Bản dịch
MND 14 — Diễn Giải Kinh Một Cách Nhanh Chóng
14. Tuvaṭakasuttaniddesa
Giờ phần Diễn Giải Kinh Một Cách Nhanh Chóng được nói đến:
“ Tôi hỏi ngài, đấng quyến thuộc của mặt trời,
bậc đại ẩn sĩ, về sự viễn ly và vị thế an tịnh.
Sau khi nhìn thấy như thế nào, vị tỳ khưu được tịch diệt,
không còn chấp thủ bất cứ cái gì ở thế gian? ”
Tôi hỏi ngài, đấng quyến thuộc của mặt trời – Việc hỏi : Có ba loại việc hỏi: việc hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy, việc hỏi để thông hiểu điều đã thấy, việc hỏi để cắt đứt sự phân vân.
Việc hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy là việc nào? Thông thường, đối với tướng trạng chưa được biết, chưa được thấy, chưa được cân nhắc, chưa được xác định, chưa được rõ rệt,chưa được minh định, thì người ta hỏi câu hỏi để biết, để thấy, để cân nhắc, để xác định, để phân biệt về điều ấy. Đây là việc hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy.
Việc hỏi để thông hiểu điều đã thấy là việc nào? Thông thường, đối với tướng trạng đã được biết, đã được thấy, đã được cân nhắc, đã được xác định, đã được rõ rệt, đã được minh định, thì người ta hỏi câu hỏi nhằm mục đích thông hiểu cùng với các vị sáng suốt khác. Đây là việc hỏi để thông hiểu điều đã thấy.
Việc hỏi để cắt đứt sự phân vân là việc nào? Thông thường, người bị rơi vào sự hoài nghi, bị rơi vào sự phân vân, bị sanh lên sự lưỡng lự rằng: “Phải chăng như vầy là đúng, phải chăng là không đúng, là cái gì đây, là thế nào đây?” người ấy hỏi câu hỏi nhằm mục đích cắt đứt sự phân vân. Đây là việc hỏi để cắt đứt sự phân vân. Đây là ba loại việc hỏi.
Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi của loài người, việc hỏi của phi nhân, việc hỏi của vị (Phật) đã được hóa hiện ra.
Việc hỏi của loài người là việc nào? Loài người đi đến gặp đức Phật Thế Tôn và hỏi câu hỏi: các vị tỳ khưu hỏi, các vị tỳ khưu ni hỏi, các nam cư sĩ hỏi, các nữ cư sĩ hỏi, các vị vua hỏi, các vị Sát-đế-lỵ hỏi, các vị Bà-la-môn hỏi, các người thương buôn hỏi, các kẻ nô lệ hỏi, các người tại gia hỏi, các vị xuất gia hỏi. Đây là việc hỏi của loài người.
Việc hỏi của phi nhân là việc nào? Các phi nhân đi đến gặp đức Phật Thế Tôn và hỏi câu hỏi: các loài rồng hỏi, các nhân điểu hỏi, các Dạ-xoa hỏi, các A-tu-la hỏi, các Càn-thát-bà hỏi, các đại vương hỏi, các Thiên chủ hỏi, các Phạm Thiên hỏi, các Thiên nhân hỏi. Đây là việc hỏi của phi nhân.
Việc hỏi của vị (Phật) đã được hóa hiện ra là việc nào? Đức Thế Tôn hóa hiện ra hình dáng (vị Phật) được tạo thành bởi ý, có tất cả các bộ phận thân thể lớn nhỏ, có giác quan không bị khiếm khuyết, vị (Phật) đã được hóa hiện ra ấy đi đến gặp đức Phật Thế Tôn và hỏi câu hỏi, đức Thế Tôn trả lời. Đây là việc hỏi của vị (Phật) đã được hóa hiện ra. Đây là ba loại việc hỏi.
Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về lợi ích của bản thân, việc hỏi về lợi ích của người khác, việc hỏi về lợi ích của cả hai. Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về lợi ích trong đời này, việc hỏi về lợi ích trong đời sau, việc hỏi về lợi ích tối thượng. Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về lợi ích của sự không tội lỗi, việc hỏi về lợi ích của sự buông bỏ, việc hỏi về lợi ích của sự trong sạch. Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về quá khứ, việc hỏi về vị lai, việc hỏi về hiện tại. Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về nội phần, việc hỏi về ngoại phần, việc hỏi về nội phần và ngoại phần. Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về thiện, việc hỏi về bất thiện, việc hỏi về vô ký. Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về uẩn, việc hỏi về giới, việc hỏi về xứ. Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về thiết lập niệm, việc hỏi về chánh tinh tấn, việc hỏi về nền tảng của thần thông. Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về quyền, việc hỏi về lực, việc hỏi về giác chi. Còn có ba loại việc hỏi khác nữa: việc hỏi về Đạo, việc hỏi về Quả, việc hỏi về Niết Bàn.
Tôi hỏi ngài : Tôi hỏi ngài, tôi yêu cầu ngài, vị tôi mời ngài, vị tôi thỉnh ngài, xin ngài hãy thuyết giảng cho tôi; – ‘tôi hỏi ngài’ là như thế. Đấng quyến thuộc của mặt trời : Mặt trời nói đến Thái Dương. Dòng tộc Thái Dương là dòng tộc Gotama; đức Thế Tôn cũng là dòng tộc Gotama. Đức Thế Tôn là bà con trong dòng tộc, là quyến thuộc trong dòng tộc của Thái Dương, vì thế đức Phật là quyến thuộc của mặt trời; – ‘tôi hỏi ngài, đấng quyến thuộc của mặt trời’ là như thế.
Bậc đại ẩn sĩ, về sự viễn ly và vị thế an tịnh - Sự viễn ly : Có ba sự viễn ly: thân viễn ly, tâm viễn ly, sanh y viễn ly.
Thế nào là thân viễn ly ? Ở đây, vị tỳ khưu thân cận chỗ trú ngụ xa vắng, khu rừng rậm, gốc cây, sườn núi, thung lũng, khe núi, bãi tha ma, khu rừng thưa, đồng trống, đống rơm, và sống viễn ly về thân. Vị ấy đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm một mình, đi vào làng để khất thực một mình, đi trở về một mình, ngồi cô độc một mình, quyết định kinh hành một mình, thực hành một mình, cư trú, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng một mình. Đây là thân viễn ly.
Thế nào là tâm viễn ly ? Đối với vị thể nhập sơ thiền, tâm được viễn ly các pháp che lấp. Đối với vị thể nhập nhị thiền, tâm được viễn ly tầm và tứ. Đối với vị thể nhập tam thiền, tâm được viễn ly hỷ. Đối với vị thể nhập tứ thiền, tâm được viễn ly lạc và khổ. Đối với vị thể nhập không vô biên xứ, tâm được viễn ly sắc tưởng, bất bình tưởng, dị biệt tưởng. Đối với vị thể nhập thức vô biên xứ, tâm được viễn ly không vô biên xứ tưởng. Đối với vị thể nhập vô sở hữu xứ, tâm được viễn ly thức vô biên xứ tưởng. Đối với vị thể nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm được viễn ly vô sở hữu xứ tưởng. Đối với vị Nhập Lưu, tâm được viễn ly sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự, tà kiến tiềm ẩn, hoài nghi tiềm ẩn, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy. Đối với vị Nhất Lai, tâm được viễn ly sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục tiềm ẩn và bất bình tiềm ẩn có tính chất thô thiển, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy. Đối với vị Bất Lai, tâm được viễn ly sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục tiềm ẩn và bất bình tiềm ẩn có tính chất vi tế, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy. Đối với vị A-la-hán, tâm được viễn ly ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn tiềm ẩn, hữu ái tiềm ẩn, vô minh tiềm ẩn, các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy, và mọi hiện tướng ở bên ngoài. Đây là tâm viễn ly.
Thế nào là sanh y viễn ly ? Sanh y nói đến các ô nhiễm, các uẩn, và các hành. Sanh y viễn ly nói đến Bất Tử, Niết Bàn, là sự yên lặng của tất cả các hành, sự buông bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịch diệt, Niết Bàn. Đây là sanh y viễn ly.
Thân viễn ly là đối với các vị có thân đã lui về nơi ẩn dật, đã thích thú trong việc xuất ly; tâm viễn ly là đối với các vị có tâm hoàn toàn trong sạch, đã đạt đến sự trong sạch tuyệt đối; và sanh y viễn ly là đối với các cá nhân không còn mầm mống tái sanh, đã đạt đến việc lìa khỏi các pháp tạo tác.
An tịnh : theo một khía cạnh (nào đó), an tịnh cũng là vị thế an tịnh; điều ấy chính là Bất Tử, Niết Bàn, là sự yên lặng của tất cả các hành, sự buông bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịch diệt, Niết Bàn. Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “Vị thế này là an tịnh, vị thế này là hảo hạng, tức là sự yên lặng của tất cả các hành, sự buông bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịch diệt, Niết Bàn.” Hoặc là, theo một khía cạnh khác, các pháp nào vận hành đưa đến việc chứng đắc sự an tịnh, đưa đến việc chạm đến sự an tịnh, đưa đến việc chứng ngộ sự an tịnh, như là: bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy yếu tố đưa đến giác ngộ, đạo lộ thánh thiện tám chi phần. Các pháp này gọi là vị thế an tịnh, vị thế nương tựa, vị thế trú ẩn, vị thế nương nhờ, vị thế không còn sợ hãi, vị thế Bất Hoại, vị thế Bất Tử, vị thế Niết Bàn.
Bậc đại ẩn sĩ : bậc đại ẩn sĩ là (nói đến) đức Thế Tôn. ‘Vị tầm cầu, tìm tòi, tìm kiếm giới uẩn lớn lao’ là bậc đại ẩn sĩ. ‘Vị tầm cầu, tìm tòi, tìm kiếm định uẩn lớn lao – tuệ uẩn lớn lao – giải thoát uẩn lớn lao – tri kiến giải thoát uẩn lớn lao’ là bậc đại ẩn sĩ. ‘Vị tầm cầu, tìm tòi, tìm kiếm sự phá tan khối tăm tối lớn lao, sự phá vỡ điều trái khuấy lớn lao, sự nhổ lên mũi tên tham ái lớn lao, sự tháo tung mối rối rắm tà kiến lớn lao, sự xô ngã ngọn cờ ngã mạn lớn lao, sự vắng lặng pháp tạo tác lớn lao, sự thoát khỏi dòng lũ lớn lao, sự quăng bỏ gánh nặng lớn lao, sự cắt đứt vòng quay luân hồi lớn lao, việc dập tắt sự nóng nảy lớn lao, việc tịch tịnh sự bực bội lớn lao, việc nâng lên ngọn cờ Giáo Pháp lớn lao’ là bậc đại ẩn sĩ. ‘Vị tầm cầu, tìm tòi, tìm kiếm các sự thiết lập niệm lớn lao – các chánh tinh tấn lớn lao – các nền tảng của thần thông lớn lao – các quyền lớn lao – các lực lớn lao – các yếu tố đưa đến giác ngộ lớn lao – đạo lộ thánh thiện tám chi phần lớn lao – chân lý tuyệt đối lớn lao, Bất Tử, Niết Bàn’ là bậc đại ẩn sĩ. Vị được tầm cầu, được tìm tòi, được tìm kiếm bởi các chúng sanh có uy lực lớn lao (hỏi rằng): ‘Đức Phật ngự ở đâu? Đức Thế Tôn ngự ở đâu? Chúa của chư Thiên ngự ở đâu? Đấng Nhân Ngưu ngự ở đâu?’ là bậc đại ẩn sĩ; – ‘bậc đại ẩn sĩ, về sự viễn ly và vị thế an tịnh’ là như thế.
Sau khi nhìn thấy như thế nào, vị tỳ khưu được tịch diệt? : Sau khi nhìn thấy, sau khi nhìn xem, sau khi cân nhắc, sau khi xét đoán, sau khi phân biệt, sau khi làm rõ rệt như thế nào mà (vị tỳ khưu) dập tắt luyến ái, dập tắt sân hận, dập tắt si mê của bản thân, dập tắt, làm an tịnh, làm yên tịnh, làm vắng lặng, làm vắng lặng, làm tịch tịnh sự giận dữ, thù hằn, thâm hiểm, ác ý, ganh tỵ, bỏn xẻn, xảo trá, bội bạc, bướng bỉnh, hung hăng, ngã mạn, ngã mạn thái quá, đam mê, xao lãng, tất cả ô nhiễm, tất cả uế hạnh, mọi sự lo lắng, mọi sự bực bội, mọi sự nóng nảy, tất cả pháp tạo tác bất thiện? Vị tỳ khưu : là vị tỳ khưu phàm nhân tốt lành hoặc vị tỳ khưu là bậc Hữu Học; – ‘sau khi nhìn thấy như thế nào, vị tỳ khưu được tịch diệt?’ là như thế.
Không còn chấp thủ bất cứ cái gì ở thế gian : trong khi không chấp thủ, trong khi không nắm lấy, trong khi không bám víu, trong khi không cố chấp đối với bốn thủ. Ở thế gian : ở thế gian của khổ cảnh, ở thế gian của loài người, ở thế gian của chư Thiên, ở thế gian của các uẩn, ở thế gian của các giới, ở thế gian của các xứ. Bất cứ cái gì : bất cứ cái gì đề cập đến sắc, đề cập đến thọ, đề cập đến tưởng, đề cập đến các hành, đề cập đến thức; – ‘không còn chấp thủ bất cứ cái gì ở thế gian’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Tôi hỏi ngài, đấng quyến thuộc của mặt trời,
bậc đại ẩn sĩ, về sự viễn ly và vị thế an tịnh.
Sau khi nhìn thấy như thế nào, vị tỳ khưu được tịch diệt,
không còn chấp thủ bất cứ cái gì ở thế gian? ”
Đức Thế Tôn nói: “Nên chặn đứng tất cả gốc rễ của cái được gọi là vọng tưởng: ‘Tôi là’ nhờ vào trí tuệ. Bất cứ những tham ái nào ở nội phần, sau khi dẹp bỏ chúng, nên học tập, luôn luôn có niệm .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Đức Thế Tôn nói: “Nên chặn đứng tất cả gốc rễ của cái được gọi là vọng tưởng: ‘Tôi là’ nhờ vào trí tuệ. Bất cứ những tham ái nào ở nội phần, sau khi dẹp bỏ chúng, nên học tập, luôn luôn có niệm .”
Bất cứ pháp (đức tính tốt) nào có thể biết rõ
ở nội phần (nơi bản thân) hay là ở ngoại phần (nơi người khác),
không vì điều ấy mà tạo ra sự ngã mạn,
bởi vì điều ấy không được các bậc thiện nhân gọi là sự tịch diệt .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bất cứ pháp (đức tính tốt) nào có thể biết rõ
ở nội phần (nơi bản thân) hay là ở ngoại phần (nơi người khác),
không vì điều ấy mà tạo ra sự ngã mạn,
bởi vì điều ấy không được các bậc thiện nhân gọi là sự tịch diệt .”
Không nên vì việc (ngã mạn) ấy mà nghĩ rằng (bản thân) là tốt hơn,
kém thua, hoặc thậm chí là tương đương.
Bị tác động bởi nhiều hình thức,
trong khi sắp đặt về bản thân, không nên dừng lại ở điều ấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên vì việc (ngã mạn) ấy mà nghĩ rằng (bản thân) là tốt hơn,
kém thua, hoặc thậm chí là tương đương.
Bị tác động bởi nhiều hình thức,
trong khi sắp đặt về bản thân, không nên dừng lại ở điều ấy .”
Nên làm yên tịnh ngay ở nội tâm,
vị tỳ khưu không nên tìm kiếm sự an tịnh bằng (đạo lộ) khác.
Đối với vị đã được an tịnh ở nội tâm,
điều được nắm bắt là không có, từ đâu có điều được buông lơi?
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nên làm yên tịnh ngay ở nội tâm,
vị tỳ khưu không nên tìm kiếm sự an tịnh bằng (đạo lộ) khác.
Đối với vị đã được an tịnh ở nội tâm,
điều được nắm bắt là không có, từ đâu có điều được buông lơi? ”
Giống như ở giữa biển cả
là đứng yên, sóng biển không được sanh ra,
tương tự như vậy, nên trầm tĩnh, không dục vọng,
vị tỳ khưu không nên tạo ra (thái độ) kiêu ngạo ở bất cứ đâu .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Giống như ở giữa biển cả
là đứng yên, sóng biển không được sanh ra,
tương tự như vậy, nên trầm tĩnh, không dục vọng,
vị tỳ khưu không nên tạo ra (thái độ) kiêu ngạo ở bất cứ đâu .”
Bậc có mắt được mở ra đã nói về
pháp thực chứng, có sự xua đi các hiểm họa.
Thưa ngài đại đức, xin ngài hãy nói về đường lối thực hành,
về giới giải thoát, và luôn cả về định nữa .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bậc có mắt được mở ra đã nói về
pháp thực chứng, có sự xua đi các hiểm họa.
Thưa ngài đại đức, xin ngài hãy nói về đường lối thực hành,
về giới giải thoát, và luôn cả về định nữa .”
Không nên buông thả với đôi mắt, nên che đậy lỗ tai đối với chuyện làng xóm, không nên thèm muốn ở các vị nếm, và không nên chấp là của tôi về bất cứ thứ gì ở thế gian .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “ Không nên buông thả với đôi mắt, nên che đậy lỗ tai đối với chuyện làng xóm, không nên thèm muốn ở các vị nếm, và không nên chấp là của tôi về bất cứ thứ gì ở thế gian .”
Khi nào bị xúc chạm bởi xúc (bất hạnh),
vị tỳ khưu không nên thể hiện sự than vãn về bất cứ điều gì,
không nên tham đắm sự hiện hữu,
và không nên rúng động vì các sự khiếp đảm .
Khi nào bị xúc chạm bởi xúc (bất hạnh) – Xúc : xúc do bệnh. (Vị tỳ khưu) có thể bị xúc chạm, bị chế ngự, bị xâm nhập, bị tiếp cận bởi xúc do bệnh ở mắt; bị xúc chạm, bị chế ngự, bị xâm nhập, bị tiếp cận bởi xúc do bệnh ở tai trong, do bệnh ở mũi, do bệnh ở lưỡi, do bệnh ở thân, do bệnh ở đầu, do bệnh ở lỗ tai, do bệnh ở miệng, do bệnh ở răng, do ho, do suyễn, do sổ mũi, do nhiệt, do cảm sốt, do đau bụng, do xây xẩm, do kiết lỵ, do đau bụng bão, do dịch tả, do phong cùi, do mụt nhọt, do bệnh chàm, do lao phổi, do động kinh, do mụt, do nhọt, do ghẻ ngứa, do sảy, do loét tay chân, do máu, do mật, do bệnh tiểu đường, do bệnh trĩ, do ghẻ lở, do loét hậu môn, do bệnh phát khởi từ mật, do bệnh phát khởi từ đàm, do bệnh phát khởi từ gió, do bệnh tổng hợp từ mật-đàm-gió, do bệnh sanh lên vì thay đổi thời tiết, do bệnh sanh lên vì bốn oai nghi không đồng đều, do bệnh vì sự cố gắng quá sức, do bệnh sanh lên vì quả của nghiệp, do lạnh, do nóng, do đói, do khát, do tiêu, do tiểu, do các xúc chạm với ruồi muỗi gió nắng và các loài bò sát; – ‘khi nào bị xúc chạm bởi xúc (bất hạnh)’ là như thế.
Vị tỳ khưu không nên thể hiện sự than vãn về bất cứ điều gì – không nên tạo ra, không nên làm sanh ra, không nên làm sanh khởi, không nên làm hạ sanh, không nên làm phát sanh ra sự than van, sự than trách, sự than thở, sự than vãn, trạng thái than van, trạng thái than trách, lời nói, nói lảm nhảm, nói huyên thuyên, nói kể lể, lối nói kể lể, trạng thái nói kể lể. Bất cứ điều gì : là ở bất cứ đâu, về bất cứ điều gì, ở bất cứ chỗ nào, nội phần, hoặc ngoại phần, hoặc nội phần và ngoại phần; – ‘vị tỳ khưu không nên thể hiện sự than vãn về bất cứ điều gì’ là như thế.
Không nên tham đắm sự hiện hữu : không nên tham muốn dục hữu, không nên tham muốn sắc hữu, không nên tham muốn vô sắc hữu, không nên khởi tham muốn, không nên tham đắm; – ‘không nên tham đắm sự hiện hữu’ là như thế.
Và không nên rúng động vì các sự khiếp đảm – Sự khiếp đảm : sợ hãi và sự khiếp đảm cũng y như nhau, với cùng một biểu hiện. Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn đề cập đến: “Phải chăng là điều này, là sự sợ hãi khiếp đảm ấy đang đi đến?” Đối tượng bên ngoài đã được nói đến là: các con sư tử, hổ, báo, gấu, chó rừng, chó sói, trâu rừng, ngựa, voi, rắn, bò cạp, rết, hoặc có thể là các kẻ cướp hay những kẻ tàn bạo có hành động gây sự hoặc chưa có hành động gây sự. Theo một kiểu cách khác, sự sợ hãi được nói đến là sự sợ hãi, trạng thái sợ hãi, trạng thái kinh hoàng, sự rởn lông, sự hốt hoảng, sự kinh sợ có nguồn sanh khởi ở tâm, thuộc nội phần; sợ hãi sự sanh, sợ hãi sự già, sợ hãi sự bệnh, sợ hãi sự chết, sợ hãi vua chúa, sợ hãi kẻ trộm, sợ hãi lữa, sợ hãi nước, sợ hãi sự chỉ trích của bản thân, sợ hãi sự chỉ trích của người khác, sợ hãi hình phạt, sợ hãi khổ cảnh, sợ hãi sóng nước, sợ hãi cá sấu, sợ hãi xoáy nước, sợ hãi cá dữ, sợ hãi về sinh kế, sợ hãi sự quở trách, sợ hãi do sự hổ thẹn ở tập thể, sợ hãi do sự say mê, sợ hãi do khổ cảnh, trạng thái sợ hãi, trạng thái kinh hoàng, sự rởn lông, sự hốt hoảng, sự kinh sợ. Và không nên rúng động vì các sự khiếp đảm – Sau khi nhìn thấy, hoặc sau khi nghe nhiều điều khiếp đảm, thì không nên run rẩy, không nên run bắn lên, không nên rúng động, không nên run sợ, không nên hoảng sợ, không nên kinh sợ, không nên khiếp sợ, không nên sợ hãi, không nên rơi vào sự hoảng sợ, nên có tánh không nhút nhát, không kinh hoàng, không sợ sệt, không trốn chạy, (vị tỳ khưu) nên sống, có sự sợ hãi và khiếp đảm đã được dứt bỏ, có sự rởn lông đã được xa lìa; – ‘và không nên rúng động vì các sự khiếp đảm’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Khi nào bị xúc chạm bởi xúc (bất hạnh),
vị tỳ khưu không nên thể hiện sự than vãn về bất cứ điều gì,
không nên tham đắm sự hiện hữu,
và không nên rúng động vì các sự khiếp đảm .”
Đối với các thức ăn, rồi đối với các thức uống,
đối với các vật thực cứng, rồi đối với các loại vải vóc,
sau khi nhận được, không nên tạo ra sự cất giữ,
và không nên hoảng sợ trong khi không nhận được chúng .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với các thức ăn, rồi đối với các thức uống,
đối với các vật thực cứng, rồi đối với các loại vải vóc,
sau khi nhận được, không nên tạo ra sự cất giữ,
và không nên hoảng sợ trong khi không nhận được chúng . ”
Nên là vị có thiền, không nên buông thả bàn chân (đi đó đây),
nên xa lánh trạng thái hối hận, không nên xao lãng,
và ở những chỗ ngồi, ở những chỗ nằm,
ở những nơi có ít tiếng động, vị tỳ khưu nên cư trú .
Nên là vị có thiền, không nên buông thả bàn chân (đi đó đây) – Có thiền : là có thiền với sơ thiền, là có thiền với nhị thiền, có thiền với tam thiền, có thiền với tứ thiền, có thiền với thiền có tầm có tứ, có thiền với thiền không có tầm chỉ có tứ, có thiền với thiền không có tầm không có tứ, có thiền với thiền có hỷ, có thiền với thiền không có hỷ, có thiền với thiền đồng hành với hỷ, có thiền với thiền đồng hành với hân hoan, có thiền với thiền đồng hành với lạc, có thiền với thiền đồng hành với xả, có thiền với thiền không tánh, có thiền với thiền vô tướng, có thiền với thiền vô nguyện, có thiền với thiền hợp thế, có thiền với thiền xuất thế, có thiền với thiền, thích thú với thiền, gắn bó với trạng thái đơn độc, chú trọng mục đích của mình; – ‘có thiền’ là như thế.
Không nên xao lãng : Nên là người có sự thực hành nghiêm trang, có sự thực hành liên tục, có sự thực hành không ngừng nghỉ, có thói quen không biếng nhác, không buông bỏ mong muốn, không buông bỏ bổn phận trong các thiện pháp. (Nghĩ rằng): ‘Khi nào ta có thể làm đầy đủ giới uẩn chưa được đầy đủ, hoặc có thể bảo vệ giới uẩn đã được đầy đủ tại chỗ này chỗ này bằng trí tuệ?’ Điều này, trong trường hợp ấy, là sự mong muốn, tinh tấn, nỗ lực, gắng sức, dõng mãnh, không thối chí, niệm, sự nhận biết rõ, sự năng nỗ, cần mẫn, quyết tâm, chuyên cần, không xao lãng trong các thiện pháp. (Nghĩ rằng): ‘Khi nào ta có thể làm đầy đủ định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, tri kiến giải thoát uẩn chưa được đầy đủ? –nt– ‘Khi nào ta có thể biết toàn diện về Khổ chưa được biết toàn diện, hoặc có thể dứt bỏ Tập chưa được dứt bỏ, hoặc tu tập Đạo chưa được tu tập, hoặc chứng ngộ Diệt chưa được chứng ngộ?’ Điều này, trong trường hợp ấy, là sự mong muốn, tinh tấn, nỗ lực, gắng sức, dõng mãnh, không thối chí, niệm, sự nhận biết rõ, sự năng nỗ, cần mẫn, quyết tâm, chuyên cần, không xao lãng trong các thiện pháp; – ‘nên xa lánh trạng thái hối hận, không nên xao lãng’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nên là vị có thiền, không nên buông thả bàn chân (đi đó đây),
nên xa lánh trạng thái hối hận, không nên xao lãng,
và ở những chỗ ngồi, ở những chỗ nằm,
ở những nơi có ít tiếng động, vị tỳ khưu nên cư trú .”
Không nên thực hiện nhiều việc ngủ nghỉ. Nên thân cận sự tỉnh thức, có sự tinh cần.
Nên dứt bỏ hẳn sự uể oải, xảo trá, cười cợt, đùa giỡn, việc đôi lứa, cùng với việc trang điểm .
Không nên thực hiện nhiều việc ngủ nghỉ : Sau khi phân chia đêm và ngày thành sáu phần, nên thức năm phần, nên nằm xuống một phần; – ‘không nên thực hiện nhiều việc ngủ nghỉ’ là như thế.
Việc trang điểm : Có hai sự trang điểm: có sự trang điểm của người tại gia, có sự trang điểm của bậc xuất gia. Việc trang điểm của người tại gia là các việc nào? Cắt tóc, tỉa râu, cài hoa, thoa vật thơm, thoa dầu, vật trang sức, chưng diện, vải vóc, vật đeo ở tay, khăn đội đầu, việc kỳ cọ, đấm bóp, tắm rửa, đập vỗ, soi gương, tô mắt, tẩm hoa thơm, thoa phấn ở mặt, bôi dầu ở mặt, buộc cánh tay, thắt nơ ở đầu, việc sử dụng gậy, ống cây, thanh gươm, dù che, giày dép đẹp, khăn bịt đầu, ngọc ma-ni, phất trần, quấn vải trắng có đường biên rộng, hoặc là như vậy; điều này là việc trang điểm của người tại gia. Việc trang điểm của bậc xuất gia là các việc nào? Việc trang hoàng y phục, việc trang hoàng bình bát, việc trang hoàng chỗ nằm ngồi, việc trang hoàng, trang điểm, tiêu khiển, giải trí, trạng thái mong muốn, bản tính mong muốn, hành động tô điểm, trạng thái tô điểm đối với các phần bên ngoài của cơ thể hôi thối này hoặc các vật dụng; điều này là việc trang điểm của người xuất gia.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên thực hiện nhiều việc ngủ nghỉ. Nên thân cận sự tỉnh thức, có sự tinh cần.
Nên dứt bỏ hẳn sự uể oải, xảo trá, cười cợt, đùa giỡn, việc đôi lứa, cùng với việc trang điểm .”
Không nên luyện tập chú thuật, giải mộng, xem tướng, và luôn cả chiêm tinh. Người đệ tử thành tín không nên chuyên chú về việc giải đoán tiếng thú kêu, việc thụ thai, và việc chữa bệnh .
1. “ Những người dối trá, ương ngạnh, nói nhiều, lừa đảo, khoác lác, không định tĩnh, những người ấy không tiến triển trong Giáo Pháp đã được đấng Chánh Đẳng Giác thuyết giảng .
2. Các vị không dối trá, không nói nhiều, sáng trí, không ương ngạnh, khéo định tĩnh, thật vậy các vị ấy tiến triển trong Giáo Pháp đã được đấng Chánh Đẳng Giác thuyết giảng .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên luyện tập chú thuật, giải mộng, xem tướng, và luôn cả chiêm tinh. Người đệ tử thành tín không nên chuyên chú về việc giải đoán tiếng thú kêu, việc thụ thai, và việc chữa bệnh .”
Không nên run sợ vì sự chê bai, vị tỳ khưu khi được ca ngợi không nên kiêu hãnh,
nên xua đi sự tham lam cùng với sự bỏn xẻn, sự giận dữ và việc nói đâm thọc .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên run sợ vì sự chê bai, vị tỳ khưu khi được ca ngợi không nên kiêu hãnh,
nên xua đi sự tham lam cùng với sự bỏn xẻn, sự giận dữ và việc nói đâm thọc .”
Không nên dự vào việc mua bán,
vị tỳ khưu không nên tạo sự chê trách ở bất cứ nơi nào,
và không nên ràng buộc vào làng xóm,
không nên tỉ tê với người (thế tục) vì mong muốn lợi lộc .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên dự vào việc mua bán,
vị tỳ khưu không nên tạo sự chê trách ở bất cứ nơi nào,
và không nên ràng buộc vào làng xóm,
không nên tỉ tê với người (thế tục) vì mong muốn lợi lộc .”
Và vị tỳ khưu không nên là kẻ nói khoe khoang,
và không nên nói lời nói ám chỉ (liên quan bốn món vật dụng),
không nên học tập lối cư xử xấc xược,
không nên nói ra ngôn từ đưa đến sự cãi vã .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Và vị tỳ khưu không nên là kẻ nói khoe khoang,
và không nên nói lời nói ám chỉ (liên quan bốn món vật dụng),
không nên học tập lối cư xử xấc xược,
không nên nói ra ngôn từ đưa đến sự cãi vã .”
Không nên bị lôi kéo vào việc nói lời dối trá,
không nên cố tình thực hiện các điều xảo trá,
và không nên khinh khi người khác về sự sinh sống, về sự nhận thức, về giới và phận sự .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên bị lôi kéo vào việc nói lời dối trá,
không nên cố tình thực hiện các điều xảo trá,
và không nên khinh khi người khác về sự sinh sống, về sự nhận thức, về giới và phận sự .”
Bị bôi nhọ sau khi nghe nhiều lời nói
của các vị Sa-môn, của những kẻ phàm phu,
không nên đáp trả lại những kẻ ấy một cách thô lỗ,
bởi vì các bậc an tịnh không thể hiện sự phản kháng .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bị bôi nhọ sau khi nghe nhiều lời nói
của các vị Sa-môn, của những kẻ phàm phu,
không nên đáp trả lại những kẻ ấy một cách thô lỗ,
bởi vì các bậc an tịnh không thể hiện sự phản kháng .”
Và sau khi hiểu thông Giáo Pháp này,
trong khi suy gẫm, vị tỳ khưu nên học tập, luôn luôn có niệm,
sau khi biết được sự diệt tắt là ‘an tịnh,’
không nên xao lãng về lời giáo huấn của đức Gotama .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Và sau khi hiểu thông Giáo Pháp này,
trong khi suy gẫm, vị tỳ khưu nên học tập, luôn luôn có niệm,
sau khi biết được sự diệt tắt là ‘an tịnh,’
không nên xao lãng về lời giáo huấn của đức Gotama .”
Bởi vì, vị ấy là người chiến thắng, bậc không bị chế ngự, vị đã nhìn thấy pháp thực chứng, không do nghe nói lại theo truyền thống. Chính vì thế, luôn luôn không xao lãng, trong lúc kính lễ, nên học tập theo ở lời giáo huấn của đức Thế Tôn ấy ” (Đức Thế Tôn nói vậy) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bởi vì, vị ấy là người chiến thắng, bậc không bị chế ngự, vị đã nhìn thấy pháp thực chứng, không do nghe nói lại theo truyền thống. Chính vì thế, luôn luôn không xao lãng, trong lúc kính lễ, nên học tập theo ở lời giáo huấn của đức Thế Tôn ấy ” (Đức Thế Tôn nói vậy) .
Diễn Giải Kinh ‘Một Cách Nhanh Chó ng’ - Phần thứ mười bốn được đầy đủ .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Pucchāmi taṃ ādiccabandhūti. Pucchāti tisso pucchā – adiṭṭhajotanā pucchā, diṭṭhasaṃsandanā pucchā, vimaticchedanā pucchā. Katamā adiṭṭhajotanā pucchā? Pakatiyā lakkhaṇaṃ aññātaṃ hoti adiṭṭhaṃ atulitaṃ atīritaṃ avibhūtaṃ avibhāvitaṃ, tassa ñāṇāya dassanāya tulanāya tīraṇāya vibhāvanāya pañhaṃ pucchati – ayaṃ adiṭṭhajotanā pucchā. Katamā diṭṭhasaṃsandanā pucchā? Pakatiyā lakkhaṇaṃ ñātaṃ hoti diṭṭhaṃ tulitaṃ tīritaṃ vibhūtaṃ vibhāvitaṃ, aññehi paṇḍitehi saddhiṃ saṃsandanatthāya pañhaṃ pucchati – ayaṃ diṭṭhasaṃsandanā pucchā. Katamā vimaticchedanā pucchā? Pakatiyā saṃsayapakkhando † hoti vimatipakkhando dveḷhakajāto, ‘‘evaṃ nu kho, na nu kho, kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’’ti so vimaticchedanatthāya pañhaṃ pucchati – ayaṃ vimaticchedanā pucchā. Imā tisso pucchā.
Regarding 'I ask you, Kinsman of the Sun': a question means there are three kinds of questions: a question for illuminating the unseen, a question for comparing the seen, and a question for cutting off doubt. What is the question for illuminating the unseen? By nature, a characteristic is unknown, unseen, unweighed, unjudged, unmanifest, and unanalyzed; one asks a question for the sake of knowing it, seeing it, weighing it, judging it, and making it manifest. This is the question for illuminating the unseen. What is the question for comparing the seen? By nature, a characteristic is known, seen, weighed, judged, manifest, and analyzed; one asks a question for the sake of comparing it with other wise persons. This is the question for comparing the seen. What is the question for cutting off doubt? By nature, one is inclined to doubt, inclined to uncertainty, having become of two minds: 'Is it thus? Is it not thus? What is it? How is it?' One asks a question for the sake of cutting off that doubt. This is the question for cutting off doubt. These are the three kinds of questions.
Về câu ‘Con xin hỏi Ngài, hỡi bậc Thân Quyến của mặt trời.’ Về câu hỏi, có ba loại câu hỏi: câu hỏi làm sáng tỏ điều chưa thấy, câu hỏi để đối chiếu điều đã thấy, câu hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ. Thế nào là câu hỏi làm sáng tỏ điều chưa thấy? Về bản chất, đặc tính (pháp) là chưa được biết, chưa được thấy, chưa được cân nhắc, chưa được vượt qua, chưa được hiển lộ, chưa được phân tích; người ấy đặt câu hỏi để biết, để thấy, để cân nhắc, để vượt qua, để làm cho hiển lộ về đặc tính ấy – đây là câu hỏi làm sáng tỏ điều chưa thấy. Thế nào là câu hỏi để đối chiếu điều đã thấy? Về bản chất, đặc tính (pháp) đã được biết, đã được thấy, đã được cân nhắc, đã được vượt qua, đã được hiển lộ, đã được phân tích; người ấy đặt câu hỏi để đối chiếu cùng với các bậc hiền trí khác – đây là câu hỏi để đối chiếu điều đã thấy. Thế nào là câu hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ? Về bản chất, người ấy rơi vào hoài nghi, rơi vào phân vân, sanh khởi sự lưỡng lự: ‘Có phải như thế này chăng? Hay không phải như thế này chăng? Là cái gì chăng? Là như thế nào chăng?’; người ấy đặt câu hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ – đây là câu hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ. Đây là ba loại câu hỏi.
Aparāpi tisso pucchā – manussapucchā, amanussapucchā, nimmitapucchā. Katamā manussapucchā? Manussā buddhaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchanti, bhikkhū pucchanti, bhikkhuniyo pucchanti, upāsakā pucchanti, upāsikāyo pucchanti, rājāno pucchanti, khattiyā pucchanti, brāhmaṇā pucchanti, vessā pucchanti, suddā pucchanti, gahaṭṭhā pucchanti, pabbajitā pucchanti – ayaṃ manussapucchā. Katamā amanussapucchā? Amanussā buddhaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchanti, nāgā pucchanti, supaṇṇā pucchanti, yakkhā pucchanti, asurā pucchanti, gandhabbā pucchanti, mahārājāno pucchanti, indā pucchanti, brahmāno pucchanti, devatāyo pucchanti – ayaṃ amanussapucchā. Katamā nimmitapucchā? Yaṃ bhagavā rūpaṃ abhinimmināti manomayaṃ sabbaṅgapaccaṅgaṃ ahīnindriyaṃ taṃ so nimmito buddhaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchati, bhagavā tassa † visajjeti – ayaṃ nimmitapucchā. Imā tisso pucchā.
Furthermore, there are three kinds of questions: the question by humans, the question by non-humans, and the question by a created being. What is the question by humans? Humans approach the Buddha, the Blessed One, and ask a question; monks ask, nuns ask, male lay followers ask, female lay followers ask, kings ask, nobles ask, brahmins ask, merchants ask, laborers ask, householders ask, and renunciants ask—this is the question by humans. What is the question by non-humans? Non-humans approach the Buddha, the Blessed One, and ask a question; nāgas ask, supaṇṇas ask, yakkhas ask, asuras ask, gandhabbas ask, great kings ask, Indras ask, Brahmās ask, and deities ask—this is the question by non-humans. What is the question by a created being? The Blessed One creates a mind-made form, complete in all its major and minor limbs, with unimpaired faculties; that created being approaches the Buddha, the Blessed One, and asks a question, and the Blessed One answers it—this is the question by a created being. These are the three questions.
Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi của loài người, câu hỏi của phi nhân, câu hỏi của vị hóa thân. Thế nào là câu hỏi của loài người? Loài người đến đảnh lễ đức Phật, Thế Tôn và đặt câu hỏi; các tỳ khưu hỏi, các tỳ khưu ni hỏi, các cận sự nam hỏi, các cận sự nữ hỏi, các vị vua hỏi, các vị Sát-đế-lỵ hỏi, các vị Bà-la-môn hỏi, các vị Phệ-xá hỏi, các vị Thủ-đà-la hỏi, các vị tại gia hỏi, các vị xuất gia hỏi – đây là câu hỏi của loài người. Thế nào là câu hỏi của phi nhân? Các phi nhân đến đảnh lễ đức Phật, Thế Tôn và đặt câu hỏi; các vị rồng hỏi, các vị kim xí điểu hỏi, các vị dạ-xoa hỏi, các vị a-tu-la hỏi, các vị càn-thát-bà hỏi, các vị Đại vương hỏi, các vị Đế-thích hỏi, các vị Phạm thiên hỏi, các vị chư thiên hỏi – đây là câu hỏi của phi nhân. Thế nào là câu hỏi của vị hóa thân? Đức Thế Tôn hóa hiện ra một sắc thân do ý tạo thành, có đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, có các căn không khiếm khuyết; vị hóa thân ấy đến đảnh lễ đức Phật, Thế Tôn và đặt câu hỏi, và Đức Thế Tôn trả lời cho vị ấy – đây là câu hỏi của vị hóa thân. Đây là ba loại câu hỏi.
Aparāpi tisso pucchā – attatthapucchā, paratthapucchā, ubhayatthapucchā. Aparāpi tisso pucchā – diṭṭhadhammikatthapucchā, samparāyikatthapucchā, paramatthapucchā. Aparāpi tisso pucchā – anavajjatthapucchā, nikkilesatthapucchā †, vodānatthapucchā. Aparāpi tisso pucchā – atītapucchā, anāgatapucchā, paccuppannapucchā. Aparāpi tisso pucchā – ajjhattapucchā, bahiddhāpucchā, ajjhattabahiddhāpucchā. Aparāpi tisso pucchā – kusalapucchā, akusalapucchā, abyākatapucchā. Aparāpi tisso pucchā – khandhapucchā, dhātupucchā, āyatanapucchā. Aparāpi tisso pucchā – satipaṭṭhānapucchā, sammappadhānapucchā, iddhipādapucchā. Aparāpi tisso pucchā – indriyapucchā, balapucchā, bojjhaṅgapucchā. Aparāpi tisso pucchā – maggapucchā, phalapucchā, nibbānapucchā.
Furthermore, there are three kinds of questions: questions for one's own benefit, questions for the benefit of others, and questions for the benefit of both. Furthermore, there are three kinds of questions: questions for benefit in the present existence, questions for benefit in a future existence, and questions for the ultimate benefit. Furthermore, there are three kinds of questions: questions for the sake of blamelessness, questions for the sake of freedom from defilements, and questions for the sake of purification. Furthermore, there are three kinds of questions: questions concerning the past, questions concerning the future, and questions concerning the present. Furthermore, there are three kinds of questions: questions concerning the internal, questions concerning the external, and questions concerning both the internal and external. Furthermore, there are three kinds of questions: questions concerning the wholesome, questions concerning the unwholesome, and questions concerning the indeterminate. Furthermore, there are three kinds of questions: questions concerning the aggregates, questions concerning the elements, and questions concerning the sense-bases. Furthermore, there are three kinds of questions: questions concerning the foundations of mindfulness, questions concerning the right exertions, and questions concerning the bases of success. Furthermore, there are three kinds of questions: questions concerning the faculties, questions concerning the powers, and questions concerning the factors of enlightenment. Furthermore, there are three kinds of questions: questions concerning the path, questions concerning the fruit, and questions concerning Nibbāna.
Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi vì lợi ích của bản thân, câu hỏi vì lợi ích của người khác, câu hỏi vì lợi ích của cả hai. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi vì lợi ích trong hiện tại, câu hỏi vì lợi ích trong tương lai, câu hỏi vì lợi ích tối thượng. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi vì mục đích không có tội lỗi, câu hỏi vì mục đích không có phiền não, câu hỏi vì mục đích thanh tịnh. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi về quá khứ, câu hỏi về tương lai, câu hỏi về hiện tại. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi về nội phần, câu hỏi về ngoại phần, câu hỏi về cả nội phần và ngoại phần. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi về thiện, câu hỏi về bất thiện, câu hỏi về vô ký. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi về uẩn, câu hỏi về giới, câu hỏi về xứ. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi về niệm xứ, câu hỏi về chánh cần, câu hỏi về thần túc. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi về quyền, câu hỏi về lực, câu hỏi về giác chi. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác: câu hỏi về đạo, câu hỏi về quả, câu hỏi về Niết-bàn.
Pucchāmi tanti pucchāmi taṃ yācāmi taṃ ajjhesāmi taṃ pasādemi taṃ, ‘‘kathayassu me’’ti – pucchāmi taṃ. Ādiccabandhūti. Ādicco vuccati sūriyo †. Sūriyo gotamo gottena, bhagavāpi gotamo gottena, bhagavā sūriyassa gottañātako gottabandhu; tasmā buddho ādiccabandhūti – pucchāmi taṃ ādiccabandhu.
‘I ask you’ means: I ask you, I implore you, I beseech you, I gladden you, ‘Speak to me.’ This is the meaning of ‘I ask you.’ ‘Kinsman of the Sun’: The sun is called Ādicca. The sun is Gotama by clan, and the Blessed One is also Gotama by clan. The Blessed One is a clan-relative, a kinsman by clan, of the sun. Therefore the Buddha is called ‘Kinsman of the Sun.’ This is the meaning of ‘I ask you, Kinsman of the Sun.’
Về câu ‘Con xin hỏi Ngài,’ (nghĩa là) con xin hỏi Ngài, con xin thỉnh cầu Ngài, con xin khuyến thỉnh Ngài, con xin làm cho Ngài hoan hỷ, (với ý rằng) ‘Xin hãy nói cho con’ – đó là (ý nghĩa của) ‘Con xin hỏi Ngài.’ Về câu ‘Thân Quyến của mặt trời.’ Mặt trời được gọi là Ādicca. Mặt trời thuộc dòng dõi Gotama, Đức Thế Tôn cũng thuộc dòng dõi Gotama; Đức Thế Tôn là người bà con, là thân quyến cùng dòng dõi với mặt trời; do đó, đức Phật được gọi là Thân Quyến của mặt trời – đó là (ý nghĩa của) ‘Con xin hỏi Ngài, hỡi bậc Thân Quyến của mặt trời.’
Vivekaṃ santipadañca mahesīti. Vivekāti tayo vivekā – kāyaviveko, cittaviveko, upadhiviveko. Katamo kāyaviveko? Idha bhikkhu vivittaṃ senāsanaṃ bhajati araññaṃ rukkhamūlaṃ pabbataṃ kandaraṃ giriguhaṃ susānaṃ vanapatthaṃ abbhokāsaṃ palālapuñjaṃ kāyena vivittena viharati. So eko gacchati, eko tiṭṭhati, eko nisīdati, eko seyyaṃ kappeti, eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati, eko paṭikkamati, eko raho nisīdati, eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti, eko carati viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpeti – ayaṃ kāyaviveko.
‘Seclusion and the state of peace, O great seer.’ Regarding solitude, there are three kinds of solitude: bodily solitude, mental solitude, and solitude from the aggregates. What is bodily solitude? Here, a bhikkhu frequents a secluded dwelling: a forest, the foot of a tree, a mountain, a glen, a mountain cave, a charnel ground, a forest haunt, an open space, a heap of straw. He dwells with a secluded body. He goes alone, stands alone, sits alone, lies down alone, enters a village for alms alone, returns alone, sits in seclusion alone, undertakes walking meditation alone; he conducts himself, dwells, comports himself, carries on, sustains himself, subsists, and keeps himself going alone. This is bodily solitude.
Về câu ‘bậc Đại ẩn sĩ (thấy) sự vắng lặng và con đường đưa đến sự tịch tịnh.’ Về sự vắng lặng, có ba loại vắng lặng: thân vắng lặng, tâm vắng lặng, và ly uẩn. Thế nào là thân vắng lặng? Ở đây, vị tỳ khưu tìm đến chỗ ở vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang núi, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm; vị ấy sống với thân vắng lặng. Vị ấy đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm nghỉ một mình, đi vào làng khất thực một mình, trở về một mình, ngồi một mình ở nơi kín đáo, kinh hành một mình; vị ấy đi, sống, duy trì oai nghi, tồn tại, bảo hộ, nuôi mạng, duy trì một mình – đây là thân vắng lặng.
Katamo cittaviveko? Paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa nīvaraṇehi cittaṃ vivittaṃ hoti, dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārehi cittaṃ vivittaṃ hoti, tatiyaṃ jhānaṃ samāpannassa pītiyā cittaṃ vivittaṃ hoti, catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa sukhadukkhehi cittaṃ vivittaṃ hoti, ākāsānañcāyatanaṃ samāpannassa rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti, viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti, ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti, nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti. Sotāpannassa sakkāyadiṭṭhiyā vicikicchāya sīlabbataparāmāsā diṭṭhānusayā vicikicchānusayā, tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Sakadāgāmissa oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā, tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Anāgāmissa anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā, tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Arahato rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā, tadekaṭṭhehi ca kilesehi bahiddhā ca sabbanimittehi cittaṃ vivittaṃ hoti – ayaṃ cittaviveko.
What is seclusion of the mind? For one who has attained the first jhāna, the mind is secluded from the hindrances. For one who has attained the second jhāna, the mind is secluded from initial and sustained thought. For one who has attained the third jhāna, the mind is secluded from rapture. For one who has attained the fourth jhāna, the mind is secluded from pleasure and pain. For one who has attained the base of infinite space, the mind is secluded from the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity. For one who has attained the base of infinite consciousness, the mind is secluded from the perception of the base of infinite space. For one who has attained the base of nothingness, the mind is secluded from the perception of the base of infinite consciousness. For one who has attained the base of neither-perception-nor-non-perception, the mind is secluded from the perception of the base of nothingness. For a stream-enterer, the mind is secluded from personality view, doubt, grasping at precepts and practices, the underlying tendency of views, the underlying tendency of doubt, and from the defilements that have a common ground with them. For a once-returner, the mind is secluded from the gross fetter of sensual lust, the fetter of aversion, the gross underlying tendency of sensual lust, the underlying tendency of aversion, and from the defilements that have a common ground with them. For a non-returner, the mind is secluded from the subtle fetter of sensual lust, the fetter of aversion, the subtle underlying tendency of sensual lust, the underlying tendency of aversion, and from the defilements that have a common ground with them. For an Arahant, the mind is secluded from lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency of conceit, the underlying tendency of lust for becoming, the underlying tendency of ignorance, and from the defilements that have a common ground with them, and externally from all signs—this is seclusion of the mind.
Tâm viễn ly là gì? Đối với vị đã chứng đắc Sơ thiền, tâm được viễn ly khỏi các triền cái; đối với vị đã chứng đắc Nhị thiền, tâm được viễn ly khỏi tầm và tứ; đối với vị đã chứng đắc Tam thiền, tâm được viễn ly khỏi hỷ; đối với vị đã chứng đắc Tứ thiền, tâm được viễn ly khỏi lạc và khổ; đối với vị đã chứng đắc Không Vô Biên Xứ, tâm được viễn ly khỏi sắc tưởng, khỏi sân tưởng, khỏi các tưởng về sự đa dạng; đối với vị đã chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, tâm được viễn ly khỏi tưởng về Không Vô Biên Xứ; đối với vị đã chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, tâm được viễn ly khỏi tưởng về Thức Vô Biên Xứ; đối với vị đã chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tâm được viễn ly khỏi tưởng về Vô Sở Hữu Xứ. Đối với bậc Dự lưu, tâm được viễn ly khỏi thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, kiến tùy miên, nghi tùy miên, và khỏi các phiền não có cùng bản chất. Đối với bậc Nhất lai, tâm được viễn ly khỏi kiết sử dục ái và kiết sử sân hận loại thô, khỏi tùy miên dục ái và tùy miên sân hận loại thô, và khỏi các phiền não có cùng bản chất. Đối với bậc Bất lai, tâm được viễn ly khỏi kiết sử dục ái, kiết sử sân hận, tùy miên dục ái, tùy miên sân hận, và khỏi các phiền não có cùng bản chất. Đối với bậc A-la-hán, tâm được viễn ly khỏi sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh, mạn tùy miên, hữu ái tùy miên, vô minh tùy miên, và khỏi các phiền não có cùng bản chất, và bên ngoài khỏi tất cả các tướng – đây là tâm viễn ly.
