Bản dịch
MND 12 — Diễn Giải Kinh Sự Dàn Trận Nhỏ
12. Cūḷabyūhasuttaniddesa
Giờ phần Diễn Giải Kinh ‘Sự Dàn Trận Nhỏ’ được nói đến:
Trong khi sống theo quan điểm riêng của từng cá nhân, nhiều vị (tự xưng là) thiện xảo, giữ khư khư (quan điểm của mình), nói khác nhau rằng: Người nào nhận biết như vầy, người ấy đã hiểu biết pháp. Kẻ khinh miệt điều này, kẻ ấy là không toàn hảo .
Trong khi sống theo quan điểm riêng của từng cá nhân – Có một số Sa-môn và Bà-la-môn là những người theo tà kiến. Các vị ấy chấp nhận, tiếp thu, nắm lấy, bám víu, cố chấp một tà kiến nào đó trong số 62 tà kiến, rồi sống, cộng trú, thường trú, cư trú theo tà kiến của riêng mình. Giống như những người tại gia sống trong các ngôi nhà, những người có tội lỗi sống trong các tội lỗi, những người có ô nhiễm sống trong các ô nhiễm, tương tợ y như thế, có một số Sa-môn và Bà-la-môn là những người theo tà kiến. Các vị ấy chấp nhận, tiếp thu, nắm lấy, bám víu, cố chấp một tà kiến nào đó trong số 62 tà kiến, rồi sống, cộng trú, thường trú, cư trú theo tà kiến của riêng mình; – ‘trong khi sống theo quan điểm riêng của từng cá nhân’ là như thế.
Nhiều vị (tự xưng là) thiện xảo, giữ khư khư (quan điểm của mình), nói khác nhau rằng – Giữ khư khư (quan điểm của mình) : sau khi chấp nhận, sau khi tiếp thu, sau khi nắm lấy, sau khi bám víu, sau khi cố chấp (quan điểm của mình), rồi nói khác nhau, nói khác biệt, nói cách này cách khác, nói một cách riêng biệt, nói, thuyết giảng, phát ngôn, diễn giải, diễn tả không đồng nhất. Thiện xảo : là có học thuyết thiện xảo, có học thuyết sáng suốt, có học thuyết vững chắc, có học thuyết đúng đắn, có học thuyết nhân (quả), có học thuyết rõ rệt, có học thuyết gương mẫu, có học thuyết nền tảng theo quan niệm của mình; – ‘nhiều vị (tự xưng là) thiện xảo, giữ khư khư (quan điểm của mình), nói khác nhau rằng’ là như thế.
Người nào nhận biết như vầy, người ấy đã hiểu biết pháp : Người nào nhận biết pháp, quan điểm, cách thực hành, đạo lộ này, người ấy đã hiểu biết, đã biết được, đã nhìn thấy, đã thấu triệt pháp; – ‘người nào nhận biết như vầy, người ấy đã hiểu biết pháp’ là như thế.
Kẻ khinh miệt điều này, kẻ ấy là không toàn hảo – Kẻ nào khinh miệt pháp, quan điểm, cách thực hành, đạo lộ này, kẻ ấy là không toàn hảo, không đầy đủ, không tròn đủ, là thấp hèn, hèn kém, thấp kém, thấp thỏi, tồi tệ, nhỏ nhoi; – ‘kẻ khinh miệt điều này, kẻ ấy là không toàn hảo’ là như thế.
Vì thế, vị (Phật) do thần thông biến hóa ra đã hỏi rằng:
“ Trong khi sống theo quan điểm riêng của từng cá nhân, nhiều vị (tự xưng là) thiện xảo, giữ khư khư (quan điểm của mình), nói khác nhau rằng: -Người nào nhận biết như vầy, người ấy đã hiểu biết pháp. Kẻ khinh miệt điều này, kẻ ấy là không toàn hảo. ”
Sau khi giữ khư khư (quan điểm của mình) như vậy, chúng tranh cãi, và đã nói rằng: ‘Người khác là ngu si, không thiện xảo.’ Vậy thì lời nói nào trong số này là sự thật, bởi vì tất cả những người này đều tuyên bố (họ) là thiện xảo?
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi giữ khư khư (quan điểm của mình) như vậy, chúng tranh cãi, và đã nói rằng: ‘Người khác là ngu si, không thiện xảo.’ Vậy thì lời nói nào trong số này là sự thật, bởi vì tất cả những người này đều tuyên bố (họ) là thiện xảo? ”
Nếu kẻ không thừa nhận pháp của người khác
là ngu si, là loài thú, là có tuệ thấp kém,
thì tất cả quả là những kẻ ngu si, có tuệ vô cùng thấp kém,
tất cả những người này quả đang sống theo quan điểm (của mình) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nếu kẻ không thừa nhận pháp của người khác
là ngu si, là loài thú, là có tuệ thấp kém,
thì tất cả quả là những kẻ ngu si, có tuệ vô cùng thấp kém,
tất cả những người này quả đang sống theo quan điểm (của mình) .”
Và nếu do quan điểm của mình, những kẻ không trong sạch
trở nên có tuệ thanh tịnh, thiện xảo, có sự nhận thức,
thì không ai trong số họ là có tuệ hoàn toàn thấp kém,
bởi vì quan điểm của họ đã được thâu nhận cũng là như thế ấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Và nếu do quan điểm của mình, những kẻ không trong sạch
trở nên có tuệ thanh tịnh, thiện xảo, có sự nhận thức,
thì không ai trong số họ là có tuệ hoàn toàn thấp kém,
bởi vì quan điểm của họ đã được thâu nhận cũng là như thế ấy .”
Nhưng Ta không nói rằng: ‘Điều ấy là bản thể thật,’
là điều mà các kẻ ngu đã nói đối chọi lẫn nhau.
Họ đã tạo lập quan điểm riêng của từng cá nhân là chân lý,
chính vì điều ấy, họ xem người khác là ‘kẻ ngu si.’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nhưng Ta không nói rằng: ‘Điều ấy là bản thể thật,’
là điều mà các kẻ ngu đã nói đối chọi lẫn nhau.
Họ đã tạo lập quan điểm riêng của từng cá nhân là chân lý,
chính vì điều ấy, họ xem người khác là ‘kẻ ngu si. ’”
Điều mà một số kẻ đã nói: ‘Là sự thật, là bản thể thật,’
những kẻ khác đã nói điều ấy: ‘Là rỗng không, là sai trái.’
Sau khi giữ khư khư (quan điểm của mình) như vậy, họ tranh cãi.
Vì sao các vị Sa-môn nói không đồng nhất?
Điều mà một số kẻ đã nói: ‘Là sự thật, là bản thể thật’ – Giáo pháp, quan điểm, cách thực hành, đạo lộ nào mà một số Sa-môn và Bà-la-môn đã nói như vậy, thuyết như vậy, phát ngôn như vậy, diễn giải như vậy, diễn tả như vậy (rằng): ‘Điều này là đúng đắn, là thực thể, là đang xảy ra, là xác đáng, là không bị sai lệch’; – ‘điều mà một số kẻ đã nói: ‘Là sự thật, là bản thể thật’ là như thế.
Những kẻ khác đã nói điều ấy: ‘Là rỗng không, là sai trái’ – Một số Sa-môn và Bà-la-môn đã nói như vậy, thuyết như vậy, phát ngôn như vậy, diễn giải như vậy, diễn tả như vậy về giáo pháp, quan điểm, cách thực hành, đạo lộ ấy rằng: ‘Điều ấy là rỗng không, điều ấy là sai trái, điều ấy là không xảy ra, điều ấy là không thật, điều ấy là không xác đáng; – ‘những kẻ khác đã nói điều ấy: ‘Là rỗng không, là sai trái’ là như thế.
Sau khi giữ khư khư (quan điểm của mình) như vậy, họ tranh cãi – Sau khi chấp nhận, sau khi tiếp thu, sau khi nắm lấy, sau khi bám víu, sau khi cố chấp (quan điểm của mình) như vậy, họ tranh cãi, họ gây ra sự cãi cọ, gây ra sự cãi lộn, gây ra sự cãi vã, gây ra sự tranh cãi, gây ra sự gây gỗ rằng: ‘Ngươi không biết Pháp và Luật này —nt— hoặc ngươi hãy gỡ rối nếu ngươi có khả năng; – ‘sau khi giữ khư khư (quan điểm của mình) như vậy, họ tranh cãi’ là như thế.
Vì sao các vị Sa-môn nói không đồng nhất? – Vì sao : là vì điều gì, bởi lý do gì, bởi nhân gì, bởi duyên gì, bởi căn nguyên gì, bởi nhân sanh khởi gì, bởi mầm sanh khởi gì, bởi nguồn sanh khởi gì, họ nói không đồng nhất, nói khác nhau, nói khác biệt, nói cách này cách khác, nói, thuyết giảng, phát ngôn, diễn giải, diễn tả một cách riêng biệt; – ‘vì sao các vị Sa-môn nói không đồng nhất?’ là như thế.
Vì thế, vị (Phật) do thần thông biến hóa ra đã hỏi rằng:
“ Điều mà một số kẻ đã nói: ‘Là sự thật, là bản thể thật,’
những kẻ khác đã nói điều ấy: ‘Là rỗng không, là sai trái.’
Sau khi giữ khư khư (quan điểm của mình) như vậy, họ tranh cãi.
Vì sao các vị Sa-môn nói không đồng nhất? ”
Bởi vì Sự Thật chỉ có một, không có cái thứ nhì,
trong khi nhận biết về Sự Thật ấy, loài người sẽ không tranh cãi.
Chúng tự mình kể lể về các sự thật khác nhau;
vì thế, các vị Sa-môn nói không đồng nhất .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bởi vì Sự Thật chỉ có một, không có cái thứ nhì,
trong khi nhận biết về Sự Thật ấy, loài người sẽ không tranh cãi.
Chúng tự mình kể lể về các sự thật khác nhau;
vì thế, các vị Sa-môn nói không đồng nhất .”
Nhưng vì sao họ, những nhà biện luận tuyên bố (mình) là thiện xảo, lại nói về các sự thật khác nhau? Phải chăng các sự thật đã được nghe là có nhiều và khác nhau? Hay là các vị ấy theo đuổi sự suy tư (của riêng mình)?
Vì thế, vị (Phật) do thần thông biến hóa ra đã hỏi rằng:
“ Nhưng vì sao họ, những nhà biện luận tuyên bố (mình) là thiện xảo, lại nói về các sự thật khác nhau? Phải chăng các sự thật đã được nghe là có nhiều và khác nhau? Hay là các vị ấy theo đuổi sự suy tư (của riêng mình)? ”
“ Đương nhiên là không có nhiều sự thật khác nhau và thường còn ở thế gian, ngoại trừ (các sự thật) do tưởng (tạo ra). Và sau khi xếp đặt sự suy tư về các quan điểm (do chúng tạo ra), chúng đã nói về hai pháp là: ‘Đúng và sai.’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đương nhiên là không có nhiều sự thật khác nhau và thường còn ở thế gian, ngoại trừ (các sự thật) do tưởng (tạo ra). Và sau khi xếp đặt sự suy tư về các quan điểm (do chúng tạo ra), chúng đã nói về hai pháp là: đúng và sai. ”
Liên quan đến điều đã được thấy, đến điều đã được nghe, đến giới và phận sự, hoặc đến điều đã được cảm giác, sau khi nương tựa vào những điều này, rồi có sự coi khinh (người khác), sau khi ỷ vào các sự phán đoán, trong lúc hớn hở, (kẻ ấy) đã nói rằng: ‘Người khác là ngu si, là không thiện xảo.’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Liên quan đến điều đã được thấy, đến điều đã được nghe, đến giới và phận sự, hoặc đến điều đã được cảm giác, sau khi nương tựa vào những điều này, rồi có sự coi khinh (người khác), sau khi ỷ vào các sự phán đoán, trong lúc hớn hở, (kẻ ấy) đã nói rằng: ‘Người khác là ngu si, là không thiện xảo.’ ”
Bởi chính lý do nào mà kẻ ấy đánh giá người khác là ‘ngu si,’
thì bởi lý do ấy kẻ ấy đã nói về bản thân là ‘thiện xảo.’
Kẻ ấy, trong khi tự mình tuyên bố chính mình là thiện xảo,
rồi khinh thường người khác và phát biểu điều ấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bởi chính lý do nào mà kẻ ấy đánh giá người khác là ‘ngu si,’
thì bởi lý do ấy kẻ ấy đã nói về bản thân là ‘thiện xảo.’
Kẻ ấy, trong khi tự mình tuyên bố chính mình là thiện xảo,
rồi khinh thường người khác và phát biểu điều ấy .”
Với quan điểm vượt quá giới hạn, kẻ ấy được thỏa mãn,
bị say đắm vì ngã mạn, có sự tự cao là toàn vẹn,
rồi tự chính mình đăng quang cho mình bằng tâm ý;
chính quan điểm ấy của kẻ ấy đã được thâu nhận như thế .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Với quan điểm vượt quá giới hạn, kẻ ấy được thỏa mãn,
bị say đắm vì ngã mạn, có sự tự cao là toàn vẹn,
rồi tự chính mình đăng quang cho mình bằng tâm ý;
chính quan điểm ấy của kẻ ấy đã được thâu nhận như thế .”
Bởi vì, nếu do lời nói của kẻ khác mà trở thành thấp kém,
thì bản thân, do điều ấy [1] (cũng) trở thành có tuệ thấp kém.
Còn nếu do (lời nói) của mình mà trở thành người thông hiểu, sáng trí,
thì không có bất cứ người nào là kẻ ngu trong số các vị Sa-môn .
[1] Do việc kẻ khác cũng khinh chê lại người này như vậy (SnA. ii, 256).
Bởi vì, nếu do lời nói của kẻ khác mà trở thành thấp kém – Nếu do lời nói, do việc nói, bởi lý do bị chê bai, bởi lý do bị chê trách, bởi lý do bị gièm pha của kẻ khác, mà người khác trở thành ngu si, thấp hèn, hèn kém, thấp kém, thấp thỏi, tồi tệ, nhỏ nhoi; – ‘bởi vì, nếu do lời nói của kẻ khác mà trở thành thấp kém’ là như thế.
Thì bản thân, do điều ấy (cũng) trở thành có tuệ thấp kém – Kẻ ấy, cũng do chính điều ấy, trở thành có tuệ ngu si, có tuệ thấp hèn, có tuệ hèn kém, có tuệ thấp kém, có tuệ thấp thỏi, có tuệ tồi tệ, có tuệ nhỏ nhoi; – ‘thì bản thân, do điều ấy (cũng) trở thành có tuệ thấp kém’ là như thế.
