Bản dịch
MND 11 — Diễn Giải Kinh Cãi Cọ Và Tranh Cãi
11. Kalahavivādasuttaniddesa
Giờ phần Diễn Giải Kinh ‘Cãi Cọ và Tranh Cãi’ được nói đến:
Từ đâu phát khởi các sự cãi cọ, các sự tranh cãi,
các sự than vãn, các nỗi sầu muộn, và thêm các sự bỏn xẻn,
các sự ngã mạn, và ngã mạn thái quá, rồi thêm các việc nói đâm thọc?
Từ đâu chúng phát khởi? Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy .
Từ đâu phát khởi các sự cãi cọ, các sự tranh cãi – Sự cãi cọ : Theo một cách thức, sự cãi cọ và sự tranh cãi cũng y như nhau; cái nào là cãi cọ, cái ấy là tranh cãi; cái nào là tranh cãi, cái ấy là cãi cọ. Hoặc là, theo một cách thức khác nói về tranh cãi: tranh cãi là phần đi trước của cãi cọ. Các vị vua tranh cãi với các vị vua, các Sát-đế-lỵ tranh cãi với các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn tranh cãi với các Bà-la-môn, các gia chủ tranh cãi với các gia chủ, mẹ tranh cãi với con trai, con trai tranh cãi với mẹ, cha tranh cãi với con trai, con trai tranh cãi với cha, anh em trai tranh cãi với anh em trai, chị em gái tranh cãi với chị em gái, anh em trai tranh cãi với chị em gái, chị em gái tranh cãi với anh em trai, bạn bè tranh cãi với bạn bè; việc này là tranh cãi.
Sự cãi cọ là việc nào? Các người tại gia, (trong khi tức giận) cầm lấy gậy gộc, thực hiện việc cãi cọ bằng thân bằng khẩu; các bậc xuất gia, trong khi vi phạm tội, thực hiện việc cãi cọ bằng thân bằng khẩu; việc này là cãi cọ.
Từ đâu phát khởi các sự cãi cọ, các sự tranh cãi – là hỏi về nguồn gốc, hỏi về nhân, hỏi về căn nguyên, hỏi về sự xuất phát, hỏi về nguồn sanh khởi, hỏi về nguồn phát khởi, hỏi về yếu tố nuôi dưỡng, hỏi về đối tượng, hỏi về duyên khởi, hỏi về nhân sanh khởi của sự cãi cọ và sự tranh cãi: ‘Các sự cãi cọ và các sự tranh cãi phát khởi từ đâu, sanh ra từ đâu, sanh khởi từ đâu, hạ sanh từ đâu, phát sanh từ đâu, xuất hiện từ đâu, có cái gì là căn nguyên, có cái gì là nhân sanh khởi, có cái gì là mầm sanh khởi, có cái gì là nguồn sanh khởi?’ là chất vấn, là yêu cầu, là thỉnh cầu, là đặt niềm tin; – ‘từ đâu phát khởi các sự cãi cọ, các sự tranh cãi’ là như thế.
Các sự than vãn, các nỗi sầu muộn, và thêm các sự bỏn xẻn – Sự than vãn : là sự than van, sự than trách, sự than thở, sự than vãn, trạng thái than van, trạng thái than trách, lời nói, nói lảm nhảm, nói huyên thuyên, nói kể lể, lối nói kể lể, trạng thái nói kể lể của người bị tác động bởi sự rủi ro về thân quyến, bị tác động bởi sự rủi ro về của cải, bị tác động bởi sự rủi ro về bệnh tật, bị tác động bởi sự suy giảm về giới hạnh, bị tác động bởi sự suy giảm về kiến thức, bị gặp phải sự rủi ro này hoặc rủi ro khác, hoặc bị tác động bởi sự khổ này hoặc sự khổ khác. Nỗi sầu muộn : Nỗi sầu muộn là sự buồn rầu, trạng thái buồn phiền, sự sầu muộn ở nội tâm, sự buồn thảm ở nội tâm, sự nóng nảy ở nội tâm, sự bực tức ở nội tâm, nỗi ưu phiền do trạng thái bực bội của tâm, mũi tên sầu muộn của người bị tác động bởi sự rủi ro về thân quyến, bị tác động bởi sự rủi ro về của cải, bị tác động bởi sự rủi ro về bệnh tật, bị tác động bởi sự suy giảm về giới hạnh, bị tác động bởi sự suy giảm về kiến thức, bị gặp phải sự rủi ro này hoặc rủi ro khác, hoặc bị tác động bởi sự khổ này hoặc sự khổ khác. Sự bỏn xẻn : Có năm loại bỏn xẻn: bỏn xẻn về chỗ ở, bỏn xẻn về gia tộc, bỏn xẻn về lợi lộc, bỏn xẻn về danh tiếng, bỏn xẻn về Pháp. Bỏn xẻ với hình thức như vầy là biểu hiện của bỏn xẻn, trạng thái của bỏn xẻn, sự hám lợi, keo kiệt, tính chất bủn xỉn, trạng thái nắm giữ của tâm, điều này được gọi là bỏn xẻn. Còn nữa, bỏn xẻn về uẩn cũng là bỏn xẻn, bỏn xẻn về giới cũng là bỏn xẻn, bỏn xẻn về xứ cũng là bỏn xẻn, sự nắm lấy được gọi là bỏn xẻn; – ‘các sự than vãn, các nỗi sầu muộn, và thêm các sự bỏn xẻn’ là như thế.
Các sự ngã mạn, và ngã mạn thái quá, rồi thêm các việc nói đâm thọc – Ngã mạn : Ở đây một người nào đó sanh khởi ngã mạn về xuất thân, về dòng dõi, về con nhà gia thế, về vẻ đẹp của vóc dáng, về tài sản, về học vấn, về công việc, về tài nghệ, về kiến thức, về sự học hỏi, về tài biện giải, hoặc về sự việc này khác. Ngã mạn thái quá : Ở đây một người nào đó khinh khi người khác theo sự sanh ra, theo dòng họ, –nt– hoặc theo sự việc này khác.
Việc nói đâm thọc : Ở đây, một người nào đó có lời nói đâm thọc: sau khi nghe ở chỗ này, là người nói lại ở chỗ kia nhằm chia rẽ những người này, hoặc là sau khi nghe ở chỗ kia, là người nói lại cho những người này nhằm chia rẽ những người kia; như vậy là người chia rẽ những kẻ đã được hợp nhất, là người khuyến khích những kẻ chia rẽ, là người thỏa thích phe nhóm, thích thú phe nhóm, hân hoan phe nhóm, là người nói lời tạo ra phe nhóm. Điều này được gọi là việc nói đâm thọc. Thêm nữa, người đem lại việc nói đâm thọc vì hai lý do: vì mong muốn được thương hoặc là vì ý định chia rẽ. Đem lại việc nói đâm thọc vì mong muốn được thương nghĩa là thế nào? (Nghĩ rằng): ‘Ta sẽ được người này yêu thương, ta sẽ được quý mến, ta sẽ được tin cậy, ta sẽ trở thành thân tín, ta sẽ trở thành tâm phúc;’ đem lại việc nói đâm thọc vì mong muốn được thương nghĩa là như vậy. Đem lại việc nói đâm thọc vì ý định chia rẽ nghĩa là thế nào? (Nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để những người này trở thành xa lạ, trở thành tách biệt, trở thành phe nhóm, trở thành hai phần, trở thành hai phía, trở thành hai nhánh, bị chia rẽ, không thể hội tụ, sống khổ sở không thoải mái?’ đem lại việc nói đâm thọc vì ý định chia rẽ nghĩa là như vậy; – ‘các sự ngã mạn, và ngã mạn thái quá, rồi thêm các việc nói đâm thọc’ là như thế.
Từ đâu chúng phát khởi? Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy – Sự cãi cọ, sự tranh cãi, sự than vãn, nỗi sầu muộn, sự bỏn xẻn, sự ngã mạn, sự ngã mạn thái quá, và việc nói đâm thọc, tám điều ô nhiễm này phát khởi từ đâu, sanh ra từ đâu, sanh khởi từ đâu, hạ sanh từ đâu, phát sanh từ đâu, xuất hiện từ đâu, có cái gì là căn nguyên, có cái gì là nhân sanh khởi, có cái gì là mầm sanh khởi, có cái gì là nguồn sanh khởi? (Vị ấy) hỏi về nguồn gốc, hỏi về nhân, hỏi về căn nguyên, hỏi về sự xuất phát, hỏi về nguồn sanh khởi, hỏi về nguồn phát khởi, hỏi về yếu tố nuôi dưỡng, hỏi về đối tượng, hỏi về duyên khởi, hỏi về nhân sanh khởi của tám điều ô nhiễm này, là chất vấn, là yêu cầu, là thỉnh cầu, là đặt niềm tin; – ‘từ đâu chúng phát khởi? Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy’ là như thế. Nào, xin ngài hãy nói, hãy nêu ra, hãy thuyết giảng, hãy thông báo, hãy ấn định, hãy khai mở, hãy chia sẻ, hãy làm rõ, hãy bày tỏ; – ‘từ đâu chúng phát khởi? Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy’ là như thế.
Vì thế, vị (Phật) do thần thông biến hóa ra đã hỏi rằng:
“ Từ đâu phát khởi các sự cãi cọ, các sự tranh cãi,
các sự than vãn, các nỗi sầu muộn, và thêm các sự bỏn xẻn,
các sự ngã mạn, và ngã mạn thái quá, rồi thêm các việc nói đâm thọc?
Từ đâu chúng phát khởi? Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy .”
Từ vật được yêu mến, phát khởi các sự cãi cọ, các sự tranh cãi,
các sự than vãn, các nỗi sầu muộn, và thêm các sự bỏn xẻn,
các sự ngã mạn, và ngã mạn thái quá, rồi thêm các việc nói đâm thọc.
Các sự cãi cọ, các sự tranh cãi là có liên quan đến sự bỏn xẻn.
Và ở các cuộc tranh cãi đã được sanh ra, có các việc nói đâm thọc .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Từ vật được yêu mến, phát khởi các sự cãi cọ, các sự tranh cãi,
các sự than vãn, các nỗi sầu muộn, và thêm các sự bỏn xẻn,
các sự ngã mạn, và ngã mạn thái quá, rồi thêm các việc nói đâm thọc.
Các sự cãi cọ, các sự tranh cãi là có liên quan đến sự bỏn xẻn.
Và ở các cuộc tranh cãi đã được sanh ra, có các việc nói đâm thọc .”
Vậy các vật được yêu mến ở thế gian có căn nguyên từ đâu, và luôn cả những ai sống ở thế gian cũng do tham (tham ấy có căn nguyên từ đâu)? Mong mỏi và sự thành tựu (của mong mỏi) – những sự việc đưa đến đời sống kế tiếp của con người – có căn nguyên từ đâu?
Vì thế, vị (Phật) do thần thông biến hóa ra đã hỏi rằng:
“ Vậy các vật được yêu mến ở thế gian có căn nguyên từ đâu, và luôn cả những ai sống ở thế gian cũng do tham (tham ấy có căn nguyên từ đâu)? Mong mỏi và sự thành tựu (của mong mỏi) – những sự việc đưa đến đời sống kế tiếp của con người – có căn nguyên từ đâu? ”
Các vật được yêu mến ở thế gian có mong muốn là căn nguyên, và luôn cả những ai sống ở thế gian cũng do tham (tham ấy có căn nguyên từ mong muốn). Mong mỏi và sự thành tựu (của mong mỏi) – những sự việc đưa đến đời sống kế tiếp của con người – có căn nguyên từ đây (từ sự mong muốn) .
"Thửa ruộng được cày với sự mong mỏi, hạt giống được gieo với sự mong mỏi, những người thương buôn đi biển với sự mong mỏi là những người mang về của cải. Với sự mong mỏi nào mà tôi đứng (ở đây), mong rằng sự mong mỏi ấy của tôi được thành tựu ."
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Các vật được yêu mến ở thế gian có mong muốn là căn nguyên, và luôn cả những ai sống ở thế gian cũng do tham (tham ấy có căn nguyên từ mong muốn). Mong mỏi và sự thành tựu (của mong mỏi) – những sự việc đưa đến đời sống kế tiếp của con người – có căn nguyên từ đây (từ sự mong muốn) .”
Vậy mong muốn ở thế gian có căn nguyên từ đâu?
Và luôn cả các phán đoán được phát khởi từ đâu?
Sự giận dữ, lời nói giả dối, và sự nghi ngờ,
và luôn cả các pháp nào đã được bậc Sa-môn nói đến?
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vậy mong muốn ở thế gian có căn nguyên từ đâu?
Và luôn cả các phán đoán được phát khởi từ đâu?
Sự giận dữ, lời nói giả dối, và sự nghi ngờ,
và luôn cả các pháp nào đã được bậc Sa-môn nói đến? ”
Khoái lạc, không khoái lạc – là điều con người ở thế gian đã nói;
nương tựa vào điều ấy, mong muốn phát khởi.
Sau khi nhìn thấy sự hiện hữu và không hiện hữu ở các sắc,
con người ở thế gian thực hiện sự phán quyết .
Khoái lạc, không khoái lạc – là điều con người ở thế gian đã nói – Khoái lạc : là cảm thọ lạc và sự việc được ước muốn. Không khoái lạc : là cảm thọ khổ và sự việc không được ước muốn. Là điều con người ở thế gian đã nói : là điều người ta đã nói, điều người ta thuyết, điều người ta phát ngôn, điều người ta diễn giải, điều người ta diễn tả; – ‘khoái lạc, không khoái lạc – là điều con người ở thế gian đã nói’ là như thế.
Nương tựa vào điều ấy, mong muốn phát khởi – Nương tựa vào khoái lạc và không khoái lạc, nương tựa vào hạnh phúc và khổ đau, nương tựa vào hỷ tâm và ưu tâm, nương tựa vào vật ước muốn và không ước muốn, nương tựa vào sự say đắm và bất bình, mong muốn hiện diện, phát khởi, phát xuất, sanh ra, sanh khởi, hạ sanh, phát sanh; – ‘nương tựa vào điều ấy, mong muốn phát khởi’ là như thế.
Sau khi nhìn thấy sự hiện hữu và không hiện hữu ở các sắc – Ở các sắc : là bốn yếu tố chính (đất nước gió lửa) và sắc liên quan đến bốn yếu tố chính. Sự hiện hữu của các sắc là việc nào? Sự hiện hữu của các sắc là sự sanh ra, sự sanh khởi, sự hạ sanh, sự phát sanh, sự xuất hiện của các sắc. Sự không hiện hữu của các sắc là việc nào? Sự không hiện hữu của các sắc là sự tiêu hoại, sự hoại diệt, sự tan rã, sự sụp đổ, sự không tồn tại, sự không hiện hữu của các sắc. Sau khi nhìn thấy sự hiện hữu và không hiện hữu ở các sắc : là sau khi nhìn thấy, sau khi nhìn xem, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt sự hiện hữu và không hiện hữu ở các sắc; – ‘sau khi nhìn thấy sự hiện hữu và không hiện hữu ở các sắc’ là như thế.
Con người ở thế gian thực hiện sự phán quyết – Sự phán quyết : Có hai sự phán quyết: sự phán quyết do tham ái và sự phán quyết do tà kiến.
Thực hiện sự phán quyết do tham ái là thế nào? Ở đây, các của cải của một người nào đó còn chưa được sanh lên thì không sanh lên, và các tài sản đã được sanh lên thì đi đến hoại diệt. Người ấy khởi ý như sau: ‘Bởi lý do gì mà các của cải của ta còn chưa được sanh lên thì không sanh lên, và các tài sản đã được sanh lên thì đi đến hoại diệt?’ Người ấy còn khởi ý như sau: ‘Khi ta gắn bó với việc dễ duôi uống chất say là rượu và chất lên men, các của cải của ta còn chưa được sanh lên thì không sanh lên, và các tài sản đã được sanh lên thì đi đến hoại diệt. Khi ta gắn bó với việc lai vãng ở các đường phố vào ban đêm, các của cải của ta còn chưa được sanh lên thì không sanh lên, và các tài sản đã được sanh lên thì đi đến hoại diệt. Khi ta gắn bó với việc thăm viếng các cuộc hội hè, – Khi ta gắn bó với việc dễ duôi ở các trò cờ bạc, – Khi ta gắn bó với các bạn ác xấu, các của cải của ta còn chưa được sanh lên thì không sanh lên, và các tài sản đã được sanh lên thì đi đến hoại diệt. Khi ta gắn bó với việc lười biếng, các của cải của ta còn chưa được sanh lên thì không sanh lên, và các tài sản đã được sanh lên thì đi đến hoại diệt,’ sau khi lập trí như vậy thì không thân cận với các sáu đường lối làm tiêu tán của cải và thân cận với sáu đường lối đem lại của cải; thực hiện sự phán quyết do tham ái là như vậy. Hoặc là, thực hành nghề nông, hoặc nghề buôn bán, hoặc chăn trâu bò, hoặc nghề bắn cung, hoặc hầu hạ vua chúa, hoặc một nghề nghiệp nào đó; thực hiện sự phán quyết do tham ái còn là như vậy.
Thực hiện sự phán quyết do tà kiến là thế nào? Khi mắt sanh lên thì biết rằng: ‘Bản ngã của ta sanh lên.’ Khi mắt biến mất thì biết rằng: ‘Bản ngã của ta biến mất, bản ngã của ta đã đi khỏi;’ thực hiện sự phán quyết do tà kiến là như vậy. Khi tai – Khi mũi – Khi lưỡi – Khi thân – Khi sắc – Khi thinh – Khi hương – Khi vị – Khi xúc sanh lên thì biết rằng: ‘Bản ngã của ta sanh lên.’ Khi xúc biến mất thì biết rằng: ‘Bản ngã của ta biến mất, bản ngã của ta đã đi khỏi;’ tiến hành, làm sanh ra, làm sanh khởi, làm hạ sanh, làm phát sanh sự phán quyết do tà kiến còn là như vậy. Con người : là chúng sanh, đàn ông, thanh niên, –nt– nhân loại. Ở thế gian : ở thế gian của khổ cảnh, –nt– ở thế gian của các xứ; – ‘con người ở thế gian thực hiện sự phán quyết’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Khoái lạc, không khoái lạc – là điều con người ở thế gian đã nói;
nương tựa vào điều ấy, mong muốn phát khởi.
Sau khi nhìn thấy sự hiện hữu và không hiện hữu ở các sắc,
con người ở thế gian thực hiện sự phán quyết .”
Sự giận dữ, lời nói giả dối, và sự nghi ngờ,
các pháp này (sanh lên) trong khi cặp đôi [1] có mặt.
Kẻ có sự nghi ngờ nên học tập theo đường lối của trí.
Sau khi đã nhận biết, các pháp đã được bậc Sa-môn nói lên .
[1] Là hai pháp khoái lạc và không khoái lạc (SnA. ii, 552).
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sự giận dữ, lời nói giả dối, và sự nghi ngờ,
các pháp này (sanh lên) trong khi cặp đôi có mặt.
Kẻ có sự nghi ngờ nên học tập theo đường lối của trí.
Sau khi đã nhận biết, các pháp đã được bậc Sa-môn nói lên .”
Khoái lạc và không khoái lạc có căn nguyên từ đâu?
Khi cái gì không có mặt thì hai pháp này không có mặt?
Về sự hiện hữu và không hiện hữu, điều nào là ý nghĩa?
Xin Ngài hãy nói cho tôi điều ấy có căn nguyên từ đâu?
Vì thế, vị (Phật) đã được hóa hiện ra đã hỏi rằng:
“ Khoái lạc và không khoái lạc có căn nguyên từ đâu?
Khi cái gì không có mặt thì hai pháp này không có mặt?
Về sự hiện hữu và không hiện hữu, điều nào là ý nghĩa?
Xin Ngài hãy nói cho tôi điều ấy có căn nguyên từ đâu? ”
Khoái lạc và không khoái lạc có xúc là căn nguyên.
Khi xúc không có mặt, hai pháp này không có mặt.
Về sự hiện hữu và không hiện hữu, điều nào là ý nghĩa,
Ta nói cho ngươi điều ấy có căn nguyên từ đây .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Khoái lạc và không khoái lạc có xúc là căn nguyên.
Khi xúc không có mặt, hai pháp này không có mặt.
Về sự hiện hữu và không hiện hữu, điều nào là ý nghĩa,
Ta nói cho ngươi điều ấy có căn nguyên từ đây .”
Vậy xúc ở thế gian có căn nguyên từ đâu?
Và các sự bám giữ được khởi sanh từ đâu?
Khi cái gì không có mặt, thì không có trạng thái chấp là của ta?
Khi cái gì không hiện hữu, thì các xúc không xúc chạm?
Vì thế, vị (Phật) đã được hóa hiện ra đã hỏi rằng:
“ Vậy xúc ở thế gian có căn nguyên từ đâu?
Và các sự bám giữ được khởi sanh từ đâu?
Khi cái gì không có mặt, thì không có trạng thái chấp là của ta?
Khi cái gì không hiện hữu, thì các xúc không xúc chạm? ”
Các xúc tùy thuộc vào danh và sắc.
Và các sự bám giữ có ước muốn là căn nguyên.
Khi ước muốn không có mặt thì không có trạng thái chấp là của ta.
Khi sắc không hiện hữu, thì các xúc không xúc chạm .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Xúc tùy thuộc vào danh và sắc.
Và các sự bám giữ có ước muốn là căn nguyên.
Khi ước muốn không có mặt thì không có trạng thái chấp là của ta.
Khi sắc không hiện hữu, thì các xúc không xúc chạm .”
Đối với vị đã thành đạt thế nào thì sắc không hiện hữu?
Hạnh phúc hoặc luôn cả khổ đau không hiện hữu như thế nào?
Xin ngài hãy nói cho tôi điều ấy không hiện hữu ra sao,
chúng tôi sẽ biết điều ấy – ý nghĩ của tôi đã là thế ấy .
Vì thế, vị (Phật) do thần thông biến hóa ra đã hỏi rằng:
“ Đối với vị đã thành đạt thế nào thì sắc không hiện hữu?
Hạnh phúc hoặc luôn cả khổ đau không hiện hữu như thế nào?
Xin ngài hãy nói cho tôi điều ấy không hiện hữu ra sao,
‘chúng tôi sẽ biết điều ấy,’ ý nghĩ của tôi đã là thế ấy .”
Không phải là có tưởng do tưởng, không phải là có tưởng do tưởng sai lệch, cũng không phải là không có tưởng, không phải là có tưởng không được hiện hữu; đối với vị đã thành đạt như vậy thì sắc không hiện hữu, bởi vì cái gọi là vọng tưởng có tưởng là căn nguyên .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không phải là có tưởng do tưởng, không phải là có tưởng do tưởng sai lệch, cũng không phải là không có tưởng, không phải là có tưởng không được hiện hữu; đối với vị đã thành đạt như vậy thì sắc không hiện hữu, bởi vì cái gọi là vọng tưởng có tưởng là căn nguyên .”
Điều mà chúng tôi đã hỏi Ngài, Ngài đã trả lời chúng tôi. Chúng tôi hỏi Ngài điều khác. Nào, xin Ngài hãy nói về điều ấy. Có phải một số bậc sáng suốt ở nơi đây nói rằng sự trong sạch của chúng sanh đến chừng này là cao nhất, [1] hay là họ còn nói về điều khác so với điều này?
[1] Nói về sự chứng đạt các tầng thiền vô sắc ( Sđd .).
Vì thế, vị (Phật) do thần thông biến hóa ra đã hỏi rằng:
“ Điều mà chúng tôi đã hỏi Ngài, Ngài đã trả lời chúng tôi. Chúng tôi hỏi Ngài điều khác. Nào, xin Ngài hãy nói về điều ấy. Có phải một số bậc sáng suốt ở nơi đây nói rằng sự trong sạch của chúng sanh đến chừng này là cao nhất, hay là họ còn nói về điều khác so với điều này? ”
Một số bậc sáng suốt ở nơi đây nói rằng sự trong sạch của chúng sanh chỉ đến chừng này là cao nhất. Trái lại, một số trong số đó nói về sự tịch diệt (đoạn kiến), trong khi tuyên bố là thiện xảo về trạng thái không còn dư sót .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Một số bậc sáng suốt ở nơi đây nói rằng sự trong sạch của chúng sanh chỉ đến chừng này là cao nhất.
Trái lại, một số trong số đó nói về sự tịch diệt (đoạn kiến), trong khi tuyên bố là thiện xảo về trạng thái không còn dư sót .”
Và sau khi nhận biết những người này là những kẻ nương tựa, [1]
sau khi nhận biết, bậc hiền trí ấy có sự cân nhắc về các sự nương tựa,
sau khi nhận biết, bậc đã được giải thoát không đi đến tranh cãi,
bậc sáng trí không đi đến tái sanh ở hữu và phi hữu .
[1] Những người này nương tựa vào thường kiến hoặc đoạn kiến ( NiddA . ii, 359).
Và sau khi nhận biết những người này là những kẻ nương tựa – Những người này : Những người theo tà kiến. Những kẻ nương tựa : sau khi nhận biết là ‘những người nương theo thường kiến,’ sau khi nhận biết là ‘những người nương theo đoạn kiến,’ sau khi nhận biết là ‘những người nương theo thường và đoạn kiến,’ sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt; – ‘và sau khi nhận biết những người này là những kẻ nương tựa’ là như thế.
Sau khi nhận biết, bậc hiền trí ấy có sự cân nhắc về các sự nương tựa – Bậc hiền trí : Bản thể hiền trí nói đến trí, –nt– đã vượt qua sự quyến luyến và mạng lưới (tham ái và tà kiến), vị ấy là hiền trí. Bậc hiền trí sau khi nhận biết là ‘những người nương theo thường kiến,’ sau khi nhận biết là ‘những người nương theo đoạn kiến,’ sau khi nhận biết là ‘những người nương theo thường và đoạn kiến,’ sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt. Vị ấy có sự cân nhắc : là vị sáng suốt, có tuệ, có sự giác ngộ, có trí, có sự rành mạch, có sự thông minh; – ‘sau khi nhận biết, bậc hiền trí ấy có sự cân nhắc về các sự nương tựa’ là như thế.