Katamo upadhiviveko? Upadhi vuccati kilesā ca khandhā ca abhisaṅkhārā ca. Upadhiviveko vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ – ayaṃ upadhiviveko. Kāyaviveko ca vivekaṭṭhakāyānaṃ † nekkhammābhiratānaṃ, cittaviveko ca parisuddhacittānaṃ paramavodānapattānaṃ, upadhiviveko ca nirupadhīnaṃ puggalānaṃ visaṅkhāragatānaṃ. Santīti ekena ākārena santipi santipadampi taṃyeva amataṃ nibbānaṃ, yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘santametaṃ padaṃ, paṇītametaṃ padaṃ, yadidaṃ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbāna’’nti. Atha aparena ākārena ye dhammā santādhigamāya santiphusanāya santisacchikiriyāya saṃvattanti, seyyathidaṃ – cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo – ime vuccanti santipadaṃ tāṇapadaṃ leṇapadaṃ saraṇapadaṃ abhayapadaṃ accutapadaṃ amatapadaṃ nibbānapadaṃ.
What is seclusion from the substrates of existence? The substrates of existence are said to be the defilements, the aggregates, and volitional formations. Seclusion from the substrates of existence is said to be the deathless, Nibbāna. That which is the stilling of all formations, the relinquishment of all substrates, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna—this is seclusion from the substrates of existence. Physical seclusion is for those with secluded bodies who delight in renunciation; mental seclusion is for those with purified minds who have attained supreme purity; and seclusion from the substrates of existence is for individuals free from them, who have gone beyond formations. As to ‘Peace’—in one aspect, peace and the state of peace are that very deathless Nibbāna, which is the stilling of all formations, the relinquishment of all substrates, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. For this was said by the Blessed One: “This state is peaceful, this state is sublime—that is, the stilling of all formations, the relinquishment of all substrates, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna.” Then, in another aspect, those qualities that lead to the attainment of peace, the touching of peace, and the direct realization of peace—namely, the four foundations of mindfulness, the four right efforts, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the noble eightfold path—these are called the state of peace, the state of protection, the state of shelter, the state of refuge, the state of fearlessness, the imperishable state, the deathless state, and the state of Nibbāna.
Y viễn ly là gì? Y được gọi là các phiền não, các uẩn, và các hành. Y viễn ly được gọi là bất tử, là Nibbāna. Pháp nào là sự lắng dịu của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Nibbāna – đây là y viễn ly. Thân viễn ly là dành cho những vị có thân viễn ly, ưa thích sự xuất ly; tâm viễn ly là dành cho những vị có tâm thanh tịnh, đã đạt đến sự trong sạch tối thượng; y viễn ly là dành cho những cá nhân không còn y, đã vượt qua các hành. (Nghĩa của) Tịch tịnh: Theo một phương diện, vừa là sự tịch tịnh, vừa là con đường đưa đến tịch tịnh, chính là pháp bất tử, là Nibbāna, tức là pháp lắng dịu của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Nibbāna. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Trạng thái này là tịch tịnh, trạng thái này là vi diệu, tức là sự lắng dịu của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Nibbāna.’ Lại nữa, theo một phương diện khác, những pháp nào dẫn đến sự chứng đắc tịch tịnh, sự xúc chạm tịch tịnh, sự chứng ngộ tịch tịnh, cụ thể là: bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành – những pháp này được gọi là con đường đưa đến tịch tịnh, con đường đưa đến sự bảo hộ, con đường đưa đến nơi ẩn náu, con đường đưa đến nơi nương tựa, con đường đưa đến sự vô úy, con đường đưa đến sự bất biến, con đường đưa đến sự bất tử, con đường đưa đến Nibbāna.
Mahesīti mahesi bhagavā. Mahantaṃ sīlakkhandhaṃ esī gavesī pariyesīti mahesi, mahantaṃ samādhikkhandhaṃ…pe… mahantaṃ paññākkhandhaṃ… mahantaṃ vimuttikkhandhaṃ… mahantaṃ vimuttiñāṇadassanakkhandhaṃ esī gavesī pariyesīti mahesi; mahato tamokāyassa padālanaṃ, mahato vipallāsassa bhedanaṃ, mahato taṇhāsallassa abbahanaṃ †, mahato diṭṭhisaṅghātassa viniveṭhanaṃ, mahato mānadhajassa papātanaṃ †, mahato abhisaṅkhārassa vūpasamaṃ, mahato oghassa nittharaṇaṃ, mahato bhārassa nikkhepanaṃ, mahato saṃsāravaṭṭassa upacchedaṃ, mahato santāpassa nibbāpanaṃ, mahato pariḷāhassa paṭipassaddhiṃ, mahato dhammadhajassa ussāpanaṃ esī gavesī pariyesīti mahesi, mahante satipaṭṭhāne mahante sammappadhāne mahante iddhipāde mahantāni indriyāni mahantāni balāni mahante bojjhaṅge mahantaṃ ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ mahantaṃ paramatthaṃ amataṃ nibbānaṃ esī gavesī pariyesīti mahesi; mahesakkhehi vā sattehi esito gavesito pariyesito kahaṃ buddho kahaṃ bhagavā kahaṃ devadevo kahaṃ narāsabhoti mahesīti – vivekaṃ santipadañca mahesi.
‘Great Seeker’: the Blessed One is a great seeker. He sought, searched for, and pursued the great aggregate of virtue—thus he is a great seeker. He sought the great aggregate of concentration… the great aggregate of wisdom… the great aggregate of liberation… the great aggregate of the knowledge and vision of liberation—thus he is a great seeker. He sought the shattering of the great mass of darkness, the breaking of the great distortion, the extraction of the great dart of craving, the unraveling of the great tangle of views, the felling of the great banner of conceit, the pacification of the great volitional formations, the crossing over of the great flood, the laying down of the great burden, the cutting off of the great round of saṃsāra, the extinguishing of the great torment, the calming of the great burning, the raising of the great banner of the Dhamma—thus he is a great seeker. He sought the great foundations of mindfulness, the great right efforts, the great bases of spiritual power, the great faculties, the great powers, the great awakening factors, the great noble eightfold path, the great ultimate reality, the deathless, Nibbāna—thus he is a great seeker. Or, by beings of great power, he was sought, searched for, and pursued: "Where is the Buddha? Where is the Blessed One? Where is the god of gods? Where is the bull among men?"—thus he is a great seeker. This is the meaning of the phrase ‘solitude, the peaceful state, and the great seeker’.
(Nghĩa của) Bậc Đại Sĩ: Đức Thế Tôn là bậc Đại Sĩ. Ngài đã tìm cầu, truy tầm, quán xét toàn diện uẩn giới vĩ đại, vì vậy (Ngài là) bậc Đại Sĩ; Ngài đã tìm cầu, truy tầm, quán xét toàn diện uẩn định vĩ đại... uẩn tuệ vĩ đại... uẩn giải thoát vĩ đại... uẩn giải thoát tri kiến vĩ đại, vì vậy (Ngài là) bậc Đại Sĩ; Ngài đã tìm cầu, truy tầm, quán xét toàn diện sự phá tan khối u minh vĩ đại, sự đập tan ảo tưởng vĩ đại, sự nhổ lên mũi tên ái dục vĩ đại, sự tháo gỡ đám rối tà kiến vĩ đại, sự hạ xuống ngọn cờ ngã mạn vĩ đại, sự làm lắng dịu các hành vĩ đại, sự vượt qua bộc lưu vĩ đại, sự đặt xuống gánh nặng vĩ đại, sự cắt đứt vòng luân hồi vĩ đại, sự dập tắt phiền não vĩ đại, sự làm cho nguôi đi nhiệt não vĩ đại, sự dựng lên ngọn cờ Chánh pháp vĩ đại, vì vậy (Ngài là) bậc Đại Sĩ; Ngài đã tìm cầu, truy tầm, quán xét toàn diện các niệm xứ vĩ đại, các chánh cần vĩ đại, các như ý túc vĩ đại, các căn vĩ đại, các lực vĩ đại, các giác chi vĩ đại, Thánh đạo Tám ngành vĩ đại, chân nghĩa tối thượng vĩ đại, pháp bất tử là Nibbāna, vì vậy (Ngài là) bậc Đại Sĩ. Hoặc, Ngài được các chúng sanh có đại thần lực tìm cầu, truy tầm, quán xét toàn diện rằng: ‘Đức Phật ở đâu? Đức Thế Tôn ở đâu? Vị Thiên Trung Thiên ở đâu? Vị Nhân Ngưu Vương ở đâu?’, vì vậy (Ngài là) bậc Đại Sĩ – (đây là nghĩa của các từ trong câu kệ) sự viễn ly, con đường tịch tịnh, và bậc Đại Sĩ.
Kathaṃ disvā nibbāti bhikkhūti. Kathaṃ disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā attano rāgaṃ nibbāpeti, dosaṃ nibbāpeti, mohaṃ nibbāpeti, kodhaṃ…pe… upanāhaṃ… makkhaṃ… paḷāsaṃ… issaṃ… macchariyaṃ… māyaṃ… sāṭheyyaṃ… thambhaṃ… sārambhaṃ… mānaṃ… atimānaṃ… madaṃ… pamādaṃ… sabbe kilese… sabbe duccarite… sabbe darathe… sabbe pariḷāhe… sabbe santāpe … sabbākusalābhisaṅkhāre nibbāpeti sameti upasameti vūpasameti paṭipassambheti. Bhikkhūti puthujjanakalyāṇako vā bhikkhu sekho vā bhikkhūti – kathaṃ disvā nibbāti bhikkhu.
‘How, having seen, does a bhikkhu attain Nibbāna?’: How, having seen, beheld, weighed, investigated, discerned, and made manifest, does one extinguish one's own lust, hatred, delusion, anger… resentment… contempt… rivalry… envy… stinginess… deceit… craftiness… stubbornness… contention… conceit… arrogance… intoxication… negligence, all defilements, all misconduct, all distress, all fevers, all torments, and all unwholesome formations, and pacify, calm, thoroughly calm, and cause them to subside? ‘Bhikkhu’: a bhikkhu is either a virtuous ordinary person or a trainee. This is the meaning of the phrase, ‘How, having seen, does a bhikkhu attain Nibbāna?’.
(Nghĩa của câu) ‘Thấy thế nào vị Tỳ khưu được tịch tịnh?’: Thấy, nhận thấy, cân nhắc, thẩm xét, làm cho rõ ràng, làm cho hiển lộ như thế nào mà vị ấy dập tắt tham của mình, dập tắt sân của mình, dập tắt si của mình, dập tắt phẫn nộ... oán hận... phú... não... tật... xan... man trá... xảo quyệt... sự cứng ngắc... sự tranh cạnh... mạn... quá mạn... kiêu... dể duôi... dập tắt tất cả phiền não... tất cả ác hạnh... tất cả sầu muộn... tất cả nhiệt não... tất cả phiền muộn... dập tắt, làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh, làm cho hoàn toàn an tịnh, làm cho nguôi ngoai tất cả các hành bất thiện. (Nghĩa của) Tỳ khưu: Vị thiện phàm phu là Tỳ khưu, hoặc bậc hữu học là Tỳ khưu – (đây là nghĩa của câu) ‘Thấy thế nào vị Tỳ khưu được tịch tịnh?’.
Anupādiyāno lokasmiṃ kiñcīti. Catūhi upādānehi anupādiyamāno agaṇhayamāno aparāmasamāno anabhinivisamāno. Lokasminti apāyaloke manussaloke devaloke, khandhaloke dhātuloke āyatanaloke. Kiñcīti kiñci rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagatanti – anupādiyāno lokasmiṃ kiñci.
‘Not clinging to anything in the world’: Not clinging, not grasping, not being attached, not adhering by means of the four kinds of clinging. ‘In the world’ means: in the world of misery, the human world, the deva world; in the world of aggregates, the world of elements, the world of sense bases. ‘Anything’ means: anything pertaining to form, pertaining to feeling, pertaining to perception, pertaining to formations, pertaining to consciousness. This is the meaning of the phrase, ‘Not clinging to anything in the world’.
Anupādiyāno lokasmiṃ kiñcīti (không chấp thủ bất cứ điều gì ở trong thế gian). (Vị ấy) không bị chấp thủ, không nắm giữ, không dính mắc, không cố chấp bởi bốn loại chấp thủ. Lokasminti (ở trong thế gian) là: ở trong cõi khổ, ở trong cõi người, ở trong cõi trời, ở trong thế gian uẩn, ở trong thế gian giới, ở trong thế gian xứ. Kiñcīti (bất cứ điều gì) là: bất cứ điều gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức – (đây là ý nghĩa của) anupādiyāno lokasmiṃ kiñci.
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created one said:
Do vậy, vị Hóa nhân ấy đã nói rằng –
‘‘Pucchāmi taṃ ādiccabandhu, vivekaṃ santipadañca mahesi;
Kathaṃ disvā nibbāti bhikkhu, anupādiyāno lokasmiṃ kiñcī’’ti.
“I ask you, Kinsman of the Sun, O Great Seeker, about seclusion and the peaceful state. How does a bhikkhu, seeing what, attain Nibbāna, clinging to nothing in the world?”
“Con xin hỏi Ngài, bậc Thân quyến của mặt trời, bậc Đại sĩ về trạng thái vắng lặng và cảnh giới an tịnh. Thấy thế nào, vị tỳ khưu được tịch tịnh, không chấp thủ bất cứ điều gì ở trong thế gian?”
151.
151.
151.
Mūlaṃ papañcasaṅkhāya, [iti bhagavā]
Mantā asmīti sabbamuparundhe † ;
Yā kāci taṇhā ajjhattaṃ, tāsaṃ vinayā sadā sato sikkhe.
“Having understood the root of conceptual proliferation,” [so said the Blessed One], “and the conceit ‘I am,’ one should bring everything to a halt. For whatever internal cravings there are, one should always train mindfully for their removal.”
(Đức Thế Tôn đã nói): “Sau khi đã biết ‘cội rễ của những gì được gọi là hý luận’ và ‘(ngã mạn) tôi là,’ vị ấy nên ngăn chận tất cả. Bất cứ ái nào ở nội tâm, để loại trừ chúng, vị ấy nên luôn chánh niệm tu học.”
Mūlaṃ papañcasaṅkhāya, [iti bhagavā] mantā asmīti sabbamuparundheti. Papañcāyeva papañcasaṅkhā. Taṇhāpapañcasaṅkhā diṭṭhipapañcasaṅkhā. Katamaṃ taṇhāpapañcassa mūlaṃ? Avijjāmūlaṃ, ayonisomanasikāro mūlaṃ, asmimāno mūlaṃ, ahirikaṃ mūlaṃ, anottappaṃ mūlaṃ, uddhaccaṃ mūlaṃ – idaṃ taṇhāpapañcassa mūlaṃ. Katamaṃ diṭṭhipapañcassa mūlaṃ? Avijjāmūlaṃ, ayonisomanasikāro mūlaṃ, asmimāno mūlaṃ, ahirikaṃ mūlaṃ, anottappaṃ mūlaṃ, uddhaccaṃ mūlaṃ – idaṃ diṭṭhipapañcassa mūlaṃ.
Regarding the verse: 'Having understood the root of conceptual proliferation,' [so said the Blessed One], 'and the conceit “I am,” one should bring everything to a halt.' Herein, that which proliferates is called 'conceptual proliferation.' There is the conceptual proliferation of craving and the conceptual proliferation of views. What is the root of the proliferation of craving? Ignorance is the root, unwise attention is the root, the conceit ‘I am’ is the root, shamelessness is the root, lack of fear of wrongdoing is the root, and restlessness is the root—this is the root of the proliferation of craving. What is the root of the proliferation of views? Ignorance is the root, unwise attention is the root, the conceit ‘I am’ is the root, shamelessness is the root, lack of fear of wrongdoing is the root, and restlessness is the root—this is the root of the proliferation of views.
Mūlaṃ papañcasaṅkhāya, mantā asmīti sabbamuparundheti (sau khi đã biết ‘cội rễ của những gì được gọi là hý luận’ và ‘(ngã mạn) tôi là,’ vị ấy nên ngăn chận tất cả). Chính các hý luận là những gì được gọi là hý luận. Có những gì được gọi là ái hý luận, có những gì được gọi là tà kiến hý luận. Thế nào là cội rễ của ái hý luận? Vô minh là cội rễ, tác ý không như lý là cội rễ, ngã mạn là cội rễ, vô tàm là cội rễ, vô quý là cội rễ, trạo cử là cội rễ – đây là cội rễ của ái hý luận. Thế nào là cội rễ của tà kiến hý luận? Vô minh là cội rễ, tác ý không như lý là cội rễ, ngã mạn là cội rễ, vô tàm là cội rễ, vô quý là cội rễ, trạo cử là cội rễ – đây là cội rễ của tà kiến hý luận.
Bhagavāti gāravādhivacanaṃ. Api ca bhaggarāgoti bhagavā, bhaggadosoti bhagavā, bhaggamohoti bhagavā, bhaggamānoti bhagavā, bhaggadiṭṭhīti bhagavā, bhaggakaṇḍakoti bhagavā, bhaggakilesoti bhagavā, bhaji vibhaji pavibhaji dhammaratananti bhagavā, bhavānaṃ antakaroti bhagavā, bhāvitakāyo bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapaññoti bhagavā; bhāgī vā bhagavā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppānīti bhagavā, bhāgī vā bhagavā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā attharasassa dhammarasassa vimuttirasassa adhisīlassa adhicittassa adhipaññāyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ jhānānaṃ catunnaṃ appamaññānaṃ catunnaṃ arūpasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā aṭṭhannaṃ vimokkhānaṃ aṭṭhannaṃ abhibhāyatanānaṃ navannaṃ anupubbavihārasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ saññābhāvanānaṃ dasannaṃ kasiṇasamāpattīnaṃ ānāpānassatisamādhissa asubhasamāpattiyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ catunnaṃ sammappadhānānaṃ catunnaṃ iddhipādānaṃ pañcannaṃ indriyānaṃ pañcannaṃ balānaṃ sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ tathāgatabalānaṃ catunnaṃ vesārajjānaṃ catunnaṃ paṭisambhidānaṃ channaṃ abhiññānaṃ channaṃ buddhadhammānanti bhagavā, bhagavāti netaṃ nāmaṃ mātarā kataṃ na pitarā kataṃ na bhātarā kataṃ na bhaginiyā kataṃ na mittāmaccehi kataṃ na ñātisālohitehi kataṃ na samaṇabrāhmaṇehi kataṃ na devatāhi kataṃ; vimokkhantikametaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ bodhiyā mūle saha sabbaññutañāṇassa paṭilābhā sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti – mūlaṃ papañcasaṅkhāya iti bhagavā.
Bhagavā is a term of reverence. Moreover, he is Bhagavā because he has broken lust, broken hatred, broken conceit, broken wrong view, broken the thorn of defilements, and broken the defilements. He is Bhagavā because he has resorted to, especially resorted to, and variously resorted to the jewel of the Dhamma. He is Bhagavā because he is the maker of the end of existences. He is Bhagavā because he has a developed body, developed virtue, a developed mind, and developed wisdom. Or, he is Bhagavā because he resorts to forest and woodland thickets—remote lodgings with little sound, little noise, free from the bustle of people, secluded from humans, and suitable for solitude. Or, he is Bhagavā because he is a partaker of robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick. Or, he is Bhagavā because he is a partaker of the essence of the goal, the essence of the Dhamma, the essence of liberation, of higher virtue, higher mind, and higher wisdom. Or, he is Bhagavā because he is one who analyzes the four jhānas, the four immeasurables, and the four formless attainments. Or, he is Bhagavā because he is one who analyzes the eight liberations, the eight spheres of mastery, and the nine successive dwelling attainments. Or, he is Bhagavā because he is one who analyzes the ten developments of perception, the ten kasiṇa attainments, the concentration through mindfulness of breathing, and the attainment of foulness. Or, he is Bhagavā because he is one who analyzes the four foundations of mindfulness, the four right exertions, the four bases of power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the Noble Eightfold Path. Or, he is Bhagavā because he is a partaker of the ten powers of a Tathāgata, the four analytical knowledges, and the six unique qualities of a Buddha. This name 'Bhagavā' was not given by his mother, not given by his father, not given by his brother, not given by his sister, not given by his friends and companions, not given by his kinsmen and relatives, not given by ascetics and brahmins, not given by deities. It is a designation for the Buddhas, the Blessed Ones, that is the culmination of liberation, a designation made manifest at the root of the Bodhi tree along with the attainment of omniscient knowledge—that is, 'Bhagavā'. This is the meaning of 'Bhagavā' in the phrase 'the root of conceptual proliferation... the Blessed One'.
Bhagavā (Thế Tôn) là từ ngữ tôn kính. Hơn nữa, là Bhagavā vì đã bẻ gãy tham ái, là Bhagavā vì đã bẻ gãy sân hận, là Bhagavā vì đã bẻ gãy si mê, là Bhagavā vì đã bẻ gãy ngã mạn, là Bhagavā vì đã bẻ gãy tà kiến, là Bhagavā vì đã bẻ gãy các mũi nhọn (phiền não), là Bhagavā vì đã bẻ gãy các phiền não. Là Bhagavā vì đã phân tích, phân chia, phân loại pháp bảo. Là Bhagavā vì là bậc chấm dứt các cõi hữu. Là Bhagavā vì đã phát triển thân, đã phát triển giới, đã phát triển tâm, đã phát triển tuệ. Hoặc là Bhagavā vì Ngài là bậc có phần trong các trú xứ là rừng, vùng hoang vắng, xa xôi, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư. Hoặc là Bhagavā vì Ngài là bậc có phần trong y phục, vật thực khất thực, trú xứ, và dược phẩm trị bệnh. Hoặc là Bhagavā vì Ngài là bậc có phần trong vị của ý nghĩa, vị của Chánh pháp, vị của giải thoát, trong giới thù thắng, trong tâm thù thắng, trong tuệ thù thắng. Hoặc là Bhagavā vì Ngài là bậc có phần trong bốn thiền, bốn vô lượng tâm, bốn thiền vô sắc. Hoặc là Bhagavā vì Ngài là bậc có phần trong tám giải thoát, tám thắng xứ, chín thứ đệ trú và thiền định. Hoặc là Bhagavā vì Ngài là bậc có phần trong mười sự tu tập về tưởng, mười biến xứ thiền định, định niệm hơi thở, và thiền định về bất tịnh. Hoặc là Bhagavā vì Ngài là bậc có phần trong bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, và Bát Chánh Đạo. Hoặc là Bhagavā vì Ngài là bậc có phần trong mười lực của Như Lai, bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, sáu thắng trí, và sáu pháp của bậc Phật. Danh hiệu Bhagavā này không phải do mẹ đặt, không phải do cha đặt, không phải do anh em đặt, không phải do chị em đặt, không phải do bạn bè thân hữu đặt, không phải do quyến thuộc huyết thống đặt, không phải do sa-môn, bà-la-môn đặt, không phải do chư thiên đặt; danh hiệu Bhagavā này là một danh xưng được chứng ngộ, có sự giải thoát làm cùng tận, cùng với sự chứng đắc Nhất thiết trí tuệ tại cội Bồ-đề – (đây là ý nghĩa của) mūlaṃ papañcasaṅkhāya iti bhagavā.
Mantā asmīti sabbamuparundheti. Mantā vuccati paññā. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Asmīti rūpe asmīti māno asmīti chando asmīti anusayo; vedanāya… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe asmīti māno asmīti chando asmīti anusayoti. Mūlaṃ papañcasaṅkhāya iti bhagavā. Mantā asmīti sabbamuparundheti. Papañcasaṅkhāya mūlañca asmimānañca mantāya sabbaṃ rundheyya uparundheyya nirodheyya vūpasameyya atthaṅgameyya paṭipassambheyyāti – mūlaṃ papañcasaṅkhāya iti bhagavā, mantā asmīti sabbamuparundhe.
Regarding the phrase: 'Having understood... and the conceit “I am,” one should bring everything to a halt.' 'Mantā' (having understood) is a term for wisdom. That which is wisdom is understanding... non-delusion, investigation of phenomena, right view. 'I am' refers to the conceit 'I am,' the desire 'I am,' and the underlying tendency 'I am' with regard to form; and with regard to feeling... perception... formations... consciousness, it refers to the conceit 'I am,' the desire 'I am,' and the underlying tendency 'I am.' The verse states: 'Having understood the root of conceptual proliferation,' so said the Blessed One, 'and the conceit “I am,” one should bring everything to a halt.' This means: having understood with wisdom both the root of conceptual proliferation and the conceit 'I am,' one should halt everything; one should completely halt, bring to cessation, pacify, cause to disappear, and tranquilize it.
Mantā asmīti sabbamuparundheti (sau khi đã biết ‘tôi là,’ vị ấy nên ngăn chận tất cả). Mantā (sau khi đã biết) được gọi là trí tuệ. Trí tuệ nào là sự hiểu biết... cho đến... là vô si, trạch pháp, chánh kiến. Asmīti (tôi là) là: đối với sắc, có ngã mạn ‘tôi là,’ có dục vọng ‘tôi là,’ có tùy miên ‘tôi là;’ đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, có ngã mạn ‘tôi là,’ có dục vọng ‘tôi là,’ có tùy miên ‘tôi là.’ (Đây là ý nghĩa của) Mūlaṃ papañcasaṅkhāya iti bhagavā. Mantā asmīti sabbamuparundheti (sau khi đã biết ‘tôi là,’ vị ấy nên ngăn chận tất cả). Sau khi đã biết cội rễ của những gì được gọi là hý luận và ngã mạn ‘tôi là,’ vị ấy nên ngăn chận, nên hoàn toàn ngăn chận, nên làm cho đoạn diệt, nên làm cho lắng dịu, nên làm cho biến mất, nên làm cho an tịnh tất cả – (đây là ý nghĩa của) mūlaṃ papañcasaṅkhāya iti bhagavā, mantā asmīti sabbamuparundhe.
Yā kāci taṇhā ajjhattanti. Yā kācīti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – yā kācīti. Taṇhāti rūpataṇhā…pe… dhammataṇhā. Ajjhattanti ajjhattasamuṭṭhānā vā † sā taṇhāti – ajjhattaṃ. Atha vā ajjhattikaṃ vuccati cittaṃ. Yaṃ cittaṃ mano mānasaṃ hadayaṃ paṇḍaraṃ mano manāyatanaṃ manindriyaṃ viññāṇaṃ viññāṇakkhandho tajjā manoviññāṇadhātu. Cittena sā taṇhā sahagatā sahajātā saṃsaṭṭhā sampayuttā ekuppādā ekanirodhā ekavatthukā ekārammaṇātipi ajjhattanti – yā kāci taṇhā ajjhattaṃ.
Regarding 'Whatever craving there is internally.' 'Whatever' is a term of complete comprehension, meaning: in every way, entirely, without remainder, leaving nothing out. 'Craving' refers to craving for forms... craving for mental phenomena. 'Internally' means that craving is of internal origin, therefore it is 'internal.' Alternatively, the mind is called 'internal.' That which is mind is intellect, thought, heart, the luminous, mind, the mind-base, the mind-faculty, consciousness, the consciousness aggregate, and the mind-consciousness element born of that. That craving accompanies the mind, is co-arisen with it, associated with it, conjoined with it, has the same arising, the same cessation, the same basis, and the same object; for this reason also it is called 'internal.' This is the meaning of 'whatever craving there is internally'.
Yā kāci taṇhā ajjhattanti (bất cứ ái nào ở nội tâm). Yā kāci (bất cứ) là: một cách toàn diện, trong mọi phương diện, không còn sót lại, không có dư sót; đây là từ ngữ bao hàm trọn vẹn – yā kāci. Taṇhā (ái) là: ái đối với sắc... cho đến... ái đối với các pháp. Ajjhattanti (ở nội tâm) là: hoặc ái ấy có nguồn gốc từ nội tâm – (nên gọi là) nội tâm. Hoặc, tâm được gọi là thuộc về nội tâm. Tâm nào là ý, là tâm, là trái tim, là trong trắng, là ý, là ý xứ, là ý căn, là thức, là thức uẩn, là ý thức giới tương ứng. Ái ấy đi cùng với tâm, đồng sanh với tâm, hòa trộn với tâm, tương ưng với tâm, có cùng một sự sanh khởi, cùng một sự đoạn diệt, cùng một vật nương, cùng một đối tượng với tâm, do đó cũng được gọi là nội tâm – (đây là ý nghĩa của) yā kāci taṇhā ajjhattaṃ.
Tāsaṃ vinayā sadā sato sikkheti. Sadāti sadā sabbadā sabbakālaṃ niccakālaṃ dhuvakālaṃ, satataṃ samitaṃ abbokiṇṇaṃ poṅkhānupoṅkhaṃ udakūmigajātaṃ avīcisantatisahitaṃ phusitaṃ, purebhattaṃ pacchābhattaṃ, purimaṃ yāmaṃ majjhimaṃ yāmaṃ pacchimaṃ yāmaṃ, kāḷe juṇhe, vasse hemante gimhe, purime vayokhandhe majjhime vayokhandhe pacchime vayokhandhe. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato, vedanāsu…pe… citte…pe… dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato. Aparehipi catūhi kāraṇehi sato – asati parivajjanāya sato, satikaraṇīyānaṃ dhammānaṃ katattā sato, satipaṭipakkhānaṃ dhammānaṃ hatattā sato, satinimittānaṃ asammuṭṭhattā sato. Aparehipi catūhi kāraṇehi sato – satiyā samannāgatattā sato, satiyā vasitattā sato, satiyā pāguññatāya sato, satiyā apaccorohanatāya sato. Aparehipi catūhi kāraṇehi sato – sattattā sato, santattā sato, samitattā sato, santadhammasamannāgatattā sato. Buddhānussatiyā sato, dhammānussatiyā sato, saṅghānussatiyā sato, sīlānussatiyā sato, cāgānussatiyā sato, devatānussatiyā sato, ānāpānassatiyā sato, maraṇassatiyā sato, kāyagatāsatiyā sato, upasamānussatiyā sato. Yā sati anussati paṭissati, sati saraṇatā dhāraṇatā apilāpanatā asammussanatā, sati satindriyaṃ satibalaṃ sammāsati satisambojjhaṅgo ekāyanamaggo – ayaṃ vuccati sati. Imāya satiyā upeto samupeto, upagato samupagato, upapanno samupapanno, samannāgato so vuccati sato.
In the phrase: 'For their removal, one should always train mindfully.' 'Always' means: always, at all times, throughout all time, constantly, perpetually, continuously, uninterruptedly, unmixedly, successively, like a series of water waves, with unbroken continuity, touching; before the meal, after the meal; in the first watch of the night, the middle watch, the last watch; in the dark fortnight, in the bright fortnight; in the rainy season, in winter, in summer; in the first stage of life, the middle stage, the final stage. 'Mindful' means being mindful for four reasons: one is mindful by developing the establishment of mindfulness of the body in the body... of feelings... of mind... of phenomena in phenomena. One is also mindful for four other reasons: by avoiding unmindfulness; by having done what should be done with mindfulness; by having eliminated the qualities hostile to mindfulness; by non-bewilderment regarding the objects of mindfulness. One is also mindful for four other reasons: by being endowed with mindfulness; by mastery of mindfulness; by proficiency in mindfulness; by not receding from mindfulness. One is also mindful for four other reasons: by being steadfast; by being calmed of distress; by being unified; by being endowed with the true Dhamma. One is mindful through recollection of the Buddha, recollection of the Dhamma, recollection of the Saṅgha, recollection of virtue, recollection of generosity, recollection of deities, mindfulness of breathing, mindfulness of death, mindfulness of the body, and recollection of peace. That which is mindfulness, recollection, memory, remembering, retaining, non-lapsing, non-bewilderment—mindfulness, the faculty of mindfulness, the power of mindfulness, right mindfulness, the enlightenment factor of mindfulness, the direct path—this is called 'mindfulness'. One who is endowed with this mindfulness, fully endowed, attained, fully attained, possessed, fully possessed—such a one is called 'mindful'.
(Trong câu) "Hãy học tập với chánh niệm luôn luôn để loại trừ chúng". Về từ "luôn luôn" (sadā): có nghĩa là luôn luôn, mọi lúc, mọi thời, thường xuyên, không đổi, liên tục, không gián đoạn, nối tiếp nhau, như sóng nước, không có khoảng cách, liên tục, tiếp xúc; trước bữa ăn, sau bữa ăn; canh đầu, canh giữa, canh cuối; trong tháng tối, trong tháng sáng; trong mùa mưa, mùa đông, mùa hạ; trong giai đoạn đầu của tuổi đời, giai đoạn giữa của tuổi đời, giai đoạn cuối của tuổi đời. Về từ "có chánh niệm" (sato): có chánh niệm do bốn lý do – có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán thân trong thân, ... trong các thọ, ... trong tâm, ... có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán pháp trong các pháp. Cũng có chánh niệm do bốn lý do khác – có chánh niệm do từ bỏ sự thất niệm, có chánh niệm do đã làm các pháp cần phải niệm, có chánh niệm do đã hủy diệt các pháp đối nghịch với niệm, có chánh niệm do không quên lãng các đối tượng của niệm. Cũng có chánh niệm do bốn lý do khác – có chánh niệm do đã thành tựu niệm, có chánh niệm do đã thuần thục trong niệm, có chánh niệm do đã thiện xảo trong niệm, có chánh niệm do không thoái lui khỏi niệm. Cũng có chánh niệm do bốn lý do khác – có chánh niệm do (niệm) đã được thiết lập, có chánh niệm do đã được an tịnh, có chánh niệm do đã được thống nhất, có chánh niệm do đã thành tựu thiện pháp. Có chánh niệm do niệm Phật, có chánh niệm do niệm Pháp, có chánh niệm do niệm Tăng, có chánh niệm do niệm giới, có chánh niệm do niệm thí, có chánh niệm do niệm thiên, có chánh niệm do niệm hơi thở vô ra, có chánh niệm do niệm sự chết, có chánh niệm do niệm thân thể, có chánh niệm do niệm sự an tịnh. Niệm nào là sự niệm, sự tùy niệm, sự tái niệm, niệm, sự ghi nhớ, sự nắm giữ, sự không trôi nổi, sự không quên lãng; niệm, niệm căn, niệm lực, chánh niệm, niệm giác chi, con đường độc nhất – đây được gọi là niệm. Vị nào được trang bị, được trang bị đầy đủ, đã đạt đến, đã đạt đến đầy đủ, đã sanh khởi, đã sanh khởi đầy đủ, đã thành tựu niệm này, vị ấy được gọi là người có chánh niệm.
Sikkheti tisso sikkhā – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā. Katamā adhisīlasikkhā? Idha bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu, khuddako sīlakkhandho… mahanto sīlakkhandho, sīlaṃ patiṭṭhā ādi caraṇaṃ saṃyamo saṃvaro mukhaṃ pamukhaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ samāpattiyā – ayaṃ adhisīlasikkhā.
As for 'training', there are three trainings—the training in higher virtue, the training in higher mind, and the training in higher wisdom. What is the training in higher virtue? Here, a bhikkhu is virtuous, restrained by the restraint of the Pātimokkha, endowed with good conduct and resort, seeing danger in the slightest faults, undertaking and training in the training rules. The minor aggregate of virtue… the major aggregate of virtue. For the attainment of wholesome states, virtue is the foundation, the beginning, conduct, restraint, control, the principal means, and the foremost. This is the training in higher virtue.
(Trong câu) "Hãy học tập": có ba học giới – tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Tăng thượng giới học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu có giới, sống được phòng hộ bởi sự phòng hộ của Pātimokkha, thành tựu oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong các học giới. Giới uẩn nhỏ... giới uẩn lớn, giới là nền tảng, là sự thực hành ban đầu, là sự chế ngự, là sự phòng hộ, là cửa ngõ, là khởi đầu cho sự chứng đắc các thiện pháp – đây là tăng thượng giới học.
Katamā adhicittasikkhā? Idha bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti ‘‘upekkhako satimā sukhavihārī’’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati – ayaṃ adhicittasikkhā.
What is the training in higher mind? Here, a bhikkhu, secluded from sensual pleasures and unwholesome states, enters and dwells in the first jhāna, which is accompanied by applied and sustained thought, with rapture and happiness born of seclusion. With the subsiding of applied and sustained thought, he enters and dwells in the second jhāna, which has internal confidence and unification of mind, is without applied and sustained thought, and is filled with rapture and happiness born of concentration. With the fading away of rapture, he dwells equanimous, mindful, and clearly comprehending, and experiences happiness with the body; he enters and dwells in the third jhāna, of which the noble ones declare: ‘Equanimous and mindful, he dwells happily.’ With the abandoning of pleasure and pain, and with the previous disappearance of joy and grief, he enters and dwells in the fourth jhāna, which is neither-painful-nor-pleasant and has purity of mindfulness due to equanimity. This is the training in higher mind.
Tăng thượng tâm học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Sau khi làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "xả niệm lạc trú", chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc, xả khổ, và do diệt trừ hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh – đây là tăng thượng tâm học.
Katamā adhipaññāsikkhā? Idha bhikkhu paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā. So idaṃ dukkhanti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dukkhasamudayoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dukkhanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti, ime āsavāti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ āsavasamudayoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ āsavanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti – ayaṃ adhipaññāsikkhā.
What is the training in higher wisdom? Here, a bhikkhu is wise; he is endowed with wisdom concerning rise and fall, which is noble, penetrative, and leads rightly to the complete destruction of suffering. He understands as it truly is: ‘This is suffering.’ He understands as it truly is: ‘This is the origin of suffering.’ He understands as it truly is: ‘This is the cessation of suffering.’ He understands as it truly is: ‘This is the path leading to the cessation of suffering.’ He understands as it truly is: ‘These are the taints.’ He understands as it truly is: ‘This is the origin of the taints.’ He understands as it truly is: ‘This is the cessation of the taints.’ He understands as it truly is: ‘This is the path leading to the cessation of the taints.’ This is the training in higher wisdom.
Tăng thượng tuệ học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, là trí tuệ bậc Thánh, có khả năng xuyên thấu, đưa đến sự đoạn tận khổ một cách chơn chánh. Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là khổ". Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là khổ tập". Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là khổ diệt". Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là con đường đưa đến khổ diệt". Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là các lậu hoặc". Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là lậu hoặc tập". Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là lậu hoặc diệt". Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt" – đây là tăng thượng tuệ học.
Tāsaṃ vinayā sadā sato sikkheti. Tāsaṃ taṇhānaṃ vinayāya paṭivinayāya pahānāya vūpasamāya paṭinissaggāya paṭipassaddhiyā adhisīlampi sikkheyya, adhicittampi sikkheyya, adhipaññampi sikkheyya; imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya, pajānanto sikkheyya, passanto sikkheyya, paccavekkhanto sikkheyya, cittaṃ adhiṭṭhahanto sikkheyya, saddhāya adhimuccanto sikkheyya, vīriyaṃ paggaṇhanto sikkheyya, satiṃ upaṭṭhapento sikkheyya, cittaṃ samādahanto sikkheyya, paññāya pajānanto sikkheyya, abhiññeyyaṃ abhijānanto sikkheyya, pariññeyyaṃ parijānanto sikkheyya, pahātabbaṃ pajahanto sikkheyya, bhāvetabbaṃ bhāvento sikkheyya, sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – tāsaṃ vinayā sadā sato sikkhe.
One should always train mindfully for their removal. For the removal, utter removal, abandoning, calming, relinquishing, and utter pacification of these cravings, one should train in higher virtue, one should train in higher mind, and one should train in higher wisdom. Reflecting on these three trainings, knowing, seeing, reviewing, establishing the mind, being resolved by faith, arousing energy, establishing mindfulness, concentrating the mind, knowing with wisdom, directly knowing what is to be directly known, fully understanding what is to be fully understood, abandoning what is to be abandoned, developing what is to be developed, and realizing what is to be realized, one should train. One should practice, practice well, and having undertaken it, live accordingly. This is the meaning of the phrase, 'One should always train mindfully for their removal.'
(Câu) "Hãy học tập với chánh niệm luôn luôn để loại trừ chúng". Để loại trừ, để chế ngự, để đoạn tận, để làm cho an tịnh, để từ bỏ, để làm cho lắng dịu những ái đó, vị ấy nên học tập tăng thượng giới, nên học tập tăng thượng tâm, nên học tập tăng thượng tuệ; vị ấy nên học tập trong khi hướng tâm đến ba học giới này, nên học tập trong khi biết rõ, nên học tập trong khi thấy rõ, nên học tập trong khi quán xét, nên học tập trong khi quyết định tâm, nên học tập trong khi hướng đến bằng đức tin, nên học tập trong khi nỗ lực tinh tấn, nên học tập trong khi thiết lập chánh niệm, nên học tập trong khi định tâm, nên học tập trong khi biết rõ bằng trí tuệ, nên học tập trong khi thắng tri điều cần thắng tri, nên học tập trong khi liễu tri điều cần liễu tri, nên học tập trong khi đoạn tận điều cần đoạn tận, nên học tập trong khi tu tập điều cần tu tập, nên học tập trong khi chứng ngộ điều cần chứng ngộ, nên thực hành, nên thực hành tốt, nên thọ trì và hành động – (đây là ý nghĩa của câu) "Hãy học tập với chánh niệm luôn luôn để loại trừ chúng".
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Mūlaṃ papañcasaṅkhāya, [iti bhagavā]
Mantā asmīti sabbamuparundhe;
Yā kāci taṇhā ajjhattaṃ, tāsaṃ vinayā sadā sato sikkhe’’ti.
“Having known the root of conceptual proliferation—the conceit ‘I am the thinker’—one should restrain it all. Whatever cravings there are within, for their removal one should always train mindfully.”
"Sau khi đã biết gốc rễ của các pháp hý luận, [như vậy lời Đức Thế Tôn] hãy chế ngự tất cả (sự chấp thủ) 'Ta là người tư duy'; bất cứ ái nào khởi lên bên trong, hãy học tập với chánh niệm luôn luôn để loại trừ chúng."
152.
152.
152.
Yaṃ kiñci dhammamabhijaññā, ajjhattaṃ atha vāpi bahiddhā;
Na tena thāmaṃ kubbetha, na hi sā nibbuti sataṃ vuttā.
Should one know any quality whatsoever internally, or furthermore, externally, one should not, on account of that, generate strong conceit. For that is not declared by the good to be the quenching.
Dù biết được pháp nào, bên trong hay hoặc là bên ngoài; không nên vì thế mà sinh lòng kiêu mạn, vì rằng đó không được các bậc thiện nhân gọi là sự tịch tịnh.
Yaṃ kiñci dhammamabhijaññā ajjhattanti. Yaṃ kiñci attano guṇaṃ jāneyya kusale vā dhamme abyākate vā dhamme. Katame attano guṇā? Uccā kulā pabbajito vā assaṃ †, mahābhogakulā pabbajito vā assaṃ, uḷārabhogakulā pabbajito vā assaṃ, ñāto yasassī sagahaṭṭhapabbajitānanti vā assaṃ, lābhimhi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānanti vā assaṃ, suttantiko vā assaṃ, vinayadharo vā assaṃ, dhammakathiko vā assaṃ, āraññiko vā assaṃ, piṇḍapātiko vā assaṃ, paṃsukūliko vā assaṃ, tecīvariko vā assaṃ, sapadānacāriko vā assaṃ, khalupacchābhattiko vā assaṃ, nesajjiko vā assaṃ, yathāsanthatiko vā assaṃ, paṭhamassa jhānassa lābhīti vā assaṃ, dutiyassa jhānassa lābhīti vā assaṃ, tatiyassa jhānassa lābhīti vā assaṃ, catutthassa jhānassa lābhīti vā assaṃ, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā lābhīti vā assaṃ, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā… ākiñcaññāyatanasamāpattiyā… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā assaṃ – ime vuccanti attano guṇā. Yaṃ kiñci attano guṇaṃ jāneyya ājāneyya vijāneyya paṭivijāneyya paṭivijjheyyāti – yaṃ kiñci dhammamabhijaññā ajjhattaṃ. Atha vāpi bahiddhāti. Upajjhāyassa vā ācariyassa vā te guṇā assūti † – atha vāpi bahiddhā.
'Whatever quality one might know internally': Whatever quality of oneself one should know, whether wholesome states or indeterminate states. What are one's own qualities? 'I might be one gone forth from a noble family,' 'I might be one gone forth from a family of great wealth,' 'I might be one gone forth from a family of sublime wealth,' 'I might be one who is known and has a retinue among householders and the gone-forth,' 'I am a recipient of robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites,' 'I might be an expert in the Suttanta,' 'I might be an expert in the Vinaya,' 'I might be an expert in the Dhamma,' 'I might be a forest-dweller,' 'I might be an alms-food-eater,' 'I might be a rag-robe-wearer,' 'I might be a three-robe-wearer,' 'I might be a house-to-house-goer for alms,' 'I might be a one-session-eater,' 'I might be a sitter,' 'I might be a user of any-bed-whatever,' 'I might be an obtainer of the first jhāna,' '...of the second jhāna,' '...of the third jhāna,' '...of the fourth jhāna,' '...of the attainment of the base of infinite space,' '...of the attainment of the base of infinite consciousness,' '...of the attainment of the base of nothingness,' or '...of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception'—these are called one's own qualities. That one should know, know well, know distinctly, know repeatedly, or penetrate any quality whatsoever of oneself—this is 'whatever quality one might know internally'. 'Or furthermore, externally': Those qualities might belong to one's preceptor or teacher—this is 'or furthermore, externally'.
Vị ấy nên thắng tri bất cứ pháp nào ở nội tâm có nghĩa là: Vị ấy nên biết bất cứ phẩm chất nào của tự thân, hoặc là các pháp thiện, hoặc là các pháp vô ký. Những phẩm chất nào của tự thân? (Nghĩ rằng:) ‘Ta là người đã xuất gia từ dòng dõi cao quý,’ hoặc ‘Ta là người đã xuất gia từ dòng dõi có tài sản lớn,’ hoặc ‘Ta là người đã xuất gia từ dòng dõi có tài sản dồi dào,’ hoặc ‘Ta là người nổi tiếng, có danh vọng giữa hàng tại gia và xuất gia,’ hoặc ‘Ta là người nhận được y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng,’ hoặc ‘Ta là người thông thuộc Kinh Tạng,’ hoặc ‘Ta là người thông thuộc Luật Tạng,’ hoặc ‘Ta là người thông thuộc Pháp Tạng (Luận Tạng),’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh ở rừng,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh khất thực,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh mặc y phấn tảo,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh tam y,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh khất thực từng nhà,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh không nhận đồ ăn sau khi đã nói đủ,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh ngồi,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh ở bất cứ chỗ nào được sắp đặt,’ hoặc ‘Ta là người đắc Sơ thiền,’ hoặc ‘Ta là người đắc Nhị thiền,’ hoặc ‘Ta là người đắc Tam thiền,’ hoặc ‘Ta là người đắc Tứ thiền,’ hoặc ‘Ta là người đắc Không Vô Biên Xứ,’ hoặc ‘Ta là người đắc Thức Vô Biên Xứ,’ … ‘Ta là người đắc Vô Sở Hữu Xứ,’ … ‘Ta là người đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.’ Những điều này được gọi là phẩm chất của tự thân. Vị ấy nên biết, nên nhận biết, nên phân biệt biết, nên biết đi biết lại, nên thâm nhập bất cứ phẩm chất nào của tự thân – đây là ý nghĩa của câu: vị ấy nên thắng tri bất cứ pháp nào ở nội tâm. Hoặc là ở ngoại phần có nghĩa là: Những phẩm chất ấy có thể thuộc về thầy tế độ hoặc thầy giáo thọ – đây là ý nghĩa của câu: hoặc là ở ngoại phần.
Na tena thāmaṃ kubbethāti. Attano vā guṇena paresaṃ vā guṇena thāmaṃ na kareyya, thambhaṃ na kareyya, mānaṃ na kareyya, unnatiṃ na kareyya, unnamaṃ na kareyya, na tena mānaṃ janeyya, na tena thaddho assa patthaddho paggahitasiroti – na tena thāmaṃ kubbetha.
'One should not make strong conceit through that': One should not create strong conceit, be stiff, be arrogant, have rising conceit, or have bending conceit based on one's own qualities or the qualities of others. One should not generate conceit through that, nor become harsh, very stiff, or with a raised head because of that. This is the meaning of 'one should not make strong conceit through that'.
Không nên dùng điều ấy để trở nên mạnh mẽ có nghĩa là: Không nên dùng phẩm chất của tự thân hay phẩm chất của người khác để trở nên mạnh mẽ (kiêu mạn), không nên cứng nhắc, không nên ngã mạn, không nên tự cao, không nên kiêu ngạo, không nên sanh lòng ngã mạn vì điều ấy, không nên trở nên cứng cỏi, chai lì, ngẩng cao đầu vì điều ấy – đây là ý nghĩa của câu: không nên dùng điều ấy để trở nên mạnh mẽ.
Na hi sā nibbuti sataṃ vuttāti. Satānaṃ santānaṃ sappurisānaṃ buddhānaṃ buddhasāvakānaṃ paccekabuddhānaṃ sā nibbutīti na vuttā na pavuttā na ācikkhitā na desitā na paññapitā na paṭṭhapitā na vivaṭā na vibhattā na uttānīkatā nappakāsitāti – na hi sā nibbuti sataṃ vuttā.
'For that is not called quenching by the good': By the manifest, by those who pacify affliction, by the good persons—that is, the Buddhas, the disciples of the Buddha, and the Paccekabuddhas—that quenching, which is the fruit of Arahantship, is not spoken of, not spoken of in detail, not told, not taught, not designated, not established, not opened up, not analyzed, not made manifest, and not made clear. This is the meaning of 'for that is not called quenching by the good'.
Vì rằng điều ấy không được các bậc chân nhân gọi là sự tịch tịnh có nghĩa là: Đối với các bậc chân nhân, các bậc hiền thiện, các bậc thiện sĩ, các vị Phật, các vị thinh văn của Phật, các vị Phật Độc Giác, sự tịch tịnh ấy đã không được nói đến, không được tuyên thuyết, không được chỉ dạy, không được thuyết giảng, không được chế định, không được thiết lập, không được khai mở, không được phân tích, không được làm cho rõ ràng, không được hiển thị – đây là ý nghĩa của câu: vì rằng điều ấy không được các bậc chân nhân gọi là sự tịch tịnh.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã thuyết rằng –
‘‘Yaṃ kiñci dhammamabhijaññā, ajjhattaṃ atha vāpi bahiddhā;
Na tena thāmaṃ kubbetha, na hi sā nibbuti sataṃ vuttā’’ti.
“Whatever phenomenon one might directly know, whether internal or external, one should not make strong conceit through that; for that is not called quenching by the good.”
‘Vị ấy nên thắng tri bất cứ pháp nào, ở nội tâm hoặc là ở ngoại phần; Không nên dùng điều ấy để trở nên mạnh mẽ, vì rằng điều ấy không được các bậc chân nhân gọi là sự tịch tịnh.’
153.
153.
153.
Seyyo na tena maññeyya, nīceyyo atha vāpi sarikkho;
Phuṭṭho anekarūpehi, nātumānaṃ vikappayaṃ tiṭṭhe.
Through that, one should not think oneself superior, nor inferior, nor even equal. Touched by many forms, one should not stand making distinctions about oneself.
Không nên do đó mà nghĩ mình hơn, mình kém, hay là mình bằng; Bị xúc chạm bởi nhiều hình thức, không nên đứng lại phân biệt tự ngã.
Seyyo na tena maññeyyāti. ‘‘Seyyohamasmī’’ti atimānaṃ na janeyya jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunāti – seyyo na tena maññeyya.
'One should not think oneself superior through that': One should not generate excessive conceit, thinking, 'I am superior,' on the basis of birth, clan, family status, excellence of complexion, wealth, learning, profession, craft, field of knowledge, what has been heard, intelligence, or on some other ground. This is the meaning of 'one should not think oneself superior through that'.
Không nên do đó mà nghĩ mình hơn có nghĩa là: Không nên sanh khởi lòng quá mạn rằng: ‘Ta là hơn,’ hoặc do dòng dõi, hoặc do thị tộc, hoặc do gia thế, hoặc do sắc đẹp, hoặc do tài sản, hoặc do học vấn, hoặc do nghề nghiệp, hoặc do kỹ năng, hoặc do kiến thức, hoặc do sự uyên bác, hoặc do trí tuệ, hoặc do bất cứ lý do nào khác – đây là ý nghĩa của câu: không nên do đó mà nghĩ mình hơn.
Nīceyyo atha vāpi sarikkhoti. ‘‘Hīnohamasmī’’ti omānaṃ na janeyya jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunā. ‘‘Sadisohamasmī’’ti mānaṃ na janeyya jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunāti – nīceyyo atha vāpi sarikkho.