Còn nếu do (lời nói) của mình mà trở thành người thông hiểu, sáng trí – Còn nếu d0 tự mình mà trở thành người thông hiểu, sáng trí, sáng suốt, có tuệ, có sự giác ngộ, có trí, có sự rành rẽ, có sự thông minh; – ‘còn nếu do (lời nói) của mình mà trở thành người thông hiểu, sáng trí’ là như thế.
Thì không có bất cứ người nào là kẻ ngu trong số các vị Sa-môn – thì trong số các vị Sa-môn, không có người nào là ngu si, thấp hèn, hèn kém, thấp kém, thấp thỏi, tồi tệ, nhỏ nhoi, toàn bộ tất cả (các vị ấy) đều có tuệ nhất hạng, có tuệ thù thắng, có tuệ dẫn đầu, có tuệ tối thượng, có tuệ cao quý; – ‘thì không có bất cứ người nào là kẻ ngu trong số các vị Sa-môn’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bởi vì, nếu do lời nói của kẻ khác mà trở thành thấp kém,
thì bản thân, do điều ấy (cũng) trở thành có tuệ thấp kém.
Còn nếu do (lời nói) của mình mà trở thành người thông hiểu, sáng trí,
thì không có bất cứ người nào là kẻ ngu trong số các vị Sa-môn .”
Những kẻ nào thuyết về pháp nào khác so với điều này,
những kẻ ấy bị thất bại về (đạo lộ) trong sạch, chúng không toàn hảo.
Những kẻ ngoại đạo cũng nói như vậy theo nhiều cách khác nhau,
bởi vì chúng bị nhiễm nặng do sự luyến ái với quan điểm của mình .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Những kẻ nào thuyết về pháp nào khác so với điều này,
những kẻ ấy bị thất bại về (đạo lộ) trong sạch, chúng không toàn hảo.
Những kẻ ngoại đạo cũng nói như vậy theo nhiều cách khác nhau,
bởi vì chúng bị nhiễm nặng do sự luyến ái với quan điểm của mình. ”
‘Chỉ nơi đây có sự trong sạch,’ chúng nói như thế ấy;
chúng đã nói sự thanh tịnh không có ở các giáo pháp khác.
Những kẻ ngoại đạo cũng đã gầy dựng như vậy theo kiểu cách riêng
về đường lối của chúng, trong khi nói một cách chắc chắn về điều ấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ ‘Chỉ nơi đây có sự trong sạch,’ chúng nói như thế ấy;
chúng đã nói sự thanh tịnh không có ở các giáo pháp khác.
Những kẻ ngoại đạo cũng đã gầy dựng như vậy theo kiểu cách riêng
về đường lối của chúng, trong khi nói một cách chắc chắn về điều ấy. ”
Và trong khi nói một cách chắc chắn về đường lối của chúng,
người nào khác ở đó mà kẻ ấy có thể đánh giá là ‘ngu si’?
Kẻ ấy tự chính mình đem lại sự gây gổ,
trong khi nói người khác là ngu si, (kẻ ấy) là có pháp không trong sạch .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Và trong khi nói một cách chắc chắn về đường lối của chúng,
người nào khác ở đó mà kẻ ấy có thể đánh giá là ‘ngu si’?
Kẻ ấy tự chính mình đem lại sự gây gổ,
trong khi nói người khác là ngu si, (kẻ ấy) là có pháp không trong sạch .”
Sau khi đứng vững ở sự phán đoán, sau khi tự mình ước lượng,
kẻ ấy đi đến sự tranh cãi còn ở phía trước ở thế gian.
Sau khi từ bỏ tất cả các sự phán đoán,
con người không tạo ra sự gây gổ ở thế gian .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi đứng vững ở sự phán đoán, sau khi tự mình ước lượng,
kẻ ấy đi đến sự tranh cãi còn ở phía trước ở thế gian.
Sau khi từ bỏ tất cả các sự phán đoán,
con người không tạo ra sự gây gổ ở thế gian .”
Diễn Giải Kinh Sự Dàn Trận Nhỏ được đầy đủ - phần thứ mười hai .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Parassa ce dhammamanānujānaṃ, bālomako hoti nihīnapañño;
Sabbeva bālā sunihīnapaññā, sabbevime diṭṭhiparibbasānā.
If one does not approve of another's doctrine, one is a contemptible fool of inferior wisdom. All are fools of utterly inferior wisdom; all these are entrenched in their views.
“Và nếu không thừa nhận Pháp của người khác, người ấy trở thành kẻ ngu si, tồi tệ, có trí tuệ thấp kém. Tất cả đều là những kẻ ngu, có trí tuệ rất thấp kém; tất cả những người này đều sống trong tà kiến.”
Parassa ce dhammamanānujānanti. Parassa dhammaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ anānujānanto anānupassanto anānumananto anānumaññanto anānumodantoti – parassa ce dhammamanānujānaṃ.
“If one does not approve of another's doctrine.” Not approving, not perceiving, not assenting, not agreeing with, not rejoicing in another's Dhamma, view, practice, or path—thus, “If one does not approve of another's doctrine.”
Parassa ce dhammamanānujānanti (Và nếu không thừa nhận Pháp của người khác). Không thừa nhận, không thấy, không suy xét, không chấp nhận, không hoan hỷ đối với Pháp, tà kiến, con đường thực hành, đạo lộ của người khác. – (Đây là ý nghĩa của) parassa ce dhammamanānujānaṃ.
Bālomako hoti nihīnapaññoti. Paro bālo hoti hīno nihīno omako lāmako chatukko paritto, hīnapañño nihīnapañño omakapañño lāmakapañño chatukkapañño parittapaññoti – bālomako hoti nihīnapañño.
“One is a contemptible fool of inferior wisdom.” The other is a fool, inferior, very inferior, lesser, contemptible, worthless, and limited; of inferior wisdom, very inferior wisdom, lesser wisdom, contemptible wisdom, worthless wisdom, and limited wisdom—thus, “One is a contemptible fool of inferior wisdom.”
Bālomako hoti nihīnapaññoti (Trở thành kẻ ngu si, tồi tệ, có trí tuệ thấp kém). Người khác trở thành bālo (kẻ ngu), là hīno (thấp kém), nihīno (rất thấp kém), omako (hạ liệt), lāmako (tồi tệ), chatukko (xấu xa), paritto (nhỏ mọn); là hīnapañño (người có trí tuệ thấp kém), nihīnapañño (người có trí tuệ rất thấp kém), omakapañño (người có trí tuệ hạ liệt), lāmakapañño (người có trí tuệ tồi tệ), chatukkapañño (người có trí tuệ xấu xa), parittapañño (người có trí tuệ nhỏ mọn). – (Đây là ý nghĩa của) bālomako hoti nihīnapañño.
Sabbeva bālā sunihīnapaññāti. Sabbevime samaṇabrāhmaṇā bālā hīnā nihīnā omakā lāmakā chatukkā parittā, sabbeva hīnapaññā nihīnapaññā omakapaññā lāmakapaññā chatukkapaññā parittapaññāti – sabbeva bālā sunihīnapaññā.
“All are fools of utterly inferior wisdom.” All these ascetics and brahmins are fools, inferior, very inferior, lesser, contemptible, worthless, and limited; all are of inferior wisdom, very inferior wisdom, lesser wisdom, contemptible wisdom, worthless wisdom, and limited wisdom—thus, “All are fools of utterly inferior wisdom.”
Tất cả đều là kẻ ngu si, có trí tuệ rất thấp kém. Tất cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn này là những kẻ ngu si, thấp kém, hèn hạ, nhỏ mọn, tồi tệ, đáng khinh, giới hạn; tất cả đều có trí tuệ thấp kém, trí tuệ hèn hạ, trí tuệ nhỏ mọn, trí tuệ tồi tệ, trí tuệ đáng khinh, trí tuệ giới hạn – (cho nên được nói) tất cả đều là kẻ ngu si, có trí tuệ rất thấp kém.
Sabbevime diṭṭhiparibbasānāti. Sabbevime samaṇabrāhmaṇā diṭṭhigatikā; te dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatānaṃ aññataraññataraṃ diṭṭhigataṃ gahetvā uggahetvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā sakāya sakāya diṭṭhiyā vasanti saṃvasanti āvasanti parivasanti. Yathā agārikā vā gharesu vasanti, sāpattikā vā āpattīsu vasanti, sakilesā vā kilesesu vasanti; evameva sabbevime samaṇabrāhmaṇā diṭṭhigatikā…pe… parivasantīti – sabbevime diṭṭhiparibbasānā.
“All these are entrenched in their views.” All these ascetics and brahmins have views; they take up, especially take up, firmly grasp, adhere to, and become intent upon one or another of the sixty-two kinds of views, dwelling, dwelling together, especially dwelling, and dwelling all around in their own respective views. Just as householders dwell in houses, or those with offenses dwell in their offenses, or those with defilements dwell in their defilements—even so, all these ascetics and brahmins who have views... dwell all around. This is the meaning of “All these are entrenched in their views.”
Tất cả những vị này đều bị chi phối bởi tà kiến. Tất cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn này là những người có tà kiến; sau khi đã nắm lấy, đã tiếp nhận, đã chấp giữ, đã xem xét, đã quyết tâm theo một tà kiến nào đó trong sáu mươi hai tà kiến, họ sống, chung sống, trú ngụ, an trú trong tà kiến của riêng mình. Ví như người tại gia sống trong nhà cửa, người có tội sống trong tội lỗi, người bị phiền não sống trong phiền não; cũng vậy, tất cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn này là những người có tà kiến... (như trên)... họ an trú – (cho nên được nói) tất cả những vị này đều bị chi phối bởi tà kiến.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Parassa ce dhammamanānujānaṃ, bālomako hoti nihīnapañño;
Sabbeva bālā sunihīnapaññā, sabbevime diṭṭhiparibbasānā’’ti.
“If one does not approve of another's doctrine, one is a contemptible fool of inferior wisdom. All are fools of utterly inferior wisdom; all these are entrenched in their views.”
‘Nếu không công nhận giáo pháp của người khác, vị ấy là kẻ ngu si, nhỏ mọn, có trí tuệ thấp kém. Tất cả đều là kẻ ngu si, có trí tuệ rất thấp kém, tất cả những vị này đều bị chi phối bởi tà kiến.’
116.
116.
116.
Sandiṭṭhiyā ceva navīvadātā, † saṃsuddhapaññā kusalā mutīmā;
Na tesaṃ koci parihīnapañño, diṭṭhī hi tesampi tathā samattā.
And by their own view, they are not purified, yet they are of perfectly pure wisdom, skilled, and intelligent. None among them is of deficient wisdom, for their view, too, is thus perfected.
Do bởi tự kiến của mình, họ không được trong sạch, (nhưng tự cho là) có trí tuệ thanh tịnh, là bậc thiện xảo, là người thông tuệ. Trong số họ, không một ai có trí tuệ thấp kém, vì tà kiến của họ cũng được xem là hoàn hảo như vậy.
Sandiṭṭhiyā ceva navīvadātāti. Sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā anavīvadātā avodātā apariyodātā saṃkiliṭṭhā saṃkilesikāti – sandiṭṭhiyā ceva navīvadātā.
“And by their own view, they are not purified.” By their own respective views, their own forbearance, their own inclinations, their own tenets, they are not pure, not clean, not thoroughly clean, defiled, and subject to defilement. Thus, this is the meaning of “And by their own view, they are not purified.”
‘Do bởi tự kiến của mình, họ không được trong sạch’ (nghĩa là): Do bởi tà kiến của riêng mình, do bởi sự ưa thích của riêng mình, do bởi khuynh hướng của riêng mình, do bởi chủ thuyết của riêng mình, họ không được trong sạch, không được thanh tịnh, không được hoàn toàn thanh tịnh, bị ô nhiễm, thuộc về ô nhiễm – (cho nên được nói) ‘do bởi tự kiến của mình, họ không được trong sạch.’
Saṃsuddhapaññā kusalā mutīmāti. Suddhapaññā visuddhapaññā parisuddhapaññā vodātapaññā pariyodātapaññā. Atha vā suddhadassanā visuddhadassanā parisuddhadassanā vodātadassanā pariyodātadassanāti – saṃsuddhapaññā. Kusalāti kusalā paṇḍitā paññavanto iddhimanto ñāṇino vibhāvino medhāvinoti – saṃsuddhapaññā kusalā. Mutīmāti mutimā paṇḍitā paññavanto iddhimanto ñāṇino vibhāvino medhāvinoti – saṃsuddhapaññā kusalā mutīmā.
“Of perfectly pure wisdom, skilled, and intelligent.” “Of perfectly pure wisdom” means of pure wisdom, of especially pure wisdom, of thoroughly pure wisdom, of clean wisdom, of perfectly clean wisdom. Or else, of pure vision, of especially pure vision, of thoroughly pure vision, of clean vision, of perfectly clean vision. “Skilled” means skillful, wise, endowed with wisdom, powerful, knowledgeable, discerning, sagacious. “Intelligent” means intelligent, wise, endowed with wisdom, powerful, knowledgeable, discerning, sagacious. This is the meaning of “Of perfectly pure wisdom, skilled, and intelligent.”
‘Có trí tuệ thanh tịnh, là bậc thiện xảo, là người thông tuệ’ (nghĩa là): ‘Có trí tuệ thanh tịnh’ là có trí tuệ trong sạch, trí tuệ đặc biệt trong sạch, trí tuệ hoàn toàn trong sạch, trí tuệ thanh tịnh, trí tuệ hoàn toàn thanh tịnh. Hoặc là, có cái thấy trong sạch, cái thấy đặc biệt trong sạch, cái thấy hoàn toàn trong sạch, cái thấy thanh tịnh, cái thấy hoàn toàn thanh tịnh. ‘Là bậc thiện xảo’ là người thiện xảo, bậc hiền trí, người có trí tuệ, người có sự giác ngộ, người có tri kiến, người có sự sáng suốt, người có trí thông minh – (cho nên được nói) ‘có trí tuệ thanh tịnh, là bậc thiện xảo.’ ‘Là người thông tuệ’ là người có trí, bậc hiền trí, người có trí tuệ, người có sự giác ngộ, người có tri kiến, người có sự sáng suốt, người có trí thông minh – (cho nên được nói) ‘có trí tuệ thanh tịnh, là bậc thiện xảo, là người thông tuệ.’
Tesaṃ na koci parihīnapaññoti. Tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ na koci hīnapañño nihīnapañño omakapañño lāmakapañño chatukkapañño parittapañño atthi. Sabbeva seṭṭhapaññā visiṭṭhapaññā pāmokkhapaññā uttamapaññā pavarapaññāti – tesaṃ na koci parihīnapañño.