Sau khi nhận biết, bậc đã được giải thoát không đi đến tranh cãi – Sau khi nhận biết là sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt. Đã được giải thoát : là đã được thoát khỏi, đã được giải thoát, đã khéo được giải thoát, đã được giải thoát hoàn toàn với sự giải thoát tuyệt đối không còn chấp thủ. Sau khi nhận biết, sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt rằng: ‘ Tất cả các hành là vô thường ,’ thì đã được thoát khỏi, đã được giải thoát, đã khéo được giải thoát, đã được giải thoát hoàn toàn với sự giải thoát tuyệt đối không còn chấp thủ. Sau khi nhận biết, sau khi biết được, sau khi cân nhắc, sau khi xác định, sau khi minh định, sau khi làm rõ rệt rằng: ‘ Tất cả các hành là khổ ,’ –nt– ‘ Tất cả các pháp là vô ngã ,’ –nt– ‘ Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt ,’ thì đã được thoát khỏi, đã được giải thoát, đã khéo được giải thoát, đã được giải thoát hoàn toàn với sự giải thoát tuyệt đối không còn chấp thủ; – ‘sau khi nhận biết, bậc đã được giải thoát’ là như thế. Không đi đến tranh cãi : không gây ra sự cãi cọ, không gây ra sự cãi lộn, không gây ra sự cãi vã, không gây ra sự tranh cãi, không gây ra sự gây gỗ. Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘ Này Aggivessana, với tâm đã được giải thoát như vậy, vị tỳ khưu không nói hùa theo bất cứ ai, không tranh cãi với bất cứ ai, sử dụng ngôn từ được thông dụng ở thế gian, và không bám víu (vào ngôn từ ấy) ;’ – ‘sau khi nhận biết, bậc đã được giải thoát không đi đến tranh cãi’ là như thế.
Bậc sáng trí không đi đến tái sanh ở hữu và phi hữu – Ở hữu và phi hữu : ở hữu và phi hữu, ở sự hiện hữu của nghiệp, ở sự tái sanh, ở sự hiện hữu của nghiệp ở dục giới, ở sự tái sanh ở dục giới, ở sự hiện hữu của nghiệp ở sắc giới, ở sự tái sanh ở sắc giới, ở sự hiện hữu của nghiệp ở vô sắc giới, ở sự tái sanh ở vô sắc giới, ở sự hiện hữu liên tục, ở cảnh giới tái sanh liên tục, ở sự tái sanh liên tục, ở sự nối liền tái sanh liên tục, ở sự phát sanh bản ngã liên tục; không đi đến tái sanh, không đi đến gặp gỡ, không nắm lấy, không bám víu, không cố chấp. Bậc sáng trí : bậc sáng trí là vị sáng suốt, có tuệ, có sự giác ngộ, có trí, có sự rành mạch, có sự thông minh; – ‘bậc sáng trí không đi đến tái sanh ở hữu và phi hữu’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Và sau khi nhận biết những người này là ‘những kẻ nương tựa,’
sau khi nhận biết, bậc hiền trí ấy có sự cân nhắc về các sự nương tựa,
sau khi nhận biết, bậc đã được giải thoát không đi đến tranh cãi,
bậc sáng trí không đi đến tái sanh ở hữu và phi hữu .”
Diễn Giải Kinh ‘Cãi Cọ và Tranh Cãi’ - Phần thứ mười một được đầy đủ .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kutopahūtā kalahā vivādāti. Kalahoti ekena ākārena kalaho; vivādotipi taññeva. Yo kalaho so vivādo, yo vivādo so kalaho. Atha vā aparena ākārena vivādo vuccati kalahassa pubbabhāgo vivādo. Rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatīpi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhātarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati – ayaṃ vivādo. Katamo kalaho? Āgārikā daṇḍapasutā kāyena vācāya kalahaṃ karonti, pabbajitā āpattiṃ āpajjantā kāyena vācāya kalahaṃ karonti – ayaṃ kalaho.
Regarding 'From where do quarrels and disputes arise?': A quarrel is a quarrel in one sense; a dispute is the same. What is a quarrel is a dispute, and what is a dispute is a quarrel. Or, in another sense, a dispute is said to be the precursor to a quarrel. Kings dispute with kings, nobles with nobles, brahmins with brahmins, householders with householders, a mother disputes with a son, a son with a mother, a father disputes with a son, a son with a father, a brother disputes with a brother, a brother disputes with a sister, a sister disputes with a brother, a friend disputes with a friend—this is a dispute. What is a quarrel? Laypeople, given to violence, make quarrels with body or speech; renunciants, incurring offenses, make quarrels with body or speech—this is a quarrel.
Do đâu sanh khởi cãi cọ và tranh luận? Cãi cọ (kalaha) là cãi cọ theo một phương diện; tranh luận (vivāda) cũng là như vậy. Cái gì là cãi cọ, cái đó là tranh luận; cái gì là tranh luận, cái đó là cãi cọ. Hoặc là, tranh luận được gọi theo một phương diện khác: giai đoạn đầu của cãi cọ là tranh luận. Các vị vua cũng tranh luận với các vị vua, các Sát-đế-lỵ cũng tranh luận với các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn cũng tranh luận với các Bà-la-môn, các gia chủ cũng tranh luận với các gia chủ, mẹ cũng tranh luận với con trai, con trai cũng tranh luận với mẹ, cha cũng tranh luận với con trai, con trai cũng tranh luận với cha, anh em cũng tranh luận với anh em, anh cũng tranh luận với chị em gái, chị em gái cũng tranh luận với anh, bạn bè cũng tranh luận với bạn bè – đây là tranh luận. Cãi cọ là gì? Các người tại gia, chuyên tâm vào hình phạt, tạo ra sự cãi cọ bằng thân và khẩu; các người xuất gia, khi phạm vào tội, tạo ra sự cãi cọ bằng thân và khẩu – đây là cãi cọ.
Kutopahūtā kalahā vivādāti. Kalahā ca vivādā ca kutopahūtā kutojātā kutosañjātā kutonibbattā kutoabhinibbattā kutopātubhūtā, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavāti kalahassa ca vivādassa ca mūlaṃ pucchati, hetuṃ pucchati, nidānaṃ pucchati, sambhavaṃ pucchati, pabhavaṃ pucchati, samuṭṭhānaṃ pucchati, āhāraṃ pucchati, ārammaṇaṃ pucchati, paccayaṃ pucchati, samudayaṃ pucchati papucchati yācati ajjhesati † pasādetīti – kutopahūtā kalahā vivādā.
Regarding 'From where do quarrels and disputes arise?': Quarrels and disputes—from where do they arise, from where are they born, from where do they originate, from where do they spring forth, from where do they fully arise, from where do they appear? What is their source, what is their origin, of what kind are they, what is their provenance? Thus, he asks about the root of quarrels and disputes, he asks about the cause, he asks about the source, he asks about the genesis, he asks about the provenance, he asks about the arising, he asks about the nutriment, he asks about the object, he asks about the condition, and he asks about the origination. He asks in detail, he requests, he entreats, and he seeks to inspire confidence. Thus, 'From where do quarrels and disputes arise?'
Do đâu sanh khởi cãi cọ và tranh luận? Cãi cọ và tranh luận do đâu sanh khởi, do đâu được sanh ra, do đâu được sanh khởi tốt đẹp, do đâu được phát sanh, do đâu được phát sanh vượt trội, do đâu được hiện khởi; có nhân duyên gì, có nguồn sanh khởi gì, có chủng loại gì, có nguồn gốc gì? Như vậy, vị ấy hỏi về gốc rễ của cãi cọ và tranh luận, hỏi về nguyên nhân, hỏi về nhân duyên, hỏi về sự sanh khởi, hỏi về nguồn gốc, hỏi về sự khởi lên, hỏi về vật thực, hỏi về đối tượng, hỏi về duyên, hỏi về nguồn sanh khởi; vị ấy hỏi chi tiết, thỉnh cầu, thỉnh mời, làm cho hoan hỷ – (đó là ý nghĩa của câu) 'Do đâu sanh khởi cãi cọ và tranh luận'.
Paridevasokā sahamaccharā cāti. Paridevoti ñātibyasanena vā phuṭṭhassa, bhogabyasanena vā phuṭṭhassa, rogabyasanena vā phuṭṭhassa, sīlabyasanena vā phuṭṭhassa, diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa, aññataraññatarena vā byasanena samannāgatassa, aññataraññatarena vā dukkhadhammena phuṭṭhassa, ādevo paridevo, ādevanā paridevanā, ādevitattaṃ paridevitattaṃ, vācā palāpo vippalāpo lālappo lālappāyanā lālappāyitattaṃ. Sokoti ñātibyasanena vā phuṭṭhassa, bhogarogasīladiṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa, aññataraññatarena vā byasanena samannāgatassa, aññataraññatarena vā dukkhadhammena phuṭṭhassa, soko socanā socitattaṃ, antosoko antoparisoko, antoḍāho antopariḍāho, cetaso parijjhāyanā domanassaṃ sokasallaṃ. Maccharanti pañca macchariyāni – āvāsamacchariyaṃ, kulamacchariyaṃ, lābhamacchariyaṃ, vaṇṇamacchariyaṃ, dhammamacchariyaṃ. Yaṃ evarūpaṃ macchariyaṃ maccharāyanaṃ maccharāyitattaṃ vevicchaṃ kadariyaṃ kaṭukañcukatā aggahitattaṃ cittassa – idaṃ vuccati macchariyaṃ. Api ca, khandhamacchariyampi macchariyaṃ, dhātumacchariyampi macchariyaṃ, āyatanamacchariyampi macchariyaṃ gāho. Idaṃ vuccati macchariyanti – paridevasokā sahamaccharā ca.
Regarding 'lamentations and sorrows, together with stinginess': Lamentation is, for one afflicted by the loss of relatives, afflicted by the loss of wealth, afflicted by illness, afflicted by the loss of virtue, or afflicted by the loss of views, or for one endowed with any other misfortune or afflicted by any other painful state: wailing, lamentation, the act of wailing, the act of lamenting, the state of being a wailer, the state of being a lamenter, speech, chatter, incoherent speech, repeated lamenting, and the state of being one who repeatedly laments. Sorrow is, for one afflicted by the loss of relatives, afflicted by the loss of wealth, illness, virtue, or views, or for one endowed with any other misfortune or afflicted by any other painful state: grief, mourning, the state of sorrowing, inner sorrow, inner anguish, inner burning, inner torment, the mind’s searing pain, mental pain, and the dart of sorrow. Stinginess refers to the five kinds of stinginess: stinginess regarding dwellings, stinginess regarding families, stinginess regarding gains, stinginess regarding one's appearance and good qualities, and stinginess regarding the Dhamma. Whatever stinginess of such a nature there is—the act of being stingy, the state of being stingy, wanting things for oneself alone, miserliness, churlishness, and a grasping state of mind—this is called stinginess. Furthermore, stinginess regarding the aggregates is stinginess, stinginess regarding the elements is stinginess, and stinginess regarding the sense bases is also stinginess, a grasping. This is called stinginess. Thus, 'lamentations and sorrows, together with stinginess.'
Than van, sầu muộn cùng với bỏn xẻn. Than van (parideva) là: đối với người bị tác động bởi sự tổn thất về quyến thuộc, hoặc bị tác động bởi sự tổn thất về tài sản, hoặc bị tác động bởi sự tổn thất do bệnh tật, hoặc bị tác động bởi sự tổn thất về giới hạnh, hoặc bị tác động bởi sự tổn thất về tri kiến, hoặc người có đầy đủ sự tổn thất nào đó, hoặc người bị tác động bởi pháp khổ đau nào đó, thì có sự than khóc, sự kể lể, sự than khóc, sự kể lể, bản chất của sự than khóc, bản chất của sự kể lể, lời nói, lời than vãn, lời than vãn sai lạc, lời rên rỉ, sự rên rỉ, bản chất của sự rên rỉ. Sầu muộn (soka) là: đối với người bị tác động bởi sự tổn thất về quyến thuộc, hoặc bị tác động bởi sự tổn thất về tài sản, bệnh tật, giới hạnh, tri kiến, hoặc người có đầy đủ sự tổn thất nào đó, hoặc người bị tác động bởi pháp khổ đau nào đó, thì có sự sầu muộn, sự lo buồn, bản chất của sự lo buồn, sầu muộn bên trong, sầu muộn thiêu đốt bên trong, sự nóng nảy bên trong, sự thiêu đốt bên trong, sự thiêu đốt của tâm, sự buồn rầu, mũi tên sầu muộn. Bỏn xẻn (macchariya) có năm loại: bỏn xẻn về trú xứ, bỏn xẻn về gia tộc, bỏn xẻn về lợi lộc, bỏn xẻn về dung sắc, bỏn xẻn về pháp. Sự bỏn xẻn, sự có tính bỏn xẻn, bản chất của sự bỏn xẻn, sự keo kiệt, sự bủn xỉn, sự cau có, bản chất không nắm giữ của tâm có hình thức như vậy – đây được gọi là bỏn xẻn. Hơn nữa, bỏn xẻn về uẩn cũng là bỏn xẻn, bỏn xẻn về giới cũng là bỏn xẻn, bỏn xẻn về xứ cũng là bỏn xẻn, (và) sự chấp thủ. Đây được gọi là bỏn xẻn – (đó là ý nghĩa của câu) 'Than van, sầu muộn cùng với bỏn xẻn'.
Mānātimānā sahapesuṇā cāti. Mānoti idhekacco mānaṃ janeti jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunā. Atimānoti idhekacco paraṃ atimaññati jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunā. Pesuññanti idhekacco pisuṇavāco hoti – ito sutvā amutra akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṃ akkhātā amūsaṃ bhedāya. Iti samaggānaṃ vā bhettā, bhinnānaṃ vā anuppadātā, vaggārāmo vaggarato vagganandī vaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitā hoti – idaṃ vuccati pesuññaṃ. Api ca dvīhi kāraṇehi pesuññaṃ upasaṃharati – piyakamyatāya vā bhedādhippāyena vā. Kathaṃ piyakamyatāya pesuññaṃ upasaṃharati? Imassa piyo bhavissāmi, manāpo bhavissāmi, vissāsiko bhavissāmi, abbhantariko bhavissāmi, suhadayo bhavissāmīti – evaṃ piyakamyatāya pesuññaṃ upasaṃharati. Kathaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharati? Kathaṃ ime nānā assu, vinā assu, vaggā assu, dvidhā assu, dvejjhā assu, dve pakkhā assu, bhijjeyyuṃ na samāgaccheyyuṃ, dukkhaṃ na phāsu vihareyyunti – evaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharatīti – mānātimānā sahapesuṇā ca.
Conceit and disdain, together with malicious speech. As to conceit: herein, a certain person generates conceit due to birth, or lineage, or being of a good family, or excellence of appearance, or wealth, or study, or occupation, or craft, or a field of knowledge, or erudition, or intelligence, or due to some other basis. As to disdain: herein, a certain person disparages another due to birth, or lineage… or due to some other basis. As to malicious speech: herein, a certain person is of slanderous speech—having heard something here, they report it there to cause division among these people; or having heard something there, they report it here to cause division among those people. Thus, they are a divider of those who are united, or an encourager of those who are divided; they delight in disunity, are fond of disunity, rejoice in disunity, and are a speaker of words that create disunity—this is called malicious speech. Furthermore, one engages in malicious speech for two reasons: from a desire to be liked or with the intention to cause division. How does one engage in malicious speech from a desire to be liked? Thinking, 'I will be dear to this person, agreeable, trustworthy, an intimate, a good friend'—thus, one engages in malicious speech from a desire to be liked. How does one engage in malicious speech with the intention to cause division? Thinking, 'How might these people become separate, disunited, become factions, split in two, of two minds, of two parties? May they be broken apart and not come together; may they live in suffering, not in comfort!'—thus, one engages in malicious speech with the intention to cause division. This is the meaning of 'conceit and disdain, together with malicious speech'.
Mạn, quá mạn cùng với nói hai lưỡi. Mạn (māna) là: ở đây, một người nào đó sanh khởi mạn do dòng dõi, hoặc do gia tộc, hoặc do gia thế, hoặc do dung sắc tốt đẹp, hoặc do tài sản, hoặc do học vấn, hoặc do nghề nghiệp, hoặc do kỹ năng, hoặc do kiến thức chuyên môn, hoặc do sự học rộng, hoặc do tài biện luận, hoặc do một sự vật nào đó. Quá mạn (atimāna) là: ở đây, một người nào đó khinh thường người khác do dòng dõi, hoặc do gia tộc, ... hoặc do một sự vật nào đó. Nói hai lưỡi (pesuñña) là: ở đây, một người nào đó có lời nói đâm thọc – nghe từ người này, nói lại cho người kia để gây chia rẽ cho họ; hoặc nghe từ người kia, nói lại cho người này để gây chia rẽ cho họ. Như vậy, người ấy chia rẽ những người đang hòa hợp, hoặc củng cố sự chia rẽ của những người đã chia rẽ; thích thú trong sự chia rẽ, vui thích trong sự chia rẽ, hoan hỷ trong sự chia rẽ, nói lời gây ra sự chia rẽ – đây được gọi là nói hai lưỡi. Hơn nữa, người ấy thực hiện việc nói hai lưỡi vì hai lý do: do mong muốn được yêu mến, hoặc do có ý định chia rẽ. Làm thế nào người ấy thực hiện việc nói hai lưỡi do mong muốn được yêu mến? (Nghĩ rằng:) 'Ta sẽ được người này yêu mến, ta sẽ được hài lòng, ta sẽ được tin cậy, ta sẽ trở nên thân cận, ta sẽ có thiện tâm' – như vậy, người ấy thực hiện việc nói hai lưỡi do mong muốn được yêu mến. Làm thế nào người ấy thực hiện việc nói hai lưỡi do có ý định chia rẽ? (Nghĩ rằng:) 'Làm sao để những người này trở nên khác biệt, trở nên xa cách, trở thành bè phái, trở thành hai phe, có hai ý định, có hai phe cánh, họ sẽ bị chia rẽ, không hòa hợp, sống trong khổ đau, không thoải mái' – như vậy, người ấy thực hiện việc nói hai lưỡi do có ý định chia rẽ – (đó là ý nghĩa của câu) 'Mạn, quá mạn cùng với nói hai lưỡi'.
Kutopahūtā te tadiṅgha brūhīti. Kalaho ca vivādo ca paridevo ca soko ca macchariyañca māno ca atimāno ca pesuññañcāti – ime aṭṭha kilesā kutopahūtā kutojātā kutosañjātā kutonibbattā kutoabhinibbattā kutopātubhūtā, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavāti. Imesaṃ aṭṭhannaṃ kilesānaṃ mūlaṃ pucchati, hetuṃ pucchati, nidānaṃ pucchati, sambhavaṃ pucchati, pabhavaṃ pucchati, samuṭṭhānaṃ pucchati, āhāraṃ pucchati, ārammaṇaṃ pucchati, paccayaṃ pucchati, samudayaṃ pucchati papucchati yācati ajjhesati pasādetīti – kutopahūtā te tadiṅghaṃ brūhīti. Iṅgha brūhi ācikkha desehi paññapehi paṭṭhapehi vivara vibhaja uttānīkarohi pakāsehīti – kutopahūtā te tadiṅgha brūhi.
The phrase ‘From where have these arisen? Pray, tell me this’ is explained. Quarrels, disputes, lamentation, sorrow, stinginess, conceit, disdain, and malicious speech—concerning these eight defilements, it is asked: from where have they arisen? From where are they born? From where are they produced? From where do they originate? From where do they fully originate? From where do they become manifest? What is their source, what their origin, what their nature, what their provenance? He asks about the root of these eight defilements, he asks about the cause, he asks about the source, he asks about their production, he asks about their provenance, he asks about their arising, he asks about their support, he asks about their object, he asks about their condition, and he asks about their origin. He asks in detail, he begs, he entreats, he persuades. ‘From where have these arisen? Pray, tell me this.’ This means: Pray, tell, declare, teach, make known, establish, open up, analyze, make clear, and show. This is the meaning of the phrase ‘From where have these arisen? Pray, tell me this.’
“Kutopahūtā te tadiṅgha brūhīti” (Xin ngài hãy nói rõ, chúng từ đâu sanh khởi). Sự cãi cọ, sự tranh luận, sự than van, sự sầu muộn, sự bỏn xẻn, sự ngã mạn, sự quá mạn, và sự nói hai lưỡi – tám loại phiền não này từ đâu sanh khởi, từ đâu được sanh ra, từ đâu được tạo ra, từ đâu được phát sanh, từ đâu được phát sanh một cách trọn vẹn, từ đâu được biểu hiện, có nhân gì, có nguồn gốc gì, có chủng loại gì, có khởi điểm gì? Vị ấy hỏi về căn nguyên của tám loại phiền não này, hỏi về nguyên nhân, hỏi về nhân duyên, hỏi về sự phát sanh, hỏi về khởi điểm, hỏi về sự khởi lên, hỏi về vật thực, hỏi về đối tượng, hỏi về duyên, hỏi về nguồn gốc, hỏi một cách chi tiết, yêu cầu, thỉnh cầu, làm cho hoan hỷ. “Kutopahūtā te tadiṅghaṃ brūhīti” (Xin ngài hãy nói rõ, chúng từ đâu sanh khởi). “Iṅgha brūhi ācikkha desehi paññapehi paṭṭhapehi vivara vibhaja uttānīkarohi pakāsehīti” (Xin ngài hãy nói, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy trình bày, hãy thiết lập, hãy khai mở, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy giải thích). Đây là ý nghĩa của câu “kutopahūtā te tadiṅgha brūhi”.
Tenāha so nimmito –
Therefore, the created one said:
Do vậy, vị Hóa nhân ấy đã nói:
‘‘Kutopahūtā kalahā vivādā, paridevasokā sahamaccharā ca;
Mānātimānā sahapesuṇā ca, kutopahūtā te tadiṅgha brūhī’’ti.
“From where do quarrels and disputes arise, and lamentations and sorrows along with stinginess? And conceit and disdain along with malicious speech? From where have these arisen? Pray, tell me this.”
“Từ đâu sanh khởi cãi cọ, tranh luận, than van, sầu muộn cùng với bỏn xẻn; ngã mạn, quá mạn cùng với nói hai lưỡi? Chúng từ đâu sanh khởi, xin ngài hãy nói rõ điều ấy.”
98.
98.
98.
Piyappahūtā kalahā vivādā, paridevasokā sahamaccharā ca;
Mānātimānā sahapesuṇā ca, maccherayuttā kalahā vivādā;
Vivādajātesu ca pesuṇāni.
“From what is dear arise quarrels and disputes, lamentations and sorrows along with stinginess, and conceit and disdain along with malicious speech. Quarrels and disputes are connected with stinginess, and when disputes have arisen, malicious speech also comes to be.”
Cãi cọ, tranh luận, than van, sầu muộn cùng với bỏn xẻn, chúng sanh khởi từ điều khả ái; ngã mạn, quá mạn cùng với nói hai lưỡi, (cũng vậy). Cãi cọ, tranh luận được liên kết với sự bỏn xẻn; và khi các cuộc tranh luận đã sanh khởi, thì có những lời nói hai lưỡi.
Piyappahūtā kalahā vivādā, paridevasokā sahamaccharā cāti. Piyāti dve piyā – sattā vā saṅkhārā vā. Katame sattā piyā? Idha yassa te honti atthakāmā hitakāmā phāsukāmā yogakkhemakāmā mātā vā pitā vā bhātā vā bhaginī vā putto vā dhītā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā – ime sattā piyā. Katame saṅkhārā piyā? Manāpikā rūpā manāpikā saddā manāpikā gandhā manāpikā rasā manāpikā phoṭṭhabbā – ime saṅkhārā piyā.
‘From what is dear arise quarrels and disputes, lamentations and sorrows along with stinginess.’ Herein, ‘what is dear’ is twofold: beings and formations. Which beings are dear? In this world, for a certain person, there are those who are desirous of his benefit, desirous of his welfare, desirous of his comfort, and desirous of his security from the bonds—mother or father, brother or sister, son or daughter, friends or companions, maternal relatives or paternal relatives. These beings are dear. Which formations are dear? Agreeable forms, agreeable sounds, agreeable smells, agreeable tastes, and agreeable tangible objects. These formations are dear.
“Cãi cọ, tranh luận, than van, sầu muộn cùng với bỏn xẻn, chúng sanh khởi từ điều khả ái.” Về “điều khả ái,” có hai loại điều khả ái: chúng sanh hoặc các pháp hữu vi. Những chúng sanh nào là khả ái? Ở đây, đối với một người, những ai là người mong cầu lợi ích, mong cầu hạnh phúc, mong cầu sự an ổn, mong cầu sự an toàn khỏi các ách phược, là mẹ, hoặc cha, hoặc anh, hoặc chị, hoặc con trai, hoặc con gái, hoặc bạn bè, hoặc người thân cận, hoặc bà con, hoặc huyết thống – những chúng sanh này là khả ái. Những pháp hữu vi nào là khả ái? Các sắc khả ý, các thanh khả ý, các hương khả ý, các vị khả ý, các xúc khả ý – những pháp hữu vi này là khả ái.
Piyaṃ vatthuṃ acchedasaṅkinopi kalahaṃ karonti, acchijjantepi kalahaṃ karonti, acchinnepi kalahaṃ karonti. Piyaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṅkinopi kalahaṃ karonti, vipariṇāmantepi kalahaṃ karonti, vipariṇatepi kalahaṃ karonti. Piyaṃ vatthuṃ acchedasaṅkinopi vivadanti, acchijjantepi vivadanti, acchinnepi vivadanti. Piyaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṅkinopi vivadanti, vipariṇāmantepi vivadanti, vipariṇatepi vivadanti. Piyaṃ vatthuṃ acchedasaṅkinopi paridevanti, acchijjantepi paridevanti, acchinnepi paridevanti. Piyaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṅkinopi paridevanti, vipariṇāmantepi paridevanti, vipariṇatepi paridevanti. Piyaṃ vatthuṃ acchedasaṅkinopi socanti, acchijjantepi socanti, acchinnepi socanti. Piyaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṅkinopi socanti, vipariṇāmantepi socanti, vipariṇatepi socanti. Piyaṃ vatthuṃ rakkhanti gopenti pariggaṇhanti mamāyanti maccharāyanti.
Those who are suspicious that a dear object might be stolen or plundered quarrel; when it is being stolen or plundered, they quarrel; when it has been stolen or plundered, they quarrel. Those who are suspicious of the alteration of a dear object quarrel; when it is altering, they quarrel; when it has altered, they quarrel. Those who are suspicious that a dear object might be stolen or plundered dispute; when it is being stolen or plundered, they dispute; when it has been stolen or plundered, they dispute. Those who are suspicious of the alteration of a dear object dispute; when it is altering, they dispute; when it has altered, they dispute. Those who are suspicious that a dear object might be stolen or plundered lament; when it is being stolen or plundered, they lament; when it has been stolen or plundered, they lament. Those who are suspicious of the alteration of a dear object lament; when it is altering, they lament; when it has altered, they lament. Those who are suspicious that a dear object might be stolen or plundered grieve; when it is being stolen or plundered, they grieve; when it has been stolen or plundered, they grieve. Those who are suspicious of the alteration of a dear object grieve; when it is altering, they grieve; when it has altered, they grieve. They guard, protect, take possession of, are possessive of, and are miserly with a dear object.
Ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng vật khả ái sẽ bị chiếm đoạt, họ cũng cãi cọ; khi nó đang bị chiếm đoạt, họ cũng cãi cọ; khi nó đã bị chiếm đoạt, họ cũng cãi cọ. Ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng vật khả ái sẽ bị biến đổi, họ cũng cãi cọ; khi nó đang bị biến đổi, họ cũng cãi cọ; khi nó đã bị biến đổi, họ cũng cãi cọ. Ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng vật khả ái sẽ bị chiếm đoạt, họ cũng tranh luận; khi nó đang bị chiếm đoạt, họ cũng tranh luận; khi nó đã bị chiếm đoạt, họ cũng tranh luận. Ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng vật khả ái sẽ bị biến đổi, họ cũng tranh luận; khi nó đang bị biến đổi, họ cũng tranh luận; khi nó đã bị biến đổi, họ cũng tranh luận. Ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng vật khả ái sẽ bị chiếm đoạt, họ cũng than van; khi nó đang bị chiếm đoạt, họ cũng than van; khi nó đã bị chiếm đoạt, họ cũng than van. Ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng vật khả ái sẽ bị biến đổi, họ cũng than van; khi nó đang bị biến đổi, họ cũng than van; khi nó đã bị biến đổi, họ cũng than van. Ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng vật khả ái sẽ bị chiếm đoạt, họ cũng sầu muộn; khi nó đang bị chiếm đoạt, họ cũng sầu muộn; khi nó đã bị chiếm đoạt, họ cũng sầu muộn. Ngay cả khi chỉ nghi ngờ rằng vật khả ái sẽ bị biến đổi, họ cũng sầu muộn; khi nó đang bị biến đổi, họ cũng sầu muộn; khi nó đã bị biến đổi, họ cũng sầu muộn. Họ bảo vệ, giữ gìn, nắm giữ, coi là 'của tôi', và trở nên bỏn xẻn đối với vật khả ái.
Mānātimānā sahapesuṇā cāti. Piyaṃ vatthuṃ nissāya mānaṃ janenti, piyaṃ vatthuṃ nissāya atimānaṃ janenti. Kathaṃ piyaṃ vatthuṃ nissāya mānaṃ janenti? Mayaṃ lābhino manāpikānaṃ rūpānaṃ saddānaṃ gandhānaṃ rasānaṃ phoṭṭhabbānanti. Evaṃ piyaṃ vatthuṃ nissāya mānaṃ janenti. Kathaṃ piyaṃ vatthuṃ nissāya atimānaṃ janenti? Mayaṃ lābhino manāpikānaṃ rūpānaṃ saddānaṃ gandhānaṃ rasānaṃ phoṭṭhabbānaṃ, ime panaññe na lābhino manāpikānaṃ rūpānaṃ saddānaṃ gandhānaṃ rasānaṃ phoṭṭhabbānanti. Evaṃ piyaṃ vatthuṃ nissāya atimānaṃ janenti. Pesuññanti idhekacco pisuṇavāco hoti, ito sutvā amutra akkhātā imesaṃ bhedāya…pe… evaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharatīti…pe… mānātimānā sahapesuṇā ca.
Conceit, excessive conceit, and malicious speech. Relying on a dear object, they generate conceit; relying on a dear object, they generate excessive conceit. How do they generate conceit relying on a dear object? 'We have obtained agreeable forms, sounds, scents, tastes, and tangible objects.' Thus, relying on a dear object, they generate conceit. How do they generate excessive conceit relying on a dear object? 'We have obtained agreeable forms, sounds, scents, tastes, and tangible objects, but these others have not obtained agreeable forms, sounds, scents, tastes, and tangible objects.' Thus, relying on a dear object, they generate excessive conceit. As for malicious speech: herein, a certain person is of divisive speech; having heard something here, he reports it elsewhere for the purpose of dividing these people… thus, with the intention of causing division, he engages in malicious speech… Conceit, excessive conceit, and malicious speech.
“Ngã mạn, quá mạn cùng với nói hai lưỡi.” Duyên vào vật khả ái, họ sanh khởi ngã mạn; duyên vào vật khả ái, họ sanh khởi quá mạn. Làm thế nào duyên vào vật khả ái, họ sanh khởi ngã mạn? “Chúng ta là những người có được các sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ý.” Như vậy, duyên vào vật khả ái, họ sanh khởi ngã mạn. Làm thế nào duyên vào vật khả ái, họ sanh khởi quá mạn? “Chúng ta là những người có được các sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ý, còn những người khác này thì không có được các sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ý.” Như vậy, duyên vào vật khả ái, họ sanh khởi quá mạn. Về “nói hai lưỡi,” ở đây có người có lời nói hai lưỡi, nghe từ nơi này rồi đi nói ở nơi kia để gây chia rẽ cho những người này... v.v... như vậy với ý định gây chia rẽ, người ấy thực hành lời nói hai lưỡi... v.v... “ngã mạn, quá mạn cùng với nói hai lưỡi.”
Maccherayuttā kalahā vivādāti. Kalaho ca vivādo ca paridevo ca soko ca māno ca atimāno ca pesuññañcāti – ime satta kilesā macchariye yuttā payuttā āyuttā samāyuttāti – maccherayuttā kalahā vivādā.
Quarrels and disputes are associated with stinginess. Quarrels, disputes, lamentation, sorrow, conceit, excessive conceit, and malicious speech—these seven defilements are associated, connected, bound up, and joined with stinginess. Thus, quarrels and disputes are associated with stinginess.
“Cãi cọ, tranh luận được liên kết với sự bỏn xẻn.” Sự cãi cọ, sự tranh luận, sự than van, sự sầu muộn, sự ngã mạn, sự quá mạn, và sự nói hai lưỡi – bảy loại phiền não này được liên kết, được gắn liền, được kết nối, được liên kết chặt chẽ với sự bỏn xẻn. Do đó, “cãi cọ, tranh luận được liên kết với sự bỏn xẻn.”
Vivādajātesu ca pesuṇānīti. Vivāde jāte sañjāte nibbatte abhinibbatte pātubhūte pesuññaṃ upasaṃharanti; ito sutvā amutra akkhāyanti imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṃ akkhāyanti amūsaṃ bhedāya. Iti samaggānaṃ vā bhettāro, bhinnānaṃ vā anuppadātāro, vaggārāmā vaggaratā vagganandī vaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitāro honti – idaṃ vuccati pesuññaṃ. Api ca dvīhi kāraṇehi pesuññaṃ upasaṃharanti – piyakamyatāya vā bhedādhippāyena vā. Kathaṃ piyakamyatāya pesuññaṃ upasaṃharanti? Imassa piyā bhavissāma, manāpā bhavissāma, vissāsikā bhavissāma, abbhantarikā bhavissāma, suhadayā bhavissāmāti. Evaṃ piyakamyatāya pesuññaṃ upasaṃharanti. Kathaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharanti? ‘‘Kathaṃ ime nānā assu, vinā assu, vaggā assu, dvedhā assu, dvejjhā assu, dve pakkhā assu, bhijjeyyuṃ na samāgaccheyyuṃ, dukkhaṃ na phāsu vihareyyu’’nti – evaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharantīti – vivādajātesu ca pesuṇāni.
And in arisen disputes, there is malicious speech. When a dispute has arisen, originated well, come into being, come fully into being, become manifest, they bring forth malicious speech: having heard something here, they report it there to cause division amongst those people; or having heard something there, they report it here to cause division amongst these people. Thus they are breakers of those who are united, or promoters of those who are divided, delighting in factions, fond of factions, rejoicing in factions, being speakers of words that create factions—this is called malicious speech. Furthermore, they bring forth malicious speech for two reasons: either through the desire to be liked, or with the intention to cause division. How do they bring forth malicious speech through the desire to be liked? 'We will be dear to this person, we will be pleasing, we will be trusted, we will be intimate, we will be well-hearted.' Thus, they bring forth malicious speech through the desire to be liked. How do they bring forth malicious speech with the intention to cause division? 'How might these people be separate, be apart, be in factions, be twofold, be of two minds; may they be broken and not come together, may they dwell in suffering and not comfortably?' Thus, they bring forth malicious speech with the intention to cause division—and in arisen disputes, there are malicious speeches.
“Và khi các cuộc tranh luận đã sanh khởi, thì có những lời nói hai lưỡi.” Khi cuộc tranh luận đã sanh, đã được tạo ra, đã được phát sanh, đã được phát sanh một cách trọn vẹn, đã được biểu hiện, họ thực hành lời nói hai lưỡi; nghe từ nơi này, họ đi nói ở nơi kia để gây chia rẽ cho những người này, hoặc nghe từ nơi kia, họ đi nói với những người này để gây chia rẽ cho những người nọ. Như vậy, họ là những người gây chia rẽ những ai đang hòa hợp, hoặc là những người củng cố sự chia rẽ của những ai đã bị chia rẽ, họ vui thích trong bè phái, hoan hỷ trong bè phái, ưa thích bè phái, là những người nói lời gây ra bè phái – đây được gọi là nói hai lưỡi. Hơn nữa, họ thực hành lời nói hai lưỡi vì hai lý do: hoặc vì mong muốn được yêu mến, hoặc với ý định gây chia rẽ. Làm thế nào họ thực hành lời nói hai lưỡi vì mong muốn được yêu mến? “Chúng ta sẽ trở nên thân thiết với người này, sẽ được yêu mến, sẽ được tin cậy, sẽ trở nên thân cận, sẽ có thiện tâm.” Như vậy, họ thực hành lời nói hai lưỡi vì mong muốn được yêu mến. Làm thế nào họ thực hành lời nói hai lưỡi với ý định gây chia rẽ? “Làm sao để những người này trở nên khác biệt, trở nên xa cách, trở thành bè phái, trở thành hai phe, có hai ý định, có hai phe phái, bị chia rẽ, không hòa hợp, sống trong đau khổ, không an ổn?” – như vậy, họ thực hành lời nói hai lưỡi với ý định gây chia rẽ. Do đó, “và khi các cuộc tranh luận đã sanh khởi, thì có những lời nói hai lưỡi.”
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Piyappahūtā kalahā vivādā, paridevasokā sahamaccharā ca;
Mānātimānā sahapesuṇā ca, maccherayuttā kalahā vivādā;
Vivādajātesu ca pesuṇānī’’ti.
“Quarrels and disputes arise from what is dear, as do lamentation and sorrow along with stinginess; conceit and excessive conceit along with malicious speech; quarrels and disputes are connected with stinginess; and in arisen disputes, there are malicious speeches.”
‘Do bởi các điều khả ái, có nhiều tranh cãi, luận쟁; than van, sầu muộn cùng với sự bỏn xẻn; ngã mạn, quá mạn cùng với sự nói xấu; sự tranh cãi và luận쟁 đi kèm với sự bỏn xẻn; và khi các luận쟁 đã phát sanh thì có sự nói xấu.’
99.
99.
99.
Piyā su lokasmiṃ kutonidānā, ye cāpi lobhā vicaranti loke;
Āsā ca niṭṭhā ca kutonidānā, ye samparāyāya narassa honti.
From what source are dear things in the world, and those who roam the world out of greed? From what source are hope and fulfillment, which become a person's resort?
‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ đâu? Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian? Hy vọng và sự thành tựu có nguồn gốc từ đâu, là những điều hiện hữu cho tương lai của con người?’
Piyā su lokasmiṃ kutonidānāti. Piyā kutonidānā kutojātā kutosañjātā kutonibbattā kutoabhinibbattā kutopātubhūtā, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavāti piyānaṃ mūlaṃ pucchati…pe… samudayaṃ pucchati papucchati yācati ajjhesati pasādetīti – piyā su lokasmiṃ kutonidānā.
‘From what cause are dear things in the world?’ Dear things—from what cause, from what are they born, from what do they originate well, from what do they come into being, from what do they come fully into being, from what do they become manifest? What is their cause, what is their origin, what is their nature, what is their source? Thus, he asks about the root of dear things… he asks about the origin, he questions, he requests, he entreats, he clarifies. ‘From what cause are dear things in the world?’
‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ đâu?’ Các điều khả ái có nguồn gốc từ đâu, được sanh từ đâu, được phát sanh từ đâu, được tạo ra từ đâu, được hoàn toàn tạo ra từ đâu, được biểu hiện từ đâu, có nguyên nhân gì, có sự tập khởi gì, có chủng loại gì, có nguồn phát sanh gì? Vị ấy hỏi về cội rễ của các điều khả ái ... (như trên) ... vị ấy hỏi, hỏi chi tiết, yêu cầu, thỉnh mời, làm cho sáng tỏ về sự tập khởi. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ đâu?’
Ye cāpi lobhā vicaranti loketi. Ye cāpīti khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā ca. Lobhāti yo lobho lubbhanā lubbhitattaṃ sārāgo sārajjanā sārajjitattaṃ abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Vicarantīti vicaranti viharanti iriyanti vattanti pālenti yapenti yāpenti. Loketi apāyaloke manussaloke devaloke khandhaloke dhātuloke āyatanaloketi – ye cāpi lobhā vicaranti loke.
Regarding 'And those who roam the world out of greed': 'Those who' refers to nobles, brahmins, merchants, workers, householders, renunciants, devas, and humans. 'Greed' is that which is greed, wanting, the state of wanting, intense passion, being intensely passionate, the state of being intensely passionate, covetousness, greed, an unwholesome root. 'They roam' means they roam, they dwell, they maintain a posture, they carry on, they maintain, they subsist, they cause to subsist. 'In the world' means in the plane of misery, the human plane, the deva plane, the plane of aggregates, the plane of elements, and the plane of sense bases—this is the meaning of 'And those who roam the world out of greed'.
‘Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian?’ ‘Và những’ là các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người. ‘Tham ái’ là sự tham, trạng thái tham, sự tham đắm, sự say mê, trạng thái say mê, sự say đắm, sự thèm muốn, tham, là gốc rễ bất thiện. ‘Đi lang thang’ là đi lang thang, trú ngụ, di chuyển, tồn tại, bảo trì, duy trì, tiếp tục. ‘Ở trong thế gian’ là ở trong ác giới, nhân giới, thiên giới, uẩn giới, giới (dhātu) giới, xứ giới. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian?’
Āsā ca niṭṭhā ca kutonidānāti. Āsā ca niṭṭhā ca kutonidānā kutojātā kutosañjātā kutonibbattā kutoabhinibbattā kutopātubhūtā, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavāti āsāya ca niṭṭhāya ca mūlaṃ pucchati…pe… samudayaṃ pucchati papucchati yācati ajjhesati pasādetīti – āsā ca niṭṭhā ca kutonidānā. Ye samparāyāya narassa hontīti. Ye narassa parāyanā honti dīpā honti tāṇā honti leṇā honti saraṇā honti niṭṭhā parāyanā hontīti – ye samparāyāya narassa honti.
Regarding 'From what source are hopes and fulfillments?': Hopes and fulfillments—from what source, from what birth, from what arising, from what production, from what full production, from what appearance? What is their source, what is their origin, what is their nature, what is their provenance? Thus, he asks about the root of hope and fulfillment... he asks about the origin, he questions thoroughly, he requests, he urges, he inspires confidence. This is the meaning of 'From what source are hopes and fulfillments?'. Regarding 'Which become a person's resort': Which become a person’s resort, become an island, become a protection, become a shelter, become a refuge, become the final resort. This is the meaning of 'Which become a person's resort'.
‘Hy vọng và sự thành tựu có nguồn gốc từ đâu?’ Hy vọng và sự thành tựu có nguồn gốc từ đâu, được sanh từ đâu, được phát sanh từ đâu, được tạo ra từ đâu, được hoàn toàn tạo ra từ đâu, được biểu hiện từ đâu, có nguyên nhân gì, có sự tập khởi gì, có chủng loại gì, có nguồn phát sanh gì? Vị ấy hỏi về cội rễ của hy vọng và sự thành tựu ... (như trên) ... vị ấy hỏi, hỏi chi tiết, yêu cầu, thỉnh mời, làm cho sáng tỏ về sự tập khởi. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Hy vọng và sự thành tựu có nguồn gốc từ đâu?’ ‘Là những điều hiện hữu cho tương lai của con người.’ Những điều ấy là nơi nương tựa, là hòn đảo, là sự bảo vệ, là nơi ẩn náu, là nơi quy y, là nơi nương tựa cuối cùng cho con người. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Là những điều hiện hữu cho tương lai của con người.’
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created one said:
Do đó, vị hóa nhân ấy đã nói rằng –
‘‘Piyā su lokasmiṃ kutonidānā, ye cāpi lobhā vicaranti loke;
Āsā ca niṭṭhā ca kutonidānā, ye samparāyāya narassa hontī’’ti.
“From what source are dear things in the world, and those who roam the world out of greed? From what source are hopes and fulfillments, which become a person's resort?”
‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ đâu? Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian? Hy vọng và sự thành tựu có nguồn gốc từ đâu, là những điều hiện hữu cho tương lai của con người?’
100.
100.
100.
Chandānidānāni piyāni loke, ye cāpi † lobhā vicaranti loke;
Āsā ca niṭṭhā ca itonidānā, ye samparāyāya narassa honti.
Dear things in the world have desire as their source, as does the greed of those who roam the world; hopes and fulfillments, which become a person's resort, also have this as their source.
‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ dục. Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian, hy vọng và sự thành tựu cũng có nguồn gốc từ đây, là những điều hiện hữu cho tương lai của con người.’
Chandānidānāni piyāni loketi. Chandoti yo kāmesu kāmacchando kāmarāgo kāmanandī kāmataṇhā kāmasneho kāmapariḷāho kāmamucchā kāmajjhosānaṃ kāmogho kāmayogo kāmupādānaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ. Api ca pañca chandā – pariyesanacchando, paṭilābhacchando, paribhogacchando, sannidhicchando, visajjanacchando. Katamo pariyesanacchando? Idhekacco ajjhositoyeva atthiko chandajāto rūpe pariyesati, sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe pariyesati – ayaṃ pariyesanacchando. Katamo paṭilābhacchando? Idhekacco ajjhositoyeva atthiko chandajāto rūpe paṭilabhati, sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe paṭilabhati – ayaṃ paṭilābhacchando. Katamo paribhogacchando? Idhekacco ajjhositoyeva atthiko chandajāto rūpe paribhuñjati, sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe paribhuñjati – ayaṃ paribhogacchando. Katamo sannidhicchando? Idhekacco ajjhositoyeva atthiko chandajāto dhanasannicayaṃ karoti ‘‘āpadāsu bhavissatī’’ti – ayaṃ sannidhicchando. Katamo visajjanacchando? Idhekacco ajjhositoyeva atthiko chandajāto dhanaṃ visajjeti hatthārohānaṃ assārohānaṃ rathikānaṃ dhanuggahānaṃ pattikānaṃ ‘‘ime maṃ rakkhissanti gopissanti samparivārissantī’’ti – ayaṃ visajjanacchando. Piyānīti dve piyā – sattā vā saṅkhārā vā…pe… ime sattā piyā…pe… ime saṅkhārā piyā. Chandānidānāni piyāni loketi. Piyā chandanidānā chandasamudayā chandajātikā chandapabhavāti – chandānidānāni piyāni loke.
Regarding the phrase, 'Dear things in the world have desire as their source': Herein, 'desire' is that which is sensual desire regarding sensual pleasures, sensual lust, sensual delight, sensual craving, sensual affection, sensual burning, sensual infatuation, sensual obsession, the flood of sensuality, the yoke of sensuality, sensual clinging, and the hindrance of sensual desire. Furthermore, there are five desires: the desire for seeking, the desire for obtaining, the desire for enjoying, the desire for hoarding, and the desire for distributing. What is the desire for seeking? Here, a certain person, being resolved, interested, and with desire arisen, seeks forms, sounds, odors, flavors, and tactile objects—this is the desire for seeking. What is the desire for obtaining? Here, a certain person, being resolved, interested, and with desire arisen, obtains forms, sounds, odors, flavors, and tactile objects—this is the desire for obtaining. What is the desire for enjoying? Here, a certain person, being resolved, interested, and with desire arisen, enjoys forms, sounds, odors, flavors, and tactile objects—this is the desire for enjoying. What is the desire for hoarding? Here, a certain person, being resolved, interested, and with desire arisen, makes an accumulation of wealth, thinking, 'It will be for use in times of adversity'—this is the desire for hoarding. What is the desire for distributing? Here, a certain person, being resolved, interested, and with desire arisen, distributes wealth to elephant riders, horse riders, charioteers, archers, and foot soldiers, thinking, 'These will protect me, guard me, and surround me'—this is the desire for distributing. As for 'dear things', there are two kinds of dear things: either beings or conditioned things... these beings are dear... these conditioned things are dear. Regarding 'Dear things in the world have desire as their source': Dear things have desire as their source, have desire as their origin, are born of desire, and are produced from desire—thus, 'Dear things in the world have desire as their source'.
‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ dục.’ ‘Dục’ là dục về các dục, tham về các dục, hoan hỷ về các dục, ái về các dục, luyến ái về các dục, nhiệt tình về các dục, mê đắm về các dục, quyết định về các dục, bộc lưu của dục, ách của dục, thủ về dục, triền cái dục tham. Hơn nữa, có năm loại dục: dục tìm cầu, dục thành tựu, dục hưởng thụ, dục cất giữ, dục ban phát. Dục tìm cầu là gì? Ở đây, có người bị chi phối, có ý muốn, có dục sanh khởi, tìm cầu các sắc, ... các thanh ... các hương ... các vị ... các xúc. – Đây là dục tìm cầu. Dục thành tựu là gì? Ở đây, có người bị chi phối, có ý muốn, có dục sanh khởi, thành tựu được các sắc, ... các thanh ... các hương ... các vị ... các xúc. – Đây là dục thành tựu. Dục hưởng thụ là gì? Ở đây, có người bị chi phối, có ý muốn, có dục sanh khởi, hưởng thụ các sắc, ... các thanh ... các hương ... các vị ... các xúc. – Đây là dục hưởng thụ. Dục cất giữ là gì? Ở đây, có người bị chi phối, có ý muốn, có dục sanh khởi, tích trữ của cải với ý nghĩ: ‘Sẽ dùng trong lúc hoạn nạn.’ – Đây là dục cất giữ. Dục ban phát là gì? Ở đây, có người bị chi phối, có ý muốn, có dục sanh khởi, ban phát của cải cho những người quản tượng, kỵ binh, xa binh, cung thủ, bộ binh với ý nghĩ: ‘Những người này sẽ bảo vệ, giữ gìn, hộ tống ta.’ – Đây là dục ban phát. ‘Các điều khả ái’ là có hai điều khả ái: chúng sanh hoặc các pháp hữu vi ... (như trên) ... những chúng sanh này là khả ái ... (như trên) ... những pháp hữu vi này là khả ái. ‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ dục’ có nghĩa là: Các điều khả ái có dục làm nguồn gốc, có dục làm sự tập khởi, có dục làm chủng loại, có dục làm nguồn phát sanh. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ dục.’
Ye cāpi lobhā vicaranti loketi. Ye cāpīti khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā ca. Lobhāti yo lobho lubbhanā lubbhitattaṃ sārāgo sārajjanā sārajjitattaṃ abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Vicarantīti vicaranti viharanti iriyanti vattanti pālenti yapenti yāpenti. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloketi – ye cāpi lobhā vicaranti loke.
Regarding the phrase 'And those who roam the world out of greed': 'Those who' refers to nobles, brahmins, merchants, workers, householders, renunciants, devas, and humans. 'Greed' is defined as greed, the state of greed, the nature of being greedy, intense passion, the state of intense passion, the nature of being intensely passionate, and covetousness—which is greed, an unwholesome root. 'Roam' means to roam, dwell, maintain a posture, subsist, and maintain oneself. 'The world' refers to the world of misery... up to... the world of the sense bases—thus, 'And those who roam the world out of greed'.
‘Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian?’ ‘Và những’ là các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người. ‘Tham ái’ là sự tham, trạng thái tham, sự tham đắm, sự say mê, trạng thái say mê, sự say đắm, sự thèm muốn, tham, là gốc rễ bất thiện. ‘Đi lang thang’ là đi lang thang, trú ngụ, di chuyển, tồn tại, bảo trì, duy trì, tiếp tục. ‘Ở trong thế gian’ là ở trong ác giới ... (như trên) ... xứ giới. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian?’
Āsā ca niṭṭhā ca itonidānāti. Āsā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Niṭṭhāti idhekacco rūpe pariyesanto rūpaṃ paṭilabhati, rūpaniṭṭho hoti, sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ… lābhaṃ… yasaṃ… pasaṃsaṃ… sukhaṃ… cīvaraṃ… piṇḍapātaṃ… senāsanaṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ … suttantaṃ… vinayaṃ… abhidhammaṃ… āraññikaṅgaṃ… piṇḍapātikaṅgaṃ… paṃsukūlikaṅgaṃ… tecīvarikaṅgaṃ… sapadānacārikaṅgaṃ… khalupacchābhattikaṅgaṃ… nesajjikaṅgaṃ… yathāsanthatikaṅgaṃ… paṭhamaṃ jhānaṃ… dutiyaṃ jhānaṃ… tatiyaṃ jhānaṃ… catutthaṃ jhānaṃ… ākāsānañcāyatanasamāpattiṃ… viññāṇañcāyatanasamāpattiṃ… ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ … nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ pariyesanto nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ paṭilabhati, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiniṭṭho hoti.
Regarding 'Hope and fulfillment have this as their source': Hope is called craving. That which is passion, intense passion... up to... covetousness, greed, is an unwholesome root. 'Fulfillment' means: Here, a certain person seeking forms attains forms and is fulfilled in regard to forms. The same applies to sounds... odors... flavors... tactile objects... family... a group... a dwelling... gain... fame... praise... pleasure... a robe... almsfood... lodging... medicinal requisites for the sick... the Suttas... the Vinaya... the Abhidhamma... the ascetic practice of forest-dwelling... the ascetic practice of living on almsfood... the ascetic practice of wearing rag-robes... the ascetic practice of having only three robes... the ascetic practice of going on an uninterrupted almsround... the ascetic practice of not eating after having finished one's meal... the ascetic practice of sitting... the ascetic practice of using any allotted lodging... the first jhāna... the second jhāna... the third jhāna... the fourth jhāna... the attainment of the base of infinite space... the attainment of the base of infinite consciousness... the attainment of the base of nothingness... seeking the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, one attains it and is fulfilled in regard to the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception.