'Inferior or even equal': One should not generate the conceit of inferiority, thinking, 'I am inferior,' on the basis of birth, clan, or any other ground. Nor should one generate conceit, thinking, 'I am equal,' on the basis of birth, clan, family status, excellence of complexion, wealth, learning, profession, craft, field of knowledge, what has been heard, intelligence, or on some other ground. This is the meaning of 'inferior or even equal'.
Mình kém, hay là mình bằng có nghĩa là: Không nên sanh khởi lòng ty mạn rằng: ‘Ta là kém,’ hoặc do dòng dõi, hoặc do thị tộc, ... cho đến ... hoặc do bất cứ lý do nào khác. Không nên sanh khởi lòng ngã mạn rằng: ‘Ta là bằng,’ hoặc do dòng dõi, hoặc do thị tộc, hoặc do gia thế, hoặc do sắc đẹp, hoặc do tài sản, hoặc do học vấn, hoặc do nghề nghiệp, hoặc do kỹ năng, hoặc do kiến thức, hoặc do sự uyên bác, hoặc do trí tuệ, hoặc do bất cứ lý do nào khác – đây là ý nghĩa của câu: mình kém, hay là mình bằng.
Phuṭṭho anekarūpehīti. Anekavidhehi ākārehi phuṭṭho pareto samohito samannāgatoti – phuṭṭho anekarūpehi.
'Touched by many forms': One is touched, overcome, gathered, and endowed with manifold ways—this is the meaning of 'touched by many forms'.
Bị xúc chạm bởi nhiều hình thức có nghĩa là: Bị xúc chạm, bị chi phối, bị bao vây, được trang bị bởi nhiều loại hình thức khác nhau – đây là ý nghĩa của câu: bị xúc chạm bởi nhiều hình thức.
Nātumānaṃ vikappayaṃ tiṭṭheti. Ātumā vuccati attā. Attānaṃ kappento vikappento vikappaṃ āpajjanto na tiṭṭheyyāti – nātumānaṃ vikappayaṃ tiṭṭhe.
'One should not stand making distinctions about oneself': 'Ātumā' means the self. One should not stand conceiving the self, making distinctions about it, or falling into speculation. This is the meaning of 'one should not stand making distinctions about oneself'.
Không nên đứng lại phân biệt tự ngã có nghĩa là: Ātumā được gọi là attā (tự ngã). Không nên đứng lại trong khi đang tạo tác, đang phân biệt, đang rơi vào sự phân biệt về tự ngã – đây là ý nghĩa của câu: không nên đứng lại phân biệt tự ngã.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã thuyết rằng –
‘‘Seyyo na tena maññeyya, nīceyyo atha vāpi sarikkho;
Phuṭṭho anekarūpehi, nātumānaṃ vikappayaṃ tiṭṭhe’’ti.
“One should not deem oneself better, nor inferior, nor equal; touched by manifold forms, one should not stand making distinctions about oneself.”
‘Không nên do đó mà nghĩ mình hơn, mình kém, hay là mình bằng; Bị xúc chạm bởi nhiều hình thức, không nên đứng lại phân biệt tự ngã.’
154.
154.
154.
Ajjhattamevupasame, na aññato bhikkhu santimeseyya;
Ajjhattaṃ upasantassa, natthi attā † kuto nirattā † vā.
One should pacify [defilements] within; a monk should not seek peace from another. For one who is inwardly at peace, there is no view of self; how then could there be a view of annihilation?
Vị tỳ khưu nên làm lắng dịu ở nội tâm, không nên tìm cầu sự an tịnh từ nơi khác; Đối với người có nội tâm an tịnh, không có tự ngã, huống hồ là phi ngã.
Ajjhattamevupasameti. Ajjhattaṃ rāgaṃ sameyya, dosaṃ sameyya, mohaṃ sameyya, kodhaṃ…pe… upanāhaṃ… makkhaṃ… paḷāsaṃ… issaṃ… macchariyaṃ… māyaṃ… sāṭheyyaṃ… thambhaṃ… sārambhaṃ … mānaṃ… atimānaṃ… madaṃ… pamādaṃ… sabbe kilese… sabbe duccarite… sabbe darathe… sabbe pariḷāhe… sabbe santāpe… sabbākusalābhisaṅkhāre sameyya upasameyya vūpasameyya nibbāpeyya paṭipassambheyyāti – ajjhattamevupasame.
'One should pacify within': One should pacify lust, hatred, delusion, anger, resentment, denigration, rivalry, envy, stinginess, deceit, fraudulence, obstinacy, contention, conceit, arrogance, intoxication, heedlessness, all defilements, all misconduct, all torments, all burning, all distress, and all unwholesome volitional formations—one should pacify, calm, completely calm, extinguish, and allay them. This is the meaning of 'one should pacify within'.
Nên làm lắng dịu ở nội tâm có nghĩa là: Nên làm lắng dịu tham ở nội tâm, nên làm lắng dịu sân, nên làm lắng dịu si, nên làm lắng dịu phẫn nộ ... oán hận ... gièm pha ... lấn lướt ... tật đố ... bỏn xẻn ... xảo trá ... gian manh ... ngoan cố ... hiếu thắng ... ngã mạn ... quá mạn ... say sưa ... phóng dật ... tất cả phiền não ... tất cả hành vi xấu ác ... tất cả phiền muộn ... tất cả sự thiêu đốt ... tất cả sự nóng nảy ... tất cả các hành bất thiện. Nên làm lắng dịu, nên làm an tịnh, nên làm cho hoàn toàn an tịnh, nên dập tắt, nên làm cho lắng xuống – đây là ý nghĩa của câu: nên làm lắng dịu ở nội tâm.
Na aññato bhikkhu santimeseyyāti. Aññato asuddhimaggena, micchāpaṭipadāya, aniyyānapatena, aññatra satipaṭṭhānehi, aññatra sammappadhānehi, aññatra iddhipādehi, aññatra indriyehi, aññatra balehi, aññatra bojjhaṅgehi, aññatra ariyā aṭṭhaṅgikā maggā santiṃ upasantiṃ vūpasantiṃ nibbutiṃ paṭipassaddhiṃ na eseyya na gaveseyya na pariyeseyyāti – na aññato bhikkhu santimeseyya.
'A monk should not seek peace from another': A monk should not seek, search for, or pursue peace, appeasement, complete appeasement, nirvana, or tranquility from another source—that is, by an impure path, by wrong practice, by a path that is not a way of release, or apart from the establishments of mindfulness, apart from the right strivings, apart from the bases of psychic power, apart from the faculties, apart from the powers, apart from the enlightenment factors, and apart from the Noble Eightfold Path. This is the meaning of 'a monk should not seek peace from another'.
Vị tỳ khưu không nên tìm cầu sự an tịnh từ nơi khác có nghĩa là: Không nên tìm kiếm, không nên truy lùng, không nên tìm cầu sự an tịnh, sự lắng dịu, sự hoàn toàn lắng dịu, sự tịch tịnh, sự an tĩnh từ nơi khác, tức là từ con đường bất tịnh, từ tà hạnh, từ con đường không đưa đến sự giải thoát, ngoại trừ Tứ Niệm Xứ, ngoại trừ Tứ Chánh Cần, ngoại trừ Tứ Thần Túc, ngoại trừ Ngũ Căn, ngoại trừ Ngũ Lực, ngoại trừ Thất Giác Chi, ngoại trừ Bát Thánh Đạo – đây là ý nghĩa của câu: vị tỳ khưu không nên tìm cầu sự an tịnh từ nơi khác.
Ajjhattaṃ upasantassāti. Ajjhattaṃ rāgaṃ santassa, dosaṃ santassa, mohaṃ santassa…pe… sabbākusalābhisaṅkhāre santassa upasantassa vūpasantassa nibbutassa paṭipassaddhiyāti – ajjhattaṃ upasantassa.
'For one who is inwardly at peace': For one who has pacified lust, hatred, delusion, and so on, up to all unwholesome volitional formations within; who is calmed, completely calmed, extinguished, and tranquil—this is the meaning of 'for one who is inwardly at peace'.
Đối với người có nội tâm an tịnh có nghĩa là: Đối với người có tham ở nội tâm đã được làm cho lắng dịu, có sân đã được làm cho lắng dịu, có si đã được làm cho lắng dịu, ... cho đến ... có tất cả các hành bất thiện đã được làm cho lắng dịu, được làm cho an tịnh, được làm cho hoàn toàn an tịnh, được dập tắt, được làm cho lắng xuống – đây là ý nghĩa của câu: đối với người có nội tâm an tịnh.
Natthi attā kuto nirattā vāti. Natthīti paṭikkhepo. Attāti attadiṭṭhi natthi; nirattāti ucchedadiṭṭhi natthi. Attāti gahitaṃ natthi; nirattāti muñcitabbaṃ natthi. Yassatthi gahitaṃ, tassatthi muñcitabbaṃ. Tassa gahitaṃ gāhaṃ muñcanaṃ samatikkanto arahā vuddhipārihānivītivatto. So vuṭṭhavāso ciṇṇacaraṇo…pe… jātimaraṇasaṃsāro, natthi tassa punabbhavoti – natthi attā kuto nirattā vā.
There is no self, so whence a non-self? 'There is not' is a negation. 'Self' means the view of self does not exist; 'non-self' means the view of annihilation does not exist. 'Self' means there is nothing grasped; 'non-self' means there is nothing to be released. For one for whom there is something grasped, for that one there is something to be released. The Arahant has transcended grasping and the releasing of what is grasped; he has overcome growth and decline. He has lived the holy life, has perfected the practice... for him, the saṃsāra of birth and death, that is, renewed existence, does not exist. This is the meaning of the phrase: 'There is no self, so whence a non-self?'
Không có tự ngã, huống hồ là phi ngã. ‘Không có’ là sự phủ định. ‘Tự ngã’ là không có tự ngã kiến; ‘phi ngã’ là không có đoạn kiến. ‘Tự ngã’ là không có sự chấp thủ; ‘phi ngã’ là không có điều cần phải từ bỏ. Người nào có sự chấp thủ, người ấy có điều cần phải từ bỏ. Vị A-la-hán đã vượt qua sự chấp thủ và sự từ bỏ ấy, đã vượt qua sự tăng trưởng và suy thoái. Vị ấy đã sống xong phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm… vòng luân hồi sanh tử, không còn tái sanh nữa – (cho nên nói) không có tự ngã, huống hồ là phi ngã.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Thế Tôn đã thuyết rằng –
‘‘Ajjhattamevupasame, na aññato bhikkhu santimeseyya;
Ajjhattaṃ upasantassa, natthi attā kuto nirattā vā’’ti.
“A bhikkhu should become calm internally; he should not seek peace from another. For one who is inwardly at peace, there is no self, so whence a non-self?”
“Vị Tỳ khưu nên tìm cầu sự an tịnh từ bên trong, không nên tìm cầu từ nơi khác. Đối với người đã an tịnh bên trong, không có tự ngã, huống hồ là phi ngã.”
155.
155.
155.
Majjhe yathā samuddassa, ūmi no jāyatī ṭhito hoti;
Evaṃ ṭhito anejassa, ussadaṃ bhikkhu na kareyya † kuhiñci.
Just as in the middle of the ocean, a wave is not born and it remains still; even so, a bhikkhu, being steadfast and unagitated, should not create any swelling anywhere.
Như ở giữa biển cả, sóng không sanh khởi, (biển) đứng yên; Cũng vậy, vị đứng vững, không dao động, vị tỳ khưu không nên tạo ra sự nổi lên ở bất cứ nơi đâu.
Majjhe yathā samuddassa, ūmi no jāyatī ṭhito hotīti. Samuddo caturāsītiyojanasahassāni ubbedhena gambhīro. Heṭṭhā cattārīsayojanasahassāni udakaṃ macchakacchapehi kampati. Upari cattārīsayojanasahassāni udakaṃ vātehi kampati. Majjhe cattārīsayojanasahassāni udakaṃ na kampati na vikampati na calati na vedhati nappavedhati na sampavedhati. Anerito aghaṭṭito acalito aluḷito abhanto vūpasanto tatra ūmi no jāyati, ṭhito hoti samuddoti. Evampi majjhe yathā samuddassa ūmi no jāyatī ṭhito hoti.
‘Just as in the middle of the ocean, a wave is not born and it remains still’: The ocean is eighty-four thousand yojanas deep. The lower forty thousand yojanas of water are stirred by fish and turtles. The upper forty thousand yojanas of water are stirred by winds. The middle forty thousand yojanas of water do not tremble, do not shake, do not move, do not quiver, do not quiver violently, do not tremble all over. Unimpelled, unstruck, unmoved, unstirred, unperturbed, completely calmed—there no wave arises; the ocean stands still. This too is the meaning of ‘Just as in the middle of the ocean, a wave is not born and it remains still’.
Về câu: ‘Như ở giữa biển cả, sóng không sanh khởi, (biển) đứng yên.’ Biển cả sâu tám mươi bốn ngàn do tuần theo chiều thẳng đứng. Bốn mươi ngàn do tuần nước ở phía dưới bị rung động bởi cá và rùa. Bốn mươi ngàn do tuần nước ở phía trên bị rung động bởi các ngọn gió. Bốn mươi ngàn do tuần nước ở giữa không bị rung động, không bị chấn động, không bị lay động, không bị dao động, không bị rung chuyển, không bị rung lắc. Không bị khuấy động, không bị va chạm, không bị lay động, không bị xáo trộn, không bị quay cuồng, được lắng dịu, ở nơi ấy, sóng không sanh khởi, biển cả đứng yên. Đây cũng là ý nghĩa của câu: ‘Như ở giữa biển cả, sóng không sanh khởi, (biển) đứng yên.’
Atha vā sattannaṃ pabbatānaṃ antarikāsu sattasīdantarā mahāsamuddā. † Tatra udakaṃ na kampati na vikampati na calati na vedhati nappavedhati na sampavedhati. Anerito aghaṭṭito acalito aluḷito abhanto vūpasanto tatra ūmi no jāyati, ṭhito hoti samuddoti. Evampi majjhe yathā samuddassa ūmi no jāyatī ṭhito hoti.
Alternatively, between the seven mountain ranges are the seven great Sīdantara oceans. There the water does not tremble, does not shake, does not move, does not quiver, does not quiver violently, does not tremble all over. Unimpelled, unstruck, unmoved, unstirred, unperturbed, completely calmed—there no wave arises; the ocean stands still. This too is the meaning of ‘Just as in the middle of the ocean, a wave is not born and it remains still’.
Hoặc nữa, ở khoảng giữa của bảy dãy núi là bảy biển lớn Sīdantarā. Ở nơi ấy, nước không bị rung động, không bị chấn động, không bị lay động, không bị dao động, không bị rung chuyển, không bị rung lắc. Không bị khuấy động, không bị va chạm, không bị lay động, không bị xáo trộn, không bị quay cuồng, được lắng dịu, ở nơi ấy, sóng không sanh khởi, biển cả đứng yên. Đây cũng là ý nghĩa của câu: ‘Như ở giữa biển cả, sóng không sanh khởi, (biển) đứng yên.’
Evaṃ ṭhito anejassāti. Evanti opammasampaṭipādanaṃ. Ṭhitoti lābhepi na kampati, alābhepi na kampati, yasepi na kampati, ayasepi na kampati, pasaṃsāyapi na kampati, nindāyapi na kampati, sukhepi na kampati, dukkhepi na kampati na vikampati na calati na vedhati nappavedhati na sampavedhatīti – evaṃ ṭhito. Anejassāti ejā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yassesā ejā taṇhā pahīnā ucchinnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati anejo. Ejāya pahīnattā anejo; so lābhepi na iñjati, alābhepi na iñjati, yasepi na iñjati, ayasepi na iñjati, pasaṃsāyapi na iñjati, nindāyapi na iñjati, sukhepi na iñjati, dukkhepi na iñjati, na calati na vedhati nappavedhati na sampavedhatīti – evaṃ ṭhito anejassa.
Regarding ‘Thus steadfast, unagitated’: ‘Thus’ indicates the completion of the simile. ‘Steadfast’ means: he is not shaken by gain, not shaken by loss, not shaken by fame, not shaken by disgrace, not shaken by praise, not shaken by blame, not shaken by pleasure, and not shaken by pain; he is not especially shaken, does not move, does not tremble, does not tremble violently, nor does he tremble all over—this is ‘thus steadfast’. Regarding ‘unagitated’: Craving is called agitation. That which is lust, strong passion... covetousness, greed, an unwholesome root. For whom this agitation, this craving, is abandoned, cut off, completely cut off, calmed, tranquilized, rendered incapable of future arising, and burned by the fire of knowledge, he is called ‘unagitated’. Because agitation is abandoned, he is unagitated. He is not agitated by gain, nor by loss, nor by fame, nor by disgrace, nor by praise, nor by blame, nor by pleasure, nor by pain; he does not move, does not tremble, does not tremble violently, nor does he tremble all over—this is ‘thus steadfast, unagitated’.
Về câu: ‘Cũng vậy, vị đứng vững, không dao động.’ ‘Cũng vậy’ là sự trình bày đầy đủ về ví dụ. ‘Đứng vững’ là không rung động khi được lợi, không rung động khi không được lợi, không rung động khi có danh, không rung động khi không có danh, không rung động khi được tán dương, không rung động khi bị chê bai, không rung động khi có lạc, không rung động khi có khổ, không bị chấn động, không bị lay động, không bị dao động, không bị rung chuyển, không bị rung lắc – như vậy là ‘đứng vững.’ ‘Không dao động’ (aneja): Sự dao động (ejā) được gọi là ái. Sự tham ái, sự tham luyến... cho đến... sự tham lam, tham, là gốc rễ bất thiện. Vị nào đã đoạn tận, đã cắt đứt, đã trừ tuyệt, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã được đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ đối với sự dao động, tức là ái này, vị ấy được gọi là người không dao động (aneja). Do đã đoạn tận sự dao động nên gọi là không dao động; vị ấy không rung động khi được lợi, không rung động khi không được lợi, không rung động khi có danh, không rung động khi không có danh, không rung động khi được tán dương, không rung động khi bị chê bai, không rung động khi có lạc, không rung động khi có khổ, không bị lay động, không bị dao động, không bị rung chuyển, không bị rung lắc. Như vậy là ý nghĩa của ‘vị đứng vững, không dao động.’
Ussadaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñcīti. Ussadāti sattussadā – rāgussadaṃ †, dosussadaṃ, mohussadaṃ, mānussadaṃ, diṭṭhussadaṃ, kilesussadaṃ, kammussadaṃ na kareyya na janeyya na sañjaneyya na nibbatteyya nābhinibbatteyya. Kuhiñcīti kuhiñci kismiñci katthaci ajjhattaṃ vā bahiddhā vā ajjhattabahiddhā vāti – ussadaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñci.
Regarding ‘A bhikkhu should not create any swelling anywhere’: ‘Swellings’ refers to the seven swellings: the swelling of lust, the swelling of hatred, the swelling of delusion, the swelling of conceit, the swelling of views, the swelling of defilements, and the swelling of kamma. He should not create them, not generate them, not cause them to arise, not produce them, not bring them into existence. ‘Anywhere’ means: in any place, in any thing, in any location, whether internally, or externally, or both internally and externally. This is the meaning of ‘a bhikkhu should not create any swelling anywhere’.
Về câu: ‘Vị tỳ khưu không nên tạo ra sự nổi lên ở bất cứ nơi đâu.’ ‘Sự nổi lên’ (ussada) có bảy loại: sự nổi lên của tham, sự nổi lên của sân, sự nổi lên của si, sự nổi lên của mạn, sự nổi lên của tà kiến, sự nổi lên của phiền não, sự nổi lên của nghiệp. Không nên làm, không nên sanh ra, không nên tạo ra, không nên phát sanh, không nên làm cho phát sanh (những sự nổi lên ấy). ‘Ở bất cứ nơi đâu’ (kuhiñci) có nghĩa là ở bất cứ đâu, ở bất cứ cái gì, ở bất cứ chỗ nào, hoặc ở bên trong, hoặc ở bên ngoài, hoặc cả bên trong lẫn bên ngoài. Như vậy là ý nghĩa của ‘vị tỳ khưu không nên tạo ra sự nổi lên ở bất cứ nơi đâu.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Majjhe yathā samuddassa, ūmi no jāyatī ṭhito hoti;
Evaṃ ṭhito anejassa, ussadaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñcī’’ti.
‘Just as in the middle of the ocean, a wave is not born and it remains still; even so, a bhikkhu, being steadfast and unagitated, should not create any swelling anywhere.’
‘Như ở giữa biển cả, sóng không sanh khởi, (biển) đứng yên; Cũng vậy, vị đứng vững, không dao động, vị tỳ khưu không nên tạo ra sự nổi lên ở bất cứ nơi đâu.’
156.
156.
156.
Akittayī vivaṭacakkhu, sakkhidhammaṃ parissayavinayaṃ;
Paṭipadaṃ vadehi bhaddante, pātimokkhaṃ atha vāpi samādhiṃ.
‘O One with opened eyes, you have proclaimed the directly witnessed Dhamma, the removal of perils. Venerable Sir, speak of the practice; or of the Pātimokkha and also of concentration.’
Bậc có mắt rộng mở đã tuyên thuyết pháp được chứng ngộ, sự nhiếp phục các hiểm nguy. Bạch ngài, xin hãy nói về con đường thực hành, hoặc là về Pātimokkha, hoặc là về định.
Akittayī vivaṭacakkhūti. Akittayīti kittitaṃ ācikkhitaṃ desitaṃ paññapitaṃ paṭṭhapitaṃ vivaṭaṃ vibhattaṃ uttānīkataṃ pakāsitanti – akittayi †. Vivaṭacakkhūti bhagavā pañcahi cakkhūhi vivaṭacakkhu – maṃsacakkhunāpi vivaṭacakkhu, dibbena cakkhunāpi vivaṭacakkhu, paññācakkhunāpi vivaṭacakkhu, buddhacakkhunāpi vivaṭacakkhu, samantacakkhunāpi vivaṭacakkhu.
Regarding ‘He proclaimed, the one with opened eyes’: ‘He proclaimed’ means it was proclaimed, explained, taught, laid down, established, opened up, analyzed, made plain, and manifested. ‘The one with opened eyes’ refers to the Blessed One, who is one with opened eyes by means of five eyes: with the physical eye, with the divine eye, with the eye of wisdom, with the Buddha-eye, and with the all-around eye.
Về câu: ‘Bậc có mắt rộng mở đã tuyên thuyết.’ ‘Đã tuyên thuyết’ (akittayi) có nghĩa là đã được nói đến, đã được chỉ dạy, đã được thuyết giảng, đã được chế định, đã được thiết lập, đã được mở ra, đã được phân tích, đã được làm cho rõ ràng, đã được làm cho sáng tỏ. ‘Bậc có mắt rộng mở’ (vivaṭacakkhu): Đức Thế Tôn là bậc có mắt rộng mở với năm loại mắt: Ngài là bậc có mắt rộng mở với nhục nhãn, là bậc có mắt rộng mở với thiên nhãn, là bậc có mắt rộng mở với tuệ nhãn, là bậc có mắt rộng mở với Phật nhãn, là bậc có mắt rộng mở với toàn nhãn.
Kathaṃ bhagavā maṃsacakkhunāpi vivaṭacakkhu? Maṃsacakkhumhipi bhagavato pañca vaṇṇā saṃvijjanti – nīlo ca vaṇṇo, pītako ca vaṇṇo, lohitako ca vaṇṇo, kaṇho ca vaṇṇo, odāto ca vaṇṇo. Akkhilomāni ca bhagavato yattha ca akkhilomāni patiṭṭhitāni taṃ nīlaṃ hoti sunīlaṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ umāpupphasamānaṃ †. Tassa parato pītakaṃ hoti supītakaṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ kaṇikārapupphasamānaṃ. Ubhayato ca akkhikūṭāni bhagavato lohitakāni honti sulohitakāni pāsādikāni dassaneyyāni indagopakasamānāni. Majjhe kaṇhaṃ hoti sukaṇhaṃ alūkhaṃ siniddhaṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ addāriṭṭhakasamānaṃ †. Tassa parato odātaṃ hoti suodātaṃ setaṃ paṇḍaraṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ osadhitārakasamānaṃ. Tena bhagavā pākatikena maṃsacakkhunā attabhāvapariyāpannena purimasucaritakammābhinibbattena samantā yojanaṃ passati divā ceva rattiñca. Yadā hipi caturaṅgasamannāgato andhakāro hoti. Sūriyo vā atthaṅgato hoti. Kāḷapakkho ca uposatho hoti. Tibbo ca vanasaṇḍo hoti. Mahā ca kāḷamegho † abbhuṭṭhito hoti. Evarūpepi caturaṅgasamannāgate andhakāre samantā yojanaṃ passati. Natthi so kuṭṭo † vā kavāṭaṃ vā pākāro vā pabbato vā gaccho vā latā vā āvaraṇaṃ rūpānaṃ dassanāya. Ekañce tilaphalaṃ nimittaṃ katvā tilavāhe pakkhipeyya. Taññeva tilaphalaṃ uddhareyya. Evaṃ parisuddhaṃ bhagavato pākatikaṃ maṃsacakkhu. Evaṃ bhagavā maṃsacakkhunāpi vivaṭacakkhu.
How is the Blessed One clear-eyed even with the physical eye? In the physical eye of the Blessed One, five colors are present—the blue color, the yellow color, the red color, the black color, and the white color. The eyelashes of the Blessed One, and where those eyelashes are rooted, are blue, very blue, pleasing, and lovely to behold, resembling the flax flower. Beyond that, they are yellow, very yellow, of golden color, pleasing, and lovely to behold, like the kaṇikāra flower. On both sides, the outer corners of the Blessed One’s eyes are red, very red, pleasing, and lovely to behold, like the Indagopaka insect. In the middle, it is black, very black, clear, smooth, pleasing, and lovely to behold, like the addāriṭṭhaka fruit. Beyond that, it is white, very white, bright white, pleasing, and lovely to behold, like the morning star. Therefore, with his natural physical eye, which is part of his individual existence and produced by his past meritorious deeds, the Blessed One sees for a yojana all around, both by day and by night. Even when there is a darkness endowed with four factors—the sun has set, it is the Uposatha day of the dark fortnight, there is a dense forest thicket, and a great black cloud has arisen—even in such a darkness endowed with four factors, he sees for a yojana all around. There is no wall, door-leaf, rampart, mountain, bush, or creeper that is an obstruction to the seeing of forms. If one were to mark a single sesame seed and place it in a cartload of sesame, one could pick out that very sesame seed. Thus, the Blessed One's natural physical eye is pure. Thus, the Blessed One is clear-eyed even with the physical eye.
Làm thế nào Đức Thế Tôn có nhãn quang rộng mở ngay cả với nhục nhãn? Ngay trong nhục nhãn của Đức Thế Tôn cũng có năm màu sắc hiện hữu – màu xanh dương, màu vàng, màu đỏ, màu đen, và màu trắng. Lông mi của Đức Thế Tôn, và nơi lông mi mọc, có màu xanh dương, xanh thẳm, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như hoa lanh. Bên ngoài vùng đó là màu vàng, vàng rực, sắc vàng óng, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như hoa kaṇikāra. Cả hai khóe mắt của Đức Thế Tôn có màu đỏ, đỏ thắm, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như con bọ rùa. Ở giữa có màu đen, đen nhánh, không thô ráp, mịn màng, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như quả addāriṭṭhaka. Bên ngoài vùng đó là màu trắng, trắng ngần, trắng tinh, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như sao mai. Do đó, với nhục nhãn tự nhiên, thuộc về thân thể, được tạo ra bởi nghiệp thiện đã làm trong quá khứ, Đức Thế Tôn nhìn thấy khắp xung quanh một do-tuần, cả ban ngày lẫn ban đêm. Ngay cả khi bóng tối hội đủ bốn yếu tố: mặt trời đã lặn, là ngày trai giới của hắc nguyệt, là khu rừng rậm rạp, và có đám mây đen lớn trái mùa nổi lên. Ngay trong bóng tối hội đủ bốn yếu tố như vậy, Ngài vẫn nhìn thấy khắp xung quanh một do-tuần. Không có bức tường, cánh cửa, thành lũy, ngọn núi, bụi cây, hay dây leo nào có thể che khuất tầm nhìn đối với các sắc. Nếu lấy một hạt mè làm dấu rồi bỏ vào một xe mè, Ngài có thể nhặt ra đúng hạt mè đó. Như vậy, nhục nhãn tự nhiên của Đức Thế Tôn thật thanh tịnh. Như vậy, Đức Thế Tôn có nhãn quang rộng mở ngay cả với nhục nhãn.
Kathaṃ bhagavā dibbena cakkhunāpi vivaṭacakkhu? Bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate. Yathākammūpage satte pajānāti – ‘‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṃ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā’’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate; yathākammūpage satte pajānāti. Ākaṅkhamāno ca bhagavā ekampi lokadhātuṃ passeyya, dvepi lokadhātuyo passeyya, tissopi lokadhātuyo passeyya, catassopi lokadhātuyo passeyya, pañcapi lokadhātuyo passeyya, dasapi lokadhātuyo passeyya, vīsampi lokadhātuyo passeyya, tiṃsampi lokadhātuyo passeyya, cattālīsampi lokadhātuyo passeyya, paññāsampi lokadhātuyo passeyya, satampi lokadhātuyo passeyya, sahassimpi cūḷanikaṃ lokadhātuṃ passeyya, dvisahassimpi majjhimikaṃ lokadhātuṃ passeyya, tisahassimpi lokadhātuṃ passeyya, mahāsahassimpi † lokadhātuṃ passeyya. Yāvatakaṃ vā pana ākaṅkheyya tāvatakaṃ passeyya. Evaṃ parisuddhaṃ bhagavato dibbacakkhu. Evaṃ bhagavā dibbena cakkhunāpi vivaṭacakkhu.
How is the Blessed One open-eyed even with the divine eye? The Blessed One, with the divine eye, purified and surpassing the human, sees beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in good destinations and in bad destinations. He understands beings who fare according to their kamma: “Indeed, sirs, these beings were endowed with misconduct of body, speech, and mind, revilers of the noble ones, holding wrong views, and undertaking actions based on wrong views. At the breaking up of the body, after death, they have been reborn in the plane of misery, a bad destination, a state of ruin, in hell. But these other beings, sirs, were endowed with good conduct of body, speech, and mind, not reviling the noble ones, holding right views, and undertaking actions based on right views. At the breaking up of the body, after death, they have been reborn in a good destination, in the heavenly world.” Thus, with the divine eye, purified and surpassing the human, he sees beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in good destinations and in bad destinations; he understands beings who fare according to their kamma. And if the Blessed One wishes, he could see one world-system, he could see two world-systems, he could see three world-systems, he could see four world-systems, he could see five world-systems, he could see ten world-systems, he could see twenty world-systems, he could see thirty world-systems, he could see forty world-systems, he could see fifty world-systems, he could see a hundred world-systems, he could see a thousandfold minor world-system, he could see a two-thousandfold middling world-system, he could see a three-thousandfold world-system, he could see a great-thousandfold world-system. As far as he might wish, so far could he see. Thus, the Blessed One’s divine eye is completely purified. In this way, the Blessed One is open-eyed even with the divine eye.
Làm thế nào Đức Thế Tôn có nhãn quang rộng mở ngay cả với thiên nhãn? Đức Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn của loài người, thấy các chúng sanh đang chết đi và đang sanh lại, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, đi đến thiện thú và ác thú. Ngài biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Này các bạn, thật vậy, những chúng sanh này đã thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp trì các hành vi theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này, này các bạn, đã thực hành thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp trì các hành vi theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn của loài người, Ngài thấy các chúng sanh đang chết đi và đang sanh lại, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, đi đến thiện thú và ác thú; Ngài biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Và nếu muốn, Đức Thế Tôn có thể thấy một thế giới, có thể thấy hai thế giới, có thể thấy ba thế giới, có thể thấy bốn thế giới, có thể thấy năm thế giới, có thể thấy mười thế giới, có thể thấy hai mươi thế giới, có thể thấy ba mươi thế giới, có thể thấy bốn mươi thế giới, có thể thấy năm mươi thế giới, có thể thấy một trăm thế giới, có thể thấy một tiểu thiên thế giới, có thể thấy một trung thiên thế giới, có thể thấy một tam thiên thế giới, có thể thấy một đại thiên thế giới. Ngài muốn thấy bao xa, Ngài có thể thấy bấy xa. Như vậy, thiên nhãn của Đức Thế Tôn thật thanh tịnh. Như vậy, Đức Thế Tôn có nhãn quang rộng mở ngay cả với thiên nhãn.
Kathaṃ bhagavā paññācakkhunāpi vivaṭacakkhu? Bhagavā mahāpañño puthupañño hāsapañño javanapañño tikkhapañño nibbedhikapañño paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatapaṭisambhido catuvesārajjappatto dasabaladhārī purisāsabho purisasīho purisanāgo purisājañño purisadhorayho anantañāṇo anantatejo anantayaso aḍḍho mahaddhano dhanavā netā vinetā anunetā paññāpetā anijjhāpetā pekkhetā pasādetā. So hi bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido maggānugā ca pana etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā.
How is the Blessed One open-eyed even with the eye of wisdom? The Blessed One is of great wisdom, of broad wisdom, of joyous wisdom, of quick wisdom, of sharp wisdom, of penetrative wisdom, skilled in the distinctions of wisdom, possessed of expansive knowledge, having attained the analytical knowledges, having reached the four assurances, a possessor of the ten powers, a bull among men, a lion among men, a naga among men, a thoroughbred among men, a bearer of the burden for men, possessed of infinite knowledge, infinite power, and infinite fame, endowed with the wealth of knowledge, having much wealth of knowledge, possessing the wealth of wisdom, a guide, an exceptional guide, a consistent guide, one who makes known by dispelling doubt, one who causes contemplation with reference to the practice, one who discerns, one who inspires faith. For that Blessed One is the producer of the unarisen path, the generator of the ungenerated path, the declarer of the undeclared path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, an expert in the path. And now his disciples dwell following the path, having become endowed with it afterward.
Làm thế nào Đức Thế Tôn có nhãn quang rộng mở ngay cả với tuệ nhãn? Đức Thế Tôn có trí tuệ vĩ đại, trí tuệ sâu rộng, trí tuệ hoan hỷ, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ sắc bén, trí tuệ xuyên thấu, thiện xảo trong các phân loại trí tuệ, có trí phân tích, đã chứng đắc các Vô ngại giải, đã đạt đến bốn Vô sở úy, sở hữu mười lực, là bậc Nhân ngưu vương, là bậc Nhân sư tử, là bậc Nhân long tượng, là bậc Nhân tuấn mã, là bậc Nhân đầu đàn, có trí tuệ vô biên, có uy lực vô biên, có danh tiếng vô biên, là bậc phú quý, có tài sản lớn, là bậc giàu có, là người dẫn đường, là người huấn luyện, là người khuyến dụ, là người làm cho biết, là người làm cho suy xét, là người làm cho thấy, là người làm cho tịnh tín. Vị Thế Tôn ấy là người làm cho con đường chưa sanh được sanh khởi, là người làm cho con đường chưa có được hiện hữu, là người tuyên thuyết con đường chưa được tuyên thuyết. Ngài là bậc biết đạo, bậc hiểu đạo, bậc thông thạo đạo. Và nay, các vị đệ tử sống theo con đường ấy, thành tựu sau Ngài.
So hi bhagavā jānaṃ jānāti passaṃ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato. Natthi tassa bhagavato aññātaṃ adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ paññāya. Atītaṃ anāgataṃ paccuppannaṃ † upādāya sabbe dhammā sabbākārena buddhassa bhagavato ñāṇamukhe āpāthaṃ āgacchanti. Yaṃ kiñci neyyaṃ nāma atthi jānitabbaṃ † attattho vā parattho vā ubhayattho vā diṭṭhadhammiko vā attho samparāyiko vā attho uttāno vā attho gambhīro vā attho gūḷho vā attho paṭicchanno vā attho neyyo vā attho nīto vā attho anavajjo vā attho nikkileso vā attho vodāno vā attho paramattho vā attho, sabbaṃ taṃ † antobuddhañāṇe parivattati.
Indeed, that Blessed One knows what is to be known and sees what is to be seen. He has become the eye, He has become knowledge, He has become the Dhamma, He has become Brahma. He is the speaker, the proclaimer, the one who leads to the meaning, the giver of the deathless, the lord of the Dhamma, the Tathāgata. For that Blessed One, there is nothing unknown, unseen, uncomprehended, unrealized, or untouched by wisdom. All phenomena—beginning with the past, future, and present—in all their aspects, come into the range of the Blessed Buddha's knowledge. Whatever is to be known—whether it is for one's own benefit, for the benefit of others, or for the benefit of both; whether it is a benefit in the present life or a benefit in the future life; whether the benefit is plain or profound, hidden or concealed, a benefit to be inferred or a benefit to be known directly, a blameless benefit, a benefit without defilements, a pure benefit, or the ultimate benefit—all of that revolves within the Buddha's knowledge.
Thật vậy, Đức Thế Tôn ấy biết điều cần biết, thấy điều cần thấy, là con mắt (cho chúng sanh), là trí tuệ (cho chúng sanh), là Pháp (cho chúng sanh), là Phạm (cho chúng sanh), là người thuyết giảng, là người làm cho (Pháp) vận hành, là người dẫn dắt đến ý nghĩa, là người ban cho sự bất tử (Niết-bàn), là chủ nhân của Pháp, là Như Lai. Đối với Đức Thế Tôn ấy, không có gì là không được biết, không được thấy, không được hay, không được chứng ngộ, không được chạm đến bằng trí tuệ. Kể từ quá khứ, vị lai, và hiện tại, tất cả các pháp bằng mọi cách đều đi vào phạm vi trí tuệ của Đức Phật, Đức Thế Tôn. Bất cứ điều gì được gọi là đối tượng cần biết, cần phải biết, hoặc là lợi ích cho bản thân, hoặc là lợi ích cho người khác, hoặc là lợi ích cho cả hai, hoặc là lợi ích trong hiện tại, hoặc là lợi ích trong tương lai, hoặc là ý nghĩa nông cạn, hoặc là ý nghĩa sâu xa, hoặc là ý nghĩa ẩn giấu, hoặc là ý nghĩa che đậy, hoặc là ý nghĩa cần được suy diễn, hoặc là ý nghĩa trực tiếp, hoặc là ý nghĩa không có lỗi lầm, hoặc là ý nghĩa không có phiền não, hoặc là ý nghĩa trong sạch, hoặc là ý nghĩa tối thượng, tất cả những điều đó đều vận hành bên trong Phật trí.
Sabbaṃ kāyakammaṃ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti sabbaṃ vacīkammaṃ… sabbaṃ manokammaṃ… atīte buddhassa bhagavato appaṭihataṃ ñāṇaṃ, anāgate paccuppanne appaṭihataṃ ñāṇaṃ. Yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ; neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ, neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ nappavattati, ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi. Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā. Yathā dvinnaṃ samuggapaṭalānaṃ sammāphusitānaṃ heṭṭhimaṃ samuggapaṭalaṃ uparimaṃ nātivattati, uparimaṃ samuggapaṭalaṃ heṭṭhimaṃ nātivattati, aññamaññapariyantaṭṭhāyino; evameva buddhassa bhagavato neyyañca ñāṇañca aññamaññapariyantaṭṭhāyino. Yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ; neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ. Neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ nappavattati, ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi. Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā.
All bodily action of the Blessed One, the Buddha, follows upon his knowledge. All verbal action… all mental action… The knowledge of the Blessed One, the Buddha, regarding the past is unimpeded; his knowledge regarding the future and the present is unimpeded. As far as there is the knowable, so far extends his knowledge; as far as there is knowledge, so far extends the knowable. Knowledge has the knowable as its limit; the knowable has knowledge as its limit. Knowledge does not proceed beyond the knowable, nor is there a path of the knowable beyond knowledge. These phenomena stand at each other's limit. Just as with two casket-lids properly fitted together, the lower casket-lid does not extend beyond the upper, nor does the upper casket-lid extend beyond the lower—they stand at each other's limit; even so for the Blessed One, the Buddha, the knowable and knowledge stand at each other's limit. As far as there is the knowable, so far extends his knowledge; as far as there is knowledge, so far extends the knowable. Knowledge has the knowable as its limit; the knowable has knowledge as its limit. Knowledge does not proceed beyond the knowable, nor is there a path of the knowable beyond knowledge. These phenomena stand at each other's limit.
Mọi thân nghiệp của Đức Phật, Đức Thế Tôn, đều đi theo sau trí tuệ; mọi khẩu nghiệp... mọi ý nghiệp... Trong quá khứ, trí tuệ của Đức Phật, Đức Thế Tôn, không bị ngăn ngại; trong vị lai, trong hiện tại, trí tuệ không bị ngăn ngại. Đối tượng cần biết có bao nhiêu, trí tuệ có bấy nhiêu; trí tuệ có bao nhiêu, đối tượng cần biết có bấy nhiêu. Trí tuệ có đối tượng cần biết làm giới hạn, đối tượng cần biết có trí tuệ làm giới hạn. Trí tuệ không vận hành vượt qua đối tượng cần biết, không có con đường của đối tượng cần biết vượt qua trí tuệ. Các pháp ấy đứng ở giới hạn của nhau. Giống như hai nắp hộp vừa khít nhau, nắp dưới không vượt qua nắp trên, nắp trên không vượt qua nắp dưới, chúng đứng ở giới hạn của nhau; cũng vậy, đối tượng cần biết và trí tuệ của Đức Phật, Đức Thế Tôn, đứng ở giới hạn của nhau. Đối tượng cần biết có bao nhiêu, trí tuệ có bấy nhiêu; trí tuệ có bao nhiêu, đối tượng cần biết có bấy nhiêu. Trí tuệ có đối tượng cần biết làm giới hạn, đối tượng cần biết có trí tuệ làm giới hạn. Trí tuệ không vận hành vượt qua đối tượng cần biết, không có con đường của đối tượng cần biết vượt qua trí tuệ. Các pháp ấy đứng ở giới hạn của nhau.
Sabbadhammesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati. Sabbe dhammā buddhassa bhagavato āvajjanapaṭibaddhā ākaṅkhapaṭibaddhā manasikārapaṭibaddhā cittuppādapaṭibaddhā. Sabbasattesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati. Sabbesaṃ sattānaṃ bhagavā āsayaṃ jānāti, anusayaṃ jānāti, caritaṃ jānāti, adhimuttiṃ jānāti, apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye bhabbābhabbe satte pajānāti. Sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati †.
The knowledge of the Blessed One, the Buddha, extends to all phenomena. All phenomena are bound to the Blessed One's adverting, will, attention, and arising of consciousness. The knowledge of the Blessed One, the Buddha, extends to all beings. The Blessed One knows the inclinations, underlying tendencies, character, and dispositions of all beings. He discerns beings with little dust in their eyes and those with much dust, those with keen faculties and those with dull faculties, those of good disposition and those of bad disposition, those easy to instruct and those difficult to instruct, and those capable and incapable of liberation. The world with its devas, Māra, and Brahmā, this generation with its ascetics and brahmins, with its devas and humans, revolves within the Buddha's knowledge.
Trí tuệ của Đức Phật, Đức Thế Tôn, vận hành trong tất cả các pháp. Tất cả các pháp đều liên quan đến sự hướng tâm, liên quan đến ý muốn, liên quan đến sự tác ý, liên quan đến sự khởi sanh của tâm của Đức Phật, Đức Thế Tôn. Trí tuệ của Đức Phật, Đức Thế Tôn, vận hành trong tất cả chúng sanh. Đức Thế Tôn biết rõ khuynh hướng, biết rõ phiền não ngầm, biết rõ tánh hạnh, biết rõ thiên hướng của tất cả chúng sanh; Ngài biết rõ chúng sanh ít bụi trần, nhiều bụi trần, có các căn lanh lợi, có các căn mềm yếu, có tướng trạng tốt, có tướng trạng xấu, dễ dàng lãnh hội, khó khăn lãnh hội, có khả năng và không có khả năng (chứng ngộ). Thế giới cùng với chư thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên, chúng sanh cùng với Sa-môn và Bà-la-môn, cùng với chư thiên và loài người, đều vận hành bên trong Phật trí.
Yathā ye keci macchakacchapā antamaso timitimiṅgalaṃ upādāya antomahāsamudde parivattanti; evameva sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati †. Yathā ye keci pakkhī antamaso garuḷaṃ venateyyaṃ upādāya ākāsassa padese parivattanti; evameva yepi te sāriputtasamā paññāya tepi buddhañāṇassa padese parivattanti; buddhañāṇaṃ devamanussānaṃ paññaṃ pharitvā abhibhavitvā tiṭṭhati. Yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te pañhaṃ abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṃ upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni ca. Kathitā visajjitā ca te pañhā bhagavatā honti niddiṭṭhakāraṇā. Upakkhittakā ca te bhagavato sampajjanti. Atha kho bhagavā tattha atirocati yadidaṃ paññāyāti. Evaṃ bhagavā paññācakkhunāpi vivaṭacakkhu.
Just as all fish and turtles, up to and including the Timi and Timiṅgala, move about within the great ocean; so too, the world with its gods, Māra, and Brahmā, this generation with its ascetics and brahmins, its gods and humans, revolves within the Buddha’s knowledge. Just as all birds, up to and including Garuḷa, the son of Vinatā, move about in a region of the sky; so too, even those who are equal to Sāriputta in wisdom revolve within a region of the Buddha’s knowledge. The Buddha’s knowledge pervades and surpasses the wisdom of gods and humans, and stands supreme. Those wise khattiyas, brahmins, householders, and ascetics—subtle, skilled in refuting the doctrines of others, like archers who can split a hair—who wander about, thinking to shatter established views by means of their wisdom, having formulated questions again and again, approach the Tathāgata to ask about matters both profound and secret. Those questions are explained and answered by the Blessed One, with their reasons made clear. And they become established as disciples of the Blessed One. Therein the Blessed One shines forth preeminently, that is to say, in wisdom. Thus, the Blessed One is one with unveiled vision, also through the eye of wisdom.
Giống như bất kỳ loài cá và rùa nào, cho đến cả loài cá Timi và Timiṅgala, đều di chuyển bên trong đại dương; cũng vậy, thế giới cùng với chư thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên, chúng sanh cùng với Sa-môn và Bà-la-môn, cùng với chư thiên và loài người, đều vận hành bên trong Phật trí. Giống như bất kỳ loài chim nào, cho đến cả chim Garuḷa con của Vinatā, đều di chuyển trong một vùng của không gian; cũng vậy, ngay cả những chúng sanh có trí tuệ ngang bằng ngài Sāriputta cũng chỉ vận hành trong một vùng của Phật trí; Phật trí bao trùm và vượt lên trên trí tuệ của chư thiên và loài người. Ngay cả những bậc trí giả thuộc dòng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ, Sa-môn, những người tinh tế, những người đã chinh phục các học thuyết khác, những người giống như cung thủ có thể bắn xuyên qua sợi lông, dường như đi đây đó phá vỡ các tà kiến bằng trí tuệ của mình, họ, sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng các câu hỏi, đến gần Như Lai và hỏi những điều sâu kín và che giấu. Và những câu hỏi ấy được Đức Thế Tôn nói ra, giải đáp, và chỉ rõ lý do. Và họ trở thành những người quy phục Đức Thế Tôn. Khi ấy, Đức Thế Tôn tỏa sáng rực rỡ ở đó, chính là nhờ trí tuệ. Như vậy, Đức Thế Tôn, ngay cả với con mắt trí tuệ, cũng là người có con mắt rộng mở.
Kathaṃ bhagavā buddhacakkhunāpi vivaṭacakkhu? Bhagavā buddhacakkhunā lokaṃ volokento addasa satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvino viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvino viharante. Seyyathāpi nāma uppaliniyaṃ vā paduminiyaṃ vā puṇḍarīkiniyaṃ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakā anuggatāni antonimuggaposīni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni samodakaṃ ṭhitāni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakā accuggamma tiṭṭhanti anupalittāni udakena; evameva bhagavā buddhacakkhunā lokaṃ volokento addasa satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvino viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvino viharante. Jānāti bhagavā – ‘‘ayaṃ puggalo rāgacarito, ayaṃ dosacarito, ayaṃ mohacarito, ayaṃ vitakkacarito, ayaṃ saddhācarito, ayaṃ ñāṇacarito’’ti. Rāgacaritassa bhagavā puggalassa asubhakathaṃ katheti; dosacaritassa bhagavā puggalassa mettābhāvanaṃ ācikkhati; mohacaritassa bhagavā puggalassa uddese paripucchāya kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya garusaṃvāse niveseti; vitakkacaritassa bhagavā puggalassa ānāpānassatiṃ ācikkhati; saddhācaritassa bhagavā puggalassa pasādanīyaṃ nimittaṃ ācikkhati buddhasubodhiṃ † dhammasudhammataṃ saṅghasuppaṭipattiṃ sīlāni ca; attano ñāṇacaritassa bhagavā puggalassa ācikkhati vipassanānimittaṃ aniccākāraṃ dukkhākāraṃ anattākāraṃ.
How is the Blessed One with the Buddha-eye also one whose vision is unveiled? The Blessed One, surveying the world with the Buddha-eye, saw beings with little dust of defilement in the eye of wisdom and with much dust of defilement in the eye of wisdom, with keen faculties and dull faculties, with good dispositions and bad dispositions, easy to instruct and hard to instruct; some dwelling who see the danger of faults concerning the next world, and some dwelling who do not see the danger of faults concerning the next world. Just as in a pond of blue lotuses, or a pond of red lotuses, or a pond of white lotuses, some blue, red, or white lotuses are born in the water and grown in the water, not having risen from the water, thriving immersed within; some blue, red, or white lotuses are born in the water and grown in the water, standing level with the water; and some blue, red, or white lotuses are born in the water and grown in the water, having risen up from the water, they stand unsullied by the water; even so, the Blessed One, surveying the world with the Buddha-eye, saw beings with little dust of defilement in the eye of wisdom and with much dust of defilement in the eye of wisdom, with keen faculties and dull faculties, with good dispositions and bad dispositions, easy to instruct and hard to instruct; some dwelling who see the danger of faults concerning the next world, and some dwelling who do not see the danger of faults concerning the next world. The Blessed One knows: “This person is of a lustful temperament, this one is of a hateful temperament, this one is of a deluded temperament, this one is of a speculative temperament, this one is of a faithful temperament, this one is of a wise temperament.” To the person of a lustful temperament, the Blessed One speaks a discourse on the unattractive. To the person of a hateful temperament, the Blessed One points out the development of loving-kindness. To the person of a deluded temperament, the Blessed One establishes them in learning, questioning, timely listening to the Dhamma, timely discussion of the Dhamma, and dwelling with a respected teacher. To the person of a speculative temperament, the Blessed One points out mindfulness of breathing. To the person of a faithful temperament, the Blessed One points out a confidence-inspiring sign: the perfect awakening of the Buddha, the well-taught nature of the Dhamma, the good practice of the Saṅgha, and one's own virtues. To the person of a wise temperament, the Blessed One points out the sign for insight: the aspect of impermanence, the aspect of suffering, and the aspect of non-self.
