Bản dịch
MND 13 — Diễn Giải Kinh Sự Dàn Trận Lớn
13. Mahābyūhasuttaniddesa
Giờ phần Diễn Giải Kinh ‘Sự Dàn Trận Lớn’ được nói đến :
Bất cứ những người nào, trong khi sống theo quan điểm (riêng của cá nhân), tranh cãi rằng: ‘Chỉ điều này là chân lý,’ có phải tất cả những người ấy đều mang lại sự chê bai, hay họ cũng đạt được sự khen ngợi về việc ấy?
Bất cứ những người nào, trong khi sống theo quan điểm (riêng của cá nhân) – Bất cứ những người nào : tất cả theo mọi hình thức, tất cả ở mọi nơi, một cách trọn vẹn, không còn dư sót, cụm từ ‘ ye keci ’ này là lối nói của sự bao gồm. Trong khi sống theo quan điểm (riêng của cá nhân) : Có một số Sa-môn và Bà-la-môn là những người theo tà kiến. Các vị ấy chấp nhận, tiếp thu, nắm lấy, bám víu, cố chấp tà kiến này khác trong số 62 tà kiến, rồi sống, cộng trú, thường trú, cư trú theo tà kiến của riêng mình. Giống như những người tại gia sống trong các ngôi nhà, những người có tội lỗi sống trong các tội lỗi, những người có ô nhiễm sống trong các ô nhiễm, tương tợ y như thế, có một số –nt– cư trú theo tà kiến của riêng mình; – ‘bất cứ những người nào, trong khi sống theo quan điểm (riêng của cá nhân)’ là như thế.
Tranh cãi rằng: ‘Chỉ điều này là chân lý’ – Họ nói, thuyết giảng, phát ngôn, diễn giải, diễn tả rằng: ‘Thế giới là thường còn; chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại.’ Họ nói, thuyết giảng, phát ngôn, diễn giải, diễn tả rằng: ‘Thế giới là không thường còn, —nt— Đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết; chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại;’ – ‘tranh cãi rằng: ‘Chỉ điều này là chân lý’ là như thế.
Có phải tất cả những người ấy đều mang lại sự chê bai – Có phải tất cả các Sa-môn và Bà-la-môn ấy đều đi đến sự chê bai, đều đi đến sự chê trách, đều đi đến sự không có tiếng tăm; có phải tất cả đều bị chê bai, tất cả đều bị chê trách, tất cả đều không được nổi tiếng– ‘có phải tất cả những người ấy đều mang lại sự chê bai’ là như thế.
Hay họ cũng đạt được sự khen ngợi về việc ấy? – Về việc ấy, do quan điểm của mình, do sự chấp nhận của mình, do sự ưa thích của mình, do quan niệm của mình, họ đạt được, họ tiếp nhận, họ đạt đến, họ kiếm được sự ca ngợi, sự khen ngợi, sự tán dương, sự ca tụng; – ‘hay họ cũng đạt được sự khen ngợi về việc ấy?’ là như thế.
Vì thế, vị (Phật) do thần thông biến hóa ra đã hỏi rằng:
“ Bất cứ những người nào, trong khi sống theo quan điểm (riêng của cá nhân), tranh cãi rằng: ‘Chỉ điều này là chân lý,’ có phải tất cả những người ấy đều mang lại sự chê bai, hay họ cũng đạt được sự khen ngợi về việc ấy? ”
Bởi vì việc (ca ngợi) này là ít ỏi, không đủ để đưa đến sự yên lặng. Ta nói đến hai kết quả của sự tranh cãi. Và sau khi nhìn thấy như vậy, thì không nên tạo ra sự tranh cãi, trong khi nhận thấy vùng đất không tranh cãi là an toàn (Niết Bàn) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bởi vì việc (ca ngợi) này là ít ỏi, không đủ để đưa đến sự yên lặng. Ta nói đến hai kết quả của sự tranh cãi. Và sau khi nhìn thấy như vậy, thì không nên tạo ra sự tranh cãi, trong khi nhận thấy vùng đất không tranh cãi là an toàn (Niết Bàn) .”
Bất cứ những thỏa thuận chung nào được sanh lên từ số đông, bậc đã hiểu biết không tiếp cận tất cả những điều ấy. Trong khi không thể hiện sự chấp nhận ở điều đã được thấy, ở điều đã được nghe, vị ấy, không có sự vướng bận, tại sao lại đi đến với sự vướng bận?
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bất cứ những thỏa thuận chung nào được sanh lên từ số đông, bậc đã hiểu biết không tiếp cận tất cả những điều ấy. Trong khi không thể hiện sự chấp nhận ở điều đã được thấy, ở điều đã được nghe, vị ấy, không có sự vướng bận, tại sao lại đi đến với sự vướng bận? ”
Những kẻ chủ trương giới là tối thượng đã nói sự trong sạch là do sự tự chế ngự. Sau khi thọ trì phận sự, họ duy trì (nghĩ rằng): ‘Chúng ta hãy học tập ở lãnh vực này thôi, rồi sẽ có sự trong sạch;’ họ bị dẫn đến hữu trong khi tuyên bố (mình) là thiện xảo .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Những kẻ chủ trương giới là tối thượng đã nói sự trong sạch là do sự tự chế ngự. Sau khi thọ trì phận sự, họ duy trì (nghĩ rằng): ‘Chúng ta hãy học tập ở lãnh vực này thôi, rồi sẽ có sự trong sạch;’ họ bị dẫn đến hữu trong khi tuyên bố (mình) là thiện xảo .”
Nếu đã lìa khỏi giới và phận sự,
kẻ ấy run rẩy sau khi thất bại về hành động,
kẻ ấy tham muốn và ước nguyện sự trong sạch,
ví như người bị thất lạc với đoàn lữ hành trong khi sống xa nhà .
Nếu đã lìa khỏi giới và phận sự – Lìa khỏi giới và phận sự bởi hai lý do: lìa khỏi do sự can ngăn của người khác, hoặc là trong khi không thành tựu rồi lìa khỏi. Lìa khỏi do sự can ngăn của người khác là thế nào? Người khác can ngăn rằng: ‘Vị đạo sư ấy không là đấng toàn tri, pháp không khéo được thuyết giảng, tập thể không khéo được huấn luyện, quan điểm không tốt lành, lối thực hành không khéo được quy định, đạo lộ không dẫn dắt ra khỏi; ở đây không có sự trong sạch, hay sự thanh tịnh, hay sự hoàn toàn trong sạch, hay sự thoát khỏi, hay sự giải thoát, hay sự hoàn toàn thoát khỏi; ở đây không có những người được trong sạch, hay được thanh tịnh, hay được hoàn toàn trong sạch, hay được thoát khỏi, hay được giải thoát, hay được hoàn toàn thoát khỏi; họ thấp hèn, hèn kém, hèn mọn, thấp kém, thấp thỏi, tồi tệ, nhỏ nhoi; người khác can ngăn là như vậy. Trong khi bị can ngăn như vậy rồi lìa khỏi vị đạo sư, lìa khỏi giáo lý, lìa khỏi tập thể, lìa khỏi quan điểm, lìa khỏi lối thực hành, lìa khỏi đạo lộ; – lìa khỏi do sự can ngăn của người khác là như vậy. Trong khi không thành tựu rồi lìa khỏi là thế nào? Trong khi không thành tựu giới rồi lìa khỏi giới, trong khi không thành tựu phận sự rồi lìa khỏi phận sự, trong khi không thành tựu giới và phận sự rồi lìa khỏi giới và phận sự; trong khi không thành tựu rồi lìa khỏi là như vậy; – ‘nếu đã lìa khỏi giới và phận sự’ là như thế.
Kẻ ấy run rẩy sau khi thất bại về hành động – Kẻ ấy run rẩy : ‘Ta bị mất mát, ta bị thất bại, ta bị lầm lỡ, ta bị rơi khỏi giới, hoặc phận sự, hay giới và phận sự; ta bị thất bại do không hiểu biết,’ (nghĩ vậy) kẻ ấy run rẩy, run bắn lên, rúng động; – ‘kẻ ấy run rẩy’ là như thế. Sau khi thất bại về hành động : ‘Ta bị mất mát, ta bị thất bại, ta bị lầm lỡ, ta bị rơi khỏi phúc hành, hoặc phi phúc hành, hoặc bất động hành; ta bị thất bại do không hiểu biết,’ (nghĩ vậy) kẻ ấy run rẩy, run bắn lên, rúng động; – ‘kẻ ấy run rẩy sau khi thất bại về hành động’ là như thế.
Kẻ ấy tham muốn và ước nguyện sự trong sạch – Kẻ ấy tham muốn : là tham muốn giới, hoặc tham muốn phận sự, hoặc tham muốn, khởi tham muốn, tham đắm giới và phận sự; – ‘kẻ ấy tham muốn’ là như thế. Và ước nguyện sự trong sạch : là ước nguyện sự trong sạch về giới, hoặc ước nguyện sự trong sạch về phận sự, hoặc ước nguyện, mong cầu, tham đắm sự trong sạch về giới và phận sự; – ‘kẻ ấy tham muốn và ước nguyện sự trong sạch’ là như thế.
Ví như người bị thất lạc với đoàn lữ hành trong khi sống xa nhà – Giống như người nam, trong lúc rời khỏi nhà sống cùng đoàn lữ hành và bị rớt lại phía sau đoàn lữ hành, thì: hoặc là đuổi theo đoàn lữ hành ấy, hoặc là trở về lại nhà của mình; tương tự y như thế, kẻ theo tà kiến ấy nắm lấy vị đạo sư ấy hoặc là nắm lấy vị đạo sư khác, nắm lấy giáo lý ấy hoặc là nắm lấy giáo lý khác, nắm lấy tập thể ấy hoặc là nắm lấy tập thể khác, nắm lấy quan điểm ấy hoặc là nắm lấy quan điểm khác, nắm lấy lối thực hành ấy hoặc là nắm lấy lối thực hành khác, nắm lấy đạo lộ ấy hoặc là nắm lấy, bám víu, cố chấp đạo lộ khác; – ‘ví như người bị thất lạc với đoàn lữ hành trong khi sống xa nhà’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nếu đã lìa khỏi giới và phận sự,
kẻ ấy run rẩy sau khi thất bại về hành động,
kẻ ấy tham muốn và ước nguyện sự trong sạch,
ví như người bị thất lạc với đoàn lữ hành trong khi sống xa nhà .”
Và sau khi đã dứt bỏ tất cả giới và phận sự,
cùng hành động có tội hoặc không có tội ấy,
trong khi không ước nguyện ‘sự trong sạch hay không trong sạch,’
đã lìa bỏ, vị ấy sống, không nắm bắt sự an tịnh (do tà kiến) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Và sau khi đã dứt bỏ tất cả giới và phận sự,
cùng hành động có tội hoặc không có tội ấy,
trong khi không ước nguyện ‘sự trong sạch hay không trong sạch,’
đã lìa bỏ, vị ấy sống, không nắm bắt sự an tịnh (do tà kiến) .”
Sau khi nương tựa vào điều đã bị chán ghét ấy (khổ hạnh),
hoặc vào điều gì đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác,
những kẻ chủ trương luân hồi hướng thượng nói về sự trong sạch,
chúng chưa xa lìa tham ái ở hữu và phi hữu .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi nương tựa vào điều đã bị chán ghét ấy (khổ hạnh),
hoặc vào điều gì đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác,
những kẻ chủ trương luân hồi hướng thượng nói về sự trong sạch,
chúng chưa xa lìa tham ái ở hữu và phi hữu .”
Bởi vì người, trong khi ước nguyện, có các sự tham muốn thậm chí còn có sự run sợ về các điều đã được xếp đặt. Ở đây, đối với vị nào tử và sanh là không có, vị ấy có thế run rẩy vì cái gì, có thể tham muốn về cái gì?
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bởi vì người, trong khi ước nguyện, có các sự tham muốn thậm chí còn có sự run sợ về các điều đã được xếp đặt. Ở đây, đối với vị nào tử và sanh là không có, vị ấy có thế run rẩy vì cái gì, có thể tham muốn về cái gì? ”
Pháp nào mà một số vị đã nói là ‘tối thắng,’
trái lại, những vị khác đã nói về pháp ấy là ‘thấp kém;’
vậy trong số những vị này, lời nói nào là sự thật,
bởi vì tất cả các vị này đều tuyên bố (mình) là thiện xảo?
Vì thế, vị (Phật) do thần thông biến hóa ra đã hỏi rằng:
“ Pháp nào mà một số vị đã nói là ‘tối thắng,’
trái lại, những vị khác đã nói về pháp ấy là ‘thấp kém;’
vậy trong số những vị này, lời nói nào là sự thật,
bởi vì tất cả các vị này đều tuyên bố (mình) là thiện xảo? ”
Chúng đã tuyên bố pháp của chính mình là hoàn hảo,
hơn nữa, chúng đã tuyên bố pháp của người khác là thấp kém.
Sau khi giữ khư khư (quan điểm của mình) như vậy, chúng tranh cãi,
và đã tuyên bố quan điểm riêng của từng cá nhân là sự thật .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Chúng đã tuyên bố pháp của chính mình là hoàn hảo,
hơn nữa, chúng đã tuyên bố pháp của người khác là thấp kém.
Sau khi giữ khư khư (quan điểm của mình) như vậy, chúng tranh cãi,
và đã tuyên bố quan điểm riêng của từng cá nhân là sự thật .”
Nếu là thấp kém do việc bị khinh miệt của người khác,
thì không có pháp nào là đặc biệt trong số các pháp,
bởi vì số đông tuyên bố pháp của người khác
là thấp hèn, trong khi nói một cách chắc chắn về (pháp) của mình .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nếu là thấp kém do việc bị khinh miệt của người khác,
thì không có pháp nào là đặc biệt trong số các pháp,
bởi vì số đông tuyên bố pháp của người khác
là thấp hèn, trong khi nói một cách chắc chắn về (pháp) của mình .”
Hơn nữa, việc cúng dường đến học thuyết của chúng sẽ là như thế ấy,
giống như cách chúng ngợi khen đường lối của chính mình.
Toàn bộ tất cả các học thuyết có thể là đúng đắn,
bởi vì sự trong sạch của chúng chỉ liên quan đến cá nhân .
Hơn nữa, việc cúng dường đến học thuyết của chúng sẽ là như thế ấy – Việc cúng dường đến học thuyết của chúng là việc nào? Họ trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường bậc đạo sư của mình rằng: ‘Bậc đạo sư này là đấng toàn tri;’ việc này là việc cúng dường đến học thuyết của chúng. Họ trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường giáo lý của mình – tập thể của mình – quan điểm của mình – lối thực hành của mình – đạo lộ của mình rằng: ‘Đạo lộ này dẫn dắt ra khỏi;’ việc này là việc cúng dường đến học thuyết của chúng. Hơn nữa, việc cúng dường đến học thuyết của chúng sẽ là như thế ấy : Việc cúng dường đến học thuyết của chúng là sự thật, là đúng đắn, là thực thể, là đang xảy ra, là chính xác, là không bị sai lệch; – ‘hơn nữa, việc cúng dường đến học thuyết của chúng sẽ là như thế ấy’ là như thế.
Giống như cách chúng ngợi khen đường lối của chính mình – Pháp là đường lối của chúng, quan điểm là đường lối của chúng, lối thực hành là đường lối của chúng, đạo lộ là đường lối của chúng; chúng ca ngợi, khen ngợi, tán dương, ca tụng đường lối của chúng; – ‘giống như cách chúng ngợi khen đường lối của chính mình’ là như thế.
Toàn bộ tất cả các học thuyết có thể là đúng đắn – Toàn bộ tất cả các học thuyết có thể là đúng đắn, là thực thể, là đang xảy ra, là chính xác, là không bị sai lệch; – ‘toàn bộ tất cả các học thuyết có thể là đúng đắn’ là như thế.
Bởi vì sự trong sạch của chúng chỉ liên quan đến cá nhân – Sự trong sạch, sự thanh tịnh, sự hoàn toàn trong sạch, sự thoát khỏi, sự giải thoát, sự hoàn toàn thoát khỏi của các Sa-môn và Bà-la-môn ấy chỉ liên quan đến cá nhân; – ‘bởi vì sự trong sạch của chúng chỉ liên quan đến cá nhân’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Hơn nữa, việc cúng dường đến học thuyết của chúng sẽ là như thế ấy,
giống như cách chúng ngợi khen đường lối của chính mình.
Toàn bộ tất cả các học thuyết có thể là đúng đắn,
bởi vì sự trong sạch của chúng chỉ liên quan đến cá nhân .”
Đối với vị Bà-la-môn, không có việc bị hướng dẫn bởi người khác; trong số các pháp (tà kiến), không có điều gì đã được nắm bắt sau khi đã suy xét. Do điều ấy, vị Bà-la-môn vượt lên trên các sự tranh cãi, bởi vì vị Bà-la-môn nhìn thấy học thuyết khác là không tối thắng .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị Bà-la-môn, không có việc bị hướng dẫn bởi người khác; trong số các pháp (tà kiến), không có điều gì đã được nắm bắt sau khi đã suy xét. Do điều ấy, vị Bà-la-môn vượt lên trên các sự tranh cãi, bởi vì vị Bà-la-môn nhìn thấy học thuyết khác là không tối thắng .”
(Nói rằng): ‘Tôi biết, tôi thấy điều ấy chắc chắn là như thế,’
một số tin rằng sự trong sạch là do việc thấy.
Nếu đã nhìn thấy, điều gì có được cho bản thân với việc (thấy) ấy?
Sau khi sai sót, chúng nói về sự trong sạch theo cách khác .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ (Nói rằng): ‘Tôi biết, tôi thấy điều ấy chắc chắn là như thế,’
một số tin rằng sự trong sạch là do việc thấy.
Nếu đã nhìn thấy, điều gì có được cho bản thân với việc (thấy) ấy?
Sau khi sai sót, chúng nói về sự trong sạch theo cách khác .”
Một người, trong khi nhìn, sẽ nhìn thấy danh và sắc,
hoặc sau khi nhìn thấy thì sẽ biết được mỗi chúng mà thôi.
Hãy để người ấy nhìn nhiều hay ít theo ý thích,
các bậc thiện xảo hẳn nhiên không nói sự trong sạch là do điều ấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Một người, trong khi nhìn, sẽ nhìn thấy danh và sắc,
hoặc sau khi nhìn thấy thì sẽ biết được mỗi chúng mà thôi.
Hãy để người ấy nhìn nhiều hay ít theo ý thích,
các bậc thiện xảo hẳn nhiên không nói sự trong sạch là do điều ấy .”
Kẻ có lời nói cố chấp quả thật không dễ hướng dẫn,
kẻ đang sùng bái quan điểm đã được xếp đặt.
Nương tựa vào cái gì thì nói điều tốt đẹp về cái ấy,
với lời tuyên bố về sự trong sạch, kẻ ấy đã nhìn thấy sự thật ở nơi ấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Kẻ có lời nói cố chấp quả thật không dễ hướng dẫn,
kẻ đang sùng bái quan điểm đã được xếp đặt.
Nương tựa vào cái gì thì nói điều tốt đẹp về cái ấy,
với lời tuyên bố về sự trong sạch, kẻ ấy đã nhìn thấy sự thật ở nơi ấy .”
Sau khi cân nhắc, vị Bà-la-môn không tiếp cận sự sắp đặt (của tham ái và tà kiến), không có sự hùa theo tà kiến, cũng không có sự trói buộc (sanh ra) do các loại trí. Và vị ấy, sau khi biết các thỏa thuận chung được sanh lên từ số đông, hành xả (nói rằng): Hãy để những kẻ khác tiếp thu.
Sau khi cân nhắc, vị Bà-la-môn không tiếp cận sự sắp đặt (của tham ái và tà kiến) – Không : là sự chối bỏ. Vị Bà-la-môn : Bà-la-môn do trạng thái đã loại trừ bảy pháp: –nt– Không bị phụ thuộc, tự tại, vị ấy được gọi là Bà-la-môn. Sắp đặt : Có hai sự sắp đặt: sắp đặt do tham ái và sắp đặt do tà kiến. –nt– điều này là sắp đặt do tham ái. –nt– điều này là sắp đặt do tà kiến. Sự cân nhắc : nói đến trí, là sự nhận biết, kiến thức, —nt— sự không si mê, sự chọn lựa pháp, chánh kiến. Sau khi cân nhắc, vị Bà-la-môn không tiếp cận sự sắp đặt (của tham ái và tà kiến) : Vị Bà-la-môn, sau khi cân nhắc, sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt rằng: ‘ Tất cả các hành là vô thường ,’ ‘ Tất cả các hành là khổ ,’ –nt– ‘ Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt ,’ sau khi cân nhắc, sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt, (vị ấy) không đi đến, không tiếp cận, không đi đến gần, không nắm lấy, không bám víu, không cố chấp sự sắp đặt do tham ái hoặc sự sắp đặt do tà kiến; – ‘sau khi cân nhắc, vị Bà-la-môn không tiếp cận sự sắp đặt (của tham ái và tà kiến)’ là như thế.
Không có sự hùa theo tà kiến, cũng không có sự trói buộc (sanh ra) do các loại trí – Đối với vị ấy, 62 tà kiến là đã được dứt bỏ, đã được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Vị ấy không bị đưa đi, không bị dẫn đi, không bị lôi đi, không bị mang đi bởi tà kiến, cũng không tin tưởng tà kiến ấy từ trong cốt lõi, không trở lại; – ‘không có sự hùa theo tà kiến’ là như thế. Cũng không có sự trói buộc (sanh ra) do các loại trí : là không tạo lập, không làm sanh ra, không làm sanh khởi, không làm hạ sanh, không làm phát sanh ra sự trói buộc vào tham ái hoặc sự trói buộc vào tà kiến do trí của tám sự chứng đạt (về thiền), hoặc do trí của năm thắng trí, hoặc do trí sái quấy; – ‘không có sự hùa theo tà kiến, cũng không có sự trói buộc (sanh ra) do các loại trí’ là như thế.
Và vị ấy, sau khi biết các thỏa thuận chung được sanh lên từ số đông – Sau khi biết : sau khi nhận biết, sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt. Sau khi nhận biết, sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt rằng: ‘ Tất cả các hành là vô thường .’ Sau khi nhận biết, sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt rằng: ‘ Tất cả các hành là khổ ,’ –nt– ‘ Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt ;’ – ‘và vị ấy, sau khi biết’ là như thế. Các thỏa thuận chung : nói đến 62 tà kiến, các thỏa thuận chung về quan điểm. Được sanh lên từ số đông : là được sanh ra bởi các phàm nhân, được sanh lên bởi số đông gọi là ‘các thỏa thuận chung;’ được sanh ra bởi số đông gồm nhiều người khác nhau, hoặc được sanh lên bởi số đông gọi là ‘các thỏa thuận chung;’ – ‘Và vị ấy, sau khi biết các thỏa thuận chung được sanh lên từ số đông’ là như thế.
Hành xả (nói rằng): Hãy để những kẻ khác tiếp thu – Những kẻ khác nắm lấy, bám víu, cố chấp do tác động của tham ái, do tác động của tà kiến; bậc A-la-hán hành xả, không nắm lấy, không bám víu, không cố chấp; – ‘hành xả (nói rằng): Hãy để những kẻ khác tiếp thu’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi cân nhắc, vị Bà-la-môn không tiếp cận sự sắp đặt (của tham ái và tà kiến), không có sự hùa theo tà kiến, cũng không có sự trói buộc (sanh ra) do các loại trí. Và vị ấy, sau khi biết các thỏa thuận chung được sanh lên từ số đông, hành xả (nói rằng): Hãy để những kẻ khác tiếp thu. ”
Sau khi tháo gỡ các sự trói buộc ở nơi thế gian này, bậc hiền trí
không hùa theo phe nhóm ở các cuộc tranh cãi đã được sanh lên.
Vị ấy hành xả, an tịnh giữa những người không an tịnh,
không tiếp thu, (nói rằng): Hãy để những kẻ khác tiếp thu.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi tháo gỡ các sự trói buộc ở nơi thế gian này, bậc hiền trí
không hùa theo phe nhóm ở các cuộc tranh cãi đã được sanh lên.
Vị ấy hành xả, an tịnh giữa những người không an tịnh,
không tiếp thu, (nói rằng): Hãy để những kẻ khác tiếp thu. ”
Sau khi từ bỏ các lậu hoặc trước đây, không tạo ra những lậu hoặc mới, không là người đi theo sự (tác động của) mong muốn, cũng không phải là kẻ có lời nói cố chấp, vị ấy đã được giải thoát khỏi các tà kiến, là bậc sáng trí, không bị nhơ bẩn ở thế gian, không có sự chê trách bản thân .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi từ bỏ các lậu hoặc trước đây, không tạo ra những lậu hoặc mới, không là người đi theo sự (tác động của) mong muốn, cũng không phải là kẻ có lời nói cố chấp, vị ấy đã được giải thoát khỏi các tà kiến, là bậc sáng trí, không bị nhơ bẩn ở thế gian, không có sự chê trách bản thân .”
Vị ấy là người diệt đạo binh ở tất cả các pháp (tà kiến), về bất cứ điều gì đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác. Vị ấy, có gánh nặng đã được đặt xuống, là bậc hiền trí đã được thoát ra khỏi, không chịu sự sắp đặt, không phải kiêng chừa, không có ước nguyện (Đức Thế Tôn nói vậy).
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
1. “ Các dục là đạo binh thứ nhất của ngươi, thứ nhì nói đến là sự không hứng thú, thứ ba của ngươi là đói và khát, thứ tư gọi là tham ái .
2. Thứ năm của ngươi là dã dượi và buồn ngủ, thứ sáu gọi là sự khiếp đảm, thứ bảy của ngươi là hoài nghi, thứ tám của ngươi là thâm hiểm, bướng bỉnh .
3. Lợi lộc, danh tiếng, tôn vinh, và danh vọng nào đã đạt được sai trái, kẻ nào đề cao bản thân và khi dễ những người khác , ...
4. Này Namuci, chúng là đạo binh của ngươi, là toán xung kích của Kaṇha. Kẻ khiếp nhược không chiến thắng nó, và sau khi chiến thắng thì đạt được sự an lạc .”
5. (Chư Phật) đã nói bậc hiền trí về thân, bậc hiền trí về khẩu, bậc hiền trí về ý, bậc không còn lậu hoặc, bậc hiền trí thành tựu hiền trí hạnh là bậc có sự dứt bỏ tất cả .
6. (Chư Phật) đã nói bậc hiền trí về thân, bậc hiền trí về khẩu, bậc hiền trí về ý, bậc không còn lậu hoặc, bậc hiền trí thành tựu hiền trí hạnh là bậc có điều ác đã được rửa sạch .
7. Kẻ có dáng vẻ khờ khạo, ngu dốt, dầu với trạng thái im lặng cũng không trở thành bậc hiền trí. Nhưng người nào, tựa như người nắm lấy cái cân rồi chọn lấy vật quý giá, là người sáng suốt .
8. Người lánh xa hẳn các điều ác, người ấy là bậc hiền trí, do việc ấy người ấy trở thành bậc hiền trí. Người nào hiểu rõ cả hai thế giới, do việc ấy được gọi là bậc hiền trí .
9. Sau khi biết được pháp của những kẻ xấu và của những người tốt, nội phần và ngoại phần, ở tất cả thế giới, vị nào, được cúng dường bởi chư Thiên và nhân loại, đã vượt qua sự quyến luyến và mạng lưới (tham ái và tà kiến), vị ấy là hiền trí .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị ấy là người diệt đạo binh ở tất cả các pháp (tà kiến), về bất cứ điều gì đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác. Vị ấy, có gánh nặng đã được đặt xuống, là bậc hiền trí đã được thoát ra khỏi, không chịu sự sắp đặt, không phải kiêng chừa, không có ước nguyện ” (Đức Thế Tôn nói vậy).
Diễn Giải Kinh 'Sự Dàn Trận Lớn' được đầy đủ - phần thứ mười ba .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ye kecime diṭṭhiparibbasānā, idameva saccanti ca vādayanti † ;
Sabbeva te nindamanvānayanti, atho pasaṃsampi labhanti tattha.
Those who are steeped in views, and declare, "This alone is the truth," all of them incur blame, and also obtain praise therein.
Bất cứ ai là những người sống nương vào tà kiến, và chủ trương rằng: ‘Chỉ điều này là sự thật,’ tất cả họ đều mang đến sự chỉ trích, hoặc cũng nhận được sự tán dương ở nơi ấy.
Ye kecime diṭṭhiparibbasānāti. Ye kecīti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – ye kecīti. Diṭṭhiparibbasānāti. Santeke samaṇabrāhmaṇā diṭṭhigatikā; te dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatānaṃ aññataraññataraṃ diṭṭhigataṃ gahetvā uggahetvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā sakāya sakāya diṭṭhiyā vasanti saṃvasanti āvasanti parivasanti. Yathā agārikā vā gharesu vasanti, sāpattikā vā āpattīsu vasanti, sakilesā vā kilesesu vasanti; evameva santeke…pe… parivasantīti – ye kecime diṭṭhiparibbasānā.
Regarding 'Those who are steeped in views': 'Whatever' (ye keci) is a term of complete inclusion, meaning 'all in every way,' 'completely,' 'without remainder,' 'leaving nothing out.' 'Those who are steeped in views' (diṭṭhiparibbasānā): There are some ascetics and brahmins who hold views; having taken up, especially taken up, grasped, contemplated, and mentally adhered to one or another of the sixty-two kinds of views, they dwell, co-dwell, inhabit, and persist in their own respective views. Just as householders dwell in houses, or those who have committed offenses dwell in their offenses, or those with defilements dwell in their defilements; even so do some... persist. Thus, 'those who are steeped in views.'