“Sự mong mỏi và sự thành tựu có nguyên nhân từ điều này” (là như vầy). Sự mong mỏi (āsā) được gọi là tham ái. Sự tham đắm nào, sự tham đắm mãnh liệt nào... cho đến... sự thèm muốn, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Về sự thành tựu (niṭṭhā) là như vầy: Ở đây, một người nào đó trong khi tìm kiếm các sắc, người ấy đạt được sắc, người ấy có sự thành tựu về sắc; (tìm kiếm) các thanh... các hương... các vị... các xúc... dòng dõi... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh tiếng... lời tán dương... sự an lạc... y... vật thực khất thực... sàng tọa... dược phẩm trị bệnh và vật dụng... Kinh tạng... Luật tạng... Luận tạng... hạnh ở rừng... hạnh khất thực... hạnh mặc y phấn tảo... hạnh tam y... hạnh khất thực từng nhà... hạnh không nhận thêm vật thực sau khi đã đủ... hạnh ngồi... hạnh ở đâu cũng được... sơ thiền... nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... không vô biên xứ định... thức vô biên xứ định... vô sở hữu xứ định... trong khi tìm kiếm phi tưởng phi phi tưởng xứ định, người ấy đạt được phi tưởng phi phi tưởng xứ định, người ấy có sự thành tựu về phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
‘‘Āsāya kasate khettaṃ, bījaṃ āsāya vappati;
Āsāya vāṇijā yanti, samuddaṃ dhanahārakā;
Yāya āsāya tiṭṭhāmi, sā me āsā samijjhatī’’ti.
“With hope one plows the field, with hope one sows the seed; with hope the merchants, seeking wealth, travel the sea; the hope by which I stand, may that hope of mine succeed.”
“Với sự mong mỏi, người ta cày ruộng, với sự mong mỏi, hạt giống được gieo; với sự mong mỏi, các thương nhân, những người mang của cải, đi ra biển; với sự mong mỏi nào mà tôi đang đứng, sự mong mỏi ấy của tôi được thành tựu.”
Āsāya samiddhi vuccate niṭṭhā. Āsā ca niṭṭhā ca itonidānāti. Āsā ca niṭṭhā ca ito chandanidānā chandasamudayā chandajātikā chandapabhavāti – āsā ca niṭṭhā ca itonidānā.
The success of hope is called fulfillment. 'Both hope and fulfillment have this as their source' means that they have desire as their source, arise from desire, are born of desire, and originate from desire—thus, both hope and fulfillment have this as their source.
Sự thành tựu của mong mỏi được gọi là sự thành tựu (niṭṭhā). “Sự mong mỏi và sự thành tựu có nguyên nhân từ điều này” (là như vầy): Sự mong mỏi và sự thành tựu có dục làm nguyên nhân, có dục làm nguồn sanh khởi, có dục làm bản chất, có dục làm nguồn gốc – (đây là ý nghĩa của) “sự mong mỏi và sự thành tựu có nguyên nhân từ điều này”.
Ye samparāyāya narassa hontīti. Ye narassa parāyanā honti dīpā honti tāṇā honti leṇā honti saraṇā honti niṭṭhā parāyanā hontīti – ye samparāyāya narassa honti.
Regarding 'Which are for a person's future course': Those things which for a person are resorts, supports, protections, shelters, refuges, fulfillments, and various resorts—thus, 'Which are for a person's future course'.
“Những điều trở thành nơi nương tựa cho con người trong tương lai” (là như vầy): Những điều nào trở thành nơi nương tựa cho con người, trở thành hòn đảo, trở thành nơi che chở, trở thành nơi ẩn náu, trở thành nơi quy y, sự thành tựu, nơi nương tựa – (đây là ý nghĩa của) “những điều trở thành nơi nương tựa cho con người trong tương lai”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Chandānidānāni piyāni loke, ye cāpi lobhā vicaranti loke;
Āsā ca niṭṭhā ca itonidānā, ye samparāyāya narassa hontī’’ti.
“Dear things in the world have desire as their source, as do the greeds that wander in the world. Hope and fulfillment also have this as their source—those things which are for a person's future course.”
“Các pháp khả ái ở trên đời có dục làm nguyên nhân, và những lòng tham nào đang hiện hành trên đời; sự mong mỏi và sự thành tựu có nguyên nhân từ điều này, những điều trở thành nơi nương tựa cho con người trong tương lai.”
101.
101.
101.
Chando nu lokasmiṃ kutonidāno, vinicchayā cāpi † kutopahūtā;
Kodho mosavajjañca kathaṃkathā ca, ye cāpi dhammā samaṇena vuttā.
From what source, pray, does desire in the world arise? And from where are judgments brought forth? Anger, false speech, and doubt, and also those other states declared by the Ascetic.
Dục ở trên đời có nguyên nhân từ đâu, và các sự quyết đoán cũng sanh khởi từ đâu? Sân hận, lời nói dối, và sự hoài nghi, và những pháp nào khác đã được vị Sa-môn nói đến (sanh khởi từ đâu)?
Chando nu lokasmiṃ kutonidānoti. Chando kutonidāno kutojāto kutosañjāto kutonibbatto kutoabhinibbatto kutopātubhūto, kiṃnidāno kiṃsamudayo kiṃjātiko kiṃpabhavoti chandassa mūlaṃ pucchati…pe… samudayaṃ pucchati papucchati yācati ajjhesati pasādetīti – chando nu lokasmiṃ kutonidāno.
Regarding 'From what source, pray, does desire in the world arise?': From what source is desire, from where is it born, from where does it originate, from where does it arise, from where is it fully produced, from where does it manifest? What is its source, what is its origin, what is its nature, what is its provenance? Thus, he asks about the root of desire... he asks about its origin, he questions in detail, he requests, he urges, he seeks clarification—thus, 'From what source, pray, does desire in the world arise?'
“Dục ở trên đời có nguyên nhân từ đâu” (là như vầy): Dục có nguyên nhân từ đâu, sanh từ đâu, được sanh khởi tốt đẹp từ đâu, được phát sanh từ đâu, được phát sanh hoàn toàn từ đâu, hiện khởi từ đâu; có gì làm nguyên nhân, có gì làm nguồn sanh khởi, có bản chất gì, có nguồn gốc gì? Như vậy, (vị ấy) hỏi về gốc rễ của dục... cho đến... hỏi về nguồn sanh khởi, hỏi chi tiết, thỉnh cầu, yêu cầu, làm cho hoan hỷ – (đây là ý nghĩa của) “dục ở trên đời có nguyên nhân từ đâu”.
Vinicchayā cāpi kutopahūtāti. Vinicchayā kutopahūtā kutojātā kutosañjātā kutonibbattā kutoabhinibbattā kutopātubhūtā, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavāti vinicchayānaṃ mūlaṃ pucchati…pe… samudayaṃ pucchati papucchati yācati ajjhesati pasādetīti – vinicchayā cāpi kutopahūtā.
Regarding 'And from where are judgments brought forth?': From where are judgments brought forth, from where are they born, from where do they originate, from where do they arise, from where are they fully produced, from where do they manifest? What is their source, what is their origin, what is their nature, what is their provenance? Thus, he asks about the root of judgments... he asks about their origin, he questions in detail, he requests, he urges, he seeks clarification—thus, 'And from where are judgments brought forth?'
“Và các sự quyết đoán cũng sanh khởi từ đâu” (là như vầy): Các sự quyết đoán sanh khởi từ đâu, sanh từ đâu, được sanh khởi tốt đẹp từ đâu, được phát sanh từ đâu, được phát sanh hoàn toàn từ đâu, hiện khởi từ đâu; có gì làm nguyên nhân, có gì làm nguồn sanh khởi, có bản chất gì, có nguồn gốc gì? Như vậy, (vị ấy) hỏi về gốc rễ của các sự quyết đoán... cho đến... hỏi về nguồn sanh khởi, hỏi chi tiết, thỉnh cầu, yêu cầu, làm cho hoan hỷ – (đây là ý nghĩa của) “và các sự quyết đoán cũng sanh khởi từ đâu”.
Kodho mosavajjañca kathaṃkathā cāti. Kodhoti yo evarūpo cittassa āghāto paṭighāto, paṭighaṃ paṭivirodho, kopo pakopo sampakopo, doso padoso sampadoso, cittassa byāpatti manopadoso, kodho kujjhanā kujjhitattaṃ, doso dussanā dussitattaṃ, byāpatti byāpajjanā byāpajjitattaṃ, virodho paṭivirodho, caṇḍikkaṃ asuropo anattamanatā cittassa. Mosavajjaṃ vuccati musāvādo. Kathaṃkathā vuccati vicikicchāti – kodho mosavajjañca kathaṃkathā ca.
Regarding 'Anger, false speech, and doubt': 'Anger' is any such affliction of the mind, severe affliction, hostility, opposition, agitation, great agitation, extreme agitation, hatred, great hatred, extreme hatred, corruption of mind, defilement of mind, anger, the act of being angry, the state of being angry, hate, the act of hating, the state of hating, malice, the act of being malicious, the state of being malicious, opposition, resistance, ferocity, ill-temper, and displeasure of mind. False speech is called 'blameworthy falsehood.' Doubt is called 'how-and-how-ness.' This is the meaning of 'Anger, false speech, and doubt'.
“Sân hận, lời nói dối, và sự hoài nghi” (là như vầy). Sân hận (kodho) là: sự hãm hại, sự chống đối của tâm có hình thức như vầy, sự va chạm, sự đối kháng, sự nổi giận, sự nổi giận đặc biệt, sự nổi giận hoàn toàn, sự sân hận, sự sân hận đặc biệt, sự sân hận hoàn toàn, sự ác ý của tâm, sự làm hại của tâm, sự phẫn nộ, sự tức giận, trạng thái tức giận, sự sân hận, sự làm hại, trạng thái làm hại, sự ác ý, sự làm ác, trạng thái làm ác, sự chống đối, sự đối kháng, tính hung dữ, sự thô lỗ, sự không hài lòng của tâm. Lời nói dối được gọi là lời đáng chê trách (mosavajjaṃ). Sự hoài nghi được gọi là sự phân vân (kathaṃkathā) – (đây là ý nghĩa của) “sân hận, lời nói dối, và sự hoài nghi”.
Ye cāpi dhammā samaṇena vuttāti. Ye cāpīti ye kodhena ca mosavajjena ca kathaṃkathāya ca sahagatā sahajātā saṃsaṭṭhā sampayuttā, ekuppādā ekanirodhā ekavatthukā ekārammaṇā – ime vuccanti ye cāpi dhammā. Atha vā ye te kilesā aññajātikā aññavihitakā – ime vuccanti ye cāpi dhammā. Samaṇena vuttāti samaṇena samitapāpena brāhmaṇena bāhitapāpadhammena bhikkhunā bhinnakilesamūlena sabbākusalamūlabandhanā pamuttena vuttā pavuttā ācikkhitā desitā paññapitā paṭṭhapitā vivaṭā vibhattā uttānīkatā pakāsitāti – ye cāpi dhammā samaṇena vuttā.
Regarding 'And whatever other states are spoken of by the Ascetic': 'And whatever other' refers to those states associated with, born together with, mixed with, and connected to anger, false speech, and doubt—arising together, ceasing together, having one basis, one object—these are called 'and whatever other states.' Or alternatively, those defilements of another kind, of another disposition—these are called 'and whatever other states.' 'Spoken of by the Ascetic' means spoken, declared, explained, taught, laid down, established, revealed, analyzed, made clear, and made manifest by the Ascetic—one who has pacified evil, a Brahmin who has banished evil states, a Bhikkhu who has destroyed the root of the defilements, one freed from all bonds of unwholesome roots. This is the meaning of 'and whatever other states are spoken of by the Ascetic'.
“Và những pháp nào khác đã được vị Sa-môn nói đến” (là như vầy). “Và những pháp nào khác” là: những pháp nào câu hành, đồng sanh, tương hợp, tương ưng với sân hận, lời nói dối, và sự hoài nghi; có cùng sự sanh khởi, cùng sự diệt tận, cùng một vật nền, cùng một đối tượng – những pháp này được gọi là “những pháp nào khác”. Hoặc là, những phiền não nào có loại khác, có cách thức khác – những pháp này được gọi là “những pháp nào khác”. “Được vị Sa-môn nói đến” (là như vầy): bởi vị Sa-môn, người đã làm lắng dịu các điều ác; bởi vị Bà-la-môn, người đã loại trừ các pháp ác; bởi vị Tỳ-khưu, người đã phá tan gốc rễ phiền não; bởi người đã giải thoát khỏi mọi sự trói buộc của gốc rễ bất thiện, đã được nói, đã được tuyên thuyết, đã được chỉ dạy, đã được thuyết giảng, đã được chế định, đã được thiết lập, đã được khai mở, đã được phân tích, đã được làm cho rõ ràng, đã được công bố – (đây là ý nghĩa của) “và những pháp nào khác đã được vị Sa-môn nói đến”.
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created one said:
Do đó, vị hóa nhân ấy đã nói:
‘‘Chando nu lokasmiṃ kutonidāno, vinicchatā cāpi kutopahūtā;
Kodho mosavajjañca kathaṃkathā ca, ye cāpi dhammā samaṇena vuttā’’ti.
“From where, pray, does desire in the world have its source? And from where are judgments brought forth? Anger, false speech, and doubt, and whatever other states have been declared by the Ascetic.”
“Dục ở trên đời có nguyên nhân từ đâu, và các sự quyết đoán cũng sanh khởi từ đâu? Sân hận, lời nói dối, và sự hoài nghi, và những pháp nào khác đã được vị Sa-môn nói đến.”
102.
102.
102.
Sātaṃ asātanti yamāhu loke, tamūpanissāya pahoti chando;
Rūpesu disvā vibhavaṃ bhavañca, vinicchayaṃ kubbati † jantu loke.
What they call pleasant and unpleasant in the world, dependent on that, desire arises. Having seen destruction and arising in forms, a being in the world makes a judgment.
Điều gì được gọi là dễ chịu và không dễ chịu ở trên đời, nương vào điều ấy, dục sanh khởi; thấy sự hoại diệt và sự tồn tại của các sắc, chúng sanh ở trên đời đưa ra sự quyết đoán.
Sātaṃ asātanti yamāhu loketi. Sātanti sukhā ca vedanā, iṭṭhañca vatthu †. Asātanti dukkhā ca vedanā, aniṭṭhañca vatthu. Yamāhu loketi yaṃ āhaṃsu yaṃ kathenti yaṃ bhaṇanti yaṃ dīpenti yaṃ voharantīti – sātaṃ asātanti yamāhu loke.
Regarding 'What they call pleasant and unpleasant in the world': 'Pleasant' refers to pleasant feeling and an agreeable object. 'Unpleasant' refers to painful feeling and a disagreeable object. 'What they call in the world' means what they have said, what they speak, what they declare, what they explain, what they call. This is the meaning of 'what they call pleasant and unpleasant in the world'.
“Điều gì được gọi là dễ chịu và không dễ chịu ở trên đời” (là như vầy). “Dễ chịu” (sātaṃ) là thọ lạc và đối tượng khả ái. “Không dễ chịu” (asātaṃ) là thọ khổ và đối tượng không khả ái. “Điều gì được gọi ở trên đời” (là): điều gì họ đã nói, điều gì họ kể, điều gì họ nói, điều gì họ trình bày, điều gì họ gọi – (đây là ý nghĩa của) “điều gì được gọi là dễ chịu và không dễ chịu ở trên đời”.
Tamūpanissāya pahoti chandoti. Sātāsātaṃ nissāya, sukhadukkhaṃ nissāya, somanassadomanassaṃ nissāya, iṭṭhāniṭṭhaṃ nissāya, anunayapaṭighaṃ nissāya chando pahoti pabhavati jāyati sañjāyati nibbattati abhinibbattatīti – tamūpanissāya pahoti chando.
Regarding 'Dependent on that, desire arises': Dependent on the pleasant and unpleasant, dependent on pleasure and pain, dependent on joy and displeasure, dependent on the liked and disliked, dependent on attraction and aversion, desire arises, originates, is born, is produced, is generated, is fully generated. This is the meaning of 'dependent on that, desire arises'.
“Nương vào điều ấy, dục sanh khởi” (là như vầy): Nương vào điều dễ chịu và không dễ chịu, nương vào lạc và khổ, nương vào hỷ và ưu, nương vào điều khả ái và không khả ái, nương vào sự thuận theo và sự chống đối, dục sanh khởi, phát sanh, được sanh ra, được sanh khởi tốt đẹp, được phát sanh, được phát sanh hoàn toàn – (đây là ý nghĩa của) “nương vào điều ấy, dục sanh khởi”.
Rūpesu disvā vibhavaṃ bhavañcāti. Rūpesūti cattāro ca mahābhūtā catunnañca mahābhūtānaṃ upādāya rūpaṃ. Katamo rūpānaṃ bhavo? Yo rūpānaṃ bhavo jāti sañjāti nibbatti abhinibbatti pātubhāvo – ayaṃ rūpānaṃ bhavo. Katamo rūpānaṃ vibhavo? Yo rūpānaṃ khayo vayo bhedo paribhedo aniccatā antaradhānaṃ – ayaṃ rūpānaṃ vibhavo. Rūpesu disvā vibhavaṃ bhavañcāti rūpesu bhavañca vibhavañca disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – rūpesu disvā vibhavaṃ bhavañca.
Regarding 'Having seen in forms both destruction and arising': 'In forms' means the four great elements and the form derived from the four great elements. What is the arising of forms? Whatever arising of forms—birth, production, generation, full generation, manifestation—this is the arising of forms. What is the destruction of forms? Whatever destruction of forms—decay, breaking up, dissolution, impermanence, vanishing—this is the destruction of forms. 'Having seen in forms both destruction and arising' means: having seen, perceived, weighed, judged, discerned, and made evident both arising and destruction in forms. This is the meaning of 'Having seen in forms both destruction and arising'.
Thấy sự hoại diệt và sự hiện hữu trong các sắc. Trong các sắc (rūpesu) là bốn đại chủng và sắc y sinh từ bốn đại chủng. Sự hiện hữu của các sắc là gì? Sự hiện hữu của các sắc là sự sinh, sự đồng sinh, sự khởi sinh, sự tái sinh, sự xuất hiện – đây là sự hiện hữu của các sắc. Sự hoại diệt của các sắc là gì? Sự hoại diệt của các sắc là sự tiêu mất, sự tàn lụi, sự tan rã, sự hủy hoại, sự vô thường, sự biến mất – đây là sự hoại diệt của các sắc. ‘Thấy sự hoại diệt và sự hiện hữu trong các sắc’ có nghĩa là: trong các sắc, đã thấy sự hiện hữu và sự hoại diệt, đã nhận thấy, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ – (đây là ý nghĩa của) ‘thấy sự hoại diệt và sự hiện hữu trong các sắc’.
Vinicchayaṃ kubbati jantu loketi. Vinicchayāti dve vinicchayā – taṇhāvinicchayo ca, diṭṭhivinicchayo ca. Kathaṃ taṇhāvinicchayaṃ karoti? Idhekaccassa anuppannā ceva bhogā na uppajjanti, uppannā ca bhogā parikkhayaṃ gacchanti. Tassa evaṃ hoti – ‘‘kena nu kho me upāyena anuppannā ceva bhogā na uppajjanti, uppannā ca bhogā parikkhayaṃ gacchantī’’ti. Tassa pana evaṃ hoti ‘‘surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyogaṃ anuyuttassa me anuppannā ceva bhogā na uppajjanti, uppannā ca bhogā parikkhayaṃ gacchanti; vikālavisikhācariyānuyogaṃ anuyuttassa me anuppannā ceva bhogā na uppajjanti, uppannā ca bhogā parikkhayaṃ gacchanti; samajjābhicaraṇaṃ anuyuttassa me… jutappamādaṭṭhānānuyogaṃ anuyuttassa me… pāpamittānuyogaṃ anuyuttassa me anuppannā ceva bhogā na uppajjanti, uppannā ca bhogā parikkhayaṃ gacchanti; ālasyānuyogaṃ anuyuttassa me anuppannā ceva bhogā na uppajjanti, uppannā ca bhogā parikkhayaṃ gacchantī’’ti evaṃ ñāṇaṃ katvā cha bhogānaṃ apāyamukhāni na sevati, cha bhogānaṃ āyamukhāni sevati. Evampi taṇhāvinicchayaṃ karoti.
Regarding 'A being in the world makes a judgment': 'Judgments' means there are two judgments: the judgment of craving and the judgment of view. How does one make a judgment of craving? Here, for a certain person, unarisen wealth does not arise, and arisen wealth goes to destruction. It occurs to him: 'By what means, I wonder, does unarisen wealth not arise for me, and arisen wealth go to destruction?' Then it occurs to him: 'Because I am devoted to indulgence in liquor, fermented drinks, and intoxicants, which are a cause for negligence, unarisen wealth does not arise for me, and arisen wealth goes to destruction; because I am devoted to roaming the streets at unseemly times...; because I am devoted to frequenting shows...; because I am devoted to indulgence in gambling, which is a cause for negligence...; because I am devoted to association with bad friends...; because I am devoted to indulgence in laziness, unarisen wealth does not arise for me, and arisen wealth goes to destruction.' Having gained this knowledge, he does not resort to the six channels for the dissipation of wealth, but resorts to the six channels for the increase of wealth. In this way, too, one makes a judgment of craving.
Chúng sinh trong đời thực hiện sự phán quyết. Phán quyết (vinicchaya) là có hai sự phán quyết – sự phán quyết của tham ái và sự phán quyết của tà kiến. Làm thế nào người ấy thực hiện sự phán quyết của tham ái? Ở đây, một người nào đó, tài sản chưa sanh thì không sanh khởi, và tài sản đã sanh thì đi đến tiêu vong. Người ấy suy nghĩ như vầy: ‘Do phương cách nào mà tài sản chưa sanh của ta không sanh khởi, và tài sản đã sanh lại đi đến tiêu vong?’ Rồi người ấy suy nghĩ như vầy: ‘Vì ta chuyên tâm vào việc uống rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dể duôi, nên tài sản chưa sanh không sanh khởi, và tài sản đã sanh đi đến tiêu vong; vì ta chuyên tâm vào việc đi lang thang ngoài đường phố phi thời, nên tài sản chưa sanh không sanh khởi, và tài sản đã sanh đi đến tiêu vong; vì ta chuyên tâm vào việc xem hội hè đình đám…; vì ta chuyên tâm vào việc cờ bạc, là cơ sở của sự dể duôi…; vì ta chuyên tâm vào việc kết giao bạn xấu, nên tài sản chưa sanh không sanh khởi, và tài sản đã sanh đi đến tiêu vong; vì ta chuyên tâm vào việc lười biếng, nên tài sản chưa sanh không sanh khởi, và tài sản đã sanh đi đến tiêu vong.’ Biết như vậy, người ấy không thực hành sáu cửa ngõ của sự tiêu tán tài sản, và thực hành sáu cửa ngõ của sự tăng trưởng tài sản. Như vậy cũng là thực hiện sự phán quyết của tham ái.
Atha vā kasiyā vā vaṇijjāya vā gorakkhena vā issatthena † vā rājaporisena vā sippaññatarena vā paṭipajjati. Evampi taṇhāvinicchayaṃ karoti. Kathaṃ diṭṭhivinicchayaṃ karoti? Cakkhusmiṃ uppanne jānāti – ‘‘attā me uppanno’’ti, cakkhusmiṃ antarahite jānāti – ‘‘attā me antarahito vigato me attā’’ti. Evampi diṭṭhivinicchayaṃ karoti. Sotasmiṃ… ghānasmiṃ… jivhāya… kāyasmiṃ… rūpasmiṃ… saddasmiṃ… gandhasmiṃ… rasasmiṃ… phoṭṭhabbasmiṃ uppanne jānāti – ‘‘attā me uppanno’’ti, phoṭṭhabbasmiṃ antarahite jānāti – ‘‘attā me antarahito vigato me attā’’ti. Evampi diṭṭhivinicchayaṃ karoti janeti sañjaneti nibbatteti abhinibbatteti. Jantūti satto naro mānavo…pe… manujo. Loketi apāyaloke …pe… āyatanaloketi – vinicchayaṃ kubbati jantu loke.
Or else, one engages in farming, or trade, or cattle-keeping, or archery, or royal service, or some other craft. In this way too, one makes a judgment of craving. How does one make a judgment of view? When the eye arises, one knows: ‘My self has arisen.’ When the eye has disappeared, one knows: ‘My self has disappeared; my self is gone.’ In this way too, one makes a judgment of view. When the ear... nose... tongue... body... form... sound... smell... taste... or a tangible object arises, one knows: ‘My self has arisen.’ When a tangible object has disappeared, one knows: ‘My self has disappeared; my self is gone.’ In this way too, one makes a judgment of view; one produces, generates, brings forth, and fully brings forth. ‘A being’ (jantu) means a creature (satta), a person (nara), a young man (māṇava)... a human (manuja). ‘In the world’ (loke) means in the world of woe... in the world of the sense-spheres. This is the meaning of 'a being makes a judgment in the world'.
Hoặc là, người ấy hành xử bằng nghề nông, hoặc buôn bán, hoặc chăn nuôi, hoặc bắn cung, hoặc làm quan, hoặc một nghề thủ công nào khác. Như vậy cũng là thực hiện sự phán quyết của tham ái. Làm thế nào người ấy thực hiện sự phán quyết của tà kiến? Khi con mắt sanh khởi, người ấy biết: ‘Tự ngã của ta đã sanh khởi’; khi con mắt biến mất, người ấy biết: ‘Tự ngã của ta đã biến mất, tự ngã của ta đã tiêu vong.’ Như vậy cũng là thực hiện sự phán quyết của tà kiến. (Tương tự) đối với tai… mũi… lưỡi… thân… sắc… thanh… hương… vị… khi xúc sanh khởi, người ấy biết: ‘Tự ngã của ta đã sanh khởi’; khi xúc biến mất, người ấy biết: ‘Tự ngã của ta đã biến mất, tự ngã của ta đã tiêu vong.’ Như vậy cũng là thực hiện sự phán quyết của tà kiến, làm cho sanh, làm cho đồng sanh, làm cho khởi sanh, làm cho tái sanh. Chúng sinh (jantu) là hữu tình, người, thanh niên… cho đến… người. Trong đời (loke) là trong cõi khổ… cho đến… trong xứ thế giới – (đây là ý nghĩa của) ‘chúng sinh trong đời thực hiện sự phán quyết’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Sātaṃ asātanti yamāhu loke, tamūpanissāya pahoti chando;
Rūpesu disvā vibhavaṃ bhavañca, vinicchayaṃ kubbati jantu loke’’ti.
“What they call pleasant and unpleasant in the world, dependent on that, desire arises. Having seen cessation and existence in forms, a being makes a judgment in the world.”
‘Cái gì được gọi là lạc và khổ trong đời, dục tham sanh khởi nương vào điều đó; Thấy sự hoại diệt và sự hiện hữu trong các sắc, chúng sinh trong đời thực hiện sự phán quyết.’
103.
103.
103.
Kodho mosavajjañca kathaṃkathā ca, etepi dhammā dvayameva sante;
Kathaṃkathī ñāṇapathāya sikkhe, ñatvā pavuttā samaṇena dhammā.
