Bản dịch
JA 547 — Chuyện Đại Vương Vessantara (Tiền thân Vessantara)
Vessantarajātaka
6112. “Hỡi nàng Phusatī, hỡi nàng có ánh sáng ở làn da cao quý, nàng hãy lựa chọn mười điều ân huệ, điều nào mà tâm ý của nàng yêu quý ở trái đất, hỡi nàng có đôi chân đẹp.”
6113. “Tâu Thiên Vương, xin kính lễ ngài! Thiếp đã gây nên tội lỗi gì, mà ngài lưu đày thiếp khỏi nơi chốn đáng yêu, tựa như làn gió thổi rạp cây cối?”
6114. “Chẳng những nàng đã không gây nên tội lỗi, và chẳng phải nàng không còn được trẫm yêu thương, trẫm nói với nàng như vậy bởi vì phước báu của nàng đã bị cạn kiệt.
6115. Cái chết của nàng ở gần kề; sự chia lìa sẽ xảy đến. Nàng hãy chọn lấy mười điều ân huệ này của trẫm đang ban cho nàng.”
6116. “Tâu Thiên Chủ Sakka, tâu vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho thiếp điều ân huệ, tâu bậc tôn đức, mong rằng thiếp sẽ hiện hữu tại nơi ấy, ở chỗ trú ngụ của đức vua Sivi.
6117. Tâu bậc đã bố thí trước đây, mong rằng thiếp sẽ có cặp mắt xanh đen, có lông mày xanh đen, và có tròng mắt xanh đen giống như con nai cái nhỏ, và sẽ hiện hữu tại nơi ấy với tên là Phusatī.
6118. Mong rằng thiếp có được đứa con trai, (và con trai của thiếp sẽ) là người bố thí vật cao quý, sẵn sàng đáp ứng lời cầu xin, không có bỏn xẻn, được tôn vinh bởi các vị vua đối nghịch, có tiếng tăm, có danh vọng.
6119. Trong khi thiếp đang mang thai, mong rằng phần thân giữa không bị lồi lên, cái bụng không bị nhô lên, tựa như cây cung được bào đẽo bằng phẳng.
6120. Thưa vị chúa của chư Thiên, mong rằng bộ ngực của thiếp không trễ xuống, các sợi tóc bạc không xuất hiện, bụi bặm không làm bẩn cơ thể, và thiếp còn có thể phóng thích kẻ tử tù.
6121. Ở nơi có tiếng kêu của chim công, chim cò, ở nơi có các nhóm phụ nữ cao quý tụ tập, được đông đúc với những người hầu cận dưới quyền, được ca ngợi bởi các thi sĩ và những người dân xứ Magadha,–
6122. –ở nơi vang lên tiếng các chốt cửa nhiều màu sắc, ở nơi được mời mọc thưởng thức rượu thịt, tâu bậc tôn đức, mong rằng thiếp sẽ trở thành chánh cung hoàng hậu ở tại nơi ấy của đức vua Sivi.”
6123. “Hỡi người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, mười điều ân huệ nào đã được trẫm ban cho nàng, nàng sẽ đạt được tất cả các điều ân huệ ấy ở lãnh địa của đức vua Sivi.”
6124. Vị Thiên Vương Maghavā, chồng của nàng Sujā, bậc Thiên Chủ Vāsava đã nói điều này, đã ban cho ân huệ, và đã tùy hỷ với nàng Phusatī.
Các Kệ Ngôn về Mười Điều Ân Huệ.
(Lời tự thuật của đức Phật) 6125. Sau đó, nàng Phusatī ấy đã mệnh chung, đã tái sanh vào dòng dõi Sát-đế-lỵ ở thành phố Jetuttara, và đã kết hôn với vua Sañjaya.
6126. Sau khi mang thai được mười tháng, bà Phusatī, trong khi đang đi nhiễu quanh thành phố, đã sanh ta ở giữa đường phố của những người thương buôn.
6127. Tên của ta không liên quan đến họ mẹ, cũng không xuất phát từ họ cha. Ta đã được sanh ra ở đường phố của những người thương buôn ( vessa ), vì thế tên của ta đã là Vessantara.
6128. Đến khi ta đã trở thành đứa bé trai được tám tuổi tính từ lúc sanh, khi ấy ta đã ngồi ở tòa lâu đài và đã suy nghĩ về việc bố thí tặng vật.
6129. Ta có thể bố thí tim, mắt, luôn cả thịt và máu của mình. Ta đã thông báo là ta có thể bố thí xác thân của mình nếu có người cầu xin.
6130. Trong khi ta đang suy xét về bản tánh không dao động, không hẹp hòi, tại nơi ấy, trái đất với dải rừng ở núi Sineru đã rúng động.
(Lời đức vua Vessantara) 6131. “Có các móng và lông nách đã mọc dài, có răng bị đóng bợn, có đầu lấm bụi, các vị Bà-la-môn đã giơ lên cánh tay phải cầu xin trẫm điều gì?”
6132. “Tâu bệ hạ, chúng tôi cầu xin báu vật. Tâu bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xin bệ hạ hãy ban cho con voi cao quý, có ngà như cán cày, xứng đáng để cỡi.”
6133. “Trẫm ban cho không do dự vật mà các vị Bà-la-môn cầu xin, là con voi đã phát dục, có ngà, là phương tiện di chuyển của đức vua, và là con voi hạng nhất.”
6134. Với tâm ý cao cả về việc xả thí, đức vua, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đã từ mình voi leo xuống và đã ban vật thí đến các vị Bà-la-môn.
