉ riêng thuộc về các đấng Chiến Thắng.”
15. “Vậy thì hiện nay, ở trái đất hình cầu này, người nào biết về cái đầu và về việc làm vỡ cái đầu? Thưa tiên nữ, xin nàng hãy nói điều ấy cho tôi.”
16. “Bậc Lãnh Đạo Thế Gian, hậu duệ của đức vua Okkāka, con trai dòng Sakya, đấng Mặt Trời, trước đây đã ra đi từ thành Kapilavatthu.
17. Này Bà-la-môn, vị ấy chính là đấng Toàn Giác, bậc đã đi đến bờ kia đối với tất cả các pháp, đã đạt được năng lực của tất cả các thắng trí, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp, đã đạt đến sự cạn kiệt đối với tất cả các nghiệp, đã được giải thoát về sự diệt tận các mầm tái sanh.
18. Vị ấy là đức Phật, đấng Thế Tôn ở thế gian, bậc Hữu Nhãn thuyết giảng Giáo Pháp. Ông hãy đi đến và hỏi vị ấy. Vị ấy sẽ giải thích điều ấy cho ông.”
19. Sau khi nghe được câu nói “Đấng Toàn Giác,” Bāvarī đã trở nên phấn khởi. Nỗi sầu muộn của vị này đã trở thành nhỏ nhoi, và ông ta đã đạt được niềm vui bao la.
20. Vị Bāvarī ấy, có ý hài lòng, phấn khởi, sanh nỗi hân hoan, hỏi người tiên nữ ấy rằng: “Đấng Bảo Hộ Thế Gian ở ngôi làng hoặc ở phố thị nào, hay ở xứ sở nào? Chúng tôi sẽ đi đến nơi ấy và lễ bái đấng Toàn Giác, bậc tối thượng của loài người.”
21. “Đấng Chiến Thắng ở Sāvatthi, cung điện của xứ Kosala, có tuệ rộng lớn, có sự sáng suốt quảng đại cao quý. Người con trai dòng Sakya ấy không kẻ sánh bằng, không còn lậu hoặc, là bậc Nhân Ngưu, vị hiểu biết về việc làm vỡ cái đầu.”
22. Sau đó, vị Bà-la-môn đã bảo những người học trò tinh thông về chú thuật rằng: “Này các cậu thanh niên hãy đi đến, ta sẽ nói. Các ngươi hãy lắng nghe lời nói của ta.
23. Sự xuất hiện thường xuyên ấy của vị nào là điều khó đạt được ở thế gian, vị ấy hôm nay đã hiện khởi ở thế gian, được biết tiếng là “Đấng Toàn Giác.” Chúng ta hãy nhanh chóng đi đến Sāvatthi và diện kiến bậc tối thượng của loài người.”
24. “Thưa Bà-la-môn, vậy làm thế nào chúng con có thể biết là ‘Đức Phật’ sau khi nhìn thấy? Xin thầy hãy nói ra cho những người không biết chúng con để chúng con có thể nhận biết vị ấy.”
25. “Các tướng trạng của bậc đại nhân quả đã được lưu truyền ở các chú thuật, và ba mươi hai điều đã được thuật lại đầy đủ theo thứ tự.
26. Vị nào có những tướng trạng của bậc đại nhân này ở các phần thân thể, đối với vị ấy chỉ có hai lối đi, bởi vì lối đi thứ ba không có.
27. Nếu sống tại gia, vị ấy sẽ chinh phục trái đất này và cai quản đúng pháp, không nhờ vào gậy gộc, không nhờ vào gươm đao.
28. Và nếu vị ấy xuất gia, rời nhà sống không nhà, thì (sẽ) trở thành đấng Toàn Giác, bậc A-la-hán, đấng Vô Thượng, có màn che (vô minh) đã được xua tan.
29. Các ngươi hãy hỏi, chỉ bằng ý mà thôi, về việc sanh ra và về dòng họ, về tướng trạng, về các chú thuật, về các học trò, về những điều khác nữa (liên quan đến ta), về cái đầu và về việc làm vỡ cái đầu.
30. Nếu là đức Phật, bậc có sự nhìn thấy không bị chướng ngại, thì khi câu hỏi được hỏi bằng ý, (vị ấy) sẽ đáp lại bằng lời nói.”
31. Sau khi lắng nghe lời nói của Bāvarī, mười sáu vị Bà-la-môn học trò là: Ajita, Tissametteyya, Puṇṇaka, rồi Mettagū, ...
32. Dhotaka, và Upasīva, Nanda, rồi Hemaka, hai vị Todeyya, và Kappa, và vị sáng suốt Jatukaṇṇī, ...
33. Bhadrāvudha, và Udaya, luôn cả Bà-la-môn Posāla, và vị thông minh Mogharājā, và vị đại ẩn sĩ Piṅgiya.
34. Tất cả là những vị có đồ chúng riêng, được nổi tiếng khắp cả thế gian, có thiền chứng, thích thú với thiền, sáng trí, đã được huân tập thành thói quen trong quá khứ.