Thế nào là Thế Tôn có con mắt rộng mở cũng do Phật nhãn? Khi Thế Tôn dùng Phật nhãn quán sát thế gian, Ngài đã thấy các chúng sanh: có hạng ít bụi trong mắt, có hạng nhiều bụi trong mắt, có hạng quyền năng sắc bén, có hạng quyền năng mềm yếu, có hạng tướng mạo tốt đẹp, có hạng tướng mạo xấu xa, có hạng dễ được dạy dỗ, có hạng khó được dạy dỗ, có một số hạng sống thấy được sự nguy hiểm và lỗi lầm ở đời sau, có một số hạng sống không thấy được sự nguy hiểm và lỗi lầm ở đời sau. Ví như trong hồ sen xanh, hoặc hồ sen hồng, hoặc hồ sen trắng, có một số hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng ngập chìm bên trong; có một số hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, đứng ngang bằng mặt nước; có một số hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm lấm lem. Tương tự như thế, khi Thế Tôn dùng Phật nhãn quán sát thế gian, Ngài đã thấy các chúng sanh: có hạng ít bụi trong mắt, có hạng nhiều bụi trong mắt, có hạng quyền năng sắc bén, có hạng quyền năng mềm yếu, có hạng tướng mạo tốt đẹp, có hạng tướng mạo xấu xa, có hạng dễ được dạy dỗ, có hạng khó được dạy dỗ, có một số hạng sống thấy được sự nguy hiểm và lỗi lầm ở đời sau, có một số hạng sống không thấy được sự nguy hiểm và lỗi lầm ở đời sau. Thế Tôn biết rằng: ‘Người này có tánh tham, người này có tánh sân, người này có tánh si, người này có tánh tầm, người này có tánh tín, người này có tánh trí.’ Đối với người có tánh tham, Thế Tôn thuyết về đề tài bất tịnh; đối với người có tánh sân, Thế Tôn chỉ dạy về sự tu tập tâm từ; đối với người có tánh si, Thế Tôn đặt người ấy vào việc học thuộc lòng và hỏi han, vào việc nghe Pháp đúng thời, vào việc đàm luận Pháp đúng thời, vào việc sống gần gũi bậc thầy; đối với người có tánh tầm, Thế Tôn chỉ dạy về niệm hơi thở vô hơi thở ra; đối với người có tánh tín, Thế Tôn chỉ dạy về đối tượng đáng tịnh tín: sự giác ngộ tốt đẹp của Đức Phật, diệu pháp tốt đẹp của Chánh Pháp, sự thực hành tốt đẹp của Tăng chúng, và các giới của chính mình; đối với người có tánh trí, Thế Tôn chỉ dạy về đối tượng của minh sát: tướng vô thường, tướng khổ, tướng vô ngã.
‘‘Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, yathāpi passe janataṃ samantato;
Tathūpamaṃ dhammamayaṃ sumedha, pāsādamāruyha samantacakkhu;
Sokāvatiṇṇaṃ janatamapetasoko, avekkhassu jātijarābhibhūta’’nti.
Just as one standing on a solid-rock mountain peak might see the populace all around, so too, O one of good wisdom, having ascended the palace made of Dhamma, O all-seeing one, being free from sorrow, behold the populace sunk in sorrow, oppressed by birth and old age.
‘Ví như người đứng trên đỉnh núi đá, có thể nhìn thấy dân chúng khắp bốn phương; cũng vậy, hỡi bậc Thiện Tuệ, bậc Toàn Nhãn, sau khi đã leo lên lầu đài được làm bằng Chánh Pháp, Ngài là bậc thoát ly sầu muộn, xin hãy nhìn xuống chúng sanh đang chìm trong sầu muộn, bị sanh và già chinh phục.’
Evaṃ bhagavā buddhacakkhunāpi vivaṭacakkhu.
Thus, the Blessed One, even with the Buddha-eye, is one with an unveiled eye.
Như vậy, Thế Tôn có con mắt rộng mở cũng do Phật nhãn.
Kathaṃ bhagavā samantacakkhunāpi vivaṭacakkhu? Samantacakkhu vuccati sabbaññutañāṇaṃ. Bhagavā sabbaññutañāṇena upeto samupeto upagato samupagato upapanno samupapanno samannāgato.
How is the Blessed One, even with the all-around eye, one with an unveiled eye? The knowledge of omniscience is called the all-around eye. The Blessed One is endowed with the knowledge of omniscience, well endowed, has attained it, has well attained it, is possessed of it, is well possessed of it, and is fully endowed with it.
Thế nào là Thế Tôn có con mắt rộng mở cũng do toàn nhãn? Toàn nhãn được gọi là trí toàn giác. Thế Tôn đã được trang bị, được trang bị đầy đủ, đã đạt đến, đã đạt đến trọn vẹn, đã thành tựu, đã thành tựu viên mãn, đã cụ túc trí toàn giác.
‘‘Na tassa adiṭṭhamidhatthi kiñci, atho aviññātamajānitabbaṃ;
Sabbaṃ abhiññāsi yadatthi neyyaṃ, tathāgato tena samantacakkhū’’ti.
For him, there is nothing here in the present that is unseen, nor anything in the past that was not cognized, nor anything in the future that is not to be known. He has directly known all that is knowable; therefore, the Tathāgata is one with the all-around eye.
‘Đối với vị ấy, không có gì ở đây là chưa được thấy, cũng không có gì là chưa được biết hoặc không thể biết. Tất cả những gì cần được biết, Như Lai đã thắng tri. Do đó, Ngài là bậc Toàn Nhãn.’
Evaṃ bhagavā samantacakkhunāpi vivaṭacakkhūti – akittayi vivaṭacakkhu.
Thus, the Blessed One, even with the all-around eye, is one with an unveiled eye. This is the meaning of the phrase, 'He proclaimed the one with the unveiled eye'.
Như vậy, Thế Tôn có con mắt rộng mở cũng do toàn nhãn – Ngài đã tuyên thuyết, bậc có con mắt rộng mở.
Sakkhidhammaṃ parissayavinayanti. Sakkhidhammanti na itihitihaṃ, na itikirāya, na paramparāya, na piṭakasampadāya, na takkahetu, na nayahetu, na ākāraparivitakkena, na diṭṭhinijjhānakkhantiyā sāmaṃ sayamabhiññātaṃ attapaccakkhaṃ dhammanti – sakkhidhammaṃ. Parissayavinayanti. Parissayāti dve parissayā – pākaṭaparissayā ca paṭicchannaparissayā ca. Katame pākaṭaparissayā? Sīhā byagghā dīpī acchā taracchā kokā mahiṃsā † hatthī ahi vicchikā satapadī, corā vā assu mānavā vā katakammā vā akatakammā vā, cakkhurogo sotarogo ghānarogo jivhārogo kāyarogo sīsarogo kaṇṇarogo mukharogo dantarogo kāso sāso pināso ḍāho † jaro kucchirogo mucchā pakkhandikā sūlā visūcikā kuṭṭhaṃ gaṇḍo kilāso soso apamāro daddu kaṇḍu kacchu rakhasā vitacchikā lohitapittaṃ † madhumeho aṃsā piḷakā bhagandalā, pittasamuṭṭhānā ābādhā semhasamuṭṭhānā ābādhā vātasamuṭṭhānā ābādhā sannipātikā ābādhā utupariṇāmajā ābādhā visamaparihārajā ābādhā opakkamikā ābādhā kammavipākajā ābādhā, sītaṃ uṇhaṃ jighacchā pipāsā uccāro passāvo ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassā iti vā – ime vuccanti pākaṭaparissayā.
The directly verifiable truth removes dangers. Directly verifiable truth means not by hearsay, not by tradition, not by lineage, not by scriptural transmission, not by logical reasoning, not by inferential reasoning, not by reflective consideration, not by acceptance of a view after pondering, but what is personally known by oneself, directly experienced by oneself, a truth. Removal of Dangers. Dangers are of two kinds: obvious dangers and hidden dangers. What are the obvious dangers? Lions, tigers, leopards, bears, hyenas, jackals, buffaloes, elephants, snakes, scorpions, centipedes; or thieves, or violent people, or those who have committed an offense or those who have not; eye disease, ear disease, nose disease, tongue disease, body disease, head disease, ear disease, mouth disease, tooth disease; cough, asthma, catarrh, burning sensation, fever, stomach disease, fainting, dysentery, colic, cholera; leprosy, boils, ringworm, consumption, epilepsy; scabies, eczema, itching, scratches, chaps; bloody bile, diabetes, shoulder disease, skin eruptions, anal fistula; diseases arising from bile, diseases arising from phlegm, diseases arising from wind, diseases arising from a combination of these, diseases arising from seasonal changes, diseases arising from improper exertion, diseases arising from external attacks, diseases arising from the result of kamma; cold, heat, hunger, thirst, excrement, urine; the touch of gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping things—these are called obvious dangers.
‘Pháp được chứng ngộ, chế ngự các hiểm nguy.’ ‘Pháp được chứng ngộ’ có nghĩa là: không phải do truyền thuyết, không phải do truyền thống, không phải do kế thừa, không phải do y cứ tạng điển, không phải do lý luận suông, không phải do suy diễn, không phải do cân nhắc các lý lẽ, không phải do chấp nhận một quan điểm sau khi đã thẩm xét – mà là pháp được tự mình thắng tri, tự mình chứng thực. Đó là ‘pháp được chứng ngộ.’ ‘Chế ngự các hiểm nguy.’ ‘Hiểm nguy’ có hai loại hiểm nguy: hiểm nguy biểu hiện và hiểm nguy tiềm ẩn. Thế nào là các hiểm nguy biểu hiện? Sư tử, cọp, báo, gấu, linh cẩu, chó sói, trâu rừng, voi, rắn, bò cạp, rết; hoặc là kẻ trộm, hoặc là những kẻ hung bạo, hoặc là những kẻ đã gây án, hoặc là những kẻ chưa gây án; bệnh mắt, bệnh tai, bệnh mũi, bệnh lưỡi, bệnh thân, bệnh đầu, bệnh tai, bệnh miệng, bệnh răng, ho, suyễn, sổ mũi, sốt, nóng, bệnh bụng, ngất xỉu, kiết lỵ, đau nhói, thổ tả, bệnh cùi, ung nhọt, lao phổi, động kinh, hắc lào, ghẻ ngứa, mụn nhọt, ghẻ lở, bệnh nứt nẻ tay chân, bệnh huyết-đởm, bệnh tiểu đường, bệnh áp-xe, mụn nhọt, bệnh rò, các bệnh do mật gây ra, các bệnh do đờm gây ra, các bệnh do gió gây ra, các bệnh do sự kết hợp (của mật, đờm, gió) gây ra, các bệnh do thời tiết thay đổi gây ra, các bệnh do sinh hoạt không điều độ gây ra, các bệnh do cố gắng quá sức gây ra, các bệnh do quả của nghiệp gây ra; lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát. Những điều này được gọi là các hiểm nguy biểu hiện.
Katame paṭicchannaparissayā? Kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ byāpādanīvaraṇaṃ thinamiddhanīvaraṇaṃ uddhaccakukkuccanīvaraṇaṃ vicikicchānīvaraṇaṃ rāgo doso moho kodho upanāho makkho paḷāso issā macchariyaṃ māyā sāṭheyyaṃ thambho sārambho māno atimāno mado pamādo, sabbe kilesā sabbe duccaritā sabbe darathā sabbe pariḷāhā sabbe santāpā sabbākusalābhisaṅkhārā – ime vuccanti paṭicchannaparissayā.
What are the concealed dangers? Bodily misconduct, verbal misconduct, mental misconduct; the hindrance of sensual desire, the hindrance of ill will, the hindrance of sloth and torpor, the hindrance of restlessness and remorse, the hindrance of doubt; lust, hatred, delusion, anger, resentment, denigration, spite, deceit, fraud, obstinacy, combativeness, conceit, arrogance, vanity, heedlessness; all defilements, all misconducts, all vexations, all burning, all anguish, all unwholesome formations—these are called concealed dangers.
Thế nào là các hiểm nguy tiềm ẩn? Thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm-thụy miên, triền cái trạo cử-hối quá, triền cái hoài nghi; tham, sân, si, phẫn nộ, oán hận, gièm pha, cạnh tranh, ganh tỵ, bỏn xẻn, xảo trá, lừa lọc, ngoan cố, hiếu thắng, ngã mạn, quá mạn, say sưa, phóng dật; tất cả phiền não, tất cả ác hành, tất cả phiền muộn, tất cả nóng nảy, tất cả thiêu đốt, tất cả các hành bất thiện. Những điều này được gọi là các hiểm nguy tiềm ẩn.
Parissayāti kenaṭṭhena parissayā? Parisahantīti parissayā, parihānāya saṃvattantīti parissayā, tatrāsayāti parissayā. Kathaṃ parisahantīti parissayā? Te parissayā taṃ puggalaṃ sahanti parisahanti abhibhavanti ajjhottharanti pariyādiyanti maddanti. Evaṃ parisahantīti – parissayā.
For what reason are they called ‘dangers’ (parissayā)? They are called dangers because they oppress. They are called dangers because they conduce to decline. They are called dangers because they lie therein. How is it that they are called dangers because they oppress? Those dangers oppress that person, thoroughly oppress, overpower, engulf, exhaust, and crush them. Thus, because they oppress, they are called dangers.
Do ý nghĩa nào mà được gọi là những hiểm nguy (parissayā)? Được gọi là những hiểm nguy vì chúng áp đảo. Được gọi là những hiểm nguy vì chúng dẫn đến sự tổn giảm. Được gọi là những hiểm nguy vì chúng nằm tiềm ẩn ở bên trong. Thế nào là được gọi là những hiểm nguy vì chúng áp đảo? Những hiểm nguy ấy áp đảo, hoàn toàn áp đảo, chế ngự, bao trùm, làm cho kiệt quệ, và giày vò cá nhân ấy. Như vậy, được gọi là những hiểm nguy vì chúng áp đảo.
Kathaṃ parihānāya saṃvattantīti parissayā? Te parissayā kusalānaṃ dhammānaṃ antarāyāya parihānāya saṃvattanti. Katamesaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ? Sammāpaṭipadāya anulomapaṭipadāya apaccanīkapaṭipadāya aviruddhapaṭipadāya anvatthapaṭipadāya dhammānudhammapaṭipadāya sīlesu paripūrakāritāya indriyesu guttadvāratāya bhojane mattaññutāya jāgariyānuyogassa satisampajaññassa catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvanānuyogassa catunnaṃ sammappadhānānaṃ catunnaṃ iddhipādānaṃ pañcannaṃ indriyānaṃ pañcannaṃ balānaṃ sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa bhāvanānuyogassa – imesaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ antarāyāya parihānāya saṃvattanti. Evampi parihānāya saṃvattantīti – parissayā.
How is it that they are called dangers because they conduce to decline? Those dangers conduce to the disappearance and decline of wholesome states. Of which wholesome states? Of right practice, conforming practice, unopposing practice, unobstructed practice, practice in accordance with the meaning, practice in accordance with the Dhamma, fulfillment in moral habits, guarding the doors of the senses, moderation in eating, devotion to wakefulness, of mindfulness and clear comprehension, of devotion to the development of the four foundations of mindfulness, of the four right exertions, of the four bases of spiritual power, of the five faculties, of the five powers, of the seven factors of enlightenment, and of devotion to the development of the Noble Eightfold Path—they conduce to the disappearance and decline of these wholesome states. Thus, also, because they conduce to decline, they are called dangers.
Thế nào là được gọi là những hiểm nguy vì chúng dẫn đến sự tổn giảm? Những hiểm nguy ấy dẫn đến sự biến mất, sự tổn giảm của các pháp thiện. Của những pháp thiện nào? Của sự thực hành đúng đắn, sự thực hành thuận theo, sự thực hành không đối nghịch, sự thực hành không mâu thuẫn, sự thực hành theo đúng mục đích, sự thực hành pháp tùy pháp, của việc thực hành viên mãn các giới, của việc phòng hộ các căn, của việc tiết độ trong ăn uống, của sự chuyên tâm cảnh giác, của chánh niệm và tỉnh giác, của sự chuyên tâm tu tập bốn niệm xứ, của bốn chánh cần, của bốn thần túc, của năm căn, của năm lực, của bảy giác chi, của sự chuyên tâm tu tập Thánh đạo Tám ngành – chúng dẫn đến sự biến mất, sự tổn giảm của các pháp thiện này. Như vậy, cũng được gọi là những hiểm nguy vì chúng dẫn đến sự tổn giảm.
Kathaṃ tatrāsayāti parissayā? Tatthete pāpakā akusalā dhammā uppajjanti attabhāvasannissayā. Yathā bile bilāsayā pāṇā sayanti, dake dakāsayā pāṇā sayanti, vane vanāsayā pāṇā sayanti, rukkhe rukkhāsayā pāṇā sayanti; evameva tatthete pāpakā akusalā dhammā uppajjanti attabhāvasannissayāti. Evampi tatrāsayāti – parissayā.
How is it that they are called dangers because they lie therein? Therein, these evil, unwholesome states arise dependent on the individual existence. Just as creatures that lie in holes lie in a hole, creatures that lie in water lie in water, creatures that lie in a forest lie in a forest, and creatures that lie in trees lie in a tree; in the very same way, therein these evil, unwholesome states arise dependent on the individual existence. Thus, also, because they lie therein, they are called dangers.
Thế nào là được gọi là những hiểm nguy vì chúng nằm tiềm ẩn ở bên trong? Ở bên trong, các pháp ác, bất thiện này khởi lên, nương tựa vào tự thân. Giống như các loài chúng sanh sống trong hang thì nằm trong hang, các loài chúng sanh sống dưới nước thì nằm dưới nước, các loài chúng sanh sống trong rừng thì nằm trong rừng, các loài chúng sanh sống trên cây thì nằm trên cây; cũng vậy, ở bên trong, các pháp ác, bất thiện này khởi lên, nương tựa vào tự thân. Như vậy, cũng được gọi là những hiểm nguy vì chúng nằm tiềm ẩn ở bên trong.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘sāntevāsiko, bhikkhave, bhikkhu sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharati. Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sāntevāsiko sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharati? Idha, bhikkhave, bhikkhuno cakkhunā rūpaṃ disvā uppajjanti pāpakā akusalā dhammā sarasaṅkappā saññojaniyā, tyassa anto vasanti anvāssavanti pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sāntevāsikoti vuccati. Te naṃ samudācaranti, samudācaranti † naṃ pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sācariyakoti vuccati.
For this was said by the Blessed One: 'Monks, a monk who has inner companions, who has inner masters, dwells in suffering, not at ease. And how, monks, does a monk who has inner companions, who has inner masters, dwell in suffering, not at ease? Here, monks, when a monk sees a form with the eye, evil, unwholesome states arise—thoughts of longing connected with the fetters. These dwell within him, they flow out after him—these evil, unwholesome states. Therefore, he is called 'one with inner companions.' They assail him; evil, unwholesome states assail him. Therefore, he is called 'one with inner masters.'
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có bạn đồng trú bên trong, có vị thầy bên trong, sống khổ sở, không an ổn. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có bạn đồng trú bên trong, có vị thầy bên trong, sống khổ sở, không an ổn? Này các Tỳ khưu, ở đây, sau khi thấy sắc pháp bằng mắt, các pháp ác, bất thiện, những tư duy đi kèm với tham ái, có tính cách trói buộc khởi lên nơi vị Tỳ khưu. Các pháp ác, bất thiện ấy trú ngụ bên trong và rỉ chảy theo sau vị ấy. Do đó, vị ấy được gọi là người có bạn đồng trú bên trong. Chúng hành hạ vị ấy, các pháp ác, bất thiện ấy hành hạ vị ấy. Do đó, vị ấy được gọi là người có vị thầy bên trong.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhuno sotena saddaṃ sutvā…pe… ghānena gandhaṃ ghāyitvā… jivhāya rasaṃ sāyitvā… kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā … manasā dhammaṃ viññāya uppajjanti pāpakā akusalā dhammā sarasaṅkappā saññojaniyā, tyassa anto vasanti anvāssavanti pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sāntevāsikoti vuccati. Te naṃ samudācaranti, samudācaranti naṃ pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sācariyakoti vuccati. Evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sāntevāsiko sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharatī’’ti. Evampi tatrāsayāti – parissayā.
Furthermore, monks, when a monk hears a sound with the ear… smells an odor with the nose… tastes a flavor with the tongue… feels a tactile object with the body… cognizes a mental object with the mind, evil, unwholesome states arise—thoughts of longing connected with the fetters. These dwell within him, they flow out after him—these evil, unwholesome states. Therefore, he is called 'one with inner companions.' They assail him; evil, unwholesome states assail him. Therefore, he is called 'one with inner masters.' In this way, monks, a monk who has inner companions and inner masters dwells in suffering, not at ease. Thus also, because they lie therein, they are called dangers.
‘Lại nữa, này các Tỳ khưu, sau khi nghe âm thanh bằng tai... ngửi hương bằng mũi... nếm vị bằng lưỡi... xúc chạm đối tượng xúc bằng thân... nhận biết pháp bằng ý, các pháp ác, bất thiện, những tư duy đi kèm với tham ái, có tính cách trói buộc khởi lên nơi vị Tỳ khưu. Các pháp ác, bất thiện ấy trú ngụ bên trong và rỉ chảy theo sau vị ấy. Do đó, vị ấy được gọi là người có bạn đồng trú bên trong. Chúng hành hạ vị ấy, các pháp ác, bất thiện ấy hành hạ vị ấy. Do đó, vị ấy được gọi là người có vị thầy bên trong. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu có bạn đồng trú bên trong, có vị thầy bên trong, sống khổ sở, không an ổn.’ Như vậy, cũng được gọi là những hiểm nguy vì chúng nằm tiềm ẩn ở bên trong.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘tayome, bhikkhave, antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā. Katame tayo? Lobho, bhikkhave, antarāmalo † antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko; doso, bhikkhave…pe… moho, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Ime kho, bhikkhave, tayo antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā’’ti.
For this was said by the Blessed One: 'Monks, there are these three internal stains, internal enemies, internal adversaries, internal murderers, internal opponents. Which three? Greed, monks, is an internal stain, internal enemy, internal adversary, internal murderer, internal opponent. Hatred, monks… Delusion, monks, is an internal stain, internal enemy, internal adversary, internal murderer, internal opponent. These, monks, are the three internal stains, internal enemies, internal adversaries, internal murderers, internal opponents.'
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các Tỳ khưu, có ba thứ cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, đối thủ bên trong, kẻ sát hại bên trong, kẻ địch bên trong này. Ba thứ nào? Này các Tỳ khưu, tham là cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, đối thủ bên trong, kẻ sát hại bên trong, kẻ địch bên trong; sân... si là cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, đối thủ bên trong, kẻ sát hại bên trong, kẻ địch bên trong. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba thứ cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, đối thủ bên trong, kẻ sát hại bên trong, kẻ địch bên trong.’
‘‘Anatthajanano lobho, lobho cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
Greed generates what is not beneficial, greed agitates the mind; fear is born from within, that people do not understand.
‘Tham lam sinh ra điều bất lợi, tham lam làm tâm khuấy động; Nỗi sợ hãi sinh từ bên trong, người đời không hiểu được điều đó.
‘‘Luddho atthaṃ na jānāti, luddho dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ † tadā hoti, yaṃ lobho sahate naraṃ.
A greedy person does not know what is beneficial, a greedy person does not see the Dhamma; then there is utter darkness, when greed overwhelms a person.
‘Người tham không biết điều lợi ích, người tham không thấy được Chánh pháp; Khi ấy là bóng tối mịt mù, lúc tham lam áp đảo con người.
‘‘Anatthajanano doso, doso cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
Hatred generates what is not beneficial, hatred agitates the mind; fear is born from within, that people do not understand.
‘Sân hận sinh ra điều bất lợi, sân hận làm tâm khuấy động; Nỗi sợ hãi sinh từ bên trong, người đời không hiểu được điều đó.
‘‘Kuddho atthaṃ na jānāti, kuddho dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ tadā hoti, yaṃ doso sahate naraṃ.
An angry person does not know what is beneficial, an angry person does not see the Dhamma; then there is utter darkness, when hatred overwhelms a person.
‘Người sân không biết điều lợi ích, người sân không thấy được Chánh pháp; Khi ấy là bóng tối mịt mù, lúc sân hận áp đảo con người.
‘‘Anatthajanano moho, moho cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
Delusion generates what is not beneficial, delusion agitates the mind; fear is born from within, that people do not understand.
‘Si mê sinh ra điều bất lợi, si mê làm tâm khuấy động; Nỗi sợ hãi sinh từ bên trong, người đời không hiểu được điều đó.
‘‘Mūḷho atthaṃ na jānāti, mūḷho dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ tadā hoti, yaṃ moho sahate nara’’nti.
A deluded person does not know what is beneficial, a deluded person does not see the Dhamma; then there is utter darkness, when delusion overwhelms a person.
‘Người si không biết điều lợi ích, người si không thấy được Chánh pháp; Khi ấy là bóng tối mịt mù, lúc si mê áp đảo con người.’
Evampi tatrāsayāti – parissayā.
Thus also, they lie therein; therefore, they are called dangers.
Như vậy, cũng được gọi là những hiểm nguy vì chúng nằm tiềm ẩn ở bên trong.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘tayo kho, mahārāja, purisassa dhammā ajjhattaṃ uppajjamānā uppajjanti ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya. Katame tayo? Lobho kho, mahārāja, purisassa dhammo ajjhattaṃ uppajjamāno uppajjati ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya; doso kho, mahārāja…pe… moho kho, mahārāja, purisassa dhammo ajjhattaṃ uppajjamāno uppajjati ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya. Ime kho, mahārāja, tayo purisassa dhammā ajjhattaṃ uppajjamānā uppajjanti ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya.
For this was said by the Blessed One: ‘Great King, three things, when arising internally in a person, arise for what is not beneficial, for suffering, for uncomfortable living. What three? Greed, Great King, is a thing that, when arising internally in a person, arises for what is not beneficial, for suffering, for uncomfortable living; hatred, Great King… delusion, Great King, is a thing that, when arising internally in a person, arises for what is not beneficial, for suffering, for uncomfortable living. These, Great King, are the three things that, when arising internally in a person, arise for what is not beneficial, for suffering, for uncomfortable living.’
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Tâu Đại vương, có ba pháp này của một người, khi khởi lên ở bên trong, chúng khởi lên vì không lợi ích, vì đau khổ, vì không an ổn. Ba pháp nào? Tâu Đại vương, pháp tham của một người, khi khởi lên ở bên trong, nó khởi lên vì không lợi ích, vì đau khổ, vì không an ổn; tâu Đại vương... pháp sân... tâu Đại vương, pháp si của một người, khi khởi lên ở bên trong, nó khởi lên vì không lợi ích, vì đau khổ, vì không an ổn. Tâu Đại vương, ba pháp này của một người, khi khởi lên ở bên trong, chúng khởi lên vì không lợi ích, vì đau khổ, vì không an ổn.
‘‘Lobho doso ca moho ca, purisaṃ pāpacetasaṃ;
Hiṃsanti attasambhūtā, tacasāraṃva samphala’’nti.
Greed, hatred, and delusion, born from oneself, harm a person of evil mind, just as its own fruit destroys the bamboo.
‘Tham, sân và si, làm hại người có tâm ác độc; Chúng tự thân sinh khởi, như trái hại chính cây tre.’
Evampi tatrāsayāti – parissayā.
Thus also, they lie therein; therefore, they are called dangers.
Như vậy, cũng được gọi là những hiểm nguy vì chúng nằm tiềm ẩn ở bên trong.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến –
‘‘Rāgo ca doso ca ito nidānā, aratī ratī lomahaṃso itojā;
Ito samuṭṭhāya manovitakkā, kumārakā dhaṅkamivossajantī’’ti.
‘Lust and hatred have their source in this; discontent, delight, and horripilation are born from this. Arising from this, thoughts of the mind are let loose, just as boys let loose a crow.’
“Tham ái và sân hận có nguyên nhân từ đây, không hoan hỷ, hoan hỷ, sự dựng lông tóc được sanh từ đây; các tầm về ý khởi sanh từ đây, chúng xua đuổi (tâm) giống như các đứa trẻ xua đuổi con quạ.”
Evampi tatrāsayāti – parissayā.
Thus also, they lie therein; therefore, they are called perils.
Cũng như vậy, chúng nằm ngấm ngầm ở nơi ấy – (vì vậy được gọi là) các hiểm nguy.
Parissayavinayanti parissayavinayaṃ parissayappahānaṃ parissayavūpasamaṃ parissayapaṭinissaggaṃ parissayapaṭipassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – sakkhidhammaṃ parissayavinayaṃ.
‘The removal of perils’ means the removal of perils, the abandoning of perils, the calming of perils, the relinquishing of perils, the tranquilizing of perils, the deathless, Nibbāna—this is the removal of perils as a directly verifiable phenomenon.
Về (câu) ‘sự điều phục các hiểm nguy’: (có nghĩa là) sự điều phục các hiểm nguy, sự từ bỏ các hiểm nguy, sự làm cho lắng dịu các hiểm nguy, sự xả ly các hiểm nguy, sự làm cho an tịnh các hiểm nguy, trạng thái bất tử, chính là Níp-bàn – (đây là ý nghĩa của) ‘pháp cần được chứng ngộ, sự điều phục các hiểm nguy’.
Paṭipadaṃ vadehi bhaddanteti. Paṭipadaṃ vadehi – sammāpaṭipadaṃ anulomapaṭipadaṃ apaccanīkapaṭipadaṃ aviruddhapaṭipadaṃ anvatthapaṭipadaṃ dhammānudhammapaṭipadaṃ sīlesu paripūrakāritaṃ indriyesu guttadvārataṃ bhojane mattaññutaṃ jāgariyānuyogaṃ satisampajaññaṃ cattāro satipaṭṭhāne cattāro sammappadhāne cattāro iddhipāde pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅge ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ nibbānañca nibbānagāminiñca paṭipadaṃ vadehi ācikkha desehi paññapehi paṭṭhapehi vivara vibhaja uttānīkarohi pakāsehīti – paṭipadaṃ vadehi. Bhaddanteti so nimmito buddhaṃ bhagavantaṃ ālapati. Atha vā yaṃ tvaṃ dhammaṃ ācikkhasi desesi paññapesi paṭṭhapesi vivari vibhaji uttānīakāsi pakāsesi sabbaṃ taṃ sundaraṃ bhaddakaṃ kalyāṇaṃ anavajjaṃ sevitabbanti – paṭipadaṃ vadehi bhaddante.
Speak of the path, Venerable Sir. 'Speak of the path' means: speak of the right path, the conforming path, the unopposed path, the non-conflicting path, the meaningful path, the practice in accordance with the Dhamma; the fulfillment of virtues, the guarding of the doors of the sense faculties, knowing the measure in food, the application to wakefulness, mindfulness and clear comprehension, the four foundations of mindfulness, the four right exertions, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the Noble Eightfold Path, and Nibbāna, and the path leading to Nibbāna. Speak, tell, teach, make known, establish, disclose, analyze, make plain, reveal. This is the meaning of 'Speak of the path'. 'Venerable Sir': thus the created Buddha addresses the Buddha, the Blessed One. Or alternatively: whatever Dhamma you tell, teach, make known, establish, disclose, analyze, make plain, and reveal—all of that is beautiful, good, wholesome, faultless, and should be cultivated. This is the meaning of 'Speak of the path, Venerable Sir'.
Về (câu) ‘Bạch ngài, xin hãy nói về con đường thực hành.’ ‘Xin hãy nói về con đường thực hành’ (có nghĩa là): xin hãy nói về con đường thực hành chân chánh, con đường thực hành thuận theo, con đường thực hành không đối nghịch, con đường thực hành không mâu thuẫn, con đường thực hành phù hợp với mục đích, con đường thực hành thuận theo pháp và tùy pháp, sự thực hành viên mãn các giới, sự phòng hộ các căn môn, sự biết tiết độ trong vật thực, sự chuyên tâm cảnh giác, chánh niệm và tỉnh giác, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành, và Níp-bàn, và con đường thực hành đưa đến Níp-bàn. Xin hãy nói, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy chế định, hãy thiết lập, hãy khai mở, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy hiển thị – (đây là ý nghĩa của) ‘xin hãy nói về con đường thực hành.’ Về (từ) ‘bạch ngài’: vị Hóa nhân ấy gọi Đức Phật, Đức Thế Tôn. Hoặc nữa, pháp nào mà ngài chỉ dạy, thuyết giảng, chế định, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho rõ ràng, hiển thị, tất cả những điều ấy đều tốt đẹp, hiền thiện, mỹ hảo, không có tội lỗi, đáng được thực hành – (đây là ý nghĩa của) ‘bạch ngài, xin hãy nói về con đường thực hành.’
Pātimokkhaṃ atha vāpi samādhinti. Pātimokkhanti sīlaṃ patiṭṭhā ādi caraṇaṃ saṃyamo saṃvaro mukhaṃ pamukhaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ samāpattiyā. Atha vāpi samādhinti yā cittassa ṭhiti saṇṭhiti avaṭṭhiti avisāhāro avikkhepo avisāhatamānasatā samatho samādhindriyaṃ samādhibalaṃ sammāsamādhīti – pātimokkhaṃ atha vāpi samādhiṃ.
The Pātimokkha, or also concentration. As for 'Pātimokkha': it is virtue, the foundation, the beginning, the basis, restraint, control, the entrance, and the foremost for the attainment of wholesome states. Or alternatively, as for 'concentration': it is whatever stability of mind, firm standing, remaining, non-dissipation, non-distraction, the state of an unagitated mind, tranquility, the faculty of concentration, the power of concentration, and right concentration. This is the meaning of 'the Pātimokkha, or also concentration'.
Về (câu) ‘Giới Bổn hoặc là định.’ Về (từ) ‘Giới Bổn’: (có nghĩa là) giới hạnh, là nền tảng, là khởi đầu, là nơi nương tựa, là sự chế ngự, là sự thu thúc, là cửa ngõ, là hàng đầu cho sự chứng đắc các thiện pháp. Hoặc nữa, về (từ) ‘định’: (có nghĩa là) sự đứng vững, sự an trú, sự trụ vững của tâm, sự không phân tán, sự không phóng dật, trạng thái tâm không bị dao động, sự vắng lặng, định căn, định lực, chánh định – (đây là ý nghĩa của) ‘Giới Bổn hoặc là định.’
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created Buddha said:
Do đó, vị Hóa nhân ấy đã nói rằng –
‘‘Akittayī vivaṭacakkhu, sakkhidhammaṃ parissayavinayaṃ;
Paṭipadaṃ vadehi bhaddante, pātimokkhaṃ atha vāpi samādhi’’nti.
‘You, the one with the open eye, have proclaimed the directly verifiable Dhamma, the removal of perils. Speak of the path, Venerable Sir, the Pātimokkha, or also concentration.’
“Bậc có mắt tuệ rộng mở đã tán dương pháp cần được chứng ngộ, sự điều phục các hiểm nguy; bạch ngài, xin hãy nói về con đường thực hành, về Giới Bổn hoặc là định.”
157.
157.
157.
Cakkhūhi neva lolassa, gāmakathāya āvaraye sotaṃ;
Rase ca nānugijjheyya, na ca mamāyetha kiñci lokasmiṃ.
One should not be restless with the eyes; one should obstruct the ear from village talk. And one should not be greedy for flavors, nor should one regard anything in the world as 'mine'.
Không nên dao động với các con mắt, nên che tai lại khỏi những câu chuyện làng xóm; và không nên tham đắm các vị, và không nên chấp thủ bất cứ điều gì trong thế gian.
Cakkhūhi neva lolassāti. Kathaṃ cakkhuloloti? Idhekacco cakkhuloliyena samannāgato hoti – ‘‘adiṭṭhaṃ dakkhitabbaṃ, diṭṭhaṃ samatikkamitabba’’nti ārāmena ārāmaṃ uyyānena uyyānaṃ gāmena gāmaṃ nigamena nigamaṃ nagarena nagaraṃ raṭṭhena raṭṭhaṃ janapadena janapadaṃ dīghacārikaṃ anavaṭṭhitacārikaṃ † anuyutto ca hoti rūpassa dassanāya. Evampi cakkhulolo hoti.
How is one fickle with the eyes? Here, a certain person is endowed with fickleness of the eye—thinking, 'What has not been seen should be seen, and what has been seen should be surpassed.' He is devoted to long wandering, to unsettled wandering, from park to park, from garden to garden, from village to village, from market town to market town, from city to city, from country to country, from district to district, for the sake of seeing forms. In this way, one is fickle with the eyes.
Về (câu) ‘Không nên dao động với các con mắt.’ Thế nào là dao động con mắt? Ở đây, có người có tánh dao động con mắt – (nghĩ rằng) ‘cái chưa thấy thì phải xem, cái đã thấy thì phải vượt qua,’ người ấy đi từ khu vườn này đến khu vườn khác, từ công viên này đến công viên khác, từ làng này đến làng khác, từ thị trấn này đến thị trấn khác, từ thành phố này đến thành phố khác, từ xứ này đến xứ khác, từ vùng này đến vùng khác, đi lang thang xa, đi lang thang không ổn định, và chuyên tâm vào việc xem các sắc. Như vậy cũng là dao động con mắt.
Atha vā bhikkhu antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno asaṃvuto gacchati hatthiṃ olokento, assaṃ olokento, rathaṃ olokento, pattiṃ olokento, itthiyo olokento, purise olokento, kumārake olokento, kumārikāyo olokento, antarāpaṇaṃ olokento, gharamukhāni olokento, uddhaṃ olokento, adho olokento, disāvidisaṃ vipekkhamāno gacchati. Evampi cakkhulolo hoti.
Or else, a monk, having entered the inner village and proceeding along the street, goes unrestrained, looking at an elephant, looking at a horse, looking at a chariot, looking at a foot soldier, looking at women, looking at men, looking at boys, looking at girls, looking at a shop, looking at the fronts of houses, looking up, looking down, gazing around in all directions as he goes. In this way, too, one is fickle with the eyes.
Hoặc nữa, vị tỳ khưu đi vào trong làng, đi đến con đường, đi không có sự thu thúc, nhìn ngắm voi, nhìn ngắm ngựa, nhìn ngắm xe, nhìn ngắm bộ binh, nhìn ngắm phụ nữ, nhìn ngắm đàn ông, nhìn ngắm các bé trai, nhìn ngắm các bé gái, nhìn ngắm khu chợ, nhìn ngắm cửa nhà, nhìn lên, nhìn xuống, nhìn ngó các phương và các hướng phụ mà đi. Như vậy cũng là dao động con mắt.
Atha vā bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā nimittaggāhī hoti anubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya na paṭipajjati, na rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye na saṃvaraṃ āpajjati. Evampi cakkhulolo hoti.
Or else, a monk, having seen a form with the eye, is one who grasps at its signs, one who grasps at its secondary characteristics. Because of which, while he dwells with his eye-faculty unrestrained, evil, unwholesome states of covetousness and displeasure would flow in. He does not practice for its restraint, he does not guard the eye-faculty, he does not achieve restraint in the eye-faculty. In this way, too, one is fickle with the eyes.
Hoặc nữa, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng con mắt, trở thành người nắm giữ tướng chung, người nắm giữ tướng riêng. Do vì nguyên nhân ấy, khi vị ấy sống không thu thúc nhãn căn, các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền xâm nhập vào vị tỳ khưu ấy. Vị ấy không thực hành để thu thúc nhãn căn ấy, không phòng hộ nhãn căn, không đạt đến sự thu thúc trong nhãn căn. Như vậy cũng là dao động con mắt.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ visūkadassanaṃ anuyuttā viharanti, seyyathidaṃ – naccaṃ gītaṃ vāditaṃ pekkhaṃ akkhānaṃ pāṇissaraṃ vetāḷaṃ kumbhathūṇaṃ † sobhanakaṃ † caṇḍālaṃ vaṃsaṃ dhovanaṃ hatthiyuddhaṃ assayuddhaṃ mahiṃsayuddhaṃ † usabhayuddhaṃ ajayuddhaṃ meṇḍayuddhaṃ kukkuṭayuddhaṃ vaṭṭakayuddhaṃ daṇḍayuddhaṃ muṭṭhiyuddhaṃ nibbuddhaṃ uyyodhikaṃ balaggaṃ senābyūhaṃ anīkadassanaṃ iti vā. Evampi cakkhulolo hoti.
Or else, just as some venerable ascetics and brahmins, having eaten food given in faith, dwell engaged in watching such improper shows, that is to say: dancing, singing, instrumental music, theatrical shows, recitations, hand-music, bardic songs, pot-drumming, beautification shows, low-class entertainments, bamboo-flute playing, bone-washing; elephant fights, horse fights, buffalo fights, bull fights, goat fights, ram fights, cock fights, quail fights; staff-fighting, boxing, wrestling, mock-fights, troop-inspections, battle-arrays, and military parades. In this way, too, one is fickle with the eyes.
Hoặc nữa, giống như một số tôn giả sa-môn và bà-la-môn, sau khi dùng các vật thực được cúng dường bằng đức tin, họ sống chuyên tâm vào việc xem các buổi trình diễn không thích hợp như thế này, cụ thể là – múa, hát, nhạc, kịch, kể chuyện, vỗ tay, múa rối, nhào lộn, trình diễn nghệ thuật, trò chơi của người tiện dân, trò chơi thổi sáo tre, trò rửa xương, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, duyệt binh, dàn trận, duyệt quân, xem các đạo quân, hoặc là như vậy. Như vậy cũng là dao động con mắt.
Kathaṃ na cakkhulolo hoti? Idha bhikkhu antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno saṃvuto gacchati na hatthiṃ olokento, na assaṃ olokento, na rathaṃ olokento, na pattiṃ olokento, na itthiyo olokento, na purise olokento, na kumārake olokento, na kumārikāyo olokento, na antarāpaṇaṃ olokento, na gharamukhāni olokento, na uddhaṃ olokento, na adho olokento, na disāvidisāvipekkhamāno gacchati. Evampi na cakkhulolo hoti.
How is one not of fickle eye? Here, a bhikkhu, having entered a village and come upon a street, proceeds restrained, not looking at an elephant, not looking at a horse, not looking at a chariot, not looking at a foot soldier, not looking at women, not looking at men, not looking at boys, not looking at girls, not looking at a shop, not looking at the fronts of houses, not looking up, not looking down, and not gazing around in all directions as he goes. In this way, too, one is not of fickle eye.
Thế nào là không dao động con mắt? Ở đây, vị tỳ khưu đi vào trong làng, đi đến con đường, đi có sự thu thúc, không nhìn ngắm voi, không nhìn ngắm ngựa, không nhìn ngắm xe, không nhìn ngắm bộ binh, không nhìn ngắm phụ nữ, không nhìn ngắm đàn ông, không nhìn ngắm các bé trai, không nhìn ngắm các bé gái, không nhìn ngắm khu chợ, không nhìn ngắm cửa nhà, không nhìn lên, không nhìn xuống, không nhìn ngó các phương và các hướng phụ mà đi. Như vậy cũng là không dao động con mắt.
Atha vā bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati. Evampi na cakkhulolo hoti.
Or again, a bhikkhu, having seen a form with the eye, is not one who grasps at its signs or its features. On account of which, were he to dwell with the eye-faculty unrestrained, evil, unwholesome states of covetousness and displeasure might flow in upon him, he practices for its restraint, he guards the eye-faculty, he undertakes restraint of the eye-faculty. In this way, too, one is not of fickle eye.
Hoặc nữa, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng con mắt, không trở thành người nắm giữ tướng chung, không phải là người nắm giữ tướng riêng. Do vì nguyên nhân ấy mà khi vị ấy sống không thu thúc nhãn căn, các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ không xâm nhập vào vị tỳ khưu ấy. Vị ấy thực hành để thu thúc nhãn căn ấy, phòng hộ nhãn căn, đạt đến sự thu thúc trong nhãn căn. Như vậy cũng là không dao động con mắt.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ visūkadassanaṃ ananuyuttā viharanti, seyyathidaṃ – naccaṃ gītaṃ vāditaṃ pekkhaṃ akkhānaṃ…pe… anīkadassanaṃ iti vā. Evarūpā visūkadassanā paṭivirato hoti. Evampi na cakkhulolo hoti.
Or again, whereas some venerable ascetics and brahmins, having eaten food given in faith, dwell devoted to such improper shows as these—namely, dancing, singing, instrumental music, theatrical performances, recitations... watching arrays of troops—he abstains from such improper shows. In this way, too, he is not of fickle eye.
Hoặc nữa, ví như có một số sa-môn, bà-la-môn, sau khi dùng các vật thực được dâng cúng do đức tin, họ sống chuyên tâm vào việc xem các cảnh tượng không thích hợp như thế này, nghĩa là: múa, hát, nhạc, kịch, kể chuyện... xem duyệt binh. (Vị tỳ khưu thì) là người từ bỏ việc xem các cảnh tượng không thích hợp như vậy. Như thế cũng không phải là người có mắt lăng xăng.
Cakkhūhi neva lolassāti. Cakkhuloliyaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, cakkhuloliyā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – cakkhūhi neva lolassa.
‘One should not be of fickle eye.’ One should abandon fickleness of the eye, dispel it, make an end of it, bring it to non-existence. One should be aloof from fickleness of the eye, abstinent, fully abstinent, departed, detached, released, and disjoined from it. One should dwell with a mind without boundaries. This is the meaning of ‘One should not be of fickle eye.’
Về câu ‘không nên lăng xăng với đôi mắt’: Nên từ bỏ, nên trừ diệt, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn tồn tại sự lăng xăng của mắt; nên là người xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, rũ bỏ, hoàn toàn giải thoát, không còn bị ràng buộc khỏi sự lăng xăng của mắt; nên sống với tâm không có giới hạn. Đây là ý nghĩa của câu ‘không nên lăng xăng với đôi mắt’.
Gāmakathāya āvaraye sotanti. Gāmakathā vuccati bāttiṃsa tiracchānakathā, seyyathidaṃ – rājakathā corakathā mahāmattakathā senākathā bhayakathā yuddhakathā annakathā pānakathā vatthakathā yānakathā sayanakathā mālākathā gandhakathā ñātikathā gāmakathā nigamakathā nagarakathā janapadakathā itthikathā † sūrakathā visikhākathā kumbhaṭṭhānakathā pubbapetakathā nānattakathā lokakkhāyikā samuddakkhāyikā itibhavābhavakathā iti vā. Gāmakathāya āvaraye sotanti. Gāmakathāya sotaṃ āvareyya nivāreyya saṃvareyya rakkheyya gopeyya pidaheyya pacchindeyyāti – gāmakathāya āvaraye sotaṃ.
‘One should obstruct the ear from village talk.’ Village talk is said to be the thirty-two kinds of base talk, that is to say: talk about kings, talk about thieves, talk about great ministers, talk about armies, talk about dangers, talk about battles, talk about food, talk about drink, talk about clothes, talk about vehicles, talk about beds, talk about garlands, talk about perfumes, talk about relatives, talk about villages, talk about market towns, talk about cities, talk about districts, talk about women, talk about heroes, talk about street-crossings, talk at the watering place, talk about the departed, miscellaneous talk, speculation about the world, speculation about the ocean, and talk about eternalism and annihilationism. ‘One should obstruct the ear from village talk.’ One should obstruct, prevent, restrain, guard, protect, close, and cut off the ear from village talk—thus, ‘one should obstruct the ear from village talk.’
Về câu ‘nên che tai đối với chuyện thế gian’: Chuyện thế gian được gọi là ba mươi hai loại chuyện vô ích, nghĩa là: chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện sợ hãi, chuyện chiến tranh, chuyện ăn, chuyện uống, chuyện y phục, chuyện xe cộ, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện bà con, chuyện làng xóm, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện xứ sở, chuyện phụ nữ, chuyện anh hùng, chuyện ngã ba đường, chuyện bên vại nước, chuyện người đã khuất, chuyện tạp nhạp, chuyện thế gian, chuyện biển cả, chuyện về sự tồn tại và không tồn tại. Về câu ‘nên che tai đối với chuyện thế gian’: Nên che đậy, ngăn ngừa, thu thúc, giữ gìn, bảo vệ, đóng lại, cắt đứt lỗ tai khỏi chuyện thế gian. Đây là ý nghĩa của câu ‘nên che tai đối với chuyện thế gian’.
Rase ca nānugijjheyyāti. Rase cāti mūlaraso khandharaso tacaraso pattaraso puppharaso phalaraso ambilaṃ madhuraṃ tittakaṃ kaṭukaṃ loṇikaṃ khārikaṃ lambikaṃ kasāvo sādu asādu sītaṃ uṇhaṃ. Santeke samaṇabrāhmaṇā rasagiddhā; te jivhaggena rasaggāni pariyesantā āhiṇḍanti, te ambilaṃ labhitvā anambilaṃ pariyesanti, anambilaṃ labhitvā ambilaṃ pariyesanti…pe… sītaṃ labhitvā uṇhaṃ pariyesanti, uṇhaṃ labhitvā sītaṃ pariyesanti. Te yaṃ yaṃ labhitvā tena tena na tussanti, aparāparaṃ pariyesanti, manāpikesu rasesu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā laggā laggitā palibuddhā. Yassesā rasataṇhā pahīnā samucchinnā…pe… ñāṇagginā daḍḍhā, so paṭisaṅkhā yoniso āhāraṃ āhāreti neva davāya…pe… anavajjatā ca phāsuvihāro cāti.
‘And one should not be greedy for tastes.’ ‘Tastes’ refers to: root tastes, trunk tastes, bark tastes, leaf tastes, flower tastes, fruit tastes; and sour, sweet, bitter, pungent, salty, alkaline, acidic, astringent; agreeable, disagreeable; cold, or hot. There are some ascetics and brahmins who are greedy for tastes; they wander about seeking choice tastes with the tip of the tongue. Having obtained sour, they seek what is not sour; having obtained what is not sour, they seek sour... Having obtained cold, they seek hot; having obtained hot, they seek cold. Whatever they obtain, they are not satisfied with it, and they seek for more and more. In agreeable tastes, they are impassioned, greedy, bound, infatuated, deeply attached, stuck, clinging fast, and enmeshed. But for one whose craving for tastes has been abandoned, utterly eradicated... burned by the fire of knowledge, such a one reflects wisely and consumes food not for amusement... but for blamelessness and a comfortable abiding.
Về câu ‘và không nên tham đắm các vị’: Vị ở đây là vị của rễ, vị của thân, vị của vỏ, vị của lá, vị của hoa, vị của quả; vị chua, ngọt, đắng, cay, mặn, kiềm, lạt, chát; ngon, không ngon; lạnh, nóng. Có một số sa-môn, bà-la-môn tham đắm các vị; họ đi lang thang tìm kiếm những vị ngon tột bậc bằng đầu lưỡi. Khi được vị chua, họ tìm vị không chua; khi được vị không chua, họ tìm vị chua... khi được vị lạnh, họ tìm vị nóng; khi được vị nóng, họ tìm vị lạnh. Họ nhận được thứ gì cũng không hài lòng với thứ đó, lại tìm kiếm cái khác nữa; họ tham ái, say đắm, trói buộc, mê muội, chìm đắm, dính mắc, bám víu, vướng kẹt vào những vị khả ý. Vị nào đã đoạn tận, cắt đứt... được đốt cháy bằng ngọn lửa trí tuệ ái dục về vị này, vị ấy sau khi quán xét một cách như lý, thọ dụng vật thực không phải để vui đùa... và để không bị chê trách và được sống an ổn.
Yathā vaṇaṃ ālimpeyya yāvadeva āruhaṇatthāya †, yathā vā pana akkhaṃ abbhañjeyya yāvadeva bhārassa nittharaṇatthāya, yathā vā puttamaṃsaṃ āhāraṃ āhāreyya yāvadeva kantārassa nittharaṇatthāya; evamevaṃ bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso āhāraṃ āhāreti neva davāya…pe… anavajjatā ca phāsuvihāro cāti rasataṇhaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, rasataṇhāya ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – rase ca nānugijjheyya.
Just as one might apply ointment to a wound only for the purpose of its healing, or as one might grease an axle only for the purpose of transporting a load, or as one might eat the flesh of one's child only for the purpose of crossing a wilderness; in the same way, a bhikkhu, reflecting wisely, partakes of food, not for amusement… for blamelessness and for comfortable abiding. He should abandon craving for tastes, dispel it, make an end of it, bring it to non-existence. He should be aloof from craving for tastes, abstaining, fully abstaining, having gone forth from it, detached, released, disjoined from it. He should dwell with a mind without boundaries. This is the meaning of the phrase 'and should not be greedy for tastes.'
Ví như người ta thoa thuốc lên vết thương chỉ để cho nó lành, hoặc ví như người ta tra dầu vào trục xe chỉ để mang được hàng hóa, hoặc ví như người ta ăn thịt con chỉ để vượt qua sa mạc; cũng vậy, vị tỳ khưu sau khi quán xét một cách như lý, thọ dụng vật thực không phải để vui đùa... và để không bị chê trách và được sống an ổn. Nên từ bỏ, nên trừ diệt, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn tồn tại ái dục về vị; nên là người xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, rũ bỏ, hoàn toàn giải thoát, không còn bị ràng buộc khỏi ái dục về vị; nên sống với tâm không có giới hạn. Đây là ý nghĩa của câu ‘và không nên tham đắm các vị’.