‘Bất cứ ai là những người sống nương vào tà kiến.’ ‘Bất cứ ai’ là một từ bao hàm tất cả, hoàn toàn, trọn vẹn, không trừ sót, không để lại gì – đó là (ý nghĩa của) ‘bất cứ ai.’ ‘Sống nương vào tà kiến’ (nghĩa là): Có một số sa-môn, bà-la-môn có khuynh hướng về tà kiến; họ, sau khi đã nắm giữ, tiếp nhận, bám víu, chấp thủ, quyết đoán một tà kiến nào đó trong sáu mươi hai tà kiến, rồi sống, chung sống, trú ngụ, an trú với tà kiến riêng của mình. Giống như người tại gia sống trong nhà, hay người có tội sống trong tội lỗi, hay người có phiền não sống trong phiền não; cũng vậy, có một số… cho đến… họ an trú. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘bất cứ ai là những người sống nương vào tà kiến.’
Idameva saccanti ca vādayantīti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – idameva saccanti ca vādayanti.
Regarding 'and declare, "This alone is true"': "The world is eternal, this alone is true, all else is false," they say, relate, declare, expound, and assert. "The world is not eternal... and so on... the Tathāgata neither exists nor does not exist after death, this alone is true, all else is false," they say, relate, declare, expound, and assert. Thus, 'and declare, "This alone is true."
‘Và chủ trương rằng: ‘Chỉ điều này là sự thật.’’ (Nghĩa là): Họ nói, họ kể, họ tuyên bố, họ làm sáng tỏ, họ sử dụng (lời nói) rằng: ‘Thế gian là thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là vô ích.’ (Hoặc): ‘Thế gian là không thường hằng… cho đến… sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải là không tồn tại, chỉ điều này là sự thật, điều khác là vô ích.’ Họ nói, họ kể, họ tuyên bố, họ làm sáng tỏ, họ sử dụng (lời nói). – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘và chủ trương rằng: ‘Chỉ điều này là sự thật.’’
Sabbeva te nindamanvānayantīti. Sabbeva te samaṇabrāhmaṇā nindameva anventi, garahameva anventi, akittimeva anventi; sabbe ninditāyeva honti, garahitāyeva honti, akittitāyeva hontīti – sabbeva te nindamanvānayanti.
Regarding 'All of them incur blame': All those ascetics and brahmins indeed only incur blame, only incur reproach, only incur disrepute; all are indeed blamed, indeed reproached, indeed discredited. Thus, 'all of them incur blame.'
‘Tất cả họ đều mang đến sự chỉ trích.’ (Nghĩa là): Tất cả các sa-môn, bà-la-môn ấy chỉ đi theo sự chỉ trích, chỉ đi theo sự khiển trách, chỉ đi theo sự tai tiếng; tất cả họ đều bị chỉ trích, đều bị khiển trách, đều bị tai tiếng. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘tất cả họ đều mang đến sự chỉ trích.’
Atho pasaṃsampi labhanti tatthāti. Tattha sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā pasaṃsaṃ thomanaṃ kittiṃ vaṇṇahārikaṃ labhanti paṭilabhanti upagacchanti vindantīti – atho pasaṃsampi labhanti tattha.
Regarding 'and also obtain praise therein': There, in their own view, their own acceptance, their own inclination, and their own tenets, they receive, obtain, attain, and find praise, commendation, fame, and eulogy. Thus, 'and also obtain praise therein.'
‘Hoặc cũng nhận được sự tán dương ở nơi ấy.’ (Nghĩa là): Ở nơi ấy, với tà kiến của mình, với sự chấp nhận của mình, với sở thích của mình, với chủ thuyết của mình, họ nhận được, đạt được, đi đến, tìm thấy sự tán dương, sự ca ngợi, danh tiếng, sự tán thán. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘hoặc cũng nhận được sự tán dương ở nơi ấy.’
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created one said:
Do đó, vị Hóa nhân ấy đã nói:
‘‘Ye kecime diṭṭhiparibbasānā, idameva saccanti ca vādayanti;
Sabbeva te nindamanvānayanti, atho pasaṃsampi labhanti tatthā’’ti.
"Those who are steeped in views, and declare, 'This alone is true'; all of them incur blame, and also obtain praise therein."
‘Bất cứ ai là những người sống nương vào tà kiến, và chủ trương rằng: ‘Chỉ điều này là sự thật,’ tất cả họ đều mang đến sự chỉ trích, hoặc cũng nhận được sự tán dương ở nơi ấy.’
131.
131.
131.
Appañhi etaṃ na alaṃ samāya, duve vivādassa phalāni brūmi;
Etampi disvā na vivādayetha, khemābhipassaṃ avivādabhūmiṃ.
For this is indeed trifling, not sufficient for peace; I declare the two fruits of dispute. Seeing this as well, one should not engage in dispute, perceiving the ground of non-dispute as security.
Điều này thật nhỏ nhoi, không đủ để đưa đến sự an tịnh, Ta nói có hai quả của sự tranh cãi. Thấy cả điều này, người ấy không nên tranh cãi, khi nhận thấy cảnh giới vô tranh là nơi an ổn.
Appañhi etaṃ na alaṃ samāyāti. Appañhi etanti appakaṃ etaṃ, omakaṃ etaṃ, thokakaṃ etaṃ, lāmakaṃ etaṃ, chatukkaṃ etaṃ, parittakaṃ etanti – appañhi etaṃ. Na alaṃ samāyāti nālaṃ rāgassa samāya, dosassa samāya, mohassa samāya, kodhassa… upanāhassa… makkhassa… paḷāsassa… issāya… macchariyassa… māyāya… sāṭheyyassa… thambhassa… sārambhassa… mānassa… atimānassa… madassa… pamādassa… sabbakilesānaṃ… sabbaduccaritānaṃ… sabbadarathānaṃ … sabbapariḷāhānaṃ… sabbasantāpānaṃ… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ samāya upasamāya vūpasamāya nibbānāya paṭinissaggāya paṭipassaddhiyāti – appañhi etaṃ na alaṃ samāya.
For this is indeed trifling, not sufficient for peace. 'For this is indeed trifling' means: this [praise] is meager, this is inferior, this is scanty, this is of a low nature, this is vain, this is insignificant. 'Not sufficient for peace' means: not sufficient for the calming of passion, for the calming of hatred, for the calming of delusion, for the calming of anger... of ill-will... of denigrating merit... of rivalry... of envy... of stinginess... of deceit... of craftiness... of obstinacy... of impetuosity... of conceit... of arrogance... of intoxication... of negligence... for the calming, progressive calming, complete calming, extinguishing, relinquishing, and tranquilizing of all defilements, all misconduct, all anxieties, all fevers, all torments, and all unwholesome formations. Thus, 'For this is indeed trifling, not sufficient for peace'.
‘Điều này thật nhỏ nhoi, không đủ để đưa đến sự an tịnh.’ ‘Điều này thật nhỏ nhoi’ (nghĩa là) điều này là ít ỏi, điều này là thấp kém, điều này là một chút, điều này là tồi tệ, điều này là vô giá trị, điều này là nhỏ bé. – (Đây là ý nghĩa của) ‘điều này thật nhỏ nhoi.’ ‘Không đủ để đưa đến sự an tịnh’ (nghĩa là) không đủ để làm lắng dịu tham, không đủ để làm lắng dịu sân, không đủ để làm lắng dịu si, (không đủ để làm lắng dịu) sự phẫn nộ… sự oán hận… sự gièm pha… sự cạnh tranh… sự ganh tỵ… sự keo kiệt… sự lừa dối… sự xảo trá… sự cứng đầu… sự hiếu thắng… sự kiêu mạn… sự quá mạn… sự say đắm… sự buông lung… (không đủ để làm lắng dịu) tất cả phiền não… tất cả hành vi xấu… tất cả sự lo âu… tất cả sự nóng nảy… tất cả sự thiêu đốt… tất cả các hành bất thiện, để làm cho lắng dịu, để làm cho an tịnh, để làm cho hoàn toàn an tịnh, để đạt đến Niết-bàn, để từ bỏ, để làm cho yên lặng. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘điều này thật nhỏ nhoi, không đủ để đưa đến sự an tịnh.’
Duve vivādassa phalāni brūmīti. Diṭṭhikalahassa diṭṭhibhaṇḍanassa diṭṭhiviggahassa diṭṭhivivādassa diṭṭhimedhagassa dve phalāni honti – jayaparājayo hoti, lābhālābho hoti, yasāyaso hoti, nindāpasaṃso hoti, sukhadukkhaṃ hoti, somanassadomanassaṃ hoti, iṭṭhāniṭṭhaṃ hoti, anunayapaṭighaṃ hoti, ugghātinigghāti hoti, anurodhavirodho hoti. Atha vā taṃ kammaṃ nirayasaṃvattanikaṃ, tiracchānayonisaṃvattanikaṃ, pettivisayasaṃvattanikanti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – duve vivādassa phalāni brūmi.
I declare the two fruits of dispute. For quarrels over views, contentions about views, conflicts about views, disputes about views, and strife about views, there are two fruits: victory and defeat; gain and loss; fame and disgrace; blame and praise; pleasure and pain; joy and sorrow; the desirable and undesirable; affection and aversion; exaltation and humiliation; conformity and opposition. Or alternatively, that action leads to arising in hell, to the animal realm, to the realm of ghosts—this I declare, explain, teach, make known, establish, disclose, analyze, elucidate, and reveal. Thus, 'I declare the two fruits of dispute'.
‘Ta nói có hai quả của sự tranh cãi.’ (Nghĩa là): Sự cãi cọ về tà kiến, sự xung đột về tà kiến, sự tranh luận về tà kiến, sự tranh cãi về tà kiến, sự tranh chấp về tà kiến có hai quả – có thắng và bại, có được và mất, có danh và không danh, có chỉ trích và tán dương, có khổ và vui, có hân hoan và phiền muộn, có điều mong muốn và không mong muốn, có thuận ý và chống đối, có nâng lên và hạ xuống, có đồng thuận và bất đồng. Hoặc là, nghiệp ấy dẫn đến địa ngục, dẫn đến loài súc sanh, dẫn đến cõi ngạ quỷ. Ta nói, Ta chỉ ra, Ta thuyết giảng, Ta chế định, Ta thiết lập, Ta mở ra, Ta phân tích, Ta làm cho rõ ràng, Ta tuyên bố. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘Ta nói có hai quả của sự tranh cãi.’
Etampi disvā na vivādayethāti. Etampi disvāti etaṃ ādīnavaṃ disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā diṭṭhikalahesu diṭṭhibhaṇḍanesu diṭṭhiviggahesu diṭṭhivivādesu diṭṭhimedhagesūti – etampi disvā. Na vivādayethāti na kalahaṃ kareyya, na bhaṇḍanaṃ kareyya, na viggahaṃ kareyya, na vivādaṃ kareyya, na medhagaṃ kareyya, kalahaṃ bhaṇḍanaṃ viggahaṃ vivādaṃ medhagaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, kalahā bhaṇḍanā viggahā vivādā medhagā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – etampi disvā na vivādayetha.
Seeing this, one should not engage in disputes. 'Seeing this' means having seen, perceived, weighed, investigated, distinguished, and made clear this danger in quarrels over views, contentions about views, conflicts about views, disputes about views, and strife about views. 'One should not engage in disputes' means: one should not quarrel, one should not contend, one should not create conflict, one should not dispute, one should not create strife. One should abandon, dispel, destroy, and bring to non-existence quarrels, contentions, conflicts, disputes, and strife. One should be far from, especially abstaining from, completely abstaining from, gone forth from, departed from, completely freed from, and disjoined from quarrels, contentions, conflicts, disputes, and strife; one should dwell with a mind that is boundless. Thus, 'Seeing this, one should not engage in disputes'.
Về câu: "Sau khi thấy điều này, không nên tranh luận." "Sau khi thấy điều này" có nghĩa là: sau khi đã thấy, đã xem xét, đã cân nhắc, đã thẩm định, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ sự nguy hại này trong các cuộc tranh cãi về tà kiến, các cuộc cãi vã về tà kiến, các cuộc xung đột về tà kiến, các cuộc tranh luận về tà kiến, các cuộc đấu khẩu về tà kiến – đây là ý nghĩa của "sau khi thấy điều này." "Không nên tranh luận" có nghĩa là: không nên tranh cãi, không nên cãi vã, không nên xung đột, không nên tranh luận, không nên đấu khẩu; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho không còn tái diễn sự tranh cãi, cãi vã, xung đột, tranh luận, đấu khẩu; vị ấy nên xa lìa, nên từ bỏ, nên hoàn toàn từ bỏ, nên thoát ra, nên dứt bỏ, nên hoàn toàn giải thoát, nên không còn liên hệ, nên trú với tâm không còn giới hạn phân chia khỏi sự tranh cãi, cãi vã, xung đột, tranh luận, đấu khẩu – đây là ý nghĩa của "Sau khi thấy điều này, không nên tranh luận."
Khemābhipassaṃ avivādabhūminti. Avivādabhūmiṃ vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Etaṃ avivādabhūmiṃ khemato tāṇato leṇato saraṇato abhayato accutato amatato nibbānato passanto dakkhanto olokento nijjhāyanto upaparikkhantoti – khemābhipassaṃ avivādabhūmiṃ.
Contemplating the ground of non-dispute as security. The ground of non-dispute is said to be the deathless, Nibbāna. It is the stilling of all formations, the relinquishing of all substrates of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. One should dwell seeing, perceiving, observing, contemplating, and investigating this ground of non-dispute as security, as protection, as a shelter, as a refuge, as the fearless, as the unshakeable, as the deathless, and as Nibbāna. Thus, 'Contemplating the ground of non-dispute as security'.
Về câu: "Thấy rõ trạng thái an ổn là cảnh giới vô tranh." Trạng thái bất tử, Niết-bàn, được gọi là cảnh giới vô tranh. Đó là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các chấp thủ, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự diệt tận, Niết-bàn. Vị ấy thấy, nhận biết, quán sát, chiêm nghiệm, thẩm xét cảnh giới vô tranh này là an ổn, là nơi che chở, là nơi ẩn náu, là nơi nương tựa, là vô úy, là bất biến, là bất tử, là Niết-bàn – đây là ý nghĩa của "Thấy rõ trạng thái an ổn là cảnh giới vô tranh."
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Appañhi etaṃ na alaṃ samāya, duve vivādassa phalāni brūmi;
Etampi disvā na vivādayetha, khemābhipassaṃ avivādabhūmi’’nti.
“For this is indeed trifling, not sufficient for peace; I declare two fruits of dispute. Seeing even this, one should not engage in dispute, contemplating security, the ground free from dispute.”
“Điều này thật nhỏ nhoi, không đủ để đưa đến hòa hợp, Ta nói có hai quả của sự tranh luận; Sau khi thấy điều này, không nên tranh luận, hãy thấy rõ trạng thái an ổn là cảnh giới vô tranh.”
132.
132.
132.
Yā kācimā sammutiyo puthujjā, sabbāva etā na upeti vidvā;
Anūpayo so upayaṃ kimeyya, diṭṭhe sute khantimakubbamāno.
Whatever conventions are held by ordinary people, a wise person does not approach any of them. Being without grasping, what could they grasp, not forming a preference for what is seen or heard?
Bất cứ quy ước thế tục nào của phàm phu, bậc trí giả không chấp thủ tất cả những điều ấy; Vị ấy không còn chấp thủ, làm sao có thể chấp thủ? Không khởi lên sự ưa thích đối với điều được thấy, được nghe.
Yā kācimā sammutiyo puthujjāti. Yā kācīti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – yā kācīti. Sammutiyoti. Sammutiyo vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni diṭṭhisammutiyo. Puthujjāti puthujjanehi janitā sammutiyoti puthujjā, puthu nānājanehi janitā vā sammutiyoti puthujjāti – yā kācimā sammutiyo puthujjā.
Whatever conventions are of the common folk. 'Whatever' (yā kāci): this term 'whatever' denotes comprehensively, in every way, all, without remainder, without exception. 'Conventions' (sammutiyo): the sixty-two speculative views are called conventions, conventions that are views. 'Of the common folk' (puthujjā): because they are conventions generated by common folk (puthujjana), they are called 'of the common folk' (puthujjā); or, because they are conventions generated by various (puthu) different people (jana), they are called 'of the common folk' (puthujjā). Thus, 'Whatever conventions are of the common folk'.
Về câu: "Bất cứ quy ước thế tục nào của phàm phu." "Bất cứ" là một từ bao hàm trọn vẹn, có nghĩa là: tất cả trong tất cả, tất cả mọi cách, tất cả không trừ một ai, tất cả không còn sót lại. "Quy ước thế tục" được gọi là sáu mươi hai loại tà kiến, đó là các quy ước về tà kiến. "Của phàm phu" có nghĩa là các quy ước được tạo ra bởi phàm phu, do đó gọi là "của phàm phu"; hoặc là các quy ước được tạo ra bởi nhiều người khác nhau, do đó gọi là "của phàm phu" – đây là ý nghĩa của "Bất cứ quy ước thế tục nào của phàm phu."
Sabbāva etā na upeti vidvāti. Vidvā vijjāgato ñāṇī vibhāvī medhāvī. Sabbāva etā diṭṭhisammutiyo neti na upeti na upagacchati na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisatīti – sabbāva etā na upeti vidvā.
The wise one does not approach any of them at all. 'The wise one' (vidvā) is one who has attained true knowledge (vijjāgata), one with wisdom (ñāṇī), one with discerning wisdom (vibhāvī), one who is intelligent (medhāvī). He does not approach (na upeti), does not draw near (na upagacchati), does not grasp (na gaṇhāti), does not misapprehend (na parāmasati), and does not resolve upon (na abhinivisati) any of these conventions that are views. Thus, 'The wise one does not approach any of them at all'.
Về câu: "Bậc trí giả không chấp thủ tất cả những điều ấy." Bậc trí giả là người đã đạt đến minh, người có trí tuệ, người có sự sáng suốt, người có trí phán đoán. Vị ấy không đi đến, không tiếp cận, không chấp nhận, không nắm giữ, không bám víu, không quyết tâm vào tất cả các quy ước về tà kiến này – đây là ý nghĩa của "Bậc trí giả không chấp thủ tất cả những điều ấy."
Anūpayo so upayaṃ kimeyyāti. Upayoti dve upayā – taṇhūpayo ca diṭṭhūpayo ca…pe… ayaṃ taṇhūpayo…pe… ayaṃ diṭṭhūpayo. Tassa taṇhūpayo pahīno, diṭṭhūpayo paṭinissaṭṭho; taṇhūpayassa pahīnattā, diṭṭhūpayassa paṭinissaṭṭhattā anūpayo puggalo kiṃ rūpaṃ upeyya upagaccheyya gaṇheyya parāmaseyya abhiniviseyya attā meti. Kiṃ vedanaṃ… kiṃ saññaṃ… kiṃ saṅkhāre… kiṃ viññāṇaṃ… kiṃ gatiṃ… kiṃ upapattiṃ… kiṃ paṭisandhiṃ… kiṃ bhavaṃ … kiṃ saṃsāraṃ… kiṃ vaṭṭaṃ upeyya upagaccheyya gaṇheyya parāmaseyya abhiniveseyyāti – anūpayo so upayaṃ kimeyya.
Being without grasping, what would he grasp? 'Grasping' (upayo): there are two kinds of grasping—grasping due to craving (taṇhūpayo) and grasping due to views (diṭṭhūpayo)... This is grasping due to craving... This is grasping due to views. For that person, grasping due to craving is abandoned, and grasping due to views is relinquished. Because grasping due to craving has been abandoned and grasping due to views has been relinquished, what form would that person without grasping approach, draw near, grasp, misapprehend, or resolve upon as 'my self'? What feeling... what perception... what formations... what consciousness... what destination... what rebirth... what relinking... what existence... what saṃsāra... what cycle of existence would he approach, draw near, grasp, misapprehend, or resolve upon? Thus, 'Being without grasping, what would he grasp?'
Về câu: "Vị ấy không còn chấp thủ, làm sao có thể chấp thủ?" "Chấp thủ" có hai loại: chấp thủ do ái và chấp thủ do tà kiến... đây là chấp thủ do ái... đây là chấp thủ do tà kiến. Đối với vị ấy, chấp thủ do ái đã được đoạn trừ, chấp thủ do tà kiến đã được từ bỏ; do đã đoạn trừ chấp thủ do ái, do đã từ bỏ chấp thủ do tà kiến, nên vị ấy là người không còn chấp thủ. Vị ấy làm sao có thể tiếp cận, đi đến, nắm giữ, bám víu, quyết tâm vào sắc nào rằng "đây là tự ngã của ta"? Làm sao có thể tiếp cận, đi đến, nắm giữ, bám víu, quyết tâm vào thọ nào... vào tưởng nào... vào các hành nào... vào thức nào... vào cảnh giới nào... vào sự tái sanh nào... vào sự kiết sanh nào... vào hữu nào... vào luân hồi nào... vào vòng luân chuyển nào? – đây là ý nghĩa của "Vị ấy không còn chấp thủ, làm sao có thể chấp thủ?"
Diṭṭhe sute khantimakubbamānoti. Diṭṭhe vā diṭṭhasuddhiyā vā sute vā sutasuddhiyā vā mute vā mutasuddhiyā vā khantiṃ akubbamāno chandaṃ akubbamāno pemaṃ akubbamāno rāgaṃ akubbamāno ajanayamāno asañjanayamāno anibbattayamāno anabhinibbattayamānoti – diṭṭhe sute khantimakubbamāno.
Not forming a preference for what is seen or heard. Not forming a preference (khanti), not forming desire (chanda), not forming affection (pema), not forming passion (rāga), not generating, not fully generating, not causing to arise, not causing to fully arise—in the seen or in the purity of the seen, in the heard or in the purity of the heard, in the sensed or in the purity of the sensed. Thus, 'Not forming a preference for what is seen or heard'.
Về câu: "Không khởi lên sự ưa thích đối với điều được thấy, được nghe." Có nghĩa là: không tạo ra sự ưa thích, không tạo ra dục, không tạo ra ái luyến, không tạo ra tham ái, không làm phát sanh, không làm sanh khởi, không làm hiện hữu, không làm cho hiện hữu một cách trọn vẹn đối với cái được thấy hoặc sự thanh tịnh của cái thấy, đối với cái được nghe hoặc sự thanh tịnh của cái nghe, đối với cái được cảm nhận hoặc sự thanh tịnh của cái cảm nhận – đây là ý nghĩa của "Không khởi lên sự ưa thích đối với điều được thấy, được nghe."
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Yā kācimā sammutiyo puthujjā, sabbāva etā na upeti vidvā;
Anūpayo so upayaṃ kimeyya, diṭṭhe sute khantimakubbamāno’’ti.
“Whatever conventions are of the common folk, the wise one does not approach any of them at all. Being without grasping, what would he grasp? Not forming a preference for what is seen or heard.”
“Bất cứ quy ước thế tục nào của phàm phu, bậc trí giả không chấp thủ tất cả những điều ấy; Vị ấy không còn chấp thủ, làm sao có thể chấp thủ? Không khởi lên sự ưa thích đối với điều được thấy, được nghe.”
133.
133.
133.
Sīluttamā saññamenāhu suddhiṃ, vataṃ samādāya upaṭṭhitāse;
Idheva sikkhema athassa suddhiṃ, bhavūpanītā kusalāvadānā.
Those who hold virtue as supreme say there is purity through restraint; having undertaken vows, they are steadfast. 'Let us train right here for its purity,' they say, brought to existence, holding that it is good.
Những người cho giới là tối thượng nói rằng sự thanh tịnh có được nhờ sự chế ngự, họ đã chấp trì giới cấm và an trú trong đó; (họ nói) 'Chúng ta hãy tu tập ngay tại đây, và sự thanh tịnh của vị ấy sẽ đến.' Những người được gọi là thiện xảo này đã bị dẫn dắt vào các cõi hữu.
Sīluttamā saññamenāhu suddhinti. Santeke samaṇabrāhmaṇā sīluttamavādā; te sīlamattena saññamamattena saṃvaramattena avītikkamamattena suddhiṃ visuddhiṃ parivisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parivimuttiṃ āhu † vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti.
Regarding 'Those who hold virtue as supreme declare purity through restraint': There are some ascetics and brahmins who hold the view that virtue is supreme. They said, they say, they declare, they speak, they explain, and they designate purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release to be attained by mere virtue, by mere restraint, by mere control, and by mere non-transgression.
Về câu: "Những người cho giới là tối thượng nói rằng sự thanh tịnh có được nhờ sự chế ngự." Có một số sa-môn, bà-la-môn chủ trương giới là tối thượng; họ nói, tuyên bố, giảng giải, trình bày, chỉ rõ, gọi tên sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát trọn vẹn chỉ bằng giới hạnh, chỉ bằng sự chế ngự, chỉ bằng sự phòng hộ, chỉ bằng sự không vi phạm.
Samaṇamuṇḍikāputto evamāha – ‘‘catūhi kho ahaṃ, gahapati, dhammehi samannāgataṃ purisapuggalaṃ paññapemi sampannakusalaṃ paramakusalaṃ uttamapattipattaṃ samaṇaṃ ayojjhaṃ. Katamehi catūhi? Idha, gahapati, na kāyena pāpakammaṃ karoti, na pāpikaṃ † vācaṃ bhāsati, na pāpakaṃ saṅkappaṃ saṅkappeti, na pāpakaṃ ājīvaṃ ājīvati. Imehi kho ahaṃ, gahapati, catūhi dhammehi samannāgataṃ purisapuggalaṃ paññapemi sampannakusalaṃ paramakusalaṃ uttamapattipattaṃ samaṇaṃ ayojjhaṃ; evameva santeke samaṇabrāhmaṇā sīluttamavādā; te sīlamattena saññamamattena saṃvaramattena avītikkamamattena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ āhu vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantī’’ti – sīluttamā saññamenāhu suddhiṃ.
The ascetic Muṇḍikāputta said this: 'Householder, I indeed designate a person endowed with four qualities as accomplished in skill, supremely skilled, having attained the highest attainment, an invincible ascetic. With which four? Here, householder, one does not do an evil deed with the body, does not speak evil speech, does not think an evil thought, and does not live an evil livelihood. Householder, I indeed designate a person endowed with these four qualities as accomplished in skill, supremely skilled, having attained the highest attainment, an invincible ascetic.' Just so, there are some ascetics and brahmins who hold the view that virtue is supreme. They said, they say, they declare, they speak, they explain, and they designate purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release to be attained by mere virtue, by mere restraint, by mere control, and by mere non-transgression. Thus: 'Those who hold virtue as supreme declare purity through restraint.'
Samaṇamuṇḍikāputta đã nói như sau: "Này gia chủ, ta tuyên bố một người được trang bị bốn pháp là người thiện xảo trọn vẹn, thiện xảo tối thượng, đã đạt đến thành tựu cao nhất, một sa-môn bất khả chiến bại. Bốn pháp đó là gì? Này gia chủ, ở đây, vị ấy không làm ác nghiệp bằng thân, không nói lời ác, không có tư duy ác, không sống bằng tà mạng. Này gia chủ, ta tuyên bố một người được trang bị bốn pháp này là người thiện xảo trọn vẹn, thiện xảo tối thượng, đã đạt đến thành tựu cao nhất, một sa-môn bất khả chiến bại." Tương tự như vậy, có một số sa-môn, bà-la-môn chủ trương giới là tối thượng; họ nói, tuyên bố, giảng giải, trình bày, chỉ rõ, gọi tên sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát trọn vẹn chỉ bằng giới hạnh, chỉ bằng sự chế ngự, chỉ bằng sự phòng hộ, chỉ bằng sự không vi phạm – đây là ý nghĩa của "Những người cho giới là tối thượng nói rằng sự thanh tịnh có được nhờ sự chế ngự."
Vataṃ samādāya upaṭṭhitāseti. Vatanti hatthivataṃ vā assavataṃ vā govataṃ vā kukkuravataṃ vā kākavataṃ vā vāsudevavataṃ vā baladevavataṃ vā puṇṇabhaddavataṃ vā maṇibhaddavataṃ vā aggivataṃ vā nāgavataṃ vā supaṇṇavataṃ vā yakkhavataṃ vā asuravataṃ vā gandhabbavataṃ vā mahārājavataṃ vā candavataṃ vā sūriyavataṃ vā indavataṃ vā brahmavataṃ vā devavataṃ vā disāvataṃ vā ādāya samādāya ādiyitvā samādiyitvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā upaṭṭhitā paccupaṭṭhitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttāti – vataṃ samādāya upaṭṭhitāse.
Regarding 'Having undertaken a vow, they are steadfast': 'Vow' refers to the elephant-practice, or the horse-practice, or the cow-practice, or the dog-practice, or the crow-practice, or the Vāsudeva-practice, or the Baladeva-practice, or the Puṇṇabhadda-practice, or the Maṇibhadda-practice, or the fire-practice, or the nāga-practice, or the supaṇṇa-practice, or the yakkha-practice, or the asura-practice, or the gandhabba-practice, or the mahārāja-practice, or the moon-practice, or the sun-practice, or the Indra-practice, or the Brahma-practice, or the deva-practice, or the directions-practice. 'Having undertaken' means having taken up, having well taken up, having adopted, having well adopted, having grasped, having adhered to, having become intent upon. 'They are steadfast' means they are established, they are firmly established, they are attached, they have arrived, they are absorbed, they are resolved. Thus: 'Having undertaken a vow, they are steadfast.'