35. Sau khi đã đảnh lễ Bāvarī, và thực hiện việc nhiễu quanh vị ấy, tất cả có tóc bện, mặc y da dê, đã ra đi hướng về phía bắc.
36. (Họ đã đi) đến Patiṭṭhāna của xứ sở Mūlaka trước tiên, rồi đến Māhissatī, luôn cả Ujjenī, Gonaddhā, Vedisā, và (thành phố) có tên Vana.
37. Rồi đến Kosambī, luôn cả sāketa, và thành phố hạng nhất Sāvatthi, Setavya, Kapilavatthu, và cung điện Kusinārā.
38. Pāvā, và thành phố Bhogā, Vesālī, thành phố xứ Magadha, và điện thờ Pāsāṇakaṃ đáng yêu, thich ý.
39. Tựa như người bị khát nước được nước mát, tựa như thương buôn được lợi lớn, tựa như người bị thiêu đốt bởi sức nóng được bóng râm, họ đã vui mừng trèo lên ngọn núi.
40. Và vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn, được hội chúng tỳ khưu tôn vinh, thuyết giảng Giáo Pháp cho các vị tỳ khưu, tựa như con sư tử gầm thét ở khu rừng.
41. Ajita đã nhìn thấy đấng Toàn Giác tựa như mặt trời có trăm ánh hào quang, giống như mặt trăng đã tiến gần đến sự tròn đầy vào ngày mười lăm.
42. Rồi sau khi nhìn thấy các phần thân thể của vị này và dấu hiệu được đầy đủ, Ajita, đứng ở một bên, mừng rỡ, đã hỏi bằng ý các câu hỏi rằng:
43. “Xin Ngài hãy xác định và nói về việc sanh ra (của vị Bāvarī). Xin Ngài hãy nói về dòng họ cùng với tướng trạng. Xin Ngài hãy nói về sự toàn hảo ở các chú thuật. Vị Bà-la-môn (Bāvarī) dạy bảo được bao nhiêu?”
44. “Tuổi thọ là một trăm hai mươi. Và theo dòng họ vị ấy là Bāvarī. Ở thân thể vị này có ba tướng trạng. Là vị tinh thông về ba bộ Vệ Đà.
45. Là người đã đạt đến sự toàn hảo về pháp (Bà-la-môn) của mình, về tướng trạng và về lịch sử, về từ vựng và về nghi lễ, (Bāvarī) dạy bảo năm trăm (học trò).”
46. “Thưa bậc Tối Thượng Nhân, thưa bậc đã cắt đứt tham ái, xin Ngài hãy giải thích chi tiết về các tướng trạng của Bāvarī, xin chớ để chúng tôi bị hoài nghi.”
47. “(Người ấy) che khuất khuôn mặt bằng cái lưỡi, có sợi lông ở khoảng giữa chân mày của người này, vật được che giấu sau lớp vải (vật kín) được bọc lại; này người thanh niên, hãy biết như thế.”
48. Trong khi không nghe bất kỳ câu hỏi nào, mà đã nghe các câu hỏi được trả lời, tất cả mọi người sanh nỗi hân hoan, tay chắp lại, suy nghĩ rằng:
49. “Vậy thì vị Trời nào, hay đấng Đại Phạm, hoặc (Thiên vương) Inda chồng của Sujā, đã hỏi bằng ý những câu hỏi ấy? (Đức Phật) đáp lại điều này cho ai?”
50. “Vị Bāvarī hỏi về cái đầu và về việc làm vỡ cái đầu. Thưa đức Thế Tôn, xin Ngài hãy trả lời điều ấy. Thưa bậc ẩn sĩ, xin Ngài hãy xua đi nỗi nghi ngờ của chúng tôi.”
51. “Người hãy biết vô minh là ‘cái đầu,’ minh với việc đập vỡ cái đầu, được liên kết với tín, niệm, định, ... với ước muốn và tinh tấn.”
52. Do đó, với nỗi hân hoan lớn lao, sau khi trấn tĩnh lại người thanh niên Bà-la-môn đã khoác tấm da dê một bên vai, quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân (đức Phật và nói rằng):
53. “Thưa Ngài, Bà-la-môn Bāvarī, có tâm phấn khởi, có ý tốt lành, cùng với các học trò đảnh lễ hai bàn chân của Ngài, thưa bậc Hữu Nhãn.”
54. “Mong sao Bà-la-môn Bāvarī cùng với các học trò được an lạc. Và luôn cả ngươi nữa hãy được an lạc. Này người thanh niên, chúc người sống thọ.
55. Từ cơ hội đã được tạo ra, ngươi hãy hỏi mọi điều hoài nghi của tất cả, của Bāvarī, hoặc của ngươi, bất cứ điều gì ngươi mong muốn ở trong tâm.”
56. Với cơ hội đã được tạo ra bởi đấng Toàn Giác, Ajita đã ngồi xuống, chắp tay lại, tại nơi ấy đã hỏi đức Như Lai câu hỏi thứ nhất.