“Among them, none is of deficient wisdom.” Among those ascetics and brahmins, none has inferior wisdom, wisdom deficient in application, wisdom deficient in effort, wisdom deficient in cause, wisdom deficient in disposition, or limited wisdom. All possess praiseworthy wisdom, especially praiseworthy wisdom, foremost wisdom, supreme wisdom, and most excellent wisdom—this is the meaning of the phrase, “Among them, none is of deficient wisdom.”
‘Trong số họ, không một ai có trí tuệ thấp kém’ (nghĩa là): Trong số các vị Sa-môn và Bà-la-môn ấy, không có một ai có trí tuệ thấp kém, trí tuệ hèn hạ, trí tuệ nhỏ mọn, trí tuệ tồi tệ, trí tuệ đáng khinh, trí tuệ giới hạn. Tất cả đều có trí tuệ ưu việt, trí tuệ đặc biệt, trí tuệ hàng đầu, trí tuệ tối thượng, trí tuệ cao quý – (cho nên được nói) ‘trong số họ, không một ai có trí tuệ thấp kém.’
Diṭṭhī hi tesampi tathā samattāti. Tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ diṭṭhi tathā samattā samādinnā gahitā parāmaṭṭhā abhiniviṭṭhā ajjhositā adhimuttāti – diṭṭhī hi tesampi tathā samattā.
“For their view, too, is thus perfected.” The view of those ascetics and brahmins is thus perfected: it is well undertaken, grasped, held to after consideration, adhered to, clung to, and resolved upon—this is the meaning of the phrase, “For their view, too, is thus perfected.”
‘Vì tà kiến của họ cũng được xem là hoàn hảo như vậy’ (nghĩa là): Tà kiến của các vị Sa-môn và Bà-la-môn ấy được xem là hoàn hảo như vậy, được chấp nhận, được nắm giữ, được xem xét, được quyết tâm theo, được bám víu, được tin chắc – (cho nên được nói) ‘vì tà kiến của họ cũng được xem là hoàn hảo như vậy.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Sandiṭṭhiyā ceva navīvadātā, saṃsuddhapaññā kusalā mutīmā;
Tesaṃ na koci parihīnapañño, diṭṭhī hi tesampi tathā samattā’’ti.
“And by their own view, they are not purified, yet they are of perfectly pure wisdom, skilled, and intelligent. None among them is of deficient wisdom, for their view, too, is thus perfected.”
‘Do bởi tự kiến của mình, họ không được trong sạch, (nhưng tự cho là) có trí tuệ thanh tịnh, là bậc thiện xảo, là người thông tuệ. Trong số họ, không một ai có trí tuệ thấp kém, vì tà kiến của họ cũng được xem là hoàn hảo như vậy.’
117.
117.
117.
Na vāhametaṃ tathiyanti † brūmi, yamāhu bālā mithu aññamaññaṃ;
Sakaṃ sakaṃ diṭṭhimakaṃsu saccaṃ, tasmā hi bāloti paraṃ dahanti.
I do not say that this is true, which fools declare to one another. Each has made their own view the truth; therefore, they regard the other as a fool.
Ta không nói rằng: ‘Điều này là sự thật,’ như những kẻ ngu si nói với nhau. Họ đã biến tà kiến của riêng mình thành sự thật, do đó họ xem người khác là kẻ ngu si.
Na vāhametaṃ tathiyanti brūmīti. Nāti paṭikkhepo. Etanti ‘‘dvāsaṭṭhidiṭṭhigatāni nāhaṃ etaṃ tacchaṃ tathaṃ bhūtaṃ yāthāvaṃ aviparīta’’nti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – na vāhametaṃ tathiyanti brūmi.
“I do not say that this is true.” `Nā` is a particle of negation. `Etaṃ` refers to the sixty-two kinds of views. I do not say, declare, teach, formulate, establish, open up, analyze, make plain, or reveal that this view is actual, true, existent, as it is, and unerring—this is the meaning of the phrase, “I do not say that this is true.”
‘Ta không nói rằng: “Điều này là sự thật”’ (nghĩa là): ‘Không’ là sự phủ định. ‘Điều này’ (chỉ cho) sáu mươi hai tà kiến. Ta không nói, không tuyên bố, không thuyết giảng, không chế định, không thiết lập, không trình bày, không phân tích, không làm cho rõ ràng, không hiển thị rằng: ‘Điều này là chân thật, là sự thật, là thực tại, là đúng như thật, là không sai khác’ – (cho nên được nói) ‘ta không nói rằng: “Điều này là sự thật.”’
Yamāhu bālā mithu aññamaññanti. Mithūti dve janā, dve kalahakārakā, dve bhaṇḍanakārakā, dve bhassakārakā, dve vivādakārakā, dve adhikaraṇakārakā, dve vādino, dve sallapakā; te aññamaññaṃ bālo † hīno nihīno omako lāmako chatukko parittoti, evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – yamāhu bālā mithu aññamaññaṃ.
“What fools say to one another.” `Mithu` means two people: two quarrel-makers, two brawlers, two who are verbose, two debaters, two litigants, two arguers, two conversationalists. They say to one another that the other is foolish, inferior, deficient in application, deficient in effort, deficient in cause, deficient in disposition, and insignificant. Thus they have said, thus they declare, thus they speak, thus they explain, thus they address one another—this is the meaning of “What fools say to one another.”
‘Như những kẻ ngu si nói với nhau’ (nghĩa là): ‘Với nhau’ là hai người, hai người tranh cãi, hai người gây gổ, hai người cãi vã, hai người tranh luận, hai người kiện tụng, hai người biện luận, hai người đối thoại; họ nói với nhau rằng (người kia) là kẻ ngu si, thấp kém, hèn hạ, nhỏ mọn, tồi tệ, đáng khinh, giới hạn; họ đã nói như vậy, họ kể như vậy, họ đọc tụng như vậy, họ chỉ ra như vậy, họ gọi tên như vậy – (cho nên được nói) ‘như những kẻ ngu si nói với nhau.’
Sakaṃ sakaṃ diṭṭhimakaṃsu saccanti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti – sakaṃ sakaṃ diṭṭhimakaṃsu saccaṃ. ‘‘Asassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti…pe… ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti – sakaṃ sakaṃ diṭṭhimakaṃsu saccaṃ.
Each made their own view the truth. 'The world is eternal; this alone is true, other views are vain'—each made their own view the truth. 'The world is not eternal; this alone is true, other views are vain'... 'The Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, other views are vain'—each made their own view the truth.
‘Họ đã biến tà kiến của riêng mình thành sự thật’ (nghĩa là): ‘Thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là vô ích’ – họ đã biến tà kiến của riêng mình thành sự thật. ‘Thế giới là không thường hằng, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là vô ích’... (như trên)... ‘Sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là vô ích’ – họ đã biến tà kiến của riêng mình thành sự thật.
Tasmā hi bāloti paraṃ dahantīti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā paraṃ bālo hīno nihīno omako lāmako chatukko parittoti dahanti passanti dakkhanti olokenti nijjhāyanti upaparikkhantīti – tasmā hi bāloti paraṃ dahanti.
Therefore they regard another as a fool. 'Therefore' means for that reason, for that cause, because of that condition, from that source. They regard, see, perceive, look upon, contemplate, and examine another as foolish, inferior, base, contemptible, wretched, vile, and insignificant—therefore they regard another as a fool.
‘Do đó họ xem người khác là kẻ ngu si’ (nghĩa là): ‘Do đó’ là do vì, do nguyên nhân ấy, do duyên ấy, do nền tảng ấy. Họ xem, họ thấy, họ nhận thức, họ nhìn, họ suy xét, họ kiểm tra người khác là kẻ ngu si, thấp kém, hèn hạ, nhỏ mọn, tồi tệ, đáng khinh, giới hạn – (cho nên được nói) ‘do đó họ xem người khác là kẻ ngu si.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Na vāhametaṃ tathiyanti brūmi, yamāhu bālā mithu aññamaññaṃ;
Sakaṃ sakaṃ diṭṭhimakaṃsu saccaṃ, tasmā hi bāloti paraṃ dahantī’’ti.
“I do not say, ‘This is true,’ which is what fools say to one another. Each has made their own view the truth; therefore they regard another as a fool.”
‘Ta không nói rằng: “Điều này là sự thật,” như những kẻ ngu si nói với nhau. Họ đã biến tà kiến của riêng mình thành sự thật, do đó họ xem người khác là kẻ ngu si.’
118.
118.
118.
Yamāhu saccaṃ tathiyanti eke, tamāhu aññepi † tucchaṃ musāti;
Evampi viggayha vivādayanti, kasmā na ekaṃ samaṇā vadanti.
What some call true and real, others call empty and false. Thus, having seized upon a view, they dispute. Why do ascetics not speak with one voice?
Điều mà một số người nói là sự thật, là chân thật, thì những người khác lại nói đó là điều vô ích, là lời dối trá. Cứ như thế, họ tranh cãi và tranh luận. Tại sao các vị Sa-môn không nói một điều duy nhất?
Yamāhu saccaṃ tathiyanti eketi. Yaṃ dhammaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ eke samaṇabrāhmaṇā ‘‘idaṃ saccaṃ tacchaṃ tathaṃ bhūtaṃ yāthāvaṃ aviparīta’’nti, evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – yamāhu saccaṃ tathiyanti eke.
What some call true and real. Whatever teaching, view, practice, or path some ascetics and brahmins declare, saying, 'This is true, actual, real, existent, factual, not mistaken'—thus they speak, thus they declare, thus they say, thus they explain, thus they express themselves.
‘Điều mà một số người nói là sự thật, là chân thật’ (nghĩa là): Bất cứ giáo pháp, tà kiến, con đường thực hành, đạo lộ nào mà một số Sa-môn và Bà-la-môn nói rằng: ‘Điều này là sự thật, là chân thật, là thực tại, là đúng như thật, là không sai khác;’ họ đã nói như vậy, họ kể như vậy, họ đọc tụng như vậy, họ chỉ ra như vậy, họ gọi tên như vậy – (cho nên được nói) ‘điều mà một số người nói là sự thật, là chân thật.’
Tamāhu aññepi tucchaṃ musātīti. Tameva dhammaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ eke samaṇabrāhmaṇā ‘‘tucchaṃ etaṃ, musā etaṃ, abhūtaṃ etaṃ, alikaṃ etaṃ, ayāthāvaṃ eta’’nti, evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – tamāhu aññepi tucchaṃ musāti.
Others also call it empty and false. That very teaching, view, practice, or path some ascetics and brahmins declare: 'This is empty, this is false, this is untrue, this is a lie, this is not factual'—thus they speak, thus they declare, thus they say, thus they explain, thus they express themselves.
Tamāhu aññepi tucchaṃ musāti (những người khác cũng nói điều ấy là trống rỗng, là sai lạc). Chính Pháp ấy, kiến giải ấy, con đường thực hành ấy, đạo lộ ấy, một số sa-môn và bà-la-môn đã nói như vầy, đã trình bày như vầy, đã tuyên bố như vầy, đã làm cho rõ ràng như vầy, đã gọi tên như vầy rằng: “Điều này là trống rỗng, điều này là sai lạc, điều này là không có thật, điều này là không đúng sự thật, điều này là không như thật.” – (Do vậy, được nói là) tamāhu aññepi tucchaṃ musāti.
Evampi viggayha vivādayantīti. Evaṃ gahetvā uggahetvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā vivādayanti, kalahaṃ karonti, bhaṇḍanaṃ karonti, viggahaṃ karonti, vivādaṃ karonti, medhagaṃ karonti – ‘‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi…pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’’ti – evampi viggayha vivādayanti.
Thus, having seized upon a view, they dispute. Having taken, having taken up, having grasped firmly, having considered, and having adhered to a view, they dispute; they quarrel, they brawl, they create conflict, they dispute, and they create strife, saying: 'You do not know this Dhamma and Discipline... refute it if you can!' Thus, having seized upon a view, they dispute.
Evampi viggayha vivādayantīti (họ tranh luận và cãi vã như vậy). Sau khi đã chấp thủ như vậy, đã nắm giữ, đã bám chặt, đã tiếp xúc, đã quyết tâm, họ cãi vã, họ gây ra sự cãi cọ, họ gây ra sự tranh cãi, họ gây ra sự xung đột, họ gây ra sự tranh luận, họ gây ra sự bất hòa (và nói rằng): “Ngươi không biết Pháp và Luật này... (v.v)... nếu có khả năng, hãy gỡ rối đi.” – (Do vậy, được nói là) evampi viggayha vivādayanti.
Kasmā na ekaṃ samaṇā vadantīti. Kasmāti kasmā kiṃkāraṇā kiṃhetu kiṃpaccayā kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā na ekaṃ vadanti nānā vadanti vividhaṃ vadanti aññoññaṃ † vadanti puthu vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – kasmā na ekaṃ samaṇā vadanti.
Why do ascetics not speak one thing? 'Why?' means: for what reason, for what cause, due to what condition, from what origin, from what source, of what nature, from what provenance do they not speak one thing, but speak separately, speak variously, speak in contradiction to one another, speak of many things; do they tell, say, explain, and express them?
Kasmā na ekaṃ samaṇā vadantīti (tại sao các sa-môn không nói một điều duy nhất?). Kasmā (tại sao) nghĩa là: vì lý do gì, vì nguyên nhân gì, vì duyên cớ gì, vì nhân duyên gì, vì nguồn sanh khởi gì, vì bản chất gì, vì nguồn gốc gì, mà họ không nói một điều duy nhất, (mà lại) nói nhiều điều khác nhau, nói nhiều điều đa dạng, nói điều trái ngược nhau, nói nhiều điều? Họ trình bày, họ tuyên bố, họ làm cho rõ ràng, họ gọi tên (như thế nào)? – (Do vậy, được nói là) kasmā na ekaṃ samaṇā vadanti.
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created one said:
Do vậy, vị Hóa Nhân ấy đã nói rằng –
‘‘Yamāhu saccaṃ tathiyanti eke, tamāhu aññepi tucchaṃ musāti;
Evampi viggayha vivādayanti, kasmā na ekaṃ samaṇā vadantī’’ti.
“What some declare to be true and real, others declare to be empty and false. Thus, having seized upon a view, they dispute. Why do ascetics not speak one thing?”
“Điều mà một số người nói là sự thật, là chân thật, thì những người khác lại nói điều ấy là trống rỗng, là sai lạc; Cứ như thế họ tranh luận và cãi vã, tại sao các sa-môn không nói một điều duy nhất?”