Vataṃ samādāya upaṭṭhitāse. Vataṃ (giới cấm) là: hoặc là giới cấm của loài voi, hoặc là giới cấm của loài ngựa, hoặc là giới cấm của loài bò, hoặc là giới cấm của loài chó, hoặc là giới cấm của loài quạ, hoặc là giới cấm của Vāsudeva, hoặc là giới cấm của Baladeva, hoặc là giới cấm của Puṇṇabhadda, hoặc là giới cấm của Maṇibhadda, hoặc là giới cấm của thần Lửa, hoặc là giới cấm của loài nāga, hoặc là giới cấm của loài supaṇṇa, hoặc là giới cấm của loài yakkha, hoặc là giới cấm của loài asura, hoặc là giới cấm của loài gandhabba, hoặc là giới cấm của vị Đại Vương, hoặc là giới cấm của thần Mặt Trăng, hoặc là giới cấm của thần Mặt Trời, hoặc là giới cấm của thần Inda, hoặc là giới cấm của Phạm Thiên, hoặc là giới cấm của chư thiên, hoặc là giới cấm về các phương hướng, (sau khi) đã thọ trì, đã khéo thọ trì, đã tiếp nhận, đã khéo tiếp nhận, đã nắm giữ, đã chấp thủ, đã quyết tâm, họ được an trú, được tái an trú, bị dính mắc, đã đến gần, đã bị lôi cuốn, đã hướng tâm đến. Đây là (ý nghĩa của) vataṃ samādāya upaṭṭhitāse.
Idheva sikkhema athassa suddhinti. Idhāti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā. Sikkhemāti sikkhema ācarema samācarema samādāya vattemāti – idheva sikkhema. Athassa suddhinti athassa suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttinti – idheva sikkhema athassa suddhiṃ.
Regarding 'Here itself we shall train, then for the purity of that one': 'Here' means: in one's own view, in one's own preference, in one's own inclination, in one's own tenet. 'We shall train' means: we shall train, we shall practice, we shall practice well, having undertaken it, we shall live—thus, 'here itself we shall train.' 'Then for the purity of that one' means: then, for the purity, the special purity, the complete purity of that teacher; the release, the special release, the complete release—thus, 'here itself we shall train, then for the purity of that one.'
Idheva sikkhema athassa suddhiṃ. Idha (ở đây) là: trong tà kiến của mình, trong sự kham nhẫn của mình, trong sở thích của mình, trong chủ thuyết của mình. Sikkhema (chúng ta nên học tập) là: chúng ta nên học tập, chúng ta nên thực hành, chúng ta nên khéo thực hành, (sau khi) đã thọ trì, chúng ta nên sống theo. Đây là (ý nghĩa của) idheva sikkhema. Athassa suddhiṃ (sự thanh tịnh của vị ấy) là: khi ấy, sự thanh tịnh của vị ấy, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn. Đây là (ý nghĩa của) idheva sikkhema athassa suddhiṃ.
Bhavūpanītā kusalāvadānāti. Bhavūpanītāti bhavūpanītā bhavūpagatā bhavajjhositā bhavādhimuttāti – bhavūpanītā. Kusalāvadānāti kusalavādā paṇḍitavādā thiravādā ñāyavādā hetuvādā lakkhaṇavādā kāraṇavādā ṭhānavādā sakāya laddhiyāti – bhavūpanītā kusalāvadānā.
Regarding 'Led on by existence, they proclaim their tenets as skillful': 'Led on by existence' means: led on to existence, arrived at existence, steeped in existence, resolved on existence—thus, 'led on by existence.' 'They proclaim their tenets as skillful' means: by their own tenet, they are proponents of skill, proponents of wisdom, proponents of firmness, proponents of logic, proponents of reason, proponents of truth, proponents of cause, proponents of possibility—thus, 'led on by existence, they proclaim their tenets as skillful.'
Bhavūpanītā kusalāvadānā. Bhavūpanītā (được dẫn dắt đến hữu) là: được dẫn dắt đến hữu, đã đi đến hữu, đã bị lôi cuốn vào hữu, đã hướng tâm đến hữu. Đây là (ý nghĩa của) bhavūpanītā. Kusalāvadānā là: những người có chủ trương là thiện xảo, những người có chủ trương là bậc hiền trí, những người có chủ trương là kiên cố, những người có chủ trương là hợp lý, những người có chủ trương là có nguyên nhân, những người có chủ trương là có đặc điểm, những người có chủ trương là có lý do, những người có chủ trương là có cơ sở, bằng vào chủ thuyết của mình. Đây là (ý nghĩa của) bhavūpanītā kusalāvadānā.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, Đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Sīluttamā saññamenāhu suddhiṃ, vataṃ samādāya upaṭṭhitāse;
Idheva sikkhema athassa suddhiṃ, bhavūpanītā kusalāvadānā’’ti.
“Those for whom virtue is supreme declare purity through restraint; having undertaken a vow, they are steadfast. ‘Here itself we shall train, then for the purity of that one,’ they say, led on by existence, proclaiming their tenets as skillful.”
“Họ nói rằng sự thanh tịnh có được là do giới hạnh và sự thu thúc được xem là cao cả nhất, sau khi đã thọ trì giới cấm, họ được an trú trong ấy. ‘Chúng ta nên học tập ở đây, khi ấy sẽ có sự thanh tịnh,’ (họ là) những người được dẫn dắt đến hữu, những người có chủ trương là thiện xảo.”
134.
134.
134.
Sace cuto sīlavatato hoti, pavedhatī † kammavirādhayitvā;
Pajappatī † patthayatī ca suddhiṃ, satthāva hīno pavasaṃ gharamhā.
If one falls away from morality and vows, one trembles, having failed in one's kamma; one yearns and longs for purity, like one left behind by a caravan while journeying away from home.
Nếu người ấy bị rơi rớt khỏi giới và hạnh, người ấy run rẩy sau khi đã làm hỏng việc làm (của mình). Người ấy luyến tiếc và mong mỏi sự thanh tịnh, giống như người xa nhà bị đoàn lữ hành bỏ lại.
Sace cuto sīlavatato hotīti. Dvīhi kāraṇehi sīlavatato cavati – paravicchindanāya vā cavati, anabhisambhuṇanto vā cavati. Kathaṃ paravicchindanāya cavati? Paro vicchindati so satthā na sabbaññū, dhammo na svākkhāto, gaṇo na suppaṭipanno, diṭṭhi na bhaddikā, paṭipadā na supaññattā, maggo na niyyāniko, natthettha suddhi vā visuddhi vā parisuddhi vā, mutti vā vimutti vā parimutti vā, natthettha sujjhanti vā visujjhanti vā parisujjhanti vā, muccanti vā vimuccanti vā, parimuccanti vā, hīnā nihīnā omakā lāmakā chatukkā parittāti. Evaṃ paro vicchindati. Evaṃ vicchindiyamāno satthārā cavati, dhammakkhānā cavati, gaṇā cavati, diṭṭhiyā cavati, paṭipadāya cavati, maggato cavati. Evaṃ parivicchindanāya cavati. Kathaṃ anabhisambhuṇanto cavati? Sīlaṃ anabhisambhuṇanto sīlato cavati, vataṃ anabhisambhuṇanto vatato cavati, sīlabbataṃ anabhisambhuṇanto sīlabbatato cavati. Evaṃ anabhisambhuṇanto cavatīti – sace cuto sīlavatato hoti.
Regarding ‘If one has fallen away from morality and vows’: One falls away from morality and vows for two reasons: one falls away due to being dissuaded by another, or one falls away by not fulfilling them. How does one fall away due to being dissuaded by another? Another dissuades one, saying: ‘That teacher is not all-knowing, the Dhamma is not well-proclaimed, the community is not of good practice, the view is not good, and it does not lead to deliverance. Herein there is no purity, purification, or complete purification; no release, deliverance, or complete deliverance. Herein, none become pure, none become fully pure, none become completely pure; none are released, none are fully released, none are completely released. It is inferior, inferior in application, inferior in effort, inferior in cause, inferior in disposition, and inferior in substance.’ Thus, another dissuades one. Being dissuaded in this way, one falls away from the teacher, falls away from the teaching of the Dhamma, falls away from the community, falls away from the view, falls away from the practice, and falls away from the path. Thus one falls away due to being dissuaded by another. How does one fall away by not fulfilling them? By not fulfilling morality, one falls away from morality. By not fulfilling a vow, one falls away from the vow. By not fulfilling morality and vows, one falls away from morality and vows. Thus one falls away by not fulfilling them. Thus: ‘If one has fallen away from morality and vows’.
Sace cuto sīlavatato hoti. Vị ấy bị rơi rớt khỏi giới và hạnh là do hai nguyên nhân: hoặc bị rơi rớt do sự ngăn cản của người khác, hoặc bị rơi rớt do không thành tựu. Bị rơi rớt do sự ngăn cản của người khác là thế nào? Người khác ngăn cản rằng: ‘Vị đạo sư ấy không phải là bậc Toàn Tri, giáo pháp không được khéo thuyết, hội chúng không phải là bậc Thiện Hạnh, tà kiến là không tốt đẹp, con đường thực hành không được khéo quy định, đạo lộ không đưa đến sự giải thoát, ở đây không có sự thanh tịnh, hay sự trong sạch, hay sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, hay sự giải thoát đặc biệt, hay sự giải thoát hoàn toàn; ở đây không có những vị được thanh tịnh, hay được trong sạch, hay được hoàn toàn trong sạch, được giải thoát, hay được giải thoát đặc biệt, hay được giải thoát hoàn toàn; (chỉ là) thấp kém, hạ liệt, nhỏ mọn, tồi tệ, đáng khinh, ít ỏi.’ Người khác ngăn cản như vậy. Bị ngăn cản như vậy, vị ấy rơi rớt khỏi vị đạo sư, rơi rớt khỏi lời giảng dạy giáo pháp, rơi rớt khỏi hội chúng, rơi rớt khỏi tà kiến, rơi rớt khỏi con đường thực hành, rơi rớt khỏi đạo lộ. Bị rơi rớt do sự ngăn cản của người khác là như vậy. Bị rơi rớt do không thành tựu là thế nào? Do không thành tựu giới, vị ấy rơi rớt khỏi giới. Do không thành tựu hạnh, vị ấy rơi rớt khỏi hạnh. Do không thành tựu giới và hạnh, vị ấy rơi rớt khỏi giới và hạnh. Bị rơi rớt do không thành tựu là như vậy. Đây là (ý nghĩa của) sace cuto sīlavatato hoti.
Pavedhati kammavirādhayitvāti. Pavedhatīti sīlaṃ vā vataṃ vā sīlabbataṃ vā ‘‘viraddhaṃ mayā, aparaddhaṃ mayā, khalitaṃ mayā, galitaṃ mayā, aññāya aparaddho aha’’nti vedhati pavedhati sampavedhatīti – pavedhati. Kammavirādhayitvāti puññābhisaṅkhāraṃ vā apuññābhisaṅkhāraṃ vā āneñjābhisaṅkhāraṃ vā ‘‘viraddhaṃ mayā, aparaddhaṃ mayā, khalitaṃ mayā, galitaṃ mayā, aññāya aparaddho aha’’nti vedhati pavedhati sampavedhatīti – pavedhati kammavirādhayitvā.
Regarding ‘He trembles, having failed in his action’: ‘He trembles’: Concerning morality, a vow, or morality and vows, thinking, ‘I have failed, I have transgressed, I have erred, I have slipped; I have fallen short of Nibbāna,’ he shakes, trembles, and is greatly agitated. Thus: ‘he trembles.’ ‘Having failed in his action’: Concerning meritorious formations, demeritorious formations, or imperturbable formations, thinking, ‘I have failed, I have transgressed, I have erred, I have slipped; I have fallen short of the fruit of Arahantship,’ he shakes, trembles, and is greatly agitated. Thus: ‘he trembles, having failed in his action.’
Pavedhati kammavirādhayitvā. Pavedhati (người ấy run rẩy) là: hoặc về giới, hoặc về hạnh, hoặc về giới và hạnh, (nghĩ rằng): ‘Ta đã làm hỏng, ta đã sai lầm, ta đã vấp ngã, ta đã rơi rớt, ta đã sai lầm đối với trí tuệ cao siêu,’ rồi cảm thấy, run rẩy, run rẩy dữ dội. Đây là (ý nghĩa của) pavedhati. Kammavirādhayitvā (sau khi đã làm hỏng việc làm) là: hoặc về phước hành, hoặc về phi phước hành, hoặc về bất động hành, (nghĩ rằng): ‘Ta đã làm hỏng, ta đã sai lầm, ta đã vấp ngã, ta đã rơi rớt, ta đã sai lầm đối với trí tuệ cao siêu,’ rồi cảm thấy, run rẩy, run rẩy dữ dội. Đây là (ý nghĩa của) pavedhati kammavirādhayitvā.
Pajappatī patthayatī ca suddhinti. Pajappatīti sīlaṃ vā jappati, vataṃ vā jappati, sīlabbataṃ vā jappati pajappati abhijappatīti – pajappati. Patthayatī ca suddhinti sīlasuddhiṃ vā pattheti, vatasuddhiṃ vā pattheti, sīlabbatasuddhiṃ vā pattheti piheti abhijappatīti – pajappatī patthayatī ca suddhiṃ.
Regarding ‘He yearns and aspires for purity’: ‘He yearns’ means he yearns for virtue, or he yearns for vows, or he yearns for virtue and vows; he yearns in various ways, he yearns excessively—thus: ‘he yearns.’ ‘And aspires for purity’ means he aspires for purity of virtue, or he aspires for purity of vows, or he aspires for purity of virtue and vows; he wishes to attain it, he yearns excessively—thus: ‘he yearns and aspires for purity.’
Pajappatī patthayatī ca suddhiṃ. Pajappati (người ấy luyến tiếc) là: hoặc luyến tiếc về giới, hoặc luyến tiếc về hạnh, hoặc luyến tiếc về giới và hạnh, luyến tiếc, luyến tiếc mãnh liệt. Đây là (ý nghĩa của) pajappati. Patthayatī ca suddhiṃ (và mong mỏi sự thanh tịnh) là: hoặc mong mỏi sự thanh tịnh của giới, hoặc mong mỏi sự thanh tịnh của hạnh, hoặc mong mỏi sự thanh tịnh của giới và hạnh, ao ước, luyến tiếc mãnh liệt. Đây là (ý nghĩa của) pajappatī patthayatī ca suddhiṃ.
Satthāva hīno pavasaṃ gharamhāti. Yathā puriso gharato nikkhanto satthena pavasaṃ vasanto satthā ohīno, taṃ vā satthaṃ anubandhati sakaṃ vā gharaṃ paccāgacchati; evameva so diṭṭhigatiko taṃ vā satthāraṃ gaṇhāti aññaṃ vā satthāraṃ gaṇhāti, taṃ vā dhammakkhānaṃ gaṇhāti aññaṃ vā dhammakkhānaṃ gaṇhāti, taṃ vā gaṇaṃ gaṇhāti aññaṃ vā gaṇaṃ gaṇhāti, taṃ vā diṭṭhiṃ gaṇhāti aññaṃ vā diṭṭhiṃ gaṇhāti, taṃ vā paṭipadaṃ gaṇhāti aññaṃ vā paṭipadaṃ gaṇhāti, taṃ vā maggaṃ gaṇhāti aññaṃ vā maggaṃ gaṇhāti parāmasati abhinivisatīti – satthāva hīno pavasaṃ gharamhā.
Left behind by a companion while away from home. Just as a man who has gone forth from home, living away with a companion, being left behind by that companion, either follows that companion or returns to his own home; in the same way, that person holding a certain view takes up that teacher or takes up another teacher, takes up that discourse or takes up another discourse, takes up that group or takes up another group, takes up that view or takes up another view, takes up that practice or takes up another practice, takes up that path or takes up another path; he grasps and adheres to it—thus, left behind by a companion while away from home.
Satthāva hīno pavasaṃ gharamhā. Giống như người đàn ông đã rời khỏi nhà, trong khi đang sống xa nhà với đoàn lữ hành, bị đoàn lữ hành bỏ lại, rồi hoặc là đi theo đoàn lữ hành ấy hoặc là quay trở về nhà của mình; cũng tương tự như thế, người có tà kiến ấy hoặc là chấp nhận vị đạo sư ấy hoặc là chấp nhận vị đạo sư khác, hoặc là chấp nhận lời giảng dạy giáo pháp ấy hoặc là chấp nhận lời giảng dạy giáo pháp khác, hoặc là chấp nhận hội chúng ấy hoặc là chấp nhận hội chúng khác, hoặc là chấp nhận tà kiến ấy hoặc là chấp nhận tà kiến khác, hoặc là chấp nhận con đường thực hành ấy hoặc là chấp nhận con đường thực hành khác, hoặc là chấp nhận đạo lộ ấy hoặc là chấp nhận đạo lộ khác, rồi chấp thủ, quyết tâm. Đây là (ý nghĩa của) satthāva hīno pavasaṃ gharamhā.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, Đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Sace cuto sīlavatato hoti, pavedhatī kammavirādhayitvā;
Pajappatī patthayatī ca suddhiṃ, satthāva hīno pavasaṃ gharamhā’’ti.
“If one falls away from virtue and vows, one trembles, having failed in one's kamma; one yearns for and aspires to purity, like one left behind by a companion while away from home.”
“Nếu người ấy bị rơi rớt khỏi giới và hạnh, người ấy run rẩy sau khi đã làm hỏng việc làm (của mình). Người ấy luyến tiếc và mong mỏi sự thanh tịnh, giống như người xa nhà bị đoàn lữ hành bỏ lại.”
135.
135.
135.
Sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ, kammañca sāvajjanavajjametaṃ;
Suddhiṃ asuddhinti apatthayāno, virato care santimanuggahāya.
Having abandoned all virtue and vows, and this kamma, both faulty and faultless, not aspiring for 'purity' or 'impurity', one should fare along detached, not grasping at peace.
Sau khi đã từ bỏ tất cả giới và hạnh, và cả việc làm này, có tội lỗi và không có tội lỗi, không mong mỏi ‘sự thanh tịnh’ hay ‘sự không thanh tịnh,’ vị ấy nên sống tách ly, không còn chấp thủ vào các quan điểm.
Sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbanti. Sabbā sīlasuddhiyo pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvā, sabbā vatasuddhiyo pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvā, sabbā sīlabbatasuddhiyo pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvāti – sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ.
'Having abandoned all virtue and vows' means: having abandoned, given up, dispelled, made an end of, and brought to non-existence all purifications of virtue; having abandoned, given up, dispelled, made an end of, and brought to non-existence all purifications of vows; having abandoned, given up, dispelled, made an end of, and brought to non-existence all purifications of virtue and vows—this is 'having abandoned all virtue and vows'.
Hoặc là từ bỏ tất cả giới và hạnh. Sau khi đã từ bỏ, đã vứt bỏ, đã loại trừ, đã hủy diệt, đã làm cho không còn tồn tại tất cả các sự thanh tịnh của giới; sau khi đã từ bỏ, đã vứt bỏ, đã loại trừ, đã hủy diệt, đã làm cho không còn tồn tại tất cả các sự thanh tịnh của hạnh; sau khi đã từ bỏ, đã vứt bỏ, đã loại trừ, đã hủy diệt, đã làm cho không còn tồn tại tất cả các sự thanh tịnh của giới và hạnh – (đây là ý nghĩa của) hoặc là từ bỏ tất cả giới và hạnh.
Kammañca sāvajjanavajjametanti. Sāvajjakammaṃ vuccati – kaṇhaṃ kaṇhavipākaṃ. Anavajjakammaṃ vuccati – sukkaṃ sukkavipākaṃ. Sāvajjañca kammaṃ anavajjañca kammaṃ pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvāti – kammañca sāvajjanavajjametaṃ.
'And this kamma, both faulty and faultless' means: Faulty kamma is said to be dark kamma with a dark result. Faultless kamma is said to be bright kamma with a bright result. Having abandoned, given up, dispelled, made an end of, and brought to non-existence both faulty kamma and faultless kamma—this is 'and this kamma, both faulty and faultless'.
Và nghiệp này có lỗi và không có lỗi. Nghiệp có lỗi được gọi là – (nghiệp) đen, có quả báo đen. Nghiệp không có lỗi được gọi là – (nghiệp) trắng, có quả báo trắng. Sau khi đã từ bỏ, đã vứt bỏ, đã loại trừ, đã hủy diệt, đã làm cho không còn tồn tại cả nghiệp có lỗi và nghiệp không có lỗi – (đây là ý nghĩa của) và nghiệp này có lỗi và không có lỗi.
Suddhiṃ asuddhinti apatthayānoti. Asuddhinti asuddhiṃ patthenti, akusale dhamme patthenti. Suddhinti suddhiṃ patthenti, pañca kāmaguṇe patthenti; asuddhiṃ patthenti, akusale dhamme patthenti, pañca kāmaguṇe patthenti; suddhiṃ patthenti, dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni patthenti, asuddhiṃ patthenti, akusale dhamme patthenti, pañca kāmaguṇe patthenti, dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni patthenti; suddhiṃ patthenti, tedhātuke kusale dhamme patthenti, asuddhiṃ patthenti, akusale dhamme patthenti, pañca kāmaguṇe patthenti, dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni patthenti, tedhātuke kusale dhamme patthenti; suddhiṃ patthenti, puthujjanakalyāṇakā † niyāmāvakkantiṃ † patthenti. Sekkhā aggadhammaṃ arahattaṃ patthenti. Arahatte patte arahā neva akusale dhamme pattheti, napi pañca kāmaguṇe pattheti, napi dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni pattheti, napi tedhātuke kusale dhamme pattheti, napi niyāmāvakkantiṃ pattheti, napi aggadhammaṃ arahattaṃ pattheti. Patthanā samatikkanto arahā vuddhipārihānivītivatto †. So vuṭṭhavāso ciṇṇacaraṇo…pe… jātijarāmaraṇasaṃsāro natthi tassa punabbhavoti – suddhiṃ asuddhinti apatthayāno.
Not aspiring for 'purity' or 'impurity'. By 'impurity', they aspire to impurity; they aspire to unwholesome states. By 'purity', they aspire to purity; they aspire to the five strands of sensual pleasure. They aspire to impurity: they aspire to unwholesome states and the five strands of sensual pleasure. They aspire to purity: they aspire to the sixty-two views. They aspire to impurity: they aspire to unwholesome states, the five strands of sensual pleasure, and the sixty-two views. They aspire to purity: they aspire to wholesome states belonging to the three realms. They aspire to impurity: they aspire to unwholesome states, the five strands of sensual pleasure, the sixty-two views, and wholesome states belonging to the three realms. They aspire to purity: virtuous worldlings aspire to entry into the fixed course. Trainees aspire to the supreme state, Arahantship. Having attained Arahantship, the Arahant aspires neither to unwholesome states, nor to the five strands of sensual pleasure, nor to the sixty-two views, nor to wholesome states belonging to the three realms, nor to entry into the fixed course, nor to the supreme state, Arahantship. The Arahant has gone beyond aspiration, has passed beyond growth and decline. He has lived the holy life, has perfected the practice, has overcome the saṃsāra of birth, aging, and death. For him there is no further becoming—this is 'not aspiring for purity or impurity'.
Không mong cầu sự thanh tịnh hay không thanh tịnh. (Nói) 'không thanh tịnh' (nghĩa là) họ mong cầu sự không thanh tịnh, họ mong cầu các pháp bất thiện. (Nói) 'thanh tịnh' (nghĩa là) họ mong cầu sự thanh tịnh, họ mong cầu năm dục trưởng dưỡng; họ mong cầu sự không thanh tịnh, họ mong cầu các pháp bất thiện, họ mong cầu năm dục trưởng dưỡng; họ mong cầu sự thanh tịnh, họ mong cầu sáu mươi hai tà kiến; họ mong cầu sự không thanh tịnh, họ mong cầu các pháp bất thiện, họ mong cầu năm dục trưởng dưỡng, họ mong cầu sáu mươi hai tà kiến; họ mong cầu sự thanh tịnh, họ mong cầu các pháp thiện thuộc ba giới; họ mong cầu sự không thanh tịnh, họ mong cầu các pháp bất thiện, họ mong cầu năm dục trưởng dưỡng, họ mong cầu sáu mươi hai tà kiến, họ mong cầu các pháp thiện thuộc ba giới; họ mong cầu sự thanh tịnh, các phàm phu thiện lành mong cầu sự đi vào chánh định. Các bậc Hữu học mong cầu pháp tối thượng là quả A-la-hán. Khi đã đạt đến quả A-la-hán, vị A-la-hán không mong cầu các pháp bất thiện, cũng không mong cầu năm dục trưởng dưỡng, cũng không mong cầu sáu mươi hai tà kiến, cũng không mong cầu các pháp thiện thuộc ba giới, cũng không mong cầu sự đi vào chánh định, cũng không mong cầu pháp tối thượng là quả A-la-hán. Vị A-la-hán đã vượt qua sự mong cầu, đã vượt khỏi sự tăng trưởng và suy giảm. Vị ấy đã sống xong phạm hạnh, đã thực hành xong phận sự... vòng luân hồi sanh, già, chết, vị ấy không còn tái sanh nữa – (đây là ý nghĩa của) không mong cầu sự thanh tịnh hay không thanh tịnh.
Virato care santimanuggahāyāti. Viratoti suddhiasuddhiyā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto, vimariyādikatena cetasā viharatīti – virato. Careti careyya vicareyya vihareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyyāti – virato care. Santimanuggahāyāti santiyo vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni diṭṭhisantiyo agaṇhanto aparāmasanto anabhinivisantoti – virato care santimanuggahāya.
'One should fare along detached, not grasping at peace.' 'Detached' means: one should be remote from purity and impurity; one should be detached, restrained, gone forth, released, completely freed, disjoined; one dwells with a mind that is unbounded. This is 'detached'. 'One should fare along' means: one should fare, wander, dwell, move, conduct oneself, maintain, carry on, sustain oneself. This is 'one should fare along detached'. 'Not grasping at peace' means: the sixty-two views are called 'peace'. Not taking up, not grasping, and not adhering to these 'peace of views'—this is 'one should fare along detached, not grasping at peace'.
Hãy sống từ bỏ, không chấp thủ sự yên lặng. (Nói) 'từ bỏ' (nghĩa là) vị ấy nên xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, tách rời, hoàn toàn giải thoát, không còn liên hệ với sự thanh tịnh và không thanh tịnh; vị ấy sống với tâm không còn giới hạn – (đây là ý nghĩa của) 'từ bỏ'. (Nói) 'hãy sống' (nghĩa là) nên đi, nên đi lại, nên trú, nên hành động, nên thực hành, nên duy trì, nên bảo tồn, nên nuôi mạng – (đây là ý nghĩa của) 'hãy sống từ bỏ'. (Nói) 'không chấp thủ sự yên lặng' (nghĩa là) sáu mươi hai tà kiến được gọi là các sự yên lặng; không nắm giữ, không bám víu, không quyết đoán vào các sự yên lặng của tà kiến – (đây là ý nghĩa của) 'hãy sống từ bỏ, không chấp thủ sự yên lặng'.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ, kammañca sāvajjanavajjametaṃ;
Suddhiṃ asuddhinti apatthayāno, virato care santimanuggahāyā’’ti.
“Having abandoned all virtue and vows, and this kamma, both faulty and faultless; not aspiring for 'purity' or 'impurity', one should fare along detached, not grasping at peace.”
“Hoặc là từ bỏ tất cả giới và hạnh, và nghiệp này có lỗi và không có lỗi; không mong cầu sự thanh tịnh hay không thanh tịnh, hãy sống từ bỏ, không chấp thủ sự yên lặng.”
136.
136.
136.
Tamūpanissāya jigucchitaṃ vā, atha vāpi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā;
Uddhaṃsarā suddhimanutthunanti, avītataṇhāse bhavābhavesu.
Relying on that which is loathsome, or on what is seen, heard, or sensed, they who are exponents of purity through the round of rebirth praise purity, not being free from craving for continued existence.
Nương tựa vào điều đáng ghê tởm ấy, hoặc là cái được thấy, được nghe, hay được cảm nhận; những người hướng thượng tán thán sự thanh tịnh, họ là những người chưa từ bỏ ái dục trong các cõi tồn tại.
Tamūpanissāya jigucchitaṃ vāti. Santeke samaṇabrāhmaṇā tapojigucchavādā tapojigucchasārā tapojigucchanissitā ānissitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttāti – tamūpanissāya jigucchitaṃ vā.
'Relying on that which is loathsome.' There are some ascetics and brahmins who are exponents of the loathsome through austerity, for whom the loathsome through austerity is the essence, who are dependent on the loathsome through austerity; they are closely dependent, clinging, have approached, have settled upon, and are intent upon it—this is 'relying on that which is loathsome'.
Nương tựa vào điều đáng ghê tởm ấy. Có một số sa-môn và bà-la-môn là những người chủ trương (thanh tịnh) qua sự ghê tởm của khổ hạnh, xem sự ghê tởm của khổ hạnh là cốt lõi, nương tựa vào sự ghê tởm của khổ hạnh, phụ thuộc, dính mắc, tiếp cận, quyết đoán, và tin chắc vào điều đó – (đây là ý nghĩa của) nương tựa vào điều đáng ghê tởm ấy.
Atha vāpi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vāti. Diṭṭhaṃ vā diṭṭhasuddhiṃ vā sutaṃ vā sutasuddhiṃ vā mutaṃ vā mutasuddhiṃ vā nissāya upanissāya gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvāti – atha vāpi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā.
'Or else on what is seen, heard, or sensed.' By relying on, closely relying on, grasping, grasping at, and adhering to what is seen or the purity of what is seen, what is heard or the purity of what is heard, what is sensed or the purity of what is sensed—this is 'or else on what is seen, heard, or sensed'.
Hoặc là cái được thấy, được nghe, hay được cảm nhận. Bằng cách nương tựa, phụ thuộc, nắm giữ, bám víu, và quyết đoán vào cái được thấy hoặc sự thanh tịnh của cái thấy, cái được nghe hoặc sự thanh tịnh của cái nghe, cái được cảm nhận hoặc sự thanh tịnh của cái cảm nhận – (đây là ý nghĩa của) hoặc là cái được thấy, được nghe, hay được cảm nhận.
Uddhaṃsarā suddhimanutthunantīti. Santeke samaṇabrāhmaṇā uddhaṃsarāvādā. Katame te samaṇabrāhmaṇā uddhaṃsarāvādā? Ye te samaṇabrāhmaṇā accantasuddhikā, saṃsārasuddhikā, akiriyadiṭṭhikā, sassatavādā – ime te samaṇabrāhmaṇā uddhaṃsarāvādā. Te saṃsāre suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ thunanti vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – uddhaṃsarā suddhimanutthunanti.