Dứt Kệ Ngôn Giới Thiệu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kosalānaṃ purā rammā, agamā dakkhiṇāpathaṃ;
Ākiñcaññaṃ patthayāno, brāhmaṇo mantapāragū.
A brahmin who had gone to the further shore of the Vedas, desiring the state of nothingness, went from the delightful city of the Kosalans to the southern region.
Từ thành phố khả ái của xứ Kosala, vị Bà-la-môn thông suốt các Veda, mong cầu trạng thái vô sở hữu, đã đi đến miền Nam.
2.
2.
2.
So assakassa visaye, maḷakassa † samāsane †;
Vasi godhāvarīkūle, uñchena ca phalena ca.
He dwelt on the bank of the Godhāvarī river in a region near Assaka and Maḷaka, living by gleaning and by fruits.
Vị ấy đã sống bên bờ sông Godhāvarī, trong lãnh địa của xứ Assaka, gần kề xứ Maḷaka, bằng (việc lượm lúa mót) và bằng trái cây.
3.
3.
3.
Tasseva † upanissāya, gāmo ca vipulo ahu;
Tato jātena āyena, mahāyaññamakappayi.
Dependent on that very place, a large village arose. With the revenue that arose from it, he prepared a great sacrifice.
Nương vào nơi ấy, một ngôi làng lớn đã được hình thành. Với lợi tức phát sanh từ đó, vị ấy đã thực hiện cuộc đại tế lễ.
4.
4.
4.
Mahāyaññaṃ yajitvāna, puna pāvisi assamaṃ;
Tasmiṃ paṭipaviṭṭhamhi, añño āgañchi brāhmaṇo.
Having performed the great sacrifice, he again entered the hermitage. When he had re-entered it, another brahmin arrived.
Sau khi thực hiện cuộc đại tế lễ, vị ấy lại đi vào am thất. Trong khi vị ấy vừa đi vào, một vị Bà-la-môn khác đã đến.
5.
5.
5.
Ugghaṭṭapādo tasito †, paṅkadanto rajassiro;
So ca naṃ upasaṅkamma, satāni pañca yācati.
With feet worn out from travel, thirsty, with mud-caked teeth and a dust-covered head, he approached him and begged for five hundred.
Với chân bị nứt nẻ, bị khát nước, răng dính bùn, đầu dính bụi, vị ấy sau khi đến gần ông, đã xin năm trăm (đồng tiền).
6.
6.
6.
Tamenaṃ bāvarī disvā, āsanena nimantayi;
Sukhañca kusalaṃ pucchi, idaṃ vacanamabravi †.
Bāvarī, seeing him, invited him with a seat. He asked of his happiness and well-being, and spoke this word.
Bāvari sau khi thấy vị ấy, đã mời ngồi, đã hỏi thăm về sự an lạc và vô bệnh, và đã nói lên lời này.
7.
7.
7.
‘‘Yaṃ kho mama deyyadhammaṃ, sabbaṃ visajjitaṃ mayā;
Anujānāhi me brahme, natthi pañcasatāni me’’.
“Whatever gift-worthy thing was mine, all of it has been given away by me. Forgive me, O brahmin, I do not have five hundred.”
‘Bất cứ vật thí nào của tôi, tất cả đã được tôi cho đi rồi. Thưa ngài Bà-la-môn, xin ngài hãy thông cảm cho tôi, tôi không có năm trăm (đồng tiền).’
8.
8.
8.
‘‘Sace me yācamānassa, bhavaṃ nānupadassati †;
Sattame divase tuyhaṃ, muddhā phalatu sattadhā’’.
“If you, sir, will not give to me who is begging, then on the seventh day may your head split into seven pieces.”
‘Nếu ngài không cho tôi là người đang xin, thì vào ngày thứ bảy, mong rằng đầu của ngài sẽ vỡ ra làm bảy mảnh.’
9.
9.
9.
Abhisaṅkharitvā kuhako, bheravaṃ so akittayi;
Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, bāvarī dukkhito ahu.
That charlatan, having fabricated it, proclaimed a terrifying curse. Having heard that speech of his, Bāvarī became distressed.
Kẻ lừa đảo ấy sau khi ngụy tạo, đã nói ra lời đáng sợ. Bāvari sau khi nghe lời nói ấy của y, đã trở nên sầu khổ.
10.
10.
10.
Ussussati anāhāro, sokasallasamappito;
Athopi evaṃ cittassa, jhāne na ramatī mano.
Pierced by the arrow of sorrow, taking no food, he wasted away. Furthermore, for one with such a mind, the heart took no delight in meditative absorption.
Bị mũi tên sầu muộn đâm phải, không ăn uống, vị ấy trở nên khô héo. Hơn nữa, tâm của vị có tâm trạng như vậy không vui thích trong thiền định.
11.
11.
11.
Utrastaṃ dukkhitaṃ disvā, devatā atthakāminī;
Bāvariṃ upasaṅkamma, idaṃ vacanamabravi.