119.
119.
119.
Ekañhi saccaṃ na dutīyamatthi, yasmiṃ pajā no vivade pajānaṃ;
Nānā te saccāni sayaṃ thunanti, tasmā na ekaṃ samaṇā vadanti.
For there is indeed one truth, not a second, wherein one who knows would not dispute with people. They themselves praise various truths; therefore, ascetics do not speak one thing.
“Chỉ có một sự thật, không có thứ hai, về điều ấy người có trí không nên tranh luận; Họ tự mình tán dương những sự thật khác nhau, vì thế các sa-môn không nói một điều duy nhất.”
Ekañhi saccaṃ na dutīyamatthīti. Ekaṃ saccaṃ vuccati dukkhanirodho nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Atha vā ekaṃ saccaṃ vuccati – maggasaccaṃ, niyyānasaccaṃ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhīti – ekañhi saccaṃ na dutīyamatthi.
For there is indeed one truth, not a second. One truth is called the cessation of suffering: Nibbāna. That is the stilling of all formations, the relinquishing of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. Alternatively, one truth is called the truth of the path, the truth of deliverance, the practice leading to the cessation of suffering, the Noble Eightfold Path, namely: right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration.
Ekañhi saccaṃ na dutīyamatthīti (chỉ có một sự thật, không có thứ hai). Một sự thật được gọi là sự diệt khổ, là Nibbāna. Đó là sự lắng dịu của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Nibbāna. Hoặc là, một sự thật được gọi là – Chân lý về Con đường (maggasaccaṃ), chân lý về sự xuất ly (niyyānasaccaṃ), con đường thực hành đưa đến sự diệt khổ, Bát Chánh Đạo, tức là – chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. – (Do vậy, được nói là) ekañhi saccaṃ na dutīyamatthi.
Yasmiṃ pajā no vivade pajānanti. Yasminti yasmiṃ sacce. Pajāti sattādhivacanaṃ. Pajānanti † yaṃ saccaṃ pajānantā ājānantā vijānantā paṭivijānantā paṭivijjhantā na kalahaṃ kareyyuṃ, na bhaṇḍanaṃ kareyyuṃ, na viggahaṃ kareyyuṃ, na vivādaṃ kareyyuṃ, na medhagaṃ kareyyuṃ, kalahaṃ bhaṇḍanaṃ viggahaṃ vivādaṃ medhagaṃ pajaheyyuṃ, vinodeyyuṃ, byantiṃ kareyyuṃ †, anabhāvaṃ gameyyunti – yasmiṃ pajā no vivade pajānaṃ.
Wherein one who knows would not dispute with people. 'Wherein' means in which truth. 'People' is a designation for beings. 'One who knows' means: knowing, recognizing, discerning, fully discerning, and penetrating that truth, they would not engage in quarrels, brawls, strife, disputes, or contentions. They would abandon quarrels, brawls, strife, disputes, and contentions; they would dispel them, bring them to an end, and cause them to cease to exist.
Yasmiṃ pajā no vivade pajānanti (về điều ấy người có trí không nên tranh luận). Yasminti (về điều ấy) nghĩa là về sự thật ấy. Pajāti (chúng sanh) là tên gọi cho chúng sanh. Pajānanti (người có trí) nghĩa là những người đang biết, đang hiểu rõ, đang nhận thức, đang thấu hiểu, đang thông suốt sự thật ấy thì không nên gây ra sự cãi cọ, không nên gây ra sự tranh cãi, không nên gây ra sự xung đột, không nên gây ra sự tranh luận, không nên gây ra sự bất hòa; họ nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên đưa đến sự không tồn tại của sự cãi cọ, sự tranh cãi, sự xung đột, sự tranh luận, sự bất hòa. – (Do vậy, được nói là) yasmiṃ pajā no vivade pajānaṃ.
Nānā te saccāni sayaṃ thunantīti. Nānā te saccāni sayaṃ thunanti vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti sayaṃ thunanti vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti sayaṃ thunanti vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – nānā te saccāni sayaṃ thunanti.
They themselves praise various truths. They themselves praise, speak, declare, say, explain, and express various truths. 'The world is eternal; this alone is true, other things are vain' – they themselves praise, speak, declare, say, explain, and express this. 'The world is not eternal…' and so on… 'The Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, other things are vain' – they themselves praise, speak, declare, say, explain, and express this.
Nānā te saccāni sayaṃ thunantīti (họ tự mình tán dương những sự thật khác nhau). Họ tự mình tán dương, nói, trình bày, tuyên bố, làm cho rõ ràng, gọi tên những sự thật khác nhau. Họ tự mình tán dương, nói, trình bày, tuyên bố, làm cho rõ ràng, gọi tên (rằng): “Thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là vô ích.” Họ tự mình tán dương, nói, trình bày, tuyên bố, làm cho rõ ràng, gọi tên (rằng): “Thế giới là không thường hằng… (v.v)… Như Lai không tồn tại cũng không không-tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là vô ích.” – (Do vậy, được nói là) nānā te saccāni sayaṃ thunanti.
Tasmā na ekaṃ samaṇā vadantīti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā na ekaṃ vadanti nānā vadanti vividhaṃ vadanti aññoññaṃ vadanti puthu vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – tasmā na ekaṃ samaṇā vadanti.
Therefore ascetics do not speak one thing. 'Therefore' means for that reason, for that cause, due to that condition, from that source. They do not speak one thing, but speak separately, speak variously, speak in contradiction to one another, speak of many things; they tell, say, explain, and express themselves thus.
Tasmā na ekaṃ samaṇā vadantīti (vì thế các sa-môn không nói một điều duy nhất). Tasmāti (vì thế) nghĩa là: vì lý do đó, vì nguyên nhân đó, vì duyên cớ đó, vì nhân duyên đó, họ không nói một điều duy nhất, (mà lại) nói nhiều điều khác nhau, nói nhiều điều đa dạng, nói điều trái ngược nhau, nói nhiều điều; họ trình bày, họ tuyên bố, họ làm cho rõ ràng, họ gọi tên (như thế). – (Do vậy, được nói là) tasmā na ekaṃ samaṇā vadanti.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Ekañhi saccaṃ na dutīyamatthi, yasmiṃ pajā no vivade pajānaṃ;
Nānā te saccāni sayaṃ thunanti, tasmā na ekaṃ samaṇā vadantī’’ti.
“For there is indeed one truth, not a second, wherein one who knows would not dispute with people. They themselves praise various truths; therefore, ascetics do not speak one thing.”
“Chỉ có một sự thật, không có thứ hai, về điều ấy người có trí không nên tranh luận; Họ tự mình tán dương những sự thật khác nhau, vì thế các sa-môn không nói một điều duy nhất.”
120.
120.
120.
Kasmā nu saccāni vadanti nānā, pavādiyāse kusalāvadānā;
Saccāni sutāni bahūni nānā, udāhu te takkamanussaranti.
Why do they speak of truths as various, those disputants who claim to be wise? Are the many various truths something they have heard, or do they follow their own reasoning?
“Tại sao những người tranh luận, tự cho là khéo léo, lại nói về những sự thật khác nhau? Phải chăng có nhiều sự thật khác nhau đã được nghe đến, hay là họ chỉ đi theo lý luận của mình?”
Kasmā nu saccāni vadanti nānāti. Kasmāti kasmā kiṃkāraṇā kiṃhetu kiṃpaccayā kiṃnidānā saccāni nānā † vadanti, vividhāni vadanti, aññoññāni vadanti, puthūni vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – kasmā nu saccāni vadanti nānā.
Why indeed do they speak of diverse truths? 'Why?' means: for what reason, for what cause, due to what condition, from what basis do they speak of truths as diverse, varied, different from one another, and numerous; do they declare, tell, recite, explain, and express? This is the meaning of 'Why indeed do they speak of diverse truths?'
Kasmā nu saccāni vadanti nānāti (tại sao họ lại nói về những sự thật khác nhau?). Kasmāti (tại sao) nghĩa là: vì lý do gì, vì nguyên nhân gì, vì duyên cớ gì, vì nhân duyên gì, mà họ nói về những sự thật khác nhau, nói về những sự thật đa dạng, nói về những sự thật trái ngược nhau, nói về nhiều sự thật? Họ trình bày, họ tuyên bố, họ làm cho rõ ràng, họ gọi tên (như thế nào)? – (Do vậy, được nói là) kasmā nu saccāni vadanti nānā.
Pavādiyāse kusalāvadānāti. Pavādiyāseti vippavadantītipi pavādiyāse. Atha vā sakaṃ sakaṃ diṭṭhigataṃ pavadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti pavadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti pavadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. Kusalāvadānāti kusalavādā paṇḍitavādā thiravādā ñāyavādā hetuvādā lakkhaṇavādā kāraṇavādā ṭhānavādā sakāya laddhiyāti – pavādiyāse kusalāvadānā.
Those who are disputants, who claim to be skilled. 'Those who are disputants' means: because they dispute in various ways, they are called disputants. Or else, they state their own respective views; they declare, tell, recite, explain, and express them. They declare: 'The world is eternal; this alone is true, all else is vain.' They declare: 'The world is not eternal… the Tathāgata neither is nor is not after death; this alone is true, all else is vain.' 'Who claim to be skilled' means: those who claim to be skilled, those who claim to be wise, those who claim to be firm, those who claim to be logical, those who claim to have a cause, those who claim to have a characteristic, those who claim to have a reason, those who claim to have a basis, according to their own doctrine. This is the meaning of 'Those who are disputants, who claim to be skilled.'
Pavādiyāse kusalāvadānāti (những người tranh luận, tự cho là khéo léo). Pavādiyāseti nghĩa là họ tranh luận, vì thế được gọi là pavādiyāse. Hoặc là, họ nói, trình bày, tuyên bố, làm cho rõ ràng, gọi tên kiến giải của riêng mình. Họ nói, trình bày, tuyên bố, làm cho rõ ràng, gọi tên (rằng): “Thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là vô ích.” Họ nói, trình bày, tuyên bố, làm cho rõ ràng, gọi tên (rằng): “Thế giới là không thường hằng… (v.v)… Như Lai không tồn tại cũng không không-tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là vô ích.” Kusalāvadānāti nghĩa là những người tự cho mình là khéo léo, tự cho mình là bậc trí, tự cho mình là kiên định, tự cho mình là hợp lý, tự cho mình là có lý do, tự cho mình là có đặc điểm, tự cho mình là có nguyên nhân, tự cho mình là có cơ sở, trong học thuyết của riêng mình. – (Do vậy, được nói là) pavādiyāse kusalāvadānā.
Saccāni sutāni bahūni nānāti saccāni sutāni bahukāni nānāni vividhāni aññoññāni puthūnīti – saccāni sutāni bahūni nānā.
Are many diverse truths heard? 'Many diverse truths are heard' means: many, diverse, varied, different from one another, and numerous truths are heard. This is the meaning of 'Are many diverse truths heard?'
Saccāni sutāni bahūni nānāti (phải chăng có nhiều sự thật khác nhau đã được nghe đến). (Nghĩa là) những sự thật đã được nghe đến là nhiều, là khác nhau, là đa dạng, là trái ngược nhau, là đông đảo. – (Do vậy, được nói là) saccāni sutāni bahūni nānā.
Udāhu te takkamanussarantīti udāhu takkena saṅkappena yāyanti nīyanti vuyhanti saṃharīyantīti. Evampi udāhu te takkamanussaranti. Atha vā takkapariyāhataṃ vīmaṃsānucaritaṃ sayaṃ paṭibhānaṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti. Evampi udāhu te takkamanussaranti.
Or do they follow their own reasoning? 'Or do they follow their own reasoning?' means: or are they impelled, led, carried along, and brought together by reasoning and conception? This is one meaning of 'Or do they follow their own reasoning?'. Or else, they state, declare, recite, explain, and express what is thoroughly worked out by reasoning, followed up by investigation, and is their own spontaneous understanding. This too is the meaning of 'Or do they follow their own reasoning?'
Udāhu te takkamanussarantīti (hay là họ chỉ đi theo lý luận của mình). Udāhu (hay là), họ đi theo, họ được dẫn dắt, họ bị cuốn đi, họ được mang đi bởi lý luận (takkena), bởi tư duy (saṅkappena). Đây cũng là ý nghĩa của udāhu te takkamanussaranti. Hoặc là, họ nói, trình bày, tuyên bố, làm cho rõ ràng, gọi tên những điều được tạo ra bởi lý luận, được thực hành qua sự thẩm sát, là sự ứng đối của riêng họ. Đây cũng là ý nghĩa của udāhu te takkamanussaranti.
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created one said:
Do vậy, vị Hóa nhân ấy đã nói:
‘‘Kasmā nu saccāni vadanti nānā, pavādiyāse kusalāvadānā;
Saccāni sutāni bahūni nānā, udāhu te takkamanussarantī’’ti.
Why indeed do they speak of diverse truths, those disputants who claim to be skilled? Are many diverse truths heard, or do they follow their own reasoning?
‘Vì sao những người tranh luận, tự cho là bậc thiện xảo, lại nói về các chân lý khác nhau? Phải chăng có nhiều chân lý khác nhau đã được nghe đến, hay là họ chỉ đi theo sự suy luận của mình?’
121.
121.
121.
Na heva saccāni bahūni nānā, aññatra saññāya niccāni loke;
Takkañca diṭṭhīsu pakappayitvā, saccaṃ musāti dvayadhammamāhu.
Indeed, truths are not many and diverse; other than by perception are things in the world considered permanent. And having formulated reasoning in regard to their views, they speak of the dual teaching: ‘true’ and ‘false’.
‘Thật sự không có nhiều chân lý khác nhau ở trên đời, ngoại trừ những gì được xem là thường còn do tưởng. Và sau khi đã sắp đặt sự suy luận trong các tà kiến, họ nói về pháp nhị nguyên: ‘(Cái này) là thật, (cái kia) là giả.’
Na heva saccāni bahūni nānāti na heva saccāni bahukāni nānāni vividhāni aññoññāni puthūnīti – na heva saccāni bahūni nānā.
Truths are not indeed many and various. 'Truths are not indeed many and various' means truths are not indeed many, various, of different kinds, separate from one another, and numerous. This is the meaning of 'Truths are not indeed many and various'.
‘Thật sự không có nhiều chân lý khác nhau’ có nghĩa là: Thật sự không có các chân lý nhiều về số lượng, khác nhau, đa dạng, khác biệt lẫn nhau, đông đảo. – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Thật sự không có nhiều chân lý khác nhau.’