6135. Khi ấy, đã có sự kinh hoàng, khi ấy, đã có sự dựng đứng lông. Vào lúc con long tượng được ban ra, trái đất đã rúng động.
6136. Khi ấy, đã có sự kinh hoàng, khi ấy, đã có sự dựng đứng lông. Vào lúc con long tượng được ban ra, khi ấy, thành phố đã bị hoảng loạn.
6137. Thành phố đã trở nên lộn xộn, và có tiếng ồn (quở trách) lan truyền, vang dội vào lúc bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi bố thí con long tượng.
6138. Rồi ở nơi ấy đã xảy ra âm thanh ồn ào, khiếp đảm, vang dội. Vào lúc con long tượng được ban ra, trái đất đã rúng động.
6139. Rồi ở nơi ấy đã xảy ra âm thanh ồn ào, khiếp đảm, vang dội. Vào lúc con long tượng được ban ra, khi ấy, thành phố đã bị hoảng loạn.
6140. Rồi ở nơi ấy đã xảy ra âm thanh ồn ào, khiếp đảm, vang dội vào lúc bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi ban bố con long tượng.
6141. Các quý tộc, các hoàng tử, các thương nhân, và các vị Bà-la-môn, các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh,–
6142. –luôn cả toàn bộ thị dân và các người dân xứ Sivi đã tụ hội lại. Sau khi nhìn thấy con voi đang bị dẫn đi, họ đã thông báo đến đức vua rằng:
6143. “Tâu bệ hạ, đất nước của ngài bị tàn phá. Tại sao người con trai Vessantara của bệ hạ lại có thể cho đi con voi của chúng ta, con voi được tôn vinh của đất nước?
6144. Tại sao vị ấy lại có thể cho đi con voi có ngà như cán cày, xứng đáng để cỡi, con voi hạng nhất, toàn màu trắng, biết được địa thế của mọi chiến trường?
6145. (Tại sao vị ấy lại có thể cho đi) con voi được choàng lên tấm len màu vàng cam, đã phát dục, có (khả năng) nghiền nát đối phương, có ngà, có cây quạt lông đuôi bò, màu trắng, tương tự như núi Kelāsa?
6146. (Tại sao vị ấy lại có thể cho đi) con voi có chiếc lọng màu trắng, có tấm đệm ngồi, có y sĩ chăm sóc, có viên quản tượng, là phương tiện di chuyển cao quý dành để chuyên chở đức vua? Tại sao vị ấy đã cho đi tài sản đến các vị Bà-la-môn?
6147. Vị ấy nên ban cho cơm ăn, nước uống, vải vóc, và chỗ trú ngụ. Điều này quả thật là đúng với việc bố thí; điều này quả thật là phù hợp với các vị Bà-la-môn.
6148. Người này là vị vua kế thừa của ngài, là bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi của chúng tôi. Tâu đại vương Sañjaya, tại sao người con trai Vessantara (của ngài) lại cho đi con voi?
6149. Nếu ngài không làm theo lời nói của những người dân xứ Sivi, thần nghĩ rằng các người dân xứ Sivi sẽ chống đối lại ngài và người con trai.”
(Lời đức vua Sañjaya, thái thượng hoàng) 6150. “Dầu cho xứ sở không còn, thậm chí đất nước bị tiêu diệt, ta cũng không vì lời nói của những người dân xứ Sivi mà tự nguyện lưu đày vị thái tử không phải là kẻ hư hỏng ra khỏi đất nước của mình, bởi vì người con trai là ruột thịt của ta.
6151. Dầu cho xứ sở không còn, thậm chí đất nước bị tiêu diệt, ta cũng không vì lời nói của những người dân xứ Sivi mà tự nguyện lưu đày vị thái tử không phải là kẻ hư hỏng ra khỏi đất nước của mình, bởi vì người con trai là huyết thống của ta.
6152. Và ta không thể phản bội lại con trai ta, bởi vì nó có giới hạnh cao cả. Luôn cả sự ô danh cũng sẽ có cho ta, và ta sẽ tạo ra nhiều tội ác. Làm thế nào chúng tôi có thể dùng gươm giết chết con trai Vessantara được?”
(Lời dân chúng) 6153. “Chớ giết chết vị ấy bằng gậy hay bằng gươm, vị ấy thật sự không đáng bị giam cầm. Ngài hãy lưu đày vị ấy ra khỏi đất nước. Hãy để vị ấy sống ở núi Vaṅka.”
6154. “Nếu việc ấy là điều mong muốn của những người dân xứ Sivi, chúng tôi không thể từ chối điều mong muốn ấy. Hãy để Vessantara sống và thọ hưởng các dục trong đêm nay.
6155. Kế đó, vào lúc tàn đêm, khi việc mọc lên của mặt trời đã đến, các người dân xứ Sivi hãy đồng lòng rồi trục xuất Vessantara ra khỏi đất nước.”
6156. “Này kẻ phục dịch, hãy đứng lên. Ngươi hãy gấp rút đi đến và nói với Vessantara rằng: ‘Tâu bệ hạ, các người dân xứ Sivi giận dữ với bệ hạ. Và các thị dân đã tụ hội lại.
6157. Các nhà quý tộc, các hoàng tử, các thương nhân, và các vị Bà-la-môn, các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh, luôn cả toàn bộ thị trấn và các người dân xứ Sivi đã tụ hội lại.