A deity, wishing his welfare, seeing Bāvarī terrified and distressed, approached him and spoke this word.
Vị thiên nhân mong muốn lợi ích, sau khi thấy Bāvari đang hoảng sợ và sầu khổ, đã đến gần và nói lên lời này.
12.
12.
12.
‘‘Na so muddhaṃ pajānāti, kuhako so dhanatthiko;
Muddhani muddhapāte † vā, ñāṇaṃ tassa na vijjati’’.
“He does not know the head; he is a charlatan, desirous of wealth. Knowledge concerning the head or the splitting of the head is not found in him.”
‘Y không biết về cái đầu, y là kẻ lừa đảo chỉ mong muốn tiền bạc. Y không có trí tuệ về cái đầu hay sự rơi vỡ của cái đầu.’
13.
13.
13.
‘‘Bhotī † carahi jānāti, taṃ me akkhāhi pucchitā;
Muddhaṃ muddhādhipātañca †, taṃ suṇoma vaco tava’’.
“If you, lady, indeed know, then being asked, declare it to me: the head and the splitting of the head. We would hear your word.”
‘Nếu thưa bà biết, xin hãy nói cho tôi khi được hỏi. Về cái đầu và sự rơi vỡ của cái đầu, chúng tôi sẽ nghe lời của bà.’
14.
14.
14.
‘‘Ahampetaṃ na jānāmi, ñāṇaṃ mettha na vijjati;
Muddhani muddhādhipāte ca, jinānañhettha † dassanaṃ’’.
“I also do not know this; knowledge concerning this is not found in me. For the vision concerning the head and the splitting of the head belongs to the Conquerors.”
‘Tôi cũng không biết điều này, tôi không có trí tuệ về việc này. Quả thật, về cái đầu và sự rơi vỡ của cái đầu, đó là cái thấy của các bậc chiến thắng.’
15.
15.
15.
‘‘Atha ko carahi † jānāti, asmiṃ pathavimaṇḍale †;
Muddhaṃ muddhādhipātañca, taṃ me akkhāhi devate’’.
“Then who, indeed, on this earth-sphere knows the head and the splitting of the head? O deity, tell me of him.”
‘Vậy thì trên cõi đất này, ai là người biết về cái đầu và sự rơi vỡ của cái đầu? Thưa thiên nhân, xin hãy nói cho tôi biết người đó.’
16.
16.
16.
‘‘Purā kapilavatthumhā, nikkhanto lokanāyako;
Apacco okkākarājassa, sakyaputto pabhaṅkaro.
“Formerly, from Kapilavatthu, the Leader of the World went forth; a descendant of King Okkāka, the Sakyan son, the Light-Maker.”
‘Là hậu duệ của vua Okkāka, là vị Thích tử tạo ra ánh sáng, bậc lãnh đạo thế gian, đã xuất gia từ thành Kapilavatthu xưa kia.’
17.
17.
17.
‘‘So hi brāhmaṇa sambuddho, sabbadhammāna pāragū;
Sabbābhiññābalappatto †, sabbadhammesu cakkhumā;
Sabbakammakkhayaṃ patto, vimutto upadhikkhaye.
“For he, O brahmin, is the Fully Awakened One, who has gone to the far shore of all phenomena; who has attained the power of all supernormal knowledges, possessed of vision in all phenomena; who has reached the destruction of all kamma, liberated in the destruction of the substrates.”
‘Này Bà-la-môn, vị Chánh Đẳng Giác ấy đã đến bờ kia của mọi pháp, đã đạt được năng lực của mọi thắng trí, có con mắt đối với mọi pháp, đã đạt đến sự đoạn tận mọi nghiệp, và đã giải thoát trong sự đoạn tận các phiền não căn bản.’
18.
18.
18.
‘‘Buddho so bhagavā loke, dhammaṃ deseti cakkhumā;
Taṃ tvaṃ gantvāna pucchassu, so te taṃ byākarissati’’.
“That Blessed One, the Buddha, endowed with vision, teaches the Dhamma in the world. Go and ask him; he will explain it to you.”
‘Đức Phật, Đức Thế Tôn ấy, bậc có mắt, thuyết giảng Chánh pháp ở trên đời. Ông hãy đi đến và hỏi vị ấy, vị ấy sẽ giải đáp điều đó cho ông.’
19.
19.
19.
Sambuddhoti vaco sutvā, udaggo bāvarī ahu;
Sokassa tanuko āsi, pītiñca vipulaṃ labhi.
Hearing the word 'Fully Awakened,' Bāvarī became elated; his sorrow became slight, and he gained abundant joy.
Bāvari sau khi nghe lời nói ‘Chánh Đẳng Giác,’ đã trở nên hân hoan. Nỗi sầu của ông đã trở nên mỏng nhẹ, và ông đã có được niềm hỷ lạc to lớn.
20.
20.
20.
So bāvarī attamano udaggo, taṃ devataṃ pucchati vedajāto;
‘‘Katamamhi gāme nigamamhi vā pana, katamamhi vā janapade lokanātho;
Yattha gantvāna passemu, sambuddhaṃ dvipaduttamaṃ’’.