Aññatra saññāya niccāni loketi aññatra saññāya niccaggāhā ekaññeva saccaṃ loke kathīyati bhaṇīyati dīpīyati voharīyati – dukkhanirodho nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Atha vā ekaṃ saccaṃ vuccati maggasaccaṃ, niyyānasaccaṃ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhīti – aññatra saññāya niccāni loke.
Regarding 'Other than by perception are things in the world considered permanent': Except for the grasping of permanence through one's own perception, in the world only one truth is spoken of, declared, explained, and designated: the cessation of suffering, Nibbāna. That is the calming of all formations, the relinquishing of all attachments, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. Alternatively, one truth is spoken of: the truth of the path, the truth of deliverance, the practice leading to the cessation of suffering, the Noble Eightfold Path, that is to say: Right View... Right Concentration. This is the meaning of 'Other than by perception are things in the world considered permanent'.
‘Ngoại trừ những gì được xem là thường còn do tưởng ở trên đời’ có nghĩa là: Ngoại trừ sự chấp thủ một cách vững chắc do tưởng của mình, chỉ có một chân lý duy nhất ở trên đời được nói đến, được tuyên thuyết, được trình bày, được gọi tên – (đó là) sự diệt khổ, Nibbāna. Cái nào là sự lắng dịu của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Nibbāna. Hoặc giả, một chân lý được gọi là đạo đế, chân lý về sự xuất ly, con đường đưa đến sự diệt khổ, Bát Chánh Đạo, cụ thể là – chánh kiến ... cho đến ... chánh định. – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Ngoại trừ những gì được xem là thường còn do tưởng ở trên đời.’
Takkañca diṭṭhīsu pakappayitvā, saccaṃ musāti dvayadhammamāhūti. Takkaṃ vitakkaṃ saṅkappaṃ takkayitvā vitakkayitvā saṅkappayitvā diṭṭhigatāni janenti sañjanenti nibbattenti abhinibbattenti. Diṭṭhigatāni janetvā sañjanetvā nibbattetvā abhinibbattetvā ‘‘mayhaṃ saccaṃ tuyhaṃ musā’’ti, evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – takkañca diṭṭhīsu pakappayitvā saccaṃ musāti dvayadhammamāhu.
Regarding 'And having formulated reasoning in regard to their views, they speak of the dual teaching of “true” and “false”': Having reasoned, thought, and conceived, they generate, produce, bring forth, and bring into existence views. Having generated, produced, brought forth, and brought into existence views, they said, 'Mine is true, yours is false.' Thus they spoke, thus they declared, thus they recited, thus they explained, thus they expressed. This is the meaning of 'And having formulated reasoning in regard to their views, they speak of the dual teaching of “true” and “false”'.
‘Và sau khi đã sắp đặt sự suy luận trong các tà kiến, họ nói về pháp nhị nguyên: ‘(Cái này) là thật, (cái kia) là giả’’ có nghĩa là: Sau khi đã suy nghĩ, đã tầm tứ, đã chủ ý về sự suy nghĩ, sự tầm tứ, sự chủ ý, họ làm cho sanh khởi, làm cho phát sanh, làm cho hiện hữu, làm cho được thành tựu các sở hành của tà kiến. Sau khi đã làm cho sanh khởi, đã làm cho phát sanh, đã làm cho hiện hữu, đã làm cho được thành tựu các sở hành của tà kiến, họ đã nói như vầy, họ kể lại như vầy, họ tuyên thuyết như vầy, họ trình bày như vầy, họ gọi tên như vầy: ‘(Quan điểm) của tôi là thật, (quan điểm) của anh là giả.’ – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Và sau khi đã sắp đặt sự suy luận trong các tà kiến, họ nói về pháp nhị nguyên: ‘(Cái này) là thật, (cái kia) là giả.’’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Na heva saccāni bahūni nānā, aññatra saññāya niccāni loke;
Takkañca diṭṭhīsu pakappayitvā, saccaṃ musāti dvayadhammamāhū’’ti.
Indeed, truths are not many and diverse; other than by perception are things in the world considered permanent. And having formulated reasoning in regard to their views, they speak of the dual teaching: ‘true’ and ‘false’.
‘Thật sự không có nhiều chân lý khác nhau ở trên đời, ngoại trừ những gì được xem là thường còn do tưởng. Và sau khi đã sắp đặt sự suy luận trong các tà kiến, họ nói về pháp nhị nguyên: ‘(Cái này) là thật, (cái kia) là giả.’
122.
122.
122.
Diṭṭhe sute sīlavate mute vā, ete ca † nissāya vimānadassī;
Vinicchaye ṭhatvā pahassamāno, bālo paro akkusaloti cāha.
Relying on what is seen, heard, moral practices, or sensed, the contemptuous one, standing firm in his own judgment and rejoicing, says of another: ‘He is a fool and unskillful’.
‘Nương tựa vào điều được thấy, được nghe, giới và vật, hoặc điều được cảm nhận, và người ấy có thái độ xem thường; sau khi đứng vững trong sự quyết đoán của mình, người ấy vui mừng hớn hở và nói rằng: ‘Kẻ khác là ngu si, là bất thiện.’
Diṭṭhe sute sīlavate mute vā, ete ca nissāya vimānadassīti. Diṭṭhaṃ vā diṭṭhasuddhiṃ vā, sutaṃ vā sutasuddhiṃ vā, sīlaṃ vā sīlasuddhiṃ vā, vataṃ vā vatasuddhiṃ vā, mutaṃ vā mutasuddhiṃ vā nissāya upanissāya gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvāti – diṭṭhe sute sīlavate mute vā. Ete ca nissāya vimānadassīti. Na sammānetītipi vimānadassī. Atha vā domanassaṃ janetītipi vimānadassīti – diṭṭhe sute sīlavate mute vā ete ca nissāya vimānadassī.
Regarding 'Regarding what is seen, heard, morality and observances, or what is sensed, relying on these, he is one who shows disdain': This means relying on, strongly relying on, grasping, clinging to, and adhering to a view or its purity, what is heard or its purity, morality or its purity, an observance or its purity, or what is sensed or its purity. This is the meaning of ‘Regarding what is seen, heard, morality and observances, or what is sensed.’ Regarding 'relying on these, he is one who shows disdain': He is one who shows disdain in that he does not respect. Alternatively, he is one who shows disdain in that he generates displeasure. This is the meaning of ‘Regarding what is seen, heard, morality and observances, or what is sensed, relying on these, he is one who shows disdain.’
‘Nương tựa vào điều được thấy, được nghe, giới và vật, hoặc điều được cảm nhận, và người ấy có thái độ xem thường’ có nghĩa là: Sau khi đã nương tựa, đã y chỉ, đã chấp thủ, đã nắm giữ, đã quyết tâm vào điều được thấy hoặc sự trong sạch của điều được thấy, điều được nghe hoặc sự trong sạch của điều được nghe, giới hoặc sự trong sạch của giới, vật hoặc sự trong sạch của vật, điều được cảm nhận hoặc sự trong sạch của điều được cảm nhận. – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Nương tựa vào điều được thấy, được nghe, giới và vật, hoặc điều được cảm nhận.’ ‘Và người ấy có thái độ xem thường’ có nghĩa là: Do không tôn trọng nên được gọi là ‘người có thái độ xem thường.’ Hoặc giả, do làm cho sanh khởi sự ưu phiền nên được gọi là ‘người có thái độ xem thường.’ – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Nương tựa vào điều được thấy, được nghe, giới và vật, hoặc điều được cảm nhận, và người ấy có thái độ xem thường.’
Vinicchaye ṭhatvā pahassamānoti. Vinicchayā vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni. Diṭṭhivinicchaye vinicchayadiṭṭhiyā ṭhatvā patiṭṭhahitvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvāti – vinicchaye ṭhatvā. Pahassamānoti tuṭṭho hoti haṭṭho pahaṭṭho attamano paripuṇṇasaṅkappo. Atha vā dantavidaṃsakaṃ pahassamānoti – vinicchaye ṭhatvā pahassamāno.
Regarding 'Established in judgment, rejoicing': Judgments refer to the sixty-two views. Established in the judgment of views, standing firm in a view that is a judgment, grasping, clinging to, and adhering to it—this is the meaning of 'established in judgment.' 'Rejoicing' means he is pleased, joyful, very joyful, glad, and his intention is fulfilled. Alternatively, he laughs, showing his teeth. This is the meaning of 'Established in judgment, rejoicing.'
‘Sau khi đứng vững trong sự quyết đoán của mình, người ấy vui mừng hớn hở’ có nghĩa là: Sáu mươi hai sở hành của tà kiến được gọi là các sự quyết đoán. Sau khi đã đứng, đã an trú, đã chấp thủ, đã nắm giữ, đã quyết tâm trong sự quyết đoán của tà kiến, trong tà kiến là sự quyết đoán. – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Sau khi đứng vững trong sự quyết đoán của mình.’ ‘Người ấy vui mừng hớn hở’ có nghĩa là: Người ấy được hài lòng, được hoan hỷ, được phấn khởi, có tâm ý vui vẻ, có chủ ý được viên mãn. Hoặc giả, người ấy vui mừng hớn hở đến độ nhe răng ra cười. – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Sau khi đứng vững trong sự quyết đoán của mình, người ấy vui mừng hớn hở.’
Bālo paro akkusaloti cāhāti. Paro bālo hīno nihīno omako lāmako chatukko paritto akusalo avidvā avijjāgato aññāṇī avibhāvī amedhāvī duppaññoti, evamāha evaṃ katheti evaṃ bhaṇati evaṃ dīpayati evaṃ voharatīti – bālo paro akkusaloti cāha.
Regarding 'The other is a fool and unskillful,’ he says': The other is a fool, inferior, low, abject, contemptible, base, paltry, unskillful, without knowledge, gone to ignorance, unknowing, undiscerning, without intelligence, of poor wisdom. Thus he says, thus he states, thus he utters, thus he clarifies, thus he expresses himself. This is the meaning of ‘The other is a fool and unskillful,’ he says.
‘Và nói rằng: ‘Kẻ khác là ngu si, là bất thiện’’ có nghĩa là: ‘Kẻ khác là ngu si, là thấp kém, là hèn hạ, là hạ liệt, là tồi tệ, là đáng khinh, là nhỏ mọn, là bất thiện, là người không hiểu biết, là người rơi vào vô minh, là người không có trí tuệ, là người không có khả năng phân biệt, là người không có trí thông minh, là người có trí tuệ yếu kém.’ Người ấy nói như vầy, người ấy kể lại như vầy, người ấy tuyên thuyết như vầy, người ấy trình bày như vầy, người ấy gọi tên như vầy. – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Và nói rằng: ‘Kẻ khác là ngu si, là bất thiện.’’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Diṭṭhe sute sīlavate mute vā, ete ca nissāya vimānadassī;
Vinicchaye ṭhatvā pahassamāno, bālo paro akkusaloti cāhā’’ti.
Relying on what is seen, heard, morality and observances, or what is sensed, the disdainful one, standing firm in judgment and mocking, says, ‘The other is a fool and unskillful.’
‘Nương tựa vào điều được thấy, được nghe, giới và vật, hoặc điều được cảm nhận, và người ấy có thái độ xem thường; sau khi đứng vững trong sự quyết đoán của mình, người ấy vui mừng hớn hở và nói rằng: ‘Kẻ khác là ngu si, là bất thiện.’
123.
123.
123.
Yeneva bāloti paraṃ dahāti, tenātumānaṃ kusaloti cāha;
Sayamattanā so kusalāvadāno, aññaṃ vimāneti tadeva pāva.
By the very reason he regards another as a fool, by that he proclaims himself skillful. He, claiming to be skillful himself, disparages another—and speaks of that very thing.
‘Với lý do nào mà người ấy xem kẻ khác là ngu si, với chính lý do ấy người ấy tự cho mình là thiện xảo. Tự mình cho là thiện xảo, người ấy xem thường kẻ khác và nói lên chính điều ấy.’
Yeneva bāloti paraṃ dahātīti. Yeneva hetunā yena paccayena yena kāraṇena yena pabhavena paraṃ bālato hīnato nihīnato omakato lāmakato chatukkato parittato dahati passati dakkhati oloketi nijjhāyati upaparikkhatīti – yeneva bāloti paraṃ dahāti.
“By whatever reason one regards another as a fool.” This means: by whatever reason, by whatever condition, by whatever cause, by whatever principle one regards, sees, perceives, looks upon, contemplates, and examines another as a fool, as inferior, as low, as abject, as wretched, as base, as insignificant. This is the meaning of “By whatever reason one regards another as a fool.”
‘Với lý do nào mà người ấy xem kẻ khác là ngu si’ có nghĩa là: Với lý do nào, với duyên nào, với nguyên nhân nào, với năng lực nào mà người ấy xem, thấy, nhận thấy, nhìn, chiêm nghiệm, quán xét kẻ khác là ngu si, là thấp kém, là hèn hạ, là hạ liệt, là tồi tệ, là đáng khinh, là nhỏ mọn. – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Với lý do nào mà người ấy xem kẻ khác là ngu si.’
Tenātumānaṃ kusaloti cāhāti. Ātumāno vuccati attā. Sopi teneva hetunā tena paccayena tena kāraṇena tena pabhavena attānaṃ ahamasmi kusalo paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvīti – tenātumānaṃ kusaloti cāha.
“He says of himself, ‘I am skilled.’” The self (attā) is called ‘ātumāna’. He also, for that very reason, by that condition, by that cause, by that influence, says of himself: “I am skilled, wise, intelligent, discerning, knowledgeable, analytical, sagacious.” This is the meaning of the phrase, “He says of himself, ‘I am skilled.’”
‘Với chính lý do ấy người ấy tự cho mình là thiện xảo’ có nghĩa là: ‘Ātumāna’ được gọi là tự ngã. Chính người ấy cũng với lý do ấy, với duyên ấy, với nguyên nhân ấy, với năng lực ấy (tự cho) tự ngã rằng: ‘Ta là người thiện xảo, là bậc hiền trí, là người có trí tuệ, là người có giác tuệ, là người có tri kiến, là người có khả năng phân biệt, là người có trí thông minh.’ – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Với chính lý do ấy người ấy tự cho mình là thiện xảo.’
Sayamattanā so kusalāvadānoti. Sayameva attānaṃ kusalavādo paṇḍitavādo thiravādo ñāyavādo hetuvādo lakkhaṇavādo kāraṇavādo ṭhānavādo sakāya laddhiyāti – sayamattanā so kusalāvadāno.