Anger, false speech, and doubt—these states, too, exist only when the duality is present. One who has doubt should train for the path of knowledge; having known, these teachings were declared by the Ascetic.
Sân hận, lời nói dối, và hoài nghi, các pháp này cũng chỉ có khi hai (lạc và khổ) tồn tại; Người có hoài nghi nên học tập theo con đường trí tuệ, các pháp đã được Sa-môn tuyên thuyết sau khi đã biết rõ.
Kodho mosavajjañca kathaṃkathā cāti. Kodhoti yo evarūpo cittassa āghāto paṭighāto…pe… mosavajjaṃ vuccati musāvādo. Kathaṃkathā vuccati vicikicchā. Iṭṭhaṃ vatthuṃ nissāyapi kodho jāyati, aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāyapi kodho jāyati. Iṭṭhaṃ vatthuṃ nissāyapi musāvādo uppajjati, aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāyapi musāvādo uppajjati. Iṭṭhaṃ vatthuṃ nissāyapi kathaṃkathā uppajjati, aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāyapi kathaṃkathā uppajjati.
As to 'Anger, false speech, and doubt': 'Anger' is that which is such an affliction and striking against of the mind... Lying (musāvāda) is called 'false speech' (mosavajja). Uncertainty (vicikicchā) is called 'doubt' (kathaṃkathā). Anger also arises dependent on a desirable object, and anger also arises dependent on an undesirable object. False speech also arises dependent on a desirable object, and false speech also arises dependent on an undesirable object. Doubt also arises dependent on a desirable object, and doubt also arises dependent on an undesirable object.
Sân hận, lời nói dối, và hoài nghi. Sân hận (kodho) là sự tức giận, sự phẫn nộ của tâm như thế này… cho đến… Lời nói dối được gọi là lỗi lầm do dối trá (mosavajjaṃ). Sự do dự được gọi là hoài nghi (kathaṃkathā). Sân hận cũng sanh khởi do nương vào đối tượng khả ái, sân hận cũng sanh khởi do nương vào đối tượng không khả ái. Lời nói dối cũng sanh khởi do nương vào đối tượng khả ái, lời nói dối cũng sanh khởi do nương vào đối tượng không khả ái. Hoài nghi cũng sanh khởi do nương vào đối tượng khả ái, hoài nghi cũng sanh khởi do nương vào đối tượng không khả ái.
Kathaṃ aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya kodho jāyati? Pakatiyā aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya kodho jāyati. Anatthaṃ me acarīti kodho jāyati, anatthaṃ me caratīti kodho jāyati, anatthaṃ me carissatīti kodho jāyati; piyassa me manāpassa anatthaṃ acari … anatthaṃ carati… anatthaṃ carissatīti kodho jāyati; appiyassa me amanāpassa atthaṃ acari… atthaṃ carati… atthaṃ carissatīti kodho jāyati. Evaṃ aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya kodho jāyati.
How does anger arise dependent on an undesirable object? By nature, anger arises dependent on an undesirable object. Anger arises with the thought: 'He has done me harm.' Anger arises with the thought: 'He is doing me harm.' Anger arises with the thought: 'He will do me harm.' Anger arises with the thought: 'He has done harm to one who is dear and agreeable to me... is doing harm... will do harm.' Anger arises with the thought: 'He has done good to one who is not dear or agreeable to me... is doing good... will do good.' In this way, anger arises dependent on an undesirable object.
Làm thế nào sân hận sanh khởi do nương vào đối tượng không khả ái? Theo lẽ tự nhiên, sân hận sanh khởi do nương vào đối tượng không khả ái. Sân hận sanh khởi (với ý nghĩ): ‘Nó đã làm điều bất lợi cho ta.’ Sân hận sanh khởi (với ý nghĩ): ‘Nó đang làm điều bất lợi cho ta.’ Sân hận sanh khởi (với ý nghĩ): ‘Nó sẽ làm điều bất lợi cho ta.’ Sân hận sanh khởi (với ý nghĩ): ‘Nó đã làm… đang làm… sẽ làm điều bất lợi cho người thân yêu, người vừa ý của ta.’ Sân hận sanh khởi (với ý nghĩ): ‘Nó đã làm… đang làm… sẽ làm điều lợi ích cho người không thân yêu, người không vừa ý của ta.’ Như vậy, sân hận sanh khởi do nương vào đối tượng không khả ái.
Kathaṃ iṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya kodho jāyati? Iṭṭhaṃ vatthuṃ acchedasaṅkinopi kodho jāyati, acchijjantepi kodho jāyati, acchinnepi kodho jāyati. Iṭṭhaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṅkinopi kodho jāyati, vipariṇāmantepi kodho jāyati, vipariṇatepi kodho jāyati. Evaṃ iṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya kodho jāyati.
How does anger arise dependent on a desirable object? Anger arises in one who is suspicious that a desirable object might be taken away; anger arises when it is being taken away; anger arises when it has been taken away. Anger arises in one who is suspicious that a desirable object might change; anger arises when it is changing; anger arises when it has changed. In this way, anger arises dependent on a desirable object.
Làm thế nào sân hận sanh khởi do nương vào đối tượng khả ái? Sân hận cũng sanh khởi ở người nghi ngờ rằng đối tượng khả ái sẽ bị cướp đoạt, sân hận cũng sanh khởi khi nó đang bị cướp đoạt, sân hận cũng sanh khởi khi nó đã bị cướp đoạt. Sân hận cũng sanh khởi ở người nghi ngờ rằng đối tượng khả ái sẽ biến đổi, sân hận cũng sanh khởi khi nó đang biến đổi, sân hận cũng sanh khởi khi nó đã biến đổi. Như vậy, sân hận sanh khởi do nương vào đối tượng khả ái.
Kathaṃ aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya musāvādo uppajjati? Idhekacco andubandhanena † vā baddho †; tassa bandhanassa mokkhatthāya sampajānamusā bhāsati… rajjubandhanena vā baddho… saṅkhalikabandhanena vā baddho… vettabandhanena vā baddho… latābandhanena vā baddho… pakkhepabandhanena vā baddho… parikkhepabandhanena vā baddho… gāmanigamanagararaṭṭhabandhanena vā baddho… janapadabandhanena vā baddho; tassa bandhanassa mokkhatthāya sampajānamusā bhāsati. Evaṃ aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya musāvādo uppajjatīti.
How does false speech arise dependent on an undesirable object? Here, a certain person is bound by fetters; for the sake of release from that bondage, he knowingly speaks falsely. Or he is bound by ropes... by chains... by confinement... by an enclosure... by the bondage of a village, market town, city, or country... by the bondage of a province; for the sake of release from that bondage, he knowingly speaks falsely. In this way, false speech arises dependent on an undesirable object.
Lời nói dối do nương vào sự việc không khả ý sanh khởi như thế nào? Ở đây, có người bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng cùm; vì mục đích giải thoát khỏi sự trói buộc ấy, người ấy cố ý nói lời nói dối... hoặc bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng dây thừng... hoặc bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng xiềng xích... hoặc bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng roi mây... hoặc bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng dây leo... hoặc bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng hào lũy... hoặc bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng tường thành... hoặc bị trói buộc bởi sự trói buộc của làng, thị trấn, thành phố, xứ sở... hoặc bị trói buộc bởi sự trói buộc của quận huyện; vì mục đích giải thoát khỏi sự trói buộc ấy, người ấy cố ý nói lời nói dối. Như vậy, lời nói dối sanh khởi do nương vào sự việc không khả ý.
Kathaṃ iṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya musāvādo uppajjati? Idhekacco manāpikānaṃ † rūpānaṃ hetu sampajānamusā bhāsati… manāpikānaṃ saddānaṃ… gandhānaṃ… rasānaṃ… phoṭṭhabbānaṃ hetu… cīvarahetu… piṇḍapātahetu… senāsanahetu… gilānapaccayabhesajjaparikkhārahetu sampajānamusā bhāsati. Evaṃ iṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya musāvādo uppajjati.
How does false speech arise dependent on a desirable object? Here, a certain person knowingly speaks falsely for the sake of agreeable sights... for the sake of agreeable sounds... smells... tastes... tangible objects... for the sake of a robe... for the sake of alms-food... for the sake of lodging... for the sake of medicine and requisite supports for the sick. Thus, false speech arises dependent on a desirable object.
Lời nói dối do nương vào sự việc khả ý sanh khởi như thế nào? Ở đây, có người cố ý nói lời nói dối vì nguyên nhân là các sắc khả ý... vì nguyên nhân là các thanh... hương... vị... xúc khả ý... vì nguyên nhân là y phục... vì nguyên nhân là vật thực khất thực... vì nguyên nhân là sàng tọa... vì nguyên nhân là dược phẩm và vật dụng trị bệnh, người ấy cố ý nói lời nói dối. Như vậy, lời nói dối sanh khởi do nương vào sự việc khả ý.
Kathaṃ aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya kathaṃkathā uppajjati? ‘‘Muccissāmi † nu kho cakkhurogato, na nu kho muccissāmi cakkhurogato. Muccissāmi nu kho sotarogato… ghānarogato… jivhārogato… kāyarogato… sīsarogato… kaṇṇarogato… mukharogato… muccissāmi nu kho dantarogato, na nu kho muccissāmi dantarogato’’ti. Evaṃ aniṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya kathaṃkathā uppajjati.
How does doubt arise dependent on an undesirable object? 'Will I be freed from eye disease, or will I not be freed from eye disease? Will I be freed from ear disease... from nose disease... from tongue disease... from body disease... from head disease... from ear disease... from mouth disease... will I be freed from tooth disease, or will I not be freed from tooth disease?' Thus, doubt arises dependent on an undesirable object.
Sự nghi ngờ do nương vào sự việc không khả ý sanh khởi như thế nào? "Ta sẽ thoát khỏi bệnh mắt chăng, hay ta sẽ không thoát khỏi bệnh mắt chăng? Ta sẽ thoát khỏi bệnh tai chăng... bệnh mũi... bệnh lưỡi... bệnh thân... bệnh đầu... bệnh tai... bệnh miệng... ta sẽ thoát khỏi bệnh răng chăng, hay ta sẽ không thoát khỏi bệnh răng chăng?". Như vậy, sự nghi ngờ sanh khởi do nương vào sự việc không khả ý.
Kathaṃ iṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya kathaṃkathā uppajjati? ‘‘Labhissāmi nu kho manāpike † rūpe, na nu kho labhissāmi manāpike rūpe. Labhissāmi nu kho manāpike sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ… lābhaṃ… yasaṃ… pasaṃsaṃ… sukhaṃ… cīvaraṃ… piṇḍapātaṃ… senāsanaṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhāra’’nti. Evaṃ iṭṭhaṃ vatthuṃ nissāya kathaṃkathā uppajjatīti – kodho mosavajjañca kathaṃkathā ca.
How does doubt arise dependent on a desirable object? 'Shall I obtain agreeable forms, or shall I not obtain agreeable forms? Shall I obtain agreeable sounds... smells... tastes... tangible objects... a family... a group... a dwelling... gain... retinue... praise... happiness... a robe... alms-food... a lodging... medicine and requisite supports for the sick?' Thus, doubt arises dependent on a desirable object. This is the meaning of 'anger, false speech, and doubt'.
Sự nghi ngờ do nương vào sự việc khả ý sanh khởi như thế nào? "Ta sẽ được các sắc khả ý chăng, hay ta sẽ không được các sắc khả ý chăng? Ta sẽ được các thanh khả ý chăng... hương... vị... xúc... gia tộc... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh tiếng... tán dương... an lạc... y phục... vật thực khất thực... sàng tọa... dược phẩm và vật dụng trị bệnh chăng?". Như vậy, sự nghi ngờ sanh khởi do nương vào sự việc khả ý – (đây là ý nghĩa của) phẫn nộ, lỗi lầm do nói dối, và sự nghi ngờ.
Etepi dhammā dvayameva santeti. Sātāsāte sante, sukhadukkhe sante, somanassadomanasse sante, iṭṭhāniṭṭhe sante, anunayapaṭighe sante saṃvijjamāne atthi upalabbhamāneti – etepi dhammā dvayameva sante.
As for 'These states, too, exist only when the duality is present': When the agreeable and disagreeable exist, when pleasure and pain exist, when joy and sorrow exist, when the desirable and undesirable exist, when attraction and aversion exist, being manifest, being present, and being found—this is the meaning of 'These states, too, exist only when the duality is present'.
(Câu) "Và các pháp này chỉ là cặp đôi" (có nghĩa là): Khi có sự dễ chịu và không dễ chịu, khi có lạc và khổ, khi có hỷ và ưu, khi có sự việc khả ý và không khả ý, khi có thuận ý và nghịch ý đang hiện hữu, có mặt, được tìm thấy – (đây là ý nghĩa của câu) "và các pháp này chỉ là cặp đôi".
Kathaṃkathī ñāṇapathāya sikkheti. Ñāṇampi ñāṇapatho, ñāṇassa ārammaṇampi ñāṇapatho, ñāṇasahabhunopi dhammā ñāṇapatho. Yathā ariyamaggo ariyapatho, devamaggo devapatho, brahmamaggo brahmapatho; evameva ñāṇampi ñāṇapatho, ñāṇassa ārammaṇampi ñāṇapatho, ñāṇasahabhunopi dhammā ñāṇapatho.
As for 'One with doubt should train for the path of knowledge': Knowledge itself is the path of knowledge; the object of knowledge is the path of knowledge; and the states that arise together with knowledge are the path of knowledge. Just as the noble path is the noble way, the divine path is the divine way, and the brahmā path is the brahmā way; even so, knowledge itself is the path of knowledge, the object of knowledge is the path of knowledge, and the states that arise together with knowledge are the path of knowledge.
(Câu) "Người có nghi ngờ nên học tập theo con đường của trí tuệ" (có nghĩa là): Trí tuệ cũng là con đường của trí tuệ, đối tượng của trí tuệ cũng là con đường của trí tuệ, các pháp đồng sanh với trí tuệ cũng là con đường của trí tuệ. Giống như Thánh đạo là con đường của bậc Thánh, con đường của chư thiên là con đường của chư thiên, con đường của Phạm thiên là con đường của Phạm thiên; cũng như vậy, trí tuệ cũng là con đường của trí tuệ, đối tượng của trí tuệ cũng là con đường của trí tuệ, các pháp đồng sanh với trí tuệ cũng là con đường của trí tuệ.
Sikkheti tisso sikkhā – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā. Katamā adhisīlasikkhā? Idha bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu, khuddako sīlakkhandho… mahanto sīlakkhandho… sīlaṃ patiṭṭhā ādi caraṇaṃ saṃyamo saṃvaro mukhaṃ pamukhaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ samāpattiyā – ayaṃ adhisīlasikkhā. Katamā adhicittasikkhā? Idha bhikkhu vivicceva kāmehi…pe… catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati – ayaṃ adhicittasikkhā. Katamā adhipaññāsikkhā? Idha bhikkhu paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā. So ‘‘idaṃ dukkha’’nti yathābhūtaṃ pajānāti…pe… ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ime āsavā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti…pe… ‘‘ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti – ayaṃ adhipaññāsikkhā.
One trains in the three trainings—the training in higher virtue, the training in higher mind, and the training in higher wisdom. What is the training in higher virtue? Here, a bhikkhu is virtuous; he dwells restrained by the restraint of the Pātimokkha, is endowed with good conduct and resort, sees danger in the slightest faults, and, having undertaken them, trains in the training rules. The minor aggregate of virtue… the major aggregate of virtue… virtue is the foundation, the basis of practice, restraint, control, the means, and the foremost for the attainment of wholesome states—this is the training in higher virtue. What is the training in higher mind? Here, a bhikkhu, quite secluded from sensual pleasures… enters and dwells in the fourth jhāna—this is the training in higher mind. What is the training in higher wisdom? Here, a bhikkhu is wise, endowed with wisdom that discerns arising and passing away, is noble, penetrative, and rightly leads to the complete destruction of suffering. He understands as it really is: “This is suffering”… “This is the path leading to the cessation of suffering.” He understands as it really is: “These are the taints”… “This is the path leading to the cessation of the taints”—this is the training in higher wisdom.
(Từ) "nên học tập" (chỉ) ba học pháp – tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Tăng thượng giới học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu có giới, sống được phòng hộ bởi sự thu thúc của Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới. Giới uẩn nhỏ... giới uẩn lớn... giới là nền tảng, là khởi đầu, là sự chế ngự, là sự phòng hộ, là cửa ngõ, là đứng đầu cho sự chứng đạt các thiện pháp – đây là tăng thượng giới học. Tăng thượng tâm học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu ly dục... cho đến... đạt và an trú thiền thứ tư – đây là tăng thượng tâm học. Tăng thượng tuệ học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, là trí tuệ bậc Thánh, có khả năng thể nhập, đưa đến sự đoạn tận khổ một cách chân chánh. Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là khổ"... cho đến... tuệ tri như thật: "Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ". Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là các lậu hoặc"... cho đến... tuệ tri như thật: "Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc" – đây là tăng thượng tuệ học.
Kathaṃkathī ñāṇapathāya sikkheti. Kathaṃkathī puggalo sakaṅkho savilekho sadveḷhako savicikiccho, ñāṇādhigamāya ñāṇaphusanāya ñāṇasacchikiriyāya adhisīlampi sikkheyya, adhicittampi sikkheyya, adhipaññampi sikkheyya; imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya, jānanto sikkheyya, passanto sikkheyya, paccavekkhanto sikkheyya, cittaṃ adhiṭṭhahanto sikkheyya, saddhāya adhimuccanto sikkheyya, vīriyaṃ paggaṇhanto sikkheyya, satiṃ upaṭṭhahanto sikkheyya, cittaṃ samādahanto sikkheyya, paññāya pajānanto sikkheyya, abhiññeyyaṃ abhijānanto sikkheyya, pariññeyyaṃ parijānanto sikkheyya, pahātabbaṃ pajahanto sikkheyya, bhāvetabbaṃ bhāvento sikkheyya, sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – kathaṃkathī ñāṇapathāya sikkhe.
One who is doubtful trains for the path to knowledge. A doubtful person—being uncertain, perplexed, vacillating, and skeptical—should train in higher virtue, higher mind, and higher wisdom for the attainment of knowledge, for contact with knowledge, and for the realization of knowledge. Reflecting on these three trainings, he should train; knowing, he should train; seeing, he should train; reviewing, he should train; resolving the mind, he should train; being inclined by faith, he should train; exerting energy, he should train; establishing mindfulness, he should train; concentrating the mind, he should train; discerning with wisdom, he should train; directly knowing what is to be directly known, he should train; fully understanding what is to be fully understood, he should train; abandoning what is to be abandoned, he should train; developing what is to be developed, he should train; realizing what is to be realized, he should train. He should practice, practice well, undertake, and conduct himself accordingly. This is how one who is doubtful trains for the path to knowledge.
(Câu) "Người có nghi ngờ nên học tập theo con đường của trí tuệ" (có nghĩa là): Người có nghi ngờ, có hoài nghi, có sự phân vân trong tâm, có tâm lưỡng lự, có sự do dự, để chứng đắc trí tuệ, để tiếp xúc trí tuệ, để thực chứng trí tuệ, vị ấy nên học tập tăng thượng giới, nên học tập tăng thượng tâm, nên học tập tăng thượng tuệ; nên học tập bằng cách hướng tâm đến ba học pháp này, nên học tập bằng cách biết, nên học tập bằng cách thấy, nên học tập bằng cách quán xét, nên học tập bằng cách quyết định tâm, nên học tập bằng cách hướng đến với đức tin, nên học tập bằng cách sách tấn tinh tấn, nên học tập bằng cách thiết lập niệm, nên học tập bằng cách định tâm, nên học tập bằng cách tuệ tri với trí tuệ, nên học tập bằng cách thắng tri pháp cần thắng tri, nên học tập bằng cách liễu tri pháp cần liễu tri, nên học tập bằng cách đoạn trừ pháp cần đoạn trừ, nên học tập bằng cách tu tập pháp cần tu tập, nên học tập bằng cách thực chứng pháp cần thực chứng, nên thực hành, nên thực hành tốt, nên chấp nhận và thực hành – (đây là ý nghĩa của câu) "người có nghi ngờ nên học tập theo con đường của trí tuệ".
Ñatvā pavuttā samaṇena dhammāti. Ñatvāti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā vuttā pavuttā ācikkhitā desitā paññapitā paṭṭhapitā vivaṭā vibhattā uttānīkatā † pakāsitā. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā vuttā pavuttā ācikkhitā desitā paññapitā paṭṭhapitā vivaṭā vibhattā uttānīkatā pakāsitā, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti… ‘‘avijjāpaccayā saṅkhārā’’ti…pe… ‘‘jātipaccayā jarāmaraṇa’’nti… ‘‘avijjānirodhā saṅkhāranirodho’’ti…pe… ‘‘jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’’ti… ‘‘idaṃ dukkha’’nti…pe… ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti… ‘‘ime āsavā’’ti…pe… ‘‘ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadā’’ti… ‘‘ime dhammā abhiññeyyā’’ti… ‘‘ime dhammā pariññeyyā’’ti… ‘‘ime dhammā pahātabbā’’ti… ‘‘ime dhammā bhāvetabbā’’ti… ‘‘ime dhammā sacchikātabbā’’ti… channaṃ phassāyatanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca… pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ… catunnaṃ mahābhūtānaṃ… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā vuttā pavuttā ācikkhitā desitā paññapitā paṭṭhapitā vivaṭā vibhattā uttānīkatā pakāsitā.
“Having known, the dhammas were taught by the Recluse.” As for ‘Having known’: it means having known, having understood, having weighed, having considered, having clarified, and having made manifest. They were spoken, taught in detail, declared, taught, prescribed, established, revealed, analyzed, made plain, and illuminated. “All formations are impermanent”—thus having known, understood, weighed, considered, clarified, and made manifest, they were spoken, taught in detail, declared, taught, prescribed, established, revealed, analyzed, made plain, and illuminated. “All formations are suffering”… “All dhammas are not-self”… “Conditioned by ignorance, formations arise”… “Conditioned by birth, aging-and-death arises”… “With the cessation of ignorance comes the cessation of formations”… “With the cessation of birth comes the cessation of aging-and-death”… “This is suffering”… “This is the path leading to the cessation of suffering”… “These are the taints”… “This is the path leading to the cessation of the taints”… “These dhammas are to be directly known”… “These dhammas are to be fully understood”… “These dhammas are to be abandoned”… “These dhammas are to be developed”… “These dhammas are to be realized”… the origin and passing away, the gratification, the danger, and the escape regarding the six sense bases… the five aggregates subject to clinging… the four great elements… “Whatever is of a nature to arise, all that is of a nature to cease”—thus having known, understood, weighed, considered, clarified, and made manifest, they were spoken, taught in detail, declared, taught, prescribed, established, revealed, analyzed, made plain, and illuminated.
“Các pháp đã được vị Sa-môn tuyên thuyết sau khi đã biết rõ.” Về (từ) “sau khi đã biết rõ” (ñatvā) là: sau khi đã biết, đã hiểu rõ, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho rõ ràng; (các pháp) đã được nói, đã được tuyên thuyết, đã được chỉ dạy, đã được thuyết giảng, đã được chế định, đã được thiết lập, đã được khai mở, đã được phân tích, đã được làm cho hiển lộ, đã được công bố. (Như là:) “Tất cả các pháp hữu vi là vô thường,” sau khi đã biết, đã hiểu rõ, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho rõ ràng; (các pháp) đã được nói, đã được tuyên thuyết, đã được chỉ dạy, đã được thuyết giảng, đã được chế định, đã được thiết lập, đã được khai mở, đã được phân tích, đã được làm cho hiển lộ, đã được công bố. (Tương tự:) “Tất cả các pháp hữu vi là khổ,”... “Tất cả các pháp là vô ngã,”... “Do vô minh làm duyên, các hành sinh khởi,”... v.v... “Do sanh làm duyên, già-chết (sinh khởi), ”... “Do vô minh diệt, các hành diệt,”... v.v... “Do sanh diệt, già-chết diệt,”... “Đây là khổ,”... v.v... “Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ,”... “Đây là các lậu hoặc,”... v.v... “Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc,”... “Các pháp này cần được thắng tri,”... “Các pháp này cần được liễu tri,”... “Các pháp này cần được đoạn tận,”... “Các pháp này cần được tu tập,”... “Các pháp này cần được chứng ngộ,”... (và) sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của sáu xứ xúc... của năm thủ uẩn... của bốn đại chủng... (và) “Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt,” sau khi đã biết, đã hiểu rõ, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho rõ ràng; (các pháp) đã được nói, đã được tuyên thuyết, đã được chỉ dạy, đã được thuyết giảng, đã được chế định, đã được thiết lập, đã được khai mở, đã được phân tích, đã được làm cho hiển lộ, đã được công bố.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘abhiññāyāhaṃ, bhikkhave, dhammaṃ desemi, no anabhiññāya. Sanidānāhaṃ, bhikkhave, dhammaṃ desemi, no anidānaṃ. Sappāṭihāriyāhaṃ, bhikkhave, dhammaṃ desemi, no appāṭihāriyaṃ. Tassa mayhaṃ, bhikkhave, abhiññāya dhammaṃ desayato, no anabhiññāya, sanidānaṃ dhammaṃ desayato, no anidānaṃ, sappāṭihāriyaṃ dhammaṃ desayato, no appāṭihāriyaṃ, karaṇīyo ovādo, karaṇīyā anusāsanī. Alañca pana, bhikkhave, vo tuṭṭhiyā alaṃ pāmojjāya alaṃ somanassāya sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto dhammo, suppaṭipanno saṅghoti. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne dasasahassī lokadhātu akampitthā’’ti – ñatvā pavuttā samaṇena dhammā.
This was spoken by the Blessed One: 'Bhikkhus, I teach the Dhamma having directly known it, not without having directly known it. I teach the Dhamma with a basis, not without a basis. I teach the Dhamma with its marvels, not without its marvels. Bhikkhus, of me who teaches the Dhamma having directly known it, not without having directly known it; who teaches the Dhamma with a basis, not without a basis; who teaches the Dhamma with its marvels, not without its marvels—my advice should be followed, my instruction should be followed. And, bhikkhus, it is enough for your satisfaction, enough for your joy, enough for your gladness that: “The Blessed One is a Perfectly Enlightened One, the Dhamma is well-proclaimed, the Saṅgha is of good conduct.” And while this prose exposition was being spoken, the ten-thousandfold world system trembled.' The dhammas were taught by the Recluse, having known them.