Na ca mamāyetha kiñci lokasminti. Mamattāti dve mamattā – taṇhāmamattañca diṭṭhimamattañca …pe… idaṃ taṇhāmamattaṃ…pe… idaṃ diṭṭhimamattaṃ. Taṇhāmamattaṃ pahāya diṭṭhimamattaṃ paṭinissajjitvā cakkhuṃ na mamāyeyya na gaṇheyya na parāmaseyya nābhiniviseyya; sotaṃ… ghānaṃ… jivhaṃ… kāyaṃ… rūpe… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ… lābhaṃ… yasaṃ… pasaṃsaṃ… sukhaṃ… cīvaraṃ… piṇḍapātaṃ… senāsanaṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ… kāmadhātuṃ… rūpadhātuṃ… arūpadhātuṃ… kāmabhavaṃ… rūpabhavaṃ… arūpabhavaṃ… saññābhavaṃ… asaññābhavaṃ… nevasaññānāsaññābhavaṃ … ekavokārabhavaṃ… catuvokārabhavaṃ… pañcavokārabhavaṃ … atītaṃ… anāgataṃ… paccuppannaṃ… diṭṭhasutamutaviññātabbe dhamme na mamāyeyya na gaṇheyya na parāmaseyya nābhiniviseyya. Kiñcīti kiñci rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ. Lokasminti apāyaloke…pe… āyatanaloketi – na ca mamāyetha kiñci lokasmiṃ.
‘And one should not make anything in the world one's own.’ ‘Mine-making’ refers to two kinds of mine-making: mine-making by craving and mine-making by views... This is mine-making by craving... This is mine-making by views. Having abandoned mine-making by craving and having relinquished mine-making by views, one should not make the eye one's own, nor grasp it, nor be attached to it, nor be intent upon it. Nor the ear... nor the nose... nor the tongue... nor the body... nor forms... nor sounds... nor smells... nor tastes... nor tangibles... nor family... nor a group... nor a dwelling... nor gain... nor fame... nor praise... nor pleasure... nor the robe... nor almsfood... nor lodging... nor medicinal requisites for the sick... nor the sensual realm... nor the form realm... nor the formless realm... nor sensual existence... nor form existence... nor formless existence... nor existence with perception... nor existence without perception... nor existence with neither-perception-nor-non-perception... nor one-constituent existence... nor four-constituent existence... nor five-constituent existence... nor the past... nor the future... nor the present... nor should one make one's own the things that are seen, heard, sensed, or cognized, nor grasp them, nor be attached to them, nor be intent upon them. ‘Anything’ refers to anything pertaining to form, pertaining to feeling, pertaining to perception, pertaining to formations, or pertaining to consciousness. ‘In the world’ means in the world of misery... in the world of the sense bases. This is the meaning of ‘and one should not make anything in the world one's own.’
Về câu ‘và không nên yêu quý bất cứ điều gì trong thế gian’: Sự yêu quý có hai loại: sự yêu quý do ái dục và sự yêu quý do tà kiến... đây là sự yêu quý do ái dục... đây là sự yêu quý do tà kiến. Sau khi từ bỏ sự yêu quý do ái dục, sau khi xả ly sự yêu quý do tà kiến, không nên yêu quý, không nên nắm giữ, không nên chấp thủ, không nên quyết chắc vào con mắt; lỗ tai... các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức. ‘Bất cứ điều gì’ là bất cứ điều gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về các hành, thuộc về thức. ‘Trong thế gian’ là trong thế giới khổ... trong thế giới của các xứ. Đây là ý nghĩa của câu ‘và không nên yêu quý bất cứ điều gì trong thế gian’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Cakkhūhi neva lolassa, gāmakathāya āvaraye sotaṃ;
Rase ca nānugijjheyya, na ca mamāyetha kiñci lokasmi’’nti.
“He should not be fickle with the eyes; he should cover the ear from village talk. And he should not be greedy for tastes, nor should he make anything in the world his own.”
‘Không nên lăng xăng với đôi mắt, nên che tai đối với chuyện thế gian; và không nên tham đắm các vị, và không nên yêu quý bất cứ điều gì trong thế gian’.
158.
158.
158.
Phassena yadā phuṭṭhassa, paridevaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñci;
Bhavañca nābhijappeyya, bheravesu ca na sampavedheyya.
When afflicted by contact, a bhikkhu should not lament anywhere. And he should not crave for existence, nor should he tremble amidst dangers.
Khi bị xúc chạm, vị tỳ khưu không nên than vãn ở bất cứ đâu; không nên mong cầu sự hiện hữu, và không nên run sợ trước những điều kinh hãi.
Phassena yadā phuṭṭhassāti. Phassoti rogaphasso. Rogaphassena phuṭṭho pareto samohito samannāgato assa; cakkhurogena phuṭṭho pareto samohito samannāgato assa, sotarogena…pe… ghānarogena… jivhārogena… kāyarogena… sīsarogena… kaṇṇarogena… mukharogena… dantarogena… kāsena… sāsena… pināsena… ḍāhena… jarena… kucchirogena… mucchāya… pakkhandikāya… sūlāya… visūcikāya… kuṭṭhena… gaṇḍena… kilāsena… sosena… apamārena… dadduyā… kaṇḍuyā … kacchuyā… rakhasāya… vitacchikāya… lohitena… pittena… madhumehena… aṃsāya… piḷakāya… bhagandalena… pittasamuṭṭhānena ābādhena… semhasamuṭṭhānena ābādhena… vātasamuṭṭhānena ābādhena… sannipātikena ābādhena… utupariṇāmajena ābādhena… visamaparihārajena ābādhena… opakkamikena ābādhena… kammavipākajena ābādhena… sītena… uṇhena… jighacchāya… pipāsāya… uccārena… passāvena… ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassehi phuṭṭho pareto samohito samannāgato assāti – phassena yadā phuṭṭhassa.
‘When afflicted by contact.’ ‘Contact’ means the contact of disease. He might be afflicted, overcome, assailed, and possessed by the contact of disease; afflicted, overcome, assailed, and possessed by eye disease, by ear disease... by nose disease... by tongue disease... by body disease... by head disease... by ear-lobe disease... by mouth disease... by tooth disease... by coughing... by asthma... by a cold... by burning... by fever... by stomach disease... by fainting... by dysentery... by sharp pain... by cholera... by leprosy... by boils... by eczema... by consumption... by epilepsy... by ringworm... by itching... by scabies... by pustules... by fissures... by hemorrhagic bile disease... by diabetes... by carbuncles... by abscesses... by fistula... by an illness arising from bile... by an illness arising from phlegm... by an illness arising from wind... by an illness arising from a combination of humors... by an illness arising from a change of season... by an illness arising from improper care... by an illness arising from external attack... by an illness arising from the result of kamma... by cold... by heat... by hunger... by thirst... by excrement... by urine... he might be afflicted, overcome, assailed, and possessed by contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping things—this is the meaning of the phrase ‘when afflicted by contact.’
Phassena yadā phuṭṭhassāti (Khi bị xúc chạm bởi sự xúc chạm). Phassoti rogaphasso (Sự xúc chạm ở đây là sự xúc chạm của bệnh tật). Vị ấy có thể bị xúc chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đi kèm bởi sự xúc chạm của bệnh tật; vị ấy có thể bị xúc chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đi kèm bởi bệnh về mắt, bởi bệnh về tai... bởi bệnh về mũi... bởi bệnh về lưỡi... bởi bệnh về thân... bởi bệnh về đầu... bởi bệnh về tai... bởi bệnh về miệng... bởi bệnh về răng... bởi bệnh ho... bởi bệnh suyễn... bởi bệnh sổ mũi... bởi sự nóng bức... bởi bệnh sốt... bởi bệnh về bụng... bởi bệnh ngất xỉu... bởi bệnh kiết lỵ... bởi bệnh đau nhói... bởi bệnh thổ tả... bởi bệnh cùi... bởi bệnh ung nhọt... bởi bệnh lang ben... bởi bệnh lao... bởi bệnh động kinh... bởi bệnh hắc lào... bởi bệnh ngứa... bởi bệnh ghẻ... bởi bệnh nứt nẻ da... bởi bệnh vảy nến... bởi bệnh về máu... bởi bệnh về mật... bởi bệnh tiểu đường... bởi bệnh mụn nhọt ở vai... bởi bệnh mụn nhọt... bởi bệnh rò hậu môn... bởi bệnh khởi lên do mật... bởi bệnh khởi lên do đờm... bởi bệnh khởi lên do gió... bởi bệnh khởi lên do sự kết hợp của các thể dịch... bởi bệnh khởi lên do thời tiết thay đổi... bởi bệnh khởi lên do sinh hoạt không điều độ... bởi bệnh khởi lên do bị tấn công... bởi bệnh khởi lên do quả của nghiệp... bởi lạnh... bởi nóng... bởi đói... bởi khát... bởi phân... bởi nước tiểu... bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát, vị ấy có thể bị xúc chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đi kèm – (đây là ý nghĩa của) phassena yadā phuṭṭhassa.
Paridevaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñcīti. Ādevaṃ paridevaṃ ādevanaṃ paridevanaṃ ādevitattaṃ paridevitattaṃ vācā palāpaṃ vippalāpaṃ lālappaṃ lālappāyanaṃ lālappāyitattaṃ na kareyya na janeyya na sañjaneyya na nibbatteyya nābhinibbatteyya. Kuhiñcīti kuhiñci kimhici katthaci ajjhattaṃ vā bahiddhā vā ajjhattabahiddhā vāti – paridevaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñci.
‘A bhikkhu should not lament anywhere.’ Wailing, lamenting, the act of wailing, the act of lamenting, the state of having wailed, the state of having lamented, verbal prattling, incoherent talk, babbling, the act of babbling, the state of having babbled—he should not do, should not generate, should not produce, should not bring forth, nor cause to arise in excess. ‘Anywhere’ means in anything, in any place, whether internally, or externally, or both internally and externally—this is the meaning of ‘a bhikkhu should not lament anywhere.’
Paridevaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñcīti (Tỳ khưu không nên than van ở bất cứ đâu). Sự than khóc, sự than van, việc than khóc, việc than van, tình trạng than khóc, tình trạng than van, lời nói lảm nhảm, lời nói viển vông, sự ba hoa, việc ba hoa, tình trạng ba hoa, vị ấy không nên làm, không nên phát sanh, không nên làm cho phát sanh, không nên tạo ra, không nên làm cho sanh khởi. Kuhiñcīti (ở bất cứ đâu) có nghĩa là ở bất cứ nơi nào, trong bất cứ điều gì, ở bất cứ chỗ nào; hoặc là ở bên trong, hoặc là ở bên ngoài, hoặc là cả bên trong lẫn bên ngoài – (đây là ý nghĩa của) paridevaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñci.
Bhavañca nābhijappeyyāti. Kāmabhavaṃ na jappeyya, rūpabhavaṃ na jappeyya, arūpabhavaṃ na jappeyya na pajappeyya nābhijappeyyāti – bhavañca nābhijappeyya.
‘And one should not long for existence.’ One should not long for sensual existence, one should not long for form existence, one should not long for formless existence; one should not desire, one should not crave, nor should one long for it—this is the meaning of ‘and one should not long for existence.’
Bhavañca nābhijappeyyāti (Và không nên khao khát cõi hữu). Không nên mong cầu dục hữu, không nên mong cầu sắc hữu, không nên mong cầu vô sắc hữu; không nên mong mỏi, không nên khao khát – (đây là ý nghĩa của) bhavañca nābhijappeyya.
Bheravesu ca na sampavedheyyāti. Bheravāti ekenākārena bhayampi bheravampi taññeva. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘etaṃ nūna taṃ bhayaṃ bheravaṃ na jahe āgacchatī’’ti. Bahiddhārammaṇaṃ vuttaṃ sīhā byagghā dīpī acchā taracchā kokā mahiṃsā assā hatthī ahi vicchikā satapadī, corā vā assu mānavā vā katakammā vā akatakammā vā. Athāparena ākārena bhayaṃ vuccati ajjhattikaṃ cittasamuṭṭhānaṃ bhayaṃ bhayānakaṃ chambhitattaṃ lomahaṃso cetaso ubbego utrāso, jātibhayaṃ jarābhayaṃ byādhibhayaṃ maraṇabhayaṃ rājabhayaṃ corabhayaṃ aggibhayaṃ udakabhayaṃ attānuvādabhayaṃ parānuvādabhayaṃ daṇḍabhayaṃ duggatibhayaṃ ūmibhayaṃ kumbhīlabhayaṃ āvaṭṭabhayaṃ susukābhayaṃ † ājīvikabhayaṃ asilokabhayaṃ parisāya sārajjabhayaṃ madanabhayaṃ duggatibhayaṃ bhayaṃ bhayānakaṃ chambhitattaṃ lomahaṃso cetaso ubbego utrāso. Bheravesu ca na sampavedheyyāti bherave passitvā vā suṇitvā vā na vedheyya na pavedheyya na sampavedheyya na taseyya na uttaseyya na paritaseyya na bhāyeyya na santāsaṃ āpajjeyya, abhīrū assa achambhī anutrāsī apalāyī, pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃso vihareyyāti – bheravesu ca na sampavedheyya.
‘And one should not tremble at terrors.’ As for ‘terror,’ in one aspect, fear and terror are one and the same. For it has been said by the Blessed One: ‘Having abandoned that one fear and terror, should one not proceed?’ External objects of terror are spoken of: lions, tigers, leopards, bears, hyenas, wolves, buffaloes, horses, elephants, snakes, scorpions, centipedes; or thieves, oppressive people, those who have committed crimes, or those setting out to do so. Then, in another aspect, ‘fear’ refers to what is internal and mind-originated: fear, terror, stiffness with fear, hair-raising, mental agitation, and dread. There is fear of birth, fear of aging, fear of sickness, fear of death, fear of kings, fear of thieves, fear of fire, fear of water, fear of self-reproach, fear of blame from others, fear of punishment, fear of a woeful destination, fear of waves, fear of crocodiles, fear of whirlpools, fear of sharks, fear of livelihood, fear of disgrace, fear of timidity in an assembly, fear of intoxication, and fear of a woeful destination. This includes fear, terror, stiffness with fear, hair-raising, mental agitation, and dread. ‘And one should not tremble at terrors’ means that, having seen or heard terrifying things, one should not be shaken, agitated, or tremble exceedingly; one should not be startled, greatly startled, or panic-stricken; one should not be afraid or fall into distress. One should be fearless, not stiff with fear, undaunted, not fleeing; one should dwell having abandoned fear and terror, with hair-raising gone. Thus, ‘and one should not tremble at terrors.’
Bheravesu ca na sampavedheyyāti (Và không nên run rẩy trước những điều kinh hãi). Bheravāti (điều kinh hãi), theo một phương diện, sự sợ hãi cũng là điều kinh hãi, chính nó là như vậy. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Chắc chắn rằng sự sợ hãi, điều kinh hãi ấy không đến với người đã từ bỏ nó’. Đối tượng bên ngoài được nói đến là: sư tử, cọp, báo, gấu, linh cẩu, chó sói, trâu rừng, ngựa, voi, rắn, bọ cạp, rết; hoặc là kẻ trộm, hoặc là những kẻ hung bạo, hoặc là những kẻ đã phạm tội, hoặc là những kẻ chưa phạm tội. Lại nữa, theo một phương diện khác, sự sợ hãi được nói đến là sự sợ hãi bên trong, phát sanh từ tâm: sự sợ hãi, sự kinh hoàng, sự sững sờ, sự dựng tóc gáy, sự dao động của tâm, sự hốt hoảng; sự sợ hãi sanh, sự sợ hãi già, sự sợ hãi bệnh, sự sợ hãi chết, sự sợ hãi vua chúa, sự sợ hãi trộm cướp, sự sợ hãi lửa, sự sợ hãi nước, sự sợ hãi tự khiển trách, sự sợ hãi người khác khiển trách, sự sợ hãi hình phạt, sự sợ hãi ác thú, sự sợ hãi sóng, sự sợ hãi cá sấu, sự sợ hãi nước xoáy, sự sợ hãi cá mập, sự sợ hãi về sinh kế, sự sợ hãi bị tiếng xấu, sự sợ hãi rụt rè trong hội chúng, sự sợ hãi say đắm, sự sợ hãi ác thú; sự sợ hãi, sự kinh hoàng, sự sững sờ, sự dựng tóc gáy, sự dao động của tâm, sự hốt hoảng. Bheravesu ca na sampavedheyyāti (Và không nên run rẩy trước những điều kinh hãi) có nghĩa là sau khi thấy hoặc nghe những điều kinh hãi, vị ấy không nên rung động, không nên run rẩy, không nên run sợ, không nên kinh hãi, không nên hốt hoảng, không nên hoảng sợ, không nên sợ hãi, không nên rơi vào kinh hoàng; vị ấy nên là người không sợ hãi, không sững sờ, không hốt hoảng, không bỏ chạy; nên sống với sự sợ hãi và kinh hoàng đã được từ bỏ, với sự dựng tóc gáy đã biến mất – (đây là ý nghĩa của) bheravesu ca na sampavedheyyā.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Phassena yadā phuṭṭhassa, paridevaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñci;
Bhavañca nābhijappeyya, bheravesu ca na sampavedheyyā’’ti.
“When touched by contact, a bhikkhu should not lament anywhere; and one should not long for existence, nor tremble at terrors.”
‘Khi bị xúc chạm bởi sự xúc chạm, tỳ khưu không nên than van ở bất cứ đâu; và không nên khao khát cõi hữu, và không nên run rẩy trước những điều kinh hãi.’
159.
159.
159.
Annānamatho pānānaṃ, khādanīyānamathopi vatthānaṃ;
Laddhā na sannidhiṃ kayirā, na ca parittase tāni alabhamāno.
Having obtained food and drink, and likewise edibles and garments, one should not hoard them, nor should one be alarmed when not obtaining them.
Về các loại đồ ăn, và các loại đồ uống, về các loại vật thực, và cả các loại y phục; khi nhận được, không nên tích trữ, và không nên lo lắng khi không nhận được chúng.
Annānamatho pānānaṃ, khādanīyānamathopi vatthānanti. Annānanti odano kummāso sattu maccho maṃsaṃ. Pānānanti aṭṭha pānāni – ambapānaṃ, jambupānaṃ, cocapānaṃ, mocapānaṃ, madhupānaṃ, muddikapānaṃ, sālukapānaṃ, phārusakapānaṃ. Aparānipi aṭṭha pānāni – kosambapānaṃ, kolapānaṃ, badarapānaṃ, ghatapānaṃ, telapānaṃ, payopānaṃ, yāgupānaṃ, rasapānaṃ. Khādanīyānanti piṭṭhakhajjakaṃ, pūvakhajjakaṃ, mūlakhajjakaṃ, tacakhajjakaṃ, pattakhajjakaṃ, pupphakhajjakaṃ, phalakhajjakaṃ. Vatthānanti cha cīvarāni – khomaṃ, kappāsikaṃ, koseyyaṃ, kambalaṃ, sāṇaṃ, bhaṅganti – annānamatho pānānaṃ khādanīyānamathopi vatthānaṃ.
As for food and drink, and likewise edibles and garments. 'Food' refers to cooked rice, gruel, roasted grain flour, fish, and meat. 'Drink' refers to eight kinds of drinks—mango drink, java-plum drink, banana drink with seeds, banana drink without seeds, honey drink, grape drink, lotus root drink, and phārusaka drink. Another eight drinks are—kosamba drink, kola drink, jujube drink, ghee drink, oil drink, milk drink, rice-gruel drink, and juice drink. 'Edibles' refer to flour-based edibles, cake-based edibles, root-based edibles, bark-based edibles, leaf-based edibles, flower-based edibles, and fruit-based edibles. 'Garments' refer to six kinds of robes—linen, cotton, silk, woolen, hempen, and of mixed thread—thus, as for food and drink, and likewise edibles and garments.
Annānamatho pānānaṃ, khādanīyānamathopi vatthānanti (Về các loại đồ ăn, và các loại đồ uống, về các loại vật thực, và cả các loại y phục). Annānanti (các loại đồ ăn) là: cơm, cháo đặc, bột rang, cá, thịt. Pānānanti (các loại đồ uống) là tám loại thức uống: nước xoài, nước trám, nước chuối có hạt, nước chuối không hạt, nước mật ong, nước nho, nước củ sen, nước phārusaka. Tám loại thức uống khác nữa là: nước kosamba, nước táo ta, nước badara, nước bơ, nước dầu, nước sữa, cháo loãng, nước ép. Khādanīyānanti (các loại vật thực) là: vật thực làm bằng bột, bánh, củ, vỏ cây, lá, hoa, quả. Vatthānanti (các loại y phục) là sáu loại y: y bằng vải lanh, y bằng vải bông, y bằng vải lụa, y bằng len, y bằng vải gai, y bằng vải hỗn hợp – (đây là ý nghĩa của) annānamatho pānānaṃ khādanīyānamathopi vatthānaṃ.
Laddhā na sannidhiṃ kayirāti. Laddhāti laddhā labhitvā adhigantvā vinditvā paṭilabhitvā na kuhanāya, na lapanāya, na nemittikatāya, na nippesikatāya, na lābhena lābhaṃ nijigīsanatāya †, na kaṭṭhadānena, na veḷudānena, na pattadānena, na pupphadānena, na phaladānena, na sinānadānena, na cuṇṇadānena, na mattikādānena, na dantakaṭṭhadānena, na mukhodakadānena, na cāṭukamyatāya, na muggasūpyatāya †, na pāribhaṭayayatāya, na pīṭhamaddikatāya †, na vatthuvijjāya, na tiracchānavijjāya, na aṅgavijjāya, na nakkhattavijjāya, na dūtagamanena, na pahiṇagamanena, na jaṅghapesaniyena, na vejjakammena, na navakammena, na piṇḍapaṭipiṇḍakena, na dānānuppadānena dhammena samena laddhā labhitvā adhigantvā vinditvā paṭilabhitvāti – laddhā. Na sannidhiṃ kayirāti annasannidhiṃ pānasannidhiṃ vatthasannidhiṃ yānasannidhiṃ sayanasannidhiṃ gandhasannidhiṃ āmisasannidhiṃ na kareyya na janeyya na sañjaneyya na nibbatteyya nābhinibbatteyyāti – laddhā na sannidhiṃ kayirā.
Having obtained, one should not hoard. 'Having obtained' means having obtained, gained, acquired, found, or received again—not by deceit, not by chatter, not by hinting, not by belittling, nor by pursuing gain with gain; not by giving firewood, not by giving bamboo, not by giving leaves, not by giving flowers, not by giving fruit, not by giving bathing soap-bark, not by giving bathing powder, not by giving clay, not by giving a tooth-stick, not by giving water for washing the face; not by flattery, not by being inconsistent, not by acting as a child's nurse, not by being a hanger-on at houses; not by the science of building sites, not by base arts, not by the science of bodily marks, not by astrology; not by going as a messenger, not by going on errands, not by running messages on foot; not by medical practice, not by new construction work, not by giving alms in return for alms, not by giving a gift in expectation of a larger one—but having obtained, gained, acquired, found, or received again righteously and justly. This is 'having obtained'. 'One should not hoard' means one should not make a store of food, a store of drink, a store of cloth, a store of vehicles, a store of bedding, a store of perfumes, or a store of other material things; one should not do it, should not produce it, should not produce it well, should not bring it into being, should not bring it fully into being. This is 'having obtained, one should not hoard'.
‘Laddhā na sannidhiṃ kayirā’ có nghĩa là: ‘Laddhā’ là đã nhận được, đã thâu hoạch, đã đạt được, đã tìm thấy, đã nhận lại. (Nhận được) không phải do sự lừa dối, không phải do sự ba hoa, không phải do sự ra dấu hiệu, không phải do sự mắng nhiếc, không phải do việc dùng lợi lộc để tìm kiếm lợi lộc, không phải do việc cho củi, không phải do việc cho tre, không phải do việc cho lá cây, không phải do việc cho bông hoa, không phải do việc cho trái cây, không phải do việc cho xà phòng tắm, không phải do việc cho bột thơm, không phải do việc cho đất sét, không phải do việc cho tăm xỉa răng, không phải do việc cho nước rửa mặt, không phải do sự tâng bốc, không phải do sự nói năng lấp lửng, không phải do sự bồng ẵm con nít, không phải do sự xông vào nhà người, không phải do khoa học về đất đai, không phải do tà học, không phải do khoa học về tướng số, không phải do khoa học về thiên văn, không phải do việc đi làm sứ giả, không phải do việc đi đưa tin, không phải do việc đi đưa tin chạy bộ, không phải do nghề y, không phải do công việc mới, không phải do việc đổi vật thực khất thực, không phải do việc cho đi cho lại. (Mà là) đã nhận được, đã thâu hoạch, đã đạt được, đã tìm thấy, đã nhận lại một cách đúng Pháp, một cách công bằng – đó là ý nghĩa của ‘laddhā’. ‘Na sannidhiṃ kayirā’ có nghĩa là: không nên cất giữ, không nên làm cho sanh khởi, không nên làm cho sanh khởi tốt đẹp, không nên làm cho phát sanh, không nên làm cho phát sanh vượt bậc việc tích trữ đồ ăn, tích trữ đồ uống, tích trữ y phục, tích trữ xe cộ, tích trữ chỗ nằm, tích trữ hương liệu, tích trữ vật thực – đó là ý nghĩa của ‘laddhā na sannidhiṃ kayirā’.
Na ca parittase tāni alabhamānoti. Annaṃ vā na labhāmi, pānaṃ vā na labhāmi, vatthaṃ vā na labhāmi, kulaṃ vā na labhāmi, gaṇaṃ vā na labhāmi, āvāsaṃ vā na labhāmi, lābhaṃ vā na labhāmi, yasaṃ vā na labhāmi, pasaṃsaṃ vā na labhāmi, sukhaṃ vā na labhāmi, cīvaraṃ vā na labhāmi, piṇḍapātaṃ vā na labhāmi, senāsanaṃ vā na labhāmi, gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ vā na labhāmi, gilānupaṭṭhākaṃ vā na labhāmi, ‘‘appaññātomhī’’ti na taseyya na uttaseyya na parittaseyya na bhāyeyya na santāsaṃ āpajjeyya, abhīrū assa achambhī anutrāsī apalāyī, pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃso vihareyyāti – na ca parittase tāni alabhamāno.
As to 'And one should not be anxious when not obtaining them': It means: 'I do not get food, or drink, or clothing, or a family, or a group, or a dwelling, or gain, or fame, or praise, or happiness, or robes, or almsfood, or lodging, or the requisite of medicine which is a support for the sick, or an attendant for the sick.' Thinking, 'I am unknown,' one should not tremble, should not be greatly alarmed, should not be anxious all around, should not be afraid, should not fall into distress. One should be fearless, unperturbed, unterrified, and not fleeing. One should dwell with fear and dread abandoned, with hair-raising gone. This is 'and one should not be anxious when not obtaining them'.
‘Na ca parittase tāni alabhamāno’ có nghĩa là: (Nghĩ rằng:) “Ta không nhận được đồ ăn, hoặc ta không nhận được đồ uống, hoặc ta không nhận được y phục, hoặc ta không nhận được gia đình (thí chủ), hoặc ta không nhận được giáo chúng, hoặc ta không nhận được trú xứ, hoặc ta không nhận được lợi lộc, hoặc ta không nhận được danh tiếng, hoặc ta không nhận được lời tán dương, hoặc ta không nhận được sự an lạc, hoặc ta không nhận được y, hoặc ta không nhận được vật thực khất thực, hoặc ta không nhận được sàng tọa, hoặc ta không nhận được dược phẩm trị bệnh là vật dụng cần thiết cho người bệnh, hoặc ta không nhận được người chăm sóc bệnh, ta là người không được biết đến,” vị ấy không nên run sợ, không nên quá run sợ, không nên run sợ khắp nơi, không nên sợ hãi, không nên rơi vào kinh hoàng; nên là người không khiếp sợ, không kinh hãi, không run rẩy, không bỏ chạy, nên sống với sự sợ hãi và kinh hoàng đã được đoạn trừ, với sự dựng tóc gáy đã biến mất – đó là ý nghĩa của ‘na ca parittase tāni alabhamāno’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã dạy rằng –
‘‘Annānamatho pānānaṃ, khādanīyānamathopi vatthānaṃ;
Laddhā na sannidhiṃ kayirā, na ca parittase tāni alabhamāno’’ti.
“Having obtained food and drinks, edibles and also clothing, one should not make a store of them, nor be anxious when not obtaining them.”
“Sau khi nhận được đồ ăn hoặc đồ uống, hoặc vật thực và cả y phục; không nên thực hành việc tích trữ, và không nên run sợ khi không nhận được chúng.”
160.
160.
160.
Jhāyī na pādalolassa, virame kukkuccā nappamajjeyya;
Athāsanesu sayanesu, appasaddesu bhikkhu vihareyya.
A meditator should not be restless in movement, should abstain from worry, and not be heedless. Then, a monk should dwell in seats and resting places where there is little sound.
Vị hành thiền không nên có chân lăng xăng, nên từ bỏ sự hối hận, không nên dể duôi; rồi vị tỳ khưu nên trú ngụ ở các chỗ ngồi, các chỗ nằm ít tiếng động.
Jhāyī na pādalolassāti. Jhāyīti paṭhamenapi jhānena jhāyī, dutiyenapi jhānena jhāyī, tatiyenapi jhānena jhāyī, catutthenapi jhānena jhāyī, savitakkasavicārenapi jhānena jhāyī, avitakkavicāramattenapi jhānena jhāyī, avitakkaavicārenapi jhānena jhāyī, sappītikenapi jhānena jhāyī, nippītikenapi jhānena jhāyī, pītisahagatenapi jhānena jhāyī, sātasahagatenapi jhānena jhāyī, sukhasahagatenapi jhānena jhāyī, upekkhāsahagatenapi jhānena jhāyī, suññatenapi jhānena jhāyī, animittenapi jhānena jhāyī, appaṇihitenapi jhānena jhāyī, lokiyenapi jhānena jhāyī, lokuttarenapi jhānena jhāyī, jhānarato ekattamanuyutto paramatthagarukoti † – jhāyī.
As for 'A meditator should not be restless in movement': 'Meditator' means one who meditates with the first jhāna, the second jhāna, the third jhāna, and the fourth jhāna; with jhāna having applied and sustained thought; with jhāna with only sustained thought and without applied thought; with jhāna without applied and sustained thought; with jhāna having rapture; with jhāna without rapture; with jhāna accompanied by rapture; with jhāna accompanied by pleasantness; with jhāna accompanied by happiness; with jhāna accompanied by equanimity; with the jhāna that is void of passion; with the signless jhāna; with the undirected jhāna; with mundane jhāna; and with supramundane jhāna. One who delights in jhāna, is devoted to solitude, and respects the highest good—such is a 'meditator'.
‘Jhāyī na pādalolassa’ có nghĩa là: ‘Jhāyī’ là người hành thiền với thiền thứ nhất, là người hành thiền với thiền thứ hai, là người hành thiền với thiền thứ ba, là người hành thiền với thiền thứ tư, là người hành thiền với thiền có tầm có tứ, là người hành thiền với thiền không tầm chỉ có tứ, là người hành thiền với thiền không tầm không tứ, là người hành thiền với thiền có hỷ, là người hành thiền với thiền không hỷ, là người hành thiền với thiền đi kèm với hỷ, là người hành thiền với thiền đi kèm với sự dễ chịu, là người hành thiền với thiền đi kèm với lạc, là người hành thiền với thiền đi kèm với xả, là người hành thiền với thiền không tánh, là người hành thiền với thiền vô tướng, là người hành thiền với thiền vô nguyện, là người hành thiền với thiền hiệp thế, là người hành thiền với thiền siêu thế, là người thích thú trong thiền, chuyên tâm vào sự đơn độc, tôn trọng lợi ích tối thượng – đó là ý nghĩa của ‘jhāyī’.
Na pādalolassāti. Kathaṃ pādalolo hoti? Idhekacco pādaloliyena samannāgato hoti ārāmena ārāmaṃ uyyānena uyyānaṃ gāmena gāmaṃ nigamena nigamaṃ nagarena nagaraṃ raṭṭhena raṭṭhaṃ janapadena janapadaṃ dīghacārikaṃ anavaṭṭhitacārikaṃ anuyutto viharati. Evampi pādalolo hoti.
As to 'should not be restless of foot': How is one restless of foot? Here, a certain person is endowed with restlessness of the feet, going from pleasure park to pleasure park, from garden to garden, from village to village, from market town to market town, from city to city, from country to country, from district to district; he dwells engaged in long and unsettled journeying. In this way, too, one is restless of foot.
‘Na pādalolassa’ có nghĩa là: Thế nào là người có chân lăng xăng? Ở đây, có người có tánh chân lăng xăng, đi từ chùa này đến chùa kia, từ vườn này đến vườn kia, từ làng này đến làng kia, từ thị trấn này đến thị trấn kia, từ thành phố này đến thành phố kia, từ xứ này đến xứ kia, từ vùng này đến vùng kia, sống chuyên tâm vào việc đi đường dài, đi không dừng nghỉ. Như vậy cũng là người có chân lăng xăng.
Atha vā bhikkhu antopisaṅghārāme pādaloliyena samannāgato hoti. Na atthahetu na kāraṇahetu uddhato avūpasantacitto pariveṇato pariveṇaṃ gacchati vihārato vihāraṃ gacchati aḍḍhayogato aḍḍhayogaṃ gacchati pāsādato pāsādaṃ gacchati hammiyato hammiyaṃ gacchati guhāya guhaṃ gacchati leṇato leṇaṃ gacchati kuṭito kuṭiṃ gacchati kūṭāgārato kūṭāgāraṃ gacchati aṭṭato aṭṭaṃ gacchati māḷato māḷaṃ gacchati uddaṇḍato uddaṇḍaṃ gacchati upaṭṭhānasālato upaṭṭhānasālaṃ gacchati maṇḍalamāḷato maṇḍalamāḷaṃ gacchati rukkhamūlato rukkhamūlaṃ gacchati. Yattha vā pana bhikkhū nisīdanti tahiṃ gacchati, tattha ekassa vā dutiyo hoti, dvinnaṃ vā tatiyo hoti, tiṇṇaṃ vā catuttho hoti. Tattha bahuṃ samphappalāpaṃ palapati, seyyathidaṃ – rājakathaṃ corakathaṃ mahāmattakathaṃ senākathaṃ bhayakathaṃ yuddhakathaṃ annakathaṃ pānakathaṃ vatthakathaṃ yānakathaṃ sayanakathaṃ mālākathaṃ gandhakathaṃ ñātikathaṃ gāmakathaṃ nigamakathaṃ nagarakathaṃ janapadakathaṃ itthikathaṃ sūrakathaṃ visikhākathaṃ kumbhaṭṭhānakathaṃ pubbapetakathaṃ nānattakathaṃ lokakkhāyikaṃ samuddakkhāyikaṃ iti bhavābhavakathaṃ iti vā. Evampi pādalolo hoti.
Or else, a monk within the monastic compound is endowed with restlessness of the feet. Not for any beneficial purpose, not for any reason, being agitated and with an unpeaceful mind, he goes from residence to residence, from dwelling to dwelling, from a lean-to to a lean-to, from a mansion to a mansion, from an upper chamber to an upper chamber, from a cave to a cave, from a rock-shelter to a rock-shelter, from a hut to a hut, from a gabled building to a gabled building, from a watchtower to a watchtower, from a pavilion to a pavilion, from a storage platform to a storage platform, from an assembly hall to an assembly hall, from a circular pavilion to a circular pavilion, from the root of a tree to the root of a tree. Or wherever monks are sitting, he goes there; there he becomes a second to one, a third to two, or a fourth to three. There he speaks much pointless chatter, such as: talk about kings, robbers, great ministers, armies, dangers, battles, food, drink, clothing, vehicles, beds, garlands, perfumes, relatives, villages, market towns, cities, districts, women, heroes, streets, watering places, departed ancestors, miscellaneous matters, tales of the world, tales of the ocean, and talk concerning existence and non-existence, and so on. In this way, too, one is restless of foot.
Hoặc là, vị tỳ khưu có tánh chân lăng xăng ngay trong khuôn viên tu viện. Không vì lợi ích, không vì lý do, với tâm phóng dật, không an tịnh, vị ấy đi từ khu nhà này đến khu nhà kia, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá kia, đi từ nhà nóc cong này đến nhà nóc cong kia, đi từ lầu đài này đến lầu đài kia, đi từ nhà có gác thượng này đến nhà có gác thượng kia, đi từ hang động này đến hang động kia, đi từ sơn động này đến sơn động kia, đi từ cốc này đến cốc kia, đi từ nhà có mái nhọn này đến nhà có mái nhọn kia, đi từ tháp canh này đến tháp canh kia, đi từ sảnh đường này đến sảnh đường kia, đi từ nơi để đồ này đến nơi để đồ kia, đi từ trai đường này đến trai đường kia, đi từ sảnh tròn này đến sảnh tròn kia, đi từ gốc cây này đến gốc cây kia. Hoặc nơi nào có các vị tỳ khưu đang ngồi, vị ấy đi đến đó. Ở đó, vị ấy trở thành người thứ hai của một người, hoặc người thứ ba của hai người, hoặc người thứ tư của ba người. Ở đó, vị ấy nói nhiều lời vô ích, chẳng hạn như: chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện sợ hãi, chuyện chiến tranh, chuyện ăn, chuyện uống, chuyện y phục, chuyện xe cộ, chuyện giường nệm, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện bà con, chuyện làng xóm, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện xứ sở, chuyện phụ nữ, chuyện anh hùng, chuyện ngã ba đường, chuyện bến nước, chuyện người đã khuất, chuyện vẩn vơ, chuyện thế gian, chuyện biển cả, chuyện về thường kiến và đoạn kiến. Như vậy cũng là người có chân lăng xăng.
Na pādalolassāti. Pādaloliyaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, pādaloliyā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyya careyya vicareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyya, paṭisallānārāmo assa paṭisallānarato ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanā samannāgato brūhetā suññāgārānaṃ jhāyī jhānarato ekattamanuyutto paramatthagarukoti – jhāyī na pādalolassa.
Not being restless with the feet. One should abandon restlessness of the feet, dispel it, bring it to an end, and cause it to reach non-existence. One should be aloof from restlessness of the feet, refraining from it, abstaining from it, having departed from it, detached from it, completely liberated from it, and disjoined from it. With a boundless mind, one should dwell, fare, fare about, maintain the postures, proceed, preserve, sustain, and cause oneself to be sustained. One should be one who delights in seclusion, devoted to seclusion, engaged in internal serenity of mind, not neglecting jhāna, endowed with insight, a developer of empty dwellings, meditative, delighting in jhāna, devoted to unification, and holding the ultimate goal as weighty—this is a meditator who is not restless with the feet.
Về câu 'Không lăng xăng chân tay'. Nên từ bỏ, nên loại trừ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu sự lăng xăng của chân; nên xa lánh, nên từ bỏ, nên tránh xa, nên thoát ra, nên giải thoát, nên hoàn toàn giải thoát, nên không còn liên hệ khỏi sự lăng xăng của chân; nên trú, nên đi, nên đi lại, nên duy trì oai nghi, nên hành xử, nên bảo hộ, nên nuôi mạng, nên làm cho nuôi mạng với tâm không bị giới hạn. Nên là người thích thú nơi độc cư, nên là người hoan hỷ nơi độc cư, nên chuyên tâm vào sự tĩnh lặng của nội tâm, nên là người không từ bỏ thiền định, nên là người thành tựu minh sát, nên là người phát triển (việc ở) các trú xứ thanh vắng, là người thiền định, là người hoan hỷ trong thiền định, là người chuyên tâm vào sự đơn độc, là người xem trọng lợi ích tối thượng – (đây là ý nghĩa của) người thiền định không lăng xăng chân tay.
Virame kukkuccā nappamajjeyyāti. Kukkuccanti hatthakukkuccampi kukkuccaṃ, pādakukkuccampi kukkuccaṃ, hatthapādakukkuccampi kukkuccaṃ, akappiye kappiyasaññitā, kappiye akappiyasaññitā, avajje vajjasaññitā, vajje avajjasaññitā, yaṃ evarūpaṃ kukkuccaṃ kukkuccāyanā kukkuccāyitattaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho – idaṃ vuccati kukkuccaṃ.
Refrain from scruples; do not be heedless. By ‘scruples’ is meant: restlessness of the hands is scruples, restlessness of the feet is scruples, restlessness of both hands and feet is scruples; perceiving what is improper as proper, what is proper as improper; perceiving what is blameless as blameworthy, what is blameworthy as blameless—whatever such scruples, scrupulousness, the state of being scrupulous, remorse of mind, vexation of mind—this is called ‘scruples’.
Về câu ‘Nên từ bỏ hối hận, không nên dễ duôi’. Hối hận là: sự hối hận về tay cũng là hối hận, sự hối hận về chân cũng là hối hận, sự hối hận về tay và chân cũng là hối hận; tưởng điều không thích hợp là thích hợp, tưởng điều thích hợp là không thích hợp, tưởng điều không có lỗi là có lỗi, tưởng điều có lỗi là không có lỗi. Sự hối hận, trạng thái hối hận, bản chất của sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của ý như vậy nào – đây được gọi là hối hận.
Api ca dvīhi kāraṇehi uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho – katattā ca akatattā ca. Kathaṃ katattā ca akatattā ca uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho? ‘‘Kataṃ me kāyaduccaritaṃ, akataṃ me kāyasucarita’’nti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho, ‘‘kataṃ me vacīduccaritaṃ, akataṃ me vacīsucarita’’nti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho, ‘‘kataṃ me manoduccaritaṃ, akataṃ me manosucaritanti…pe… ‘‘kato me pāṇātipāto, akatā me pāṇātipātā veramaṇī’’ti uppajjati kukkuccaṃ…pe… manovilekho, ‘‘kataṃ me adinnādānaṃ… kato me kāmesumicchācāro… kato me musāvādo… katā me pisuṇavācā… katā me pharusavācā… kato me samphappalāpo… katā me abhijjhā… kato me byāpādo… katā me micchādiṭṭhi, akatā me sammādiṭṭhī’’ti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. Evaṃ katattā ca akatattā ca uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho.
Furthermore, for two reasons scruples, remorse of mind, and vexation of mind arise: because of what has been done and because of what has not been done. How do scruples, remorse of mind, and vexation of mind arise because of what has been done and because of what has not been done? ‘Bodily misconduct has been done by me; bodily good conduct has not been done by me’—thus scruples, remorse of mind, and vexation of mind arise. ‘Verbal misconduct has been done by me; verbal good conduct has not been done by me’—thus scruples, remorse of mind, and vexation of mind arise. ‘Mental misconduct has been done by me; mental good conduct has not been done by me’… ‘Killing living beings has been done by me; abstinence from killing living beings has not been done by me’—thus scruples… vexation of mind arise. ‘Taking what is not given has been done by me… sexual misconduct has been done by me… false speech has been done by me… divisive speech has been done by me… harsh speech has been done by me… idle chatter has been done by me… covetousness has been done by me… ill will has been done by me… wrong view has been held by me; right view has not been held by me’—thus scruples, remorse of mind, and vexation of mind arise. Thus, because of what has been done and because of what has not been done, scruples, remorse of mind, and vexation of mind arise.
Lại nữa, do hai nguyên nhân mà sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi – do đã làm và do đã không làm. Do đã làm và do đã không làm, sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi như thế nào? (Nghĩ rằng:) ‘Thân ác hạnh đã được ta làm, thân thiện hạnh đã không được ta làm’, sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi. (Nghĩ rằng:) ‘Khẩu ác hạnh đã được ta làm, khẩu thiện hạnh đã không được ta làm’, sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi. (Nghĩ rằng:) ‘Ý ác hạnh đã được ta làm, ý thiện hạnh đã không được ta làm’... (tương tự)... (Nghĩ rằng:) ‘Sự sát sanh đã được ta làm, sự từ bỏ sát sanh đã không được ta làm’, sự hối hận... (tương tự)... sự day dứt của ý sanh khởi. (Nghĩ rằng:) ‘Sự trộm cắp đã được ta làm... tà hạnh trong các dục đã được ta làm... nói dối đã được ta làm... nói đâm thọc đã được ta làm... nói lời thô ác đã được ta làm... nói lời vô ích đã được ta làm... tham lam đã được ta làm... sân hận đã được ta làm... tà kiến đã được ta làm, chánh kiến đã không được ta làm’, sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi. Như vậy, do đã làm và do đã không làm mà sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi.
Atha vā ‘‘sīlesumhi na paripūrakārī’’ti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho, ‘‘indriyesumhi aguttadvāro’’ti…pe… ‘‘bhojane amattaññumhī’’ti… ‘‘jāgariyaṃ ananuyuttomhī’’ti… ‘‘na satisampajaññena samannāgatomhī’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro satipaṭṭhānā’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro sammappadhānā’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro iddhipādā’’ti… ‘‘abhāvitāni me pañcindriyānī’’ti… ‘‘abhāvitāni me pañca balānī’’ti… ‘‘abhāvitā me satta bojjhaṅgā’’ti… ‘‘abhāvito me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’’ti… ‘‘dukkhaṃ me apariññāta’’nti… ‘‘samudayo me appahīno’’ti… ‘‘maggo me abhāvito’’ti… ‘‘nirodho me asacchikato’’ti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. Virame kukkuccāti kukkuccā ārameyya virameyya paṭivirameyya kukkuccaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya. Kukkuccā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – virame kukkuccā.
Or else, scruples, remorse of mind, and vexation of mind arise thus: ‘I am not one who completely fulfills the precepts of virtue.’ … ‘I am one with unguarded doors in the sense faculties.’ … ‘I am one who does not know moderation in eating.’ … ‘I am not devoted to wakefulness.’ … ‘I am not endowed with mindfulness and clear comprehension.’ … ‘The four establishments of mindfulness have not been developed by me.’ … ‘The four right strivings have not been developed by me.’ … ‘The four bases of spiritual power have not been developed by me.’ … ‘The five spiritual faculties have not been developed by me.’ … ‘The five powers have not been developed by me.’ … ‘The seven factors of enlightenment have not been developed by me.’ … ‘The Noble Eightfold Path has not been developed by me.’ … ‘Suffering has not been fully understood by me.’ … ‘The origin has not been abandoned by me.’ … ‘The path has not been developed by me.’ … ‘Cessation has not been realized by me.’ Thus scruples, remorse of mind, and vexation of mind arise. ‘Refrain from scruples’ means one should keep away from, refrain from, and abstain from scruples; one should abandon, dispel, bring to an end, and cause scruples to reach non-existence. One should be aloof from scruples, refraining from them, abstaining from them, having departed from them, detached from them, completely liberated from them, disjoined from them, and should dwell with a boundless mind—this is to ‘refrain from scruples’.
Hoặc là, (nghĩ rằng:) ‘Ta không phải là người thực hành viên mãn các giới’, sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi. (Nghĩ rằng:) ‘Ta không hộ trì các căn’... (tương tự)... ‘Ta không biết tiết độ trong ăn uống’... ‘Ta không chuyên tâm vào sự tỉnh thức’... ‘Ta không thành tựu chánh niệm và tỉnh giác’... ‘Bốn niệm xứ đã không được ta tu tập’... ‘Bốn chánh cần đã không được ta tu tập’... ‘Bốn như ý túc đã không được ta tu tập’... ‘Năm căn đã không được ta tu tập’... ‘Năm lực đã không được ta tu tập’... ‘Bảy giác chi đã không được ta tu tập’... ‘Bát Thánh Đạo đã không được ta tu tập’... ‘Khổ đã không được ta liễu tri’... ‘Tập đã không được ta đoạn tận’... ‘Đạo đã không được ta tu tập’... ‘Diệt đã không được ta chứng ngộ’, sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi. Về câu ‘Nên từ bỏ hối hận’: nên xa lánh, nên từ bỏ, nên tránh xa khỏi sự hối hận; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu sự hối hận. Nên xa lánh, nên từ bỏ, nên tránh xa, nên thoát ra, nên giải thoát, nên hoàn toàn giải thoát, nên không còn liên hệ khỏi sự hối hận; nên trú với tâm không bị giới hạn. Đây là ý nghĩa của câu: ‘Nên từ bỏ hối hận’.
Nappamajjeyyāti sakkaccakārī assa sātaccakārī aṭṭhitakārī anolīnavuttiko anikkhittacchando anikkhittadhuro appamādo kusalesu dhammesu. ‘‘Kadāhaṃ aparipūraṃ vā sīlakkhandhaṃ paripūreyyaṃ, paripūraṃ vā sīlakkhandhaṃ tattha tattha paññāya anuggaṇheyya’’nti? Yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca thāmo ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca ātappaṃ padhānaṃ adhiṭṭhānaṃ anuyogo appamādo kusalesu dhammesu. ‘‘Kadāhaṃ aparipūraṃ vā samādhikkhandhaṃ…pe… paññākkhandhaṃ… vimuttikkhandhaṃ… vimuttiñāṇadassanakkhandhaṃ… kadāhaṃ apariññātaṃ vā dukkhaṃ parijāneyyaṃ, appahīne vā kilese pajaheyyaṃ, abhāvitaṃ vā maggaṃ bhāveyyaṃ, asacchikataṃ vā nirodhaṃ sacchikareyya’’nti? Yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca thāmo ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca ātappaṃ padhānaṃ adhiṭṭhānaṃ anuyogo appamādo kusalesu dhammesūti – virame kukkuccā nappamajjeyya.
‘One should not be heedless’ means: one should act with respect, be persevering, be steadfast, be of unsluggish conduct, with unabandoned aspiration, with an unabandoned burden; one should be heedful in wholesome states. ‘When shall I fulfill the as-yet unfulfilled aggregate of virtue, or support with wisdom in various aspects the already fulfilled aggregate of virtue?’ Whatever desire, effort, exertion, striving, stamina, non-retreating, mindfulness, clear comprehension, ardor, endeavor, determination, and application there is, this is heedfulness in wholesome states. ‘When shall I fulfill the as-yet unfulfilled aggregate of concentration… the aggregate of wisdom… the aggregate of liberation… the aggregate of the knowledge and vision of liberation? When shall I fully understand the suffering that has not yet been fully understood, abandon the defilements that have not yet been abandoned, develop the path that has not yet been developed, or realize the cessation that has not yet been realized?’ Whatever desire, effort, exertion, striving, stamina, non-retreating, mindfulness, clear comprehension, ardor, endeavor, determination, and application there is in wholesome states—this is the meaning of ‘refrain from scruples and not be heedless’.
Về câu ‘Không nên dễ duôi’: Nên là người hành động một cách trân trọng, nên là người hành động một cách liên tục, nên là người hành động một cách kiên trì, nên có hạnh không co rút, nên không từ bỏ ý muốn, nên không từ bỏ gánh nặng, nên không dễ duôi trong các thiện pháp. (Nghĩ rằng:) ‘Khi nào ta sẽ làm cho viên mãn giới uẩn chưa viên mãn, hoặc sẽ hỗ trợ giới uẩn đã viên mãn bằng trí tuệ ở các nơi chốn ấy?’ Dục, tinh tấn, nỗ lực, cố gắng, sức mạnh, không thối chuyển, niệm, tỉnh giác, nhiệt tâm, cần mẫn, quyết định, chuyên chú, không dễ duôi trong các thiện pháp nào ở đó. (Nghĩ rằng:) ‘Khi nào ta sẽ làm cho viên mãn định uẩn chưa viên mãn... (tương tự)... tuệ uẩn... giải thoát uẩn... giải thoát tri kiến uẩn... Khi nào ta sẽ liễu tri khổ chưa được liễu tri, hoặc sẽ đoạn tận các phiền não chưa được đoạn tận, hoặc sẽ tu tập đạo chưa được tu tập, hoặc sẽ chứng ngộ diệt chưa được chứng ngộ?’ Dục, tinh tấn, nỗ lực, cố gắng, sức mạnh, không thối chuyển, niệm, tỉnh giác, nhiệt tâm, cần mẫn, quyết định, chuyên chú, không dễ duôi trong các thiện pháp nào ở đó. Đây là ý nghĩa của câu: ‘Nên từ bỏ hối hận, không nên dễ duôi’.