That Bāvarī, pleased and elated, with joy arisen, asks that deity: ‘In which village or town, or in which country is the Lord of the World? Where, having gone, may we see the Fully Awakened One, the supreme among two-legged beings?’”
Bāvari ấy, với tâm ý hoan hỷ, hân hoan, có niềm hân hoan phát sanh, hỏi vị thiên nhân ấy: ‘Bậc Lãnh đạo thế gian ở tại làng nào, hay thị trấn nào, hay ở tại xứ nào? Nơi mà sau khi đi đến, chúng tôi có thể gặp Đức Chánh Đẳng Giác, bậc tối thượng trong các loài hai chân.’
21.
21.
21.
‘‘Sāvatthiyaṃ kosalamandire jino, pahūtapañño varabhūrimedhaso;
So sakyaputto vidhuro anāsavo, muddhādhipātassa vidū narāsabho’’.
“In Sāvatthī, in the abode of the Kosalans, is the Conqueror, of great wisdom, of excellent and vast intelligence. That Sakyan son is peerless, free from taints, a knower of the splitting of the head, a bull among men.”
‘Bậc Chiến Thắng đang trú tại Sāvatthī, trong vương quốc của vua Kosala, vị ấy có trí tuệ dồi dào, có trí tuệ cao quý và rộng lớn. Vị Thích tử ấy không gì sánh bằng, không còn lậu hoặc, bậc Ngưu vương trong loài người, là người biết rõ về sự rơi vỡ của cái đầu.’
22.
22.
22.
Tato āmantayī sisse, brāhmaṇe mantapāragū †;
‘‘Etha māṇavā akkhissaṃ, suṇātha vacanaṃ mama.
Then Bāvarī addressed his disciples, brahmins who had mastered the mantras: ‘Come, young men, I shall speak; listen to my word.’”
Sau đó, Bāvari, người thông suốt các Veda, đã gọi các đệ tử Bà-la-môn: ‘Này các thanh niên, hãy lại đây, ta sẽ nói cho các ngươi, hãy lắng nghe lời của ta.’
23.
23.
23.
‘‘Yasseso dullabho loke, pātubhāvo abhiṇhaso;
Svājja lokamhi uppanno, sambuddho iti vissuto;
Khippaṃ gantvāna sāvatthiṃ, passavho dvipaduttamaṃ’’.
“‘He whose appearance in the world is exceedingly rare, that Fully Awakened One, so renowned, has today arisen in the world. Having gone quickly to Sāvatthī, behold the supreme among two-legged beings!’”
‘Sự xuất hiện của vị nào là điều thường khó gặp ở trên đời, vị Chánh Đẳng Giác ấy nay đã được nổi danh là đã xuất hiện ở trên đời. Hãy nhanh chóng đi đến Sāvatthī và hãy chiêm ngưỡng bậc tối thượng trong các loài hai chân.’
24.
24.
24.
‘‘Kathaṃ carahi jānemu, disvā buddhoti brāhmaṇa;
Ajānataṃ no pabrūhi, yathā jānemu taṃ mayaṃ’’.
“How then, O brahmin, shall we know, upon seeing him, that he is the Buddha? To us who do not know, please explain, so that we may know him.”
‘Thưa ngài Bà-la-môn, vậy thì làm sao chúng con có thể biết, sau khi thấy, rằng vị ấy là Đức Phật? Xin ngài hãy nói cho chúng con là những người không biết, để chúng con có thể biết được vị ấy.’
25.
25.
25.
‘‘Āgatāni hi mantesu, mahāpurisalakkhaṇā;
Dvattiṃsāni ca byākkhātā, samattā anupubbaso.
“For in the mantras have come down the thirty-two marks of a great man, and they have been explained completely and in due order.”
‘Quả thật, trong các Veda, ba mươi hai tướng của bậc đại nhân đã được truyền lại, đầy đủ và tuần tự.’
26.
26.
26.
‘‘Yassete honti gattesu, mahāpurisalakkhaṇā;
Dveyeva tassa gatiyo, tatiyā hi na vijjati.
“For whomsoever these marks of a great man are on his body, for him there are only two destinies; a third is not found.”
“Người nào có trên thân những tướng đại nhân này; Người ấy chỉ có hai cảnh giới, không có cảnh giới thứ ba.
27.
27.
27.
‘‘Sace agāraṃ āvasati, vijeyya pathaviṃ imaṃ;
Adaṇḍena asatthena, dhammena anusāsati.
“If he dwells in a household, he will conquer this earth; without rod, without weapon, he governs by the Dhamma.”
“Nếu người ấy sống tại gia, sẽ chinh phục trái đất này; Không bằng hình phạt, không bằng vũ khí, mà giáo huấn bằng chánh pháp.
28.
28.
28.
‘‘Sace ca so pabbajati, agārā anagāriyaṃ;
Vivaṭṭacchado † sambuddho, arahā bhavati anuttaro.