'They who are exponents of purity through the round of rebirth praise purity.' There are some ascetics and brahmins who are exponents of purity through the round of rebirth. Who are those ascetics and brahmins, exponents of purity through the round of rebirth? Those ascetics and brahmins who desire extreme purity, who desire purity through saṃsāra, who hold the view of inaction, and who are eternalists—these ascetics and brahmins are the exponents of purity through the round of rebirth. They praise, speak of, declare, recite, explain, and designate purity, special purity, and complete purity in saṃsāra; release, special release, and complete release—this is 'they who are exponents of purity through the round of rebirth praise purity'.
Những người hướng thượng tán thán sự thanh tịnh. Có một số sa-môn và bà-la-môn là những người có quan điểm hướng thượng. Những sa-môn và bà-la-môn nào là những người có quan điểm hướng thượng? Những sa-môn và bà-la-môn nào là những người mong muốn sự thanh tịnh tuyệt đối, sự thanh tịnh qua luân hồi, những người có quan điểm vô hành, những người có quan điểm thường hằng – những sa-môn và bà-la-môn này là những người có quan điểm hướng thượng. Họ tán thán, nói, tuyên bố, đọc, giải thích, và sử dụng (các từ ngữ) về sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát trọn vẹn trong vòng luân hồi – (đây là ý nghĩa của) những người hướng thượng tán thán sự thanh tịnh.
Avītataṇhāse bhavābhavesūti. Taṇhāti rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā. Bhavābhavesūti bhavābhave kammabhave punabbhave kāmabhave, kammabhave kāmabhave punabbhave rūpabhave, kammabhave rūpabhave punabbhave arūpabhave, kammabhave arūpabhave punabbhave punappunabbhave punappunagatiyā punappunaupapattiyā punappunapaṭisandhiyā punappunaattabhāvābhinibbattiyā avītataṇhā avigatataṇhā acattataṇhā avantataṇhā amuttataṇhā appahīnataṇhā appaṭinissaṭṭhataṇhāti – avītataṇhāse bhavābhavesu.
Regarding the phrase, ‘They have undeparted craving in various existences’: Craving means craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for tactile objects, and craving for mental objects. ‘In various existences’ means: in great and small existences; in kamma-existence and in rebirth-existence; in kamma-existence that is sense-sphere existence and in rebirth-existence that is sense-sphere existence; in kamma-existence that is form-sphere existence and in rebirth-existence that is form-sphere existence; in kamma-existence that is formless-sphere existence and in rebirth-existence that is formless-sphere existence; in repeated existence, in repeated destinies, in repeated arising, in repeated relinking, in the repeated manifestation of an individual existence. They have undeparted craving, craving that has not gone away, craving that is not given up, craving that is not relinquished, craving that is not released, craving that is not abandoned, craving that is not renounced. This is the meaning of the phrase, ‘They have undeparted craving in various existences.’
Họ là những người chưa từ bỏ ái dục trong các cõi tồn tại. Ái dục là ái dục đối với sắc, ái dục đối với thanh, ái dục đối với hương, ái dục đối với vị, ái dục đối với xúc, ái dục đối với pháp. Trong các cõi tồn tại là trong cõi tồn tại lớn và nhỏ, trong nghiệp hữu, trong tái sanh hữu, trong dục hữu; trong nghiệp hữu của dục hữu, trong tái sanh hữu của dục hữu; trong sắc hữu, trong nghiệp hữu của sắc hữu, trong tái sanh hữu của sắc hữu; trong vô sắc hữu, trong nghiệp hữu của vô sắc hữu, trong tái sanh hữu của vô sắc hữu; trong sự tồn tại lặp đi lặp lại, trong các cõi đi lặp đi lặp lại, trong sự hóa sanh lặp đi lặp lại, trong sự tái sanh lặp đi lặp lại, trong sự xuất hiện của tự thể lặp đi lặp lại, họ là những người chưa từ bỏ ái dục, chưa lìa ái dục, chưa vứt bỏ ái dục, chưa chấm dứt ái dục, chưa giải thoát khỏi ái dục, chưa đoạn trừ ái dục, chưa từ bỏ hoàn toàn ái dục – (đây là ý nghĩa của) họ là những người chưa từ bỏ ái dục trong các cõi tồn tại.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Tamūpanissāya jigucchitaṃ vā, atha vāpi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā;
Uddhaṃsarā suddhimanutthunanti, avītataṇhāse bhavābhavesū’’ti.
“Relying on that which is loathsome, or on what is seen, heard, or sensed, those whose course is upwards praise purity; they have undeparted craving for various existences.”
“Nương tựa vào điều đáng ghê tởm ấy, hoặc là cái được thấy, được nghe, hay được cảm nhận; những người hướng thượng tán thán sự thanh tịnh, họ là những người chưa từ bỏ ái dục trong các cõi tồn tại.”
137.
137.
137.
Patthayamānassa hi jappitāni, pavedhitaṃ vāpi pakappitesu;
Cutūpapāto idha yassa natthi, sa kena vedheyya kuhiṃ va jappe.
“Indeed, for one who longs, cravings arise, and there is agitation regarding things conceived. For whom there is no passing away and rebirth here, by what could he be shaken? Where indeed would he crave?”
Vì rằng đối với người đang mong cầu, có những lời thì thầm (của ái dục), và cũng có sự run rẩy trong những gì được tạo tác; người nào ở đây không có sự chết và sanh, vị ấy sẽ bị lay động bởi cái gì, và sẽ thì thầm ở đâu?
Patthayamānassa hi jappitānīti. Patthanā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Patthayamānassāti patthayamānassa icchamānassa sādiyamānassa pihayamānassa abhijappayamānassāti – patthayamānassa hi. Jappitānīti. Jappanā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlanti – patthayamānassa hi jappitāni.
Regarding the phrase, ‘Indeed, for one who longs, there are cravings’: Longing (`patthanā`) is called craving (`taṇhā`). That which is passion, intense passion… and so on… covetousness, greed, an unwholesome root. ‘For one who longs’ means: for one who longs, for one who wishes, for one who delights in, for one who yearns, for one who intensely desires. This is the meaning of the term ‘for one who longs.’ Regarding ‘cravings’ (`jappitāni`): Craving (`jappanā`) is called craving (`taṇhā`). That which is passion, intense passion… and so on… covetousness, greed, an unwholesome root. This is the meaning of the phrase, ‘Indeed, for one who longs, there are cravings.’
Về câu: Patthayamānassa hi jappitānīti (chính là những điều thầm thì của người đang mong cầu). Sự mong cầu (patthanā) được gọi là tham ái. Sự tham ái nào, sự tham đắm mãnh liệt... (v.v.)... sự thèm muốn, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Về từ patthayamānassa (của người đang mong cầu): (có nghĩa là) của người đang mong cầu, của người đang ước muốn, của người đang vui thích, của người đang khao khát, của người đang tham cầu mãnh liệt. Đây là ý nghĩa của từ patthayamānassa. Về từ jappitāni (những điều thầm thì). Sự thầm thì (jappanā) được gọi là tham ái. Sự tham ái nào, sự tham đắm mãnh liệt... (v.v.)... sự thèm muốn, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Đây là ý nghĩa của câu patthayamānassa hi jappitāni.
Pavedhitaṃ vāpi pakappitesūti. Pakappanāti dve pakappanā – taṇhāpakappanā ca diṭṭhipakappanā ca…pe… ayaṃ taṇhāpakappanā…pe… ayaṃ diṭṭhipakappanā. Pavedhitaṃ vāpi pakappitesūti. Pakappitaṃ vatthuṃ acchedasaṅkinopi vedhenti, acchijjantepi vedhenti, acchinnepi vedhenti; pakappitaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṅkinopi vedhenti, vipariṇamantepi vedhenti, vipariṇatepi vedhenti pavedhenti sampavedhentīti – pavedhitaṃ vāpi pakappitesu.
Regarding the phrase, ‘Or agitation over what is conceived’: Conception is twofold: conception that is craving and conception that is wrong view... and so on… this is conception that is craving... and so on… this is conception that is wrong view. ‘Or agitation over what is conceived’ means: Regarding a conceived object, being suspicious that it might be cut off, they are agitated; while it is being cut off, they are agitated; when it has been cut off, they are agitated. Regarding a conceived object, being suspicious that it might change, they are agitated; while it is changing, they are agitated; when it has changed, they are agitated, greatly agitated, and violently agitated—this is the meaning of the phrase, ‘or agitation over what is conceived.’
Về câu: Pavedhitaṃ vāpi pakappitesūti (hoặc sự run rẩy trong những điều đã được tạo tác). Về sự tạo tác (pakappanā), có hai loại tạo tác: sự tạo tác của tham ái và sự tạo tác của tà kiến... (v.v.)... đây là sự tạo tác của tham ái... (v.v.)... đây là sự tạo tác của tà kiến. Về câu: Pavedhitaṃ vāpi pakappitesūti. Đối với vật đã được tạo tác, họ run sợ ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng nó sẽ bị cướp đoạt; họ run sợ khi nó đang bị cướp đoạt; họ run sợ khi nó đã bị cướp đoạt. Đối với vật đã được tạo tác, họ run sợ ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng nó sẽ bị biến hoại; họ run sợ khi nó đang biến hoại; họ run sợ khi nó đã biến hoại; họ run rẩy, họ run rẩy mãnh liệt. Đây là ý nghĩa của câu pavedhitaṃ vāpi pakappitesu.
Cutūpapāto idha yassa natthīti. Yassāti arahato khīṇāsavassa. Yassa gamanaṃ āgamanaṃ gamanāgamanaṃ kālaṃgati bhavābhavo cuti ca upapatti ca nibbatti ca bhedo ca jāti ca jarāmaraṇañca natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – cutūpapāto idha yassa natthi.
Regarding the phrase, ‘For whom there is no passing away and rebirth here’: ‘For whom’ refers to the Arahant, the one with taints destroyed. For whom going, coming, going and coming, death, destination, various existences, passing away and taking rebirth, arising, breaking up, birth, and aging and death do not exist, are not present, are not found, are not obtained; they have been abandoned, cut off at the root, stilled, calmed, are incapable of arising again, and are burned by the fire of knowledge—this is the meaning of the phrase, ‘for whom there is no passing away and rebirth here.’
Về câu: Cutūpapāto idha yassa natthīti (người nào ở đây không có sự chết và sanh). Yassa (của người nào): có nghĩa là của vị A-la-hán, bậc đã tận trừ các lậu hoặc. Đối với vị ấy, sự đi, sự đến, sự đi và đến, sự chết, sự tái sanh, các cõi lớn nhỏ, sự chết và sự sanh khởi, sự hiện hữu, sự tan rã, sự sanh, sự già và chết là không có, không hiện hữu, không được tìm thấy; (chúng) đã được từ bỏ, đã được đoạn trừ tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã trở thành không có khả năng sanh khởi trở lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Đây là ý nghĩa của câu cutūpapāto idha yassa natthi.
Sa kena vedheyya kuhiṃ va jappeti. So kena rāgena vedheyya, kena dosena vedheyya, kena mohena vedheyya, kena mānena vedheyya, kāya diṭṭhiyā vedheyya, kena uddhaccena vedheyya, kāya vicikicchāya vedheyya, kehi anusayehi vedheyya – rattoti vā duṭṭhoti vā mūḷhoti vā vinibaddhoti vā parāmaṭṭhoti vā vikkhepagatoti vā aniṭṭhaṅgatoti vā thāmagatoti vā. Te abhisaṅkhārā pahīnā; abhisaṅkhārānaṃ pahīnattā gatiyā kena vedheyya – nerayikoti vā tiracchānayonikoti vā pettivisayikoti vā manussoti vā devoti vā rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā, so hetu natthi paccayo natthi kāraṇaṃ natthi yena vedheyya pavedheyya sampavedheyyāti – sa kena vedheyya. Kuhiṃva jappeti kuhiṃ vā jappeyya kimhi jappeyya, kattha jappeyya pajappeyya abhijappeyyāti – sa kena vedheyya kuhiṃ va jappe.
Regarding the phrase, ‘By what could he be shaken? Where would he crave?’: By what passion could he be shaken, by what aversion, by what delusion, by what conceit, by what view, by what restlessness, by what doubt, by what underlying tendencies—whether as one who is attached, hateful, deluded, bound, clinging, distracted, uncommitted, or entrenched? Those formations are abandoned; with the abandoning of formations, by what destiny could he be shaken—whether as one in hell, in the animal realm, in the realm of ghosts, as a human, a deva, with form, without form, with perception, without perception, or with neither perception nor non-perception? There is no cause, no condition, no reason by which he could be shaken, greatly shaken, or thoroughly shaken—this is the meaning of the phrase, ‘by what could he be shaken?’ Regarding the phrase, ‘Where would he crave?’: where might he crave, on what might he crave, in what might he crave, where might he especially crave, or intensely crave? This is the meaning of the phrase, ‘by what could he be shaken? Where would he crave?’
Sa kena vedheyya kuhiṃ va jappe (Vị ấy do đâu mà run rẩy, ở đâu mà thầm thì?). Vị ấy do tham ái nào mà run rẩy, do sân hận nào mà run rẩy, do si mê nào mà run rẩy, do ngã mạn nào mà run rẩy, do tà kiến nào mà run rẩy, do trạo cử nào mà run rẩy, do hoài nghi nào mà run rẩy, do các tùy miên nào mà run rẩy – (gọi là) người tham đắm, hay người sân hận, hay người si mê, hay người bị trói buộc, hay người chấp thủ, hay người bị tán loạn, hay người chưa đi đến quyết định, hay người đã đạt đến sức mạnh? Các hành ấy đã được từ bỏ; do các hành đã được từ bỏ, vị ấy do thú nào mà run rẩy – (là) chúng sanh địa ngục, hay loài súc sanh, hay cõi ngạ quỷ, hay loài người, hay chư thiên, hay chúng sanh có sắc, hay chúng sanh vô sắc, hay chúng sanh có tưởng, hay chúng sanh vô tưởng, hay chúng sanh phi tưởng phi phi tưởng? Nguyên nhân ấy không có, duyên ấy không có, lý do ấy không có, mà do đó vị ấy có thể run rẩy, run rẩy, run rẩy mãnh liệt. Đây là ý nghĩa của sa kena vedheyya. Kuhiṃ va jappe (ở đâu mà thầm thì?): ở đâu vị ấy có thể thầm thì, vì sao vị ấy có thể thầm thì, nơi nào vị ấy có thể thầm thì, thầm thì, thầm thì mãnh liệt? Đây là ý nghĩa của sa kena vedheyya kuhiṃ va jappe.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Patthayamānassa hi jappitāni, pavedhitaṃ vāpi pakappitesu;
Cutūpapāto idha yassa natthi, sa kena vedheyya kuhiṃ va jappe’’ti.
“For one who longs, there are indeed cravings, and agitation over what is conceived. For whom there is no passing away and rebirth here, by what could he be shaken? Where would he crave?”
“Chính là những điều thầm thì của người đang mong cầu, hoặc sự run rẩy trong những điều đã được tạo tác; người nào ở đây không có sự chết và sanh, vị ấy do đâu mà run rẩy, ở đâu mà thầm thì?”
138.
138.
138.
Yamāhu dhammaṃ paramanti eke, tameva hīnanti panāhu aññe;
Sacco nu vādo katamo imesaṃ, sabbeva hīme kusalāvadānā.
“What some say is the supreme teaching, others say that very thing is inferior. Which of these statements is true, since all of them claim to be skilled?”
Pháp mà một số người gọi là tối thượng, chính pháp ấy lại bị những người khác gọi là thấp kém; lời nói nào của họ là chân thật? Vì tất cả những người này đều tự cho là thông thái.
Yamāhu dhammaṃ paramanti eketi. Yaṃ dhammaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ eke samaṇabrāhmaṇā ‘‘idaṃ paramaṃ aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavara’’nti, evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – yamāhu dhammaṃ paramanti eke.
Regarding the phrase, ‘What some say is the supreme teaching’: some ascetics and brahmins say, declare, proclaim, illuminate, and designate that a certain teaching, view, practice, or path is ‘supreme, foremost, excellent, distinguished, pre-eminent, highest, and sublime’—this is the meaning of the phrase, ‘What some say is the supreme teaching.’
Về câu: Yamāhu dhammaṃ paramanti eke (Pháp mà một số người gọi là tối thượng). Pháp nào, kiến giải nào, con đường thực hành nào, đạo lộ nào mà một số Sa-môn, Bà-la-môn (cho là): “điều này là tối thượng, là cao tột, là ưu việt, là đặc thù, là chủ yếu, là cao cả, là tuyệt hảo,” họ đã nói như vậy, họ thuyết giảng như vậy, họ tuyên bố như vậy, họ trình bày như vậy, họ gọi tên như vậy. Đây là ý nghĩa của câu yamāhu dhammaṃ paramanti eke.
Tameva hīnanti panāhu aññeti tameva dhammaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ eke samaṇabrāhmaṇā ‘‘hīnaṃ etaṃ, nihīnaṃ etaṃ, omakaṃ etaṃ, lāmakaṃ etaṃ, chatukkaṃ etaṃ, parittakaṃ eta’’nti, evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – tameva hīnanti panāhu aññe.
Regarding the phrase, ‘Others say that very thing is inferior’: some ascetics and brahmins said of that very doctrine, view, practice, and path, ‘This is inferior, this is low, this is base, this is poor, this is wretched, this is insignificant.’ Thus they said, thus they taught, thus they recited, thus they explained, and thus they designated—this is the meaning of the phrase, ‘Others say that very thing is inferior.’
Về câu: Tameva hīnanti panāhu aññe (chính pháp ấy lại bị những người khác gọi là thấp kém). Chính pháp ấy, kiến giải ấy, con đường thực hành ấy, đạo lộ ấy mà một số Sa-môn, Bà-la-môn (cho là): “điều này là thấp kém, điều này là hạ liệt, điều này là tầm thường, điều này là tồi tệ, điều này là đáng khinh, điều này là nhỏ mọn,” họ đã nói như vậy, họ thuyết giảng như vậy, họ tuyên bố như vậy, họ trình bày như vậy, họ gọi tên như vậy. Đây là ý nghĩa của câu tameva hīnanti panāhu aññe.
Sacco nu vādo katamo imesanti. Imesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ vādo katamo sacco taccho tatho bhūto yāthāvo aviparītoti – sacco nu vādo katamo imesaṃ.
Regarding the phrase, ‘Which of these statements is true?’: Among these ascetics and brahmins, which statement is true, exact, unchanging, real, in accordance with reality, and not contrary to fact? This is the meaning of the phrase, ‘Which of these statements is true?’
Về câu: Sacco nu vādo katamo imesanti (lời nói nào của họ là chân thật?). Lời nói nào của các Sa-môn, Bà-la-môn này là chân thật, là xác thực, là đúng đắn, là sự thật, là như thật, là không sai lệch? Đây là ý nghĩa của câu sacco nu vādo katamo imesaṃ.
Sabbeva hīme kusalāvadānāti. Sabbevime samaṇabrāhmaṇā kusalavādā paṇḍitavādā thiravādā ñāyavādā hetuvādā lakkhaṇavādā kāraṇavādā ṭhānavādā sakāya laddhiyāti – sabbeva hīme kusalāvadānā.
Regarding the phrase, ‘Since all of them claim to be skilled’: all these ascetics and brahmins, according to their own doctrine, claim to be skilled, wise, steadfast, knowledgeable, rational, possessed of characteristics, possessed of causes, and possessed of a firm basis. This is the meaning of the phrase, ‘Since all of them claim to be skilled.’
Về câu: Sabbeva hīme kusalāvadānāti (Vì tất cả những người này đều tự cho là thông thái). Tất cả các Sa-môn, Bà-la-môn này, theo học thuyết của riêng mình, tự cho là người nói điều thiện xảo, người nói điều trí tuệ, người nói điều vững chắc, người nói điều hợp lý, người nói điều có nguyên nhân, người nói điều có đặc điểm, người nói điều có lý do, người nói điều có cơ sở. Đây là ý nghĩa của câu sabbeva hīme kusalāvadānā.
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created one said:
Do đó, vị hóa nhân ấy đã nói:
‘‘Yamāhu dhammaṃ paramanti eke, tameva hīnanti panāhu aññe;
Sacco nu vādo katamo imesaṃ, sabbeva hīme kusalāvadānā’’ti.
“What some say is the supreme teaching, others say that very thing is inferior. Which of these statements is true, since all of them claim to be skilled?”
“Pháp mà một số người gọi là tối thượng, chính pháp ấy lại bị những người khác gọi là thấp kém; lời nói nào của họ là chân thật? Vì tất cả những người này đều tự cho là thông thái.”
139.
139.
139.
Sakañhi dhammaṃ paripuṇṇamāhu, aññassa dhammaṃ pana hīnamāhu;
Evampi viggayha vivādayanti, sakaṃ sakaṃ sammutimāhu saccaṃ.
Indeed, they call their own doctrine perfect, but another’s doctrine they call inferior. Thus, taking a contentious stance, they dispute; they each call their own convention the truth.
Họ nói pháp của mình là hoàn hảo, còn pháp của người khác lại là thấp kém; cứ như thế họ tranh chấp và cãi cọ, mỗi người đều nói quy ước của riêng mình là chân lý.
Sakañhi dhammaṃ paripuṇṇamāhūti sakaṃ dhammaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ eke samaṇabrāhmaṇā ‘‘idaṃ samattaṃ paripuṇṇaṃ anoma’’nti, evamāhaṃsu…pe… evaṃ voharantīti – sakañhi dhammaṃ paripuṇṇamāhu.
The phrase 'Indeed, they call their own doctrine perfect' means that certain ascetics and brahmins said of their own doctrine, view, practice, and path, 'This is complete, perfect, and not inferior.' Thus they said, thus they taught, thus they recited, thus they explained, and thus they designated.
Về câu: Sakañhi dhammaṃ paripuṇṇamāhūti (Họ nói pháp của mình là hoàn hảo). Pháp của mình, kiến giải của mình, con đường thực hành của mình, đạo lộ của mình mà một số Sa-môn, Bà-la-môn (cho là): “điều này là trọn vẹn, là hoàn hảo, là không khiếm khuyết,” họ đã nói như vậy... (v.v.)... họ gọi tên như vậy. Đây là ý nghĩa của câu sakañhi dhammaṃ paripuṇṇamāhu.
Aññassa dhammaṃ pana hīnamāhūti. Aññassa dhammaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ eke samaṇabrāhmaṇā ‘‘hīnaṃ etaṃ, nihīnaṃ etaṃ, omakaṃ etaṃ, lāmakaṃ etaṃ, chatukkaṃ etaṃ, parittakaṃ eta’’nti, evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – aññassa dhammaṃ pana hīnamāhu.
The phrase 'But another’s doctrine they call inferior' means that certain ascetics and brahmins said of the doctrine, view, practice, and path of another, 'This is inferior, this is low, this is base, this is poor, this is wretched, this is insignificant.' Thus they said, thus they taught, thus they recited, thus they explained, and thus they designated.
Về câu: Aññassa dhammaṃ pana hīnamāhūti (còn pháp của người khác lại là thấp kém). Pháp của người khác, kiến giải của người khác, con đường thực hành của người khác, đạo lộ của người khác mà một số Sa-môn, Bà-la-môn (cho là): “điều này là thấp kém, điều này là hạ liệt, điều này là tầm thường, điều này là tồi tệ, điều này là đáng khinh, điều này là nhỏ mọn,” họ đã nói như vậy, họ thuyết giảng như vậy, họ tuyên bố như vậy, họ trình bày như vậy, họ gọi tên như vậy. Đây là ý nghĩa của câu aññassa dhammaṃ pana hīnamāhu.
Evampi viggayha vivādayantīti evaṃ gahetvā uggahetvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā vivādayanti, kalahaṃ karonti, bhaṇḍanaṃ karonti, viggahaṃ karonti, vivādaṃ karonti, medhagaṃ karonti – ‘‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi…pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’’ti – evampi viggayha vivādayanti.
'Thus, taking a contentious stance, they dispute' means: thus, having taken, having especially taken, having grasped, having adhered to, and having been intent upon, they dispute. They make quarrels, they make contentions, they make wrangling, they make disputes, they make strife, saying: 'You do not know this Dhamma-Vinaya... if you are able, then refute it!' Thus, taking a contentious stance, they dispute.
‘Như thế này, họ tranh luận và cãi vã’ có nghĩa là: Sau khi nắm lấy, sau khi nắm giữ, sau khi chấp thủ, sau khi xem xét, sau khi quyết tâm như thế này, họ tranh luận, họ gây gổ, họ cãi vã, họ tạo ra sự tranh chấp, họ tạo ra sự tranh luận, họ gây ra sự xung đột (rằng): “Ngươi không biết Giáo pháp và Luật này …v.v… hoặc hãy gỡ rối nó nếu ngươi có thể.” – (Nghĩa là) như thế này, họ tranh luận và cãi vã.
Sakaṃ sakaṃ sammutimāhu saccanti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti – sakaṃ sakaṃ sammutimāhu saccaṃ. ‘‘Asassato loko …pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti – sakaṃ sakaṃ sammutimāhu saccaṃ.
'They each call their own convention the truth' means: 'The world is eternal—this alone is true, the other is vain.' Thus they each call their own convention the truth. 'The world is not eternal... the Tathāgata neither is nor is not after death—this alone is true, the other is vain.' Thus they each call their own convention the truth.
‘Họ nói quy ước của riêng mình là sự thật’ có nghĩa là: (Họ nói rằng:) “Thế gian là thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là vô ích.” – (Như vậy) họ nói quy ước của riêng mình là sự thật. (Họ nói rằng:) “Thế gian là không thường hằng …v.v… Như Lai sau khi chết không phải là có, cũng không phải là không có, chỉ điều này là sự thật, điều khác là vô ích.” – (Như vậy) họ nói quy ước của riêng mình là sự thật.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Sakañhi dhammaṃ paripuṇṇamāhu, aññassa dhammaṃ pana hīnamāhu;
Evampi viggayha vivādayanti, sakaṃ sakaṃ sammutimāhu sacca’’nti.
“Indeed, they call their own doctrine perfect, but another’s doctrine they call inferior; thus, taking a contentious stance, they dispute; they each call their own convention the truth.”
“Họ nói giáo pháp của mình là hoàn hảo, còn giáo pháp của người khác, họ lại nói là thấp kém; Như thế này, họ tranh luận và cãi vã, họ nói quy ước của riêng mình là sự thật.”
140.
140.
140.
Parassa ce vambhayitena hīno, na koci dhammesu visesi assa;
Puthū hi aññassa vadanti dhammaṃ, nihīnato samhi daḷhaṃ vadānā.
If another were inferior through being disparaged, no one would be superior among the doctrines; for many speak of the doctrine of another as inferior, while being firm in their own.
“Nếu do bị người khác chê bai mà trở nên thấp kém, thì không có ai là đặc biệt trong các giáo pháp. Vì nhiều người nói giáo pháp của người khác là thấp kém, trong khi nói một cách chắc chắn về (giáo pháp) của mình.”
Parassa ce vambhayitena hīnoti parassa ce vambhayitakāraṇā ninditakāraṇā garahitakāraṇā upavaditakāraṇā paro bālo hoti hīno nihīno omako lāmako chatukko parittoti – parassa ce vambhayitena hīno.
'If another were inferior through being disparaged' means: if, because of disparagement, because of criticism, because of condemnation, because of censure, another becomes a fool, becomes inferior, low, base, wretched, contemptible, or insignificant—this is the meaning of 'if another were inferior through being disparaged'.
‘Nếu do bị người khác chê bai mà trở nên thấp kém’ có nghĩa là: Nếu do nguyên nhân bị người khác hủy hoại, do nguyên nhân bị chỉ trích, do nguyên nhân bị khiển trách, do nguyên nhân bị mắng nhiếc mà người khác trở thành kẻ ngu, trở nên thấp kém, hạ liệt, tầm thường, tồi tệ, xấu xa, nhỏ mọn – (đó là nghĩa của) ‘nếu do bị người khác chê bai mà trở nên thấp kém.’
Na koci dhammesu visesi assāti. Dhammesu na koci aggo seṭṭho visiṭṭho pāmokkho uttamo pavaro assāti – na koci dhammesu visesi assa.
'No one would be superior among the doctrines' means: among the doctrines, no one would be supreme, excellent, distinguished, foremost, highest, or superior—this is the meaning of 'no one would be superior among the doctrines'.
‘Không có ai là đặc biệt trong các giáo pháp’ có nghĩa là: Trong các giáo pháp, không một ai có thể là tối thượng, cao quý, đặc biệt, hàng đầu, cao tột, ưu tú – (đó là nghĩa của) ‘không có ai là đặc biệt trong các giáo pháp.’
Puthū hi aññassa vadanti dhammaṃ, nihīnatoti. Bahukāpi bahūnaṃ dhammaṃ vadanti upavadanti nindanti garahanti hīnato nihīnato omakato lāmakato chatukkato parittato, bahukāpi ekassa dhammaṃ vadanti upavadanti nindanti garahanti hīnato nihīnato omakato lāmakato chatukkato parittato, ekopi bahūnaṃ dhammaṃ vadati upavadati nindati garahati hīnato nihīnato omakato lāmakato chatukkato parittato, ekopi ekassa dhammaṃ vadati upavadati nindati garahati hīnato nihīnato omakato lāmakato chatukkato parittatoti – puthū hi aññassa vadanti dhammaṃ.
'For many speak of another's doctrine as inferior' means: many speak of, revile, censure, and condemn the doctrine of many as inferior, low, base, contemptible, wretched, or insignificant. Many speak of, revile, censure, and condemn the doctrine of one as inferior, low, base, contemptible, wretched, or insignificant. One speaks of, reviles, censures, and condemns the doctrine of many as inferior, low, base, contemptible, wretched, or insignificant. One speaks of, reviles, censures, and condemns the doctrine of one as inferior, low, base, contemptible, wretched, or insignificant. This is the meaning of 'For many speak of another's doctrine as inferior.'