Athāsanesu sayanesu, appasaddesu bhikkhu vihareyyāti. Athāti padasandhi…pe… āsanaṃ vuccati yattha nisīdati – mañco pīṭhaṃ bhisi taṭṭikā cammakhaṇḍo tiṇasanthāro paṇṇasanthāro palālasanthāro. Sayanaṃ vuccati senāsanaṃ vihāro aḍḍhayogo pāsādo hammiyaṃ guhāti – athāsanesu sayanesu.
Regarding the phrase: ‘Then in seats and in resting places, a bhikkhu should dwell in places with little sound.’ Herein, ‘athā’ is a conjunction… A ‘seat’ is that on which one sits—a couch, a chair, a cushion, a mat, a piece of hide, a spread of grass, a spread of leaves, or a spread of straw. A ‘resting place’ is a lodging—a monastery, a half-gabled building, a palatial building, a storeyed building, or a cave. This is the meaning of ‘in seats and in resting places’.
Về câu ‘Và ở tại các chỗ ngồi, chỗ nằm, nơi ít tiếng động, vị tỳ khưu nên trú’. ‘Atha’ là sự nối từ... (tương tự)... Chỗ ngồi được gọi là nơi người ta ngồi – giường, ghế, nệm, chiếu, tấm da, thảm cỏ, thảm lá, thảm rơm. Chỗ nằm được gọi là sàng tọa, tịnh xá, nhà một mái, lầu đài, nhà có gác thượng, hang động. Đây là ý nghĩa của câu: ‘Và ở tại các chỗ ngồi, chỗ nằm’.
Appasaddesu bhikkhu vihareyyāti. Appasaddesu appanigghosesu vijanavātesu manussarāhasseyyakesu paṭisallānasāruppesu senāsanesu careyya vicareyya vihareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyyāti – athāsanesu sayanesu appasaddesu bhikkhu vihareyya.
‘A bhikkhu should dwell in places with little sound’ means: In lodgings that have little sound, little noise, are free from the drafts of people, are fit for human privacy, and are suitable for seclusion, one should fare, fare about, dwell, maintain the postures, proceed, preserve, sustain, and cause oneself to be sustained. Thus: ‘Then in seats and in resting places, in places with little sound, a bhikkhu should dwell’.
Về câu ‘Vị tỳ khưu nên trú ở nơi ít tiếng động’. Tại các sàng tọa ít tiếng động, ít tiếng ồn ào, vắng vẻ, kín đáo xa người, thích hợp cho việc độc cư, vị ấy nên đi, nên đi lại, nên trú, nên duy trì oai nghi, nên hành xử, nên bảo hộ, nên nuôi mạng, nên làm cho nuôi mạng. Đây là ý nghĩa của câu: ‘Và ở tại các chỗ ngồi, chỗ nằm, nơi ít tiếng động, vị tỳ khưu nên trú’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Jhāyī na pādalolassa, virame kukkuccā nappamajjeyya;
Athāsanesu sayanesu, appasaddesu bhikkhu vihareyyā’’ti.
“A meditator should not be restless with his feet; he should abstain from remorse and should not be heedless. Then, a monk should dwell in seats and lodgings where there is little sound.”
‘Vị thiền giả không nên có chân tay bồn chồn, nên từ bỏ sự hối hận, không nên phóng dật. Kế đó, vị tỳ khưu nên trú ở các chỗ ngồi, chỗ nằm vắng lặng.’
161.
161.
161.
Niddaṃ na bahulīkareyya, jāgariyaṃ bhajeyya ātāpī;
Tandiṃ māyaṃ hassaṃ khiḍḍaṃ, methunaṃ vippajahe savibhūsaṃ.
Being ardent, one should not indulge much in sleep; one should cultivate wakefulness. One should abandon sloth, deceit, laughter, play, and sexual practice together with its adornments.
Người có sự nhiệt tâm không nên ngủ nhiều, nên thực hành sự tỉnh thức. Nên từ bỏ sự lười biếng, sự lừa dối, sự cười giỡn, sự vui đùa, sự giao hợp cùng với các đồ trang sức.
Niddaṃ na bahulīkareyyāti. Rattindivaṃ chakoṭṭhāsaṃ kāretvā pañcakoṭṭhāsaṃ paṭipajjeyya ekakoṭṭhāsaṃ nippajjeyyāti – niddaṃ na bahulīkareyya.
As for 'One should not indulge much in sleep': Having divided the day and night into six parts, one should be awake for five parts and lie down for one part. This is the meaning of the phrase 'One should not indulge much in sleep'.
Về câu ‘Không nên ngủ nhiều’: Sau khi chia ngày và đêm thành sáu phần, nên thực hành (tỉnh thức) trong năm phần, nên nằm nghỉ trong một phần. Như thế là ‘không nên ngủ nhiều’.
Jāgariyaṃ bhajeyya ātāpīti. Idha bhikkhu divasaṃ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodheyya, rattiyā paṭhamaṃ yāmaṃ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodheyya, rattiyā majjhimaṃ yāmaṃ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṃ kappeyya pādepādaṃ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṃ manasikaritvā, rattiyā pacchimaṃ yāmaṃ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodheyya.
As for 'Being ardent, one should cultivate wakefulness': Here, a monk, during the day, should cleanse his mind of the hindrances by walking and by sitting. During the first watch of the night, he should cleanse his mind of the hindrances by walking and by sitting. During the middle watch of the night, he should adopt the lion's posture on his right side, placing one foot slightly over the other, and being mindful and clearly comprehending, he should establish in his mind the perception of rising. Having risen during the last watch of the night, he should cleanse his mind of the hindrances by walking and by sitting.
Về câu ‘Người có sự nhiệt tâm nên thực hành sự tỉnh thức’: Ở đây, vị tỳ khưu ban ngày nên gột sạch tâm khỏi các pháp triền cái bằng cách đi kinh hành và ngồi (thiền). Trong canh đầu của đêm, nên gột sạch tâm khỏi các pháp triền cái bằng cách đi kinh hành và ngồi (thiền). Trong canh giữa của đêm, nên nằm xuống trong tư thế con sư tử về phía hông bên phải, gác chân này lên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tác ý trong tâm tưởng về sự đứng dậy. Trong canh cuối của đêm, sau khi đã thức dậy, nên gột sạch tâm khỏi các pháp triền cái bằng cách đi kinh hành và ngồi (thiền).
Jāgariyaṃ bhajeyyāti jāgariyaṃ bhajeyya sambhajeyya seveyya niseveyya saṃseveyya paṭiseveyyāti – jāgariyaṃ bhajeyya.
As for 'One should cultivate wakefulness': One should cultivate, cultivate well, resort to, especially resort to, resort to well, and repeatedly resort to wakefulness. This is the meaning of 'One should cultivate wakefulness'.
Về câu ‘Nên thực hành sự tỉnh thức’: (Nghĩa là) nên thực hành sự tỉnh thức, nên thực hành tốt, nên thân cận, nên chuyên tâm, nên thân cận tốt, nên thực hành lặp đi lặp lại. Như thế là ‘nên thực hành sự tỉnh thức’.
Ātāpīti. Ātappaṃ vuccati vīriyaṃ †. Yo cetasiko vīriyārambho nikkamo parakkamo uyyāmo vāyāmo ussāho ussoḷhī thāmo ṭhiti asithilaparakkamatā anikkhittacchandatā anikkhittadhuratā dhurasampaggaho vīriyaṃ vīriyindriyaṃ vīriyabalaṃ sammāvāyāmo. Iminā ātāpena upeto samupeto upagato samupagato upapanno samupapanno samannāgato so vuccati ātāpīti – jāgariyaṃ bhajeyya ātāpī.
As for 'ardent': Energy is called ardency. Whatever mental undertaking of energy, exertion, striving, endeavor, effort, zeal, ardor, vigor, steadfastness, unremitting effort, the state of not laying down the desire for wholesome deeds, the state of not laying down the burden in wholesome matters, the taking up of the burden in wholesome matters, energy, the faculty of energy, the power of energy, and Right Effort—one who is endowed with this ardency, well endowed, has come to it, has come to it well, is possessed of it, is accomplished in it, is furnished with it, he is called 'ardent'. This is the meaning of the phrase 'Being ardent, one should cultivate wakefulness'.
Về từ ‘Nhiệt tâm’ (ātāpī): Sự nhiệt tâm (ātappa) được gọi là sự tinh tấn. Bất cứ sự khởi đầu tinh tấn nào thuộc về tâm, sự ra đi, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự gắng sức, sự hăng hái, sự kiên trì, sức mạnh, sự vững vàng, sự cố gắng không sút giảm, sự không từ bỏ ý muốn, sự không từ bỏ trách nhiệm, sự đảm đương trách nhiệm, sự tinh tấn, tinh tấn căn, tinh tấn lực, chánh tinh tấn. Vị nào được trang bị, được trang bị đầy đủ, đã đạt đến, đã đạt đến đầy đủ, đã thành tựu, đã thành tựu viên mãn, đã hội đủ sự nhiệt tâm này, vị ấy được gọi là người có sự nhiệt tâm (ātāpī). Như thế là ‘người có sự nhiệt tâm nên thực hành sự tỉnh thức’.
Tandiṃ māyaṃ hassaṃ khiḍḍaṃ, methunaṃ vippajahe savibhūsanti. Tandīti † tandī tandiyanā tandiyitattaṃ † tandimanakatā ālasyaṃ ālasyāyanā ālasyāyitattaṃ. Māyā vuccati vañcanikā cariyā. Idhekacco kāyena duccaritaṃ caritvā…pe… vācāya manasā duccaritaṃ caritvā tassa paṭicchādanahetu pāpikaṃ icchaṃ paṇidahati. Mā maṃ jaññāti † icchati, mā maṃ jaññāti saṅkappeti, mā maṃ jaññāti vācaṃ bhāsati, mā maṃ jaññāti kāyena parakkamati. Yā evarūpā māyāvitā accasarā vañcanā nikati nikiraṇā pariharaṇā gūhanā parigūhanā chādanā paricchādanā † anuttānīkammaṃ anāvikammaṃ vocchādanā pāpakiriyā – ayaṃ vuccati māyā. Hassanti idhekacco ativelaṃ dantavidaṃsakaṃ hasati. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘kumārakamidaṃ, bhikkhave, ariyassa vinaye yadidaṃ ativelaṃ dantavidaṃsakaṃ hasita’’nti.
He should abandon sloth, deceit, laughter, play, and sexual practice, together with adornments. `Sloth` means: sloth, the manner of slothfulness, the state of being slothful, a slothful state of mind, laziness, the manner of laziness, the state of being lazy. `Deceit` is called deceptive conduct. Here, a certain person, having engaged in misconduct with the body... with speech, or with the mind, establishes an evil wish for the purpose of concealing it: 'May they not know me,' he wishes; 'May they not know me,' he intends; 'May they not know me,' he speaks; 'May they not know me,' he strives with his body. Whatever is of such a nature—deceitfulness, craftiness, trickery, fraud, dissembling, evasion, hiding, concealing, covering up, thoroughly concealing, the act of not making plain, the act of not making manifest, complete concealment, evil action—this is called deceit. `Laughter` means: here, a certain person laughs excessively, showing his teeth. And this was said by the Blessed One: 'Monks, in the Discipline of the Noble One, this is childish, namely, this excessive laughter showing the teeth.'
Về câu ‘Nên từ bỏ sự lười biếng, sự lừa dối, sự cười giỡn, sự vui đùa, sự giao hợp cùng với các đồ trang sức’: ‘Lười biếng’ (tandī) là sự lười biếng, trạng thái lười biếng, bản chất lười biếng, tâm lười biếng, sự biếng nhác, trạng thái biếng nhác, bản chất biếng nhác. ‘Lừa dối’ (māyā) được gọi là hành vi gian trá. Ở đây, có người sau khi làm điều ác hạnh qua thân... qua lời, qua ý, vì muốn che giấu điều đó, họ khởi lên ý muốn xấu xa. Họ mong muốn: ‘Mong rằng họ không biết ta,’ họ suy nghĩ: ‘Mong rằng họ không biết ta,’ họ nói lời: ‘Mong rằng họ không biết ta,’ họ cố gắng bằng thân: ‘Mong rằng họ không biết ta.’ Bất cứ sự lừa dối, sự xảo trá, sự gian trá, sự lừa gạt, sự che đậy, sự giấu giếm, sự tránh né, sự ẩn giấu, sự che giấu kỹ, sự bao che, sự che đậy hoàn toàn, hành động không bộc lộ, hành động không hiển nhiên, sự che đậy khéo léo, hành vi xấu xa nào có tính chất như vậy – đây được gọi là sự lừa dối. Về ‘cười giỡn’ (hassa): Ở đây, có người cười quá mức, nhe cả răng ra. Điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này các tỳ khưu, trong giới luật của bậc Thánh, việc cười quá mức, nhe cả răng ra, là điều trẻ con.’
Khiḍḍāti dve khiḍḍā – kāyikā ca khiḍḍā vācasikā ca khiḍḍā. Katamā kāyikā khiḍḍā? Hatthīhipi kīḷanti, assehipi kīḷanti, rathehipi kīḷanti, dhanūhipi kīḷanti, aṭṭhapadehipi kīḷanti, dasapadehipi kīḷanti, ākāsepi kīḷanti, parihārapathepi kīḷanti, santikāyapi kīḷanti, khalikāyapi kīḷanti, ghaṭikāyapi kīḷanti, salākahatthenapi kīḷanti, akkhenapi kīḷanti, paṅkacīrenapi kīḷanti, vaṅkakenapi kīḷanti, mokkhacikāyapi kīḷanti, ciṅgulakenapi kīḷanti, pattāḷhakenapi kīḷanti, rathakenapi kīḷanti, dhanukenapi kīḷanti, akkharikāyapi kīḷanti, manesikāyapi kīḷanti, yathāvajjenapi kīḷanti – ayaṃ kāyikā khiḍḍā. Katamā vācasikā khiḍḍā? Mukhabherikaṃ † mukhālambaraṃ mukhaḍiṇḍimakaṃ † mukhavalimakaṃ mukhabheruḷakaṃ † mukhadaddarikaṃ nāṭakaṃ lāpaṃ gītaṃ davakammaṃ – ayaṃ vācasikā khiḍḍā.
"Play" is of two kinds: bodily play and verbal play. What is bodily play? They play with elephants, they play with horses, they play with chariots, they play with bows, they play at the eight-row game, they play at the ten-row game, they play in the sky, they play at the end of the path, they play by striking jacks, they play by throwing dice by hand, they play tip-cat, they play with a split bamboo stick, they play with dice, they play by blowing a leaf-pipe, they play with a small plough, they play by somersaulting, they play with a palm-leaf pinwheel, they play with a small leaf-cup, they play with a small chariot, they play with a small bow, they play by guessing letters, they play by guessing thoughts, they play by mimicking deformities—this is bodily play. What is verbal play? Beating a mouth-drum, making a joyful drum sound with the mouth, making the sound of a drum beaten with the mouth, reciting the manner of beating with the mouth, beating a drum-stick with the mouth, making a 'daddara' sound with the mouth, dancing, announcing the dice, singing a song, and joking—this is verbal play.
Về ‘vui đùa’ (khiḍḍā): Có hai loại vui đùa – vui đùa qua thân và vui đùa qua lời. Vui đùa qua thân là gì? Họ chơi với voi, chơi với ngựa, chơi với xe, chơi với cung, chơi cờ tám ô, chơi cờ mười ô, chơi nhào lộn trên không, chơi trò đi trên đường vòng, chơi ném sỏi, chơi trò tung hứng, chơi trò thổi kèn lá, chơi với cày nhỏ, chơi trò trồng cây chuối, chơi với chong chóng lá cọ, chơi với đồ chơi bằng lá, chơi với xe nhỏ, chơi với cung nhỏ, chơi trò đoán chữ, chơi trò đoán ý nghĩ, chơi trò giả làm người tàn tật – đây là sự vui đùa qua thân. Vui đùa qua lời là gì? Giả tiếng trống bằng miệng, giả tiếng nhạc bằng miệng, giả tiếng chiêng bằng miệng, giả tiếng sáo bằng miệng, giả tiếng trống lớn bằng miệng, giả tiếng trống nhỏ bằng miệng, diễn kịch, nói chuyện phiếm, ca hát, làm trò hề – đây là sự vui đùa qua lời.
Methunadhammo nāma yo so asaddhammo gāmadhammo vasaladhammo duṭṭhullo odakantiko rahasso dvayaṃdvayasamāpatti. Kiṃkāraṇā vuccati methunadhammo? Ubhinnaṃ rattānaṃ sārattānaṃ avassutānaṃ pariyuṭṭhitānaṃ pariyādinnacittānaṃ ubhinnaṃ sadisānaṃ dhammoti, taṃkāraṇā vuccati methunadhammo. Yathā ubho kalahakārakā methunakāti vuccanti, ubho bhaṇḍanakārakā…pe… ubho bhassakārakā… ubho adhikaraṇakārakā… ubho vivādakārakā… ubho vādino… ubho sallāpakā methunakāti vuccanti; evameva ubhinnaṃ rattānaṃ sārattānaṃ avassutānaṃ pariyuṭṭhitānaṃ pariyādinnacittānaṃ ubhinnaṃ sadisānaṃ dhammoti, taṃkāraṇā vuccati methunadhammo.
The practice of coupling is that which is an unrighteous practice, a village practice, a base practice, coarse, has washing with water as its end, is secret, and is the coming together of two by two. For what reason is it called the practice of coupling? It is the practice of two who are alike, who are impassioned, strongly impassioned, drenched by the folly of defilements, assailed by defilements, and whose minds are completely possessed; for that reason, it is called the practice of coupling. Just as two who are quarrelers are called a couple (methunaka), and two who are makers of strife… two who are chatterers… two who are litigants… two who are disputants… two who are proponents of views… two who are conversationalists are called a couple; in the same way, it is the practice of two who are alike, who are impassioned, strongly impassioned, drenched by the folly of defilements, assailed by defilements, and whose minds are completely possessed; for that reason, it is called the practice of coupling.
Pháp giao hợp (methunadhammo) là pháp bất thiện, là pháp của dân làng, là pháp của kẻ hạ tiện, là thô tục, có sự rửa ráy làm kết thúc, là việc kín đáo, là sự kết hợp của hai người. Vì lý do gì nó được gọi là pháp giao hợp? Đó là pháp (dhammo) của hai người (ubhinnaṃ) có lòng tham ái, có lòng tham ái mãnh liệt, bị ô nhiễm, bị ám ảnh, có tâm bị chiếm đoạt, hai người tương tự nhau; vì lý do đó nó được gọi là pháp giao hợp. Giống như hai người cãi vã được gọi là một cặp (methunakā), hai người gây gổ... hai người nói chuyện... hai người gây tranh chấp... hai người tranh luận... hai người có cùng quan điểm... hai người trò chuyện được gọi là một cặp; cũng vậy, đó là pháp của hai người có lòng tham ái, có lòng tham ái mãnh liệt, bị ô nhiễm, bị ám ảnh, có tâm bị chiếm đoạt, hai người tương tự nhau; vì lý do đó nó được gọi là pháp giao hợp.
Vibhūsāti dve vibhūsā – atthi agāriyassa vibhūsā, atthi pabbajitassa vibhūsā. Katamā agāriyassa vibhūsā? Kesā ca massu ca mālā ca gandhā ca vilepanā ca ābharaṇā ca pilandhanā ca vatthañca sayanāsanañca veṭhanañca ucchādanaṃ parimaddanaṃ nhāpanaṃ sambāhanaṃ ādāsaṃ añjanaṃ mālāvilepanaṃ mukhacuṇṇakaṃ mukhalepaṃ hatthabandhaṃ sikhābandhaṃ † daṇḍanāḷiyaṃ khaggaṃ chattaṃ citrā upāhanā uṇhīsaṃ maṇiṃ vāḷabījaniṃ odātāni vatthāni dīghadasāni iti vā – ayaṃ agāriyassa vibhūsā. Katamā pabbajitassa vibhūsā? Cīvaramaṇḍanā pattamaṇḍanā senāsanamaṇḍanā imassa vā pūtikāyassa bāhirānaṃ vā parikkhārānaṃ maṇḍanā vibhūsanā keḷanā parikeḷanā gedhitatā gedhitattaṃ capalatā cāpalyaṃ – ayaṃ pabbajitassa vibhūsā.
Regarding 'adornment', there are two kinds of adornment: there is the adornment of a householder, and there is the adornment of one who has gone forth. What is the adornment of a householder? Arranging the hair and grooming the beard; wearing garlands, applying perfumes, and applying ointments; wearing ornaments and accessories; garments, beds, and seats; a head-wrap, anointing the body, massaging, bathing, and stroking the limbs; looking in a mirror, applying collyrium, wearing garlands and applying ointments, applying face powder, and applying face-paste; a bracelet, tying the top-knot, an ornamented staff and tube, a sword, a parasol, ornate sandals, a turban, a jewel, a yak-tail whisk, and white garments with long fringes—or the like. This is the adornment of a householder. What is the adornment of one who has gone forth? Adorning the robe, adorning the bowl, and adorning the lodging; or the adorning of this foul body or of external requisites; special adornment, amusement, thorough amusement, greed, the state of being greedy, restlessness, and fickleness. This is the adornment of one who has gone forth.
Về sự trang điểm: có hai sự trang điểm – có sự trang điểm của người tại gia, có sự trang điểm của người xuất gia. Sự trang điểm của người tại gia là gì? Tóc và râu, vòng hoa và hương thơm, và vật thoa phết, đồ trang sức và vật đeo, y phục và giường ghế, khăn quấn, sự xoa bóp, sự chà xát, sự tắm rửa, sự đấm bóp, gương soi, thuốc kẻ mắt, vòng hoa và vật thoa phết, phấn thoa mặt, thuốc bôi mặt, vòng tay, vật buộc búi tóc, gậy và ống, gươm, lọng, giày dép sặc sỡ, khăn đội đầu, ngọc, quạt lông, các y phục trắng có tua dài, vân vân – đây là sự trang điểm của người tại gia. Sự trang điểm của người xuất gia là gì? Sự trang điểm y, sự trang điểm bát, sự trang điểm chỗ ở, hoặc sự tô điểm, sự trang điểm, sự vui đùa, sự vui đùa xung quanh, sự tham muốn, tính chất tham muốn, sự dao động, tính chất nông nổi đối với thân thể hôi thối này hoặc đối với các vật dụng bên ngoài – đây là sự trang điểm của người xuất gia.
Tandiṃ māyaṃ hassaṃ khiḍḍaṃ, methunaṃ vippajahe savibhūsanti. Tandiñca māyañca hassañca khiḍḍañca methunadhammañca savibhūsaṃ saparivāraṃ saparibhaṇḍaṃ saparikkhāraṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyyāti – tandiṃ māyaṃ hassaṃ khiḍḍaṃ, methunaṃ vippajahe savibhūsaṃ.
One should abandon sloth, deceit, laughter, play, and sexual intercourse, together with their adornments. Sloth, deceit, laughter, play, and the practice of sexual intercourse, together with adornment, with its retinue, with its accessories, and with its requisites—one should abandon, dispel, bring to an end, and cause to reach a state of non-existence. Thus: 'One should abandon sloth, deceit, laughter, play, and sexual intercourse, together with their adornments.'
Về câu ‘Nên từ bỏ sự lười biếng, lừa dối, vui cười, đùa giỡn, việc dâm dục cùng với sự trang điểm’: (Nghĩa là) nên từ bỏ, nên loại trừ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu sự lười biếng, sự lừa dối, sự vui cười, sự đùa giỡn, và pháp dâm dục cùng với sự trang điểm, cùng với đoàn tùy tùng, cùng với vật dụng, cùng với vật phụ thuộc của nó. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘Nên từ bỏ sự lười biếng, lừa dối, vui cười, đùa giỡn, việc dâm dục cùng với sự trang điểm.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Niddaṃ na bahulīkareyya, jāgariyaṃ bhajeyya ātāpī;
Tandiṃ māyaṃ hassaṃ khiḍḍaṃ, methunaṃ vippajahe savibhūsa’’nti.
“Being ardent, one should not indulge much in sleep but should cultivate wakefulness. One should abandon sloth, deceit, laughter, play, and sexual intercourse, together with their adornments.”
‘Bậc nhiệt tâm không nên ngủ nhiều, nên thực hành sự tỉnh thức; nên từ bỏ sự lười biếng, lừa dối, vui cười, đùa giỡn, việc dâm dục cùng với sự trang điểm.’
162.
162.
162.
Āthabbaṇaṃ supinaṃ lakkhaṇaṃ, no vidahe athopi nakkhattaṃ;
Virutañca gabbhakaraṇaṃ, tikicchaṃ māmako na seveyya.
My disciple should not practice Atharva spells, dream interpretation, the science of signs, nor, furthermore, astrology; he should not resort to the interpretation of animal cries, causing conception, or medical practice.
Người của ta không nên thực hành bùa chú, giải mộng, xem tướng, và cả chiêm tinh; (cũng không nên thực hành) giải đoán tiếng kêu của loài vật và thuật làm cho thụ thai, không nên thực hành việc chữa bệnh.
Āthabbaṇaṃ supinaṃ lakkhaṇaṃ, no vidahe athopi nakkhattanti. Āthabbaṇikā āthabbaṇaṃ payojenti, nagare vā ruddhe † saṅgāme vā paccupaṭṭhite parasenapaccatthikesu paccāmittesu ītiṃ uppādenti, upaddavaṃ uppādenti, rogaṃ uppādenti, pajjarakaṃ karonti, sūlaṃ karonti, visūcikaṃ karonti, pakkhandikaṃ karonti. Evaṃ āthabbaṇikā āthabbaṇaṃ payojenti.
Regarding 'Atharva spells, dreams, signs... he should not practice, nor, furthermore, astrology': Atharvan experts employ Atharva spells. In a besieged city or when battle is imminent, they cause calamity, disaster, and disease among the enemy forces and adversaries; they cause wasting disease, colic, cholera, and dysentery. Thus, Atharvan experts employ Atharva spells.
Về câu ‘Không nên thực hành bùa chú, giải mộng, xem tướng, và cả chiêm tinh’: Những người thực hành bùa chú thì thực hành bùa chú; khi thành phố bị bao vây hoặc khi trận chiến xảy ra, họ tạo ra tai ương, họ tạo ra hiểm họa, họ tạo ra bệnh tật, họ làm cho già yếu, họ gây ra đau nhói, họ gây ra bệnh tả, họ gây ra bệnh kiết lỵ đối với quân địch, kẻ thù, đối phương. Như vậy, những người thực hành bùa chú thì thực hành bùa chú.
Supinapāṭhakā supinaṃ ādisanti, yo pubbaṇhasamayaṃ supinaṃ passati, evaṃ vipāko hoti. Yo majjhanhikasamayaṃ † supinaṃ passati, evaṃ vipāko hoti. Yo sāyanhasamayaṃ supinaṃ passati, evaṃ vipāko hoti. Yo purime yāme…pe… yo majjhime yāme… yo pacchime yāme… yo dakkhiṇena passena nipanno… yo vāmena passena nipanno… yo uttānaṃ nipanno… yo avakujja nipanno… yo candaṃ passati… yo sūriyaṃ passati… yo mahāsamuddaṃ passati… yo sineruṃ pabbatarājānaṃ passati… yo hatthiṃ passati… yo assaṃ passati… yo rathaṃ passati… yo pattiṃ passati… yo senābyūhaṃ passati… yo ārāmarāmaṇeyyakaṃ passati… yo vanarāmaṇeyyakaṃ passati… yo bhūmirāmaṇeyyakaṃ passati… yo pokkharaṇīrāmaṇeyyakaṃ † passati, evaṃ vipāko hotīti. Evaṃ supinapāṭhakā supinaṃ ādisanti.
Dream readers declare dreams: one who sees a dream in the morning, such is its result. One who sees a dream at midday, such is its result. One who sees a dream in the evening, such is its result. One who sees a dream in the first watch… one who sees a dream in the middle watch… one who sees a dream in the last watch… one who lies down on the right side… one who lies down on the left side… one who lies down on the back… one who lies down face down… one who sees the moon… one who sees the sun… one who sees the great ocean… one who sees Mount Sineru, the king of mountains… one who sees an elephant… one who sees a horse… one who sees a chariot… one who sees infantry… one who sees an army array… one who sees a delightful park… one who sees a delightful forest… one who sees delightful land… one who sees a delightful lotus pond, such is its result. Thus do dream readers declare dreams.
Những người giải mộng thì giải đoán giấc mộng (như sau): ‘Người nào thấy mộng vào buổi sáng, kết quả sẽ là như vậy. Người nào thấy mộng vào buổi trưa, kết quả sẽ là như vậy. Người nào thấy mộng vào buổi chiều, kết quả sẽ là như vậy. Người nào (thấy mộng) vào canh đầu… người nào vào canh giữa… người nào vào canh cuối… người nào nằm nghiêng bên phải… người nào nằm nghiêng bên trái… người nào nằm ngửa… người nào nằm sấp… người nào thấy mặt trăng… người nào thấy mặt trời… người nào thấy biển lớn… người nào thấy vua núi Sineru… người nào thấy voi… người nào thấy ngựa… người nào thấy xe… người nào thấy bộ binh… người nào thấy quân đội dàn trận… người nào thấy khu vườn khả ái… người nào thấy khu rừng khả ái… người nào thấy vùng đất khả ái… người nào thấy hồ sen khả ái, kết quả sẽ là như vậy.’ Như vậy, những người giải mộng thì giải đoán giấc mộng.
Lakkhaṇapāṭhakā lakkhaṇaṃ ādisanti – maṇilakkhaṇaṃ daṇḍalakkhaṇaṃ vatthalakkhaṇaṃ asilakkhaṇaṃ usulakkhaṇaṃ dhanulakkhaṇaṃ āvudhalakkhaṇaṃ itthilakkhaṇaṃ purisalakkhaṇaṃ kumārikālakkhaṇaṃ kumāralakkhaṇaṃ dāsilakkhaṇaṃ dāsalakkhaṇaṃ hatthilakkhaṇaṃ assalakkhaṇaṃ mahiṃsalakkhaṇaṃ usabhalakkhaṇaṃ goṇalakkhaṇaṃ ajalakkhaṇaṃ meṇḍalakkhaṇaṃ kukkuṭalakkhaṇaṃ vaṭṭalakkhaṇaṃ godhālakkhaṇaṃ kaṇṇikālakkhaṇaṃ kacchapalakkhaṇaṃ migalakkhaṇaṃ iti vāti. Evaṃ lakkhaṇapāṭhakā lakkhaṇaṃ ādisanti.
Readers of characteristics declare the characteristics—the characteristic of a gem, the characteristic of a staff, the characteristic of a cloth, the characteristic of a sword, the characteristic of an arrow, the characteristic of a bow, the characteristic of a weapon, the characteristic of a woman, the characteristic of a man, the characteristic of a maiden, the characteristic of a youth, the characteristic of a female slave, the characteristic of a male slave, the characteristic of an elephant, the characteristic of a horse, the characteristic of a buffalo, the characteristic of a bull, the characteristic of an ox, the characteristic of a goat, the characteristic of a ram, the characteristic of a chicken, the characteristic of a quail, the characteristic of a monitor lizard, the characteristic of a mushroom, the characteristic of a tortoise, the characteristic of a wild animal, and so forth. Thus do readers of characteristics declare the characteristics.
Những người xem tướng thì giải đoán các tướng – tướng của ngọc, tướng của gậy, tướng của vải, tướng của gươm, tướng của tên, tướng của cung, tướng của vũ khí, tướng của phụ nữ, tướng của đàn ông, tướng của bé gái, tướng của bé trai, tướng của nữ tỳ, tướng của nam tỳ, tướng của voi, tướng của ngựa, tướng của trâu, tướng của bò đực, tướng của bò, tướng của dê, tướng của cừu, tướng của gà trống, tướng của chim cút, tướng của kỳ đà, tướng của vật trang sức tai, tướng của rùa, tướng của thú, vân vân. Như vậy, những người xem tướng thì giải đoán các tướng.
Nakkhattapāṭhakā nakkhattaṃ ādisanti. Aṭṭhavīsati nakkhattāni. Iminā nakkhattena gharappaveso kattabbo, iminā nakkhattena makuṭaṃ bandhitabbaṃ, iminā nakkhattena vāreyyaṃ kāretabbaṃ, iminā nakkhattena bījanīhāro † kattabbo, iminā nakkhattena saṃvāso † gantabboti. Evaṃ nakkhattapāṭhakā nakkhattaṃ ādisanti.
Readers of the constellations declare the constellations. There are twenty-eight constellations. 'With this constellation, entry into a house should be made; with this constellation, a crown should be bound; with this constellation, a marriage should be arranged; with this constellation, the bringing out of seeds should be done; with this constellation, cohabitation should be undertaken.' Thus do readers of the constellations declare the constellations.
Những người xem sao thì giải đoán các vì sao. Có hai mươi tám vì sao. (Họ nói rằng): ‘Vào sao này, nên làm lễ vào nhà mới; vào sao này, nên đội vương miện; vào sao này, nên tổ chức lễ cưới; vào sao này, nên gieo hạt; vào sao này, nên giao hợp.’ Như vậy, những người xem sao thì giải đoán các vì sao.
Āthabbaṇaṃ supinaṃ lakkhaṇaṃ, no vidahe athopi nakkhattanti. Āthabbaṇañca supinañca lakkhaṇañca nakkhattañca no vidaheyya na careyya na samācareyya na samādāya vatteyya. Atha vā na gaṇheyya na uggaṇheyya na dhāreyya na upadhāreyya na upalakkheyya nappayojeyyāti – āthabbaṇaṃ supinaṃ lakkhaṇaṃ, no vidahe athopi nakkhattaṃ.
Regarding the phrase 'Atharva spells, dreams, signs, and also constellations, one should not practice': One should not practice, should not conduct, should not perform, and should not undertake Atharva spells, dreams, signs, and constellations. Or, one should not grasp, should not learn, should not bear in mind, should not contemplate, should not observe, and should not apply them. This is the meaning of 'Atharva spells, dreams, signs, and also constellations, one should not practice'.
Về câu ‘Không nên thực hành bùa chú, giải mộng, xem tướng, và cả chiêm tinh’: (Nghĩa là) không nên thực hành, không nên làm, không nên thực hiện, không nên đảm nhận để thực hành bùa chú, giải mộng, xem tướng, và chiêm tinh. Hoặc là, không nên chấp nhận, không nên học hỏi, không nên ghi nhớ, không nên suy xét, không nên ghi nhận, không nên áp dụng. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘Không nên thực hành bùa chú, giải mộng, xem tướng, và cả chiêm tinh.’
Virutañca gabbhakaraṇaṃ, tikicchaṃ māmako na seveyyāti. Virutaṃ vuccati migavākkaṃ. Migavākkapāṭhakā † migavākkaṃ ādisanti – sakuntānaṃ vā catuppadānaṃ vā rutaṃ † vassitaṃ jānantīti. Evaṃ migavākkapāṭhakā migavākkaṃ ādisanti. Gabbhakaraṇīyā gabbhaṃ saṇṭhāpenti. Dvīhi kāraṇehi gabbho na saṇṭhāti – pāṇakehi vā vātakuppehi vā. Pāṇakānaṃ vā vātakuppānaṃ vā paṭighātāya osadhaṃ dentīti. Evaṃ gabbhakaraṇīyā gabbhaṃ saṇṭhāpenti. Tikicchāti pañca tikicchā – sālākiyaṃ, sallakattiyaṃ, kāyatikicchaṃ, bhūtiyaṃ, komārabhaccaṃ. Māmakoti buddhamāmako dhammamāmako saṅghamāmako, so vā bhagavantaṃ mamāyati bhagavā vā taṃ puggalaṃ pariggaṇhāti. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘ye te, bhikkhave, bhikkhū kuhā thaddhā lapā siṅgī unnaḷā asamāhitā na me te, bhikkhave, bhikkhū māmakā, apagatā ca te, bhikkhave, bhikkhū imasmā dhammavinayā, na ca te bhikkhū imasmiṃ dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti. Ye ca kho, bhikkhave, bhikkhū nikkuhā nillapā dhīrā atthaddhā susamāhitā te kho me, bhikkhave, bhikkhū māmakā na ca apagatā te, bhikkhave, bhikkhū imasmā dhammavinayā, te ca bhikkhū imasmiṃ dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti’’.
And the interpretation of animal calls, the practice of inducing conception, and medicine—a follower of mine should not engage in them. `Viruta` is called the speech of animals. Those who are versed in animal speech interpret animal calls—they know the calls and cries of birds or quadrupeds. Thus, those versed in animal speech interpret animal calls. Those who induce conception establish conception. For two reasons conception does not become established: due to parasites or due to wind disorders. They give medicine to counteract parasites or wind disorders. Thus, those who induce conception establish conception. Medicine refers to five types of treatments: ophthalmology, surgery, general medicine, exorcism, and pediatrics. 'A follower of mine' means one who is a follower of the Buddha, a follower of the Dhamma, a follower of the Sangha. Either he considers the Blessed One as his own, or the Blessed One accepts that person. For this was said by the Blessed One: 'Monks, those monks who are deceitful, obstinate, garrulous, ostentatious, arrogant, and uncollected—they are not followers of mine, monks; they have strayed from this Dhamma and Discipline, monks, and they do not attain growth, increase, or abundance in this Dhamma and Discipline. But those monks who are without deceit, without garrulity, wise, not obstinate, and well-collected—they are indeed followers of mine, monks; they have not strayed from this Dhamma and Discipline, monks, and they attain growth, increase, and abundance in this Dhamma and Discipline.'
Về câu: ‘Người mến mộ ta không nên thực hành việc giải đoán tiếng kêu của loài vật, việc làm cho thụ thai, và việc trị bệnh.’ Tiếng kêu của loài vật được gọi là ‘viruta.’ Những người đọc tiếng kêu của loài vật thì giải đoán tiếng kêu của loài vật – tức là họ biết tiếng rống hay tiếng kêu của các loài chim hoặc của các loài bốn chân. Như vậy, những người đọc tiếng kêu của loài vật thì giải đoán tiếng kêu của loài vật. Những người làm cho thụ thai thì làm cho thai được thành lập. Thai không thành lập do hai nguyên nhân: do các loài vi trùng hoặc do gió bị rối loạn. Họ cho thuốc để ngăn ngừa các loài vi trùng hoặc sự rối loạn của gió. Như vậy, những người làm cho thụ thai thì làm cho thai được thành lập. Về việc trị bệnh, có năm cách trị bệnh: khoa mắt, khoa ngoại, khoa nội, khoa trị tà ma, khoa nhi. Về ‘người mến mộ ta,’ đó là người mến mộ Phật, người mến mộ Pháp, người mến mộ Tăng; hoặc người ấy mến mộ Đức Thế Tôn, hoặc Đức Thế Tôn nhiếp thọ người ấy. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu nào xảo trá, cứng đầu, ba hoa, thích trang điểm, kiêu mạn, không định tĩnh, này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy không phải là người mến mộ ta. Và này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy đã đi ra khỏi Pháp và Luật này, và những Tỳ khưu ấy không đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Còn này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu nào không xảo trá, không ba hoa, có trí tuệ, không cứng đầu, có định tĩnh tốt, này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy chính là người mến mộ ta. Và này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy không đi ra khỏi Pháp và Luật này, và những Tỳ khưu ấy đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này.’”
‘‘Kuhā thaddhā lapā siṅgī, unnaḷā asamāhitā;
Na te dhamme virūhanti, sammāsambuddhadesite.
Deceitful, obstinate, garrulous, ostentatious, arrogant, and uncollected—they do not flourish in the Dhamma proclaimed by the Perfectly Self-Enlightened One.
“Những kẻ xảo trá, cứng đầu, ba hoa, thích trang điểm, kiêu mạn, không định tĩnh; họ không phát triển trong Giáo pháp do bậc Chánh Đẳng Giác thuyết giảng.
‘‘Nikkuhā nillapā dhīrā, atthaddhā susamāhitā;
Te ve dhamme virūhanti, sammāsambuddhadesite’’.
Without deceit, without garrulity, wise, not obstinate, and well-collected—they truly flourish in the Dhamma proclaimed by the Perfectly Self-Enlightened One.
“Những người không xảo trá, không ba hoa, có trí tuệ, không cứng đầu, có định tĩnh tốt; họ chắc chắn phát triển trong Giáo pháp do bậc Chánh Đẳng Giác thuyết giảng.”
Virutañca gabbhakaraṇaṃ, tikicchaṃ māmako na seveyyāti. Virutañca gabbhakaraṇañca tikicchañca māmako na seveyya na niseveyya na saṃseveyya nappaṭiseveyya na careyya na samācareyya na samādāya vatteyya. Atha vā na gaṇheyya na uggaṇheyya na dhāreyya na upadhāreyya na upalakkheyya nappayojeyyāti – virutañca gabbhakaraṇaṃ tikicchaṃ māmako na seveyya.
The interpretation of animal cries, the practice of inducing conception, and medical treatment—one who is devoted to me should not resort to them. One who is devoted to me should not resort to, not especially resort to, not well resort to, not resort again to, not practice, not practice well, not undertake and engage in the interpretation of animal cries, the practice of inducing conception, and medical treatment. Or alternatively, he should not take them up, not learn them, not bear them in mind, not closely bear them in mind, not observe them, not apply them. This is the meaning of: 'The interpretation of animal cries, the practice of inducing conception, and medical treatment—one who is devoted to me should not resort to them.'
Về câu: ‘Người mến mộ ta không nên thực hành việc giải đoán tiếng kêu của loài vật, việc làm cho thụ thai, và việc trị bệnh.’ Người mến mộ ta không nên thực hành, không nên thực hành một cách đặc biệt, không nên thực hành một cách tốt đẹp, không nên thực hành lại việc giải đoán tiếng kêu của loài vật, việc làm cho thụ thai, và việc trị bệnh; không nên làm, không nên làm một cách tốt đẹp, không nên thọ trì để hành động. Hoặc là, không nên nắm giữ, không nên học hỏi, không nên ghi nhớ, không nên ghi nhớ kỹ, không nên ghi nhận, không nên áp dụng – (đây là ý nghĩa của câu) ‘Người mến mộ ta không nên thực hành việc giải đoán tiếng kêu của loài vật, việc làm cho thụ thai, và việc trị bệnh.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Āthabbaṇaṃ supinaṃ lakkhaṇaṃ, no vidahe athopi nakkhattaṃ;
Virutañca gabbhakaraṇaṃ, tikicchaṃ māmako na seveyyā’’ti.
Atharva Veda spells, dream interpretation, the reading of bodily marks, and also astrology—one should not practice them. The interpretation of animal cries, the practice of inducing conception, and medical treatment—one who is devoted to me should not resort to them.
“‘Người mến mộ ta không nên thực hành bùa chú, giải mộng, tướng số, và cả chiêm tinh; không nên thực hành việc giải đoán tiếng kêu của loài vật, việc làm cho thụ thai, và việc trị bệnh.’”
163.
163.
163.
Nindāya nappavedheyya, na unnameyya pasaṃsito bhikkhu;
Lobhaṃ saha macchariyena, kodhaṃ pesuṇiyañca panudeyya.
A monk should not be shaken by blame, nor become elated when praised. He should dispel greed along with stinginess, and anger and malicious speech.
Không nên run sợ trước lời chỉ trích, vị Tỳ khưu được tán dương không nên kiêu ngạo; nên loại bỏ lòng tham cùng với sự bỏn xẻn, sân hận và lời nói đâm thọc.
Nindāya nappavedheyyāti. Idhekacce bhikkhū nindanti jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunā nindanti garahanti upavadanti, nindito garahito upavadito nindāya garahāya upavādena akittiyā avaṇṇahārikāya na vedheyya nappavedheyya na sampavedheyya na taseyya na uttaseyya na paritaseyya na bhāyeyya na santāsaṃ āpajjeyya, abhīrū assa achambhī anutrāsī apalāyī, pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃso vihareyyāti – nindāya nappavedheyya.
'He should not be shaken by blame': Here, some blame monks on account of birth, clan, family status, perfection of complexion, wealth, study, sphere of work, sphere of craft, basis of knowledge, learning, intelligence, or on some other account; they blame, censure, and reproach. Being blamed, censured, and reproached, he should not be shaken by blame, censure, reproach, ill-repute, or bringing dispraise; he should not be shaken, not especially be shaken, not be shaken all around. He should not be frightened, not especially be frightened, not be terrified all around. He should not be afraid, nor fall into anxiety. He should be fearless, unperturbed, untrembling, not fleeing; having abandoned fear and dread, with gooseflesh gone, he should dwell. This is the meaning of: 'He should not be shaken by blame.'
Về câu ‘Không nên run sợ trước lời chỉ trích.’ Ở đây, một số người chỉ trích các vị Tỳ khưu về dòng dõi, về gia tộc, về gia thế, về sắc đẹp, về tài sản, về học vấn, về nghề nghiệp, về kỹ năng, về kiến thức, về sự học rộng, về tài biện luận, hoặc về một vấn đề nào khác; họ chỉ trích, khiển trách, mắng nhiếc. Khi bị chỉ trích, bị khiển trách, bị mắng nhiếc, vị ấy không nên run rẩy, không nên run sợ, không nên dao động, không nên kinh hãi, không nên hoảng sợ, không nên khiếp sợ, không nên sợ hãi, không nên rơi vào trạng thái kinh hoàng bởi lời chỉ trích, lời khiển trách, lời mắng nhiếc, sự tai tiếng, sự mang lại tiếng xấu. Vị ấy nên là người không sợ hãi, không kinh ngạc, không hoảng hốt, không bỏ chạy; nên trú với sự sợ hãi và kinh hoàng đã được đoạn trừ, với sự dựng tóc gáy đã biến mất – đây là ý nghĩa của câu ‘Không nên run sợ trước lời chỉ trích.’
Na unnameyya pasaṃsito bhikkhūti. Idhekacce bhikkhū pasaṃsanti jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunā pasaṃsanti thomenti kittenti vaṇṇenti, pasaṃsito thomito kittito vaṇṇito pasaṃsāya thomanena kittiyā vaṇṇahārikāya unnatiṃ na kareyya unnamaṃ na kareyya mānaṃ na kareyya thambhaṃ na kareyya, na tena mānaṃ janeyya na tena thaddho assa patthaddho paggahitasiroti – na unnameyya pasaṃsito bhikkhu.
'A praised bhikkhu should not be elated' means: Here, some praise bhikkhus on account of birth, clan, family, perfection of complexion, wealth, study, sphere of work, sphere of craft, basis of knowledge, learning, eloquence, or on account of some other matter. They praise, commend, extol, and laud. Being praised, commended, extolled, and lauded, on account of such praise, commendation, fame, or lauding, he should not create elevation, he should not create inclination, he should not create conceit, he should not create stiffness. Because of that, he should not generate conceit. Because of that, he should not be stubborn, very stiff, or with head held high. This is the meaning of the phrase 'a praised bhikkhu should not be elated'.
Về câu ‘Vị Tỳ khưu được tán dương không nên kiêu ngạo.’ Ở đây, một số người tán dương các vị Tỳ khưu về dòng dõi, về gia tộc, về gia thế, về sắc đẹp, về tài sản, về học vấn, về nghề nghiệp, về kỹ năng, về kiến thức, về sự học rộng, về tài biện luận, hoặc về một vấn đề nào khác; họ tán dương, ca ngợi, tán thán, ca tụng. Khi được tán dương, được ca ngợi, được tán thán, được ca tụng, vị ấy không nên sinh tâm kiêu mạn, không nên sinh tâm tự cao, không nên sinh tâm ngã mạn, không nên sinh tâm cứng nhắc bởi lời tán dương, lời ca ngợi, sự tán thán, sự mang lại tiếng tốt. Vị ấy không nên sinh ngã mạn do điều đó, không nên trở nên cứng đầu, cứng nhắc, ngẩng cao đầu – đây là ý nghĩa của câu ‘Vị Tỳ khưu được tán dương không nên kiêu ngạo.’
Lobhaṃ saha macchariyena, kodhaṃ pesuṇiyañca panudeyyāti. Lobhoti yo lobho lubbhanā lubbhitattaṃ sārāgo sārajjanā sārajjitattaṃ abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Macchariyanti pañca macchariyāni – āvāsamacchariyaṃ…pe… gāho vuccati macchariyaṃ. Kodhoti yo cittassa āghāto paṭighāto paṭighaṃ paṭivirodho, kopo pakopo sampakopo, doso padoso sampadoso, cittassa byāpatti manopadoso, kodho kujjhanā kujjhitattaṃ, doso dussanā dussitattaṃ, byāpattiṃ byāpajjanā byāpajjitattaṃ, virodho paṭivirodho caṇḍikkaṃ asuropo anattamanatā cittassa. Pesuññanti idhekacco pisuṇavāco hoti ito sutvā amutra akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṃ akkhātā amūsaṃ bhedāya. Iti samaggānaṃ vā bhettā bhinnānaṃ vā anuppadātā, vaggārāmo vaggarato vagganandī vaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitā hoti – idaṃ vuccati pesuññaṃ.
'He should dispel greed along with stinginess, and anger and malicious speech'—What is greed? Greed is coveting, the state of coveting, being covetous; strong passion, the state of strong passion, being strongly impassioned; covetousness; greed is an unwholesome root. What is stinginess? There are five kinds of stinginess: stinginess about dwellings... (and so on)... grasping is called stinginess. What is anger? Anger is the mind's animosity, hostility, opposition, antagonism; fury, intense fury, utter fury; hate, intense hate, utter hate; affliction of the mind, mental corruption; anger, the state of being angry, being angered; hate, the state of hating, being hated; affliction, the state of affliction, being afflicted; opposition, counter-opposition; harshness, ill-will, displeasure of mind. What is malicious speech? Here, someone is a malicious speaker. Having heard something here, he reports it there in order to divide these people from those; or having heard something there, he reports it here in order to divide those people from these. Thus, he is either one who breaks up those who are united or one who encourages those who are divided, delighting in factions, rejoicing in factions, taking pleasure in factions, and speaking words that cause factions—this is called malicious speech.
Về câu ‘Nên loại bỏ lòng tham cùng với sự bỏn xẻn, sân hận và lời nói đâm thọc.’ Tham là sự tham lam, trạng thái tham lam, sự ham muốn, trạng thái ham muốn, bản chất ham muốn, sự thèm muốn, tham, là gốc rễ của bất thiện. Bỏn xẻn có năm loại: bỏn xẻn về trú xứ… (v.v.)… Sự nắm giữ được gọi là bỏn xẻn. Sân là sự phẫn uất của tâm, sự chống đối, sự oán ghét, sự thù địch, sự nổi giận, sự tức giận, sự phẫn nộ, sự sân hận, sự ác ý, sự căm phẫn, sự suy bại của tâm, sự ác tâm, sự giận dữ, trạng thái giận dữ, bản chất giận dữ, sự làm hại, trạng thái làm hại, bản chất làm hại, sự suy bại, trạng thái suy bại, bản chất suy bại, sự chống đối, sự thù địch, tính hung dữ, lời nói thô lỗ, sự không hài lòng của tâm. Nói đâm thọc là ở đây, có người nói lời chia rẽ, nghe ở đây rồi đi nói ở nơi kia để gây chia rẽ những người này, hoặc nghe ở nơi kia rồi đến nói với những người này để gây chia rẽ những người nọ. Như vậy, người ấy là kẻ gây chia rẽ những người đang hòa hợp, hoặc là kẻ xúi giục thêm những người đã chia rẽ; người ấy thích bè phái, vui trong bè phái, hoan hỷ trong bè phái, nói lời gây ra bè phái – đây được gọi là nói đâm thọc.
Api ca dvīhi kāraṇehi pesuññaṃ upasaṃharati – piyakamyatāya vā bhedādhippāyena vā. Kathaṃ piyakamyatāya pesuññaṃ upasaṃharati? Imassa piyo bhavissāmi manāpo bhavissāmi vissāsiko bhavissāmi abbhantariko bhavissāmi suhadayo bhavissāmīti. Evaṃ piyakamyatāya pesuññaṃ upasaṃharati. Kathaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharati? Kathaṃ ime nānā assu vinā assu vaggā assu dvedhā assu dvejjhā assu dve pakkhā assu bhijjheyyuṃ na samāgaccheyyuṃ dukkhaṃ na phāsu vihareyyunti. Evaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharati. Lobhaṃ saha macchariyena, kodhaṃ pesuṇiyañca panudeyyāti. Lobhañca macchariyañca kodhañca pesuññañca nudeyya panudeyya pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyyāti – lobhaṃ saha macchariyena, kodhaṃ pesuṇiyañca panudeyya.