6158. Vào lúc tàn đêm này, khi việc mọc lên của mặt trời đã đến, các người dân xứ Sivi sẽ đồng lòng và trục xuất bệ hạ ra khỏi đất nước.’”
6159. Kẻ phục dịch ấy, có đồ trang sức bằng ngọc trai ở cánh tay, có y phục tươm tất, được tô điểm với trầm hương, đã được gấp rút phái đi bởi đức vua Sivi.
6160. Kẻ ấy, đã gội đầu ở trong nước, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, đã đi đến thành phố đáng yêu, nơi trú ngụ của Vessantara.
6161. Tại nơi ấy, kẻ ấy đã nhìn thấy vị vương tử đang vui sướng ở kinh thành của mình, được vây quanh bởi các quan đại thần, tựa như Thiên Chủ Vāsava ở cõi Tam Thập.
6162. Sau khi đi đến nơi ấy, kẻ phục dịch ấy đã nói với vị Vessantara đang vui sướng rằng: “Thần sẽ báo tin khổ đau đến bệ hạ. Tâu đấng thủ lãnh xa binh, xin chớ giận dữ với thần.”
6163. Sau khi đảnh lễ, kẻ phục dịch ấy đã vừa khóc lóc vừa nói với đức vua Vessantara rằng: “Tâu đại vương, ngài là chủ nhân của thần, là người mang lại (cho thần) mọi hương vị của khoái lạc. Thần sẽ báo tin khổ đau đến bệ hạ. Mong rằng mọi người thông cảm với thần về điều đó.
6164. “Tâu bệ hạ, các người dân xứ Sivi giận dữ với bệ hạ. Các thị dân, các nhà quý tộc, các hoàng tử, các thương nhân, và các vị Bà-la-môn đã tụ hội lại.
6165. Các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh, luôn cả toàn bộ thị trấn và các người dân xứ Sivi đã tụ hội lại.
6166. Vào lúc tàn đêm này, khi việc mọc lên của mặt trời đã đến, các người dân xứ Sivi sẽ đồng lòng và trục xuất bệ hạ ra khỏi đất nước.”
6167. “Các người dân xứ Sivi giận dữ với trẫm về việc gì? Trẫm không nhận thấy điều gì sai trái. Này người phục dịch, khanh hãy giải thích điều ấy cho trẫm. Tại sao họ lại trục xuất trẫm?”
6168. “Các nhà quý tộc, các hoàng tử, các thương nhân, và các vị Bà-la-môn, các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh, họ phê phán về việc bố thí con voi; vì thế, họ trục xuất bệ hạ.
6169. “Trẫm có thể bố thí trái tim luôn cả con mắt, vật gì là tài sản ngoại thân của trẫm, vàng thô, vàng ròng, hay ngọc trai, ngọc bích, ngọc ma-ni?
6170. Hoặc thậm chí luôn cả cánh tay phải, sau khi nhìn thấy những người ăn mày đi đến, trẫm có thể ban cho không do dự. Tâm ý của trẫm vui thích trong việc bố thí.
6171. Tất cả những người dân Sivi hãy tùy ý trục xuất hay giết chết trẫm, hãy tùy ý chặt trẫm thành bảy phần, trẫm vẫn sẽ không xa lìa việc bố thí.”
6172. “Các thị dân đã tụ hội lại và các người dân xứ Sivi đã nói về bệ hạ như vầy: ‘Hãy để vị có sự hành trì tốt đẹp đi đến bờ sông Kontimārā, đối diện với ngọn núi Ārañjara, là nơi những kẻ bị trục xuất đi đến.’”
6173. “Trẫm đây sẽ đi đến nơi mà những kẻ tồi bại đi đến. Các khanh hãy thư thả cho trẫm một ngày đêm, cho đến khi trẫm ban phát vật thí xong.”
6174. Đức vua Vessantara đã nói với nàng Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân ấy rằng: “Bất cứ vật gì ta đã ban tặng cho nàng, tài sản và lúa gạo hiện có,–
6175. –vàng thô, hoặc vàng ròng, hoặc nhiều ngọc trai và ngọc bích, và tài sản hồi môn từ người cha của nàng, nàng nên để dành mọi thứ ấy.”
6176. Công chúa Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, đã nói với vị vua ấy rằng: “Tâu bệ hạ, thiếp nên để dành ở nơi nào? Được hỏi, xin bệ hạ hãy giải thích điều ấy cho thiếp.”
6177. “Này nàng Maddī, nàng nên dâng cúng vật thí phù hợp ở những vị có giới hạnh, bởi vì đối với tất cả chúng sanh, không có chỗ dựa nào khác vượt lên trên sự bố thí.
6178. Này nàng Maddī, nàng nên thể hiện tình thương đối với các con, đối với mẹ chồng và cha chồng. Người nào có ý nghĩ trở thành chồng của nàng, nàng nên phục vụ người ấy một cách nghiêm chỉnh.
6179. Nếu không có người nào có ý định trở thành chồng của nàng do việc xa cách của nàng với ta, nàng hãy kiếm người chồng khác, chớ gầy mòn vì thiếu vắng ta.
6180. Bởi vì ta sẽ đi đến khu rừng ghê rợn có các loài thú dữ tụ tập. Mạng sống của ta là bấp bênh khi chỉ có một mình ở khu rừng rộng lớn.”
6181. Công chúa Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, đã nói với vị vua ấy rằng: “Tại sao chàng lại nói điều không có lý lẽ? Chàng quả thật nói điều xấu xa!