‘Vì nhiều người nói giáo pháp của người khác là thấp kém’ có nghĩa là: Nhiều người nói, mắng nhiếc, chỉ trích, khiển trách giáo pháp của nhiều người là thấp kém, hạ liệt, tầm thường, tồi tệ, xấu xa, nhỏ mọn; nhiều người nói, mắng nhiếc, chỉ trích, khiển trách giáo pháp của một người là thấp kém, hạ liệt, tầm thường, tồi tệ, xấu xa, nhỏ mọn; một người nói, mắng nhiếc, chỉ trích, khiển trách giáo pháp của nhiều người là thấp kém, hạ liệt, tầm thường, tồi tệ, xấu xa, nhỏ mọn; một người nói, mắng nhiếc, chỉ trích, khiển trách giáo pháp của một người là thấp kém, hạ liệt, tầm thường, tồi tệ, xấu xa, nhỏ mọn – (đó là nghĩa của) ‘vì nhiều người nói giáo pháp của người khác là thấp kém.’
Nihīnato samhi daḷhaṃ vadānāti. Dhammo sakāyanaṃ, diṭṭhi sakāyanaṃ, paṭipadā sakāyanaṃ, maggo sakāyanaṃ, sakāyane daḷhavādā thiravādā balikavādā aṭṭhitavādāti – nihīnato samhi daḷhaṃ vadānā.
'as inferior, while being firm in their own' means: the doctrine is one's own basis, the view is one's own basis, the practice is one's own basis, the path is one's own basis. In one's own basis, they are of firm assertion, of steadfast assertion, of strong assertion, and of unwavering assertion. This is the meaning of 'as inferior, while being firm in their own.'
‘Trong khi nói một cách chắc chắn về (giáo pháp) của mình’ có nghĩa là: Giáo pháp là nơi nương tựa của mình, quan điểm là nơi nương tựa của mình, con đường thực hành là nơi nương tựa của mình, đạo lộ là nơi nương tựa của mình; ở nơi nương tựa của mình, họ là những người có lời nói chắc chắn, những người có lời nói kiên định, những người có lời nói mạnh mẽ, những người có lời nói không lay chuyển – (đó là nghĩa của) ‘trong khi nói một cách chắc chắn về (giáo pháp) của mình.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Parassa ce vambhayitena hīno, na koci dhammesu visesi assa;
Puthū hi aññassa vadanti dhammaṃ, nihīnato samhi daḷhaṃ vadānā’’ti.
“If another were inferior through being disparaged, no one would be superior among the doctrines; for many speak of the doctrine of another as inferior, while being firm in their own.”
“Nếu do bị người khác chê bai mà trở nên thấp kém, thì không có ai là đặc biệt trong các giáo pháp. Vì nhiều người nói giáo pháp của người khác là thấp kém, trong khi nói một cách chắc chắn về (giáo pháp) của mình.”
141.
141.
141.
Saddhammapūjāpi † panā tatheva, yathā pasaṃsanti sakāyanāni;
Sabbeva vādā † tathiyā † bhaveyyuṃ, suddhī hi nesaṃ paccattameva.
Moreover, the veneration of their own doctrine is also just the same, as they praise their own foundations. All doctrines would be true, for their purification is individual.
“Và việc tôn thờ giáo pháp của mình cũng như vậy, như cách họ tán dương nơi nương tựa của mình. Tất cả các học thuyết đều có thể là đúng, vì sự thanh tịnh của họ quả là của riêng mỗi người.”
Saddhammapūjāpi panā tathevāti. Katamā saddhammapūjā? Sakaṃ satthāraṃ sakkaroti garuṃ karoti māneti pūjeti ‘‘ayaṃ satthā sabbaññū’’ti – ayaṃ saddhammapūjā. Sakaṃ dhammakkhānaṃ sakaṃ gaṇaṃ sakaṃ diṭṭhiṃ sakaṃ paṭipadaṃ sakaṃ maggaṃ sakkaroti garuṃ karoti māneti pūjeti ‘‘ayaṃ maggo niyyāniko’’ti – ayaṃ saddhammapūjā. Saddhammapūjāpi panā tathevāti saddhammapūjā tathā tacchā bhūtā yāthāvā aviparītāti – saddhammapūjāpi panā tatheva.
'Moreover, the veneration of their own doctrine is also just the same' means: What is the veneration of one's own doctrine? One honors, respects, reveres, and venerates one's own teacher, thinking, 'This teacher is all-knowing'—this is the veneration of one's own doctrine. One honors, respects, reveres, and venerates one's own exposition of the Dhamma, one's own group, one's own view, one's own practice, and one's own path, thinking, 'This path is liberating'—this is the veneration of one's own doctrine. 'Moreover, the veneration of their own doctrine is also just the same' means that the veneration of one's own doctrine is thus, true, actual, real, and not distorted. This is the meaning of 'Moreover, the veneration of their own doctrine is also just the same.'
‘Và việc tôn thờ giáo pháp của mình cũng như vậy’ có nghĩa là: Việc tôn thờ giáo pháp của mình là gì? Người ấy tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường vị thầy của mình (nghĩ rằng): “Vị thầy này là bậc toàn tri” – đây là việc tôn thờ giáo pháp của mình. Người ấy tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường sự thuyết pháp của mình, giáo phái của mình, quan điểm của mình, con đường thực hành của mình, đạo lộ của mình (nghĩ rằng): “Đạo lộ này dẫn đến sự giải thoát” – đây là việc tôn thờ giáo pháp của mình. ‘Và việc tôn thờ giáo pháp của mình cũng như vậy’ có nghĩa là: việc tôn thờ giáo pháp của mình là như vậy, là chân thật, là có thật, là đúng như thực, là không sai lệch – (đó là nghĩa của) ‘và việc tôn thờ giáo pháp của mình cũng như vậy.’
Yathā pasaṃsanti sakāyanānīti. Dhammo sakāyanaṃ diṭṭhi sakāyanaṃ paṭipadā sakāyanaṃ maggo sakāyanaṃ, sakāyanāni pasaṃsanti thomenti kittenti vaṇṇentīti – yathā pasaṃsanti sakāyanāni.
'As they praise their own foundations' means: the doctrine is one's own foundation, the view is one's own foundation, the practice is one's own foundation, the path is one's own foundation. They praise, extol, celebrate, and speak of their own foundations. This is the meaning of 'as they praise their own foundations.'
‘Như cách họ tán dương nơi nương tựa của mình’ có nghĩa là: Giáo pháp là nơi nương tựa của mình, quan điểm là nơi nương tựa của mình, con đường thực hành là nơi nương tựa của mình, đạo lộ là nơi nương tựa của mình; họ tán dương, ca ngợi, tuyên dương, mô tả những nơi nương tựa của mình – (đó là nghĩa của) ‘như cách họ tán dương nơi nương tựa của mình.’
Sabbeva vādā tathiyā bhaveyyunti sabbeva vādā tathā tacchā bhūtā yāthāvā aviparītā bhaveyyunti – sabbeva vādā tathiyā bhaveyyuṃ.
'All doctrines would be true' means: all doctrines would be thus, true, actual, real, and not mistaken. This is the meaning of 'all doctrines would be true.'
‘Tất cả các học thuyết đều có thể là đúng’ có nghĩa là: tất cả các học thuyết đều có thể là như vậy, là chân thật, là có thật, là đúng như thực, là không sai lệch – (đó là nghĩa của) ‘tất cả các học thuyết đều có thể là đúng.’
Suddhī hi nesaṃ paccattamevāti. Paccattameva tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ suddhi visuddhi parisuddhi, mutti vimutti parimuttīti – suddhī hi nesaṃ paccattameva.
'For their purification is indeed individual' means: for those ascetics and brahmins, purification, special purification, and complete purification are individual; release, liberation, and complete liberation are individual. This is the meaning of 'for their purification is indeed individual.'
‘Vì sự thanh tịnh của họ quả là của riêng mỗi người’ có nghĩa là: Sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát triệt để của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy quả là của riêng mỗi người – (đó là nghĩa của) ‘vì sự thanh tịnh của họ quả là của riêng mỗi người.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Saddhammapūjāpi panā tatheva, yathā pasaṃsanti sakāyanāni;
Sabbeva vādā tathiyā bhaveyyuṃ, suddhī hi nesaṃ paccattamevā’’ti.
“Moreover, the veneration of their own doctrine is also just the same, as they praise their own foundations; all doctrines would be true, for their purification is individual.”
“Và việc tôn thờ giáo pháp của mình cũng như vậy, như cách họ tán dương nơi nương tựa của mình. Tất cả các học thuyết đều có thể là đúng, vì sự thanh tịnh của họ quả là của riêng mỗi người.”
142.
142.
142.
Na brāhmaṇassa paraneyyamatthi, dhammesu niccheyya samuggahītaṃ;
Tasmā vivādāni upātivatto, na hi seṭṭhato passati dhammamaññaṃ.
For a brahmin, there is nothing to be led by another; among doctrines, there is nothing decided upon and grasped. Therefore, he has overcome disputes, for he does not see any other doctrine as the highest.
“Đối với vị Bà-la-môn, không có gì có thể bị dẫn dắt bởi người khác, (không có gì) được nắm giữ một cách quyết đoán trong các giáo pháp. Do đó, vị ấy đã vượt qua các cuộc tranh luận, vì vị ấy không thấy có giáo pháp nào khác là cao tột hơn.”
Na brāhmaṇassa paraneyyamatthīti. Nāti paṭikkhepo. Brāhmaṇoti sattannaṃ dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo…pe… asito tādi pavuccate sa brahmā. Na brāhmaṇassa paraneyyamatthīti brāhmaṇassa paraneyyatā natthi, brāhmaṇo na paraneyyo, na parapattiyo, na parapaccayo, na parapaṭibaddhagū † jānāti passati asammūḷho sampajāno paṭissato. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti brāhmaṇassa paraneyyatā natthi, brāhmaṇo na paraneyyo, na parapattiyo, na parapaccayo, na parapaṭibaddhagū jānāti passati asammūḷho sampajāno paṭissato. ‘‘Sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti brāhmaṇassa paraneyyatā natthi, brāhmaṇo na paraneyyo, na parapattiyo, na parapaccayo, na parapaṭibaddhagū jānāti passati asammūḷho sampajāno paṭissatoti – na brāhmaṇassa paraneyyamatthi.
Regarding 'For a brahmin, there is nothing to be led by another.' 'Not' is a denial. 'Brahmin': because of having expelled seven things, one is a brahmin... (pe)... unattached, such a one, is called 'Brahmā'. For the brahmin who has expelled evil, there is no state of being led by another. A brahmin is not one to be led by another, not one to be made to attain by another, not one to be made to believe by another, not one who knows in dependence on another. He knows with the knowledge of others' minds, sees with the divine eye, is not bewildered, is endowed with wisdom, and is mindful. Regarding 'All conditioned things are impermanent,' for a brahmin, there is no state of being led by another. A brahmin is not one to be led by another, not one to be made to attain by another, not one to be made to believe by another, not one who knows in dependence on another. He knows with the knowledge of others' minds, sees with the divine eye, is not bewildered, is endowed with wisdom, and is mindful. Regarding 'All conditioned things are suffering'... (pe)... Regarding 'Whatever has the nature of arising, all that has the nature of ceasing,' for a brahmin, there is no state of being led by another. A brahmin is not one to be led by another, not one to be made to attain by another, not one to be made to believe by another, not one who knows in dependence on another. He knows with the knowledge of others' minds, sees with the divine eye, is not bewildered, is endowed with wisdom, and is mindful. This is the meaning of 'For a brahmin, there is nothing to be led by another'.
Na brāhmaṇassa paraneyyamatthīti (Đối với vị Bà-la-môn, không có sự dẫn dắt bởi người khác). Na là sự phủ định. Brāhmaṇo (vị Bà-la-môn) là do đã loại trừ bảy pháp nên là vị Bà-la-môn... cho đến... vị ấy không dính mắc, như vậy, được gọi là brahmā. Na brāhmaṇassa paraneyyamatthi (Đối với vị Bà-la-môn, không có sự dẫn dắt bởi người khác) có nghĩa là: đối với vị Bà-la-môn, không có việc bị người khác làm cho biết; vị Bà-la-môn không phải là người bị người khác làm cho biết, không phải là người bị người khác làm cho đạt đến, không phải là người bị người khác làm cho tin, không phải là người biết do liên quan đến người khác; vị ấy tự biết, tự thấy, không mê mờ, có tỉnh giác, có chánh niệm. Về câu: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường,’ đối với vị Bà-la-môn, không có việc bị người khác làm cho biết; vị Bà-la-môn không phải là người bị người khác làm cho biết, không phải là người bị người khác làm cho đạt đến, không phải là người bị người khác làm cho tin, không phải là người biết do liên quan đến người khác; vị ấy tự biết, tự thấy, không mê mờ, có tỉnh giác, có chánh niệm. Về câu: ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ,’... cho đến... Về câu: ‘Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận,’ đối với vị Bà-la-môn, không có việc bị người khác làm cho biết; vị Bà-la-môn không phải là người bị người khác làm cho biết, không phải là người bị người khác làm cho đạt đến, không phải là người bị người khác làm cho tin, không phải là người biết do liên quan đến người khác; vị ấy tự biết, tự thấy, không mê mờ, có tỉnh giác, có chánh niệm. – Đây là ý nghĩa của câu ‘na brāhmaṇassa paraneyyamatthi’.
Dhammesu niccheyya samuggahītanti. Dhammesūti dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatesu. Niccheyyāti nicchinitvā vinicchinitvā vicinitvā pavicinitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Odhiggāho bilaggāho varaggāho koṭṭhāsaggāho uccayaggāho samuccayaggāho ‘‘idaṃ saccaṃ tathaṃ bhūtaṃ yāthāvaṃ aviparīta’’nti gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhanti – dhammesu niccheyya samuggahītaṃ.
Regarding 'Having discerned among doctrines, there is nothing firmly grasped.' 'Among doctrines' (dhammesu) refers to the sixty-two kinds of views. 'Having discerned' (niccheyya) means: having decided, having particularly decided, having investigated, having particularly investigated, having weighed, having assessed, having clarified, and having made manifest. Grasping by delimiting, grasping as an aggregate, grasping as excellent, grasping by portions, grasping by accumulation, or grasping by collecting—whereby one thinks, 'This is true, this is so, this is real, this is as it is, this is unperverted'—such grasping, holding, attachment, taking in, and resolve do not exist, are not present, are not found, are not obtained. It is abandoned, well cut off, stilled, calmed again, incapable of re-arising, and burned by the fire of knowledge. This is the meaning of 'Having discerned among doctrines, there is nothing firmly grasped'.
Dhammesu niccheyya samuggahītanti (Trong các pháp, đã quyết định và nắm giữ). Dhammesu là trong sáu mươi hai tà kiến. Niccheyya là sau khi đã quyết định, đã phán quyết, đã tìm tòi, đã thẩm tra, đã cân nhắc, đã xem xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ. Việc nắm giữ theo cách giới hạn, nắm giữ theo nhóm, nắm giữ một cách ưu việt, nắm giữ theo từng phần, nắm giữ một cách đặc biệt, nắm giữ theo cách tổng hợp, việc nắm giữ, chấp thủ, quyết tâm, bám víu, tin chắc rằng: ‘Điều này là thật, là đúng, là chân, là như vậy, là không sai khác’ thì không có, không hiện hữu, không tồn tại, không tìm thấy được; đã được từ bỏ, đã được đoạn trừ, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, đã trở thành không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. – Đây là ý nghĩa của câu ‘dhammesu niccheyya samuggahītaṃ’.
Tasmā vivādāni upātivattoti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā diṭṭhikalahāni diṭṭhibhaṇḍanāni diṭṭhiviggahāni diṭṭhivivādāni diṭṭhimedhagāni upātivatto atikkanto samatikkanto vītivattoti – tasmā vivādāni upātivatto.
Regarding 'Therefore, he has overcome disputes': 'Therefore' means for that reason, because of that cause, due to that condition, on account of that origin. He has overcome—that is, gone beyond, completely gone beyond, and especially gone beyond—quarrels of view, conflicts of view, special graspings of view, controversies of view, and contentions of view. This is the meaning of the phrase 'Therefore, he has overcome disputes'.
Tasmā vivādāni upātivattoti (Do đó, đã vượt qua các tranh luận). Tasmā là do vì nguyên nhân ấy, do vì nhân ấy, do vì duyên ấy, do vì lý do ấy. Vị ấy đã vượt qua, đã đi qua, đã hoàn toàn đi qua, đã đặc biệt đi qua các cuộc cãi vã về tà kiến, các cuộc xung đột về tà kiến, các sự chấp thủ đặc biệt về tà kiến, các cuộc tranh luận về tà kiến, các cuộc đấu khẩu về tà kiến. – Đây là ý nghĩa của câu ‘tasmā vivādāni upātivatto’.
Na hi seṭṭhato passati dhammamaññanti. Aññaṃ satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ aññatra satipaṭṭhānehi, aññatra sammappadhānehi, aññatra iddhipādehi, aññatra indriyehi, aññatra balehi, aññatra bojjhaṅgehi, aññatra ariyā aṭṭhaṅgikā maggā, aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ dhammaṃ na passati na dakkhati na oloketi na nijjhāyati na upaparikkhatīti – na hi seṭṭhato passati dhammamaññaṃ.
Regarding 'For he does not see any other doctrine as superior': He does not see any other teacher, teaching of the Dhamma, group, view, practice, or path—apart from the foundations of mindfulness, the right exertions, the bases of spiritual power, the powers, the enlightenment factors, and the noble eightfold path—as a doctrine that is supreme, excellent, distinguished, foremost, highest, or noble. 'Does not see' means he does not behold, does not look upon, does not contemplate, and does not investigate. This is the meaning of the phrase 'For he does not see any other doctrine as superior'.
Na hi seṭṭhato passati dhammamaññanti (Vị ấy không thấy pháp nào khác là cao tột). Vị ấy không thấy, không nhận ra, không nhìn, không quán xét, không xem xét một vị đạo sư nào khác, một bài thuyết pháp nào khác, một giáo phái nào khác, một tà kiến nào khác, một con đường thực hành nào khác, một đạo lộ nào khác, ngoại trừ Tứ Niệm Xứ, ngoại trừ Tứ Chánh Cần, ngoại trừ Tứ Thần Túc, ngoại trừ Ngũ Căn, ngoại trừ Ngũ Lực, ngoại trừ Thất Giác Chi, ngoại trừ Thánh Đạo Tám Ngành, là pháp tối thượng, cao tột, đặc thù, chủ yếu, ưu việt, cao quý. – Đây là ý nghĩa của câu ‘na hi seṭṭhato passati dhammamaññaṃ’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Na brāhmaṇassa paraneyyamatthi, dhammesu niccheyya samuggahītaṃ;
Tasmā vivādāni upātivatto, na hi seṭṭhato passati dhammamañña’’nti.
“For a brahmin, there is nothing to be led by another; having discerned among doctrines, there is nothing firmly grasped. Therefore, he has overcome disputes, for he does not see any other doctrine as superior.”
‘Đối với vị Bà-la-môn, không có sự dẫn dắt bởi người khác, trong các pháp, không có gì được quyết định và nắm giữ; Do đó, vị ấy đã vượt qua các tranh luận, vị ấy không thấy pháp nào khác là cao tột.’
143.
143.
143.
Jānāmi passāmi tatheva etaṃ, diṭṭhiyā eke paccenti suddhiṃ;
Adakkhi ce kiñhi tumassa tena, atisitvā aññena vadanti suddhiṃ.
“I know, I see, it is just so.” Some are convinced of purification by way of view. If one has seen, what does that accomplish for him? Having gone beyond, they speak of purification by another.
‘Ta biết, ta thấy, điều này là đúng như vậy,’ một số người tin vào sự thanh tịnh bằng tà kiến; Nếu người ấy đã thấy, thì có ích gì cho người ấy bởi sự thấy đó? Vượt qua (con đường này), họ nói về sự thanh tịnh bằng con đường khác.
Jānāmi passāmi tatheva etanti. Jānāmīti paracittañāṇena † vā jānāmi, pubbenivāsānussatiñāṇena vā jānāmi. Passāmīti maṃsacakkhunā vā passāmi, dibbena cakkhunā vā passāmi. Tatheva etanti etaṃ tathaṃ tacchaṃ bhūtaṃ yāthāvaṃ aviparītanti – jānāmi passāmi tatheva etaṃ.
Regarding 'I know, I see, it is just so': 'I know' means I know either with the knowledge of others' minds or with the knowledge of recollection of past lives. 'I see' means I see either with the physical eye or with the divine eye. 'It is just so' means this is true, correct, real, factual, and not otherwise. This is the meaning of 'I know, I see, it is just so'.
Jānāmi passāmi tatheva etanti (Ta biết, ta thấy, điều này là đúng như vậy). Jānāmi là ta biết bằng tha tâm thông, hoặc ta biết bằng túc mạng thông. Passāmi là ta thấy bằng mắt thịt, hoặc ta thấy bằng thiên nhãn. Tatheva etaṃ là điều này là thật, là đúng, là chân, là như vậy, là không sai khác. – Đây là ý nghĩa của câu ‘jānāmi passāmi tatheva etaṃ’.
Diṭṭhiyā eke paccenti suddhinti. Diṭṭhiyā eke samaṇabrāhmaṇā suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti diṭṭhiyā eke samaṇabrāhmaṇā suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti. ‘‘Asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti diṭṭhiyā eke samaṇabrāhmaṇā suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccentīti – diṭṭhiyā eke paccenti suddhiṃ.
Regarding 'Some are convinced of purity by view': Some ascetics and brahmins are convinced of purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release by view. “The world is eternal—this alone is true, anything else is worthless”—thus some ascetics and brahmins are convinced of purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release by view. “The world is not eternal... (pe)... the Tathāgata neither exists nor does not exist after death—this alone is true, anything else is worthless”—thus some ascetics and brahmins are convinced of purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release by view. This is the meaning of 'Some are convinced of purity by view'.
Diṭṭhiyā eke paccenti suddhinti (Một số người tin vào sự thanh tịnh bằng tà kiến). Một số Sa-môn, Bà-la-môn tin vào sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự triệt để giải thoát bằng tà kiến. (Với tà kiến rằng:) ‘Thế giới là thường hằng, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích,’ một số Sa-môn, Bà-la-môn tin vào sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự triệt để giải thoát bằng tà kiến. (Với tà kiến rằng:) ‘Thế giới là không thường hằng… cho đến… sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích,’ một số Sa-môn, Bà-la-môn tin vào sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự triệt để giải thoát bằng tà kiến. – Đây là ý nghĩa của câu ‘diṭṭhiyā eke paccenti suddhiṃ’.
Adakkhi ce kiñhi tumassa tenāti. Adakkhīti paracittañāṇena vā adakkhi, pubbenivāsānussatiñāṇena vā adakkhi, maṃsacakkhunā vā adakkhi, dibbena cakkhunā vā adakkhīti – adakkhi ce. Kiñhi tumassa tenāti. Tassa tena dassanena kiṃ kataṃ? Na dukkhapariññā atthi, na samudayassa pahānaṃ atthi, na maggabhāvanā atthi, na phalasacchikiriyā atthi, na rāgassa samucchedapahānaṃ atthi, na dosassa samucchedapahānaṃ atthi, na mohassa samucchedapahānaṃ atthi, na kilesānaṃ samucchedapahānaṃ atthi, na saṃsāravaṭṭassa upacchedo atthīti – adakkhi ce kiñhi tumassa tena.
Regarding 'If he has seen, what good is that to him?': 'Has seen'—either through knowledge of others' minds, or recollection of past lives, or the physical eye, or the divine eye—thus, 'if he has seen.' 'What good is that to him?' What is accomplished for him by that seeing? There is no full understanding of suffering, no abandoning of the origin, no development of the path, no realization of the fruit, no complete cutting off of greed, no complete cutting off of hatred, no complete cutting off of delusion, no complete cutting off of defilements, no cutting off of the cycle of existence—thus, 'if he has seen, what good is that to him?'
Adakkhi ce kiñhi tumassa tenāti (Nếu người ấy đã thấy, thì có ích gì cho người ấy bởi sự thấy đó?). Adakkhi ce (nếu người ấy đã thấy) là đã thấy bằng tha tâm thông, hoặc đã thấy bằng túc mạng thông, hoặc đã thấy bằng mắt thịt, hoặc đã thấy bằng thiên nhãn. Kiñhi tumassa tena (thì có ích gì cho người ấy bởi sự thấy đó?) là: Việc gì được làm bởi sự thấy đó của người ấy? Không có sự liễu tri khổ, không có sự đoạn tận tập, không có sự tu tập đạo, không có sự chứng ngộ diệt, không có sự đoạn trừ tham, không có sự đoạn trừ sân, không có sự đoạn trừ si, không có sự đoạn trừ các phiền não, không có sự chấm dứt vòng luân hồi. – Đây là ý nghĩa của câu ‘adakkhi ce kiñhi tumassa tena’.
Atisitvā aññena vadanti suddhinti te titthiyā suddhimaggaṃ visuddhimaggaṃ parisuddhimaggaṃ vodātamaggaṃ parivodātamaggaṃ atikkamitvā samatikkamitvā vītivattitvā aññatra satipaṭṭhānehi, aññatra sammappadhānehi, aññatra iddhipādehi, aññatra indriyehi, aññatra balehi aññatra bojjhaṅgehi, aññatra ariyā aṭṭhaṅgikā maggā suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti. Evampi atisitvā aññena vadanti suddhiṃ.
“Having transgressed, they declare purity by another means” means: Those sectarians, having transgressed, well transgressed, and especially transgressed the path to purity, the path to special purity, the path to all-round purity, the path to cleansing, the path to thorough cleansing—apart from the foundations of mindfulness, apart from the right strivings, apart from the bases of spiritual power, apart from the faculties, apart from the powers, apart from the enlightenment factors, apart from the Noble Eightfold Path—declare purity, special purity, all-round purity, liberation, special liberation, and all-round liberation. They say it, teach it, recite it, show it, and declare it. Thus also is the meaning of the phrase, “Having transgressed, they declare purity by another means.”
“Vượt qua rồi nói về sự thanh tịnh bằng phương pháp khác” (Atisitvā aññena vadanti suddhinti) có nghĩa là: Các người ngoại đạo ấy (te titthiyā) đã đi qua (atikkamitvā), đã đi qua hẳn (samatikkamitvā), đã vượt qua (vītivattitvā) con đường thanh tịnh (suddhimaggaṃ), con đường đặc biệt thanh tịnh (visuddhimaggaṃ), con đường hoàn toàn thanh tịnh (parisuddhimaggaṃ), con đường trong sạch (vodātamaggaṃ), con đường hoàn toàn trong sạch (parivodātamaggaṃ); ngoại trừ (aññatra) các niệm xứ (satipaṭṭhānehi), ngoại trừ các chánh cần (sammappadhānehi), ngoại trừ các như ý túc (iddhipādehi), ngoại trừ các quyền (indriyehi), ngoại trừ các lực (balehi), ngoại trừ các giác chi (bojjhaṅgehi), ngoại trừ Thánh đạo Tám ngành (ariyā aṭṭhaṅgikā maggā), họ nói (vadanti), kể (kathenti), đọc tụng (bhaṇanti), trình bày (dīpayanti), gọi tên (voharantīti) về sự thanh tịnh (suddhiṃ), sự đặc biệt thanh tịnh (visuddhiṃ), sự hoàn toàn thanh tịnh (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự đặc biệt giải thoát (vimuttiṃ), sự hoàn toàn giải thoát (parimuttiṃ). Như vậy cũng là ý nghĩa của (cụm từ) “Vượt qua rồi nói về sự thanh tịnh bằng phương pháp khác.”
Atha vā buddhā ca buddhasāvakā ca paccekabuddhā ca tesaṃ titthiyānaṃ asuddhimaggaṃ avisuddhimaggaṃ aparisuddhimaggaṃ avodātamaggaṃ aparivodātamaggaṃ atikkamitvā samatikkamitvā vītivattitvā catūhi satipaṭṭhānehi catūhi sammappadhānehi catūhi iddhipādehi pañcahi indriyehi pañcahi balehi sattahi bojjhaṅgehi ariyena aṭṭhaṅgikena maggena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – evampi atisitvā aññena vadanti suddhiṃ.
Alternatively, the Buddhas, the disciples of the Buddhas, and the Paccekabuddhas, having transgressed, well transgressed, and especially transgressed the sectarians' path of impurity, path of special impurity, path of all-round impurity, path of non-cleansing, and path of non-thorough cleansing, declare purity, special purity, all-round purity, liberation, special liberation, and all-round liberation by means of the four foundations of mindfulness, the four right strivings, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven enlightenment factors, and the noble, eight-factored path. They say it, teach it, recite it, show it, and declare it. Thus also is the meaning of the phrase, “Having transgressed, they declare purity by another means.”