Moreover, one engages in slanderous speech for two reasons: either out of a desire to be dear or with the intention to cause division. How does one engage in slanderous speech out of a desire to be dear? Thinking, ‘I will be dear to this person, agreeable, trusted, an intimate, and a good friend.’ Thus, one engages in slanderous speech out of a desire to be dear. How does one engage in slanderous speech with the intention to cause division? Thinking, ‘How can these people become separate, estranged, factional, split, of two minds, of two factions, broken apart, not united, and live with difficulty, not comfortably?’ Thus, one engages in slanderous speech with the intention to cause division. ‘One should dispel greed along with stinginess, and anger and slanderous speech.’ Greed, stinginess, anger, and slanderous speech should be dispelled, utterly dispelled, abandoned, removed, eliminated, and brought to non-existence. This is the meaning of the phrase: ‘One should dispel greed along with stinginess, and anger and slanderous speech.’
Lại nữa, người ấy thực hiện lời nói đâm thọc do hai nguyên nhân: hoặc do muốn được thương mến, hoặc do có chủ ý chia rẽ. Thế nào là thực hiện lời nói đâm thọc do muốn được thương mến? (Nghĩ rằng:) ‘Ta sẽ là người được thương mến của người này, ta sẽ là người làm hài lòng, ta sẽ là người được tin cậy, ta sẽ là người thân cận, ta sẽ là người có thiện tâm.’ Như vậy là thực hiện lời nói đâm thọc do muốn được thương mến. Thế nào là thực hiện lời nói đâm thọc do có chủ ý chia rẽ? (Nghĩ rằng:) ‘Làm thế nào để những người này trở nên khác biệt, trở nên xa cách, trở nên bè phái, trở nên hai phe, trở nên hai ý, trở nên hai nhóm, mong rằng họ bị chia rẽ, mong rằng họ không hòa hợp, mong rằng họ sống khổ sở không được an ổn.’ Như vậy là thực hiện lời nói đâm thọc do có chủ ý chia rẽ. Về câu ‘Nên loại trừ lòng tham cùng với sự bỏn xẻn, sân hận và lời nói đâm thọc,’ (có nghĩa là): nên xua đuổi, nên loại trừ, nên từ bỏ, nên trừ bỏ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu lòng tham và sự bỏn xẻn, sân hận và lời nói đâm thọc. Đây là ý nghĩa của câu ‘Nên loại trừ lòng tham cùng với sự bỏn xẻn, sân hận và lời nói đâm thọc.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Nindāya nappavedheyya, na unnameyya pasaṃsito bhikkhu;
Lobhaṃ saha macchariyena, kodhaṃ pesuṇiyañca panudeyyā’’ti.
“A monk should not be shaken by blame, nor should he become elated when praised. He should dispel greed along with stinginess, and anger and slanderous speech.”
‘Vị tỳ khưu không nên dao động bởi lời chỉ trích, không nên tự cao khi được tán dương; nên loại trừ lòng tham cùng với sự bỏn xẻn, sân hận và lời nói đâm thọc.’
164.
164.
164.
Kayavikkaye na tiṭṭheyya, upavādaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñci;
Gāme ca nābhisajjeyya, lābhakamyā janaṃ na lapayeyya.
A monk should not engage in buying and selling, nor should he disparage anyone anywhere. He should not be attached to a village, nor should he cajole people for the sake of gain.
Không nên tham gia vào việc mua bán, vị tỳ khưu không nên khiển trách bất cứ ai ở bất cứ đâu; và không nên dính mắc ở trong làng, không nên nói chuyện với người đời vì muốn được lợi lộc.
Kayavikkaye na tiṭṭheyyāti. Ye kayavikkayā vinaye paṭikkhittā na te imasmiṃ atthe adhippetā. Kathaṃ kayavikkaye tiṭṭhati? Pañcannaṃ saddhiṃ pattaṃ vā cīvaraṃ vā aññaṃ vā kiñci parikkhāraṃ vañcaniyaṃ vā karonto udayaṃ vā patthayanto parivatteti. Evaṃ kayavikkaye tiṭṭhati. Kathaṃ kayavikkaye na tiṭṭhati? Pañcannaṃ saddhiṃ pattaṃ vā cīvaraṃ vā aññaṃ vā kiñci parikkhāraṃ na vañcaniyaṃ vā karonto na udayaṃ vā patthayanto parivatteti. Evaṃ kayavikkaye na tiṭṭhati. Kayavikkaye na tiṭṭheyyāti. Kayavikkaye na tiṭṭheyya na santiṭṭheyya, kayavikkayaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, kayavikkayā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – kayavikkaye na tiṭṭheyya.
‘One should not engage in buying and selling.’ Those types of buying and selling that are prohibited in the Vinaya are not intended in this context. How does one engage in buying and selling? By exchanging a bowl, a robe, or any other requisite with one's companions while practicing deception or desiring profit. This is how one engages in buying and selling. How does one not engage in buying and selling? By exchanging a bowl, a robe, or any other requisite with one's companions while not practicing deception and not desiring profit. This is how one does not engage in buying and selling. ‘One should not engage in buying and selling’ means: one should not engage, should not persist, in buying and selling; one should abandon buying and selling, should dispel it, should eliminate it, should bring it to non-existence. One should be aloof from buying and selling, abstinent, withdrawn, departed, detached, liberated, and disjoined from it; one should dwell with a mind that is without limitations. Thus, one should not engage in buying and selling.
Về câu ‘Không nên tham gia vào việc mua bán,’ những việc mua bán nào đã bị cấm trong Luật tạng thì không được chủ ý đến trong ý nghĩa này. Thế nào là tham gia vào việc mua bán? (Là khi) cùng với năm hạng người, trong khi làm cho bình bát, hoặc y, hoặc vật dụng nào khác trở thành vật lừa dối, hoặc trong khi mong muốn lợi nhuận, vị ấy trao đổi. Như vậy là tham gia vào việc mua bán. Thế nào là không tham gia vào việc mua bán? (Là khi) cùng với năm hạng người, trong khi không làm cho bình bát, hoặc y, hoặc vật dụng nào khác trở thành vật lừa dối, hoặc trong khi không mong muốn lợi nhuận, vị ấy trao đổi. Như vậy là không tham gia vào việc mua bán. Về câu ‘Không nên tham gia vào việc mua bán,’ (có nghĩa là) không nên tham gia, không nên dính líu vào việc mua bán; nên từ bỏ, nên trừ bỏ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu việc mua bán; nên xa lánh, nên từ bỏ, nên hoàn toàn từ bỏ việc mua bán; nên thoát ra, nên thoát ly, nên hoàn toàn giải thoát, nên không còn liên hệ; nên sống với tâm không bị giới hạn. Đây là ý nghĩa của câu ‘Không nên tham gia vào việc mua bán.’
Upavādaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñcīti. Katame upavādakarāti kilesā? Santeke samaṇabrāhmaṇā iddhimanto dibbacakkhukā paracittaviduno, te dūratopi passanti āsannāpi na dissanti cetasāpi cittaṃ pajānanti, devatāpi kho santi iddhimantiniyo dibbacakkhukā paracittaviduniyo, tā dūratopi passanti, āsannāpi na dissanti cetasāpi cittaṃ pajānanti. Te oḷārikehi vā kilesehi majjhimehi vā kilesehi sukhumehi vā kilesehi upavadeyyuṃ. Katame oḷārikā kilesā? Kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritaṃ – ime vuccanti oḷārikā kilesā. Katame majjhimā kilesā? Kāmavitakko byāpādavitakko vihiṃsāvitakko – ime vuccanti majjhimā kilesā. Katame sukhumā kilesā? Ñātivitakko, janapadavitakko, aparavitakko, parānudayatā paṭisaññutto vitakko, lābhasakkārasilokapaṭisaññutto vitakko, anavaññattipaṭisaññutto vitakko – ime vuccanti sukhumā kilesā. Te oḷārikehi vā kilesehi majjhimehi vā kilesehi sukhumehi vā kilesehi na upavadeyya upavādaṃ na kareyya upavādakare kilese na kareyya na janeyya na sañjaneyya na nibbatteyya nābhinibbatteyya, upavādakare kilese pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, upavādakarehi kilesehi ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyya. Kuhiñcīti kuhiñci kimhici katthaci ajjhattaṃ vā bahiddhā vā ajjhattabahiddhā vāti – upavādaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñci.
‘A bhikkhu should not engage in disparagement anywhere.’ What are the disparagement-causing defilements? There are some ascetics and brahmins possessing psychic power, the divine eye, and knowledge of others’ minds. They see from afar, yet are not seen even when near; they understand mind with mind. There are also deities possessing psychic power, the divine eye, and knowledge of others’ minds. They see from afar, yet are not seen even when near; they understand mind with mind. They might disparage with coarse, middling, or subtle defilements. What are coarse defilements? Bodily misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct—these are called coarse defilements. What are middling defilements? Thoughts of sensuality, thoughts of ill will, and thoughts of harm—these are called middling defilements. What are subtle defilements? Thoughts about relatives, thoughts about the native land, thoughts of immortality, thoughts connected with compassion for others, thoughts connected with gain, honor, and fame, thoughts connected with avoiding contempt—these are called subtle defilements. One should not disparage with coarse, middling, or subtle defilements; one should not engage in disparagement, nor make, generate, produce, or bring forth disparagement-causing defilements. One should abandon, dispel, eliminate, and bring to an end disparagement-causing defilements. One should be aloof, abstinent, withdrawn, departed, detached, freed, and thoroughly detached from disparagement-causing defilements, and dwell with a mind without limits. ‘Anywhere’ means in any respect, in any place, internally or externally, or both internally and externally. Thus, a bhikkhu should not engage in disparagement anywhere.
Về câu ‘Vị tỳ khưu không nên khiển trách bất cứ ai ở bất cứ đâu,’ những phiền não nào là nguyên nhân của sự khiển trách? Có một số sa-môn, bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, biết được tâm của người khác; các vị ấy thấy được từ xa, dù ở gần cũng không bị thấy, và biết được tâm (của người khác) bằng tâm (của mình). Lại nữa, cũng có các vị chư thiên có thần thông, có thiên nhãn, biết được tâm của người khác; các vị chư thiên ấy thấy được từ xa, dù ở gần cũng không bị thấy, và biết được tâm (của người khác) bằng tâm (của mình). Các vị ấy có thể khiển trách do các phiền não thô thiển, hoặc các phiền não bậc trung, hoặc các phiền não vi tế. Những phiền não thô thiển là gì? Thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành – những điều này được gọi là các phiền não thô thiển. Những phiền não bậc trung là gì? Dục tầm, sân tầm, hại tầm – những điều này được gọi là các phiền não bậc trung. Những phiền não vi tế là gì? Tầm về quyến thuộc, tầm về quốc độ, tầm về sự bất tử, tầm liên quan đến lòng thương mến người khác, tầm liên quan đến lợi lộc, cung kính, danh tiếng, tầm liên quan đến việc không bị khinh thường – những điều này được gọi là các phiền não vi tế. Vị ấy không nên khiển trách do các phiền não thô thiển, hoặc các phiền não bậc trung, hoặc các phiền não vi tế; không nên khiển trách, không nên tạo ra các phiền não là nguyên nhân của sự khiển trách, không nên làm cho sanh khởi, không nên làm cho phát sanh, không nên làm cho hiện hữu, không nên làm cho hoàn toàn hiện hữu; nên từ bỏ, nên trừ bỏ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu các phiền não là nguyên nhân của sự khiển trách; nên xa lánh, nên từ bỏ, nên hoàn toàn từ bỏ các phiền não là nguyên nhân của sự khiển trách; nên thoát ra, nên thoát ly, nên hoàn toàn giải thoát, nên không còn liên hệ; nên sống với tâm không bị giới hạn. Về từ ‘bất cứ đâu,’ (có nghĩa là) ở bất cứ đâu, trong bất cứ cái gì, ở nơi nào, hoặc ở bên trong, hoặc ở bên ngoài, hoặc cả bên trong lẫn bên ngoài. Đây là ý nghĩa của câu ‘Vị tỳ khưu không nên khiển trách bất cứ ai ở bất cứ đâu.’
Gāme ca nābhisajjeyyāti. Kathaṃ gāme sajjati? Idha bhikkhu gāme gihīhi saṃsaṭṭho viharati sahanandī sahasokī sukhitesu sukhito dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu attanā voyogaṃ āpajjati. Evampi gāme sajjati.
‘And one should not be attached in the village.’ How is one attached in the village? Here, a bhikkhu dwells in the village associated with householders, rejoicing together and sorrowing together; happy when they are happy, and afflicted when they are afflicted. When duties and obligations arise, he himself undertakes the effort. In this way also, one is attached in the village.
Về câu ‘Và không nên dính mắc ở trong làng,’ thế nào là dính mắc ở trong làng? Ở đây, vị tỳ khưu sống giao du với hàng tại gia ở trong làng, cùng vui, cùng buồn, vui khi họ vui, buồn khi họ buồn, và khi có công việc cần làm phát sanh, tự mình dấn thân vào. Như vậy cũng là dính mắc ở trong làng.
Atha vā bhikkhu pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṃvutehi indriyehi. So tatra tatra sajjati tatra tatra gaṇhāti tatra tatra bajjhati tatra tatra anayabyasanaṃ āpajjati. Evampi gāme sajjati.
Or else, a bhikkhu, having dressed in the morning and taken his bowl and robe, enters a village or town for alms-food with an unguarded body, unguarded speech, an unguarded mind, with mindfulness unestablished, and with unrestrained senses. He is attached here and there, grasps here and there, is bound here and there, and meets with calamity and ruin here and there. In this way also, one is attached in the village.
Hoặc là, vào buổi sáng, vị tỳ khưu sau khi đắp y, mang bát và y, đi vào làng hoặc thị trấn để khất thực với thân không được phòng hộ, với lời nói không được phòng hộ, với tâm không được phòng hộ, với niệm không được an trú, với các căn không được thu thúc. Vị ấy dính mắc ở nơi này nơi kia, nắm giữ ở nơi này nơi kia, bị trói buộc ở nơi này nơi kia, gặp phải bất hạnh và tai họa ở nơi này nơi kia. Như vậy cũng là dính mắc ở trong làng.
Kathaṃ gāme na sajjati? Idha bhikkhu gāme gihīhi asaṃsaṭṭho viharati na sahanandī na sahasokī na sukhitesu sukhito na dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu na attanā voyogaṃ āpajjati. Evampi gāme na sajjati.
How is one not attached in the village? Here, a bhikkhu dwells in the village unassociated with householders, not rejoicing together and not sorrowing together; not happy when they are happy, and not afflicted when they are afflicted. When duties and obligations arise, he himself does not undertake the effort. In this way also, one is not attached in the village.
Thế nào là không dính mắc ở trong làng? Ở đây, vị tỳ khưu sống không giao du với hàng tại gia ở trong làng, không cùng vui, không cùng buồn, không vui khi họ vui, không buồn khi họ buồn, và khi có công việc cần làm phát sanh, tự mình không dấn thân vào. Như vậy cũng là không dính mắc ở trong làng.
Atha vā bhikkhu pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya pavisati rakkhiteneva kāyena rakkhitāya vācāya rakkhitena cittena upaṭṭhitāya satiyā saṃvutehi indriyehi. So tatra tatra na sajjati tatra tatra na gaṇhāti tatra tatra na bajjhati tatra tatra na anayabyasanaṃ āpajjati. Evampi gāme na sajjati. Gāme ca nābhisajjeyyāti gāme na sajjeyya na gaṇheyya na bajjheyya na palibajjheyya, agiddho assa agadhito amucchito anajjhosanno vītagedho vigatagedho cattagedho…pe… brahmabhūtena attanā vihareyyāti – gāme ca nābhisajjeyya.
Or else, a bhikkhu, having dressed in the morning and taken his bowl and robe, enters a village or town for alms-food with a guarded body, guarded speech, a guarded mind, with mindfulness established, and with restrained senses. He is not attached here and there, does not grasp here and there, is not bound here and there, and does not meet with calamity and ruin here and there. In this way also, one is not attached in the village. 'And one should not be attached in the village' means: one should not be attached, should not grasp, should not be bound, should not be entangled. One should be without greed, without craving, uninfatuated, unattached, rid of greed, devoid of greed, having abandoned greed... and should dwell with a self that has become sublime.
Hoặc là, vị tỳ khưu vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang theo y bát, đi vào làng hoặc thị trấn để khất thực, với thân được phòng hộ, với khẩu được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được thu thúc. Vị ấy ở nơi này nơi kia không dính mắc, ở nơi này nơi kia không nắm giữ, ở nơi này nơi kia không bị trói buộc, ở nơi này nơi kia không gặp phải sự bất hạnh và tai họa. Như thế, vị ấy không dính mắc ở trong làng. (Giải thích câu) 'Và không nên dính mắc ở trong làng' có nghĩa là: ở trong làng, không nên dính mắc, không nên nắm giữ, không nên bị trói buộc, không nên bị ràng buộc xung quanh; nên là người không tham lam, không tham ái, không mê muội, không đắm nhiễm, đã từ bỏ tham ái, đã đoạn trừ tham ái, đã vứt bỏ tham ái, ... nên sống với tâm thanh cao. – (Đây là ý nghĩa của câu) 'Và không nên dính mắc ở trong làng'.
Lābhakamyā janaṃ na lapayeyyāti. Katamā lapanā? Lābhasakkārasilokasannissitassa pāpicchassa icchāpakatassa āmisacakkhukassa lokadhammagarukassa yā paresaṃ ālapanā lapanā sallapanā ullapanā samullapanā unnahanā samunnahanā ukkācanā samukkācanā † anupiyabhāṇitā cātukamyatā muggasūpyatā pāribhaṭayatā parapiṭṭhimaṃsikatā †, yā tattha saṇhavācatā sakhilavācatā sithilavācatā † apharusavācatā – ayaṃ vuccati lapanā.
‘One should not speak to people out of a desire for gain.’ What is speaking? It is the addressing, talking, conversing, extolling, greatly extolling, cajoling, fawning, praising, greatly praising, endearing speech, flattery, insincere talk, servility, and backbiting towards others on the part of one who is dependent on gain, honor, and fame, who has evil wishes, is overcome by desire, has an eye for material things, and esteems worldly things; and whatever gentle speech, friendly speech, lax speech, and non-harsh speech there is in that context—this is called speaking.
(Giải thích câu) 'Không nên nói năng với người khác vì mong cầu lợi lộc'. Thế nào là sự nói năng (lapanā)? Đối với người dựa vào lợi lộc, cung kính, danh tiếng, có ước muốn xấu xa, bị ước muốn xấu xa chi phối, có con mắt chỉ hướng đến tài vật, xem trọng các pháp thế gian, thì những hành vi sau đây đối với người khác: sự nói chuyện, sự nói năng, sự trò chuyện thân mật, sự tâng bốc, sự tâng bốc hoàn toàn, sự đề cao, sự đề cao hoàn toàn, sự ca tụng, sự ca tụng hoàn toàn, sự nói lời thân ái (để được vật dụng), sự nịnh hót, sự nói lời hai mặt (như canh đậu), sự nuôi dưỡng (con cái của thí chủ), sự nói xấu sau lưng (như ăn thịt sau lưng), và ở đó, sự nói lời dịu dàng, sự nói lời ngọt ngào, sự nói lời lơi lỏng, sự nói lời không thô lỗ – đây được gọi là sự nói năng (lapanā).
Api ca dvīhi kāraṇehi janaṃ lapati – attānaṃ vā nīcaṃ ṭhapento paraṃ uccaṃ ṭhapento janaṃ lapati, attānaṃ vā uccaṃ ṭhapento paraṃ nīcaṃ ṭhapento janaṃ lapati. Kathaṃ attānaṃ nīcaṃ ṭhapento paraṃ uccaṃ ṭhapento janaṃ lapati? ‘‘Tumhe me bahūpakārā, ahaṃ tumhe nissāya labhāmi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ, yepi me aññe dātuṃ vā kātuṃ vā maññanti, tumhe nissāya tumhe sampassantā yampi me purāṇaṃ mātāpettikaṃ nāmadheyyaṃ tampi me antarahitaṃ. Tumhehi ahaṃ ñāyāmi asukassa kulūpako asukāya kulūpako’’ti. Evaṃ attānaṃ nīcaṃ ṭhapento paraṃ uccaṃ ṭhapento janaṃ lapati.
Moreover, one speaks to people for two reasons: either by lowering oneself and raising others, or by raising oneself and lowering others. How does one speak to people by lowering oneself and raising others? ‘You are very helpful to me; I depend on you to obtain robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites. Even others who might think to give or do something for me do so because of you, upon seeing you. Even my former ancestral name has disappeared. Through you I am known as the attendant monk of so-and-so's family and the attendant monk of so-and-so's family.’ Thus one speaks to people by lowering oneself and raising others.
Lại nữa, vì hai lý do mà người ta nói năng với người khác: hoặc là hạ mình xuống và nâng người khác lên mà nói năng với họ, hoặc là nâng mình lên và hạ người khác xuống mà nói năng với họ. Thế nào là hạ mình xuống và nâng người khác lên mà nói năng với họ? (Họ nói rằng:) 'Quý vị là những người có nhiều ân huệ đối với tôi, nhờ quý vị mà tôi nhận được y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc men trị bệnh và các vật dụng cần thiết. Ngay cả những người khác có ý định cúng dường hay làm điều gì cho tôi, cũng là nhờ quý vị, khi thấy quý vị (họ mới làm theo). Ngay cả tên họ cũ của cha mẹ tôi cũng đã biến mất. Nhờ quý vị mà tôi được biết đến là vị thầy thân cận của gia đình ông kia, là vị thầy thân cận của gia đình bà nọ'. Như vậy là hạ mình xuống và nâng người khác lên mà nói năng với họ.
Kathaṃ attānaṃ uccaṃ ṭhapento paraṃ nīcaṃ ṭhapento janaṃ lapati? ‘‘Ahaṃ tumhākaṃ bahūpakāro, tumhe maṃ āgamma buddhaṃ saraṇaṃ gatā, dhammaṃ saraṇaṃ gatā, saṅghaṃ saraṇaṃ gatā, pāṇātipātā paṭiviratā, adinnādānā paṭiviratā, kāmesumicchācārā paṭiviratā, musāvādā paṭiviratā, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā paṭiviratā. Ahaṃ tumhākaṃ uddesaṃ demi, paripucchaṃ demi, uposathaṃ ācikkhāmi, navakammaṃ adhiṭṭhāmi. Atha pana tumhe maṃ ujjhitvā aññe sakkarotha garuṃ karotha mānetha pūjethā’’ti. Evaṃ attānaṃ uccaṃ ṭhapento paraṃ nīcaṃ ṭhapento janaṃ lapati.
How does one, exalting oneself and disparaging others, speak to people? ‘I have been of great benefit to you. It is because of me that you have gone to the Buddha for refuge, gone to the Dhamma for refuge, and gone to the Saṅgha for refuge. You have abstained from the destruction of life, abstained from taking what is not given, abstained from sexual misconduct, abstained from false speech, and abstained from liquor, wine, and intoxicants which are the basis for heedlessness. I give you the Pāli text, I give you the commentary, I announce the Uposatha, I undertake new construction work. Yet you, having abandoned me, honor, respect, esteem, and venerate others.’ Thus, exalting oneself and disparaging others, one speaks to people.
Thế nào là nâng mình lên và hạ người khác xuống mà nói năng với họ? (Họ nói rằng:) 'Tôi là người có nhiều ân huệ đối với quý vị. Nhờ tôi mà quý vị đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng; đã từ bỏ sát sanh, đã từ bỏ trộm cắp, đã từ bỏ tà dâm, đã từ bỏ nói dối, đã từ bỏ việc uống rượu và các chất say là nguyên nhân của sự dể duôi. Tôi dạy Pāli cho quý vị, tôi giải thích (Chú giải) cho quý vị, tôi thuyết giảng về ngày Bố-tát, tôi hướng dẫn công việc xây dựng mới. Thế mà quý vị lại bỏ rơi tôi để đi tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường những người khác'. Như vậy là nâng mình lên và hạ người khác xuống mà nói năng với họ.
Lābhakamyā janaṃ na lapayeyyāti. Lābhahetu lābhapaccayā lābhakāraṇā lābhābhinibbattiyā lābhaṃ paripācento janaṃ na lapayeyya, lapanaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, lapanā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – lābhakamyā janaṃ na lapayeyya.
As to the phrase, ‘One should not speak to people out of a desire for gain’: For the sake of gain, on account of gain, motivated by gain, for the purpose of generating much gain, while developing gain, one should not speak to people. One should abandon that speaking, dispel it, eliminate it, and bring it to non-existence. One should be aloof from speaking, abstinent from it, withdrawn from it, departed from it, detached from it, completely freed from it, and disjoined from it. One should dwell with a boundless mind. This is the meaning of the phrase, ‘One should not speak to people out of a desire for gain.’
(Giải thích câu) 'Không nên nói năng với người khác vì mong cầu lợi lộc'. Vì nhân là lợi lộc, vì duyên là lợi lộc, vì nguyên do là lợi lộc, vì sự phát sinh lợi lộc, trong khi làm cho lợi lộc tăng trưởng, không nên nói năng với người khác. Nên từ bỏ sự nói năng, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho nó không còn tồn tại. Từ sự nói năng, nên xa lánh, nên từ bỏ, nên tránh xa, nên thoát ra, nên giải thoát, nên hoàn toàn giải thoát, nên không còn liên hệ, nên sống với tâm không còn giới hạn. – (Đây là ý nghĩa của câu) 'Không nên nói năng với người khác vì mong cầu lợi lộc'.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Kayavikkaye na tiṭṭheyya, upavādaṃ bhikkhu na kareyya kuhiñci;
Gāme ca nābhisajjeyya, lābhakamyā janaṃ na lapayeyyā’’ti.
‘One should not engage in buying and selling; a bhikkhu should not create disparagement anywhere; one should not be attached to a village; and one should not speak to people out of a desire for gain.’
"Không nên tham gia vào việc mua bán, vị tỳ khưu không nên khiển trách bất cứ ai ở bất cứ đâu; và không nên dính mắc ở trong làng, không nên nói năng với người khác vì mong cầu lợi lộc."
165.
165.
165.
Na ca katthiko † siyā bhikkhu, na ca vācaṃ payuttaṃ bhāseyya;
Pāgabbhiyaṃ na sikkheyya, kathaṃ viggāhikaṃ na kathayeyya.
A bhikkhu should not be boastful, nor should he speak speech connected with requisites; he should not practice impudence, nor should he speak disputatious speech.
"Vị tỳ khưu không nên là người khoe khoang, không nên nói lời có dụng ý (liên quan đến vật dụng); không nên thực hành sự táo bạo, không nên nói lời tranh cãi."
Na ca katthiko siyā bhikkhūti. Idhekacco katthī hoti vikatthī. So katthati vikatthati ahamasmi sīlasampannoti vā vatasampannoti vā sīlabbatasampannoti vā jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunā. Uccā kulā pabbajitoti vā mahābhogakulā pabbajitoti vā uḷārabhogakulā pabbajitoti vā suttantikoti vā vinayadharoti vā dhammakathikoti vā āraññikoti vā…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā katthati vikatthati. Evaṃ na kattheyya na vikattheyya, katthaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, katthanā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – na ca katthiko siyā bhikkhu.
‘A bhikkhu should not be a boaster.’ Here, a certain one is a boaster, a braggart. He boasts and brags: ‘I am accomplished in virtue,’ or ‘I am accomplished in ascetic practice,’ or ‘I am accomplished in virtue and ascetic practice,’ or by birth, or by lineage, or by being of a good family, or by beauty of complexion, or by wealth, or by study, or by trade, or by craft, or by a field of knowledge, or by learning, or by eloquence, or by some other thing. He boasts and brags, saying: ‘I have gone forth from a high family,’ or ‘I have gone forth from a family with great possessions,’ or ‘I have gone forth from a family with abundant possessions,’ or ‘I am a Suttanta master,’ or ‘I am a Vinaya master,’ or ‘I am a Dhamma preacher,’ or ‘I am a forest dweller,’ or … ‘I am an attainer of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception.’ Thus, one should not boast, one should not brag. One should abandon, dispel, destroy, and bring boasting to an end. From boasting, one should be aloof, abstinent, withdrawn, departed, detached, freed, and disjoined; one should dwell with a mind without limits. This is the meaning of the phrase, ‘A bhikkhu should not be a boaster.’
(Giải thích câu) 'Vị tỳ khưu không nên là người khoe khoang'. Ở đây, có người là người khoe khoang, người tự tán dương. Vị ấy khoe khoang, tự tán dương rằng: 'Ta là người đầy đủ giới hạnh', hoặc 'Ta là người đầy đủ hạnh nguyện', hoặc 'Ta là người đầy đủ giới và hạnh nguyện', hoặc khoe khoang về dòng dõi, về gia tộc, về gia thế, về dung sắc, về tài sản, về học vấn, về nghề nghiệp, về kỹ năng, về kiến thức, về sự học rộng, về tài ứng đối, hoặc về một phương diện nào khác. (Khoe rằng) 'Ta xuất gia từ dòng dõi cao quý', hoặc 'Ta xuất gia từ gia đình giàu có', hoặc 'Ta xuất gia từ gia đình có tài sản lớn', hoặc 'Ta là người thông thuộc Kinh tạng', hoặc 'Ta là người thông thuộc Luật tạng', hoặc 'Ta là người thông thuộc Luận tạng (Pháp sư)', hoặc 'Ta là người sống ở rừng', ... vân vân ... hoặc 'Ta là người đã đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ định'. Vị ấy khoe khoang, tự tán dương như vậy. Không nên khoe khoang, không nên tự tán dương như vậy. Nên từ bỏ sự khoe khoang, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho nó không còn tồn tại. Từ sự khoe khoang, nên xa lánh, nên từ bỏ, nên tránh xa, nên thoát ra, nên giải thoát, nên hoàn toàn giải thoát, nên không còn liên hệ, nên sống với tâm không còn giới hạn. – (Đây là ý nghĩa của câu) 'Vị tỳ khưu không nên là người khoe khoang'.
Na ca vācaṃ payuttaṃ bhāseyyāti. Katamā payuttavācā? Idhekacco cīvarapayuttaṃ vācaṃ bhāsati, piṇḍapātapayuttaṃ vācaṃ bhāsati, senāsanapayuttaṃ vācaṃ bhāsati, gilānapaccayabhesajjaparikkhārapayuttaṃ vācaṃ bhāsati – ayampi vuccati payuttavācā.
‘Nor should he speak connected speech.’ What is connected speech? Here, a certain one speaks speech connected with robes, speaks speech connected with alms-food, speaks speech connected with lodging, speaks speech connected with medicines and requisites for the sick—this too is called connected speech.
(Giải thích câu) 'Không nên nói lời có dụng ý'. Thế nào là lời nói có dụng ý? Ở đây, có người nói lời liên quan đến y phục, nói lời liên quan đến vật thực, nói lời liên quan đến chỗ ở, nói lời liên quan đến thuốc men trị bệnh và các vật dụng cần thiết. – Đây cũng được gọi là lời nói có dụng ý.
Atha vā cīvarahetu piṇḍapātahetu senāsanahetu gilānapaccayabhesajjaparikkhārahetu saccampi bhaṇati musāpi bhaṇati, pisuṇampi bhaṇati apisuṇampi bhaṇati, pharusampi bhaṇati apharusampi bhaṇati, samphappalāpampi bhaṇati asamphappalāpampi bhaṇati, mantāpi vācaṃ bhāsati – ayampi vuccati payuttavācā. Atha vā pasannacitto paresaṃ dhammaṃ deseti – ‘‘aho vata me dhammaṃ suṇeyyuṃ, sutvāva dhammaṃ pasīdeyyuṃ, pasannā ca me pasannākāraṃ kareyyu’’nti – ayaṃ vuccati payuttavācā. Na ca vācaṃ payuttaṃ bhāseyyāti. Antamaso dhammadesanaṃ vācaṃ upādāya payuttavācaṃ na bhāseyya na katheyya na bhaṇeyya na dīpeyya na vohareyya, payuttaṃ vācaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, payuttavācāya ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – na ca vācaṃ payuttaṃ bhāseyya.
Or, for the sake of robes, almsfood, lodging, or medicinal requisites for the sick, one speaks truth or falsehood, speaks divisively or not divisively, speaks harshly or gently, speaks pointlessly or not pointlessly, or speaks knowingly—this too is called speech connected with gain. Or, with a pleased mind, one teaches the Dhamma to others, thinking: 'Oh, may they listen to my teaching! Having heard the teaching, may they be pleased! And being pleased, may they show their pleasure toward me!'—this is also called speech connected with gain. 'One should not utter speech connected with gain' means this: At the very least, with respect to speech concerning the teaching of the Dhamma, one should not speak, declare, recite, explain, or use speech connected with gain. One should abandon, dispel, eliminate, and bring to an end speech connected with gain. One should be remote from, abstaining from, refraining from, gone forth from, detached from, released from, and disjoined from speech connected with gain; one should dwell with a mind without boundaries. This is the meaning of 'one should not utter speech connected with gain'.
Lại nữa, vì lý do y phục, vì lý do vật thực, vì lý do sàng tọa, vì lý do dược phẩm trị bệnh, người ấy nói lời chân thật, nói lời không chân thật, nói lời đâm thọc, nói lời không đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời không thô ác, nói lời sáo rỗng, nói lời không sáo rỗng, và đã biết rồi mới nói lời nói ấy – điều này cũng được gọi là lời nói có dụng ý. Lại nữa, với tâm tịnh tín, vị ấy thuyết Pháp cho những người khác (với suy nghĩ rằng): ‘Ôi, mong rằng họ sẽ lắng nghe Pháp của ta! Và sau khi đã nghe Pháp, mong rằng họ sẽ có đức tin! Và sau khi đã có đức tin, mong rằng họ sẽ thể hiện thái độ tín thành đối với ta!’ – điều này được gọi là lời nói có dụng ý. ‘Không nên nói lời nói có dụng ý.’ Tối thiểu là, không nên nói, không nên kể, không nên đọc, không nên trình bày, không nên sử dụng lời nói có dụng ý dựa vào việc thuyết Pháp; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu lời nói có dụng ý; vị ấy nên xa lánh, nên từ bỏ, nên chế ngự, nên thoát khỏi, nên giải thoát, nên hoàn toàn giải thoát, nên không dính mắc đối với lời nói có dụng ý; vị ấy nên trú ngụ với tâm không bị giới hạn. – Không nên nói lời nói có dụng ý.
Pāgabbhiyaṃ na sikkheyyāti. Pāgabbhiyanti tīṇi pāgabbhiyāni – kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ, vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ, cetasikaṃ pāgabbhiyaṃ. Katamaṃ kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ? Idhekacco saṅghagatopi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, gaṇagatopi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, bhojanasālāyapi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, jantāgharepi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, udakatitthepi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, antaragharaṃ pavisantopi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, antaragharaṃ paviṭṭhopi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
One should not train in impudence. Impudence is of three kinds: bodily impudence, verbal impudence, and mental impudence. What is bodily impudence? Here, a certain person displays bodily impudence in the midst of the Sangha, displays bodily impudence in a group, displays bodily impudence in the dining hall, displays bodily impudence in the steam-bath house, displays bodily impudence at the water-landing place, displays bodily impudence when entering within the village, and displays bodily impudence after having entered within the village.
‘Không nên thực hành sự táo bạo.’ ‘Táo bạo’ là có ba sự táo bạo: táo bạo về thân, táo bạo về lời nói, táo bạo về ý. Thế nào là táo bạo về thân? Ở đây, có người khi đến giữa Tăng chúng cũng thể hiện sự táo bạo về thân, khi đến giữa hội chúng cũng thể hiện sự táo bạo về thân, ở nhà ăn cũng thể hiện sự táo bạo về thân, ở nhà tắm hơi cũng thể hiện sự táo bạo về thân, ở bến nước cũng thể hiện sự táo bạo về thân, khi đang đi vào trong làng cũng thể hiện sự táo bạo về thân, sau khi đã đi vào trong làng cũng thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ saṅghagato kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco saṅghagato acittīkārakato there bhikkhū ghaṭṭayantopi tiṭṭhati, ghaṭṭayantopi nisīdati, puratopi tiṭṭhati, puratopi nisīdati, uccepi āsane nisīdati, sasīsaṃ pārupitvā nisīdati, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ saṅghagato kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence in the midst of the Saṅgha? Here, a certain person in the midst of the Saṅgha, showing disrespect, stands while jostling the elder bhikkhus, sits while jostling them, stands in front of them, sits in front of them, sits on a high seat, speaks while standing, and speaks while gesticulating with his arms. In this way, one displays bodily impudence in the midst of the Saṅgha.
Thế nào là khi đến giữa Tăng chúng, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người khi đến giữa Tăng chúng, với thái độ không tôn trọng, vừa đứng vừa chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão, vừa ngồi vừa chen lấn, cũng đứng ở phía trước, cũng ngồi ở phía trước, cũng ngồi ở chỗ ngồi cao, ngồi trùm kín cả đầu, vừa đứng vừa nói, vừa vung tay vừa nói. Như vậy là khi đến giữa Tăng chúng, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ gaṇagato kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco gaṇagato acittīkārakato therānaṃ bhikkhūnaṃ anupāhanānaṃ caṅkamantānaṃ saupāhano caṅkamati, nīce caṅkame caṅkamantānaṃ ucce caṅkame caṅkamati, chamāya caṅkamantānaṃ caṅkame caṅkamati, ghaṭṭayantopi tiṭṭhati, ghaṭṭayantopi nisīdati, puratopi tiṭṭhati, puratopi nisīdati, uccepi āsane nisīdati, sasīsaṃ pārupitvāpi nisīdati, ṭhitopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ gaṇagato kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one in a group display bodily impudence? Here, a certain person in a group, showing disrespect, walks with sandals while the elder bhikkhus are walking without sandals; while they are walking on a low walking path, he walks on a high walking path; while they are walking on the ground, he walks on a walking path. He stands while jostling them, sits while jostling them, stands in front of them, sits in front of them, sits on a high seat, sits with his head covered, speaks while standing, and speaks while gesticulating with his arms. In this way, one in a group displays bodily impudence.
Thế nào là khi đến giữa hội chúng, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người khi đến giữa hội chúng, với thái độ không tôn trọng, trong khi các vị tỳ khưu trưởng lão đang đi kinh hành không mang giày dép thì vị ấy lại mang giày dép đi kinh hành; trong khi các vị ấy đang đi kinh hành ở lối đi thấp thì vị ấy lại đi kinh hành ở lối đi cao; trong khi các vị ấy đang đi kinh hành ở trên đất thì vị ấy lại đi kinh hành ở trên lối đi; vừa đứng vừa chen lấn, vừa ngồi vừa chen lấn, cũng đứng ở phía trước, cũng ngồi ở phía trước, cũng ngồi ở chỗ ngồi cao, cũng ngồi trùm kín cả đầu, vừa đứng vừa nói, vừa vung tay vừa nói. Như vậy là khi đến giữa hội chúng, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ bhojanasālāya kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco bhojanasālāya acittīkārakato there bhikkhū anupakhajja nisīdati, navepi bhikkhū āsanena paṭibāhati, ghaṭṭayantopi tiṭṭhati, ghaṭṭayantopi nisīdati, puratopi tiṭṭhati, puratopi nisīdati, uccepi āsane nisīdati, sasīsaṃ pārupitvā nisīdati, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ bhojanasālāya kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence in the dining hall? Here, a certain person in the dining hall, showing disrespect, sits down having pushed past the elder bhikkhus and obstructs the junior bhikkhus from their seats. He stands while jostling them, sits while jostling them, stands in front of them, sits in front of them, sits on a high seat, sits with his head covered, speaks while standing, and speaks while gesticulating with his arms. In this way, one displays bodily impudence in the dining hall.
Thế nào là ở nhà ăn, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người ở nhà ăn, với thái độ không tôn trọng, ngồi chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão, cũng dùng chỗ ngồi để cản các vị tỳ khưu mới tu, vừa đứng vừa chen lấn, vừa ngồi vừa chen lấn, cũng đứng ở phía trước, cũng ngồi ở phía trước, cũng ngồi ở chỗ ngồi cao, ngồi trùm kín cả đầu, vừa đứng vừa nói, vừa vung tay vừa nói. Như vậy là ở nhà ăn, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ jantāghare kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco jantāghare acittīkārakato there bhikkhū ghaṭṭayantopi tiṭṭhati, ghaṭṭayantopi nisīdati, puratopi tiṭṭhati, puratopi nisīdati, uccepi āsane nisīdati, anāpucchāpi kaṭṭhaṃ pakkhipati, anāpucchāpi dvāraṃ pidahati. Evaṃ jantāghare kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence in the steam-bath house? Here, a certain person in the steam-bath house, showing disrespect, stands while jostling the elder bhikkhus, sits while jostling them, stands in front of them, sits in front of them, and sits on a high seat. He puts in firewood without asking and closes the door without asking. In this way, one displays bodily impudence in the steam-bath house.
Thế nào là ở nhà tắm hơi, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người ở nhà tắm hơi, với thái độ không tôn trọng, vừa đứng vừa chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão, vừa ngồi vừa chen lấn, cũng đứng ở phía trước, cũng ngồi ở phía trước, cũng ngồi ở chỗ ngồi cao, không hỏi xin phép mà cho củi vào, không hỏi xin phép mà đóng cửa lại. Như vậy là ở nhà tắm hơi, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ udakatitthe kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco udakatitthe acittīkārakato there bhikkhū ghaṭṭayantopi otarati, puratopi otarati, ghaṭṭayantopi nhāyati, puratopi nhāyati, uparitopi nhāyati, ghaṭṭayantopi uttarati, puratopi uttarati. Evaṃ udakatitthe kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence at a water-landing place? Here, a certain person at a water-landing place, acting without respect, descends into the water while jostling the elder bhikkhus, and descends in front of them; he bathes while jostling them, bathes in front of them, and bathes upstream of them; he ascends from the water while jostling them, and ascends in front of them. In this way, one displays bodily impudence at a water-landing place.
Thế nào là ở bến nước, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người ở bến nước, với thái độ không tôn trọng, vừa xuống nước vừa chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão, cũng xuống nước ở phía trước, vừa tắm vừa chen lấn, cũng tắm ở phía trước, cũng tắm ở phía trên dòng nước, vừa lên bờ vừa chen lấn, cũng lên bờ ở phía trước. Như vậy là ở bến nước, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ antaragharaṃ pavisanto kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco antaragharaṃ pavisanto acittīkārakato there bhikkhū ghaṭṭayantopi gacchati, puratopi gacchati, vokkammapi therānaṃ bhikkhūnaṃ purato gacchati. Evaṃ antaragharaṃ pavisanto kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence while entering within the village? Here, a certain person, while entering within the village, acting without respect, walks while jostling the elder bhikkhus, and walks in front of them; he also walks in front of the elder bhikkhus, having overtaken them. In this way, one displays bodily impudence while entering within the village.
Thế nào là khi đang đi vào trong làng, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người khi đang đi vào trong làng, với thái độ không tôn trọng, vừa đi vừa chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão, cũng đi ở phía trước, cũng vượt qua và đi ở phía trước các vị tỳ khưu trưởng lão. Như vậy là khi đang đi vào trong làng, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ antaragharaṃ paviṭṭho kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco antaragharaṃ paviṭṭho ‘‘na pavisa, bhante’’ti vuccamāno pavisati, ‘‘na tiṭṭha, bhante’’ti vuccamāno tiṭṭhati, ‘‘na nisīda, bhante’’ti vuccamāno nisīdati, anokāsampi pavisati, anokāsepi tiṭṭhati, anokāsepi nisīdati, yānipi tāni honti kulānaṃ ovarakāni gūḷhāni ca paṭicchannāni ca, yattha kulitthiyo kuladhītaro kulasuṇhāyo kulakumāriyo nisīdanti tatthapi sahasā pavisati, kumārakassa sīsampi parāmasati. Evaṃ antaragharaṃ paviṭṭho kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti – idaṃ kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ.
How does one display bodily impudence having entered within the village? Here, a certain person, having entered within the village, when told, “Venerable sir, do not enter,” enters; when told, “Venerable sir, do not stand,” stands; when told, “Venerable sir, do not sit,” sits. He also enters in an inappropriate place, stands in an inappropriate place, and sits in an inappropriate place. And whatever inner chambers of families there are that are secret and concealed, where the women of the family, daughters of the family, daughters-in-law of the family, and young maidens of the family are sitting, there too he enters impetuously. He also strokes a young maiden’s head. In this way, one displays bodily impudence having entered within the village. This is bodily impudence.
Thế nào là sau khi đã đi vào trong làng, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người sau khi đã đi vào trong làng, đang được nói rằng: ‘Bạch ngài, xin đừng đi vào,’ vẫn cứ đi vào; đang được nói rằng: ‘Bạch ngài, xin đừng đứng lại,’ vẫn cứ đứng lại; đang được nói rằng: ‘Bạch ngài, xin đừng ngồi xuống,’ vẫn cứ ngồi xuống; cũng đi vào nơi không thích hợp, cũng đứng ở nơi không thích hợp, cũng ngồi ở nơi không thích hợp; và những phòng trong kín đáo và che khuất nào của các gia đình, là nơi mà các phụ nữ trong gia đình, các thiếu nữ trong gia đình, các con dâu trong gia đình, các bé gái trong gia đình đang ngồi, vị ấy cũng đột ngột đi vào nơi ấy, cũng xoa đầu của đứa bé trai. Như vậy là sau khi đã đi vào trong làng, vị ấy thể hiện sự táo bạo về thân – đây là sự táo bạo về thân.
Katamaṃ vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ? Idhekacco saṅghagatopi vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, gaṇagatopi vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, antaragharaṃ paviṭṭhopi vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti. Kathaṃ saṅghagato vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco saṅghagato acittīkārakato there bhikkhū anāpucchaṃ vā anajjhiṭṭho vā ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ bhaṇati, pañhaṃ visajjeti, pātimokkhaṃ uddisati, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ saṅghagato vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
What is verbal impudence? Here, a certain monk displays verbal impudence when in the presence of the Sangha, also when in the presence of a group, and also when having entered a house. How does one display verbal impudence when in the presence of the Sangha? Here, a certain monk, when in the presence of the Sangha, disrespectfully, without asking or being requested by the elder monks, teaches the Dhamma to the monks who have come to the monastery, answers a question, recites the Pātimokkha, speaks even while standing, and speaks even while stretching out his arms. In this way, one displays verbal impudence when in the presence of the Sangha.
Thế nào là sự táo bạo về lời nói? Ở đây, có người dù đã đi đến Tăng chúng vẫn thể hiện sự táo bạo về lời nói, dù đã đi đến hội chúng vẫn thể hiện sự táo bạo về lời nói, dù đã đi vào trong xóm làng vẫn thể hiện sự táo bạo về lời nói. Người đã đi đến Tăng chúng thể hiện sự táo bạo về lời nói như thế nào? Ở đây, có người đã đi đến Tăng chúng, không có sự tôn trọng, không hỏi ý kiến hoặc không được thỉnh mời các vị tỳ khưu trưởng lão, đã thuyết Pháp, trả lời câu hỏi, đọc Giới Bổn cho các vị tỳ khưu đã đến tu viện; vị ấy vừa đứng vừa nói, vừa vung tay vừa nói. Như vậy, người đã đi đến Tăng chúng thể hiện sự táo bạo về lời nói.
Kathaṃ gaṇagato vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco gaṇagato acittīkārakato there bhikkhū anāpucchaṃ vā anajjhiṭṭho vā ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ bhaṇati, pañhaṃ visajjeti, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati; ārāmagatānaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ dhammaṃ bhaṇati, pañhaṃ visajjeti, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ gaṇagato vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display verbal impudence when in the presence of a group? Here, a certain monk, when in the presence of a group, disrespectfully, without asking or being requested by the elder monks, teaches the Dhamma to the monks who have come to the monastery, answers a question, speaks even while standing, and speaks even while stretching out his arms; he teaches the Dhamma to the nuns, male lay disciples, and female lay disciples who have come to the monastery, answers a question, speaks even while standing, and speaks even while stretching out his arms. In this way, one displays verbal impudence when in the presence of a group.
Người đã đi đến hội chúng thể hiện sự táo bạo về lời nói như thế nào? Ở đây, có người đã đi đến hội chúng, không có sự tôn trọng, không hỏi ý kiến hoặc không được thỉnh mời các vị tỳ khưu trưởng lão, đã thuyết Pháp, trả lời câu hỏi, vừa đứng vừa nói, vừa vung tay vừa nói cho các vị tỳ khưu đã đến tu viện; đã thuyết Pháp, trả lời câu hỏi, vừa đứng vừa nói, vừa vung tay vừa nói cho các vị tỳ khưu ni, các nam cận sự, các nữ cận sự đã đến tu viện. Như vậy, người đã đi đến hội chúng thể hiện sự táo bạo về lời nói.
Kathaṃ antaragharaṃ paviṭṭho vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco antaragharaṃ paviṭṭho itthiṃ vā kumāriṃ vā evamāha – ‘‘itthannāme itthaṃgotte kiṃ atthi? Yāgu atthi, bhattaṃ atthi, khādanīyaṃ atthi? Kiṃ pivissāma, kiṃ bhuñjissāma, kiṃ khādissāma, kiṃ vā atthi, kiṃ vā me dassathā’’ti vippalapati. Evaṃ antaragharaṃ paviṭṭho vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti – idaṃ vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ.
How does one who has entered a house display verbal impudence? Here, a certain monk who has entered a house says to a woman or a girl thus: ‘You of such-and-such a name and such-and-such a clan, what is there? Is there gruel? Is there cooked rice? Is there solid food? What shall we drink? What shall we eat? What shall we chew? Or what is there? Or what will you give me?’—thus he prattles. In this way, one who has entered a house displays verbal impudence. This is verbal impudence.
Người đã đi vào trong xóm làng thể hiện sự táo bạo về lời nói như thế nào? Ở đây, có người đã đi vào trong xóm làng, nói với người phụ nữ hoặc thiếu nữ như vầy: ‘Này cô tên này, họ này, có gì không? Có cháo không, có cơm không, có vật thực cứng không? Chúng tôi sẽ uống gì, chúng tôi sẽ dùng gì, chúng tôi sẽ ăn gì, hoặc là có gì, hoặc là quý vị sẽ cho tôi gì?’ rồi nói lảm nhảm. Như vậy, người đã đi vào trong xóm làng thể hiện sự táo bạo về lời nói. Đây là sự táo bạo về lời nói.
Katamaṃ cetasikaṃ pāgabbhiyaṃ? Idhekacco na uccā kulā pabbajito samāno uccā kulā pabbajitena saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ karoti cittena, na mahābhogakulā pabbajito samāno mahābhogakulā pabbajitena saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ karoti cittena, na uḷārabhogakulā pabbajito samāno uḷārabhogakulā pabbajitena saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ karoti cittena, na suttantiko samāno suttantikena saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ karoti cittena, na vinayadharo samāno vinayadharena… na dhammakathiko samāno dhammakathikena… na āraññiko samāno āraññakena… na piṇḍapātiko samāno piṇḍapātikena… na paṃsukūliko samāno paṃsukūlikena… na tecīvariko samāno tecīvarakena… na sapadānacāriko samāno sapadānacārikena… na khalupacchābhattiko samāno khalupacchābhattikena… na nesajjiko samāno nesaññikena… na yathāsanthatiko samāno yathāsanthatikena saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ karoti cittena, na paṭhamassa jhānassa lābhī samāno paṭhamassa jhānassa lābhinā saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ karoti cittena, na dutiyassa jhānassa lābhī samāno dutiyassa… na tatiyassa jhānassa lābhī samāno tatiyassa… na catutthassa jhānassa lābhī samāno lābhī samāno catutthassa… na ākāsānañcāyatanasamāpattiyā lābhī samāno ākāsanañcāyatanasamāpattiyā… na viññāṇañcāyatanasamāpattiyā lābhī samāno viññāṇañcāyatana samāpattiyā… na ākiñcaññāyatanasamāpattiyā lābhī samāno ākiñcaññāyatana samāpattiyā… na nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhī samāno nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhinā saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ karoti cittena – idaṃ cetasikaṃ pāgabbhiyaṃ. Na sikkheyyāti pāgabbhiyaṃ na sikkheyya na careyya na ācareyya na samācareyya na samādāya vatteyya, pāgabbhiyaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, pāgabbhiyā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – pāgabbhiyaṃ na sikkheyya.