“And if he goes forth from the household life into homelessness, he becomes a Fully Awakened One, an Arahant, unsurpassed, with the covering removed.”
“Và nếu người ấy từ bỏ đời sống tại gia, xuất gia sống không nhà; Sẽ trở thành bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác vô thượng, với màn che được vén lên.
29.
29.
29.
‘‘Jātiṃ gottañca lakkhaṇaṃ, mante sisse punāpare;
Muddhaṃ muddhādhipātañca, manasāyeva pucchatha.
“Ask about birth, clan, and marks, the mantras and other disciples, the head and the splitting of the head—with the mind alone.”
“Hãy chỉ hỏi bằng ý về sự sinh, dòng họ, và tướng mạo; Về các kinh Vệ-đà, các đệ tử khác, về cái đầu và sự rơi của cái đầu.
30.
30.
30.
‘‘Anāvaraṇadassāvī, yadi buddho bhavissati;
Manasā pucchite pañhe, vācāya visajjissati’’ †.
“If he is one who sees without obstruction, if he will be the Buddha, he will answer with speech the questions asked in thought.”
“Nếu có bậc Giác Ngộ, người thấy không chướng ngại, Ngài sẽ trả lời bằng lời những câu hỏi được hỏi bằng ý’.
31.
31.
31.
Bāvarissa vaco sutvā, sissā soḷasa brāhmaṇā;
Ajito tissametteyyo, puṇṇako atha mettagū.
Hearing Bāvari’s words, the sixteen brahmin disciples—Ajita, Tissametteyya, Puṇṇaka, and then Mettagū,
Nghe lời của Bāvarī, mười sáu đệ tử Bà-la-môn: Ajita, Tissa Metteyya, Puṇṇaka, và Mettagū.
32.
32.
32.
Dhotako upasīvo ca, nando ca atha hemako;
Todeyya-kappā dubhayo, jatukaṇṇī ca paṇḍito.
Dhotaka and Upasīva, Nanda and then Hemaka; both Todeyya and Kappa, and the wise Jatukaṇṇī,
Dhotaka và Upasīva, Nanda và Hemaka, Cả hai vị Todeyya và Kappa, và Jatukaṇṇī bậc trí tuệ.
33.
33.
33.
Bhadrāvudho udayo ca, posālo cāpi brāhmaṇo;
Mogharājā ca medhāvī, piṅgiyo ca mahāisi.
Bhadrāvudha and Udaya, the brahmin Posāla also, Mogharājā the wise, and Piṅgiya the great seer,
Bhadrāvudha và Udaya, và Bà-la-môn Posāla, Mogharāja bậc thông thái, và Piṅgiya vị đại ẩn sĩ.
34.
34.
34.
Paccekagaṇino sabbe, sabbalokassa vissutā;
Jhāyī jhānaratā dhīrā, pubbavāsanavāsitā.
Each with his own following were they all, renowned throughout the world; meditators, delighting in meditation, wise, imbued with past latent tendencies.
Tất cả đều có nhóm đệ tử riêng, nổi tiếng khắp thế gian, Là những người hành thiền, ưa thích thiền định, bậc trí, được thấm nhuần bởi các thiện nghiệp quá khứ.
35.
35.
35.
Bāvariṃ abhivādetvā, katvā ca naṃ padakkhiṇaṃ;
Jaṭājinadharā sabbe, pakkāmuṃ uttarāmukhā.
Having paid homage to Bāvari, and circling him respectfully, all clad in matted hair and hides, set forth northward.
Sau khi đảnh lễ Bāvarī và đi nhiễu bên phải, Tất cả những người mang bện tóc và da thú đã ra đi, hướng về phương bắc.
36.
36.
36.
Maḷakassa patiṭṭhānaṃ, puramāhissatiṃ † tadā †;
Ujjeniñcāpi gonaddhaṃ, vedisaṃ vanasavhayaṃ.
To Patiṭṭhāna of the Maḷakas, then to the city of Māhissati; and also to Ujjenī, Gonaddha, Vedisa, and Vanasavhaya.
Khi ấy, (họ đến) Patiṭṭhāna của xứ Maḷaka, rồi đến thành Āhissati; Và cả Ujjenī, Gonaddha, Vedisa, và Vanasavhaya.
37.
37.
37.
Kosambiñcāpi sāketaṃ, sāvatthiñca puruttamaṃ;
Setabyaṃ kapilavatthuṃ, kusinārañca mandiraṃ.
To Kosambī and Sāketa, and Sāvatthī, the most excellent of cities; to Setabya, Kapilavatthu, and the city of Kusinārā.
Và cả Kosambī, Sāketa, và Sāvatthī là thành phố cao quý nhất; Rồi đến Setabya, Kapilavatthu, và thành Kusinārā.
38.
38.
38.
Pāvañca bhoganagaraṃ, vesāliṃ māgadhaṃ puraṃ;
Pāsāṇakaṃ cetiyañca, ramaṇīyaṃ manoramaṃ.