6182. Tâu đại vương, việc chàng sẽ ra đi chỉ một mình là không đúng nguyên tắc. Tâu vị Sát-đế-lỵ, thiếp cũng đi đến nơi mà chàng đi đến.
6183. Hoặc là chết cùng với chàng, hoặc là sống không có chàng, chính cái chết ấy là tốt hơn so với việc nếu có thể sống mà không có chàng.
6184. Sau khi đốt lên ngọn lửa đã được tập trung lại thành một khối, cái chết của thiếp ở nơi ấy là tốt hơn so với việc nếu có thể sống mà không có chàng.
6185. Giống như con voi cái đi theo sau con voi đực có ngà, sống trong rừng, đang lang thang ở các khe núi hiểm trở, bằng phẳng hoặc gồ ghề.
6186. Tương tự như vậy, thiếp mang theo các con đi theo chàng ở phía sau. Thiếp sẽ là người dễ nuôi dưỡng của chàng. Thiếp sẽ không trở thành người khó chu cấp đối với chàng.
6187. Trong khi nhìn thấy các con có giọng nói ngọt ngào đáng yêu đang ngồi ở khóm cây rừng, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6188. Trong khi nhìn thấy các con có giọng nói ngọt ngào đáng yêu đang chơi đùa ở khóm cây rừng, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6189. Trong khi nhìn thấy các con có giọng nói ngọt ngào đáng yêu ở khu ẩn cư xinh xắn, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6190. Trong khi nhìn thấy các con có giọng nói ngọt ngào đáng yêu đang chơi đùa ở khu ẩn cư xinh xắn, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6191. Trong khi nhìn thấy các con có mang tràng hoa, đã được trang điểm, ở khu ẩn cư xinh xắn, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6192. Trong khi nhìn thấy các con có mang tràng hoa, đã được trang điểm, đang chơi đùa ở khu ẩn cư xinh xắn, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6193. Vào lúc chàng nhìn thấy các con có mang tràng hoa đang nhảy múa ở khu ẩn cư xinh xắn, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6194. Vào lúc chàng nhìn thấy các con có mang tràng hoa đang chơi đùa ở khu ẩn cư xinh xắn, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6195. Vào lúc chàng nhìn thấy con long tượng sáu mươi năm tuổi đang đi thơ thẩn một mình ở trong khu rừng, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6196. Vào lúc chàng nhìn thấy con long tượng sáu mươi năm tuổi đang đi thơ thẩn sáng chiều, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6197. Vào lúc con khổng tượng, con voi sáu mươi năm tuổi, tạo ra tiếng kêu của loài voi trong khi nó đang di chuyển phía trước đàn voi và bầy voi cái, sau khi nghe tiếng rống của con voi ấy đang gầm thét, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6198. Chàng là người chu cấp cho thiếp mọi điều ước muốn, vào lúc chàng nhìn thấy các trảng rừng ở hai bên sườn núi trong khu rừng đông đúc các thú dữ, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6199. Sau khi nhìn thấy con nai có năm tràng hoa đi đến vào chiều tối và các nhân điểu đang nhảy múa, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6200. Vào lúc chàng nghe tiếng rì rào của dòng sông Sindhu đang trôi chảy và tiếng hát của các nhân điểu, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6201. Vào lúc chàng nghe tiếng hú của loài chim cú sống trong hang núi đang vang lên, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6202. Vào lúc chàng nghe tiếng kêu của các loài thú dữ trong khu rừng: của sư tử, của cọp, của tê giác, và của bò rừng, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6203. Vào lúc chàng nhìn thấy con chim công trống đứng ở trên đỉnh núi, có chùm lông đuôi xòe ra, đang nhảy múa, được vây quanh bởi các chim công mái, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6204. Vào lúc chàng nhìn thấy con chim công trống, loài noãn sanh có cánh nhiều màu sắc, đang nhảy múa, được vây quanh bởi các chim công mái, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6205. Vào lúc chàng nhìn thấy con chim công trống có cổ màu xanh, có chỏm lông ở đỉnh đầu, đang nhảy múa, được vây quanh bởi các chim công mái, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6206. Vào lúc chàng nhìn thấy các giống cây được trổ hoa vào mùa đông, đang phảng phất hương thơm, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
Vào lúc chàng nhìn thấy mặt đất màu xanh đã được che phủ bởi loài cánh kiến vào tháng thuộc mùa đông, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6208. Vào lúc chàng nhìn thấy các giống cây được trổ hoa vào mùa đông: cây kuṭaja , cây bimbajāla , cây lomapadmaka đã được trổ hoa, đang phảng phất hương thơm, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.
6209. Vào lúc chàng nhìn thấy khu rừng đã được trổ hoa và các đóa hoa sen đã rụng cánh vào tháng thuộc mùa đông, chàng sẽ không còn nhớ đến vương quyền.”
Ca Tụng Núi Hy Mã Lạp.
6210. Sau khi nghe lời kể lể của họ, của con trai và của con dâu, công chúa Phusatī [1] có danh vọng đã than vãn một cách thương tâm rằng:
[1] Công chúa Phusatī là con gái của đức vua Madda, vợ của đại vương Sañjaya, và là mẹ của Bồ Tát Vessantara (ND).
6211. “Tốt hơn là ta nên ăn thuốc độc, ta nên lao xuống từ vực thẳm, ta nên dùng dây thừng thắt cổ chết, tại sao mọi người lại trục xuất con trai Vessantara (của ta), là kẻ không tồi bại?