Hoặc là (athavā), các vị Phật (buddhā ca), các vị Thinh văn của Phật (buddhasāvakā ca), và các vị Độc Giác Phật (paccekabuddhā ca) đã đi qua (atikkamitvā), đã đi qua hẳn (samatikkamitvā), đã vượt qua (vītivattitvā) con đường không thanh tịnh (asuddhimaggaṃ), con đường không đặc biệt thanh tịnh (avisuddhimaggaṃ), con đường không hoàn toàn thanh tịnh (aparisuddhimaggaṃ), con đường không trong sạch (avodātamaggaṃ), con đường không hoàn toàn trong sạch (aparivodātamaggaṃ) của các người ngoại đạo ấy (tesaṃ titthiyānaṃ); bằng bốn niệm xứ (catūhi satipaṭṭhānehi), bằng bốn chánh cần (catūhi sammappadhānehi), bằng bốn như ý túc (catūhi iddhipādehi), bằng năm quyền (pañcahi indriyehi), bằng năm lực (pañcahi balehi), bằng bảy giác chi (sattahi bojjhaṅgehi), bằng Thánh đạo Tám ngành (ariyena aṭṭhaṅgikena maggena), các Ngài nói (vadanti), kể (kathenti), đọc tụng (bhaṇanti), trình bày (dīpayanti), gọi tên (voharantīti) về sự thanh tịnh (suddhiṃ), sự đặc biệt thanh tịnh (visuddhiṃ), sự hoàn toàn thanh tịnh (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự đặc biệt giải thoát (vimuttiṃ), sự hoàn toàn giải thoát (parimuttiṃ). Như vậy cũng là ý nghĩa của (cụm từ) “Vượt qua rồi nói về sự thanh tịnh bằng phương pháp khác.”
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Jānāmi passāmi tatheva etaṃ, diṭṭhiyā eke paccenti suddhiṃ;
Adakkhi ce kiñhi tumassa tena, atisitvā aññena vadanti suddhi’’nti.
“I know, I see, it is just so; some arrive at purity by means of a view. If one has seen, what of that for him? Having transgressed, they declare purity by another means.”
“Ta biết, Ta thấy, điều ấy là đúng như vậy, một số người tin tưởng vào sự thanh tịnh bằng tri kiến. Nếu đã thấy, điều ấy có ích gì cho người đó? Vượt qua rồi, họ nói về sự thanh tịnh bằng phương pháp khác.”
144.
144.
144.
Passaṃ naro dakkhati nāmarūpaṃ, disvāna vā ñāyati † tānimeva;
Kāmaṃ bahuṃ passatu appakaṃ vā, na hi tena suddhiṃ kusalā vadanti.
A seeing person sees name-and-form, and having seen, cognizes just these. Whether they see much or little, the skillful do not declare purity by means of that.
“Người đang thấy sẽ thấy danh và sắc, và sau khi đã thấy, người ấy nhận biết chính những điều ấy. Dù cho người ấy thấy nhiều hay ít tùy ý, các bậc thiện xảo không nói rằng có sự thanh tịnh nhờ vào điều ấy.”
Passaṃ naro dakkhati nāmarūpanti passaṃ naro dakkhati paracittañāṇena vā passanto, pubbenivāsānussatiñāṇena vā passanto, maṃsacakkhunā vā passanto, dibbena cakkhunā vā passanto nāmarūpaṃyeva dakkhati niccato sukhato attato, na tesaṃ dhammānaṃ samudayaṃ vā atthaṅgamaṃ vā assādaṃ vā ādīnavaṃ vā nissaraṇaṃ vā dakkhatīti – passaṃ naro dakkhati nāmarūpaṃ.
“A person seeing sees name-and-form”: A person seeing, whether by the knowledge of others' minds, or by the knowledge of recollection of past lives, or by the physical eye, or by the divine eye, sees only name-and-form as permanent, as pleasant, as self. They do not see the arising, or the passing away, or the gratification, or the danger, or the escape of those phenomena. This is the meaning of “A person seeing sees name-and-form”.
“Người đang thấy sẽ thấy danh và sắc” (Passaṃ naro dakkhati nāmarūpanti) có nghĩa là: Người đang thấy (passanto) bằng tha tâm trí (paracittañāṇena), hoặc người đang thấy bằng túc mạng minh (pubbenivāsānussatiñāṇena), hoặc người đang thấy bằng mắt thịt (maṃsacakkhunā), hoặc người đang thấy bằng thiên nhãn (dibbena cakkhunā) sẽ chỉ thấy (dakkhati) danh và sắc (nāmarūpaṃyeva) theo phương diện thường còn (niccato), lạc (sukhato), tự ngã (attato); người ấy không thấy (na dakkhati) sự sanh khởi (samudayaṃ), hay sự diệt tận (atthaṅgamaṃ), hay vị ngọt (assādaṃ), hay sự nguy hại (ādīnavaṃ), hay sự xuất ly (nissaraṇaṃ) của các pháp ấy. (Đây là ý nghĩa của) “Người đang thấy sẽ thấy danh và sắc.”
Disvāna vā ñāyati tānimevāti. Disvāti paracittañāṇena vā disvā, pubbenivāsānussatiñāṇena vā disvā, maṃsacakkhunā vā disvā, dibbena cakkhunā vā disvā, nāmarūpaṃyeva disvā ñāyati niccato sukhato attato, na tesaṃ dhammānaṃ samudayaṃ vā atthaṅgamaṃ vā assādaṃ vā ādīnavaṃ vā nissaraṇaṃ vā ñāyatīti – disvāna vā ñāyati tānimeva.
“And having seen, cognizes just these”: Having seen, whether by the knowledge of others' minds, or by the knowledge of recollection of past lives, or by the physical eye, or by the divine eye, one cognizes only name-and-form as permanent, as pleasant, as self. One does not cognize the arising, or the passing away, or the gratification, or the danger, or the escape of those phenomena. This is the meaning of “And having seen, cognizes just these”.
“Và sau khi đã thấy, người ấy nhận biết chính những điều ấy” (Disvāna vā ñāyati tānimevāti). “Sau khi đã thấy” (Disvāti) có nghĩa là: Sau khi đã thấy (disvā) bằng tha tâm trí (paracittañāṇena), hoặc sau khi đã thấy bằng túc mạng minh (pubbenivāsānussatiñāṇena), hoặc sau khi đã thấy bằng mắt thịt (maṃsacakkhunā), hoặc sau khi đã thấy bằng thiên nhãn (dibbena cakkhunā), sau khi đã thấy chỉ danh và sắc (nāmarūpaṃyeva), người ấy nhận biết (ñāyati) theo phương diện thường còn (niccato), lạc (sukhato), tự ngã (attato); người ấy không nhận biết (na ñāyati) sự sanh khởi (samudayaṃ), hay sự diệt tận (atthaṅgamaṃ), hay vị ngọt (assādaṃ), hay sự nguy hại (ādīnavaṃ), hay sự xuất ly (nissaraṇaṃ) của các pháp ấy. (Đây là ý nghĩa của) “Và sau khi đã thấy, người ấy nhận biết chính những điều ấy.”
Kāmaṃ bahuṃ passatu appakaṃ vāti. Kāmaṃ bahukaṃ vā passanto nāmarūpaṃ appakaṃ vā niccato sukhato attatoti – kāmaṃ bahuṃ passatu appakaṃ vā.
“Whether they see much or little”: This means one who sees much sensual pleasure, or one who sees little name-and-form, as permanent, as pleasant, and as self. This is the meaning of “Whether they see much or little”.
“Dù cho người ấy thấy nhiều hay ít tùy ý” (Kāmaṃ bahuṃ passatu appakaṃ vāti) có nghĩa là: Người đang thấy (passanto) danh và sắc (nāmarūpaṃ) nhiều (bahukaṃ vā) hay ít (appakaṃ vā) theo phương diện thường còn (niccato), lạc (sukhato), tự ngã (attato). (Đây là ý nghĩa của) “Dù cho người ấy thấy nhiều hay ít tùy ý.”
Na hi tena suddhiṃ kusalā vadantīti. Kusalāti ye te khandhakusalā dhātukusalā āyatanakusalā paṭiccasamuppādakusalā satipaṭṭhānakusalā sammappadhānakusalā iddhipādakusalā indriyakusalā balakusalā bojjhaṅgakusalā maggakusalā phalakusalā nibbānakusalā, te kusalā paracittañāṇena vā pubbenivāsānussatiñāṇena vā maṃsacakkhunā vā dibbena cakkhunā vā nāmarūpadassanena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ na vadanti na kathenti na bhaṇanti na dīpayanti na voharantīti – na hi tena suddhiṃ kusalā vadanti.
“For the skillful do not declare purity by that”: 'The skillful' are those skilled in the aggregates, skilled in the elements, skilled in the sense bases, skilled in dependent origination, skilled in the foundations of mindfulness, skilled in the right strivings, skilled in the bases of spiritual power, skilled in the spiritual faculties, skilled in the powers, skilled in the factors of enlightenment, skilled in the path, skilled in the fruition, and skilled in Nibbāna. Those skillful ones do not declare purity, special purity, complete purity, liberation, special liberation, or complete liberation by means of the knowledge of others’ minds, the knowledge of recollection of past lives, the physical eye, the divine eye, or the seeing of name-and-form. This is the meaning of “For the skillful do not declare purity by that”.
“Các bậc thiện xảo không nói rằng có sự thanh tịnh nhờ vào điều ấy” (Na hi tena suddhiṃ kusalā vadantīti). “Các bậc thiện xảo” (Kusalāti) là những vị thiện xảo về uẩn (khandhakusalā), thiện xảo về giới (dhātukusalā), thiện xảo về xứ (āyatanakusalā), thiện xảo về duyên khởi (paṭiccasamuppādakusalā), thiện xảo về niệm xứ (satipaṭṭhānakusalā), thiện xảo về chánh cần (sammappadhānakusalā), thiện xảo về như ý túc (iddhipādakusalā), thiện xảo về quyền (indriyakusalā), thiện xảo về lực (balakusalā), thiện xảo về giác chi (bojjhaṅgakusalā), thiện xảo về đạo (maggakusalā), thiện xảo về quả (phalakusalā), thiện xảo về Niết-bàn (nibbānakusalā). Các bậc thiện xảo ấy (te kusalā), bằng tha tâm trí (paracittañāṇena), hoặc bằng túc mạng minh (pubbenivāsānussatiñāṇena), hoặc bằng mắt thịt (maṃsacakkhunā), hoặc bằng thiên nhãn (dibbena cakkhunā), hoặc bằng sự thấy danh và sắc (nāmarūpadassanena), không nói (na vadanti), không kể (na kathenti), không đọc tụng (na bhaṇanti), không trình bày (na dīpayanti), không gọi tên (na voharantīti) về sự thanh tịnh (suddhiṃ), sự đặc biệt thanh tịnh (visuddhiṃ), sự hoàn toàn thanh tịnh (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự đặc biệt giải thoát (vimuttiṃ), sự hoàn toàn giải thoát (parimuttiṃ). (Đây là ý nghĩa của) “Các bậc thiện xảo không nói rằng có sự thanh tịnh nhờ vào điều ấy.”
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Passaṃ naro dakkhati nāmarūpaṃ, disvāna vā ñāyati tānimeva;
Kāmaṃ bahuṃ passatu appakaṃ vā, na hi tena suddhiṃ kusalā vadantī’’ti.
“A seeing person sees name-and-form, and having seen, cognizes just these; whether they see much or little, the skillful do not declare purity by that.”
“Người đang thấy sẽ thấy danh và sắc, và sau khi đã thấy, người ấy nhận biết chính những điều ấy. Dù cho người ấy thấy nhiều hay ít tùy ý, các bậc thiện xảo không nói rằng có sự thanh tịnh nhờ vào điều ấy.”
145.
145.
145.
Nivissavādī na hi subbināyo, pakappitā diṭṭhipurekkharāno;
Yaṃ nissito tattha subhaṃ vadāno, suddhiṃ vado tattha tathaddasā so.
One who is dogmatic is indeed not easy to instruct; having fabricated a view, they hold it foremost. Whatever they rely on, therein they declare it as good; speaking of purity, therein they have seen it as such.
“Người cố chấp vào quan điểm thì không dễ chỉ dạy, đã tạo tác và đặt tri kiến lên hàng đầu. Nương tựa vào điều gì, người ấy nói điều đó là tốt đẹp; người nói về sự thanh tịnh đã thấy điều ấy là như vậy ở nơi đó.”
Nivissavādī na hi subbināyoti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti nivissavādī, ‘‘asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti – nivissavādī. Na hi subbināyoti. Nivissavādī dubbinayo duppaññāpayo † dunnijjhāpayo duppekkhāpayo duppasādayoti – nivissavādī na hi subbināyo.
As for “One who is dogmatic is indeed not easy to instruct”: One who asserts, “The world is eternal, this alone is true, all else is false,” is dogmatic. Or, “The world is not eternal… the Tathāgata neither exists nor does not exist after death, this alone is true, all else is false”—this is one who is dogmatic. As for “is indeed not easy to instruct”: The dogmatic one is difficult to instruct, difficult to make understand, difficult to make reflect upon, difficult to make see, and difficult to make serene. This is the meaning of “One who is dogmatic is indeed not easy to instruct”.
“Người cố chấp vào quan điểm thì không dễ chỉ dạy” (Nivissavādī na hi subbināyoti). “Thế gian là thường còn, chỉ điều này là sự thật, điều khác là rỗng không” là người cố chấp vào quan điểm (nivissavādī). “Thế gian là không thường còn... (vân vân)... Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không phải không tồn tại, chỉ điều này là sự thật, điều khác là rỗng không” là người cố chấp vào quan điểm (nivissavādī). “Không dễ chỉ dạy” (Na hi subbināyoti) có nghĩa là: Người cố chấp vào quan điểm thì khó chỉ dạy (dubbinayo), khó làm cho hiểu (duppaññāpayo), khó làm cho suy xét (dunnijjhāpayo), khó làm cho thấy (duppekkhāpayo), khó làm cho hoan hỷ (duppasādayo). (Đây là ý nghĩa của) “Người cố chấp vào quan điểm thì không dễ chỉ dạy.”
Pakappitā diṭṭhipurekkharānoti. Kappitā pakappitā abhisaṅkhatā saṇṭhapitā diṭṭhiṃ purekkhato katvā carati. Diṭṭhidhajo diṭṭhiketu diṭṭhādhipateyyo diṭṭhiyā parivārito caratīti – pakappitā diṭṭhipurekkharāno.
As for “having fabricated a view, they hold it foremost”: The view is thought out, specially thought out, fabricated, and firmly established. Having made the view foremost, one fares. One has the view as their banner, the view as their emblem, the view as their sovereignty; surrounded by the view, one fares. This is the meaning of “having fabricated a view, they hold it foremost”.
“Đã tạo tác và đặt tri kiến lên hàng đầu” (Pakappitā diṭṭhipurekkharānoti) có nghĩa là: Đã suy tính (kappitā), đã đặc biệt suy tính (pakappitā), đã tạo tác (abhisaṅkhatā), đã thiết lập (saṇṭhapitā); người ấy hành động (carati) sau khi đã đặt tri kiến (diṭṭhiṃ) lên hàng đầu (purekkhato katvā). Người ấy có tri kiến làm lá cờ (diṭṭhidhajo), có tri kiến làm biểu tượng (diṭṭhiketu), có tri kiến làm chủ tể (diṭṭhādhipateyyo), người ấy hành động (carati) được bao quanh bởi tri kiến (diṭṭhiyā parivārito). (Đây là ý nghĩa của) “Đã tạo tác và đặt tri kiến lên hàng đầu.”
Yaṃ nissito tattha subhaṃ vadānoti. Yaṃ nissitoti yaṃ satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ nissito ānissito allīno upagato ajjhosito adhimuttoti – yaṃ nissito. Tatthāti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā. Subhaṃ vadānoti subhavādo sobhanavādo paṇḍitavādo thiravādo ñāyavādo hetuvādo lakkhaṇavādo kāraṇavādo ṭhānavādo sakāya laddhiyāti – yaṃ nissito tattha subhaṃ vadāno.
As for “Whatever one relies on, therein one declares it as good”: “Whatever one relies on” means whatever teacher, discourse on the Dhamma, group, view, practice, or path one relies on, specially relies on, clings to, approaches, is absorbed in, or is resolved upon. “Therein” means in one's own view, one's own preference, one's own inclination, or one's own doctrine. “Declares it as good” means one speaks of it as good, excellent, wise, firm, logical, causal, having a characteristic, having a reason, or having a basis, according to one's own doctrine. This is the meaning of “Whatever one relies on, therein one declares it as good”.
“Nương tựa vào điều gì, người ấy nói điều đó là tốt đẹp” (Yaṃ nissito tattha subhaṃ vadānoti). “Nương tựa vào điều gì” (Yaṃ nissitoti) có nghĩa là: Nương tựa (nissito), đặc biệt nương tựa (ānissito), dính mắc (allīno), đi đến (upagato), chấp thủ (ajjhosito), tin chắc (adhimutto) vào vị đạo sư (satthāraṃ), vào lời thuyết pháp (dhammakkhānaṃ), vào giáo phái (gaṇaṃ), vào tri kiến (diṭṭhiṃ), vào con đường thực hành (paṭipadaṃ), vào đạo lộ (maggaṃ) nào. (Đây là ý nghĩa của) “Nương tựa vào điều gì.” “Ở nơi đó” (Tatthāti) có nghĩa là: Trong tri kiến của mình (sakāya diṭṭhiyā), trong sự kham nhẫn của mình (sakāya khantiyā), trong sở thích của mình (sakāya ruciyā), trong học thuyết của mình (sakāya laddhiyā). “Nói điều đó là tốt đẹp” (Subhaṃ vadānoti) có nghĩa là: Người nói điều tốt đẹp (subhavādo), người nói điều tao nhã (sobhanavādo), người nói điều trí tuệ (paṇḍitavādo), người nói điều kiên cố (thiravādo), người nói điều hợp lý (ñāyavādo), người nói điều có nhân (hetuvādo), người nói điều có tướng (lakkhaṇavādo), người nói điều có duyên (kāraṇavādo), người nói điều có cơ sở (ṭhānavādo) trong học thuyết của mình (sakāya laddhiyāti). (Đây là ý nghĩa của) “Nương tựa vào điều gì, người ấy nói điều đó là tốt đẹp.”
Suddhiṃ vado tattha tathaddasā soti. Suddhivādo visuddhivādo parisuddhivādo vodātavādo parivodātavādo. Atha vā suddhidassano visuddhidassano parisuddhidassano vodātadassano parivodātadassanoti – suddhiṃ vādo. Tatthāti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā tathaṃ tacchaṃ bhūtaṃ yāthāvaṃ aviparītanti addassa adakkhi apassi paṭivijjhīti – suddhiṃ vādo tattha tathaddasā so.
One who speaks of purity, therein has seen it as such. 'One who speaks of purity' means one who speaks of purity, speaks of special purity, speaks of complete purity, speaks of cleansing, or speaks of thorough cleansing. Alternatively, it means one who sees purity, sees special purity, sees complete purity, sees cleansing, or sees thorough cleansing. 'Therein' means in one's own view, one's own preference, one's own inclination, or one's own doctrine. 'Has seen it as such' means one saw, perceived, witnessed, and penetrated it as true, unerring, real, as it really is, and undistorted. Thus: 'One who speaks of purity, therein has seen it as such'.
Suddhiṃ vado tattha tathaddasā so (người ấy nói về sự thanh tịnh và đã thấy như thế ở đó) có nghĩa là: Người nói về sự thanh tịnh, người nói về sự đặc biệt thanh tịnh, người nói về sự hoàn toàn thanh tịnh, người nói về sự trong sạch, người nói về sự hoàn toàn trong sạch. Hoặc là, người thấy sự thanh tịnh, người thấy sự đặc biệt thanh tịnh, người thấy sự hoàn toàn thanh tịnh, người thấy sự trong sạch, người thấy sự hoàn toàn trong sạch – đó là ý nghĩa của suddhiṃ vādo (người nói về sự thanh tịnh). Tatthāti (ở đó) có nghĩa là: trong tà kiến của mình, trong sự kham nhẫn của mình, trong sở thích của mình, trong chủ thuyết của mình, (vị ấy) đã thấy, đã nhận thức, đã thấy, đã thâm nhập rằng: ‘(Điều này) là như thật, là chân xác, là sự thật, là đúng như thực, là không sai lệch.’ – đó là ý nghĩa của suddhiṃ vādo tattha tathaddasā so.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã thuyết rằng:
‘‘Nivissavādī na hi subbināyo, pakappitā diṭṭhipurekkharāno;
Yaṃ nissito tattha subhaṃ vadāno, suddhiṃ vado tattha tathaddasā so’’ti.
“The adherent to views is not easily instructed, possessing preconceived views as paramount. Whatever he relies on, he speaks of as good, declaring purity there, seeing it thus.”
“Vị ấy là người cố chấp, thật khó dẫn dắt, Lấy tà kiến đã định sẵn làm đầu; Nương tựa vào điều gì, liền nói điều ấy là tốt, Người ấy nói về sự thanh tịnh và đã thấy như thế ở đó.”
146.
146.
146.
Na brāhmaṇo kappamupeti saṅkhā, na diṭṭhisārī napi ñāṇabandhu;
Ñatvā ca so sammutiyo puthujjā, upekkhatī uggahaṇanti maññe.
A brahmin, having reckoned, does not resort to conjecture; he does not take views as the essence, nor is he one who has knowledge as his kinsman. And having known the conventions of ordinary people, he is equanimous, while others grasp.
Vị Bà-la-môn sau khi thẩm sát, không đi đến sự tưởng tượng, Không lấy tà kiến làm cốt lõi, cũng không lấy trí làm quyến thuộc; Vị ấy, sau khi đã biết các quy ước của phàm phu, Vẫn giữ tâm xả, trong khi những kẻ khác thì chấp thủ.
Na brāhmaṇo kappamupeti saṅkhāti. Nāti paṭikkhepo. Brāhmaṇoti sattannaṃ dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo…pe… asito tādi pavuccate sa brahmā. Kappāti dve kappā – taṇhākappo ca diṭṭhikappo ca…pe… ayaṃ taṇhākappo…pe… ayaṃ diṭṭhikappo. Saṅkhā vuccati ñāṇaṃ. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Na brāhmaṇo kappamupeti saṅkhāti. Brāhmaṇo saṅkhāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā… sabbe saṅkhārā dukkhā…pe… yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti saṅkhāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā taṇhākappaṃ vā diṭṭhikappaṃ vā neti na upeti na upagacchati na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisatīti – na brāhmaṇo kappamupeti saṅkhā.
‘A brahmin does not resort to conjecture, having reckoned.’ `Na` is a particle of negation. `Brāhmaṇa`: he is called a brahmin because of having expelled seven things... (and so on)... he who is unattached, such a one, is called a Brahmā. `Kappa` (conjecture): there are two conjectures—the conjecture of craving and the conjecture of views... (and so on)... this is the conjecture of craving... (and so on)... this is the conjecture of views. `Saṅkhā` is called knowledge (`ñāṇaṃ`). That which is wisdom, understanding... (and so on)... non-delusion, investigation of phenomena, right view. ‘A brahmin does not resort to conjecture, having reckoned’ means: the brahmin, having reckoned, having known, having weighed, having investigated, having clarified, and having made manifest that ‘All formations are impermanent... all formations are suffering... (and so on)... whatever has the nature of arising, all that has the nature of ceasing,’—having thus reckoned, known, weighed, investigated, clarified, and made manifest, he does not go to, does not approach, does not draw near, does not grasp, does not hold on to, and does not settle upon either the conjecture of craving or the conjecture of views. Thus: ‘A brahmin does not resort to conjecture, having reckoned.’
Về câu Na brāhmaṇo kappamupeti saṅkhā (Vị Bà-la-môn sau khi thẩm sát, không đi đến sự tưởng tượng): Nāti là sự phủ định. Brāhmaṇoti (Bà-la-môn) là do đã loại trừ bảy pháp... (v.v.)... vị không bị ràng buộc, bậc như vậy được gọi là Phạm thiên. Kappāti (sự tưởng tượng) có hai loại: sự tưởng tượng do tham ái và sự tưởng tượng do tà kiến... (v.v.)... đây là sự tưởng tượng do tham ái... (v.v.)... đây là sự tưởng tượng do tà kiến. Saṅkhā (thẩm sát) được gọi là trí tuệ. Trí tuệ là sự hiểu biết... (v.v.)... là vô si, trạch pháp, chánh kiến. Na brāhmaṇo kappamupeti saṅkhāti có nghĩa là: Vị Bà-la-môn, sau khi đã thẩm sát, biết rõ, cân nhắc, phán đoán, làm cho sáng tỏ, làm cho hiển lộ rằng: “Tất cả các pháp hữu vi là vô thường... tất cả các pháp hữu vi là khổ... (v.v.)... bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận,” sau khi đã thẩm sát, biết rõ, cân nhắc, phán đoán, làm cho sáng tỏ, làm cho hiển lộ như vậy, vị ấy không đi đến, không tiếp cận, không lại gần, không nắm giữ, không chấp thủ, không cố chấp vào sự tưởng tượng do tham ái hay sự tưởng tượng do tà kiến. – đó là ý nghĩa của na brāhmaṇo kappamupeti saṅkhā.
Na diṭṭhisārī napi ñāṇabandhūti. Tassa dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni. So diṭṭhiyā na yāyati na nīyati na vuyhati na saṃharīyati napi taṃ diṭṭhigataṃ sārato pacceti na paccāgacchatīti – na diṭṭhisārī. Napi ñāṇabandhūti aṭṭhasamāpattiñāṇena vā pañcābhiññāñāṇena vā taṇhābandhuṃ vā diṭṭhibandhuṃ vā na karoti na janeti na sañjaneti na nibbatteti nābhinibbattetīti – na diṭṭhisārī napi ñāṇabandhu.
‘He does not take views as the essence, nor is he one who has knowledge as his kinsman.’ For him, the sixty-two views have been abandoned, cut off, stilled, pacified, made incapable of future arising, and burned by the fire of knowledge. He does not go by view, is not led by it, is not carried away by it, is not brought along by it; nor does he believe in that view as an essence or return to it—thus, ‘he does not take views as the essence.’ ‘Nor is he one who has knowledge as his kinsman’ means: by means of the knowledge of the eight attainments, the five supernormal knowledges, or wrong knowledge, he does not make, generate, produce, or bring into existence a kinsman of craving or a kinsman of views—thus, ‘he does not take views as the essence, nor is he one who has knowledge as his kinsman.’
Về câu Na diṭṭhisārī napi ñāṇabandhūti (Không lấy tà kiến làm cốt lõi, cũng không lấy trí làm quyến thuộc): Đối với vị ấy, sáu mươi hai tà kiến đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không còn khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Vị ấy không bị dẫn dắt bởi tà kiến, không bị lôi kéo, không bị cuốn trôi, không bị mang đi, và cũng không tin tưởng, không quay trở lại với tà kiến ấy xem như là cốt lõi. – đó là ý nghĩa của na diṭṭhisārī. Napi ñāṇabandhūti có nghĩa là: Vị ấy không dùng trí tuệ của tám thiền chứng hay trí tuệ của năm thắng trí để tạo ra, làm sanh khởi, làm phát sanh, làm hiện hữu, làm cho hiện khởi quyến thuộc của tham ái hay quyến thuộc của tà kiến. – đó là ý nghĩa của na diṭṭhisārī napi ñāṇabandhu.
Ñatvā ca so sammutiyo puthujjāti. Ñatvāti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – ñatvā ca so. Sammutiyo vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni diṭṭhisammutiyo. Puthujjāti puthujjanehi janitā vā tā sammutiyoti – puthujjā. Puthu nānājanehi janitā vā sammutiyoti puthujjāti – ñatvā ca so sammutiyo puthujjā.
‘And having known the conventions of ordinary people.’ ‘Having known’ means having known, understood, weighed, judged, clarified, and made manifest. Having known, understood, weighed, judged, clarified, and made manifest that ‘All formations are impermanent,’... ‘All formations are suffering,’... ‘Whatever is of a nature to arise, all that is of a nature to cease’—thus, ‘and having known.’ ‘Conventions’ refers to the sixty-two views, the conventions of views. ‘Of ordinary people’ means those conventions are produced by ordinary people. Or, they are conventions produced by various different people—thus, ‘of ordinary people.’ Thus, ‘and having known the conventions of ordinary people.’
Về câu Ñatvā ca so sammutiyo puthujjāti (Vị ấy, sau khi đã biết các quy ước của phàm phu): Ñatvāti (sau khi đã biết) có nghĩa là đã biết, đã hiểu rõ, đã cân nhắc, đã phán đoán, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ. Sau khi đã biết, đã hiểu rõ, đã cân nhắc, đã phán đoán, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ rằng: “Tất cả các pháp hữu vi là vô thường,” “tất cả các pháp hữu vi là khổ,”... (v.v.)... “bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận.” – đó là ý nghĩa của ñatvā ca so (vị ấy, sau khi đã biết). Sammutiyo (các quy ước) được gọi là sáu mươi hai tà kiến, là các quy ước của tà kiến. Puthujjāti (của phàm phu) là vì các quy ước ấy được tạo ra bởi phàm phu (puthujjanehi). Hoặc là các quy ước được tạo ra bởi nhiều người khác nhau, nên gọi là puthujjā. – đó là ý nghĩa của ñatvā ca so sammutiyo puthujjā.
Upekkhatī uggahaṇanti maññeti. Aññe taṇhāvasena diṭṭhivasena gaṇhanti parāmasanti abhinivisanti. Arahā upekkhati na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisatīti – upekkhatī uggahaṇanti maññe.
‘He is equanimous, while others grasp.’ Others, by the power of craving and by the power of views, grasp, hold on to, and adhere. The Arahant is equanimous; he does not grasp, does not hold on to, does not adhere. Thus, ‘he is equanimous, while others grasp.’
Về câu Upekkhatī uggahaṇanti maññeti (Vẫn giữ tâm xả, trong khi những kẻ khác thì chấp thủ): Aññe (những kẻ khác) do năng lực của tham ái, do năng lực của tà kiến mà nắm giữ, chấp thủ, cố chấp. Bậc A-la-hán thì giữ tâm xả, không nắm giữ, không chấp thủ, không cố chấp. – đó là ý nghĩa của upekkhatī uggahaṇanti maññe.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã thuyết rằng:
‘‘Na brāhmaṇo kappamupeti saṅkhā, na diṭṭhisārī napi ñāṇabandhu;
Ñatvā ca so sammutiyo puthujjā, upekkhatī uggahaṇanti maññe’’ti.
“A brahmin does not resort to conjecture, having reckoned, Nor does he take views as the essence, nor is he one who has knowledge as his kinsman; And having known the conventions of ordinary people, He is equanimous, while others grasp.”