To Pāvā and Bhoganagara, to Vesālī and the city of the Magadhans; and to the Pāsāṇaka Cetiya, delightful and pleasing to the mind.
Và Pāvā, thành Bhoganagara, Vesāli, thành phố của xứ Magadha; Và đến Pāsāṇaka Cetiya, nơi đáng ưa thích, làm vui lòng.
39.
39.
39.
Tasitovudakaṃ sītaṃ, mahālābhaṃva vāṇijo;
Chāyaṃ ghammābhitattova turitā pabbatamāruhuṃ.
Like one who is thirsty for cool water, or a merchant for great gain, like one scorched by heat for shade, they swiftly climbed the mountain.
Như người khát mong nước mát, như người buôn mong lợi lớn, như người bị nắng thiêu mong bóng râm, họ vội vã leo lên núi.
40.
40.
40.
Bhagavā tamhi samaye, bhikkhusaṅghapurakkhato;
Bhikkhūnaṃ dhammaṃ deseti, sīhova nadatī vane.
At that time, the Blessed One, surrounded by the Sangha of monks, was teaching the Dhamma to the monks, roaring like a lion in the forest.
Vào lúc ấy, Đức Thế Tôn, được Tăng chúng vây quanh, Đang thuyết pháp cho các Tỳ-khưu, như sư tử rống trong rừng.
41.
41.
41.
Ajito addasa buddhaṃ, pītaraṃsiṃva † bhāṇumaṃ;
Candaṃ yathā pannarase, paripūraṃ † upāgataṃ.
Ajita saw the Buddha, like the golden-rayed sun, like the moon on the fifteenth day, having reached its fullness.
Ajita đã thấy Đức Phật, như mặt trời với những tia sáng vàng, Như mặt trăng ngày rằm đã trở nên viên mãn.
42.
42.
42.
Athassa gatte disvāna, paripūrañca byañjanaṃ;
Ekamantaṃ ṭhito haṭṭho, manopañhe apucchatha.
Then, having seen on his body the complete characteristics, joyful and standing to one side, he asked the questions in his mind.
Khi ấy, sau khi thấy các tướng đầy đủ trên thân Ngài, Với lòng hoan hỷ, đứng một bên, vị ấy đã hỏi những câu hỏi bằng ý.
43.
43.
43.
‘‘Ādissa jammanaṃ brūhi, gottaṃ brūhi salakkhaṇaṃ;
Mantesu pāramiṃ brūhi, kati vāceti brāhmaṇo’’.
“Declare his birth, declare his clan with its marks; declare his mastery in the mantras, how many does the brahmin teach?”
“Xin hãy nói rõ về sự sinh, xin hãy nói về dòng họ và tướng mạo; Xin hãy nói về sự thông suốt các kinh Vệ-đà, vị Bà-la-môn ấy dạy dỗ bao nhiêu (đệ tử)?”
44.
44.
44.
‘‘Vīsaṃ vassasataṃ āyu, so ca gottena bāvarī;
Tīṇissa lakkhaṇā gatte, tiṇṇaṃ vedāna pāragū.
“His age is one hundred and twenty years, and by clan he is Bāvarī; three marks are on his body, he is an expert in the three Vedas.
“Tuổi thọ là một trăm hai mươi năm, và về dòng họ, vị ấy là Bāvarī; Trên thân vị ấy có ba tướng, vị ấy thông suốt ba tập Vệ-đà.
45.
45.
45.
‘‘Lakkhaṇe itihāse ca, sanighaṇḍusakeṭubhe;
Pañcasatāni vāceti, sadhamme pāramiṃ gato’’.
“In the science of marks and in the legends, together with the lexicons and etymologies, he is an expert; he teaches five hundred disciples, having reached perfection in his own doctrine.”
“Vị ấy thông suốt tướng thuật, sử thi, cùng với Nighaṇḍu và Keṭubha; Vị ấy dạy dỗ năm trăm đệ tử, đã đạt đến sự thông suốt trong chánh pháp của mình’.
46.
46.
46.
‘‘Lakkhaṇānaṃ pavicayaṃ, bāvarissa naruttama;
Taṇhacchida † pakāsehi, mā no kaṅkhāyitaṃ ahu’’.
“The investigation of Bāvarī's marks, O most excellent of men, O Cutter of Craving, please make it clear, so that for us there may be no doubt.”
“Hỡi bậc Tối Thượng trong loài người, xin hãy phân tích các tướng của Bāvarī. Hỡi bậc đoạn tận ái, xin hãy tuyên thuyết, để chúng con không còn nghi ngờ’.
47.
47.
47.
‘‘Mukhaṃ jivhāya chādeti, uṇṇassa bhamukantare;
Kosohitaṃ vatthaguyhaṃ, evaṃ jānāhi māṇava’’.
“He can cover his face with his tongue; between his eyebrows, an uṇṇā-hair arises; his private organ is concealed in a sheath. Know it thus, O young man.”