6212. Tại sao mọi người lại trục xuất con trai Vessantara (của ta), là kẻ không tồi bại, là người có học thức, là người thí chủ, sẵn sàng đáp ứng lời cầu xin, không có bỏn xẻn, được tôn vinh bởi các vị vua đối nghịch, có tiếng tăm, có danh vọng?
6213. Tại sao mọi người lại trục xuất con trai Vessantara (của ta), là kẻ không tồi bại, là người phụng dưỡng mẹ cha, có sự tôn kính các bậc trưởng thượng ở trong gia tộc?
6214. Tại sao mọi người lại trục xuất con trai Vessantara (của ta), là kẻ không tồi bại, là người có lợi ích cho đức vua, có lợi ích cho hoàng hậu, có lợi ích cho thân quyến, cho bạn bè, có lợi ích cho toàn bộ đất nước?”
(Lời trao đổi giữa mẫu hậu Phusatī và đại vương Sañjaya)
6215. “Giống như các tổ ong đã bị bỏ đi, giống như những trái xoài đã bị rơi xuống ở mặt đất, đất nước của bệ hạ sẽ trở nên như vậy khi mọi người trục xuất kẻ không tồi bại.
6216. Giống như chim thiên nga có cánh bị gãy ở đầm lầy không còn nước, tâu bệ hạ, bị xa lánh bởi các quan đại thần, còn một mình, ngài sẽ khó nhọc.
6217. Tâu đại vương, thiếp nói với ngài điều ấy. Chớ để vuột mất lợi ích của ngài. Ngài chớ vì lời nói của các người dân xứ Sivi mà trục xuất người con trai ấy, là kẻ không tồi bại.”
6218. “Trẫm thực hiện sự kính trọng đối với luật pháp, trong khi xua đuổi Vessantara, ngọn cờ của các người dân xứ Sivi. Trẫm trục xuất người con trai của mình, bởi vì luật pháp được trẫm yêu quý hơn cả mạng sống.”
6219. “Là người, trước đây, trong lúc đi thì có các ngọn cờ–tựa như những cây kaṇikāra đã được trổ hoa–đi theo cùng, vị ấy, hôm nay, sẽ ra đi chỉ một mình.
6220. Là người, trước đây, trong lúc đi thì có các ngọn cờ–tựa như khu rừng cây kaṇikāra –đi theo cùng, vị ấy, hôm nay, sẽ ra đi chỉ một mình.
6221. Là người, trước đây, trong lúc đi thì có các toán binh sĩ–tựa như những cây kaṇikāra đã được trổ hoa–đi theo cùng, vị ấy, hôm nay, sẽ ra đi chỉ một mình.
6222. Là người, trước đây, trong lúc đi thì có các toán binh sĩ–tựa như khu rừng cây kaṇikāra –đi theo cùng, vị ấy, hôm nay, sẽ ra đi chỉ một mình.
6223. Là người, trước đây, trong lúc đi thì có các toán binh sĩ–khoác tấm len màu vàng cam của xứ Gandhāra lấp lánh màu cánh kiến–đi theo cùng, vị ấy, hôm nay, sẽ ra đi chỉ một mình.
6224. Là người, trước đây, di chuyển bằng voi, bằng kiệu khiêng, và bằng cỗ xe, vị vua Vessantara ấy, hôm nay, làm thế nào (có thể) đi bộ?
Người có thân thể được thoa trầm hương, có sự thức giấc bằng điệu vũ và lời ca, thì sẽ mặc y da dê thô cứng, cầm rìu, và mang cái giỏ có gậy chống như thế nào?
6226. Tại sao các y ca-sa hay các y da dê không được mang lại? Tại sao họ không buộc y vỏ cây cho người đi vào khu rừng rộng lớn?
6227. Vậy những người xuất gia dòng dõi vua chúa mặc y vỏ cây như thế nào? Con dâu Maddī sẽ khoác y vỏ cây làm bằng cỏ kusa như thế nào?
6228. Sau khi đã mặc các loại tơ lụa xứ Kāsi và các loại vải xứ Khoma và Kodumbara, con dâu Maddī sẽ làm thế nào trong khi mặc các y vỏ cây làm bằng cỏ kusa ?
6229. Sau khi đã di chuyển bằng các phương tiện di chuyển, bằng kiệu khiêng và bằng cỗ xe, hôm nay, cô nàng có cơ thể không bị chê bai ấy làm thế nào đi bộ ở con đường?
Là cô gái có lòng bàn tay mềm mại, có hạnh kiểm, được nuôi dưỡng sung sướng, hôm nay, cô nàng nhút nhát, có cơ thể không bị chê bai ấy, làm thế nào đi đến khu rừng?
Là cô gái có lòng bàn chân mềm mại, có hạnh kiểm, được nuôi dưỡng sung sướng, nàng di chuyển, tựa như đang bị chèn ép bởi đôi giày bằng vàng, hôm nay, cô nàng có cơ thể không bị chê bai ấy làm thế nào đi bộ ở con đường?
6232. Là cô gái có đeo tràng hoa đi phía trước một ngàn phụ nữ, hôm nay, cô nàng có cơ thể không bị chê bai ấy, làm thế nào đi đến khu rừng chỉ một mình?
6233. Là cô gái trước đây ở trong thành phố, lập tức bị khiếp sợ sau khi nghe tiếng hú của loài sói cái; hôm nay, cô nàng nhút nhát, có cơ thể không bị chê bai ấy, làm thế nào đi đến khu rừng?