“By his own self, he is one who proclaims skill.” According to his own view, by his own self, he is one who holds the view that he is skilled, one who holds the view that he is wise, one who holds the view that he is steadfast, one who holds the view that he is logical, one who holds the view that he is causal, one who holds the view that he is characteristic, one who holds the view that he is principled, and one who holds the view that he has a basis. This is the meaning of the phrase, “By his own self, he is one who proclaims skill.”
‘Tự mình cho là thiện xảo’ có nghĩa là: Tự mình, với chủ thuyết của riêng mình, người ấy là người có chủ trương rằng mình thiện xảo, có chủ trương rằng mình là bậc hiền trí, có chủ trương rằng mình kiên định, có chủ trương rằng mình hợp lý, có chủ trương rằng mình có nguyên nhân, có chủ trương rằng mình có đặc điểm, có chủ trương rằng mình có lý do, có chủ trương rằng mình có cơ sở. – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Tự mình cho là thiện xảo.’
Aññaṃ vimāneti tadeva pāvāti. Na sammānetītipi aññaṃ vimāneti. Atha vā domanassaṃ janetītipi aññaṃ vimāneti. Tadeva pāvāti tadeva taṃ diṭṭhigataṃ pāvadati ‘‘itipāyaṃ puggalo micchādiṭṭhiko viparītadassano’’ti – aññaṃ vimāneti tadeva pāvada.
“He disrespects another and proclaims just that.” Because he does not honor, he is called one who “disrespects another.” Or, because he generates displeasure, he is also called one who “disrespects another.” “He proclaims just that” means he proclaims just that very view, saying: “This person has wrong view, a distorted perspective.” This is the meaning of the phrase, “He disrespects another and proclaims just that.”
‘Người ấy xem thường kẻ khác và nói lên chính điều ấy’ có nghĩa là: Do không tôn trọng nên được gọi là ‘xem thường kẻ khác.’ Hoặc giả, do làm cho sanh khởi sự ưu phiền nên được gọi là ‘xem thường kẻ khác.’ ‘Và nói lên chính điều ấy’ có nghĩa là: Người ấy nói lên chính điều ấy, chính sở hành của tà kiến ấy rằng: ‘Do vậy, người này là người có tà kiến, là người có nhận thức sai lầm.’ – (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Người ấy xem thường kẻ khác và nói lên chính điều ấy.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Yeneva bāloti paraṃ dahāti, tenātumānaṃ kusaloti cāha;
Sayamattanā so kusalāvadāno, aññaṃ vimāneti tadeva pāvā’’ti.
“By that very means by which he asserts another is a fool, by that he says of himself, ‘I am skilled.’ By his own self, he is one who proclaims skill; he disrespects another and proclaims just that.”
‘Với lý do nào mà người ấy xem kẻ khác là ngu si, với chính lý do ấy người ấy tự cho mình là thiện xảo. Tự mình cho là thiện xảo, người ấy xem thường kẻ khác và nói lên chính điều ấy.’
124.
124.
124.
Atisāradiṭṭhiyā so samatto, mānena matto paripuṇṇamānī;
Sayameva sāmaṃ manasābhisitto, diṭṭhī hi sā tassa tathā samattā.
He is accomplished in an over-reaching view, intoxicated with conceit, one of perfected conceit. By himself, he is anointed by his own mind, for that view of his is thus accomplished.
‘Người ấy được hoàn hảo về tà kiến cực kỳ vững chắc, bị say sưa bởi lòng kiêu mạn, là người có lòng kiêu mạn được trọn vẹn. Tự mình, chính người ấy đã tự tôn phong bằng tâm ý của mình; vì rằng tà kiến ấy của người ấy đã được hoàn hảo như vậy.’
Atisāradiṭṭhiyā so samattoti. Atisāradiṭṭhiyo vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni. Kiṃkāraṇā atisāradiṭṭhiyo vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni? Sabbā tā diṭṭhiyo kāraṇātikkantā lakkhaṇātikkantā ṭhānātikkantā, taṃkāraṇā atisāradiṭṭhiyo vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni. Sabbāpi diṭṭhiyo atisāradiṭṭhiyo †. Kiṃkāraṇā sabbāpi diṭṭhiyo vuccanti atisāradiṭṭhiyo? Te † aññamaññaṃ atikkamitvā samatikkamitvā vītivattitvā diṭṭhigatāni janenti sañjanenti nibbattenti abhinibbattenti, taṃkāraṇā sabbāpi diṭṭhiyo vuccanti atisāradiṭṭhiyo. Atisāradiṭṭhiyā so samattoti. Atisāradiṭṭhiyā samatto paripuṇṇo anomoti – atisāradiṭṭhiyā so samatto.
“He is accomplished by his over-reaching view.” The sixty-two views are called over-reaching views. For what reason are the sixty-two views called over-reaching views? All those views have transgressed cause, transgressed characteristic, and transgressed their basis. For that reason, the sixty-two views are called over-reaching views. All views are, indeed, over-reaching views. For what reason are all views called over-reaching views? Surpassing, thoroughly surpassing, and transcending one another, they generate views, bring them into being, produce them, and fully manifest them. For that reason, all views are called over-reaching views. “He is accomplished by his over-reaching view” means: by the over-reaching view, he is accomplished, fulfilled, and not inferior.
Atisāradiṭṭhiyā so samatto (vị ấy thành tựu về tà kiến vượt ngoài). Sáu mươi hai tà kiến được gọi là các tà kiến vượt ngoài. Vì lý do gì sáu mươi hai tà kiến được gọi là các tà kiến vượt ngoài? Tất cả các tà kiến ấy đã vượt qua nhân, đã vượt qua tướng, đã vượt qua trú xứ; vì lý do ấy, sáu mươi hai tà kiến được gọi là các tà kiến vượt ngoài. Tất cả các tà kiến cũng là các tà kiến vượt ngoài. Vì lý do gì tất cả các tà kiến cũng được gọi là các tà kiến vượt ngoài? Chúng nó, sau khi đã vượt qua, đã hoàn toàn vượt qua, đã đặc biệt vượt qua lẫn nhau, rồi sanh ra, làm cho sanh ra, làm cho hiện hữu, làm cho hoàn toàn hiện hữu các tà kiến; vì lý do ấy, tất cả các tà kiến cũng được gọi là các tà kiến vượt ngoài. Atisāradiṭṭhiyā so samatto có nghĩa là: Do tà kiến vượt ngoài, vị ấy được thành tựu, được trọn vẹn, không phải là thấp kém – (đây là ý nghĩa của) atisāradiṭṭhiyā so samatto.
Mānena matto paripuṇṇamānīti. Sakāya diṭṭhiyā diṭṭhimānena matto pamatto ummatto atimattoti – mānena matto. Paripuṇṇamānīti paripuṇṇamānī samattamānī anomamānīti – mānena matto paripuṇṇamānī.
“Intoxicated by conceit, one who has the conceit of being complete.” “Intoxicated by conceit” means: by his own view, by the conceit that is his view, he is intoxicated, heedlessly intoxicated, especially intoxicated, and exceedingly intoxicated. “One who has the conceit of being complete” means: he has the conceit of being complete, has the conceit of being accomplished, and has the conceit of being not inferior.
Mānena matto paripuṇṇamānī (say sưa vì ngã mạn, tự mãn là viên mãn). Do tà kiến của chính mình, do ngã mạn về tà kiến, vị ấy bị say sưa, bị say đắm, bị cuồng si, bị quá say sưa – (đây là ý nghĩa của) mānena matto. Paripuṇṇamānī có nghĩa là: có ngã mạn là viên mãn, có ngã mạn là thành tựu, có ngã mạn là không thấp kém – (đây là ý nghĩa của) mānena matto paripuṇṇamānī.
Sayameva sāmaṃ manasābhisittoti. Sayameva attānaṃ cittena abhisiñcati ‘‘ahamasmi kusalo paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvī’’ti – sayameva sāmaṃ manasābhisitto.
“By himself, of his own accord, he is consecrated by his mind.” He consecrates himself with his own mind, thinking: “I am skilled, learned, wise, intelligent, possessed of knowledge, discriminating, and sagacious.” This is the meaning of “By himself, of his own accord, he is consecrated by his mind.”
Sayameva sāmaṃ manasābhisitto (tự mình rưới tẩm cho chính mình bằng tâm). Vị ấy tự mình rưới tẩm cho chính mình bằng tâm rằng: “Ta là người thiện xảo, là bậc hiền trí, là người có trí tuệ, là người có giác tuệ, là người có tri kiến, là người có biệt tài, là người có tuệ minh mẫn” – (đây là ý nghĩa của) sayameva sāmaṃ manasābhisitto.
Diṭṭhī hi sā tassa tathā samattāti. Tassa sā diṭṭhi tathā samattā samādinnā gahitā parāmaṭṭhā abhiniviṭṭhā ajjhositā adhimuttāti – diṭṭhī hi sā tassa tathā samattā.
“For that view of his is thus accomplished.” That view of his is thus accomplished, undertaken, grasped, clung to, firmly adhered to, settled upon, and resolved upon. This is the meaning of “For that view of his is thus accomplished.”
Diṭṭhī hi sā tassa tathā samattā (và tà kiến ấy của vị ấy được thành tựu như thế). Tà kiến ấy của vị ấy được thành tựu như thế, được chấp nhận, được nắm giữ, được bám víu, được quyết đoán, được chìm đắm, được tin chắc – (đây là ý nghĩa của) diṭṭhī hi sā tassa tathā samattā.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã thuyết rằng –
‘‘Atisāradiṭṭhiyā so samatto, mānena matto paripuṇṇamānī;
Sayameva sāmaṃ manasābhisitto, diṭṭhī hi sā tassa tathā samattā’’ti.
“Accomplished by his over-reaching view, intoxicated by conceit, one who considers himself complete; he is consecrated by himself with his own mind, for that view of his is indeed thus accomplished.”
“Vị ấy thành tựu về tà kiến vượt ngoài, say sưa vì ngã mạn, tự mãn là viên mãn; tự mình rưới tẩm cho chính mình bằng tâm, và tà kiến ấy của vị ấy được thành tựu như thế.”
125.
125.
125.
Parassa ce hi vacasā nihīno, tumo sahā hoti nihīnapañño;
Atha ce sayaṃ vedagū hoti dhīro, na koci bālo samaṇesu atthi.
“For if one is deemed inferior by another's word, one is thereby of inferior wisdom. But if one is oneself wise, having attained the goal of knowledge, then no fool exists among the ascetics.”
“Và nếu do lời nói của người khác mà (bị xem là) thấp kém, thì chính người kia cũng là thấp kém, có trí tuệ thấp kém. Còn nếu tự mình là bậc thông suốt, là bậc hiền trí, thì không có ai là kẻ ngu si ở trong các vị Sa-môn.”
Parassa ce hi vacasā nihīnoti parassa ce vācāya vacanena ninditakāraṇā garahitakāraṇā upavaditakāraṇā paro bālo hoti hīno nihīno omako lāmako chatukko parittoti – parassa ce hi vacasā nihīno. Tumo sahā hoti nihīnapaññoti. Sopi teneva sahā hoti hīnapañño nihīnapañño omakapañño lāmakapañño chatukkapañño parittapaññoti – tumo sahā hoti nihīnapañño.
“If by another’s words one is degraded”—if by another’s speech, by their words, by reason of blame, by reason of censure, by reason of reproach, another becomes foolish, inferior, degraded, low, base, paltry, and limited: thus, “if by another’s words one is degraded.” “He too is thereby of degraded wisdom”—that person too, by that very same reasoning, is of inferior wisdom, of degraded wisdom, of low wisdom, of base wisdom, of paltry wisdom, and of limited wisdom: thus, “he too is thereby of degraded wisdom.”
Parassa ce hi vacasā nihīno có nghĩa là: Nếu do lời nói, do câu nói của người khác, vì lý do bị chê bai, vì lý do bị chỉ trích, vì lý do bị khiển trách mà người khác là kẻ ngu si, là thấp kém, là hạ liệt, là ti tiện, là xấu xa, là tồi tàn, là nhỏ mọn – (đây là ý nghĩa của) parassa ce hi vacasā nihīno. Tumo sahā hoti nihīnapañño có nghĩa là: Vị ấy cũng do chính điều ấy mà là thấp kém, có trí tuệ thấp kém, có trí tuệ hạ liệt, có trí tuệ ti tiện, có trí tuệ xấu xa, có trí tuệ tồi tàn, có trí tuệ nhỏ mọn – (đây là ý nghĩa của) tumo sahā hoti nihīnapañño.
Atha ce sayaṃ vedagū hoti dhīroti atha ce sayaṃ vedagū hoti dhīro paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvīti – atha ce sayaṃ vedagū hoti dhīro.
“But if one is oneself a master of knowledge, a wise one”—if one is oneself a master of knowledge, a wise one, learned, discerning, intelligent, knowledgeable, discriminating, and sagacious: thus, “but if one is oneself a master of knowledge, a wise one.”
Atha ce sayaṃ vedagū hoti dhīro có nghĩa là: Còn nếu tự mình là bậc thông suốt, là bậc hiền trí, là bậc hiền trí, là người có trí tuệ, là người có giác tuệ, là người có tri kiến, là người có biệt tài, là người có tuệ minh mẫn – (đây là ý nghĩa của) atha ce sayaṃ vedagū hoti dhīro.
Na koci bālo samaṇesu atthīti. Samaṇesu na koci bālo hīno nihīno omako lāmako chatukko paritto atthi, sabbeva seṭṭhapaññā † visiṭṭhapaññā pāmokkhapaññā uttamapaññā pavarapaññāti – na koci bālo samaṇesu atthi.
“There is no fool among ascetics”—among ascetics, there is no one who is a fool, inferior, degraded, low, base, paltry, or limited. All are of excellent wisdom, of distinguished wisdom, of foremost wisdom, of supreme wisdom, and of noble wisdom: thus, “there is no fool among ascetics.”
Na koci bālo samaṇesu atthi có nghĩa là: Ở trong các vị Sa-môn, không có ai là kẻ ngu si, là thấp kém, là hạ liệt, là ti tiện, là xấu xa, là tồi tàn, là nhỏ mọn; tất cả đều là bậc có trí tuệ cao thượng, có trí tuệ đặc biệt, có trí tuệ hàng đầu, có trí tuệ tối thượng, có trí tuệ ưu việt – (đây là ý nghĩa của) na koci bālo samaṇesu atthi.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã thuyết rằng –
‘‘Parassa ce hi vacasā nihīno, tumo sahā hoti nihīnapañño;
Atha ce sayaṃ vedagū hoti dhīro, na koci bālo samaṇesu atthī’’ti.
“If by another’s words one is degraded, he too is of degraded wisdom; but if one is oneself a master of knowledge, a wise one, then there is no fool among ascetics.”