“Vị Bà-la-môn sau khi thẩm sát, không đi đến sự tưởng tượng, Không lấy tà kiến làm cốt lõi, cũng không lấy trí làm quyến thuộc; Vị ấy, sau khi đã biết các quy ước của phàm phu, Vẫn giữ tâm xả, trong khi những kẻ khác thì chấp thủ.”
147.
147.
147.
Vissajja ganthāni munīdha loke, vivādajātesu na vaggasārī;
Santo asantesu upekkhako so, anuggaho uggahaṇanti maññe.
The sage, having abandoned the knots in this world, Does not take sides when disputes arise; Peaceful among the unpeaceful, he is equanimous, He is free from grasping, while others grasp.
Bậc Mâu-ni trong đời này, từ bỏ các trói buộc, Trong các tranh luận đã sanh, không thiên vị phe phái; An tịnh giữa những người không an tịnh, vị ấy giữ tâm xả, Không còn chấp thủ, trong khi những kẻ khác thì chấp thủ.
Vissajja ganthāni munīdha loketi. Ganthāti cattāro ganthā – abhijjhā kāyagantho, byāpādo kāyagantho, sīlabbataparāmāso kāyagantho, idaṃsaccābhiniveso kāyagantho. Attano diṭṭhiyā rāgo abhijjhā kāyagantho, paravādesu āghāto appaccayo byāpādo kāyagantho, attano sīlaṃ vā vataṃ vā sīlabbataṃ vā parāmasati sīlabbataparāmāso kāyagantho, attano diṭṭhiṃ abhiniveso kāyagantho idaṃsaccābhiniveso kāyagantho. Vissajjāti ganthe vossajjitvā vissajja. Atha vā ganthe gadhite ganthite † bandhe vibandhe ābandhe † lagge laggite palibuddhe bandhane phoṭayitvā vissajja. Yathā vayhaṃ vā rathaṃ vā sakaṭaṃ vā sandamānikaṃ vā sajjaṃ vissajjaṃ karonti vikopenti; evameva ganthe vossajjitvā vissajja. Atha vā ganthe gathite gaṇṭhite bandhe vibandhe ābandhe lagge laggite palibuddhe bandhane phoṭayitvā vissajja. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Idhāti imissā diṭṭhiyā…pe… imasmiṃ manussaloketi – vissajja ganthāni munīdha loke.
‘The sage, having abandoned knots in this world.’ ‘Knots’ are four knots: covetousness is a bodily knot, ill will is a bodily knot, clinging to rules and observances is a bodily knot, and dogmatic adherence that ‘this alone is truth’ is a bodily knot. Lust for one’s own views is the bodily knot of covetousness. Resentment and displeasure toward others’ doctrines is the bodily knot of ill will. Clinging to one’s own virtue, vows, or observances is the bodily knot of clinging to rules and observances. Adhering to one's own views is the bodily knot of dogmatic adherence that ‘this alone is truth’. ‘Having abandoned’ means having relinquished the knots and abandoned them. Or alternatively, having broken the knots—which are entangled, knotted, bound, fettered, fastened, stuck, adhered, obstructed, and confined—he abandons them. Just as they loosen and dismantle a load, a chariot, a cart, or a palanquin, so too, having relinquished the knots, he abandons them. Or alternatively, having broken the knots—which are entangled, knotted, bound, fettered, fastened, stuck, adhered, obstructed, and confined—he abandons them. ‘Sage’: knowledge is called `mona` (sagehood)... having transcended the net of attachments, he is a sage. ‘In this world’ means in this view... in this human world. Thus, ‘the sage, having abandoned knots in this world.’
Về câu Vissajja ganthāni munīdha loketi (Bậc Mâu-ni trong đời này, từ bỏ các trói buộc): Ganthāti (các trói buộc) có bốn loại: tham thân triền, sân thân triền, giới cấm thủ thân triền, và đây là sự thật chấp thủ thân triền. Lòng tham ái đối với tà kiến của mình là tham thân triền; sự phẫn nộ, không hài lòng đối với các học thuyết khác là sân thân triền; sự chấp thủ vào giới luật, nghi lễ, hoặc giới và nghi lễ của mình là giới cấm thủ thân triền; sự cố chấp vào tà kiến của mình rằng 'chỉ có điều này là sự thật' là đây là sự thật chấp thủ thân triền. Vissajjāti (từ bỏ) là đã xả ly, đã từ bỏ các trói buộc. Hoặc là, đã tháo gỡ, đã cởi bỏ các trói buộc, các ràng buộc, các dính mắc, các vướng mắc, các trở ngại, các xiềng xích. Munīti (Mâu-ni): Monaṃ được gọi là trí tuệ... (v.v.)... vị ấy vượt qua lưới ái và kiến, nên gọi là Mâu-ni. Idhāti (trong đời này) có nghĩa là trong tà kiến này... (v.v.)... trong thế giới loài người này. – đó là ý nghĩa của vissajja ganthāni munīdha loke.
Vivādajātesu na vaggasārīti. Vivādajātesu sañjātesu nibbattesu abhinibbattesu pātubhūtesu † chandāgatiṃ gacchantesu dosāgatiṃ gacchantesu bhayāgatiṃ gacchantesu mohāgatiṃ gacchantesu na chandāgatiṃ gacchati, na dosāgatiṃ gacchati, na bhayāgatiṃ gacchati, na mohāgatiṃ gacchati, na rāgavasena gacchati, na dosavasena gacchati, na mohavasena gacchati, na mānavasena gacchati, na diṭṭhivasena gacchati, na uddhaccavasena gacchati, na vicikicchāvasena gacchati, na anusayavasena gacchati, na vaggehi dhammehi yāyati nīyati vuyhati saṃharīyatīti – vivādajātesu na vaggasārī.
‘Not siding with factions when disputes arise.’ When disputes have arisen, originated, sprung up, emerged, and become manifest, and when others go by way of favoritism, by way of hatred, by way of fear, or by way of delusion—he does not go by way of favoritism, by way of hatred, by way of fear, or by way of delusion. He does not proceed under the influence of lust, under the influence of hatred, under the influence of delusion, under the influence of conceit, under the influence of views, under the influence of restlessness, under the influence of doubt, or under the influence of underlying tendencies. He is not moved, led, swept away, or drawn in by factional things—thus, ‘not siding with factions when disputes arise.’
Không ngả theo phe nhóm khi tranh luận phát sinh có nghĩa là: Khi các cuộc tranh luận đã phát sinh, đã sanh khởi, đã khởi lên, đã được sanh khởi trọn vẹn, đã hiện rõ; khi (những người khác) đi đến thiên vị vì tham dục, đi đến thiên vị vì sân hận, đi đến thiên vị vì sợ hãi, đi đến thiên vị vì si mê, vị ấy không đi đến thiên vị vì tham dục, không đi đến thiên vị vì sân hận, không đi đến thiên vị vì sợ hãi, không đi đến thiên vị vì si mê; không đi theo quyền lực của tham ái, không đi theo quyền lực của sân hận, không đi theo quyền lực của si mê, không đi theo quyền lực của ngã mạn, không đi theo quyền lực của tà kiến, không đi theo quyền lực của trạo cử, không đi theo quyền lực của hoài nghi, không đi theo quyền lực của tùy miên; không bị đi theo, không bị dẫn dắt, không bị cuốn trôi, không bị thu hút bởi các pháp thuộc phe nhóm. Như vậy là ‘không ngả theo phe nhóm khi tranh luận phát sinh’.
Santo asantesu upekkhako soti. Santoti rāgassa santattā santo, dosassa santattā santo, mohassa santattā santo…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā vūpasamitattā vijjhātattā nibbutattā vigatattā paṭipassaddhattā santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddhoti – santo. Asantesūti asantesu anupasantesu avūpasantesu anibbutesu appaṭipassaddhesūti – santo asantesu. Upekkhako soti arahā chaḷaṅgupekkhāya samannāgato cakkhunā rūpaṃ disvā neva sumano hoti na dummano upekkhako viharati sato sampajāno. Sotena saddaṃ sutvā…pe… kālaṃ kaṅkhati bhāvito santoti – santo asantesu upekkhako so.
‘The peaceful one is equanimous among the unpeaceful.’ ‘Peaceful’ means peaceful because of the pacification of greed, peaceful because of the pacification of hatred, peaceful because of the pacification of delusion... and so on... because of the pacification, quieting, stilling, extinguishing, cooling, disappearance, and tranquilization of all unwholesome formations, he is peaceful, calmed, stilled, cooled, tranquilized—thus, ‘peaceful.’ ‘Among the unpeaceful’ means among those who are unpeaceful, uncalmed, unstilled, uncooled, untranquilized—thus, ‘peaceful among the unpeaceful.’ ‘That one is equanimous’ means the Arahant is endowed with six-factored equanimity. Having seen a form with the eye, he is neither glad nor sad but dwells equanimous, mindful, and fully aware. Having heard a sound with the ear... and so on... with developed faculties and pacified defilements, he awaits his time—thus, ‘the peaceful one is equanimous among the unpeaceful.’
Vị ấy là người an tịnh, có xả đối với những người không an tịnh có nghĩa là: ‘An tịnh’ là do tham ái đã được an tịnh nên là người an tịnh, do sân hận đã được an tịnh nên là người an tịnh, do si mê đã được an tịnh nên là người an tịnh... (cho đến)... do tất cả các pháp hành bất thiện đã được an tịnh, đã được lắng dịu, đã được lắng dịu hoàn toàn, đã được dập tắt, đã được tịch tịnh, đã được lìa khỏi, đã được làm cho lắng xuống, nên là người an tịnh, người vắng lặng, người vắng lặng hoàn toàn, người tịch tịnh, người đã làm cho lắng xuống. Như vậy là ‘an tịnh’. ‘Đối với những người không an tịnh’ là đối với những người không an tịnh, không vắng lặng, không vắng lặng hoàn toàn, không tịch tịnh, không được làm cho lắng xuống. Như vậy là ‘an tịnh đối với những người không an tịnh’. ‘Vị ấy có xả’ là bậc A-la-hán thành tựu xả sáu chi, sau khi thấy sắc pháp bằng mắt, vị ấy không hoan hỷ cũng không ưu phiền, trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác. Sau khi nghe âm thanh bằng tai... (cho đến)... vị ấy là người an tịnh đã tu tập, chờ đợi thời điểm. Như vậy là ‘vị ấy là người an tịnh, có xả đối với những người không an tịnh’.
Anuggaho uggahaṇanti maññeti. Aññe taṇhāvasena diṭṭhivasena gaṇhante parāmasante abhinivisante. Arahā upekkhati na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisatīti – anuggaho uggahaṇanti maññe.
‘He is non-grasping towards those who grasp, I think.’ This means: while others grasp, cling, and adhere by the power of craving and by the power of views, the Arahant is equanimous; he does not grasp, does not cling, and does not adhere. Thus, ‘He is non-grasping towards those who grasp, I think.’
Không phải là người chấp thủ trong khi (những người khác) được xem là những người chấp thủ có nghĩa là: Đối với những người khác đang nắm giữ, đang chấp chặt, đang khăng khăng cố chấp do quyền lực của tham ái, do quyền lực của tà kiến, bậc A-la-hán giữ tâm xả, không nắm giữ, không chấp chặt, không khăng khăng cố chấp. Như vậy là ‘không phải là người chấp thủ trong khi (những người khác) được xem là những người chấp thủ’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Vissajja ganthāni munīdha loke, vivādajātesu na vaggasārī;
Santo asantesu upekkhako so, anuggaho uggahaṇanti maññe’’ti.
“The sage, having cast off fetters in this world, Does not take sides when disputes arise; Peaceful among the unpeaceful, that one is equanimous, He is non-grasping towards those who grasp, I think.”
‘Bậc ẩn sĩ ở đời này, sau khi từ bỏ các trói buộc, không ngả theo phe nhóm khi tranh luận phát sinh; vị ấy là người an tịnh, có xả đối với những người không an tịnh, không phải là người chấp thủ trong khi (những người khác) được xem là những người chấp thủ.’
148.
148.
148.
Pubbāsave hitvā nave akubbaṃ, na chandagū nopi nivissavādī;
Sa vippamutto diṭṭhigatehi dhīro, na limpati loke anattagarahī.
Having abandoned former taints and not creating new ones, He is not led by desire, nor is he one who speaks with rigid adherence. That wise one is well freed from views; Not reproaching himself, he is not smeared by anything in the world.
Từ bỏ các lậu hoặc quá khứ, không tạo ra các lậu hoặc mới, không đi theo tham dục, cũng không phải là người cố chấp trong lời nói; vị ấy là bậc trí tuệ, đã hoàn toàn giải thoát khỏi các tà kiến, không bị ô nhiễm trong thế gian, không tự khiển trách mình.
Pubbāsave hitvā nave akubbanti. Pubbāsavā vuccanti atītā rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇā. Atīte saṅkhāre ārabbha ye kilesā uppajjeyyuṃ te kilese hitvā cajitvā pariccajitvā pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvāti – pubbāsave hitvā. Nave akubbanti navā vuccanti paccuppannā rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇā. Paccuppanne saṅkhāre ārabbha chandaṃ † akubbamāno pemaṃ akubbamāno rāgaṃ akubbamāno ajanayamāno asañjanayamāno anibbattayamāno anabhinibbattayamānoti – pubbāsave hitvā nave akubbaṃ.
‘Having abandoned former taints and not creating new ones.’ ‘Former taints’ are said to be past form, feeling, perception, formations, and consciousness. ‘Having abandoned former taints’ means having abandoned, relinquished, completely relinquished, rejected, removed, destroyed, and brought to a state of non-arising the defilements that might arise in dependence on past formations. ‘Not creating new ones’ means: ‘new’ are said to be present form, feeling, perception, formations, and consciousness. In dependence on present formations, one is not creating desire, not creating affection, not creating lust; not producing, not causing to arise, not generating, not bringing into existence. This is the meaning of ‘having abandoned former taints and not creating new ones.’
Từ bỏ các lậu hoặc quá khứ, không tạo ra các lậu hoặc mới có nghĩa là: Các lậu hoặc quá khứ được gọi là sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong quá khứ. ‘Từ bỏ các lậu hoặc quá khứ’ là sau khi duyên vào các hành trong quá khứ, những phiền não nào có thể sanh khởi, vị ấy từ bỏ, vứt bỏ, xả ly, đoạn trừ, loại bỏ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu những phiền não ấy. ‘Không tạo ra các lậu hoặc mới’ là các pháp mới được gọi là sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong hiện tại. Duyên vào các hành trong hiện tại, vị ấy không làm sanh khởi lòng ham muốn, không làm sanh khởi lòng yêu mến, không làm sanh khởi tham ái, không phát sanh, không làm cho phát sanh, không làm cho khởi lên, không làm cho sanh khởi trọn vẹn. Như vậy là ‘từ bỏ các lậu hoặc quá khứ, không tạo ra các lậu hoặc mới’.
Na chandagū nopi nivissavādīti. Na chandāgatiṃ gacchati, na dosāgatiṃ gacchati, na mohāgatiṃ gacchati, na bhayāgatiṃ gacchati, na rāgavasena gacchati, na dosavasena gacchati, na mohavasena gacchati, na mānavasena gacchati, na diṭṭhivasena gacchati, na uddhaccavasena gacchati, na vicikicchāvasena gacchati, na anusayavasena gacchati, na vaggehi dhammehi yāyati nīyati vuyhati na saṃharīyatīti – na chandagū. Nopi nivissavādīti ‘‘sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti na nivissavādī…pe… ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti na nivissavādīti – na chandagū nopi nivissavādī.
‘Not led by desire, nor one who speaks with rigid adherence.’ ‘Not led by desire’ means: he does not follow the course of desire, he does not follow the course of aversion, he does not follow the course of delusion, he does not follow the course of fear. He does not act through the power of lust, he does not act through the power of hatred, he does not act through the power of delusion, he does not act through the power of conceit, he does not act through the power of views, he does not act through the power of restlessness, he does not act through the power of doubt, he does not act through the power of underlying tendencies. He is not led, not carried, not swept away, not brought along by these groups of states. ‘Nor one who speaks with rigid adherence’ means: he is not one who speaks with rigid adherence, saying, “The world is eternal; this alone is true, anything else is futile.” …and so on… He is not one who speaks with rigid adherence, saying, “The Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, anything else is futile.” This is the meaning of ‘not led by desire, nor one who speaks with rigid adherence.’
Không đi theo tham dục, cũng không phải là người cố chấp trong lời nói có nghĩa là: Vị ấy không đi đến thiên vị vì tham dục, không đi đến thiên vị vì sân hận, không đi đến thiên vị vì si mê, không đi đến thiên vị vì sợ hãi; không đi theo quyền lực của tham ái, không đi theo quyền lực của sân hận, không đi theo quyền lực của si mê, không đi theo quyền lực của ngã mạn, không đi theo quyền lực của tà kiến, không đi theo quyền lực của trạo cử, không đi theo quyền lực của hoài nghi, không đi theo quyền lực của tùy miên; không đi theo, không bị dẫn dắt, không bị cuốn trôi, không bị thu hút bởi các pháp thuộc phe nhóm. Như vậy là ‘không đi theo tham dục’. ‘Cũng không phải là người cố chấp trong lời nói’ là vị ấy không phải là người cố chấp trong lời nói rằng: ‘Thế gian là thường hằng, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là rỗng tuếch’... (cho đến)... ‘Sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải là không tồn tại, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là rỗng tuếch.’ Như vậy là ‘không đi theo tham dục, cũng không phải là người cố chấp trong lời nói’.
Sa vippamutto diṭṭhigatehi dhīroti tassa dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni. So diṭṭhigatehi vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharati. Dhīroti dhīro paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvīti – sa vippamutto diṭṭhigatehi dhīro.
‘He, the wise one, is fully liberated from views.’ For him, the sixty-two speculative views have been abandoned, cut off at the root, pacified, stilled, rendered incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge. He dwells with a mind fully liberated from views, detached, and without boundaries. ‘Wise one’ means: steadfastly wise, learned, possessing wisdom, intelligent, knowledgeable, discerning, and sagacious—this is the meaning of ‘he, the wise one, is fully liberated from views.’
Vị ấy là bậc trí tuệ, đã hoàn toàn giải thoát khỏi các tà kiến có nghĩa là: Đối với vị ấy, sáu mươi hai tà kiến đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho lắng xuống, không có khả năng sanh khởi, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ. Vị ấy đã hoàn toàn giải thoát khỏi các tà kiến, đã không còn liên kết, trú với tâm không còn giới hạn. ‘Bậc trí tuệ’ là người có trí tuệ, bậc hiền trí, người có tuệ, người có giác, người có trí, người có khả năng phân tích, người có trí thông minh. Như vậy là ‘vị ấy là bậc trí tuệ, đã hoàn toàn giải thoát khỏi các tà kiến’.
Na limpati loke anattagarahīti. Lepāti dve lepā – taṇhālepo ca diṭṭhilepo ca…pe… ayaṃ taṇhālepo …pe… ayaṃ diṭṭhilepo. Tassa taṇhālepo pahīno, diṭṭhilepo paṭinissaṭṭho; tassa taṇhālepassa pahīnattā, diṭṭhilepassa paṭinissaṭṭhattā apāyaloke na limpati, manussaloke na limpati, devaloke na limpati, khandhaloke na limpati, dhātuloke na limpati, āyatanaloke na limpati na palimpati na upalimpati, alitto apalitto anupalitto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – na limpati loke.
‘Is not smeared in the world, not reproaching oneself.’ Regarding ‘is not smeared in the world’: ‘Smearing’ refers to two kinds of smearing: the smearing of craving and the smearing of views… This is the smearing of craving… This is the smearing of views. For that person, the smearing of craving is abandoned, and the smearing of views is relinquished. Due to the abandonment of the smearing of craving and the relinquishment of the smearing of views, one is not smeared in the world of misery, is not smeared in the human world, is not smeared in the divine world, is not smeared in the world of aggregates, is not smeared in the world of elements, is not smeared in the world of sense bases. One is not smeared, not thoroughly smeared, not adhesively smeared; unsmeared, not thoroughly smeared, not adhesively smeared, one dwells with a mind that has gone forth, is released, fully liberated, disjoined, and without boundaries. This is the meaning of ‘is not smeared in the world’.
Không bị ô nhiễm trong thế gian có nghĩa là: ‘Sự ô nhiễm’ là có hai loại ô nhiễm: sự ô nhiễm của tham ái và sự ô nhiễm của tà kiến... (cho đến)... đây là sự ô nhiễm của tham ái ... (cho đến)... đây là sự ô nhiễm của tà kiến. Đối với vị ấy, sự ô nhiễm của tham ái đã được đoạn trừ, sự ô nhiễm của tà kiến đã được từ bỏ. Do sự ô nhiễm của tham ái đã được đoạn trừ, do sự ô nhiễm của tà kiến đã được từ bỏ, vị ấy không bị ô nhiễm trong thế giới khổ cảnh, không bị ô nhiễm trong thế giới loài người, không bị ô nhiễm trong thế giới chư thiên, không bị ô nhiễm trong thế giới của các uẩn, không bị ô nhiễm trong thế giới của các giới, không bị ô nhiễm trong thế giới của các xứ; không bị vấy bẩn, không bị nhiễm ô, không bị dính mắc; không bị vấy bẩn, không bị nhiễm ô, không bị dính mắc; đã thoát ra, đã lìa khỏi, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên kết, trú với tâm không còn giới hạn. Như vậy là ‘không bị ô nhiễm trong thế gian’.
Anattagarahīti dvīhi kāraṇehi attānaṃ garahati – katattā ca akatattā ca. Kathaṃ katattā ca akatattā ca attānaṃ garahati? ‘‘Kataṃ me kāyaduccaritaṃ, akataṃ me kāyasucarita’’nti attānaṃ garahati. ‘‘Kataṃ me vacīduccaritaṃ…pe… kataṃ me manoduccaritaṃ … kato me pāṇātipāto…pe… katā me micchādiṭṭhi, akatā me sammādiṭṭhī’’ti attānaṃ garahati. Evaṃ katattā ca akatattā ca attānaṃ garahati.
Regarding ‘not reproaching oneself’: One blames oneself for two reasons: because of what has been done and because of what has not been done. How does one blame oneself because of what has been done and because of what has not been done? One blames oneself thus: ‘I have done bodily misconduct; I have not done bodily good conduct.’ ‘I have done verbal misconduct… I have done mental misconduct… I have committed the killing of living beings… I have held wrong view; I have not held right view.’ In this way, one blames oneself because of what has been done and because of what has not been done.
Không tự khiển trách mình có nghĩa là: Người ta khiển trách mình vì hai lý do: vì điều đã làm và vì điều không đã làm. Thế nào là người ta khiển trách mình vì điều đã làm và vì điều không đã làm? Người ấy khiển trách mình rằng: ‘Thân ác hạnh đã được ta thực hiện, thân thiện hạnh đã không được ta thực hiện.’ Người ấy khiển trách mình rằng: ‘Khẩu ác hạnh đã được ta thực hiện... (cho đến)... ý ác hạnh đã được ta thực hiện ... sát sanh đã được ta thực hiện... (cho đến)... tà kiến đã được ta thực hiện, chánh kiến đã không được ta thực hiện.’ Như vậy, người ta khiển trách mình vì điều đã làm và vì điều không đã làm.
Atha vā ‘‘sīlesumhi na paripūrakārī’’ti attānaṃ garahati. ‘‘Indriyesumhi aguttadvāro’’ti… ‘‘bhojanemhi amattaññū’’ti… ‘‘jāgariyamhi ananuyutto’’ti… ‘‘na satisampajaññenāmhi samannāgato’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro satipaṭṭhānā’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro sammappadhānā’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro iddhipādā’’ti… ‘‘abhāvitāni me pañcindriyānī’’ti… ‘‘abhāvitāni me pañca balānī’’ti… ‘‘abhāvitā me satta bojjhaṅgā’’ti… ‘‘abhāvito me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’’ti… ‘‘dukkhaṃ me apariññāta’’nti… ‘‘dukkhasamudayo me appahīno’’ti… ‘‘maggo me abhāvito’’ti… ‘‘nirodho me asacchikato’’ti attānaṃ garahati. Evaṃ katattā ca akatattā ca attānaṃ garahati. Evaṃ attagarahī. Tayidaṃ kammaṃ akubbamāno ajanayamāno asañjanayamāno anibbattayamāno anabhinibbattayamāno anattagarahīti – na limpati loke anattagarahī.
Or else, he reproaches himself thus: 'I am not one who completely fulfills the precepts.' 'I am one with unguarded doors in the sense faculties.' 'I am one who does not know the measure in food.' 'I am not devoted to wakefulness.' 'I am not endowed with mindfulness and clear comprehension.' 'The four foundations of mindfulness have not been developed by me.' 'The four right strivings have not been developed by me.' 'The four bases of spiritual power have not been developed by me.' 'The five faculties have not been developed by me.' 'The five powers have not been developed by me.' 'The seven factors of enlightenment have not been developed by me.' 'The noble eightfold path has not been developed by me.' 'The truth of suffering has not been fully understood by me.' 'The truth of the origin of suffering has not been abandoned by me.' 'The truth of the path has not been developed by me.' 'The truth of cessation has not been realized by me.' In this way, he reproaches himself because of what has been done and because of what has not been done. Thus, he is one who reproaches himself. By not performing that action, not generating it, not producing it, not bringing it forth, not causing it to manifest, one is 'anattagarahī' (one who does not reproach oneself). Thus: 'Not reproaching oneself, one is not smeared in the world.'
Hoặc là, vị ấy tự khiển trách rằng: ‘Ta đã không thực hành viên mãn các giới’. Vị ấy tự khiển trách rằng: ‘Ta đã không phòng hộ các căn’. ... ‘Ta đã không biết tiết độ trong ăn uống’. ... ‘Ta đã không chuyên tâm vào sự tỉnh thức’. ... ‘Ta đã không được trang bị chánh niệm và tỉnh giác’. ... ‘Bốn niệm xứ đã không được ta tu tập’. ... ‘Bốn chánh cần đã không được ta tu tập’. ... ‘Bốn như ý túc đã không được ta tu tập’. ... ‘Năm căn đã không được ta tu tập’. ... ‘Năm lực đã không được ta tu tập’. ... ‘Bảy giác chi đã không được ta tu tập’. ... ‘Thánh đạo tám ngành đã không được ta tu tập’. ... ‘Khổ đế đã không được ta liễu tri’. ... ‘Tập đế đã không được ta đoạn trừ’. ... ‘Đạo đế đã không được ta tu tập’. ... ‘Diệt đế đã không được ta chứng ngộ’. Như vậy, vị ấy tự khiển trách do những điều đã làm và những điều chưa làm. Như vậy là người tự khiển trách. Vị ấy không làm, không sanh khởi, không tạo ra, không phát sinh, không làm cho phát sinh hành động này, nên được gọi là người không tự khiển trách – người không tự khiển trách thì không bị dính mắc ở đời.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Pubbāsave hitvā nave akubbaṃ, na chandagū nopi nivissavādī;
Sa vippamutto diṭṭhigatehi dhīro, na limpati loke anattagarahī’’ti.
"Having abandoned former influxes and not creating new ones, not led by desire nor adhering to a fixed view; that wise one, fully liberated from what is grasped by views, is not smeared in the world, not reproaching oneself."
“Từ bỏ các lậu hoặc cũ, không tạo ra các lậu hoặc mới, không bị tham dục chi phối, cũng không phải là người cố chấp tà kiến; vị ấy, bậc trí, đã giải thoát khỏi các kiến chấp, không bị dính mắc ở đời, là người không tự khiển trách.”
149.
149.
149.
Sa sabbadhammesu visenibhūto, yaṃ kiñci diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā;
Sa pannabhāro muni vippamutto, na kappiyo nūparato na patthiyo.[iti bhagavā]
He is one who has vanquished the army in all states, regarding whatever is seen, heard, or sensed. That sage has laid down the burden and is fully liberated; he is not configured, finds no delight, and has no longing. [So said the Blessed One.]
Vị ấy đã chiến thắng quân đội (Ma vương) trong tất cả các pháp, đối với bất cứ điều gì được thấy, được nghe, hay được cảm nhận. Vị ấy, bậc ẩn sĩ, đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát, không bị tạo tác, không còn luyến ái, không còn mong cầu. [Thế Tôn đã nói như vậy].
Sa sabbadhammesu visenibhūto yaṃ kiñci diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vāti. Senā vuccati mārasenā. Kāyaduccaritaṃ mārasenā, vacīduccaritaṃ mārasenā, manoduccaritaṃ mārasenā, rāgo… doso… moho… kodho… upanāho… makkho… paḷāso… issā… macchariyaṃ… māyā… sāṭheyyaṃ… thambho… sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo… sabbe kilesā… sabbe duccaritā… sabbe darathā… sabbe pariḷāhā… sabbe santāpā… sabbākusalābhisaṅkhārā mārasenā.
'He is one who has vanquished the army in all states, regarding whatever is seen, heard, or sensed.' 'Army' refers to the army of Māra. Bodily misconduct is the army of Māra, verbal misconduct is the army of Māra, mental misconduct is the army of Māra. Lust… hatred… delusion… anger… enmity… contempt… spite… envy… stinginess… deceit… treachery… stubbornness… rivalry… conceit… arrogance… vanity… heedlessness… all defilements… all misconducts… all vexations… all fevers… all torments… all unwholesome formations are the army of Māra.