6234. Là cô gái thuộc dòng dõi vua chúa, bị kinh sợ, run lẩy bẩy, tựa như bà đồng bóng sau khi nghe tiếng chim cú đang kêu gào; hôm nay, cô nàng nhút nhát, có cơ thể không bị chê bai ấy, làm thế nào đi đến khu rừng?
6235. Tựa như chim mẹ có chim con bị giết chết, đau khổ khi nhìn thấy cái tổ trống không, ta sẽ buồn bực lâu dài vì khổ đau khi nhìn thấy thành phố này trống không.
6236. Tựa như chim mẹ có chim con bị giết chết, đau khổ khi nhìn thấy cái tổ trống không, ta sẽ trở nên ốm o, vàng vọt, trong khi không nhìn thấy các con yêu dấu.
6237. Tựa như chim mẹ có chim con bị giết chết, đau khổ khi nhìn thấy cái tổ trống không, ta sẽ chạy đến nơi này nơi khác trong khi không nhìn thấy các con yêu dấu.
6238. Tựa như chim ó biển mẹ có chim con bị giết chết, đau khổ khi nhìn thấy cái tổ trống không, ta sẽ buồn bực lâu dài vì khổ đau khi nhìn thấy thành phố này trống không.
6239. Tựa như chim ó biển mẹ có chim con bị giết chết, đau khổ khi nhìn thấy cái tổ trống không, ta sẽ trở nên ốm o, vàng vọt, trong khi không nhìn thấy các con yêu dấu.
6240. Tựa như chim ó biển mẹ có chim con bị giết chết, đau khổ khi nhìn thấy cái tổ trống không, ta sẽ chạy đến nơi này nơi khác trong khi không nhìn thấy các con yêu dấu.
6241. Thật vậy, tựa như con ngỗng đỏ ấy tại cái hồ nhỏ không còn nước, ta sẽ buồn bực lâu dài vì khổ đau khi nhìn thấy thành phố này trống không.
6242. Thật vậy, tựa như con ngỗng đỏ ấy tại cái hồ nhỏ không còn nước, ta sẽ trở nên ốm o, vàng vọt, trong khi không nhìn thấy các con yêu dấu.
6243. Thật vậy, tựa như con ngỗng đỏ ấy tại cái hồ nhỏ không còn nước, ta sẽ chạy đến nơi này nơi khác trong khi không nhìn thấy các con yêu dấu.
6244. Trong khi thiếp than vãn như vậy, nếu bệ hạ trục xuất thái tử, là kẻ không tồi bại, vào rừng, ra khỏi đất nước, thiếp nghĩ rằng thiếp sẽ buông bỏ mạng sống.”
6245. Sau khi nghe lời kể lể của mẫu hậu Phusatī, nhiều phi tần của đức vua xứ Sivi ở nội cung đã tụ hội lại; tất cả đã giơ hai cánh tay lên, khóc lóc.
6246. Những người con và những người vợ nằm dài ở nơi trú ngụ của vị Vessantara, tựa như những cây sāla bị nghiền nát, bị đè bẹp bởi cơn gió.
6247. Các công nương, các hoàng tử, các thương nhân, và các vị Bà-la-môn đã giơ các cánh tay lên rồi bật khóc ở nơi trú ngụ của vị Vessantara.
6248. Các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh đã giơ các cánh tay lên rồi bật khóc ở nơi trú ngụ của vị Vessantara.
6249. Kế đó, vào lúc tàn đêm, khi việc mọc lên của mặt trời đã đến, khi ấy, đức vua Vessantara đã đi đến để ban phát vật thí, (nói rằng):
6250. “Các khanh hãy bố thí các tấm vải đến những người mong muốn vải, chất cồn đến những kẻ say sưa, thức ăn đến những người cần thức ăn, hãy bố thí, hãy ban phát một cách trân trọng.
6251. Và chớ gây khó khăn đến bất cứ ai trong số các người nghèo khổ đã đi đến nơi này. Hãy thỏa mãn họ với cơm ăn và nước uống. Hãy để họ ra đi với lòng ngưỡng mộ.”
6252. Khi vị vua vĩ đại, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đang rời khỏi, những người nghèo khổ ấy nhảy nhót, tựa như những kẻ say sưa đang đùa giỡn.
6253. Với việc họ trục xuất Vessantara, không phải là kẻ tồi bại, ra khỏi đất nước, họ quả thật đã đốn ngã thân cây quý, loại cây ban cho mọi điều ước muốn.
6254. Với việc họ trục xuất Vessantara, không phải là kẻ tồi bại, ra khỏi đất nước, họ quả thật đã đốn ngã thân cây quý, loại cây đang mang các trái khác nhau.
6255. Với việc họ trục xuất Vessantara, không phải là kẻ tồi bại, ra khỏi đất nước, họ quả thật đã đốn ngã thân cây quý, loại cây có khả năng mang lại hương vị của tất cả các dục.
6256. Những người lớn tuổi, những người trẻ tuổi, và những người trung niên đã giơ các cánh tay lên rồi bật khóc, khi vị vua vĩ đại, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đang rời khỏi.
6257. Các nhà chiêm tinh, các hoạn quan, và các cung tần của đức vua đã giơ các cánh tay lên rồi bật khóc, khi vị vua vĩ đại, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đang rời khỏi.
6258. Ngay cả các phụ nữ ở tại thành phố ấy cũng đã bật khóc tại nơi ấy, khi vị vua vĩ đại, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đang rời khỏi.
6259. Các vị Bà-la-môn và các vị Sa-môn, hay là những người nghèo khác cũng đã giơ các cánh tay lên rồi bật khóc: “Quả thật không công bằng!”