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói rằng: “Này các Tỳ khưu, Ta thuyết Pháp sau khi đã thắng tri, không phải không thắng tri. Này các Tỳ khưu, Ta thuyết Pháp có nguyên nhân, không phải không có nguyên nhân. Này các Tỳ khưu, Ta thuyết Pháp có hiệu quả, không phải không có hiệu quả. Này các Tỳ khưu, đối với Ta, người thuyết Pháp sau khi đã thắng tri chứ không phải không thắng tri, người thuyết Pháp có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân, người thuyết Pháp có hiệu quả chứ không phải không có hiệu quả, thì lời giáo huấn nên được thực hành, lời chỉ dạy nên được thực hành. Và này các Tỳ khưu, các ngươi thật xứng đáng để hoan hỷ, xứng đáng để hân hoan, xứng đáng để vui mừng rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng, Tăng chúng là bậc thiện hạnh.’ Và khi bài kệ ngôn này được nói lên, mười ngàn thế giới đã rúng động.” – (Đây là ý nghĩa của) “Các pháp đã được vị Sa-môn tuyên thuyết sau khi đã biết rõ.”
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Kodho mosavajjañca kathaṃkathā ca, etepi dhammā dvayameva sante;
Kathaṃkathī ñāṇapathāya sikkhe, ñatvā pavuttā samaṇena dhammā’’ti.
“Anger, false speech, and doubt—these dhammas also being a duality; one who is doubtful should train for the path of knowledge. The dhammas were taught by the Recluse, having known them.”
“Phẫn nộ, lời nói dối, và cả sự nghi hoặc, các pháp này cũng hiện hữu theo từng cặp đôi; người có nghi hoặc nên học tập theo con đường trí tuệ, các pháp đã được vị Sa-môn tuyên thuyết sau khi đã biết rõ.”
104.
104.
104.
Sātaṃ asātañca kutonidānā, kismiṃ asante na bhavanti hete;
Vibhavaṃ bhavañcāpi yametamatthaṃ, etaṃ me pabrūhi yatonidānaṃ.
“Pleasantness and unpleasantness, from what are they sourced? When what is absent, do these not come to be? And this matter of their cessation and existence—explain this to me, from what it is sourced.”
Sự dễ chịu và không dễ chịu có nguyên nhân từ đâu, khi cái gì không có mặt thì những điều này không hiện hữu? Và ý nghĩa của sự hoại diệt và sự hiện hữu này, xin hãy nói cho con biết điều ấy, (chúng) có nguyên nhân từ đâu.
Sātaṃ asātañca kutonidānāti. Sātā asātā kutonidānā kutojātā kutosañjātā kutonibbattā kutoabhinibbattā kutopātubhūtā, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavāti sātāsātānaṃ mūlaṃ pucchati…pe… samudayaṃ pucchati papucchati yācati ajjhesati pasādetīti – sātaṃ asātañca kutonidānā.
“From what source are pleasantness and unpleasantness?” means: Pleasantness and unpleasantness—from what are they sourced, from what are they born, from what do they originate, from what do they arise, from what do they fully arise, from what do they appear? What is their source, what is their origin, of what nature are they, what is their provenance? Thus, one asks the root of pleasantness and unpleasantness... one asks the origin, asks in detail, requests, urges, seeks clarification. This is the meaning of the phrase, “From what source are pleasantness and unpleasantness?”
Về câu “Sự dễ chịu và không dễ chịu có nguyên nhân từ đâu?”. Sự dễ chịu, không dễ chịu có nguyên nhân từ đâu, sanh từ đâu, đồng sanh từ đâu, khởi sanh từ đâu, phát sanh từ đâu, xuất hiện từ đâu; có nhân gì, có nguồn sanh khởi gì, có chủng loại gì, có nguồn gốc gì? (Vị ấy) hỏi về cội rễ của sự dễ chịu và không dễ chịu... v.v... hỏi về sự sanh khởi, hỏi chi tiết, thỉnh cầu, khẩn khoản, làm cho (Thế Tôn) vui lòng. – (Đây là ý nghĩa của) “Sự dễ chịu và không dễ chịu có nguyên nhân từ đâu?”.
Kismiṃ asante na bhavanti heteti. Kismiṃ asante asaṃvijjamāne natthi anupalabbhamāne sātāsātā na bhavanti nappabhavanti na jāyanti na sañjāyanti na nibbattanti na abhinibbattantīti – kismiṃ asante na bhavanti hete.
“When what is absent, do these not come to be?” means: When what is absent, not existing, not found, pleasantness and unpleasantness do not come to be, do not originate, are not born, do not arise together, do not arise, do not fully arise. This is the meaning of the phrase, “When what is absent, do these not come to be?”
Về câu “Khi cái gì không có mặt thì những điều này không hiện hữu?”. Khi cái gì không có mặt, không hiện hữu, không có, không tìm thấy, thì sự dễ chịu và không dễ chịu không hiện hữu, không phát sanh, không sanh khởi, không đồng sanh khởi, không khởi sanh, không phát sanh. – (Đây là ý nghĩa của) “Khi cái gì không có mặt thì những điều này không hiện hữu?”.
Vibhavaṃ bhavañcāpi yametamatthanti. Katamo sātāsātānaṃ bhavo? Yo sātāsātānaṃ bhavo pabhavo jāti sañjāti nibbatti abhinibbatti pātubhāvo – ayaṃ sātāsātānaṃ bhavo. Katamo sātāsātānaṃ vibhavo? Yo sātāsātānaṃ khayo vayo bhedo paribhedo aniccatā antaradhānaṃ – ayaṃ sātāsātānaṃ vibhavo. Yametamatthanti yaṃ paramatthanti – vibhavaṃ bhavañcāpi yametamatthaṃ.
“And this matter of non-being and being” means: What is the being of pleasantness and unpleasantness? The being, origin, birth, production, coming into being, full coming into being, and manifestation of pleasantness and unpleasantness—this is the being of pleasantness and unpleasantness. What is the non-being of pleasantness and unpleasantness? The wasting away, decline, breaking up, complete breaking up, impermanence, and disappearance of pleasantness and unpleasantness—this is the non-being of pleasantness and unpleasantness. “This matter” means “this ultimate matter.” This is the meaning of the phrase, “And this matter of non-being and being.”
Về câu “Và ý nghĩa của sự hoại diệt và sự hiện hữu này”. Sự hiện hữu của dễ chịu và không dễ chịu là gì? Sự hiện hữu, sự phát sanh, sự sanh, sự đồng sanh, sự khởi sanh, sự phát sanh, sự xuất hiện của dễ chịu và không dễ chịu – đây là sự hiện hữu của dễ chịu và không dễ chịu. Sự hoại diệt của dễ chịu và không dễ chịu là gì? Sự tiêu mất, sự hủy hoại, sự tan rã, sự tan vỡ, tính vô thường, sự biến mất của dễ chịu và không dễ chịu – đây là sự hoại diệt của dễ chịu và không dễ chịu. Về “ý nghĩa này” (yametamattham) là “ý nghĩa tối hậu” (yaṃ paramattham). – (Đây là ý nghĩa của) “Và ý nghĩa của sự hoại diệt và sự hiện hữu này”.
Etaṃ me pabrūhi yatonidānanti. Etanti yaṃ pucchāmi yaṃ yācāmi yaṃ ajjhesāmi yaṃ pasādemi. Pabrūhīti brūhi vadehi ācikkha desehi paññapehi paṭṭhapehi vivara vibhaja uttānīkarohi pakāsehīti – etaṃ me pabrūhi. Yatonidānanti yaṃnidānaṃ yaṃsamudayaṃ yaṃjātikaṃ yaṃpabhavanti – etaṃ me pabrūhi yatonidānaṃ.
“Tell me this, from what source” means: “This” refers to that which I ask, that which I request, that which I urge, that which I seek clarification on. “Tell” means: tell, speak, relate, teach, make known, establish, disclose, analyze, make clear, and reveal. “From what source” means: what is its source, what is its origin, of what nature is it, what is its provenance. This is the meaning of the phrase, “Tell me this, from what source.”
Về câu “Xin hãy nói cho con biết điều ấy, (chúng) có nguyên nhân từ đâu”. Về “điều ấy” (etaṃ) là: điều con hỏi, điều con thỉnh cầu, điều con khẩn khoản, điều con làm cho (Ngài) vui lòng. Về “xin hãy nói” (pabrūhi) là: hãy nói, hãy trình bày, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy chế định, hãy thiết lập, hãy khai mở, hãy phân tích, hãy làm cho hiển lộ, hãy công bố – xin hãy nói cho con biết điều ấy. Về “(chúng) có nguyên nhân từ đâu” (yatonidānam) là: có nhân gì, có nguồn sanh khởi gì, có chủng loại gì, có nguồn gốc gì. – (Đây là ý nghĩa của) “Xin hãy nói cho con biết điều ấy, (chúng) có nguyên nhân từ đâu”.
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created being said:
Do đó, vị hóa nhân ấy đã nói:
‘‘Sātaṃ asātañca kutonidānā, kismiṃ asante na bhavanti hete;
Vibhavaṃ bhavañcāpi yametamatthaṃ, etaṃ me pabrūhi yatonidāna’’nti.
“From what source are pleasantness and unpleasantness? When what is absent, do these not come to be? And this matter of non-being and being, tell me this: from what is it sourced?”
“Sự dễ chịu và không dễ chịu có nguyên nhân từ đâu, khi cái gì không có mặt thì những điều này không hiện hữu? Và ý nghĩa của sự hoại diệt và sự hiện hữu này, xin hãy nói cho con biết điều ấy, (chúng) có nguyên nhân từ đâu.”
105.
105.
105.
Phassanidānaṃ sātaṃ asātaṃ, phasse asante na bhavanti hete;
Vibhavaṃ bhavañcāpi yametamatthaṃ, etaṃ te pabrūmi itonidānaṃ.
“Pleasantness and unpleasantness have contact as their source; when contact is absent, these do not come to be. And this matter of non-being and being—this I declare to you is sourced from this.”
Sự dễ chịu và không dễ chịu có xúc làm nguyên nhân, khi xúc không có mặt thì những điều này không hiện hữu. Và ý nghĩa của sự hoại diệt và sự hiện hữu này, Ta nói cho ngươi biết điều ấy, (chúng) có nguyên nhân từ đây.
Phassanidānaṃ sātaṃ asātanti. Sukhavedanīyaṃ phassaṃ paṭicca uppajjati sukhā vedanā. Yā tasseva sukhavedanīyassa phassassa nirodhā, yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ sukhavedanīyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā sukhā vedanā sā nirujjhati, sā vūpasammati. Dukkhavedanīyaṃ phassaṃ paṭicca uppajjati dukkhā vedanā. Yā tasseva dukkhavedanīyassa phassassa nirodhā, yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ dukkhavedanīyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā dukkhā vedanā sā nirujjhati, sā vūpasammati. Adukkhamasukhavedanīyaṃ phassaṃ paṭicca uppajjati adukkhamasukhā vedanā. Yā tasseva adukkhamasukhavedanīyassa phassassa nirodhā, yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ adukkhamasukhavedanīyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā adukkhamasukhā vedanā sā nirujjhati, vūpasammati. Phassanidānaṃ sātaṃ asātanti. Sātāsātā phassanidānā phassasamudayā phassajātikā phassappabhavāti – phassanidānaṃ sātaṃ asātaṃ.
“Pleasantness and unpleasantness have contact as their source” means: Dependent on contact to be felt as pleasant, a pleasant feeling arises. With the cessation of that very contact to be felt as pleasant, the resultant feeling that arose dependent on it ceases and is pacified. Dependent on contact to be felt as painful, a painful feeling arises. With the cessation of that very contact to be felt as painful, the resultant feeling that arose dependent on it ceases and is pacified. Dependent on contact to be felt as neither-painful-nor-pleasant, a neither-painful-nor-pleasant feeling arises. With the cessation of that very contact to be felt as neither-painful-nor-pleasant, the resultant feeling that arose dependent on it ceases and is pacified. Pleasantness and unpleasantness have contact as their source, have contact as their origin, are born of contact, and have contact as their provenance. This is the meaning of the phrase, “Pleasantness and unpleasantness have contact as their source.”
(Câu) 'Dễ chịu và không dễ chịu có xúc làm nhân' là như vầy. Duyên xúc có thọ lạc, lạc thọ sanh khởi. Do sự diệt của chính xúc có thọ lạc ấy, lạc thọ nào đã sanh khởi duyên xúc có thọ lạc tương ứng ấy, lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy lắng dịu. Duyên xúc có thọ khổ, khổ thọ sanh khởi. Do sự diệt của chính xúc có thọ khổ ấy, khổ thọ nào đã sanh khởi duyên xúc có thọ khổ tương ứng ấy, khổ thọ ấy diệt, khổ thọ ấy lắng dịu. Duyên xúc có thọ bất khổ bất lạc, thọ bất khổ bất lạc sanh khởi. Do sự diệt của chính xúc có thọ bất khổ bất lạc ấy, thọ bất khổ bất lạc nào đã sanh khởi duyên xúc có thọ bất khổ bất lạc tương ứng ấy, thọ ấy diệt, lắng dịu. (Câu) 'Dễ chịu và không dễ chịu có xúc làm nhân' là như vầy. (Các trạng thái) dễ chịu và không dễ chịu có xúc làm nhân, có xúc làm nguồn sanh, có xúc làm nơi sanh, có xúc làm nguồn gốc – (đây là ý nghĩa của câu) 'dễ chịu và không dễ chịu có xúc làm nhân'.
Phasse asante na bhavanti heteti. Phasse asante asaṃvijjamāne natthi anupalabbhamāne sātāsātā na bhavanti nappabhavanti na jāyanti na sañjāyanti na nibbattanti nābhinibbattanti na pātubhavantīti – phasse asante na bhavanti hete.
“When contact is absent, these do not come to be” means: When contact is absent, not present, not found, pleasantness and unpleasantness do not come to be, do not originate, are not born, are not produced, do not arise, do not fully arise, do not become manifest. This is the meaning of the phrase, “When contact is absent, these do not come to be.”
(Câu) 'Khi xúc không có, những điều này không hiện hữu' là như vầy. Khi xúc không có, không hiện hữu, không có, không được tìm thấy, (thì các trạng thái) dễ chịu và không dễ chịu không hiện hữu, không phát sanh, không sanh, không sanh khởi, không được tạo ra, không được tạo ra một cách trọn vẹn, không biểu hiện – (đây là ý nghĩa của câu) 'khi xúc không có, những điều này không hiện hữu'.
Vibhavaṃ bhavañcāpi yametamatthanti. Bhavadiṭṭhipi phassanidānā, vibhavadiṭṭhipi phassanidānā. Yametamatthanti yaṃ paramatthanti – vibhavaṃ bhavañcāpi yametamatthaṃ.
“And this matter of non-being and being” means: The view of being has contact as its source, and the view of non-being has contact as its source. “This matter” means “this supreme matter.” This is the meaning of the phrase, “And this matter of non-being and being.”
(Câu) 'Phi hữu và cả hữu, điều này là ý nghĩa' là như vầy. Hữu kiến cũng có xúc làm nhân, phi hữu kiến cũng có xúc làm nhân. (Câu) 'Điều này là ý nghĩa' (nghĩa là) điều là ý nghĩa tối thượng – (đây là ý nghĩa của câu) 'phi hữu và cả hữu, điều này là ý nghĩa'.
Etaṃ te pabrūmi itonidānanti. Etanti yaṃ pucchasi yaṃ yācasi yaṃ ajjhesasi yaṃ pasādesi. Pabrūmīti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – etaṃ te pabrūmi. Itonidānanti ito phassanidānaṃ phassasamudayaṃ phassajātikaṃ phassappabhavanti – etaṃ te pabrūmi itonidānaṃ.
“This I declare to you; it is sourced from this” means: “This” refers to that which you ask, that which you request, that which you urge, that which you seek clarification on. “I declare” means: I speak, I relate, I teach, I make known, I establish, I disclose, I analyze, I make clear, I reveal. “Sourced from this” means: it has contact as its source, contact as its origin, it is born of contact, it has contact as its provenance. This is the meaning of the phrase, “This I declare to you; it is sourced from this.”
(Câu) 'Ta nói cho ngươi điều này, từ đây là nhân' là như vầy. 'Điều này' là điều mà ngươi hỏi, điều mà ngươi thỉnh cầu, điều mà ngươi yêu cầu, điều mà ngươi làm cho hoan hỷ. 'Ta nói' là ta nói, ta kể, ta thuyết, ta trình bày, ta thiết lập, ta khai mở, ta phân tích, ta làm cho rõ ràng, ta hiển thị – (đây là ý nghĩa của) 'ta nói cho ngươi điều này'. 'Từ đây là nhân' là từ đây có xúc làm nhân, có xúc làm nguồn sanh, có xúc làm nơi sanh, có xúc làm nguồn gốc – (đây là ý nghĩa của câu) 'ta nói cho ngươi điều này, từ đây là nhân'.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Phassanidānaṃ sātaṃ asātaṃ, phasse asante na bhavanti hete;
Vibhavaṃ bhavañcāpi yametamatthaṃ, etaṃ te pabrūmi itonidāna’’nti.
“Pleasantness and unpleasantness have contact as their source; when contact is absent, these do not come to be. And this matter of non-being and being—this I declare to you is sourced from this.”
“Dễ chịu, không dễ chịu, có xúc làm nhân, khi xúc không có, những điều này không hiện hữu; Phi hữu và cả hữu, điều này là ý nghĩa, Ta nói cho ngươi điều này, từ đây là nhân.”
106.
106.
106.
Phasso nu lokasmiṃ kutonidāno, pariggahā cāpi † kutopahūtā;
Kismiṃ asante na mamattamatthi, kismiṃ vibhūte na phusanti phassā.
From what source is contact in the world? And from where do acquisitions arise? When what is absent, is there no sense of ‘mine’? When what has ceased, do contacts not touch?
Ở thế gian, xúc có nhân từ đâu, và các sự chấp thủ sanh từ đâu? Khi cái gì không có thì không có 'cái của ta', khi cái gì đã hoại diệt thì các xúc không chạm đến?
Phasso nu lokasmiṃ kutonidānoti. Phasso kutonidāno kutojāto kutosañjāto kutonibbatto kutoabhinibbatto kutopātubhūto, kiṃnidāno kiṃsamudayo kiṃjātiko kiṃpabhavoti phassassa mūlaṃ pucchati hetuṃ pucchati…pe… samudayaṃ pucchati papucchati yācati ajjhesati pasādetīti – phasso nu lokasmiṃ kutonidāno.
“From what source is contact in the world?” means: Contact—from what is it sourced, from what is it born, from what does it originate, from what does it arise, from what does it fully arise, from what does it appear? What is its source, what is its origin, of what nature is it, what is its provenance? Thus, one asks the root of contact, asks the cause… asks the origin, asks in detail, requests, urges, seeks clarification. This is the meaning of the phrase, “From what source is contact in the world?”
(Câu) 'Ở thế gian, xúc có nhân từ đâu?' là như vầy. Xúc có nhân từ đâu, sanh từ đâu, sanh khởi từ đâu, được tạo ra từ đâu, được tạo ra một cách trọn vẹn từ đâu, biểu hiện từ đâu? Có nhân gì, có nguồn sanh gì, có nơi sanh gì, có nguồn gốc gì? (Vị ấy) hỏi về gốc rễ của xúc, hỏi về nhân... hỏi về nguồn sanh, hỏi một cách chi tiết, thỉnh cầu, yêu cầu, làm cho hoan hỷ – (đây là ý nghĩa của câu) 'ở thế gian, xúc có nhân từ đâu?'.
Pariggahā cāpi kutopahūtāti pariggahā kutopahūtā kutojātā kutosañjātā kutonibbattā kutoabhinibbattā kutopātubhūtā, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavāti pariggahānaṃ mūlaṃ pucchati hetuṃ pucchati…pe… samudayaṃ pucchati papucchati yācati ajjhesati pasādetīti – pariggahā cāpi kutopahūtā.
“And from where do acquisitions arise?” means: Acquisitions—from where do they arise, from what are they born, from what do they originate, from what do they arise, from what do they fully arise, from what do they appear? What is their source, what is their origin, of what nature are they, what is their provenance? Thus, one asks the root of acquisitions, asks the cause… asks the origin, asks in detail, requests, urges, seeks clarification. This is the meaning of the phrase, “And from where do acquisitions arise?”
(Câu) 'Và các sự chấp thủ sanh từ đâu?' là như vầy. Các sự chấp thủ sanh từ đâu, sanh từ đâu, sanh khởi từ đâu, được tạo ra từ đâu, được tạo ra một cách trọn vẹn từ đâu, biểu hiện từ đâu? Có nhân gì, có nguồn sanh gì, có nơi sanh gì, có nguồn gốc gì? (Vị ấy) hỏi về gốc rễ của các sự chấp thủ, hỏi về nhân... hỏi về nguồn sanh, hỏi một cách chi tiết, thỉnh cầu, yêu cầu, làm cho hoan hỷ – (đây là ý nghĩa của câu) 'và các sự chấp thủ sanh từ đâu?'.
Kismiṃ asante na mamattamatthīti. Kismiṃ asante asaṃvijjamāne natthi anupalabbhamāne mamattā natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – kismiṃ asante na mamattamatthi.
‘When what is absent, is there no sense of ‘mine’?’ When what is absent, non-existent, not found, senses of ‘mine’ do not exist, are not present, are not found; they are abandoned, cut off, stilled, pacified, incapable of arising, burned by the fire of wisdom. Thus, ‘When what is absent, is there no sense of ‘mine’?’
(Câu) 'Khi cái gì không có thì không có 'cái của ta'?' là như vầy. Khi cái gì không có, không hiện hữu, không có, không được tìm thấy, (thì) 'cái của ta' không có, không hiện hữu, không tồn tại, không được tìm thấy, đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đây là ý nghĩa của câu) 'khi cái gì không có thì không có 'cái của ta'?'.
Kismiṃ vibhūte na phusanti phassāti. Kismiṃ vibhūte vibhavite atikkante samatikkante vītivatte phassā na phusantīti – kismiṃ vibhūte na phusanti phassā.
‘When what is transcended, do contacts not touch?’ When what is transcended, vanished, gone beyond, completely gone beyond, overcome, contacts do not touch. Thus, ‘When what is transcended, do contacts not touch?’
(Câu) 'Khi cái gì đã hoại diệt thì các xúc không chạm đến?' là như vầy. Khi cái gì đã hoại diệt, đã hoại diệt một cách đặc biệt, đã vượt qua, đã vượt qua hoàn toàn, đã đi qua xa, (thì) các xúc không chạm đến – (đây là ý nghĩa của câu) 'khi cái gì đã hoại diệt thì các xúc không chạm đến?'.
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created one said:
Do đó, vị hóa nhân ấy đã nói –
‘‘Phasso nu lokasmiṃ kutonidāno, pariggahā cāpi kutopahūtā;
Kismiṃ asante na mamattamatthi, kismiṃ vibhūte na phusanti phassā’’ti.
‘From what source is contact in the world? And from where do acquisitions arise? When what is absent, is there no sense of ‘mine’? When what is transcended, do contacts not touch?’
“Ở thế gian, xúc có nhân từ đâu, và các sự chấp thủ sanh từ đâu? Khi cái gì không có thì không có 'cái của ta', khi cái gì đã hoại diệt thì các xúc không chạm đến?”
107.
107.
107.
Nāmañca rūpañca paṭicca phasso, icchānidānāni pariggahāni;
Icchāyasantyā na mamattamatthi, rūpe vibhūte na phusanti phassā.
Dependent on name and form is contact. Acquisitions have desire as their source. When desire is absent, there is no sense of ‘mine’. When form is transcended, contacts do not touch.
Duyên danh và sắc, xúc (sanh khởi), các sự chấp thủ có dục làm nhân; Khi dục không có, không có 'cái của ta', khi sắc đã hoại diệt, các xúc không chạm đến.
Nāmañca rūpañca paṭicca phassoti. Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso. Cakkhu ca † rūpā ca rūpasmiṃ cakkhusamphassaṃ ṭhapetvā sampayuttakā dhammā nāmasmiṃ. Evampi nāmañca rūpañca paṭicca phasso. Sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso. Sotañca saddā ca rūpasmiṃ sotasamphassaṃ ṭhapetvā sampayuttakā dhammā nāmasmiṃ. Evampi nāmañca rūpañca paṭicca phasso. Ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso. Ghānañca gandhā ca rūpasmiṃ ghānasamphassaṃ ṭhapetvā sampayuttakā dhammā nāmasmiṃ. Evampi nāmañca rūpañca paṭicca phasso. Jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso. Jivhā ca rasā ca rūpasmiṃ jivhāsamphassaṃ ṭhapetvā sampayuttakā dhammā nāmasmiṃ. Evampi nāmañca rūpañca paṭicca phasso. Kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso. Kāyo ca phoṭṭhabbā ca rūpasmiṃ kāyasamphassaṃ ṭhapetvā sampayuttakā dhammā nāmasmiṃ. Evampi nāmañca rūpañca paṭicca phasso. Manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso. Vatthu rūpaṃ rūpasmiṃ, dhammā rūpino rūpasmiṃ manosamphassaṃ ṭhapetvā sampayuttakā dhammā nāmasmiṃ. Evampi nāmañca rūpañca paṭicca phasso.
Dependent on name and form, contact arises. Dependent on the eye-sensitivity and forms, eye-consciousness arises; the meeting of the three is contact. The eye-sensitivity and forms are form; the associated phenomena, setting aside eye-contact, are name. Thus, dependent on name and form, contact arises. Dependent on the ear-sensitivity and sounds, ear-consciousness arises; the meeting of the three is contact. The ear-sensitivity and sounds are form; the associated phenomena, setting aside ear-contact, are name. Thus, dependent on name and form, contact arises. Dependent on the nose-sensitivity and odors, nose-consciousness arises; the meeting of the three is contact. The nose-sensitivity and odors are form; the associated phenomena, setting aside nose-contact, are name. Thus, dependent on name and form, contact arises. Dependent on the tongue-sensitivity and tastes, tongue-consciousness arises; the meeting of the three is contact. The tongue-sensitivity and tastes are form; the associated phenomena, setting aside tongue-contact, are name. Thus, dependent on name and form, contact arises. Dependent on the body-sensitivity and tangibles, body-consciousness arises; the meeting of the three is contact. The body-sensitivity and tangibles are form; the associated phenomena, setting aside body-contact, are name. Thus, dependent on name and form, contact arises. Dependent on the mind-base and mental objects, mind-consciousness arises; the meeting of the three is contact. The physical base is form, and those mental objects that are material are form; the associated phenomena, setting aside mind-contact, are name. Thus, dependent on name and form, contact arises.