“Và nếu do lời nói của người khác mà (bị xem là) thấp kém, thì chính người kia cũng là thấp kém, có trí tuệ thấp kém. Còn nếu tự mình là bậc thông suốt, là bậc hiền trí, thì không có ai là kẻ ngu si ở trong các vị Sa-môn.”
126.
126.
126.
Aññaṃ ito yābhivadanti dhammaṃ, aparaddhā suddhimakevalī te;
Evampi titthyā puthuso vadanti, sandiṭṭhirāgena hi tebhirattā.
Those who proclaim a doctrine other than this have failed in purity and are incomplete; thus do the sectarians speak variously, for they are impassioned with lust for their own views.
“Những ai thuyết giảng giáo pháp khác với giáo pháp này, những vị ấy đã sai lạc sự thanh tịnh, là không trọn vẹn. Các người theo ngoại giáo cũng nói nhiều như vậy, vì họ đã say đắm bởi tham ái về tự thân kiến.”
Aññaṃ ito yābhivadanti dhammaṃ, aparaddhā suddhimakevalī teti. Ito aññaṃ dhammaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ ye abhivadanti, te suddhimaggaṃ visuddhimaggaṃ parisuddhimaggaṃ vodātamaggaṃ pariyodātamaggaṃ viraddhā aparaddhā khalitā galitā aññāya aparaddhā akevalī te, asamattā te, aparipuṇṇā te, hīnā nihīnā omakā lāmakā chatukkā parittāti – aññaṃ ito yābhivadanti dhammaṃ, aparaddhā suddhimakevalī te.
“Those who proclaim a doctrine other than this have failed in purity and are incomplete”—those who proclaim a doctrine, a view, a practice, a path other than this, they have missed, failed, stumbled, and fallen away from the path of purity, the path of purification, the path of complete purity, the path of cleansing, and the path of thorough cleansing. Through wrong understanding, they have failed. They are incomplete, they are unaccomplished, they are unfulfilled; they are inferior, degraded, low, base, paltry, and limited: thus, “those who proclaim a doctrine other than this have failed in purity and are incomplete.”
Aññaṃ ito yābhivadanti dhammaṃ, aparaddhā suddhimakevalī te có nghĩa là: Những ai thuyết giảng giáo pháp, tà kiến, con đường thực hành, đạo lộ khác với (giáo pháp) này, những vị ấy đã bỏ lỡ, đã sai lạc, đã vấp ngã, đã trượt khỏi, đã sai lạc do sự hiểu biết sai lầm về con đường thanh tịnh, con đường hoàn toàn thanh tịnh, con đường trọn vẹn thanh tịnh, con đường trong sạch, con đường hoàn toàn trong sạch. Những vị ấy là không trọn vẹn, những vị ấy là không thành tựu, những vị ấy là không viên mãn, là thấp kém, là hạ liệt, là ti tiện, là xấu xa, là tồi tàn, là nhỏ mọn – (đây là ý nghĩa của) aññaṃ ito yābhivadanti dhammaṃ, aparaddhā suddhimakevalī te.
Evampi titthyā puthuso vadantīti. Titthaṃ vuccati diṭṭhigataṃ. Titthiyā vuccanti diṭṭhigatikā. Puthudiṭṭhiyā puthudiṭṭhigatāni vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – evampi titthyā puthuso vadanti.
Thus do the sectarians speak in many ways. A viewpoint is called a 'tittha'. Those who hold a viewpoint are called 'titthiyā'. Many sectarians speak, preach, recite, show, and designate many viewpoints—thus do the sectarians speak in many ways.
Evampi titthyā puthuso vadanti có nghĩa là: Tà kiến được gọi là bến nước. Những người có tà kiến được gọi là người theo ngoại giáo. Nhiều người theo ngoại giáo nói, kể, đọc, trình bày, sử dụng nhiều tà kiến – (đây là ý nghĩa của) evampi titthyā puthuso vadanti.
Sandiṭṭhirāgena hi tebhirattāti. Sakāya diṭṭhiyā diṭṭhirāgena rattā abhirattāti – sandiṭṭhirāgena hi tebhirattā.
For they are infatuated through passion for their own views. They are infatuated, deeply infatuated through passion for their own view—for they are infatuated through passion for their own views.
Sandiṭṭhirāgena hi tebhirattā có nghĩa là: Do tà kiến của chính mình, do tham ái về tà kiến, họ bị nhiễm, bị say đắm – (đây là ý nghĩa của) sandiṭṭhirāgena hi tebhirattā.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã thuyết rằng –
‘‘Aññaṃ ito yābhivadanti dhammaṃ, aparaddhā suddhimakevalī te;
Evampi titthyā puthuso vadanti, sandiṭṭhirāgena hi tebhirattā’’ti.
"Those who proclaim another teaching apart from this, they have failed in purity and are not complete. Thus do the sectarians speak in many ways, for they are infatuated by passion for their own view."
“Những ai thuyết giảng giáo pháp khác với giáo pháp này, những vị ấy đã sai lạc sự thanh tịnh, là không trọn vẹn. Các người theo ngoại giáo cũng nói nhiều như vậy, vì họ đã say đắm bởi tham ái về tự thân kiến.”
127.
127.
127.
Idheva suddhiṃ iti vādayanti, nāññesu dhammesu visuddhimāhu;
Evampi titthyā puthuso niviṭṭhā, sakāyane tattha daḷhaṃ vadānā.
"'Here alone is purity,' they declare; they speak of no purification in other doctrines. Thus are the sectarians diversely entrenched, firmly asserting their own system there.
“Chỉ ở đây có sự thanh tịnh,” họ nói như vậy, họ không nói đến sự thanh tịnh ở trong các giáo pháp khác. Các người theo ngoại giáo cũng đã an trú nhiều như vậy, ở nơi tự thân kiến của mình, họ đã nói lên điều ấy một cách chắc chắn.
Idheva suddhiṃ iti vādayantīti. Idha suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti idha suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti idha suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – idheva suddhiṃ iti vādayanti.
Regarding 'Here alone is purity,' they declare: Here they speak, preach, recite, show, and designate purity, purification, complete purity, release, special release, and complete release. [Holding the view,] 'The world is eternal; this alone is true, the other is worthless,' here they speak, preach, recite, show, and designate purity, purification, complete purity, release, special release, and complete release. [Holding the view,] 'The world is not eternal... a Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, the other is worthless,' here they speak, preach, recite, show, and designate purity, purification, complete purity, release, special release, and complete release—thus, 'Here alone is purity,' they declare.
Idheva suddhiṃ iti vādayanti có nghĩa là: Ở đây, họ nói, họ kể, họ đọc, họ trình bày, họ sử dụng (thuật ngữ) sự thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự trọn vẹn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự trọn vẹn giải thoát. (Họ nói rằng:) “Thế gian là thường hằng, chỉ điều này là chân lý, điều khác là rỗng tuếch.” Ở đây, họ nói, họ kể, họ đọc, họ trình bày, họ sử dụng (thuật ngữ) sự thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự trọn vẹn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự trọn vẹn giải thoát. (Họ nói rằng:) “Thế gian là không thường hằng… cho đến… Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không phải không tồn tại, chỉ điều này là chân lý, điều khác là rỗng tuếch.” Ở đây, họ nói, họ kể, họ đọc, họ trình bày, họ sử dụng (thuật ngữ) sự thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự trọn vẹn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự trọn vẹn giải thoát – (đây là ý nghĩa của) idheva suddhiṃ iti vādayanti.
Nāññesu dhammesu visuddhimāhūti. Attano satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ ṭhapetvā sabbe paravāde khipanti ukkhipanti parikkhipanti. ‘‘So satthā na sabbaññū, dhammo na svākkhāto, gaṇo na suppaṭipanno, diṭṭhi na bhaddikā, paṭipadā na supaññattā, maggo na niyyāniko, natthettha suddhi vā visuddhi vā parisuddhi vā, mutti vā vimutti vā parimutti vā, natthettha sujjhanti vā visujjhanti vā parisujjhanti vā, muccanti vā vimuccanti vā parimuccanti vā hīnā nihīnā omakā lāmakā chatukkā parittā’’ti, evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – nāññesu dhammesu visuddhimāhu.
They speak of no purification in other doctrines. Setting aside their own teacher, the teaching, the community, the view, the practice, and the path, they cast down, reject, and denounce all other doctrines. 'That teacher is not all-knowing, the teaching is not well-proclaimed, the community is not practicing well, the view is not good, the practice is not well-laid-down, the path does not lead to deliverance; there is no purity, or special purity, or complete purity here; no release, or special release, or complete release. Here they do not become pure, or specially pure, or completely pure; they are not released, or specially released, or completely released; they are inferior, base, common, degraded, paltry, and limited,' thus they say, thus they speak, thus they utter, thus they explain, thus they use such expressions—they speak of no purification in other doctrines.
Nāññesu dhammesu visuddhimāhūti (họ nói rằng không có sự thanh tịnh ở trong các pháp khác) có nghĩa là: Sau khi đã đặt sang một bên vị đạo sư, lời giảng pháp, giáo phái, tà kiến, pháp hành, con đường của mình, họ loại bỏ, vứt bỏ, loại trừ tất cả các quan điểm của người khác. (Họ nói rằng:) ‘Vị đạo sư ấy không phải là bậc toàn giác, giáo pháp không được khéo thuyết, giáo đoàn không phải là bậc diệu hạnh, tà kiến không phải là tốt đẹp, pháp hành không được khéo chế định, con đường không đưa đến sự giải thoát. Ở đây không có sự trong sạch, hay sự thanh tịnh, hay sự hoàn toàn trong sạch; không có sự giải thoát, hay sự hoàn toàn giải thoát, hay sự giải thoát triệt để. Ở đây không có những người được trong sạch, hay được thanh tịnh, hay được hoàn toàn trong sạch; không có những người được giải thoát, hay được hoàn toàn giải thoát, hay được giải thoát triệt để. (Các pháp ấy là) hạ liệt, thấp kém, tầm thường, tồi tệ, đáng khinh, nhỏ mọn.’ Họ đã nói như vậy, họ trình bày như vậy, họ tuyên bố như vậy, họ giải thích như vậy, họ sử dụng (thuật ngữ) như vậy – (đó là ý nghĩa của) họ nói rằng không có sự thanh tịnh ở trong các pháp khác.
Evampi titthyā puthuso niviṭṭhāti. Titthaṃ vuccati diṭṭhigataṃ. Titthiyā vuccanti diṭṭhigatikā. Puthudiṭṭhiyā † puthudiṭṭhigatesu niviṭṭhā patiṭṭhitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttāti – evampi titthyā puthuso niviṭṭhā.
Thus are the sectarians diversely entrenched. A viewpoint is called a 'tittha'. Those who hold a viewpoint are called 'titthiyā'. Many sectarians are entrenched, rooted, attached, inclined, devoted, and resolved in their many viewpoints—thus are the sectarians diversely entrenched.
Evampi titthyā puthuso niviṭṭhā (cũng vậy, các người theo ngoại giáo đã an trú một cách đa dạng) có nghĩa là: Quan điểm sai lầm được gọi là ‘bến nước’ (titthaṃ). Những người có quan điểm sai lầm được gọi là ‘người theo ngoại giáo’ (titthiyā). Nhiều người theo ngoại giáo đã an trú, đã thiết lập, đã dính mắc, đã gần gũi, đã bị ám ảnh, đã quyết tâm trong nhiều quan điểm sai lầm của họ – (đó là ý nghĩa của) cũng vậy, các người theo ngoại giáo đã an trú một cách đa dạng.
Sakāyane tattha daḷhaṃ vadānāti. Dhammo sakāyanaṃ, diṭṭhi sakāyanaṃ, paṭipadā sakāyanaṃ, maggo sakāyanaṃ, sakāyane daḷhavādā thiravādā balikavādā avaṭṭhitavādāti – sakāyane tattha daḷhaṃ vadānā.
Firmly asserting their own doctrine there. The Dhamma is one's own doctrine, the view is one's own doctrine, the practice is one's own doctrine, the path is one's own doctrine. They are firm in their assertions, resolute in their assertions, strong in their assertions, and established in their assertions—thus they firmly assert their own doctrine there.
Sakāyane tattha daḷhaṃ vadānā (ở nơi trú ẩn của mình, họ nói một cách chắc chắn) có nghĩa là: Giáo pháp là nơi trú ẩn của mình (sakāyanaṃ), tà kiến là nơi trú ẩn của mình, pháp hành là nơi trú ẩn của mình, con đường là nơi trú ẩn của mình. Ở nơi trú ẩn của mình, họ là những người có lời nói chắc chắn, lời nói kiên định, lời nói mạnh mẽ, lời nói đã được thiết lập – (đó là ý nghĩa của) ở nơi trú ẩn của mình, họ nói một cách chắc chắn.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Idheva suddhiṃ iti vādayanti, nāññesu dhammesu visuddhimāhu;
Evampi titthyā puthuso niviṭṭhā, sakāyane tattha daḷhaṃ vadānā’’ti.
"'Here alone is purity,' they declare; they speak of no purification in other doctrines; Thus are the sectarians diversely entrenched, firmly asserting their own doctrine there."
“‘Chỉ ở đây có sự thanh tịnh,’ họ chủ trương như vậy, họ nói rằng không có sự thanh tịnh ở trong các pháp khác; Cũng vậy, các người theo ngoại giáo đã an trú một cách đa dạng, ở nơi trú ẩn của mình, họ nói một cách chắc chắn.”
128.
128.
128.
Sakāyane vāpi daḷhaṃ vadāno, kamettha † bāloti paraṃ daheyya;
Sayaṃva † so medhagamāvaheyya, paraṃ vadaṃ bālamasuddhidhammaṃ.
Even while firmly asserting his own doctrine, whom here would he deem a fool? He himself would bring forth strife by calling another a fool of impure nature.
Người nói một cách chắc chắn ngay cả ở nơi trú ẩn của mình, người ấy có thể xem ai khác ở đây là kẻ ngu si? Chính người ấy sẽ tự mang đến sự tranh chấp, khi nói người khác là kẻ ngu si, có pháp không trong sạch.
Sakāyane vāpi daḷhaṃ vadānoti. Dhammo sakāyanaṃ, diṭṭhi sakāyanaṃ, paṭipadā sakāyanaṃ, maggo sakāyanaṃ, sakāyane daḷhavādo thiravādo balikavādo avaṭṭhitavādoti – sakāyane vāpi daḷhaṃ vadāno.