6260. Giống như đức vua Vessantara, trong khi cống hiến cho thành phố của mình, vì nguyên nhân lời nói của những người dân xứ Sivi mà bị lìa khỏi đất nước của mình.
6261, 6262. Sau khi bố thí bảy trăm con voi đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, có dây đai bằng vàng, là những con khổng tượng có trang phục là yên cương bằng vàng, được cỡi lên bởi các viên quản tượng có cây thương móc câu ở bàn tay, đức vua Vessantara ấy bị lìa khỏi đất nước của mình.
159. Mỗi con voi đều chở một chú nài Với dáo móc cầm trong tay hộ vệ, Nay nhìn Ves-san-ta-ra Chúa tể Bị đày đi khỏi đất nước lưu vong.
6263, 6264. Sau khi bố thí bảy trăm con ngựa đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, và những con ngựa Sindhu thuần chủng về dòng dõi, có sức chuyển vận mau lẹ, được cỡi lên bởi các kỵ mã có mang gươm và cung, đức vua Vessantara ấy bị lìa khỏi đất nước của mình.
161. Mỗi ngựa đều được cỡi một tên quân Với cung kiếm trong tay đầy bạo dạn, Nay nhìn Ves-san-ta-ra Chúa thượng Bị đày đi khỏi đất nước quê hương.
6265, 6266. Sau khi bố thí bảy trăm cỗ xe đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, đức vua Vessantara ấy bị lìa khỏi đất nước của mình.
163. Mỗi xe đều được cỡi một quản xa Mang giáp bào, cầm cung nỏ sáng lòa, Nay nhìn Ves-san-ta-ra Chúa tể Bị đi đày khỏi quê hương như thế.
6267, 6268. Sau khi bố thí bảy trăm nữ nhân, đã được nai nịt với các thắt lưng bằng chỉ vàng, đã được trang điểm bằng vàng, có đồ trang sức màu vàng, có y phục màu vàng, đã được tô điểm với các nữ trang màu vàng, có lông mi dài, có nụ cười xã giao, vô cùng giỏi giang, có vòng eo thon, mỗi cô đứng ở một cỗ xe, đức vua Vessantara ấy bị lìa khỏi đất nước của mình.
165- 166. Với nữ trang và y phục xinh xinh Với eo lưng nhỏ bé và thanh thanh, Đôi mày cong và nụ cười tươi sáng, Với đôi mông tròn gợi tình duyên dáng, Nay hãy nhìn Chúa thượng Ves-san-ta Bị đày đi khỏi đất nước quê nhà!
6269. Sau khi bố thí bảy trăm bò cái, tất cả đều có các xô đựng sữa làm bằng bạc, đức vua Vessantara ấy bị lìa khỏi đất nước của mình.
6270. Sau khi bố thí bảy trăm tớ gái và bảy trăm tôi trai, đức vua Vessantara ấy bị lìa khỏi đất nước của mình.
6271. Sau khi bố thí các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, và các nữ nhân đã được trang điểm, đức vua Vessantara ấy bị lìa khỏi đất nước của mình.
6272. Lúc bấy giờ, việc ấy đã là sự kinh hoàng. Lúc bấy giờ, việc ấy đã có sự dựng đứng lông. Vào lúc cuộc đại thí được ban phát, trái đất đã rúng động.
6273. Lúc bấy giờ, việc ấy đã là sự kinh hoàng. Lúc bấy giờ, việc ấy đã có sự dựng đứng lông, là việc đức vua Vessantara, hai tay chắp lại, bị lìa khỏi đất nước của mình.
6274. Rồi ở nơi ấy đã xảy ra âm thanh ồn ào, khiếp đảm, vang dội. Họ tiễn đưa vị ấy bằng vật thí. Vị ấy đã ban phát vật thí thêm nữa.
6275. Khi vị vua vĩ đại, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đang rời khỏi, những người nghèo khổ ấy nhảy nhót, say sưa và đang đùa giỡn.
6276. Vị Vessantara đã thưa gởi với đức vua Sañjaya, bậc cao quý trong số các vị vua công chính, rằng: “Tâu phụ vương, phụ vương đã ép buộc con. Con sẽ đi đến núi Vaṅka.
6277. Tâu đại vương, bất cứ những người nào đã hiện hữu và sẽ được sanh ra mà không thỏa mãn với các dục thì sẽ đi đến lãnh địa của Diêm Vương.
6278. Con đây đã áp bức cư dân của mình trong khi cống hiến cho thành phố của mình. Vì nguyên nhân lời nói của những người dân xứ Sivi mà con bị lìa khỏi đất nước của mình.
6279. Con sẽ làm quen với sự khổ sở ấy ở khu rừng đông đúc các thú dữ, được lai vãng bởi loài tê giác và loài báo, con vẫn làm các việc phước thiện, còn cha đắm chìm trong bãi lầy (ngũ dục).
6280. Thưa mẹ, xin mẹ hãy cho phép con. Việc xuất gia được con ưa thích. Con đây đã áp bức cư dân của mình trong khi cống hiến cho thành phố của mình. Vì nguyên nhân lời nói của những người dân xứ Sivi mà con bị lìa khỏi đất nước của mình.
6281. Con sẽ làm quen với sự khổ sở ấy ở khu rừng đông đúc các thú dữ, được lai vãng bởi loài tê giác và loài báo, con vẫn làm các việc phước thiện, còn mẹ đắm chìm trong bãi lầy (ngũ dục).