What is mental impudence? Here, a certain one who has not gone forth from a high family considers himself equal in mind to one who has gone forth from a high family. One who has not gone forth from a family of great wealth considers himself equal in mind to one who has gone forth from a family of great wealth. One who has not gone forth from a family of abundant wealth considers himself equal in mind to one who has gone forth from a family of abundant wealth. One who is not a master of the Suttantas considers himself equal in mind to one who is a master of the Suttantas. One who is not a master of the Vinaya… one who is not a teacher of the Dhamma… one who is not a forest-dweller… one who is not an alms-food-eater… one who is not a rag-robe-wearer… one who is not a triple-robe-wearer… one who does not go on a continuous alms-round… one who does not refuse subsequent food offerings… one who is not a sitter… one who does not use whatever lodging is offered, considers himself equal in mind to one who does. One who has not attained the first jhāna considers himself equal in mind to one who has attained the first jhāna. One who has not attained the second jhāna… the third jhāna… the fourth jhāna… the attainment of the base of infinite space… the attainment of the base of infinite consciousness… the attainment of the base of nothingness… the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, considers himself equal in mind to one who has—this is mental impudence. The phrase ‘one should not train in impudence’ means: one should not learn impudence, should not practice it, should not engage in it, should not habitually practice it, should not undertake and live by it. One should abandon impudence, dispel it, bring it to an end, make it non-existent. One should be distant from impudence, abstaining from it, refraining from it, gone out from it, released from it, completely released from it, disjoined from it, and should dwell with a mind without boundaries—this is the meaning of ‘one should not train in impudence’.
Thế nào là sự táo bạo về tâm? Ở đây, có người không xuất gia từ dòng dõi cao quý, lại tự cho mình ngang bằng về tâm với người xuất gia từ dòng dõi cao quý; không xuất gia từ dòng dõi tài sản lớn, lại tự cho mình ngang bằng về tâm với người xuất gia từ dòng dõi tài sản lớn; không xuất gia từ dòng dõi tài sản dồi dào, lại tự cho mình ngang bằng về tâm với người xuất gia từ dòng dõi tài sản dồi dào; không phải là người thông thuộc Kinh Tạng, lại tự cho mình ngang bằng về tâm với người thông thuộc Kinh Tạng; không phải là người thông thuộc Luật Tạng, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người thuyết Pháp, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người thực hành hạnh ở rừng, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người thực hành hạnh khất thực, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người thực hành hạnh y phấn tảo, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người thực hành hạnh tam y, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người thực hành hạnh khất thực từng nhà, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người thực hành hạnh không nhận thêm sau khi đã nói đủ, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người thực hành hạnh ngồi, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người thực hành hạnh ở chỗ nào cũng được, lại tự cho mình ngang bằng về tâm với người thực hành hạnh ở chỗ nào cũng được; không phải là người đắc Sơ thiền, lại tự cho mình ngang bằng về tâm với người đắc Sơ thiền; không phải là người đắc Nhị thiền, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người đắc Tam thiền, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người đắc Tứ thiền, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người đắc Không Vô Biên Xứ định, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người đắc Thức Vô Biên Xứ định, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người đắc Vô Sở Hữu Xứ định, lại tự cho mình ngang bằng...; không phải là người đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ định, lại tự cho mình ngang bằng về tâm với người đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ định. Đây là sự táo bạo về tâm. ‘Không nên học tập’ có nghĩa là: không nên học tập, không nên thực hành, không nên làm theo, không nên thực hành theo, không nên chấp nhận và hành xử theo sự táo bạo; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho không còn tồn tại sự táo bạo; nên xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, thoát khỏi, hoàn toàn giải thoát, không còn liên hệ với sự táo bạo, nên trú với tâm không còn giới hạn. Ấy là ‘không nên học tập sự táo bạo’.
Kathaṃ viggāhikaṃ na kathayeyyāti. Katamā viggāhikā kathā? Idhekacco evarūpiṃ kathaṃ kattā hoti – ‘‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi…pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’’ti. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘viggāhikāya kho, moggallāna, kathāya sati kathābāhullaṃ pāṭikaṅkhaṃ, kathābāhulle sati uddhaccaṃ, uddhatassa asaṃvaro, asaṃvutassa ārā cittaṃ samādhimhā’’ti. Kathaṃ viggāhikaṃ na kathayeyyāti. Viggāhikaṃ kathaṃ na katheyya na bhaṇeyya na dīpeyya na vohareyya, viggāhikaṃ kathaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, viggāhikakathāya ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – kathaṃ viggāhikaṃ na kathayeyya.
What is meant by ‘One should not speak quarrelsome talk’? What is quarrelsome talk? Here, a certain person is one who speaks in this way: ‘You do not know this Dhamma and Discipline… If you are able, then refute it.’ And this was said by the Blessed One: ‘Indeed, Moggallāna, when there is quarrelsome talk, an abundance of talk is to be expected. When there is an abundance of talk, there is restlessness. For one who is restless, there is no restraint. For one who is unrestrained, the mind is far from concentration.’ What is meant by ‘One should not speak quarrelsome talk’? One should not speak, utter, declare, or use quarrelsome talk; one should abandon, dispel, bring to an end, and cause quarrelsome talk to not arise again. One should be aloof from, abstaining from, refraining from, departed from, released from, completely freed from, and disjoined from quarrelsome talk; one should dwell with a mind that is without boundaries. This is the meaning of the phrase ‘One should not speak quarrelsome talk’.
‘Không nên nói lời tranh cãi’ là như thế nào? Thế nào là lời nói tranh cãi? Ở đây, có người có thói quen nói lời như vầy: ‘Ông không biết Giáo pháp và Giới luật này… v.v… nếu có thể, hãy gỡ rối đi.’ Điều này đã được đức Thế Tôn nói rằng: ‘Này Moggallāna, khi có lời nói tranh cãi, có thể trông đợi sự nói nhiều; khi có sự nói nhiều, có sự trạo cử; đối với người trạo cử, không có sự thu thúc; đối với người không thu thúc, tâm xa rời định.’ ‘Không nên nói lời tranh cãi’ là như thế nào? Không nên nói, không nên phát biểu, không nên trình bày, không nên sử dụng lời nói tranh cãi; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho không còn tồn tại lời nói tranh cãi; nên xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, thoát khỏi, hoàn toàn giải thoát, không còn liên hệ với lời nói tranh cãi, nên trú với tâm không còn giới hạn. Ấy là ‘không nên nói lời tranh cãi’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Na ca katthiko siyā bhikkhu, na ca vācaṃ payuttaṃ bhāseyya;
Pāgabbhiyaṃ na sikkheyya, kathaṃ viggāhikaṃ na kathayeyyā’’ti.
A monk should not be a boaster, nor should he utter contrived speech; he should not train in impudence, nor should he speak quarrelsome talk.
‘Vị tỳ khưu không nên khoe khoang, cũng không nên nói lời vô ích; không nên học tập sự táo bạo, không nên nói lời tranh cãi.’
166.
166.
166.
Mosavajje na niyyetha, sampajāno saṭhāni na kayirā;
Atha jīvitena paññāya, sīlabbatena nāññamatimaññe.
One who is clearly comprehending should not resort to falsehoods, nor should they practice deceptions. Furthermore, one should not despise another on account of livelihood, wisdom, or moral conduct and vows.
Người có tỉnh giác không nên hướng đến lời nói dối, không nên làm những điều xảo trá; hơn nữa, không nên vì sinh kế, trí tuệ, giới và hạnh của mình mà xem thường người khác.
Mosavajje na niyyethāti. Mosavajjaṃ vuccati musāvādo. Idhekacco sabhaggato † vā parisaggato † vā…pe… āmisakiñcikkhahetu vā sampajānamusā bhāsitā hoti – idaṃ vuccati mosavajjaṃ. Api ca tīhākārehi musāvādo hoti – pubbevassa hoti ‘‘musā bhaṇissa’’nti, bhaṇantassa hoti ‘‘musā bhaṇāmī’’ti, bhaṇitassa hoti ‘‘musā mayā bhaṇita’’nti, imehi tīhākārehi musāvādo hoti. Api ca catūhākārehi… pañcahākārehi… chahākārehi… sattahākārehi… aṭṭhahākārehi… musāvādo hoti – pubbevassa hoti ‘‘musā bhaṇissa’’nti, bhaṇantassa hoti ‘‘musā bhaṇāmī’’ti, bhaṇitassa hoti ‘‘musā mayā bhaṇita’’nti vinidhāya diṭṭhiṃ vinidhāya khantiṃ vinidhāya ruciṃ vinidhāya saññaṃ vinidhāya bhāvaṃ – imehi aṭṭhahākārehi musāvādo hoti. Mosavajje na niyyethāti. Mosavajje na yāyeyya na niyyāyeyya na vaheyya † na saṃhareyya, mosavajjaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, mosavajjā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – mosavajje na niyyetha.
One should not be led out by faulty speech. False speech is called faulty speech. Here, a certain one, whether in an assembly or a gathering... or for the sake of some material gain, knowingly speaks a falsehood—this is called faulty speech. Furthermore, false speech occurs in three ways: beforehand, it occurs to him, 'I will speak a falsehood'; while speaking, it occurs to him, 'I am speaking a falsehood'; after having spoken, it occurs to him, 'A falsehood has been spoken by me'—in these three ways, false speech occurs. Furthermore, false speech occurs in four ways... five ways... six ways... seven ways... eight ways. Beforehand, it occurs to him, 'I will speak a falsehood'; while speaking, it occurs to him, 'I am speaking a falsehood'; after having spoken, it occurs to him, 'A falsehood has been spoken by me'; having determined a view, having determined an acceptance, having determined an inclination, having determined a perception, having determined an intention—in these eight ways, false speech occurs. 'One should not be led out by faulty speech' means: one should not go towards faulty speech, should not be led out by it, should not be carried along by it, should not be brought to it; one should abandon faulty speech, dispel it, bring it to destruction, and cause it to arrive at non-existence. From faulty speech, one should be abstained, especially abstained, refrained, departed, released, especially released, and detached; one should dwell with a mind without boundaries. Thus, one should not be led out by faulty speech.
“Không nên dấn thân vào lỗi lầm của sự nói dối” có nghĩa là: Lời nói dối được gọi là lỗi lầm của sự nói dối. Ở đây, có người đi đến giữa hội chúng hay đi đến giữa đám đông… (v.v.)... hay vì một chút lợi lộc vật chất mà cố ý nói lời nói dối – điều này được gọi là lỗi lầm của sự nói dối. Hơn nữa, lời nói dối xảy ra theo ba cách: trước khi nói, vị ấy có ý định rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý định rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý định rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra.’ Lời nói dối xảy ra theo ba cách này. Hơn nữa, lời nói dối xảy ra theo bốn cách... năm cách... sáu cách... bảy cách... tám cách: trước khi nói, vị ấy có ý định rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý định rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý định rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ bằng cách thay đổi kiến, bằng cách thay đổi sự kham nhẫn, bằng cách thay đổi sở thích, bằng cách thay đổi tưởng, bằng cách thay đổi bản chất – lời nói dối xảy ra theo tám cách này. “Không nên dấn thân vào lỗi lầm của sự nói dối” có nghĩa là: Không nên đi vào, không nên dấn thân vào, không nên mang theo, không nên thu gom lỗi lầm của sự nói dối; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho không còn tồn tại lỗi lầm của sự nói dối; nên xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, thoát ly, hoàn toàn giải thoát, không còn liên hệ với lỗi lầm của sự nói dối, nên sống với tâm không còn giới hạn. – (Đây là ý nghĩa của) “không nên dấn thân vào lỗi lầm của sự nói dối.”
Sampajāno saṭhāni na kayirāti. Katamaṃ sāṭheyyaṃ? Idhekacco saṭho hoti parisaṭho, yaṃ tattha saṭhaṃ saṭhatā sāṭheyyaṃ kakkaratā kakkariyaṃ parikkhattatā pārikkhattiyaṃ – idaṃ vuccati sāṭheyyaṃ. Sampajāno saṭhāni na kayirāti. Sampajāno hutvā sāṭheyyaṃ na kareyya na janeyya na sañjaneyya na nibbatteyya nābhinibbatteyya, sāṭheyyaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, sāṭheyyā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – sampajāno saṭhāni na kayirā.
Being clearly aware, one should not practice craftiness. What is craftiness? Here, someone is crafty, thoroughly crafty. Whatever therein is craftiness, a crafty state, a crafty act, harshness, a harsh state, deviousness, a devious state—this is called craftiness. As for 'Being clearly aware, one should not practice craftiness': Being endowed with wisdom, one should not practice craftiness, should not cause it to arise, should not cause it to arise well, should not bring it into being, nor bring it into being exceedingly. One should abandon craftiness, dispel it, bring it to an end, and cause it to reach a state of non-existence. One should be aloof from craftiness, abstaining, refraining, having gone forth from it, released from it, completely released from it, disjoined from it. One should dwell with a mind without boundaries. Thus, being clearly aware, one should not practice craftiness.
“Với sự tỉnh giác, không nên làm những điều xảo trá” có nghĩa là: Sự xảo trá là gì? Ở đây, có người xảo trá, hoàn toàn xảo trá. Ở đó, cái gì là sự xảo trá, tánh xảo trá, việc làm xảo trá, sự cứng rắn, tánh cứng rắn, sự che giấu, tánh che giấu – điều này được gọi là sự xảo trá. “Với sự tỉnh giác, không nên làm những điều xảo trá” có nghĩa là: Có sự tỉnh giác, không nên làm, không nên phát sinh, không nên làm cho phát sinh, không nên tạo ra, không nên làm cho hiện hữu sự xảo trá; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho không còn tồn tại sự xảo trá; nên xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, thoát ly, hoàn toàn giải thoát, không còn liên hệ với sự xảo trá, nên sống với tâm không còn giới hạn. – (Đây là ý nghĩa của) “với sự tỉnh giác, không nên làm những điều xảo trá.”
Atha jīvitena paññāya, sīlabbatena nāññamatimaññeti. Athāti padasandhi…pe… padānupubbatāpetaṃ – athāti. Idhekacco lūkhajīvitaṃ jīvanto paraṃ paṇītajīvitaṃ jīvantaṃ atimaññati – ‘‘kiṃ panāyaṃ bahulājīvo sabbaṃ saṃbhakkheti, seyyathidaṃ – mūlabījaṃ khandhabījaṃ phaḷubījaṃ aggabījaṃ bījabījameva pañcamaṃ asanivicakkadantakūṭasamaṇappadhānenā’’ti †. So tāya lūkhajīvitāya paraṃ paṇītajīvitaṃ jīvantaṃ atimaññati.
Furthermore, one should not despise another on account of livelihood, wisdom, or virtuous observance. 'Furthermore' is a conjunction of words... and so on... this is the sequence of words—'furthermore.' Here, someone living a coarse livelihood despises another living a refined livelihood, thinking: 'Why does this one of abundant livelihood consume everything? That is to say: root-seeds, stem-seeds, joint-seeds, shoot-seeds, and seed-seeds as the fifth, he consumes with a monk's effort that is like a thunderbolt, a discus, and an arrow.' Thus, on account of that coarse livelihood, he despises another living a refined livelihood.
“Rồi không nên vì đời sống, trí tuệ, giới và hạnh mà khinh thường người khác.” `Atha` là từ nối... (v.v.)... đây là sự tuần tự của các từ – (ý nghĩa của) `athāti`. Ở đây, có người đang sống đời sống thô sơ lại khinh thường người khác đang sống đời sống cao sang (nghĩ rằng): “Người này sống sung túc làm sao, ăn đủ mọi thứ, ví như: hạt giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt, hạt giống từ ngọn, và thứ năm là chính hạt giống.” Vị ấy vì đời sống thô sơ đó mà khinh thường người khác đang sống đời sống cao sang.
Idhekacco paṇītajīvitaṃ jīvanto paraṃ lūkhajīvitaṃ jīvantaṃ atimaññati – ‘‘kiṃ panāyaṃ appapuñño appesakkho na lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārāna’’nti. So tāya paṇītajīvitāya paraṃ lūkhajīvitaṃ jīvantaṃ atimaññati. Idhekacco paññāsampanno hoti. So puṭṭho pañhaṃ visajjeti. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ahamasmi paññāsampanno, ime panaññe na paññāsampannā’’ti. So tāya paññāsampadāya paraṃ atimaññati. Idhekacco sīlasampanno hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ahamasmi sīlasampanno, ime panaññe bhikkhū dussīlā pāpadhammā’’ti. So tāya sīlasampadāya paraṃ atimaññati. Idhekacco vatasampanno hoti āraññiko vā piṇḍapātiko vā paṃsukūliko vā tecīvariko vā sapadānacāriko vā khalupacchābhattiko vā nesajjiko vā yathāsanthatiko vā. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ahamasmi vata sampanno, ime panaññe na vatasampannā’’ti. So tāya vatasampadāya paraṃ atimaññati. Atha jīvitena paññāya, sīlabbatena nāññamatimaññeti. Lūkhajīvitāya vā paṇītajīvitāya vā paññāsampadāya vā sīlasampadāya vā vatasampadāya vā paraṃ nātimaññeyya, nāvajāneyya, na tena mānaṃ janeyya, na tena thaddho assa, patthaddho paggahitasiroti – atha jīvitena paññāya sīlabbatena nāññamatimaññe.
Here, a certain one, living a refined livelihood, despises another living a coarse livelihood, thinking: 'Why is this one, of little merit and without influence, not obtaining robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick?' Thus, on account of that refined livelihood, he despises another living a coarse livelihood. Here, a certain one is accomplished in wisdom. When asked a question, he answers it. This thought occurs to him: 'I am accomplished in wisdom, but these others are not.' Thus, on account of his accomplishment in wisdom, he despises another. Here, a certain one is accomplished in virtue. He dwells restrained by the restraint of the Pātimokkha, is accomplished in conduct and resort, sees danger in the slightest faults, and having undertaken them, trains in the training rules. This thought occurs to him: 'I am accomplished in virtue, but these other monks are immoral, of evil nature.' Thus, on account of his accomplishment in virtue, he despises another. Here, a certain one is accomplished in ascetic practices—whether a forest-dweller, an alms-food-eater, a refuse-rag-wearer, a triple-robe-wearer, one who eats in sequence, one who refuses food offered later, a sitter, or one who accepts any lodging. This thought occurs to him: 'I am accomplished in ascetic practices, but these others are not.' Thus, on account of his accomplishment in ascetic practices, he despises another. Then, by livelihood, wisdom, virtue, and observance, one should not despise another. Whether by a coarse or a refined livelihood, by accomplishment in wisdom, by accomplishment in virtue, or by accomplishment in ascetic practices, one should not despise another, nor disparage them, nor on account of that generate conceit, nor become stubborn, rigid, and with head held high. Thus, by livelihood, wisdom, virtue, and observance, one should not despise another.
Ở đây, có người đang sống đời sống cao sang lại khinh thường người khác đang sống đời sống thô sơ (nghĩ rằng): “Người này ít phước đức, ít uy lực làm sao, không nhận được y, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng.” Vị ấy vì đời sống cao sang đó mà khinh thường người khác đang sống đời sống thô sơ. Ở đây, có người có đầy đủ trí tuệ. Khi được hỏi, vị ấy trả lời câu hỏi. Vị ấy có suy nghĩ như sau: “Ta có đầy đủ trí tuệ, còn những người khác này thì không có đầy đủ trí tuệ.” Vị ấy vì sự đầy đủ trí tuệ đó mà khinh thường người khác. Ở đây, có người có đầy đủ giới hạnh, sống được thu thúc bởi sự thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới. Vị ấy có suy nghĩ như sau: “Ta có đầy đủ giới hạnh, còn các vị tỳ khưu khác này thì giới hạnh buông tuồng, có các pháp ác.” Vị ấy vì sự đầy đủ giới hạnh đó mà khinh thường người khác. Ở đây, có người có đầy đủ hạnh đầu đà, hoặc là vị ở rừng, hoặc là vị đi khất thực, hoặc là vị mặc y phấn tảo, hoặc là vị dùng ba y, hoặc là vị khất thực theo thứ tự, hoặc là vị không nhận thêm vật thực sau khi đã ngồi xuống, hoặc là vị ngồi, hoặc là vị dùng sàng tọa nào cũng được. Vị ấy có suy nghĩ như sau: “Ta có đầy đủ hạnh đầu đà, còn những người khác này thì không có đầy đủ hạnh đầu đà.” Vị ấy vì sự đầy đủ hạnh đầu đà đó mà khinh thường người khác. “Rồi không nên vì đời sống, trí tuệ, giới và hạnh mà khinh thường người khác” có nghĩa là: Vì đời sống thô sơ hay đời sống cao sang, vì sự đầy đủ trí tuệ, vì sự đầy đủ giới hạnh, hay vì sự đầy đủ hạnh đầu đà mà không nên khinh thường người khác, không nên coi rẻ, không nên vì đó mà sinh lòng kiêu mạn, không nên vì đó mà trở nên cứng nhắc, kiêu căng, ngẩng cao đầu. – (Đây là ý nghĩa của) “rồi không nên vì đời sống, trí tuệ, giới và hạnh mà khinh thường người khác.”
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Mosavajje na niyyetha, sampajāno saṭhāni na kayirā;
Atha jīvitena paññāya, sīlabbatena nāññamatimaññe’’ti.
“One should not resort to false speech; with clear comprehension, one should not practice craftiness. And by one's livelihood, wisdom, virtue, and observance, one should not despise another.”
“Không nên dấn thân vào lỗi lầm của sự nói dối, với sự tỉnh giác, không nên làm những điều xảo trá; rồi không nên vì đời sống, trí tuệ, giới và hạnh mà khinh thường người khác.”
167.
167.
167.
Sutvā rusito † bahuṃ vācaṃ, samaṇānaṃ vā puthujanānaṃ † ;
Pharusena ne na paṭivajjā, na hi santo paṭiseniṃ karonti † .
Having heard much abusive speech, whether from ascetics or ordinary people, one should not reply to them with harshness; for the good do not retaliate.
“Nghe nhiều lời nói khó chịu, của các sa-môn hay của phàm nhân; không nên đáp lại họ bằng lời thô ác, vì bậc thiện trí không trả đũa.”
Sutvā rusito bahuṃ vācaṃ, samaṇānaṃ puthujanānanti. Rusitoti dūsito khuṃsito ghaṭṭito vambhito garahito upavadito. Samaṇānanti ye keci ito bahiddhā paribbajūpagatā paribbajasamāpannā. Puthujanānanti khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā ca, te bahukāhi vācāhi aniṭṭhāhi akantāhi amanāpāhi akkoseyyuṃ paribhāseyyuṃ roseyyuṃ viroseyyuṃ hiṃseyyuṃ vihiṃseyyuṃ heṭheyyuṃ viheṭheyyuṃ ghāteyyuṃ upaghāteyyuṃ upaghātaṃ kareyyuṃ tesaṃ bahuṃ vācaṃ aniṭṭhaṃ akantaṃ amanāpaṃ sutvā suṇitvā uggahitvā upadhārayitvā upalakkhayitvāti – sutvā rusito bahuṃ vācaṃ, samaṇānaṃ vā puthujanānaṃ.
“Having heard much abusive speech, whether from ascetics or from ordinary people.” Herein, ‘abusive’ (rusito) implies being reviled, scorned, offended, despised, blamed, or reproached. ‘Ascetics’ (samaṇānaṃ) refers to any wanderers outside of this Dispensation, those who have undertaken the wandering life. ‘Ordinary people’ (puthujanānaṃ) refers to nobles, brahmins, merchants, workers, householders, renunciants, devas, and humans, who might revile, abuse, provoke, anger, harm, injure, oppress, vex, kill, assault, or cause injury with many unwanted, unloved, and disagreeable words. Having heard, listened to, learned, borne in mind, and discerned their many unwanted, unloved, and disagreeable words—this is the meaning of “Having heard much abusive speech, whether from ascetics or from ordinary people.”
Sutvā rusito bahuṃ vācaṃ, samaṇānaṃ puthujanānanti có nghĩa là: (Sau khi) đã nghe nhiều lời nói làm cho tức giận của các sa-môn hoặc của các hạng phàm phu. Rusito có nghĩa là bị làm cho ô uế, bị mắng nhiếc, bị xúc phạm, bị khinh miệt, bị khiển trách, bị chỉ trích. Samaṇānaṃ có nghĩa là bất cứ những người nào là du sĩ ngoại đạo, đã trở thành du sĩ, đã là du sĩ. Puthujanānaṃ có nghĩa là các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, các Phệ-xá, các Thủ-đà-la, các tại gia, các xuất gia, các chư thiên, và loài người. Họ có thể mắng nhiếc, phỉ báng, làm cho tức giận, làm cho bực tức, làm hại, gây tổn thương, áp bức, quấy nhiễu, giết hại, hủy hoại, gây ra sự hủy hoại bằng nhiều lời nói không mong muốn, không đáng ưa, không vừa ý. (Sau khi) đã nghe, đã lắng nghe, đã nắm bắt, đã ghi nhớ, đã nhận thức được nhiều lời nói không mong muốn, không đáng ưa, không vừa ý của họ. – (Như thế là) sutvā rusito bahuṃ vācaṃ, samaṇānaṃ vā puthujanānaṃ (đã nghe nhiều lời nói làm cho tức giận của các sa-môn hoặc của các hạng phàm phu).
Pharusena ne na paṭivajjāti. Pharusenāti pharusena kakkhaḷena na paṭivajjā nappaṭibhaṇeyya, akkosantaṃ na paccakkoseyya, rosantaṃ nappaṭiroseyya, bhaṇḍanaṃ nappaṭibhaṇḍeyya na kalahaṃ kareyya na bhaṇḍanaṃ kareyya na viggahaṃ kareyya na vivādaṃ kareyya na medhagaṃ kareyya, kalahabhaṇḍanaviggahavivādamedhagaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, kalahabhaṇḍanaviggahavivādamedhagā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – pharusena ne na paṭivajjā.
“One should not retaliate with harsh speech.” “With harshness” (pharusena) means with harsh, rough speech; one should not retaliate, should not answer back. One should not revile one who reviles, should not provoke one who provokes, should not quarrel with one who quarrels. One should not engage in strife, should not engage in quarrels, should not engage in disputes, should not engage in contention, should not engage in conflict. One should abandon, dispel, eliminate, and bring to cessation strife, quarrels, disputes, contention, and conflict. One should be far removed, detached, completely detached, gone forth, released, liberated, disjoined, and should dwell with a boundless mind from strife, quarrels, disputes, contention, and conflict. This is what is meant by “one should not retaliate with harsh speech.”
Pharusena ne na paṭivajjāti có nghĩa là: (Vị ấy) không nên đáp trả lại họ bằng lời thô lỗ. Pharusena có nghĩa là bằng lời thô lỗ, bằng lời cộc cằn; na paṭivajjā có nghĩa là không nên đáp trả, không nên nói lại. Không nên mắng nhiếc lại người đang mắng nhiếc, không nên tức giận lại người đang tức giận, không nên cãi cọ lại việc cãi cọ. Không nên gây ra sự cãi vã, không nên gây ra sự tranh chấp, không nên gây ra sự xung đột, không nên gây ra sự tranh luận, không nên gây ra sự bất hòa. Vị ấy nên từ bỏ, xua tan, chấm dứt, làm cho biến mất sự cãi vã, tranh chấp, xung đột, tranh luận, bất hòa. Vị ấy nên xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát khỏi, tách rời, giải thoát, không dính mắc khỏi sự cãi vã, tranh chấp, xung đột, tranh luận, bất hòa; nên an trú với tâm đã được cởi bỏ các giới hạn. – (Như thế là) pharusena ne na paṭivajjā.
Na hi santo paṭiseniṃ karontīti. Santoti rāgassa santattā santo, dosassa… mohassa… kodhassa… upanāhassa…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā vūpasamitattā vijjhātattā nibbutattā vigatattā paṭipassaddhattā santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddhoti – santo. Na hi santo paṭiseniṃ karontīti. Santo paṭiseniṃ paṭimallaṃ paṭikaṇṭakaṃ † paṭipakkhaṃ na karonti na janenti na sañjanenti na nibbattenti nābhinibbattentīti – na hi santo paṭiseniṃ karonti.
“For the peaceful do not retaliate.” “Peaceful” (santo): because they are calmed of lust, they are peaceful; because of hatred… delusion… anger… resentment… and all unwholesome formations, through their calming, stilling, pacification, extinguishing, liberation, disappearance, and subsiding—they are peaceful, calmed, pacified, extinguished, and subsided. This is what is meant by “peaceful.” “For the peaceful do not retaliate.” The peaceful do not do, generate, produce, bring into being, or cause to arise retaliation, opposition, hostility, or resistance. Thus, “for the peaceful do not retaliate.”
Na hi santo paṭiseniṃ karontīti có nghĩa là: Vì bậc thiện trí không tạo ra sự đối kháng. Santo (bậc thiện trí) là do tham ái đã được làm cho lắng dịu, do sân hận... do si mê... do phẫn nộ... do oán hận... cho đến... do tất cả các pháp hành bất thiện đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho hoàn toàn an tịnh, đã được dập tắt, đã được tịch tịnh, đã được tiêu trừ, đã được làm cho yên lặng. Vị ấy là bậc thiện trí, là bậc an tịnh, là bậc hoàn toàn an tịnh, là bậc tịch tịnh, là bậc yên lặng. – (Như thế là) santo. Na hi santo paṭiseniṃ karontīti: Bậc thiện trí không tạo ra, không làm phát sanh, không làm sanh khởi, không làm cho hiện hữu, không làm cho khởi lên sự đối kháng, kẻ đối địch, cái gai chướng, phe đối lập. – (Như thế là) na hi santo paṭiseniṃ karonti.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã thuyết rằng –
‘‘Sutvā rusito bahuṃ vācaṃ, samaṇānaṃ vā puthujanānaṃ;
Pharusena ne na paṭivajjā, na hi santo paṭiseniṃ karontī’’ti.
“Having heard much abusive speech from ascetics or ordinary people, one should not reply with harshness; for the good do not retaliate.”
“Nghe nhiều lời nói làm cho tức giận, của sa-môn hay của phàm phu; Không nên đáp trả họ bằng lời thô lỗ, vì bậc thiện trí không tạo đối kháng.”
168.
168.
168.
Etañca dhammamaññāya, vicinaṃ bhikkhu sadā sato sikkhe;
Santīti nibbutiṃ ñatvā, sāsane gotamassa nappamajjeyya.
Having understood this Dhamma, a bhikkhu, investigating and ever mindful, should train; having known Nibbāna as ‘peace,’ he should not be negligent in the Dispensation of Gotama.
Và đã hiểu rõ Pháp này, vị tỳ khưu thẩm xét, luôn chánh niệm, nên tu tập; Biết được Niết-bàn là 'an tịnh,' không nên dễ duôi trong giáo pháp của đức Gotama.
Etañca dhammamaññāyāti. Etanti ācikkhitaṃ desitaṃ paññapitaṃ paṭṭhapitaṃ vivaṭaṃ vibhattaṃ uttānīkataṃ pakāsitaṃ dhammaṃ aññāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti. Evampi etañca dhammamaññāya. Atha vā samañca visamañca pathañca vipathañca sāvajjañca anavajjañca hīnañca paṇītañca kaṇhañca sukkañca viññūgarahitañca viññūpasatthañca dhammaṃ aññāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti. Evampi etañca dhammamaññāya. Atha vā sammāpaṭipadaṃ anulomapaṭipadaṃ apaccanīkapaṭipadaṃ aviruddhapaṭipadaṃ anvatthapaṭipadaṃ dhammānudhammapaṭipadaṃ sīlesu paripūrakāritaṃ indriyesu guttadvārataṃ bhojane mattaññutaṃ jāgariyānuyogaṃ satisampajaññaṃ, cattāro satipaṭṭhāne cattāro sammappadhāne cattāro iddhipāde pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅge ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ, nibbānañca nibbānagāminiñca paṭipadaṃ dhammaṃ aññāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti. Evampi tañca dhammamaññāya.
“Having understood this Dhamma.” “This” (etaṃ) refers to the Dhamma that has been described, taught, made known, established, disclosed, analyzed, clarified, and revealed. Having understood, known, considered, investigated, discerned, and made manifest the Dhamma in this way—this, too, is the meaning of “having understood this Dhamma.” Or else, having understood, known, considered, investigated, discerned, and made manifest the Dhamma—both the even and the uneven, the path and the non-path, the blameworthy and the blameless, the inferior and the superior, the dark and the bright, what is censured by the wise and what is praised by the wise—this, too, is the meaning of “having understood this Dhamma.” Or else, having understood, known, considered, investigated, discerned, and made manifest the Dhamma—that is, the right practice, the conforming practice, the unoppositional practice, the non-conflicting practice, the practice in accordance with the meaning, the practice in accordance with the Dhamma; the fulfillment of virtuous conduct, guarding the doors of the senses, moderation in eating, dedication to wakefulness, mindfulness and clear comprehension; the four foundations of mindfulness, the four right exertions, the four bases of power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the Noble Eightfold Path; and Nibbāna and the path leading to Nibbāna—this, too, is the meaning of “having understood this Dhamma.”
Etañca dhammamaññāyāti: Về câu Etañca dhammamaññāya. Etaṃ có nghĩa là Pháp đã được nói lên, đã được thuyết giảng, đã được chế định, đã được thiết lập, đã được khai mở, đã được phân tích, đã được làm cho rõ ràng, đã được hiển thị. Aññāya có nghĩa là đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển nhiên. – Đây cũng là ý nghĩa của etañca dhammamaññāya. Hoặc là, (đã biết) điều đồng đều và điều không đồng đều, con đường và không phải con đường, điều có tội lỗi và điều không có tội lỗi, điều thấp kém và điều cao thượng, (pháp) đen và (pháp) trắng, pháp bị bậc trí chê trách và pháp được bậc trí tán thán. Aññāya có nghĩa là đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển nhiên. – Đây cũng là ý nghĩa của etañca dhammamaññāya. Hoặc là, (đã biết) chánh đạo, thuận đạo, đạo không đối nghịch, đạo không mâu thuẫn, đạo thuận theo ý nghĩa, đạo tùy thuận các pháp; (đã biết) sự thực hành viên mãn trong các giới, sự phòng hộ các căn, sự tiết độ trong ăn uống, sự chuyên tâm cảnh giác, chánh niệm và tỉnh giác, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành, Niết-bàn, và con đường đưa đến Niết-bàn. Aññāya có nghĩa là đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển nhiên. – Đây cũng là ý nghĩa của tañca dhammamaññāya.
Vicinaṃ bhikkhu sadā sato sikkheti. Vicinanti vicinanto pavicinanto tulayanto tīrayanto vibhāvayanto vibhūtaṃ karonto. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti vicinanto pavicinanto tulayanto tīrayanto vibhāvayanto vibhūtaṃ karontoti – vicinaṃ bhikkhu. Sadāti sadā sabbadā sabbakālaṃ…pe… pacchime vayokhandhe. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato…pe… so vuccati sato. Sikkheti tisso sikkhāyo – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā…pe… ayaṃ adhipaññāsikkhā. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya…pe… sikkheyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – vicinaṃ bhikkhu sadā sato sikkhe.
“A bhikkhu who investigates, ever mindful, should train.” “Investigating” (vicinaṃ) means investigating, thoroughly examining, weighing, discerning, clarifying, and making manifest. “All formations are impermanent”… “Whatever is of a nature to arise, all that is of a nature to cease”—investigating, thoroughly examining, weighing, discerning, clarifying, and making manifest. This is what is meant by “a bhikkhu who investigates.” “Ever” (sadā) means always, at all times, for all time… up to the last stage of life. “Mindful” (sato) means mindful for four reasons—developing the foundation of mindfulness which is the contemplation of the body in the body… he is called mindful. “Should train” (sikkhe) in the threefold training—the training in higher virtue, the training in higher mind, the training in higher wisdom… this is the training in higher wisdom. Reflecting on these three trainings, one should train… should train, should practice, should practice well, and should conduct oneself having undertaken them. Thus, “a bhikkhu who investigates, ever mindful, should train.”
Vicinaṃ bhikkhu sadā sato sikkheti: Về câu Vicinaṃ bhikkhu sadā sato sikkhe. Vicinaṃ có nghĩa là đang thẩm xét, đang thẩm xét kỹ lưỡng, đang cân nhắc, đang thẩm định, đang làm cho sáng tỏ, đang làm cho hiển nhiên. (Vị ấy) đang thẩm xét, đang thẩm xét kỹ lưỡng, đang cân nhắc, đang thẩm định, đang làm cho sáng tỏ, đang làm cho hiển nhiên rằng: “Tất cả các pháp hành là vô thường”... cho đến... “Pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận.” – (Như thế là) vicinaṃ bhikkhu. Sadā có nghĩa là luôn luôn, mọi lúc, mọi thời... cho đến... trong giai đoạn cuối của cuộc đời. Sato có nghĩa là có chánh niệm do bốn lý do – là người có chánh niệm khi đang tu tập niệm xứ quán thân trên thân... cho đến... vị ấy được gọi là người có chánh niệm. Sikkhe (nên tu tập). Có ba học pháp – tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học... cho đến... đây là tăng thượng tuệ học. Hướng tâm đến ba học pháp này, vị ấy nên tu tập... cho đến... nên tu tập, nên thực hành, nên thực hành tốt, sau khi đã thọ trì, nên sống theo. – (Như thế là) vicinaṃ bhikkhu sadā sato sikkhe.
Santīti nibbutiṃ ñatvāti. Rāgassa nibbutiṃ santīti ñatvā, dosassa… mohassa…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ nibbutiṃ santīti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – santīti nibbutiṃ ñatvā.
“Knowing extinguishment as peace.” Knowing the extinguishment of lust as peace, of hatred… of delusion… knowing the extinguishment of all unwholesome formations as peace—having known, understood, weighed, discerned, clarified, and made manifest. Thus, “knowing extinguishment as peace.”
Santīti nibbutiṃ ñatvāti: Về câu Santīti nibbutiṃ ñatvā. (Điều này có nghĩa là) đã biết sự dập tắt của tham ái là 'an tịnh,' (sự dập tắt) của sân hận... của si mê... cho đến... đã biết sự dập tắt của tất cả các pháp hành bất thiện là 'an tịnh.' Đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển nhiên. – (Như thế là) santīti nibbutiṃ ñatvā.
Sāsane gotamassa nappamajjeyyāti. Gotamassa sāsane buddhasāsane jinasāsane tathāgatasāsane devasāsane arahantasāsane. Nappamajjeyyāti sakkaccakārī assa sātaccakārī aṭṭhitakārī anolīnavuttiko anikkhittacchando anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. ‘‘Kadāhaṃ aparipūraṃ vā sīlakkhandhaṃ paripūreyyaṃ…pe… aparipūraṃ vā samādhikkhandhaṃ… paññākkhandhaṃ… vimuttikkhandhaṃ… vimuttiñāṇadassanakkhandhaṃ? Kadāhaṃ apariññātaṃ vā dukkhaṃ parijāneyyaṃ, appahīne vā kilese pajaheyyaṃ, abhāvitaṃ vā maggaṃ bhāveyyaṃ, asacchikataṃ vā nirodhaṃ sacchikareyya’’nti? Yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca thāmo ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca ātappaṃ padhānaṃ adhiṭṭhānaṃ anuyogo appamādo kusalesu dhammesūti – sāsane gotamassa nappamajjeyya.
“One should not be negligent in the Dispensation of Gotama.” The Dispensation of Gotama is the Dispensation of the Buddha, the Dispensation of the Victor, the Dispensation of the Tathāgata, the Dispensation of the Deva, the Dispensation of the Arahant. “One should not be negligent” means one should be conscientious, continuous in effort, steadfast, of unrelaxed conduct, not abandoning aspiration, not relinquishing the burden in regard to wholesome qualities. “When will I fulfill the incomplete aggregate of virtue?… When will I fulfill the incomplete aggregate of concentration?… the aggregate of wisdom?… the aggregate of liberation?… the aggregate of the knowledge and vision of liberation? When will I fully understand suffering that has not been fully understood? When will I abandon defilements that have not been abandoned? When will I develop the path that has not been developed? When will I realize cessation that has not been realized?” Whatever desire, effort, exertion, vigorous striving, strength, non-retreating, mindfulness, clear comprehension, ardour, striving, determination, application, and diligence there is in regard to wholesome qualities—this is the meaning of 'in the Dispensation of Gotama, one should not be negligent.'
“Sāsane gotamassa nappamajjeyyāti” (Không nên dể duôi trong giáo pháp của đức Gotama) có nghĩa là: Trong giáo pháp của đức Gotama, trong giáo pháp của bậc Giác Ngộ, trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, trong giáo pháp của bậc Như Lai, trong giáo pháp của bậc Thiên Nhân, trong giáo pháp của bậc A-la-hán. “Nappamajjeyyāti” (Không nên dể duôi) có nghĩa là: nên là người hành động một cách trân trọng, nên là người hành động một cách liên tục, nên là người hành động một cách kiên cố, là người có sinh kế không co rút, là người có ước muốn không từ bỏ, là người có trách nhiệm không từ bỏ đối với các thiện pháp. “Khi nào ta sẽ làm cho viên mãn giới uẩn chưa viên mãn… cho đến… định uẩn chưa viên mãn… tuệ uẩn… giải thoát uẩn… giải thoát tri kiến uẩn? Khi nào ta sẽ liễu tri khổ đế chưa được liễu tri, sẽ đoạn trừ các phiền não chưa được đoạn trừ, sẽ tu tập đạo lộ chưa được tu tập, sẽ chứng ngộ sự diệt khổ chưa được chứng ngộ?”. Dục, tinh tấn, nỗ lực, gắng sức, sức mạnh, không thối chuyển, niệm, tỉnh giác, sự nhiệt tâm, sự tinh cần, sự quyết định, sự chuyên chú, sự không dể duôi ở trong ấy đối với các thiện pháp – (đây là ý nghĩa của) không nên dể duôi trong giáo pháp của đức Gotama.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã thuyết rằng:
‘‘Etañca dhammamaññāya, vicinaṃ bhikkhu sadā sato sikkhe;
Santīti nibbutiṃ ñatvā, sāsane gotamassa nappamajjeyyā’’ti.
“Having understood this Dhamma, the monk, ever mindful, should investigate and train; knowing peace as Nibbāna, he should not be negligent in the Dispensation of Gotama.”
“Vị tỳ khưu luôn chánh niệm, sau khi đã hiểu và thẩm xét pháp này, nên tu học. Sau khi đã biết sự tịch tịnh là Niết-bàn, không nên dể duôi trong giáo pháp của đức Gotama.”
169.
169.
169.
Abhibhū hi so anabhibhūto, sakkhidhammamanītihamaddasi;
Tasmā hi tassa bhagavato sāsane, appamatto sadā namassamanusikkhe.[iti bhagavā]
For he is the conqueror, unconquered; he saw the Dhamma directly, free from anxiety. Therefore, in the Dispensation of that Blessed One, ever heedful, one should train with reverence.
Vị ấy là bậc chinh phục, không bị chinh phục, đã thấy pháp trực tiếp, không qua lời truyền. Do đó, trong giáo pháp của đức Thế Tôn ấy, hãy luôn không dể duôi, cung kính và tu học.
Abhibhū hi so anabhibhūtoti. Abhibhūti rūpābhibhū † saddābhibhū gandhābhibhū rasābhibhū phoṭṭhabbābhibhū dhammābhibhū, anabhibhūto kehici kilesehi, abhibhosi ne pāpake † akusale dhamme saṃkilesike ponobhavike sadare dukkhavipāke āyatiṃ jātijarāmaraṇiyeti – abhibhū hi so anabhibhūto.
“For he is the conqueror, unconquered.” “Conqueror” means a conqueror of forms, a conqueror of sounds, a conqueror of smells, a conqueror of tastes, a conqueror of tactile objects, a conqueror of mental phenomena; he is unconquered by any defilements. He has conquered those evil, unwholesome states that defile, lead to renewed existence, are fraught with anxiety, ripen in suffering, and conduce to future birth, aging, and death. Thus, “for he is the conqueror, unconquered.”
“Abhibhū hi so anabhibhūtoti” (Vị ấy là bậc chinh phục, không bị chinh phục) có nghĩa là: “Abhibhū” (Chinh phục) là chinh phục sắc, chinh phục thanh, chinh phục hương, chinh phục vị, chinh phục xúc, chinh phục pháp; “anabhibhūto” (không bị chinh phục) bởi bất cứ phiền não nào; vị ấy đã chinh phục các pháp ác, bất thiện, ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có phiền muộn, có quả khổ, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai – (đây là ý nghĩa của) “vị ấy là bậc chinh phục, không bị chinh phục”.
Sakkhidhammamanītihamaddasīti. Sakkhidhammanti na itihitihaṃ na itikiriyāya na paramparāya na piṭakasampadāya na takkahetu na nayahetu na ākāraparivitakkena na diṭṭhinijjhānakkhantiyā sāmaṃ sayamabhiññātaṃ attapaccakkhadhammaṃ addasi addakkhi apassi paṭivijjhīti – sakkhidhammamanītihamaddasi.
“He saw the Dhamma directly, not by hearsay.” “He saw the Dhamma directly” means not by tradition, not by rumor, not by lineage, not by the completeness of the Piṭaka, not by logical reasoning, not by inferential reasoning, not by reflecting on appearances, nor by the acceptance of a view after consideration. Rather, he saw, beheld, perceived, and penetrated the Dhamma that is personally witnessed, known for himself through direct knowledge. Thus, “he saw the Dhamma directly, not by hearsay.”
“Sakkhidhammamanītihamaddasīti” (Đã thấy pháp trực tiếp, không qua lời truyền) có nghĩa là: “Sakkhidhammaṃ” (Pháp trực tiếp) là không phải do truyền khẩu, không phải do truyền thống, không phải do kế thừa, không phải do dựa vào kinh điển, không phải do lý luận, không phải do suy diễn, không phải do tư duy về các phương diện, không phải do chấp nhận quan điểm sau khi đã thẩm xét, mà là pháp được tự mình thắng tri, tự mình chứng nghiệm, đã thấy, đã nhận ra, đã liễu tri, đã thông suốt – (đây là ý nghĩa của) “đã thấy pháp trực tiếp, không qua lời truyền”.
Tasmā hi tassa bhagavato sāsaneti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā. Tassa bhagavato sāsaneti. Tassa bhagavato sāsane gotamasāsane buddhasāsane jinasāsane tathāgatasāsane devasāsane arahantasāsaneti – tasmā tassa bhagavato sāsane.
“Therefore, in the Blessed One’s Dispensation.” “Therefore” (tasmā) means for that reason, because of that cause, dependent on that condition, rooted in that origin. “In the Blessed One’s Dispensation” (tassa bhagavato sāsane) means in the Dispensation of that Blessed One, the Dispensation of Gotama, the Dispensation of the Buddha, the Dispensation of the Victor, the Dispensation of the Tathāgata, the Dispensation of the Deva, the Dispensation of the Arahant. Thus, “therefore, in the Blessed One’s Dispensation.”
“Tasmā hi tassa bhagavato sāsaneti” (Do đó, trong giáo pháp của đức Thế Tôn ấy) có nghĩa là: “Tasmā” (Do đó) là vì lý do ấy, vì nguyên nhân ấy, vì duyên ấy, vì nhân duyên ấy. “Tassa bhagavato sāsane” (Trong giáo pháp của đức Thế Tôn ấy) có nghĩa là: trong giáo pháp của đức Thế Tôn ấy, trong giáo pháp của đức Gotama, trong giáo pháp của bậc Giác Ngộ, trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, trong giáo pháp của bậc Như Lai, trong giáo pháp của bậc Thiên Nhân, trong giáo pháp của bậc A-la-hán – (đây là ý nghĩa của) “do đó, trong giáo pháp của đức Thế Tôn ấy”.
Appamatto sadā namassamanusikkhe (iti bhagavā)ti. Appamattoti sakkaccakārī…pe… appamādo kusalesu dhammesu. Sadāti sadā sabbakālaṃ…pe… pacchime vayokhandhe. Namassanti kāyena vā namassamāno vācāya vā namassamāno cittena vā namassamāno anvatthapaṭipattiyā vā namassamāno dhammānudhammapaṭipattiyā vā namassamāno sakkurumāno garukurumāno † mānayamāno pūjayamāno apacayamāno. Anusikkheti tisso sikkhāyo – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā…pe… ayaṃ adhipaññāsikkhā. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya careyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyya. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti – appamatto sadā namassamanusikkhe. (Iti bhagavā).
“Be heedful, always pay homage, and train,” (so said the Blessed One). “Be heedful” means acting with respect… heedfulness in wholesome qualities. “Always” means always, at all times… until the final stage of life. “Pay homage” means paying homage with the body, with speech, or with the mind, or paying homage through conduct that follows the meaning, or paying homage through conduct in accordance with the Dhamma—honoring, respecting, revering, venerating, showing deference. “Train” refers to the threefold training—the training in higher virtue, the training in higher mind, the training in higher wisdom… this is the training in higher wisdom. Reflecting on these three trainings, one should train… realizing what is to be realized, one should train, practice, practice repeatedly, practice well, and having undertaken it, one should live. “The Blessed One” is a term of reverence… the designation “Bhagavā” is a realized truth. Thus, “Be heedful, always pay homage, and train,” (so said the Blessed One).
“Appamatto sadā namassamanusikkhe (iti bhagavā)ti” (Hãy luôn không dể duôi, cung kính và tu học) có nghĩa là: “Appamatto” (Không dể duôi) là người hành động một cách trân trọng… cho đến… sự không dể duôi đối với các thiện pháp. “Sadā” (Luôn) là luôn luôn, mọi lúc… cho đến… trong giai đoạn cuối của cuộc đời. “Namassam” (Cung kính) là cung kính qua thân, cung kính qua lời, cung kính qua ý, cung kính qua sự thực hành đúng theo ý nghĩa, cung kính qua sự thực hành pháp và tùy pháp, là tôn trọng, kính trọng, quý trọng, cúng dường, tôn kính. “Anusikkhe” (Tu học) là ba học giới: tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học… cho đến… đây là tăng thượng tuệ học. Nên tu học sau khi đã quán xét ba học giới này… cho đến… nên tu học, nên thực hành, nên thường xuyên thực hành, nên thực hành tốt đẹp, nên thọ trì và thực hành trong khi đang chứng ngộ điều cần được chứng ngộ. “Bhagavā” là danh xưng tôn kính… cho đến… danh xưng “Bhagavā” này là một định danh được chứng thực – (đây là ý nghĩa của) “hãy luôn không dể duôi, cung kính và tu học”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã thuyết rằng:
‘‘Abhibhū hi so anabhibhūto, sakkhidhammamanītihamaddasi;
Tasmā hi tassa bhagavato sāsane, appamatto sadā namassamanusikkhe’’. [iti bhagavāti]
“For he is the overcomer, unconquered, he saw the Dhamma directly, not by hearsay; therefore, in the Dispensation of that Blessed One, be heedful, always pay homage, and train.” [Thus said the Blessed One.]
“Vị ấy là bậc chinh phục, không bị chinh phục, đã thấy pháp trực tiếp, không qua lời truyền. Do đó, trong giáo pháp của đức Thế Tôn ấy, hãy luôn không dể duôi, cung kính và tu học.”
The Exposition of the Tuvaṭṭaka Sutta, the Fourteenth, is concluded.
Phần giải thích kinh Tuvaṭṭaka, chương thứ mười bốn.