Even while firmly asserting his own doctrine. The Dhamma is one's own doctrine, the view is one's own doctrine, the practice is one's own doctrine, the path is one's own doctrine. He is one who asserts firmly, speaks resolutely, speaks strongly, and speaks unwaveringly—thus, even while firmly asserting his own doctrine.
Sakāyane vāpi daḷhaṃ vadāno (người nói một cách chắc chắn ngay cả ở nơi trú ẩn của mình) có nghĩa là: Giáo pháp là nơi trú ẩn của mình (sakāyanaṃ), tà kiến là nơi trú ẩn của mình, pháp hành là nơi trú ẩn của mình, con đường là nơi trú ẩn của mình. Ở nơi trú ẩn của mình, người ấy là người có lời nói chắc chắn, lời nói kiên định, lời nói mạnh mẽ, lời nói đã được thiết lập – (đó là ý nghĩa của) người nói một cách chắc chắn ngay cả ở nơi trú ẩn của mình.
Kamettha bāloti paraṃ daheyyāti. Etthāti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā paraṃ bālato hīnato nihīnato omakato lāmakato chatukkato parittato kaṃ daheyya kaṃ passeyya kaṃ dakkheyya kaṃ olokeyya kaṃ nijjhāyeyya kaṃ upaparikkheyyāti – kamettha bāloti paraṃ daheyya.
Regarding the phrase, 'Whom here would one see as a fool?': 'Here' means: in one's own view, in one's own preference, in one's own liking, in one's own doctrine, how could one see another as a fool, as inferior, as inferior in practice, as inferior in effort, as inferior in cause, as inferior in disposition, as inferior in faculty? How could one behold, how could one see, how could one look at, how could one contemplate, how could one investigate?—thus, 'Whom here would one see as a fool?'
Kamettha bāloti paraṃ daheyya (người ấy có thể xem ai khác ở đây là kẻ ngu si) có nghĩa là: Ở đây (etthāti) tức là trong tà kiến của mình, trong sự chấp nhận của mình, trong sở thích của mình, trong học thuyết của mình, người ấy có thể xem ai khác, có thể nhận thấy ai khác, có thể thấy ai khác, có thể nhìn ai khác, có thể quán xét ai khác, có thể thẩm tra ai khác là kẻ ngu si, là hạ liệt, là thấp kém, là tầm thường, là tồi tệ, là đáng khinh, là nhỏ mọn như thế nào? – (đó là ý nghĩa của) người ấy có thể xem ai khác ở đây là kẻ ngu si.
Sayaṃva so medhagamāvaheyya, paraṃ vadaṃ bālamasuddhidhammanti. Paro bālo hīno nihīno omako lāmako chatukko paritto asuddhidhammo avisuddhidhammo aparisuddhidhammo avodātadhammoti – evaṃ vadanto evaṃ kathento evaṃ bhaṇanto evaṃ dīpayanto evaṃ voharanto sayameva kalahaṃ bhaṇḍanaṃ viggahaṃ vivādaṃ medhagaṃ āvaheyya samāvaheyya āhareyya samāhareyya ākaḍḍheyya samākaḍḍheyya gaṇheyya parāmaseyya abhiniviseyyāti – sayaṃva so medhagamāvaheyya paraṃ vadaṃ bālamasuddhidhammaṃ.
Regarding the phrase, 'He himself would bring about strife, calling another a fool of impure nature': One who says thus, speaks thus, recites thus, explains thus, or calls thus—'The other is a fool, inferior, inferior in practice, inferior in effort, inferior in cause, inferior in disposition, inferior in faculty, of impure nature, of unpurified nature, of unclean nature, of unclarified nature'—by himself alone would cause to arise, would well cause to arise, would bring, would well bring, would draw in, would well draw in, would grasp, would cling to, and would become intent upon quarrels, disputes, contention, arguments, and strife—thus, 'He himself would bring about strife, calling another a fool of impure nature.'
Sayaṃva so medhagamāvaheyya, paraṃ vadaṃ bālamasuddhidhammanti (chính người ấy sẽ tự mang đến sự tranh chấp, khi nói người khác là kẻ ngu si, có pháp không trong sạch) có nghĩa là: (Khi nói rằng) ‘Người khác là kẻ ngu si, hạ liệt, thấp kém, tầm thường, tồi tệ, đáng khinh, nhỏ mọn, có pháp không trong sạch, có pháp không thanh tịnh, có pháp không hoàn toàn trong sạch, có pháp không trong trắng’ – khi nói như vậy, khi trình bày như vậy, khi tuyên bố như vậy, khi giải thích như vậy, khi sử dụng (thuật ngữ) như vậy, chính người ấy sẽ tự mang đến, tự chuốc lấy, tự đem về, tự mang lại, tự lôi kéo, tự thu hút, tự nắm giữ, tự bám víu, tự chấp thủ sự cãi vã, sự xung đột, sự tranh chấp, sự tranh luận, sự tranh cãi – (đó là ý nghĩa của) chính người ấy sẽ tự mang đến sự tranh chấp, khi nói người khác là kẻ ngu si, có pháp không trong sạch.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Sakāyane vāpi daḷhaṃ vadāno, kamettha bāloti paraṃ daheyya;
Sayaṃva so medhagamāvaheyya, paraṃ vadaṃ bālamasuddhidhamma’’nti.
"Even while speaking firmly of one's own doctrine, whom here would one deem a fool? He himself would bring about strife, calling another a fool of impure nature."
“‘Người nói một cách chắc chắn ngay cả ở nơi trú ẩn của mình, người ấy có thể xem ai khác ở đây là kẻ ngu si? Chính người ấy sẽ tự mang đến sự tranh chấp, khi nói người khác là kẻ ngu si, có pháp không trong sạch.’”
129.
129.
129.
Vinicchaye ṭhatvā sayaṃ pamāya, uddhaṃsa † lokasmiṃ vivādameti;
Hitvāna sabbāni vinicchayāni, na medhagaṃ kubbati jantu loke.
Having stood in judgments and measured by oneself, one greatly enters into dispute in the world; having abandoned all judgments, a being creates no strife in the world.
Đứng vững trong sự phán quyết, tự mình đo lường, người ấy đi đến sự tranh luận cao ngạo trong thế gian; Sau khi từ bỏ tất cả các sự phán quyết, chúng sanh không tạo ra sự tranh chấp ở trong đời.
Vinicchaye ṭhatvā sayaṃ pamāyāti. Vinicchayā vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni. Vinicchayadiṭṭhiyā ṭhatvā patiṭṭhahitvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā vinicchaye ṭhatvā. Sayaṃ pamāyāti sayaṃ pamāya paminitvā. ‘‘Ayaṃ satthā sabbaññū’’ti sayaṃ pamāya paminitvā, ‘‘ayaṃ dhammo svākkhāto… ayaṃ gaṇo suppaṭipanno… ayaṃ diṭṭhi bhaddikā… ayaṃ paṭipadā supaññattā… ayaṃ maggo niyyāniko’’ti sayaṃ pamāya paminitvāti – vinicchaye ṭhatvā sayaṃ pamāya.
Regarding the phrase, 'Having stood in judgments and measured by oneself': 'Judgments' refers to the sixty-two views. 'Having stood in judgments' means having stood in the view that is a judgment, having been firmly established, having grasped, having contemplated, and having become intent upon it. 'Measured by oneself' means having measured by oneself, having compared. That is, having measured by oneself and compared, thinking: 'This teacher is all-knowing'; 'This Dhamma is well-expounded'; 'This community is of good practice'; 'This view is excellent'; 'This practice is well-prescribed'; 'This path is emancipating'.
Vinicchaye ṭhatvā sayaṃ pamāya (đứng vững trong sự phán quyết, tự mình đo lường) có nghĩa là: Sáu mươi hai tà kiến được gọi là các sự phán quyết (vinicchayā). Đứng vững, thiết lập, nắm giữ, bám víu, chấp thủ trong tà kiến phán quyết (là ý nghĩa của) đứng vững trong sự phán quyết. Sayaṃ pamāya (tự mình đo lường) có nghĩa là tự mình đo lường, tự mình thẩm định. (Nghĩ rằng:) ‘Vị đạo sư này là bậc toàn giác,’ tự mình đo lường, tự mình thẩm định; ‘giáo pháp này được khéo thuyết… giáo đoàn này là bậc diệu hạnh… tà kiến này là tốt đẹp… pháp hành này được khéo chế định… con đường này đưa đến sự giải thoát,’ tự mình đo lường, tự mình thẩm định – (đó là ý nghĩa của) đứng vững trong sự phán quyết, tự mình đo lường.
Uddhaṃsa lokasmiṃ vivādametīti. Uddhaṃso vuccati anāgataṃ. Attano vādaṃ uddhaṃ ṭhapetvā sayameva kalahaṃ bhaṇḍanaṃ viggahaṃ vivādaṃ medhagaṃ eti upeti upagacchati gaṇhāti parāmasati abhinivisatīti. Evampi uddhaṃsa lokasmiṃ vivādameti. Atha vā aññena uddhaṃ vādena saddhiṃ kalahaṃ karoti bhaṇḍanaṃ karoti viggahaṃ karoti vivādaṃ karoti medhagaṃ karoti – ‘‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi…pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’’ti. Evampi uddhaṃsa lokasmiṃ vivādameti.
Regarding 'One with a lofty view enters into disputes in the world': 'Uddhaṃsa' (one with a lofty view) is said of one's future view. Having established one's own view as lofty, one personally enters into quarrels, disputes, contentions, arguments, and strife—one approaches, draws near, reaches, grasps, contemplates, and becomes intent upon it. In this way, 'one with a lofty view enters into disputes in the world.' Alternatively, with another, one creates quarrels, creates disputes, creates contentions, creates arguments, creates strife by means of a lofty view—'You do not know this Dhamma-Vinaya... and so on... refute it if you can!' In this way too, 'one with a lofty view enters into disputes in the world.'
Uddhaṃsa lokasmiṃ vivādameti (người ấy đi đến sự tranh luận cao ngạo trong thế gian) có nghĩa là: Tương lai được gọi là ‘cao ngạo’ (uddhaṃso). Sau khi đặt quan điểm của mình lên trên, chính người ấy đi đến, tiếp cận, đạt đến, nắm giữ, bám víu, chấp thủ sự cãi vã, sự xung đột, sự tranh chấp, sự tranh luận, sự tranh cãi. Đây cũng là ý nghĩa của ‘người ấy đi đến sự tranh luận cao ngạo trong thế gian’. Hoặc là, người ấy tạo ra sự cãi vã, tạo ra sự xung đột, tạo ra sự tranh chấp, tạo ra sự tranh luận, tạo ra sự tranh cãi với một quan điểm cao ngạo khác – (nói rằng:) ‘Ông không biết Pháp và Luật này…này… hãy bác bỏ đi nếu ông có thể.’ Đây cũng là ý nghĩa của ‘người ấy đi đến sự tranh luận cao ngạo trong thế gian’.
Hitvāna sabbāni vinicchayānīti. Vinicchayā vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni. Diṭṭhivinicchayā sabbe vinicchaye † hitvā cajitvā pariccajitvā jahitvā pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvāti – hitvāna sabbāni vinicchayāni.
Regarding 'Having abandoned all judgments': 'Judgments' are said to be the sixty-two kinds of views. Having abandoned, relinquished, rejected, let go, dispelled, brought to an end, and caused to come to non-existence all judgments that are views—this is 'having abandoned all judgments.'
Hitvāna sabbāni vinicchayānīti (sau khi từ bỏ tất cả các sự phán quyết) có nghĩa là: Sáu mươi hai tà kiến được gọi là các sự phán quyết (vinicchayā). Sau khi từ bỏ, xả ly, buông bỏ, rời bỏ, vứt bỏ, loại trừ, hủy diệt, làm cho không còn tồn tại tất cả các sự phán quyết, tức là các tà kiến phán quyết – (đó là ý nghĩa của) sau khi từ bỏ tất cả các sự phán quyết.
Na medhagaṃ kubbati jantu loketi. Na kalahaṃ karoti, na bhaṇḍanaṃ karoti, na viggahaṃ karoti, na vivādaṃ karoti, na medhagaṃ karoti. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘evaṃ vimuttacitto kho, aggivessana, bhikkhu na kenaci saṃvadati, na kenaci vivadati, yañca loke vuttaṃ tena ca voharati aparāmasa’’nti. Jantūti satto naro mānavo poso puggalo jīvo jāgu jantu indagu manujo. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloketi – na medhagaṃ kubbati jantu loketi.
Regarding 'A being creates no strife in the world': One does not create quarrels, one does not create disputes, one does not create contentions, one does not create arguments, one does not create strife. For this was said by the Blessed One: "A monk thus freed in mind, Aggivessana, does not contend with anyone, does not dispute with anyone, and uses the conventional speech of the world without contemplation of it." 'Being' (jantu) means a living being, a man, a human, a person, an individual, a life-force, a creature, an animate being, an indwelling spirit, a mortal. 'In the world' means in the world of misery... and so on... in the world of the sense-bases. This is 'a being creates no strife in the world.'
Chúng sanh không tạo ra tranh chấp ở trong đời. Vị ấy không gây ra sự cãi cọ, không gây ra sự xung đột, không gây ra sự tranh luận, không gây ra sự tranh cãi, không gây ra sự tranh chấp. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Aggivessana, vị tỳ khưu có tâm giải thoát như vậy không tranh luận với bất cứ ai, không tranh cãi với bất cứ ai, và vị ấy sử dụng những lời nói thông thường ở trong đời mà không có sự chấp thủ.’ ‘Chúng sanh’ là chúng sanh, là người, là thanh niên, là người nam, là cá nhân, là sinh mạng, là sinh vật, là chúng sanh, là người chủ, là con người. ‘Ở trong đời’ là ở trong cõi khổ… cho đến… ở trong xứ của thế gian. – (Đây là ý nghĩa của câu) chúng sanh không tạo ra tranh chấp ở trong đời.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Vinicchaye ṭhatvā sayaṃ pamāya, uddhaṃsa lokasmiṃ vivādameti;
Hitvāna sabbāni vinicchayāni, na medhagaṃ kubbati jantu loke’’ti.
"Standing on judgments, measuring by oneself, one with a lofty view enters into disputes in the world; having abandoned all judgments, a being creates no strife in the world."
‘Đứng vững trong sự phán xét, tự mình đo lường, người ấy đi đến tranh cãi trong thế gian hỗn loạn; Sau khi từ bỏ tất cả các sự phán xét, chúng sanh không tạo ra tranh chấp ở trong đời.’
The Exposition of the Cūḷaviyūha Sutta, the twelfth.
Phần giải thích kinh Tiểu Tranh Chấp, thứ mười hai.