“Do duyên danh và sắc nên có xúc” có nghĩa là: Do duyên con mắt và các sắc nên nhãn thức sanh khởi, sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Con mắt và các sắc thuộc về sắc; ngoại trừ nhãn xúc, các pháp tương ưng thuộc về danh. Như vậy, do duyên danh và sắc nên có xúc. Do duyên lỗ tai và các tiếng nên nhĩ thức sanh khởi, sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Lỗ tai và các tiếng thuộc về sắc; ngoại trừ nhĩ xúc, các pháp tương ưng thuộc về danh. Như vậy, do duyên danh và sắc nên có xúc. Do duyên lỗ mũi và các mùi nên tỷ thức sanh khởi, sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Lỗ mũi và các mùi thuộc về sắc; ngoại trừ tỷ xúc, các pháp tương ưng thuộc về danh. Như vậy, do duyên danh và sắc nên có xúc. Do duyên lưỡi và các vị nên thiệt thức sanh khởi, sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Lưỡi và các vị thuộc về sắc; ngoại trừ thiệt xúc, các pháp tương ưng thuộc về danh. Như vậy, do duyên danh và sắc nên có xúc. Do duyên thân và các vật xúc chạm nên thân thức sanh khởi, sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Thân và các vật xúc chạm thuộc về sắc; ngoại trừ thân xúc, các pháp tương ưng thuộc về danh. Như vậy, do duyên danh và sắc nên có xúc. Do duyên ý và các pháp nên ý thức sanh khởi, sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Sắc vật chất thuộc về sắc, các pháp hữu sắc thuộc về sắc; ngoại trừ ý xúc, các pháp tương ưng thuộc về danh. Như vậy, do duyên danh và sắc nên có xúc.
Icchānidānāni pariggahānīti. Icchā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Pariggahāti dve pariggahā – taṇhāpariggaho ca diṭṭhipariggaho ca…pe… ayaṃ taṇhāpariggaho…pe… ayaṃ diṭṭhipariggaho. Icchānidānāni pariggahānīti. Pariggahā icchānidānā icchāhetukā icchāpaccayā icchākāraṇā icchāpabhavāti – icchānidānāni pariggahāni.
Regarding 'Acquisitions have desire as their source': 'Desire' is a name for craving. That which is lust, passionate lust... covetousness, greed, is an unwholesome root. Regarding 'acquisition': there are two kinds of acquisition—acquisition through craving and acquisition through views... this is acquisition through craving... this is acquisition through views. Regarding 'Acquisitions have desire as their source': Acquisitions have desire as their source, have desire as their cause, have desire as their condition, have desire as their reason, and have desire as their origin—thus, acquisitions have desire as their source.
“Các sự chấp thủ có dục làm nhân sanh” có nghĩa là: Dục được gọi là ái. Sự tham ái, sự đắm say... cho đến... sự thèm muốn, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. “Chấp thủ” có nghĩa là có hai loại chấp thủ: chấp thủ do ái và chấp thủ do tà kiến... đây là chấp thủ do ái... đây là chấp thủ do tà kiến. “Các sự chấp thủ có dục làm nhân sanh” có nghĩa là: Các sự chấp thủ có dục làm nhân sanh, có dục làm nguyên nhân, có dục làm duyên, có dục làm lý do, có dục làm nguồn gốc – (đó là ý nghĩa của) “các sự chấp thủ có dục làm nhân sanh”.
Icchāyasantyā na mamattamatthīti. Icchā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Mamattāti dve mamattā – taṇhāmamattañca diṭṭhimamattañca …pe… idaṃ taṇhāmamattaṃ …pe… idaṃ diṭṭhimamattaṃ. Icchāyasantyā na mamattamatthīti. Icchāya asantyā asaṃvijjamānāya natthi anupalabbhamānāya mamattā natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – icchāyasantyā na mamattamatthi.
Regarding 'When desire is absent, there is no sense of ‘mine’': 'Desire' is a name for craving. That which is lust, passionate lust... covetousness, greed, is an unwholesome root. Regarding 'sense of ‘mine’': there are two kinds of sense of ‘mine’—sense of ‘mine’ through craving and sense of ‘mine’ through views... this is sense of ‘mine’ through craving... this is sense of ‘mine’ through views. Regarding 'When desire is absent, there is no sense of ‘mine’': When desire is absent, not present, not found, there is no sense of ‘mine’; it does not exist, is not present, cannot be found. It is abandoned, cut off, stilled, pacified, incapable of arising again, and burned by the fire of wisdom—thus, when desire is absent, there is no sense of ‘mine’.
“Khi dục không tồn tại, không có sự chấp ngã” có nghĩa là: Dục được gọi là ái. Sự tham ái, sự đắm say... cho đến... sự thèm muốn, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. “Chấp ngã” có nghĩa là có hai loại chấp ngã: chấp ngã do ái và chấp ngã do tà kiến... đây là chấp ngã do ái... đây là chấp ngã do tà kiến. “Khi dục không tồn tại, không có sự chấp ngã” có nghĩa là: Khi dục không tồn tại, không hiện hữu, không có mặt, không tìm thấy được, thì các sự chấp ngã không có, không tồn tại, không hiện hữu, không tìm thấy được; chúng đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đó là ý nghĩa của) “khi dục không tồn tại, không có sự chấp ngã”.
Rūpe vibhūte na phusanti phassāti. Rūpeti cattāro ca mahābhūtā catunnañca mahābhūtānaṃ upādāya rūpaṃ. Rūpe vibhūteti catūhākārehi † rūpaṃ vibhūtaṃ hoti – ñātavibhūtena †, tīraṇavibhūtena, pahānavibhūtena, samatikkamavibhūtena. Kathaṃ ñātavibhūtena rūpaṃ vibhūtaṃ hoti? Rūpaṃ jānāti – ‘‘yaṃ kiñci rūpaṃ sabbaṃ rūpaṃ cattāri ca mahābhūtāni catunnañca mahābhūtānaṃ upādāya rūpa’’nti jānāti passati. Evaṃ ñātavibhūtena rūpaṃ vibhūtaṃ hoti.
Regarding 'When form is transcended, contacts do not touch': 'Form' refers to the four great elements and the form derived from the four great elements. Regarding 'when form is transcended': form is transcended in four ways—by transcending through knowing, by transcending through investigating, by transcending through abandoning, and by transcending through overcoming. How is form transcended through knowing? One knows form: 'Whatever form there is, all form is the four great elements and the form derived from the four great elements'—one knows and sees thus. In this way, form is transcended through knowing.
“Khi sắc được vượt qua, các xúc không còn xúc chạm” có nghĩa là: “Sắc” là bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. “Khi sắc được vượt qua” có nghĩa là sắc được vượt qua theo bốn cách: vượt qua bằng sự liễu tri, vượt qua bằng sự thẩm sát, vượt qua bằng sự đoạn trừ, và vượt qua bằng sự siêu việt. Thế nào là sắc được vượt qua bằng sự liễu tri? Vị ấy biết sắc – vị ấy biết và thấy rằng: “Bất cứ sắc nào, tất cả sắc là bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành”. Như vậy là sắc được vượt qua bằng sự liễu tri.
Kathaṃ tīraṇavibhūtena rūpaṃ vibhūtaṃ hoti? Evaṃ ñātaṃ katvā rūpaṃ tīreti, aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato ītito upaddavato bhayato upasaggato calato pabhaṅguto adhuvato atāṇato aleṇato asaraṇato rittato tucchato suññato anattato ādīnavato vipariṇāmadhammato asārakato aghamūlato vadhakato vibhavato sāsavato saṅkhatato mārāmisato jātidhammato jarādhammato byādhidhammato maraṇadhammato, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammato saṃkilesikadhammato samudayato atthaṅgamato, assādato ādīnavato nissaraṇato tīreti. Evaṃ tīraṇavibhūtena rūpaṃ vibhūtaṃ hoti.
How is form transcended by means of investigation? Having known it thus, one investigates form: as impermanent, as suffering, as a disease, as a boil, as a dart, as a calamity, as an affliction, as other, as perishable, as a danger, as a disaster, as a terror, as a menace, as unstable, as disintegrating, as unenduring, as without protection, as without shelter, as without refuge, as empty, as hollow, as void, as not-self, as a danger, as subject to change, as without substance, as the root of calamity, as a murderer, as subject to destruction, as with taints, as conditioned, as subject to birth, as subject to aging, as subject to illness, as subject to death, as subject to sorrow, lamentation, pain, grief, and despair, as subject to defilement; one investigates it as arising, as ceasing, its gratification, its danger, and the escape from it. In this way, form is transcended by means of investigation.
Thế nào là sắc được vượt qua bằng sự thẩm sát? Sau khi đã liễu tri như vậy, vị ấy thẩm sát sắc là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là điều bất hạnh, là tật ách, là cái khác, là hoại diệt, là tai ương, là tai họa, là điều đáng sợ, là mối nguy, là dao động, là mong manh, là không bền vững, là không có nơi nương tựa, là không có chỗ ẩn náu, là không có nơi bảo vệ, là trống rỗng, là rỗng tuếch, là không, là vô ngã, là sự nguy hiểm, là có bản chất biến đổi, là không có lõi cây, là gốc rễ của bất hạnh, là kẻ sát nhân, là có sự hủy diệt, là hữu lậu, là hữu vi, là có bản chất sanh, là có bản chất già, là có bản chất bệnh, là có bản chất chết, là có bản chất sầu, bi, khổ, ưu, não, là có bản chất ô nhiễm, là sự tập khởi, là sự đoạn diệt, là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly. Như vậy là sắc được vượt qua bằng sự thẩm sát.
Kathaṃ pahānavibhūtena rūpaṃ vibhūtaṃ hoti? Evaṃ tīrayitvā rūpe chandarāgaṃ pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘yo, bhikkhave, rūpe chandarāgo taṃ pajahatha. Evaṃ taṃ rūpaṃ pahīnaṃ bhavissati ucchinnamūlaṃ tālāvatthukataṃ anabhāvaṃkataṃ āyatiṃ anuppādadhamma’’nti. Evaṃ pahānavibhūtena rūpaṃ vibhūtaṃ hoti.
How is form transcended by means of abandoning? Having investigated thus, one abandons, dispels, eliminates, and brings to a state of non-existence the desire and lust for form. For this was said by the Blessed One: ‘Bhikkhus, whatever desire and lust there is for form, abandon it. In this way, that form will be abandoned, with its root cut off, made like a palm stump, brought to a state of non-existence, of a nature not to arise in the future.’ In this way, form is transcended by means of abandoning.
Thế nào là sắc được vượt qua bằng sự đoạn trừ? Sau khi thẩm sát như vậy, vị ấy từ bỏ, xua tan, chấm dứt, làm cho biến mất dục tham đối với sắc. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ kheo, dục tham nào đối với sắc, các ông hãy từ bỏ nó. Như vậy, sắc ấy sẽ được đoạn trừ, bị cắt đứt tận gốc, được làm như thân cây ta-la, được đưa đến trạng thái không hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai”. Như vậy là sắc được vượt qua bằng sự đoạn trừ.
Kathaṃ samatikkamavibhūtena rūpaṃ vibhūtaṃ hoti. Catasso arūpasamāpattiyo paṭiladdhassa rūpā vibhūtā honti vibhāvitā atikkantā samatikkantā vītivattā. Evaṃ samatikkamavibhūtena rūpaṃ vibhūtaṃ hoti. Imehi catūhi kāraṇehi rūpaṃ vibhūtaṃ hoti.
How is form transcended by means of surmounting? For one who has attained the four formless attainments, forms are transcended, made clear, gone beyond, surmounted, and passed far beyond. In this way, form is transcended by means of surmounting. By these four causes, form is transcended.
Thế nào là sắc được vượt qua bằng sự siêu việt? Đối với người đã chứng đắc bốn thiền vô sắc, các sắc được vượt qua, được làm cho rõ, được vượt khỏi, được siêu việt, được đi qua. Như vậy là sắc được vượt qua bằng sự siêu việt. Sắc được vượt qua bởi bốn lý do này.
Rūpe vibhūte na phusanti phassāti. Rūpe vibhūte vibhāvite atikkante samatikkante vītivatte pañca phassā na phusanti – cakkhusamphasso, sotasamphasso, ghānasamphasso, jivhāsamphasso, kāyasamphassoti – rūpe vibhūte na phusanti phassā.
‘When form is transcended, contacts do not impinge.’ When form is transcended, made clear, gone beyond, surmounted, and passed far beyond, the five contacts do not impinge: eye-contact, ear-contact, nose-contact, tongue-contact, and body-contact. Thus, ‘When form is transcended, contacts do not impinge.’
“Khi sắc được vượt qua, các xúc không còn xúc chạm” có nghĩa là: Khi sắc được vượt qua, được làm cho rõ, được vượt khỏi, được siêu việt, được đi qua, thì năm loại xúc không còn xúc chạm: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc – (đó là ý nghĩa của) “khi sắc được vượt qua, các xúc không còn xúc chạm”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Nāmañca rūpañca paṭicca phasso, icchānidānāni pariggahāni;
Icchāyasantyā na mamattamatthi, rūpe vibhūte na phusanti phassā’’ti.
“Dependent on name and form, contact arises; graspings have desire as their cause. With the stilling of desire, there is no ‘mine-making’; when form has vanished, contacts do not impinge.”
“Duyên danh và sắc, xúc sanh khởi; các sở hữu có ái dục làm nhân. Khi ái dục được dập tắt, không có sự chấp ngã; khi sắc đã biến mất, các xúc không chạm đến.”
108.
108.
108.
Kathaṃ sametassa vibhoti rūpaṃ, sukhaṃ dukhañcāpi † kathaṃ vibhoti;
Etaṃ me pabrūhi yathā vibhoti, taṃ jāniyāmāti † me mano ahu.
“How does form vanish for one who is practicing? How do pleasure and pain also vanish? Explain this to me—how it vanishes—so that I may know it. Thus was my thought.”
Làm thế nào sắc được vượt qua đối với người đã thực hành? Làm thế nào lạc và khổ cũng được vượt qua? Xin hãy giảng giải cho con về cách thức nó được vượt qua, tâm con đã khởi lên rằng: “Chúng con sẽ biết được điều đó”.
Kathaṃ sametassa vibhoti rūpanti. Kathaṃ sametassāti kathaṃ sametassa kathaṃ paṭipannassa kathaṃ iriyantassa kathaṃ vattentassa kathaṃ pālentassa kathaṃ yapentassa kathaṃ yāpentassa rūpaṃ vibhoti vibhāvīyati atikkamīyati samatikkamīyati † vītivattīyatīti – kathaṃ sametassa vibhoti rūpaṃ.
Regarding the phrase, “How does form vanish for one who is practicing?”: “How for one who is practicing?” means: how, for one who is practicing, for one who is engaged in the practice, for one who maintains the postures, for one who conducts oneself, for one who maintains, for one who subsists, for one who carries on, does form vanish, is it utterly removed, is it transcended, is it completely transcended, is it passed beyond? This is the meaning of the phrase, “How does form vanish for one who is practicing?”
Về câu “Làm thế nào sắc được vượt qua đối với người đã thực hành?”. “Đối với người đã thực hành” nghĩa là: làm thế nào đối với người đã thực hành, làm thế nào đối với người đã hành trì, làm thế nào đối với người đang duy trì oai nghi, làm thế nào đối với người đang vận hành, làm thế nào đối với người đang hộ trì, làm thế nào đối với người đang nuôi mạng, làm thế nào đối với người đang làm cho nuôi mạng, sắc được vượt qua, được vượt qua một cách đặc biệt, được vượt qua, được vượt qua hoàn toàn, được vượt qua xa? – (Đây là ý nghĩa của câu) “Làm thế nào sắc được vượt qua đối với người đã thực hành?”.
Sukhaṃ dukhañcāpi kathaṃ vibhotīti sukhañca dukkhañca kathaṃ vibhoti vibhāvīyati atikkamīyati samatikkamīyati vītivattīyatīti – sukhaṃ dukhañcāpi kathaṃ vibhoti.
Regarding the phrase, “How do pleasure and pain also vanish?”: How do pleasure and pain vanish, are they utterly removed, are they transcended, are they completely transcended, are they passed beyond? This is the meaning of the phrase, “How do pleasure and pain also vanish?”
Về câu “Làm thế nào lạc và khổ cũng được vượt qua?”, (nghĩa là) làm thế nào lạc và khổ được vượt qua, được vượt qua một cách đặc biệt, được vượt qua, được vượt qua hoàn toàn, được vượt qua xa? – (Đây là ý nghĩa của câu) “Làm thế nào lạc và khổ cũng được vượt qua?”.
Etaṃ me pabrūhi yathā vibhotīti. Etanti yaṃ pucchāmi yaṃ yācāmi yaṃ ajjhesāmi yaṃ pasādemīti – etaṃ. Me pabrūhīti me pabrūhi ācikkha desehi paññapehi paṭṭhapehi vivara vibhaja uttānīkarohi pakāsehīti – etaṃ me pabrūhi. Yathā vibhotīti yathā vibhoti vibhāvīyati atikkamīyati samatikkamīyati vītivattīyatīti – etaṃ me pabrūhi yathā vibhoti.
Regarding the phrase, “Explain this to me—how it vanishes”: “This” means that which I ask, that which I request, that which I entreat, that which I implore. “Explain to me” means: explain to me, tell, teach, make known, establish, uncover, analyze, make plain, reveal. “How it vanishes” means: the way in which it vanishes, is utterly removed, is transcended, is completely transcended, is passed beyond. This is the meaning of the phrase, “Explain this to me—how it vanishes.”
Về câu “Xin hãy giảng giải cho con về cách thức nó được vượt qua”. “Điều đó” là: điều con hỏi, điều con thỉnh cầu, điều con khẩn khoản, điều con làm cho hoan hỷ – (đó là) “điều đó”. “Xin hãy giảng giải cho con” là: xin hãy giảng giải cho con, xin hãy chỉ dạy, thuyết giảng, xin hãy chế định, xin hãy thiết lập, xin hãy mở bày, xin hãy phân tích, xin hãy làm cho rõ ràng, xin hãy tuyên thuyết – (đó là) “xin hãy giảng giải cho con”. “Về cách thức nó được vượt qua” là: theo cách nào nó được vượt qua, được vượt qua một cách đặc biệt, được vượt qua, được vượt qua hoàn toàn, được vượt qua xa – (đó là) “xin hãy giảng giải cho con về cách thức nó được vượt qua”.
Taṃ jāniyāmāti me mano ahūti. Taṃ jāniyāmāti taṃ jāneyyāma ājāneyyāma vijāneyyāma paṭivijāneyyāma paṭivijjheyyāmāti – taṃ jāniyāma. Iti me mano ahūti iti me mano ahu, iti me cittaṃ ahu, iti me saṅkappo ahu, iti me viññāṇaṃ ahūti – taṃ jāniyāma iti me mano ahu.
Regarding the phrase, “So that I may know it—thus was my thought”: “So that I may know it” means: that we may know it, may understand it, may discern it, may fully discern it, may penetrate it. “Thus was my thought” means: thus was my mind, thus was my heart, thus was my intention, thus was my consciousness. This is the meaning of the phrase, “So that I may know it—thus was my thought.”
Về câu “Tâm con đã khởi lên rằng: ‘Chúng con sẽ biết được điều đó’”. “Chúng con sẽ biết được điều đó” là: chúng con nên biết điều đó, chúng con nên biết rõ, chúng con nên biết tường tận, chúng con nên biết thấu đáo, chúng con nên thâm nhập – (đó là) “chúng con sẽ biết được điều đó”. “Tâm con đã khởi lên như vậy” là: tâm của con đã khởi lên như vậy, tâm của con đã khởi lên như vậy, tư duy của con đã khởi lên như vậy, thức của con đã khởi lên như vậy – (đó là) “tâm con đã khởi lên rằng: ‘Chúng con sẽ biết được điều đó’”.
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created being said:
Do đó, vị Hóa nhân ấy đã nói –
‘‘Kathaṃ sametassa vibhoti rūpaṃ, sukhaṃ dukhañcāpi kathaṃ vibhoti;
Etaṃ me pabrūhi yathā vibhoti, taṃ jāniyāmāti me mano ahū’’ti.
“How does form vanish for one who is practicing? How do pleasure and pain also vanish? Explain this to me—how it vanishes—so that I may know it. Thus was my thought.”
“Làm thế nào sắc được vượt qua đối với người đã thực hành? Làm thế nào lạc và khổ cũng được vượt qua? Xin hãy giảng giải cho con về cách thức nó được vượt qua, tâm con đã khởi lên rằng: ‘Chúng con sẽ biết được điều đó’.”
109.
109.
109.
Na saññasaññī na visaññasaññī, nopi asaññī na vibhūtasaññī;
Evaṃ sametassa vibhoti rūpaṃ, saññānidānā hi papañcasaṅkhā.
Neither a perceiver of perception, nor a perceiver of distorted perception, nor unpercipient, nor with perception vanished; for one thus composed, form is overcome, for the classifications of conceptual proliferation are rooted in perception.
Không phải là người có tưởng bình thường, không phải là người có tưởng sai lạc, cũng không phải là người vô tưởng, không phải là người có tưởng đã biến mất. Đối với người đã thực hành như vậy, sắc được vượt qua; vì các pháp hý luận có tưởng làm nhân.
Na saññasaññī na visaññasaññīti. Saññasaññino vuccanti ye pakatisaññāya ṭhitā, napi so pakatisaññāya ṭhito. Visaññasaññino vuccanti ummattakā ye ca khittacittā †, napi so ummattako, nopi khittacittoti – na saññasaññī na visaññasaññī.
‘Neither a perceiver of perception nor a perceiver of distorted perception.’ Those who abide in normal perception are called ‘perceivers of perception,’ but he does not abide in normal perception. Those who are mad or of deranged mind are called ‘perceivers of distorted perception,’ but he is neither mad nor of deranged mind—this is the meaning of ‘neither a perceiver of perception nor a perceiver of distorted perception.’
Về câu “Không phải là người có tưởng bình thường, không phải là người có tưởng sai lạc”. Những người an trú trong tưởng bình thường được gọi là “người có tưởng bình thường”; vị ấy không an trú trong tưởng bình thường. Những người điên cuồng và những người có tâm tán loạn được gọi là “người có tưởng sai lạc”; vị ấy không phải là người điên cuồng, cũng không phải là người có tâm tán loạn – (đó là ý nghĩa của) “không phải là người có tưởng bình thường, không phải là người có tưởng sai lạc”.
Nopi asaññī na vibhūtasaññīti. Asaññino vuccanti nirodhasamāpannā ye ca asaññasattā, napi so nirodhasamāpanno, napi asaññasatto. Vibhūtasaññino vuccanti ye catunnaṃ arūpasamāpattīnaṃ lābhino, napi so catunnaṃ arūpasamāpattīnaṃ lābhīti – nopi asaññī na vibhūtasaññī.
‘Nor unpercipient, nor with perception vanished.’ Those who are in the attainment of cessation or are non-percipient beings are called ‘unpercipient,’ but he is neither in the attainment of cessation nor a non-percipient being. Those who are attainers of the four formless attainments are called ‘those with perception vanished,’ but he is not an attainer of the four formless attainments—this is the meaning of ‘nor unpercipient, nor with perception vanished.’
Về câu “Cũng không phải là người vô tưởng, không phải là người có tưởng đã biến mất”. Những vị đã nhập Diệt tận định và chúng sanh cõi Vô tưởng được gọi là “người vô tưởng”; vị ấy không phải là người đã nhập Diệt tận định, cũng không phải là chúng sanh cõi Vô tưởng. Những vị đắc bốn thiền Vô sắc được gọi là “người có tưởng đã biến mất”; vị ấy không phải là người đắc bốn thiền Vô sắc – (đó là ý nghĩa của) “cũng không phải là người vô tưởng, không phải là người có tưởng đã biến mất”.
Evaṃ sametassa vibhoti rūpanti. Idha bhikkhu sukhassa ca pahānā…pe… catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte ākāsānañcāyatanasamāpattipaṭilābhatthāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti āruppamaggasamaṅgīti. Evaṃ sametassa evaṃ paṭipannassa evaṃ iriyantassa evaṃ vattentassa evaṃ pālentassa evaṃ yapentassa evaṃ yāpentassa rūpaṃ vibhoti vibhāvīyati atikkamīyati samatikkamīyati vītivattīyatīti – evaṃ sametassa vibhoti rūpaṃ.
‘For one thus composed, form is overcome’: Here, a monk, having abandoned pleasure and pain… enters and dwells in the fourth jhāna. With his mind thus composed, purified, cleansed, spotless, rid of defilements, malleable, workable, steady, and unshakeable, he directs and inclines his mind toward the attainment of the base of infinite space, being endowed with the formless path. For one thus composed, thus practicing, thus conducting himself, thus behaving, thus maintaining, thus sustaining, and thus carrying on, form is overcome, vanishes, is transcended, is completely transcended, and is passed beyond—this is the meaning of ‘for one thus composed, form is overcome’.
Về câu “Đối với người đã thực hành như vậy, sắc được vượt qua”. Ở đây, vị Tỳ khưu do đoạn trừ lạc… (v.v)... đạt và an trú vào thiền thứ tư. Vị ấy, với tâm được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, hướng tâm, xuôi tâm đến việc chứng đắc Không Vô Biên Xứ định, là người thành tựu đạo Vô sắc. Đối với người đã thực hành như vậy, đã hành trì như vậy, đang duy trì oai nghi như vậy, đang vận hành như vậy, đang hộ trì như vậy, đang nuôi mạng như vậy, đang làm cho nuôi mạng như vậy, sắc được vượt qua, được vượt qua một cách đặc biệt, được vượt qua, được vượt qua hoàn toàn, được vượt qua xa – (đó là ý nghĩa của) “đối với người đã thực hành như vậy, sắc được vượt qua”.
Saññānidānā hi papañcasaṅkhāti. Papañcāyeva papañcasaṅkhā taṇhāpapañcasaṅkhā, diṭṭhipapañcasaṅkhā, mānapapañcasaṅkhā saññānidānā saññāsamudayā saññājātikā saññāpabhavāti – saññānidānā hi papañcasaṅkhā.
‘For the classifications of conceptual proliferation are rooted in perception’: The classifications of conceptual proliferation are indeed proliferation itself: the classification of craving-proliferation, the classification of view-proliferation, and the classification of conceit-proliferation. They are rooted in perception, arise from perception, are born of perception, and are produced by perception—this is the meaning of ‘for the classifications of conceptual proliferation are rooted in perception’.
Về câu “Vì các pháp hý luận có tưởng làm nhân”. Chính các pháp hý luận là các pháp hý luận: các pháp hý luận về tham ái, các pháp hý luận về tà kiến, các pháp hý luận về ngã mạn, có tưởng làm nhân, có tưởng làm nguồn sanh, có tưởng làm nơi sanh, có tưởng làm nguồn gốc – (đó là ý nghĩa của) “vì các pháp hý luận có tưởng làm nhân”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Na saññasaññī na visaññasaññī, nopi asaññī na vibhūtasaññī;
Evaṃ sametassa vibhoti rūpaṃ, saññānidānā hi papañcasaṅkhā’’ti.