(Giải thích câu:) “Vị ấy đã chiến thắng quân đội (Ma vương) trong tất cả các pháp, đối với bất cứ điều gì được thấy, được nghe, hay được cảm nhận.” Quân đội được gọi là quân đội của Ma vương. Thân ác hạnh là quân đội của Ma vương, khẩu ác hạnh là quân đội của Ma vương, ý ác hạnh là quân đội của Ma vương, tham... sân... si... phẫn nộ... oán hận... gièm pha... khinh miệt... tật đố... keo kiệt... xảo trá... gian xảo... ngoan cố... hiếu thắng... ngã mạn... quá mạn... say đắm... phóng dật... tất cả các phiền não... tất cả các ác hạnh... tất cả các phiền muộn... tất cả các sự thiêu đốt... tất cả các sự nóng bức... tất cả các hành bất thiện đều là quân đội của Ma vương.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘‘Kāmā te paṭhamā senā, dutiyā arati vuccati…pe…;
Na naṃ asuro jināti, jetvāva labhate sukha’’nti.
“Sensual pleasures are your first army, the second is called discontent... The one who is not a hero does not conquer it; but having conquered it, one obtains happiness.”
“Dục vọng là đạo quân thứ nhất của ngươi, bất mãn được gọi là đạo quân thứ hai... (v.v.)... Người không phải anh hùng không thể chiến thắng nó, nhưng sau khi chiến thắng, người ấy đạt được an lạc.”
Yato catūhi ariyamaggehi sabbā ca mārasenā sabbe ca paṭisenikarā kilesā jitā ca parājitā ca bhaggā vippaluggā parammukhā – so vuccati visenibhūto. So diṭṭhe visenibhūto, sute… mute … viññāte visenibhūtoti – sa sabbadhammesu visenibhūto, yaṃ kiñci diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā.
When, by the four noble paths, all Māra’s armies and all opposing defilements are conquered, defeated, broken, pulverized, and turned away—he is called one who has vanquished the army. He has vanquished the army in regard to the seen, the heard… the sensed… the cognized—thus, he has vanquished the army in regard to all phenomena, whatever is seen, heard, or sensed.
Khi nào tất cả quân đội của Ma vương và tất cả các phiền não đối nghịch đã bị chiến thắng, bị đánh bại, bị phá tan, bị nghiền nát, bị quay lưng bởi bốn Thánh đạo – vị ấy được gọi là người đã chiến thắng quân đội. Vị ấy đã chiến thắng quân đội đối với cái được thấy, đối với cái được nghe... được cảm nhận... được nhận biết – (như vậy có nghĩa là) vị ấy đã chiến thắng quân đội trong tất cả các pháp, đối với bất cứ điều gì được thấy, được nghe, hay được cảm nhận.
Sa pannabhāro muni vippamuttoti. Bhārāti tayo bhārā – khandhabhāro, kilesabhāro, abhisaṅkhārabhāro. Katamo khandhabhāro? Paṭisandhiyā rūpaṃ vedanā saññā saṅkhārā viññāṇaṃ – ayaṃ khandhabhāro. Katamo kilesabhāro? Rāgo doso moho…pe… sabbākusalābhisaṅkhārā – ayaṃ kilesabhāro. Katamo abhisaṅkhārabhāro? Puññābhisaṅkhāro apuññābhisaṅkhāro āneñjābhisaṅkhāro – ayaṃ abhisaṅkhārabhāro. Yato khandhabhāro ca kilesabhāro ca abhisaṅkhārabhāro ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, so vuccati pannabhāro patitabhāro oropitabhāro samoropitabhāro nikkhittabhāro paṭipassaddhabhāro.
‘That sage has laid down the burden and is fully liberated.’ ‘Burden’ refers to three burdens: the burden of the aggregates, the burden of defilements, and the burden of volitional formations. What is the burden of the aggregates? At rebirth, form, feeling, perception, formations, and consciousness—this is the burden of the aggregates. What is the burden of defilements? Greed, hatred, delusion… all unwholesome volitional formations—this is the burden of defilements. What is the burden of volitional formations? Meritorious volitional formations, demeritorious volitional formations, and imperturbable volitional formations—this is the burden of volitional formations. When the burden of the aggregates, the burden of defilements, and the burden of volitional formations have been abandoned, are uprooted, made like a palm stump, brought to non-existence, and are by nature not subject to future arising, he is called one who has laid down the burden, one whose burden has fallen, one who has set down the burden, one who has completely set down the burden, one who has cast off the burden, one whose burden is stilled.
(Giải thích câu:) “Vị ấy, bậc ẩn sĩ, đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát.” Gánh nặng có ba loại: gánh nặng uẩn, gánh nặng phiền não, và gánh nặng các hành. Gánh nặng uẩn là gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong sự tái sanh – đây là gánh nặng uẩn. Gánh nặng phiền não là gì? Tham, sân, si... (v.v.)... tất cả các hành bất thiện – đây là gánh nặng phiền não. Gánh nặng các hành là gì? Phước hành, phi phước hành, bất động hành – đây là gánh nặng các hành. Khi nào gánh nặng uẩn, gánh nặng phiền não, và gánh nặng các hành đã được từ bỏ, đã được nhổ tận gốc, đã được làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, đã được làm cho không còn tồn tại, có bản chất không sanh khởi trong tương lai, vị ấy được gọi là người đã đặt gánh nặng xuống, đã làm rơi gánh nặng, đã hạ gánh nặng xuống, đã đặt gánh nặng xuống một cách tốt đẹp, đã vứt bỏ gánh nặng, đã làm lắng dịu gánh nặng.
Munīti monaṃ vuccati ñāṇaṃ. Yā paññā pajānanā vicayo pavicayo dhammavicayo sallakkhaṇā upalakkhaṇā paccupalakkhaṇā, paṇḍiccaṃ kosallaṃ nepuññaṃ vebhabyā cintā upaparikkhā bhūri medhā parināyikā vipassanā sampajaññaṃ patodo paññā paññindriyaṃ paññābalaṃ paññāsatthaṃ paññāpāsādo paññāāloko paññāobhāso paññāpajjoto paññāratanaṃ amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Tena ñāṇena samannāgato muni monappatto.
Regarding ‘sage’ (muni): knowledge (ñāṇa) is called ‘mona’ (sagehood). That wisdom which is understanding, investigation, thorough investigation, investigation of phenomena, discernment, close discernment, repeated discernment, intelligence, skillfulness, subtlety, analysis, reflection, inquiry, breadth, sagacity, guidance, insight, clear comprehension, the goad, wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom, the weapon of wisdom, the palace of wisdom, the light of wisdom, the radiance of wisdom, the splendor of wisdom, the jewel of wisdom, non-delusion, investigation of phenomena, and right view. Endowed with that knowledge, one is a sage (muni), having attained sagehood (mona).
Bậc ẩn sĩ (muni): Sự ẩn sĩ (mona) được gọi là trí tuệ (ñāṇa). Trí tuệ nào là sự hiểu biết, sự thẩm sát, sự quán sát, sự trạch pháp, sự ghi nhận, sự nhận thức, sự nhận thức lại, sự thông thái, sự khéo léo, sự tinh tế, sự phân tích, sự tư duy, sự khảo sát, trí tuệ rộng lớn, trí tuệ sắc bén, trí tuệ dẫn dắt, tuệ quán, tỉnh giác, sự thúc đẩy, tuệ căn, tuệ lực, gươm báu trí tuệ, lâu đài trí tuệ, ánh sáng trí tuệ, hào quang trí tuệ, sự rực rỡ của trí tuệ, bảo vật trí tuệ, sự không si mê, trạch pháp, chánh kiến. Người được trang bị trí tuệ ấy được gọi là bậc ẩn sĩ, người đã đạt đến sự ẩn sĩ.
Tīṇi moneyyāni – kāyamoneyyaṃ, vacīmoneyyaṃ, manomoneyyaṃ. Katamaṃ kāyamoneyyaṃ? Tividhānaṃ kāyaduccaritānaṃ † pahānaṃ kāyamoneyyaṃ, tividhaṃ kāyasucaritaṃ kāyamoneyyaṃ, kāyārammaṇe ñāṇaṃ kāyamoneyyaṃ, kāyapariññā kāyamoneyyaṃ, pariññāsahagato maggo kāyamoneyyaṃ, kāye chandarāgassa pahānaṃ kāyamoneyyaṃ, kāyasaṅkhāranirodho catutthajjhānasamāpatti kāyamoneyyaṃ – idaṃ kāyamoneyyaṃ.
There are three kinds of sagehood: sagehood of body, sagehood of speech, and sagehood of mind. What is sagehood of body? The abandoning of the threefold bodily misconduct is sagehood of body; the threefold bodily good conduct is sagehood of body; knowledge regarding the body as an object is sagehood of body; full understanding of the body is sagehood of body; the path accompanied by full understanding is sagehood of body; the abandoning of desire and lust for the body is sagehood of body; the cessation of bodily formations, which is the attainment of the fourth jhāna, is sagehood of body—this is sagehood of body.
Có ba sự ẩn sĩ: thân ẩn sĩ, khẩu ẩn sĩ, ý ẩn sĩ. Thân ẩn sĩ là gì? Sự từ bỏ ba loại thân ác hạnh là thân ẩn sĩ, ba loại thân thiện hạnh là thân ẩn sĩ, trí tuệ về đối tượng thân là thân ẩn sĩ, sự liễu tri thân là thân ẩn sĩ, đạo lộ đi cùng với sự liễu tri là thân ẩn sĩ, sự từ bỏ tham dục đối với thân là thân ẩn sĩ, sự chứng đắc Tứ thiền là sự chấm dứt của thân hành là thân ẩn sĩ – đây là thân ẩn sĩ.
Katamaṃ vacīmoneyyaṃ? Catubbidhānaṃ vacīduccaritānaṃ pahānaṃ vacīmoneyyaṃ, catubbidhaṃ vacīsucaritaṃ vacīmoneyyaṃ, vācārammaṇe ñāṇaṃ vacīmoneyyaṃ, vācāpariññā vacīmoneyyaṃ, pariññāsahagato maggo vacīmoneyyaṃ, vācāya chandarāgassa pahānaṃ vacīmoneyyaṃ, vacīsaṅkhāranirodho dutiyajjhānasamāpatti vacīmoneyyaṃ – idaṃ vacīmoneyyaṃ.
What is sagehood of speech? The abandoning of the fourfold verbal misconduct is sagehood of speech; the fourfold verbal good conduct is sagehood of speech; knowledge regarding speech as an object is sagehood of speech; full understanding of speech is sagehood of speech; the path accompanied by full understanding is sagehood of speech; the abandoning of desire and lust for speech is sagehood of speech; the cessation of verbal formations, which is the attainment of the second jhāna, is sagehood of speech—this is sagehood of speech.
Khẩu ẩn sĩ là gì? Sự từ bỏ bốn loại khẩu ác hạnh là khẩu ẩn sĩ, bốn loại khẩu thiện hạnh là khẩu ẩn sĩ, trí tuệ về đối tượng lời nói là khẩu ẩn sĩ, sự liễu tri lời nói là khẩu ẩn sĩ, đạo lộ đi cùng với sự liễu tri là khẩu ẩn sĩ, sự từ bỏ tham dục đối với lời nói là khẩu ẩn sĩ, sự chứng đắc Nhị thiền là sự chấm dứt của khẩu hành là khẩu ẩn sĩ – đây là khẩu ẩn sĩ.
Katamaṃ manomoneyyaṃ? Tividhānaṃ manoduccaritānaṃ pahānaṃ manomoneyyaṃ, tividhaṃ manosucaritaṃ manomoneyyaṃ, cittārammaṇe ñāṇaṃ manomoneyyaṃ, cittapariññā manomoneyyaṃ, pariññāsahagato maggo manomoneyyaṃ, citte chandarāgassa pahānaṃ manomoneyyaṃ, cittasaṅkhāranirodho saññāvedayitanirodhasamāpatti manomoneyyaṃ – idaṃ manomoneyyaṃ.
What is sagehood of mind? The abandoning of the threefold misconduct of mind is sagehood of mind; the threefold good conduct of mind is sagehood of mind; knowledge regarding the mind as an object is sagehood of mind; full understanding of the mind is sagehood of mind; the path accompanied by full understanding is sagehood of mind; the abandoning of desire and lust for the mind is sagehood of mind; the cessation of mental formations, which is the attainment of the cessation of perception and feeling, is sagehood of mind—this is sagehood of mind.
Ý ẩn sĩ là gì? Sự từ bỏ ba loại ý ác hạnh là ý ẩn sĩ, ba loại ý thiện hạnh là ý ẩn sĩ, trí tuệ về đối tượng tâm là ý ẩn sĩ, sự liễu tri tâm là ý ẩn sĩ, đạo lộ đi cùng với sự liễu tri là ý ẩn sĩ, sự từ bỏ tham dục đối với tâm là ý ẩn sĩ, sự chứng đắc Diệt tận định là sự chấm dứt của tâm hành là ý ẩn sĩ – đây là ý ẩn sĩ.
‘‘Kāyamuniṃ vācāmuniṃ, manomunimanāsavaṃ;
Muniṃ moneyyasampannaṃ, āhu sabbappahāyinaṃ.
One who is a sage of body, a sage of speech, a sage of mind, taintless, a sage endowed with sagehood—him they call one who has abandoned all.
“Vị trầm lặng về thân, vị trầm lặng về lời nói, vị trầm lặng về ý không lậu hoặc; vị ẩn sĩ đầy đủ sự trầm lặng, họ gọi là người đã từ bỏ tất cả.”
‘‘Kāyamuniṃ vācāmuniṃ, manomunimanāsavaṃ;
Muniṃ moneyyasampannaṃ, āhu ninhātapāpaka’’nti †.
One who is a sage of body, a sage of speech, a sage of mind, taintless, a sage endowed with sagehood—him they call one who has washed away evil.
“Vị trầm lặng về thân, vị trầm lặng về lời nói, vị trầm lặng về ý không lậu hoặc; vị ẩn sĩ đầy đủ sự trầm lặng, họ gọi là người đã gột sạch các điều ác.”
Imehi tīhi moneyyehi dhammehi samannāgatā cha munino † – agāramunino, anagāramunino, sekhamunino, asekhamunino, paccekamunino, munimuninoti †. Katame agāramunino? Ye te agārikā diṭṭhapadā viññātasāsanā – ime agāramunino. Katame anagāramunino? Ye te pabbajitā diṭṭhapadā viññātasāsanā – ime anagāramunino. Satta sekhā sekhamunino, arahanto asekhamunino. Paccekabuddhā paccekamunino. Munimunino vuccanti tathāgatā arahanto sammāsambuddhā.
Endowed with these three qualities of a sage, there are six kinds of sages: householder sages, homeless sages, trainee sages, adept sages, solitary sages, and the sage of sages. Who are the householder sages? Those householders who have seen the state and understood the teaching—these are the householder sages. Who are the homeless sages? Those who have gone forth who have seen the state and understood the teaching—these are the homeless sages. The seven trainees are the trainee sages. The Arahants are the adept sages. The Paccekabuddhas are the solitary sages. The sage of sages are called the Tathāgatas, the Arahants, the Perfectly Self-Enlightened Ones.
Có sáu hạng ẩn sĩ được trang bị ba pháp trầm lặng này, đó là: ẩn sĩ tại gia, ẩn sĩ không nhà, ẩn sĩ hữu học, ẩn sĩ vô học, ẩn sĩ Độc Giác, và ẩn sĩ của các ẩn sĩ. Thế nào là các ẩn sĩ tại gia? Những người tại gia đã thấy được dấu chân (Niết-bàn), đã hiểu rõ giáo pháp – đây là các ẩn sĩ tại gia. Thế nào là các ẩn sĩ không nhà? Những người xuất gia đã thấy được dấu chân (Niết-bàn), đã hiểu rõ giáo pháp – đây là các ẩn sĩ không nhà. Bảy bậc hữu học là các ẩn sĩ hữu học, các vị A-la-hán là các ẩn sĩ vô học. Các vị Phật Độc Giác là các ẩn sĩ Độc Giác. Các đấng Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác được gọi là ẩn sĩ của các ẩn sĩ.
‘‘Na monena muni hoti, mūḷharūpo aviddasu;
Yo ca tulaṃva paggayha, varamādāya paṇḍito.
One does not become a sage by silence, if one is of bewildered nature and ignorant; but the wise one, who, as if holding up a balance, takes what is excellent.
“Không phải do im lặng mà thành ẩn sĩ, đối với người có bản chất si mê, không hiểu biết. Vị nào là bậc trí, như cầm cái cân, lấy điều cao thượng.”
‘‘Pāpāni parivajjeti, sa muni tena so muni;
Yo munāti ubho loke, muni tena pavuccati.
He avoids evil; for that he is a sage. He who knows both worlds is thereby called a sage.
“Tránh xa các điều ác, vị ấy là ẩn sĩ, do đó vị ấy là ẩn sĩ. Vị nào biết rõ cả hai thế gian, do đó được gọi là ẩn sĩ.”
‘‘Asatañca satañca ñatvā dhammaṃ, ajjhattaṃ bahiddhā ca sabbaloke;
Devamanussehi pūjito yo, saṅgajālamaticca so muni’’.
Having known the Dhamma of the unvirtuous and the virtuous, internally and externally in all the world, he who is honored by gods and humans, having transcended the net of attachment—he is a sage.
“Vị nào biết được pháp của người bất thiện và người thiện, ở bên trong và bên ngoài trong tất cả thế gian; vị ấy được chư thiên và loài người cúng dường, đã vượt qua mạng lưới của sự dính mắc, vị ấy là ẩn sĩ.”
Vippamuttoti munino rāgā cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ; dosā cittaṃ… mohā cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ…pe… sabbākusalābhisaṅkhārehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttanti – sa pannabhāro muni vippamutto.
‘Fully released’ means: the sage’s mind is freed from passion, especially freed, well and especially freed; from aversion, the mind is freed… from delusion, the mind is freed, especially freed, well and especially freed… from all unwholesome formations, the mind is freed, especially freed, well and especially freed. Thus, that sage has laid down the burden and is fully released.
(Về từ) 'hoàn toàn giải thoát' (nghĩa là) tâm của vị ẩn sĩ đã thoát khỏi, đã giải thoát, đã khéo giải thoát khỏi tham; tâm... khỏi sân; tâm đã thoát khỏi, đã giải thoát, đã khéo giải thoát khỏi si; ... cho đến ... tâm đã thoát khỏi, đã giải thoát, đã khéo giải thoát khỏi tất cả các hành bất thiện – vị ấy là người đã đặt gánh nặng xuống, là vị ẩn sĩ đã hoàn toàn giải thoát.
Na kappiyo nūparato na patthiyoti bhagavāti. Kappāti dve kappā – taṇhākappo ca diṭṭhikappo ca…pe… ayaṃ taṇhākappo…pe… ayaṃ diṭṭhikappo. Tassa taṇhākappo pahīno, diṭṭhikappo paṭinissaṭṭho; taṇhākappassa pahīnattā diṭṭhikappassa paṭinissaṭṭhattā taṇhākappaṃ vā diṭṭhikappaṃ vā na kappeti na janeti na sañjaneti na nibbatteti nābhinibbattetīti – na kappiyo. Nūparatoti. Sabbe bālaputhujjanā rajjanti, puthujjanakalyāṇakaṃ upādāya satta sekhā appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya āramanti viramanti paṭiviramanti, arahā ārato virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – na kappiyo nūparato. Na patthiyoti. Patthanā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yassesā patthanā taṇhā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati na patthiyo.
The Blessed One does not conceive, is at rest, and does not yearn. 'Conceive' (kappiyo): There are two conceptions (kappā)—the conception of craving and the conception of wrong view… this is the conception of craving… this is the conception of wrong view. For that person, the conception of craving is abandoned, and the conception of wrong view is relinquished. Because the conception of craving has been abandoned and the conception of wrong view has been relinquished, he does not form, generate, produce, bring into existence, or bring into full existence any conception of craving or conception of wrong view—thus, he is 'one who does not conceive' (na kappiyo). 'At rest' (nūparato): All foolish worldlings are attached. Taking into account the virtuous worldling, the seven trainees delight, especially delight, and again delight in the attainment of the unattained, the realization of the unrealized, and the direct experience of the unexperienced. But the Arahant is detached, especially detached, and again detached; he has gone forth, is released, is fully released, is disjoined, and dwells with a mind that is without boundaries—this is the meaning of 'one who does not conceive, at rest' (na kappiyo nūparato). 'Does not yearn' (na patthiyo): Yearning (patthanā) is a name for craving. That which is lust, intense lust… covetousness, greed, the unwholesome root. For whom this yearning, this craving, is abandoned, utterly cut off, pacified, stilled, unable to arise again, and burned by the fire of knowledge, he is called 'one who does not yearn' (na patthiyo).
Về câu 'Thế Tôn không còn suy tính, không còn dừng lại, không còn mong cầu'. (Về từ) 'suy tính' (kappa), có hai loại suy tính: suy tính do tham ái và suy tính do tà kiến... cho đến... đây là suy tính do tham ái... cho đến... đây là suy tính do tà kiến. Vị ấy đã đoạn trừ suy tính do tham ái, đã từ bỏ suy tính do tà kiến; do đã đoạn trừ suy tính do tham ái, do đã từ bỏ suy tính do tà kiến, vị ấy không tạo ra, không làm cho sanh khởi, không làm cho phát sanh, không làm cho hiện hữu, không làm cho hiển nhiên hiện hữu suy tính do tham ái hay suy tính do tà kiến – (do đó gọi là) 'không còn suy tính'. (Về từ) 'không còn dừng lại'. Tất cả kẻ phàm phu ngu dốt đều tham đắm; kể từ hạng thiện phàm phu, bảy bậc hữu học nỗ lực, tinh tấn, chuyên cần để đạt được điều chưa đạt, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ, để thực chứng điều chưa thực chứng; còn vị A-la-hán đã xa lìa, đã từ bỏ, đã hoàn toàn từ bỏ, đã thoát ra, đã lìa khỏi, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên hệ, vị ấy trú với tâm không còn giới hạn – (do đó gọi là) 'không còn suy tính, không còn dừng lại'. (Về từ) 'không còn mong cầu'. Sự mong cầu được gọi là tham ái. Tức là sự tham muốn, sự tham đắm... cho đến... tham lam, tham dục, là gốc rễ bất thiện. Người nào đã đoạn trừ, cắt đứt, làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh, không còn khả năng tái sanh, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ đối với sự mong cầu là tham ái ấy, vị ấy được gọi là 'người không còn mong cầu'.
Bhagavāti gāravādhivacanaṃ. Api ca bhaggarāgoti bhagavā, bhaggadosoti bhagavā, bhaggamohoti bhagavā, bhaggamānoti bhagavā, bhaggadiṭṭhīti bhagavā, bhaggakaṇḍakoti bhagavā, bhaggakilesoti bhagavā, bhaji vibhaji pavibhaji dhammaratananti bhagavā, bhavānaṃ antakaroti bhagavā, bhāvitakāyo bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapaññoti bhagavā; bhāgī vā bhagavā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppānīti bhagavā, bhāgī vā bhagavā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā attharasassa dhammarasassa vimuttirasassa adhisīlassa adhicittassa adhipaññāyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ jhānānaṃ catunnaṃ appamaññānaṃ catunnaṃ arūpasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā aṭṭhannaṃ vimokkhānaṃ aṭṭhannaṃ abhibhāyatanānaṃ navannaṃ anupubbavihārasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ saññābhāvanānaṃ dasannaṃ kasiṇasamāpattīnaṃ ānāpānassatisamādhissa asubhasamāpattiyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ catunnaṃ sammappadhānānaṃ catunnaṃ iddhipādānaṃ pañcannaṃ indriyānaṃ pañcannaṃ balānaṃ sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ tathāgatabalānaṃ catunnaṃ vesārajjānaṃ catunnaṃ paṭisambhidānaṃ channaṃ abhiññānaṃ channaṃ buddhadhammānanti bhagavā, bhagavāti netaṃ nāmaṃ mātarā kataṃ na pitarā kataṃ na bhātarā kataṃ na bhaginiyā kataṃ na mittāmaccehi kataṃ na ñātisālohitehi kataṃ na samaṇabrāhmaṇehi kataṃ na devatāhi kataṃ; vimokkhantikametaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ bodhiyā mūle saha sabbaññutaññāṇassa paṭilābhā sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti – na kappiyo nūparato na patthiyo iti bhagavā.
Bhagavā is a term of reverence. Furthermore, because He has broken passion, He is called the Blessed One; because He has broken hatred, He is called the Blessed One; because He has broken delusion, He is called the Blessed One; because He has broken conceit, He is called the Blessed One; because He has broken wrong views, He is called the Blessed One; because He has broken the thorn of defilements, He is called the Blessed One; because He has broken the defilements, He is called the Blessed One. Because He attended to, attended to in particular, and attended to in detail the jewel of the Dhamma, He is called the Blessed One. Because He makes an end of states of existence, He is called the Blessed One. Because He has a developed body, developed virtue, developed mind, and developed wisdom, He is called the Blessed One. Or, because He was a partaker of remote forest and woodland lodgings that are quiet, with little noise, free from the bustle of people, suitable for a person's seclusion, and fitting for solitude, He is called the Blessed One. Or, because He was a partaker of the requisites of robes, alms-food, lodging, and medicine for the sick, He is called the Blessed One. Or, because He was a partaker of the essence of the goal, the essence of the Dhamma, the essence of liberation, of higher virtue, of higher mind, and of higher wisdom, He is called the Blessed One. Or, because He was a partaker of the four jhānas, the four immeasurables, and the four formless attainments, He is called the Blessed One. Or, because He was a partaker of the eight liberations, the eight spheres of mastery, and the nine successive dwelling attainments, He is called the Blessed One. Or, because He was a partaker of the ten developments of perception, the ten kasiṇa attainments, the concentration of mindfulness of breathing, and the attainment of foulness, He is called the Blessed One. Or, because He analyzed the four foundations of mindfulness, the four right strivings, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the Noble Eightfold Path, He is called the Blessed One. Or, because He was a partaker of the ten powers of a Tathāgata, the four confidences, the four analytical knowledges, the six supernormal knowledges, and the six qualities unique to a Buddha, He is called the Blessed One. This name 'Bhagavā' was not given by His mother, not given by His father, not given by His brother, not given by His sister, not given by His friends and companions, not given by His kinsmen and relatives, not given by ascetics and brahmins, nor by the devas. This designation 'Bhagavā' is one that is final in liberation, a realized designation for the Buddhas, the Blessed Ones, that arises at the foot of the Bodhi tree together with the attainment of the knowledge of omniscience. He is not subject to craving, not given to indulgence, not full of longing—thus is the Blessed One.
‘Thế Tôn’ là một từ tôn kính. Hơn nữa, ‘Thế Tôn’ là vì Ngài đã bẻ gãy tham, ‘Thế Tôn’ là vì Ngài đã bẻ gãy sân, ‘Thế Tôn’ là vì Ngài đã bẻ gãy si, ‘Thế Tôn’ là vì Ngài đã bẻ gãy mạn, ‘Thế Tôn’ là vì Ngài đã bẻ gãy tà kiến, ‘Thế Tôn’ là vì Ngài đã bẻ gãy gai góc (phiền não), ‘Thế Tôn’ là vì Ngài đã bẻ gãy phiền não; ‘Thế Tôn’ là vì Ngài đã phân tích, phân chia, phân loại pháp bảo; ‘Thế Tôn’ là vì Ngài là người chấm dứt các cõi hữu; ‘Thế Tôn’ là vì Ngài đã tu tập thân, đã tu tập giới, đã tu tập tâm, đã tu tập tuệ; hoặc ‘Thế Tôn’ là vì Ngài là người có phần trong các trú xứ nơi rừng núi, xa vắng, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng người qua lại, thích hợp cho việc ẩn dật, thuận lợi cho việc thiền định; hoặc ‘Thế Tôn’ là vì Ngài là người có phần trong y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; hoặc ‘Thế Tôn’ là vì Ngài là người có phần trong vị của nghĩa, vị của pháp, vị của giải thoát, trong tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ; hoặc ‘Thế Tôn’ là vì Ngài là người có phần trong bốn thiền, bốn vô lượng tâm, bốn thiền vô sắc; hoặc ‘Thế Tôn’ là vì Ngài là người có phần trong tám giải thoát, tám thắng xứ, chín thứ đệ trú thiền; hoặc ‘Thế Tôn’ là vì Ngài là người có phần trong mười tưởng tu tập, mười biến xứ thiền, định niệm hơi thở, thiền quán bất tịnh; hoặc ‘Thế Tôn’ là vì Ngài là người có phần trong bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành; hoặc ‘Thế Tôn’ là vì Ngài là người có phần trong mười lực Như Lai, bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, sáu thần thông, sáu pháp của Phật. Danh hiệu ‘Thế Tôn’ này không phải do mẹ đặt, không phải do cha đặt, không phải do anh em đặt, không phải do chị em đặt, không phải do bạn bè thân hữu đặt, không phải do quyến thuộc đặt, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn đặt, không phải do chư thiên đặt; danh hiệu ‘Thế Tôn’ này là một sự quy định thực chứng, là điểm cuối cùng của sự giải thoát của các Đức Phật, các đấng Thế Tôn, phát sanh cùng với sự chứng đắc nhất thiết trí tại cội Bồ-đề – (do đó) Thế Tôn không còn suy tính, không còn dừng lại, không còn mong cầu.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Sa sabbadhammesu visenibhūto, yaṃ kiñci diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā;
Sa pannabhāro muni vippamutto, na kappiyo nūparato na patthiyo’’.[iti bhagavāti]
“He is detached from all dhammas, from whatever is seen, heard, or cognized; with his burden dropped, the sage is freed, not subject to craving, not given to indulgence, not full of longing.”
“Vị ấy không còn dính mắc trong tất cả các pháp, đối với bất cứ điều gì được thấy, được nghe, hay được nhận thức; vị ấy đã đặt gánh nặng xuống, là vị ẩn sĩ đã hoàn toàn giải thoát, không còn suy tính, không còn dừng lại, không còn mong cầu.” [Như vậy là Đức Thế Tôn].
The thirteenth exposition, the Mahāviyūha Sutta Niddesa, is completed.
Phần giải thích kinh Đại Tập Hợp, thứ mười ba, đã hoàn tất.