“Vị ấy có thể dùng lưỡi che mặt, giữa hai lông mày có lông trắng mọc, bộ phận sinh dục được bao bọc trong vỏ. Hỡi thanh niên, hãy biết như vậy’.
48.
48.
48.
Pucchañhi kiñci asuṇanto, sutvā pañhe viyākate;
Vicinteti jano sabbo, vedajāto katañjalī.
Not hearing any question, but having heard the problems answered, all the people, filled with joy and with hands clasped, pondered.
Không nghe bất kỳ câu hỏi nào, nhưng khi nghe những câu hỏi được giải đáp, tất cả mọi người sinh lòng hoan hỷ, chắp tay và suy nghĩ.
49.
49.
49.
‘‘Ko nu devo vā brahmā vā, indo vāpi sujampati;
Manasā pucchite pañhe, kametaṃ paṭibhāsati.
“Who indeed—a deva, a brahmā, or even Indra, the husband of Sujā—asks these questions with the mind? To whom does he speak this answer?”
“Là vị trời nào, hay Phạm thiên nào, hay Đế Thích, chồng của Sujā, đã hỏi những câu hỏi bằng ý? Và ai là người đang trả lời những câu hỏi này.
50.
50.
50.
‘‘Muddhaṃ muddhādhipātañca, bāvarī paripucchati;
Taṃ byākarohi bhagavā, kaṅkhaṃ vinaya no ise’’.
“Bāvarī asks about the head and the falling of the head. Explain that, O Blessed One; dispel our doubt, O Seer.”
“Bāvarī hỏi về cái đầu và sự rơi của cái đầu. Hỡi Đức Thế Tôn, hỡi bậc Ẩn sĩ, xin hãy giải thích điều đó, xin hãy loại trừ sự nghi ngờ của chúng con’.
51.
51.
51.
‘‘Avijjā muddhāti jānāhi, vijjā muddhādhipātinī;
Saddhāsatisamādhīhi, chandavīriyena saṃyutā’’.
“Know that ignorance is the head, and wisdom, conjoined with faith, mindfulness, concentration, zeal, and effort, is what causes the head to fall.”
“Hãy biết rằng vô minh là cái đầu, và minh, hợp cùng với tín, niệm, định, dục và tinh tấn, là sự làm rơi cái đầu’.
52.
52.
52.
Tato vedena mahatā, santhambhetvāna māṇavo;
Ekaṃsaṃ ajinaṃ katvā, pādesu sirasā pati.
Then the young man, composing himself with great joy, arranged his deerskin over one shoulder and fell with his head at the Buddha's feet.
Khi ấy, vị thanh niên, được củng cố bởi niềm hoan hỷ lớn lao, vắt tấm da thú qua một bên vai, và cúi đầu lạy dưới chân Ngài.
53.
53.
53.
‘‘Bāvarī brāhmaṇo bhoto, saha sissehi mārisa;
Udaggacitto sumano, pāde vandati cakkhuma’’.
“O venerable sir, the brahmin Bāvarī, together with his disciples, with uplifted heart and joyful mind, pays homage at your feet, O Seeing One.”
“Hỡi Ngài, hỡi bậc có mắt, Bà-la-môn Bāvarī cùng với các đệ tử, với tâm hân hoan, với ý vui mừng, xin đảnh lễ đôi chân của Ngài’.
54.
54.
54.
‘‘Sukhito bāvarī hotu, saha sissehi brāhmaṇo;
Tvañcāpi sukhito hohi, ciraṃ jīvāhi māṇava.
“May the brahmin Bāvarī be happy, together with his disciples. And may you also be happy, O young man; may you live long.”
“Mong rằng Bà-la-môn Bāvarī cùng với các đệ tử được an lạc. Hỡi thanh niên, ngươi cũng hãy được an lạc, hãy sống lâu dài.
55.
55.
55.
‘‘Bāvarissa ca tuyhaṃ vā, sabbesaṃ sabbasaṃsayaṃ;
Katāvakāsā pucchavho, yaṃ kiñci manasicchatha’’.
“The opportunity has been granted for all the doubts of Bāvarī, of you, and of all of them. Ask whatever you desire in your mind.”
“Đối với Bāvarī, ngươi, hay tất cả mọi người, về mọi nghi ngờ, Ta đã cho phép, các ngươi hãy hỏi bất cứ điều gì mong muốn trong tâm’.
56.
56.
56.
Sambuddhena katokāso, nisīditvāna pañjalī;
Ajito paṭhamaṃ pañhaṃ, tattha pucchi tathāgataṃ.
Having been granted the opportunity by the Perfectly Enlightened One, Ajita, with hands clasped in homage, sat down and there asked the first question of the Tathāgata.
Được Đức Chánh Đẳng Giác cho phép, (ngài) Ajita chắp tay, ngồi xuống; tại nơi ấy, ngài đã hỏi Như Lai câu hỏi đầu tiên.
Vatthugāthā niṭṭhitā.
The Verses of the Story are concluded.
Phần Kệ Mở Đầu đã chấm dứt.