“Neither a perceiver of perception, nor a perceiver of distorted perception, nor unpercipient, nor with perception vanished; for one thus composed, form is overcome, for the classifications of conceptual proliferation are rooted in perception.”
“Không phải là người có tưởng bình thường, không phải là người có tưởng sai lạc, cũng không phải là người vô tưởng, không phải là người có tưởng đã biến mất. Đối với người đã thực hành như vậy, sắc được vượt qua; vì các pháp hý luận có tưởng làm nhân.”
110.
110.
110.
Yaṃ taṃ apucchimha akittayī no, aññaṃ taṃ pucchāma tadiṅgha brūhi;
Ettāvataggaṃ nu vadanti heke, yakkhassa suddhiṃ idha paṇḍitāse;
Udāhu aññampi vadanti etto.
That which we asked, you have declared to us. We ask you another; come now, speak of that. Do some who are wise here declare the highest purity of a being to be only to this extent? Or do they also declare something else beyond this?
Điều mà chúng con đã hỏi, Ngài đã giải đáp cho chúng con. Chúng con xin hỏi Ngài điều khác, xin Ngài hãy nói điều đó. Phải chăng ở đây, một số bậc hiền trí cho rằng sự thanh tịnh cao tột của chúng sanh chỉ có chừng ấy thôi? Hay họ còn nói có (sự thanh tịnh) nào khác vượt hơn thế nữa?
Yaṃ taṃ apucchimha akittayī noti. Yaṃ taṃ apucchimha ayācimha ajjhesimha pasādayimha. Akittayī noti kittitaṃ pakittitaṃ ācikkhitaṃ desitaṃ paññapitaṃ paṭṭhapitaṃ vivaṭaṃ vibhattaṃ uttānīkataṃ pakāsitanti – yaṃ taṃ apucchimha akittayī no.
As for the phrase, 'That which we asked, you did not declare to us': 'That which we asked' means we requested, we entreated, we persuaded. 'You did not declare to us' means: it was declared, proclaimed in detail, told, taught, made known, established, opened up, analyzed, made clear, and revealed. This is the meaning of 'That which we asked, you did not declare to us'.
Về câu “Điều mà chúng con đã hỏi, Ngài đã giải đáp cho chúng con”. (Nghĩa là) điều mà chúng con đã hỏi, đã thỉnh cầu, đã khẩn khoản, đã làm cho hoan hỷ. “Ngài đã giải đáp cho chúng con” là: đã được giải đáp, đã được giải đáp rõ ràng, đã được chỉ dạy, thuyết giảng, đã được chế định, đã được thiết lập, đã được mở bày, đã được phân tích, đã được làm cho rõ ràng, đã được tuyên thuyết – (đó là ý nghĩa của) “điều mà chúng con đã hỏi, Ngài đã giải đáp cho chúng con”.
Aññaṃ taṃ pucchāma tadiṅgha brūhīti. Aññaṃ taṃ pucchāma, aññaṃ taṃ yācāma, aññaṃ taṃ ajjhesāma, aññaṃ taṃ pasādema, uttariṃ taṃ pucchāma. Tadiṅgha brūhīti iṅgha brūhi ācikkha desehi paññapehi paṭṭhapehi vivara vibhaja uttānīkarohi pakāsehīti – aññaṃ taṃ pucchāma tadiṅgha brūhi.
As for the phrase, 'We ask you another; come now, speak of that': 'We ask you another' means we ask you another, we request another of you, we entreat you for another, we persuade you for another, and we ask you further. 'Come now, speak of that' means: come now, speak, tell, teach, make known, establish, open up, analyze, make clear, and reveal. This is the meaning of 'We ask you another; come now, speak of that'.
Về câu “Chúng con xin hỏi Ngài điều khác, xin Ngài hãy nói điều đó”. (Nghĩa là) chúng con xin hỏi Ngài điều khác, chúng con xin thỉnh cầu Ngài điều khác, chúng con xin khẩn khoản Ngài điều khác, chúng con xin làm cho Ngài hoan hỷ về điều khác, chúng con xin hỏi Ngài thêm nữa. “Xin Ngài hãy nói điều đó” là: xin hãy nói, xin hãy chỉ dạy, thuyết giảng, xin hãy chế định, xin hãy thiết lập, xin hãy mở bày, xin hãy phân tích, xin hãy làm cho rõ ràng, xin hãy tuyên thuyết – (đó là ý nghĩa của) “chúng con xin hỏi Ngài điều khác, xin Ngài hãy nói điều đó”.
Ettāvataggaṃ nu vadanti heke yakkhassa suddhiṃ idha paṇḍitāseti. Eke samaṇabrāhmaṇā etā arūpasamāpattiyo aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. Yakkhassāti sattassa narassa mānavassa posassa puggalassa jīvassa jāgussa jantussa indagussa manujassa. Suddhinti suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ. Idha paṇḍitāseti idha paṇḍitavādā thiravādā ñāyavādā hetuvādā lakkhaṇavādā kāraṇavādā ṭhānavādā sakāya laddhiyāti – ettāvataggaṃ nu vadanti heke yakkhassa suddhiṃ idha paṇḍitāse.
As for 'Do some who are wise here declare the highest purity of a being to be only to this extent?': Some ascetics and brahmins declare these formless attainments to be the highest, excellent, distinguished, foremost, supreme, and most excellent. 'Of a being' means of a sentient being, a man, a human, a person, an individual, a living soul, a creature, one who is born, one who goes by the senses, and a human. 'Purity' means purity, special purity, complete purity, release, full release, and final release. 'Here, the wise' means here, those who claim to be wise, those with firm tenets, those with logical tenets, those who speak of causes, those who speak of characteristics, those who speak of reasons, and those who speak of grounds, according to their own view.
“Phải chăng một số vị được xem là bậc trí ở đây tuyên bố rằng sự thanh tịnh của yakkha là cao tột dường ấy.” Một số sa-môn, bà-la-môn nói, trình bày, phát biểu, tuyên bố, gọi các thiền chứng vô sắc này là cao tột, là ưu việt, là đặc thù, là chủ yếu, là tối thượng, là cao cả. (Trường hợp) của yakkha, có nghĩa là: của chúng sanh, của con người, của thanh niên, của người nam, của cá nhân, của sinh vật, của kẻ thức tỉnh, của loài hữu tình, của kẻ đi bằng giác quan, của nhân loại. Sự thanh tịnh, có nghĩa là: sự trong sạch, sự thanh tịnh, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn. Được xem là bậc trí ở đây, có nghĩa là: ở đây, những người có chủ trương là bậc trí, những người có chủ trương vững chắc, những người có chủ trương hợp lý, những người có chủ trương về nguyên nhân, những người có chủ trương về đặc tính, những người có chủ trương về lý do, những người có chủ trương về cơ sở, bằng vào tà kiến của mình – phải chăng một số vị được xem là bậc trí ở đây tuyên bố rằng sự thanh tịnh của yakkha là cao tột dường ấy.
Udāhu aññampi vadanti ettoti. Udāhu eke samaṇabrāhmaṇā etā arūpasamāpattiyo atikkamitvā samatikkamitvā vītivattetvā etto arūpasamāpattito aññaṃ uttariṃ yakkhassa suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – udāhu aññampi vadanti etto.
As for 'Or do they declare something else from this?': Or, some ascetics and brahmins, having transcended, well-transcended, and gone far beyond these formless attainments, declare another, further purity, special purity, all-around purity, release, complete release, and final release for a being, beyond these formless attainments. They speak, say, state, explain, and use this term—this is the meaning of 'Or do they declare something else from this?'
“Hay là họ tuyên bố điều khác vượt ngoài điều này.” Hay là một số sa-môn, bà-la-môn, sau khi đã vượt qua, đã hoàn toàn vượt qua, đã đi ngang qua các thiền chứng vô sắc này, đã nói, đã trình bày, đã phát biểu, đã tuyên bố, đã gọi sự trong sạch, sự thanh tịnh, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn của yakkha là điều khác, là điều cao hơn các thiền chứng vô sắc này – hay là họ tuyên bố điều khác vượt ngoài điều này.
Tenāha so nimmito –
Therefore, that created one said:
Do vậy, vị ấy được hóa hiện đã nói rằng: –
‘‘Yaṃ taṃ apucchimha akittayī no, aññaṃ taṃ pucchāma tadiṅgha brūhi;
Ettāvataggaṃ nu vadanti heke, yakkhassa suddhiṃ idha paṇḍitāse;
Udāhu aññampi vadanti etto’’ti.
"What we asked, you did not declare to us; we ask you another, come now, tell us this: Do some of the wise here declare this to be the ultimate purity of a being? Or do they speak of something further than this?"
“‘Điều mà chúng tôi đã hỏi, ngài đã không trình bày cho chúng tôi. Chúng tôi hỏi ngài điều khác, xin ngài hãy nói lên điều ấy. Phải chăng một số vị được xem là bậc trí ở đây tuyên bố rằng sự thanh tịnh của yakkha là cao tột dường ấy? Hay là họ tuyên bố điều khác vượt ngoài điều này?’”
111.
111.
111.
Ettāvataggampi vadanti heke, yakkhassa suddhiṃ idha paṇḍitāse;
Tesaṃ paneke samayaṃ vadanti, anupādisese kusalāvadānā.
"Some who are wise here declare the supreme purity of a being to be just this much. Yet among them, some who are proclaimed as skilled regarding the state with no residue remaining, declare the doctrine of annihilationism."
Một số vị được xem là bậc trí ở đây tuyên bố rằng sự thanh tịnh của yakkha là cao tột dường ấy. Và một số vị trong số họ, những người được cho là khéo léo, tuyên bố về một học thuyết ở trong trạng thái vô dư.
Ettāvataggampi vadanti heke, yakkhassa suddhiṃ idha paṇḍitāseti. Santeke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā, etā arūpasamāpattiyo aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. Yakkhassāti sattassa narassa mānavassa posassa puggalassa jīvassa jāgussa jantussa indagussa manujassa. Suddhinti suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ. Idha paṇḍitāseti idha paṇḍitavādā thiravādā ñāyavādā hetuvādā lakkhaṇavādā kāraṇavādā ṭhānavādā sakāya laddhiyāti – ettāvataggampi vadanti heke yakkhassa suddhiṃ idha paṇḍitāse.
As for 'Some who are wise here declare the supreme purity of a being to be just this much': There are some ascetics and brahmins, eternalists, who proclaim these formless attainments as the highest, the best, the most distinguished, the foremost, the supreme, and the most excellent. They speak, say, state, explain, and use these terms. 'Of a being' means of a being, a person, a man, a human, an individual, a living being, a creature, one who goes by the senses, a human. 'Purity' means purity, special purity, all-around purity, freedom, release, and final release. 'Here, the wise' means here, those who are proclaimed as wise, proclaimed as firm, proclaimed as logical, proclaimed as speaking of cause, proclaimed as speaking of characteristics, proclaimed as speaking of reason, according to their own doctrine—this is the meaning of 'Some who are wise here declare the supreme purity of a being to be just this much.'
“Một số vị được xem là bậc trí ở đây tuyên bố rằng sự thanh tịnh của yakkha là cao tột dường ấy.” Có một số sa-môn, bà-la-môn là những người theo thuyết thường hằng, họ nói, trình bày, phát biểu, tuyên bố, gọi các thiền chứng vô sắc này là cao tột, là ưu việt, là đặc thù, là chủ yếu, là tối thượng, là cao cả. (Trường hợp) của yakkha, có nghĩa là: của chúng sanh, của con người, của thanh niên, của người nam, của cá nhân, của sinh vật, của kẻ thức tỉnh, của loài hữu tình, của kẻ đi bằng giác quan, của nhân loại. Sự thanh tịnh, có nghĩa là: sự trong sạch, sự thanh tịnh, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn. Được xem là bậc trí ở đây, có nghĩa là: ở đây, những người có chủ trương là bậc trí, những người có chủ trương vững chắc, những người có chủ trương hợp lý, những người có chủ trương về nguyên nhân, những người có chủ trương về đặc tính, những người có chủ trương về lý do, những người có chủ trương về cơ sở, bằng vào tà kiến của mình – một số vị được xem là bậc trí ở đây tuyên bố rằng sự thanh tịnh của yakkha là cao tột dường ấy.
Tesaṃ paneke samayaṃ vadanti, anupādisese kusalāvadānāti tesaṃyeva samaṇabrāhmaṇānaṃ eke samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā bhavatajjitā vibhavaṃ abhinandanti, te sattassa samaṃ upasamaṃ vūpasamaṃ nirodhaṃ paṭipassaddhinti vadanti, yato kiṃ, bho, ayaṃ attā kāyassa bhedā ucchijjati vinassati na hoti paraṃ maraṇā, ettāvatā anupādisesoti. Kusalāvadānāti kusalavādā paṇḍitavādā thiravādā ñāyavādā hetuvādā lakkhaṇavādā kāraṇavādā ṭhānavādā sakāya laddhiyāti – tesaṃ paneke samayaṃ vadanti anupādisese kusalāvadānā.
As for 'Some of them declare a doctrine, those who are proclaimed as skilled in the state without residue': Among those very ascetics and brahmins, some ascetics and brahmins, holding the view of annihilation and being threatened by existence, delight in non-existence. They declare the tranquility, the great tranquility, the special great tranquility, the cessation, and the calming down of a being, saying: 'Sirs, for what reason? This self, with the breakup of the body, is annihilated, is destroyed, and does not exist after death. By this much, there is the state without residue.' As for 'those who are proclaimed as skilled': they are those who claim to be skilled, those who claim to be wise, those with firm tenets, those who speak according to what is proper, those who speak with reason, those who speak of characteristics, those who speak with cause, those who speak with grounds, according to their own doctrine. This is the meaning of 'Some of them declare a doctrine, those who are proclaimed as skilled in the state without residue.'
“Và một số vị trong số họ, những người được cho là khéo léo, tuyên bố về một học thuyết ở trong trạng thái vô dư.” Trong số các sa-môn, bà-la-môn ấy, một số sa-môn, bà-la-môn là những người theo thuyết đoạn diệt, bị kinh sợ bởi sự hiện hữu, ưa thích sự không hiện hữu, họ tuyên bố về sự yên tịnh, sự lắng dịu, sự hoàn toàn lắng dịu, sự đoạn diệt, sự an tịnh của chúng sanh. Bởi vì sao? Này các bạn, tự ngã này sau khi thân hoại sẽ bị hủy diệt, sẽ bị hoại diệt, không còn tồn tại sau khi chết. Dường ấy là trạng thái vô dư. Những người được cho là khéo léo, có nghĩa là: những người có chủ trương là khéo léo, những người có chủ trương là bậc trí, những người có chủ trương vững chắc, những người có chủ trương hợp lý, những người có chủ trương về nguyên nhân, những người có chủ trương về đặc tính, những người có chủ trương về lý do, những người có chủ trương về cơ sở, bằng vào tà kiến của mình – và một số vị trong số họ, những người được cho là khéo léo, tuyên bố về một học thuyết ở trong trạng thái vô dư.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng: –
‘‘Ettāvataggampi vadanti heke, yakkhassa suddhiṃ idha paṇḍitāse;
Tesaṃ paneke samayaṃ vadanti, anupādisese kusalāvadānā’’ti.
"Some of the wise here declare even this much as the highest: the purity of a being. Some of them, however, declare a doctrine, those who are proclaimed as skilled in the state without residue."
“‘Một số vị được xem là bậc trí ở đây tuyên bố rằng sự thanh tịnh của yakkha là cao tột dường ấy. Và một số vị trong số họ, những người được cho là khéo léo, tuyên bố về một học thuyết ở trong trạng thái vô dư.’”
112.
112.
112.
Ete ca ñatvā upanissitāti, ñatvā munī nissaye so vīmaṃsī;
Ñatvā vimutto na vivādameti, bhavābhavāya na sameti dhīro.
And having known these that are relied upon, that sage, having known, investigated the supports. Having known, he is liberated and does not enter into dispute; the wise one does not go to existence and non-existence.
Và sau khi đã biết rõ các điều này là có nơi nương tựa, sau khi đã biết rõ, bậc mâu-ni ấy đã thẩm sát các nơi nương tựa. Sau khi đã biết rõ, vị đã được giải thoát không đi đến sự tranh luận, bậc hiền trí không đi đến sự hiện hữu và không hiện hữu.
Ete ca ñatvā upanissitāti. Eteti diṭṭhigatike. Upanissitāti sassatadiṭṭhinissitāti ñatvā, ucchedadiṭṭhinissitāti ñatvā, sassatucchedadiṭṭhinissitāti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – ete ca ñatvā upanissitāti.
As for 'And having known these that are relied upon': Here, 'these' refers to those holding speculative views. 'That are relied upon' means: having known that they rely on the eternalist view; having known that they rely on the annihilationist view; having known that they rely on the eternalist-and-annihilationist view. Having known, understood, weighed, judged, clarified, and made distinct. This is the meaning of 'And having known these that are relied upon.'
“Và sau khi đã biết rõ các điều này là có nơi nương tựa.” Các điều này, có nghĩa là các tà kiến. Có nơi nương tựa, có nghĩa là: sau khi đã biết, đã nhận biết, đã cân nhắc, đã thẩm sát, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘(Các tà kiến này) nương tựa vào thường kiến,’ ‘(Các tà kiến này) nương tựa vào đoạn kiến,’ ‘(Các tà kiến này) nương tựa vào thường kiến và đoạn kiến’ – và sau khi đã biết rõ các điều này là có nơi nương tựa.
Ñatvā munī nissaye so vīmaṃsīti. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Muni sassatadiṭṭhinissitāti ñatvā, ucchedadiṭṭhinissitāti ñatvā, sassatucchedadiṭṭhinissitāti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. So vīmaṃsīti paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvīti ñatvā muni nissaye so vīmaṃsī. Ñatvā vimutto na vivādametīti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Vimuttoti mutto vimutto parimutto suvimutto accantaanupādāvimokkhena. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā mutto vimutto parimutto suvimutto accantaanupādāvimokkhena. ‘‘Sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā mutto vimutto parimutto suvimutto accantaanupādāvimokkhenāti – ñatvā vimutto. Na vivādametīti na kalahaṃ karoti, na bhaṇḍanaṃ karoti, na viggahaṃ karoti, na vivādaṃ karoti, na medhagaṃ karoti. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘evaṃ vimuttacitto kho, aggivessana, bhikkhu na kenaci saṃvadati, na kenaci vivadati, yañca loke vuttaṃ tena ca voharati aparāmasa’’nti – ñatvā vimutto na vivādameti.
Having known, the sage examines the reliances. 'The sage' (muni): 'mona' is said to be wisdom...pe... having overcome the net of attachments, he is a sage. The sage, having known that one relies on eternalist view, having known that one relies on annihilationist view, having known that one relies on both eternalist and annihilationist views—having known this to be without benefit, weighed it, investigated it, discerned it, and made it distinct. He examines: he is a learned one, one possessing wisdom, an intelligent one, a knowledgeable one, a discerning one, a sagacious one. Thus, having known, the sage examines the reliances. Having known, one is liberated and does not enter into disputes. This means: having known, having understood it to be without benefit, having weighed it, investigated it, discerned it, and made it distinct. 'Liberated' means: freed, specially freed, entirely freed, well freed, through the ultimate liberation of non-clinging. Having known that 'All conditioned phenomena are impermanent,' having understood it to be without benefit, having weighed it, investigated it, discerned it, and made it distinct, one is freed, specially freed, entirely freed, well freed, through the ultimate liberation of non-clinging. 'All conditioned phenomena are suffering'... 'All dhammas are not-self'...pe... 'Whatever has the nature to arise, all that has the nature to cease'—having known this, having understood it to be without benefit, having weighed it, investigated it, discerned it, and made it distinct, one is freed, specially freed, entirely freed, well freed, through the ultimate liberation of non-clinging. Thus: having known, one is liberated. 'One does not enter into disputes' means: one does not create arguments, does not create quarrels, does not create contention, does not create disputes, does not create strife. For this was stated by the Blessed One: 'Aggivessana, a bhikkhu whose mind is thus liberated does not argue with anyone, does not quarrel with anyone. He makes use of what is spoken in the world without grasping at it.' Thus: having known, one is liberated and does not enter into disputes.
“Sau khi đã biết rõ, bậc mâu-ni ấy đã thẩm sát các nơi nương tựa.” Bậc mâu-ni, có nghĩa là: sự trầm lặng được gọi là trí tuệ ...v.v... vị ấy là bậc mâu-ni do đã vượt qua được mạng lưới của sự trói buộc. Bậc mâu-ni, sau khi đã biết, đã nhận biết, đã cân nhắc, đã thẩm sát, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘(Các tà kiến này) nương tựa vào thường kiến,’ ‘(Các tà kiến này) nương tựa vào đoạn kiến,’ ‘(Các tà kiến này) nương tựa vào thường kiến và đoạn kiến.’ Vị ấy đã thẩm sát, có nghĩa là: là bậc trí, là người có trí tuệ, là người có giác tuệ, là người có tri kiến, là người sáng suốt, là người thông tuệ – sau khi đã biết rõ, bậc mâu-ni ấy đã thẩm sát các nơi nương tựa. “Sau khi đã biết rõ, vị đã được giải thoát không đi đến sự tranh luận,” có nghĩa là: sau khi đã biết, đã nhận biết, đã cân nhắc, đã thẩm sát, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ. Vị đã được giải thoát, có nghĩa là: đã được giải thoát, đã được giải thoát đặc biệt, đã được giải thoát hoàn toàn, đã được giải thoát một cách trọn vẹn bằng sự giải thoát khỏi chấp thủ một cách tuyệt đối. Sau khi đã biết, đã nhận biết, đã cân nhắc, đã thẩm sát, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường,’ vị ấy đã được giải thoát, đã được giải thoát đặc biệt, đã được giải thoát hoàn toàn, đã được giải thoát một cách trọn vẹn bằng sự giải thoát khỏi chấp thủ một cách tuyệt đối. (Sau khi đã biết rằng:) ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ’... ‘Tất cả các pháp là vô ngã’...v.v... ‘Bất cứ điều gì có bản chất sanh khởi, tất cả điều ấy có bản chất đoạn diệt,’ sau khi đã biết, đã nhận biết, đã cân nhắc, đã thẩm sát, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ, vị ấy đã được giải thoát, đã được giải thoát đặc biệt, đã được giải thoát hoàn toàn, đã được giải thoát một cách trọn vẹn bằng sự giải thoát khỏi chấp thủ một cách tuyệt đối – sau khi đã biết rõ, vị đã được giải thoát. “Không đi đến sự tranh luận,” có nghĩa là: không gây ra sự cãi cọ, không gây ra sự tranh chấp, không gây ra sự xung đột, không gây ra sự tranh luận, không gây ra sự bất hòa. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Aggivessana, vị tỳ khưu có tâm được giải thoát như vậy không tranh luận với bất cứ ai, không tranh cãi với bất cứ ai, và vị ấy sử dụng những gì được nói đến ở trong đời mà không có sự bám víu’ – sau khi đã biết rõ, vị đã được giải thoát không đi đến sự tranh luận.
Bhavābhavāya na sameti dhīroti. Bhavābhavāyāti bhavāya kammabhavāya punabbhavāya kāmabhavāya, kammabhavāya kāmabhavāya punabbhavāya rūpabhavāya, kammabhavāya rūpabhavāya punabbhavāya arūpabhavāya, kammabhavāya arūpabhavāya punabbhavāya punappunabbhavāya punappunagatiyā punappunaupapattiyā punappunapaṭisandhiyā punappunaattabhāvāya punappunābhinibbattiyā na sameti na samāgacchati na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisati. Dhīroti dhīro paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvīti – bhavābhavāya na sameti dhīro.
The wise one is not in accord with one existence or another. 'For one existence or another' means: for existence, for kamma-existence, for renewed existence, for sensual existence; for kamma-existence, for sensual existence, for renewed existence, for form existence; for kamma-existence, for form existence, for renewed existence, for formless existence; for kamma-existence, for formless existence, for renewed existence; for repeated existence, for repeated destinations, for repeated arising, for repeated relinking, for repeated self-becoming, for repeated supreme becoming—one is not in accord, does not come to, does not take up, does not touch upon, does not adhere to. 'The wise one' means: the steadfast one, the learned one, the one with wisdom, the intelligent one, the knowledgeable one, the discerning one, the sagacious one. Thus, the wise one is not in accord with one existence or another.
Bhavābhavāya na sameti dhīroti (Bậc trí không đi đến sự hiện hữu và không hiện hữu). Bhavābhavāyāti (Về sự hiện hữu và không hiện hữu) là: vì sự hiện hữu, vì nghiệp hữu, vì tái sanh hữu, vì dục hữu; vì nghiệp hữu, vì dục hữu, vì tái sanh hữu, vì sắc hữu; vì nghiệp hữu, vì sắc hữu, vì tái sanh hữu, vì vô sắc hữu; vì nghiệp hữu, vì vô sắc hữu, vì tái sanh hữu, vì sự hiện hữu lặp đi lặp lại, vì thú lặp đi lặp lại, vì sự sanh khởi lặp đi lặp lại, vì sự tái sanh lặp đi lặp lại, vì sự tự thể lặp đi lặp lại, vì sự phát sanh lặp đi lặp lại, vị ấy na sameti (không đi đến), na samāgacchati (không đi đến cùng), na gaṇhāti (không nắm giữ), na parāmasati (không chấp thủ), nābhinivisati (không hướng tâm vào). Dhīroti (Bậc trí) là: dhīro (bậc trí tuệ), paṇḍito (bậc hiền trí), paññavā (người có trí tuệ), buddhimā (người có giác tuệ), ñāṇī (người có tri kiến), vibhāvī (người sáng suốt), medhāvī (người có mẫn tuệ). – (Đây là ý nghĩa của) bhavābhavāya na sameti dhīro.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: –
‘‘Ete ca ñatvā upanissitāti, ñatvā munī nissaye so vīmaṃsī;
Ñatvā vimutto na vivādameti, bhavābhavāya na sameti dhīro’’ti.
‘Having known these as dependencies, that sage investigated the supports. Having known, the liberated one does not enter into dispute; the wise one is not in accord with one existence or another.’
“Và đã biết rõ những điều này, bậc ẩn sĩ đã quán xét các nơi nương tựa, đã biết rõ và đã y chỉ vào chúng. Sau khi biết rõ, vị ấy được giải thoát, không đi đến tranh luận; bậc trí tuệ không đi đến sự hiện hữu và không hiện hữu.”
The eleventh Exposition of the Kalahavivāda Sutta is concluded.
Phần giải thích kinh Cãi Vã và Tranh Luận, chương thứ mười một.