6282. “Này con trai, mẹ cho phép con. Mong rằng việc xuất gia được thành tựu cho con. Hãy để nàng Maddī kiều diễm, vô cùng giỏi giang, có vòng eo thon này cùng với hai con ở lại. Nàng sẽ làm gì ở khu rừng?”
6283. “Con không ra sức để dẫn theo vào rừng (một ai) ngay cả nữ tỳ một cách miễn cưỡng. Nếu nàng muốn, hãy để nàng đi theo; nếu nàng không muốn, hãy để nàng ở lại.”
6284. Kế đó, vị đại vương đã đến gần để yêu cầu con dâu rằng: “Chớ để bụi bặm và cáu ghét bám vào thân hình đã được tẩm trầm hương (của con).
6285. Sau khi đã mặc các vải lụa xứ Kāsi, chớ mặc y phục bằng vỏ cây. Cuộc sống ở rừng là khổ sở. Này người con gái có ưu điểm, con chớ ra đi.”
6286. Công chúa Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, đã nói với vị đại vương ấy rằng: “Con không mong muốn sự sung sướng mà thiếu vắng Vessantara của con.”
6287. Vị đại vương, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đã nói với nàng ấy rằng: “Này Maddī, con hãy lắng nghe về những điều khó chịu đựng ở trong khu rừng.
6288. Có nhiều bọ rầy, châu chấu, muỗi, ong. Chúng cũng có thể hãm hại con tại nơi ấy. Việc ấy đối với con có thể là khổ sở hơn.
6289. Con hãy nhìn xem những nỗi bực bội khác ở nơi kế cận các dòng sông. Có những con rắn không có nọc độc, được gọi là các con trăn; chúng có sức mạnh lớn lao.
6290. Khi loài người hay thậm chí con thú đi đến gần, chúng liền quấn tròn con mồi bằng những vòng thân và đặt dưới sự kiểm soát của bản thân.
6291. Cũng có những con thú nguy hiểm có bộ lông màu đen gọi là gấu; người nào bị chúng nhìn thấy dầu đã trèo lên cây cũng không thoát thân.
6292. Các con trâu đi lang thang ở nơi này, cạnh dòng sông Sotumbarā, khiêu khích nhau bằng những cái sừng có mũi nhọn, bằng những cú húc.
6293. Sau khi nhìn thấy con bò cái trong số các bầy thú đang đi lại ở trong rừng, tựa như con bò cái không nhìn thấy con bê, này Maddī, con sẽ hành động như thế nào?
6294. Sau khi nhìn thấy những con khỉ ghê rợn đang bay nhảy ở các ngọn cây, d0 không hiểu biết về rừng núi, này Maddī, con sẽ có nỗi sợ hãi lớn lao.
6295. Lúc trước, ở trong thành phố, sau khi nghe tiếng hú của loài sói cái, con đây liên lục bị khiếp sợ, này Maddī, khi con đã đi đến núi Vaṅka, con đây sẽ hành động như thế nào?
6296. Vào thời điểm êm ả lúc giữa trưa, khi các con chim đều nghỉ ngơi, khu rừng bao la vẫn vang động, tại sao con lại muốn đi đến nơi ấy?”
6297. Công chúa Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, đã nói với vị đại vương ấy rằng: “Những điều cha vừa nói là những điều kinh hãi đối với con về khu rừng, con sẽ chịu đựng những điều ấy, con vẫn sẽ ra đi, tâu đấng thủ lãnh xa binh.
6298. Con sẽ ưỡn ngực đương đầu với cỏ kāsa, cỏ kusa, cỏ poṭakila, cỏ usīra, cỏ muñja, và cỏ babbaja, Con sẽ không là sự chọn lựa sai lầm của vị này.
6299, 6300. Thật vậy, người con gái giữ được người chồng bằng nhiều nết hạnh: bằng sự chịu đựng do việc thiếu ăn, bằng việc chăm sóc cơ thể, bằng việc duy trì ngọn lửa, và bằng việc gội rửa (tội lỗi) ở trong nước. Tình cảnh góa bụa là đắng cay ở thế gian, tâu đấng thủ lãnh xa binh, con vẫn sẽ ra đi.
198. Nàng phải siêng năng chăm lo ngọn lửa Và phải chuyên cần lọc trong nước nữa. Song cuộc đời quả phụ thật kinh hoàng, Con quyết ra đi, tâu bậc Đại vương.
6301. Kẻ nào nắm nàng quả phụ ấy ở bàn tay rồi cưỡng bức lôi kéo nàng đi, thì không xứng đáng để thọ hưởng phần còn lại của nàng. Tình cảnh góa bụa là đắng cay ở thế gian, tâu đấng thủ lãnh xa binh, con vẫn sẽ ra đi.
6302. Với việc nắm đầu tóc nâng dậy và xô ngã trên mặt đất, gã ấy dửng dưng đứng nhìn, sau khi đã ban cho nàng nhiều khổ đau không phải là ít. Tình cảnh góa bụa là đắng cay ở thế gian, tâu đấng thủ lãnh xa binh, con vẫn sẽ ra đi.
6303. Sau khi ban cho chút ít tài sản, những kẻ thèm muốn những người quả phụ có làn da trắng, những kẻ tự hào là có phúc phần, cưỡng bức lôi kéo nàng đi tựa như các con quạ lôi kéo con chim cú. Tình cảnh góa bụa là đắng cay ở thế gian, tâu đấng thủ lãnh xa binh, con vẫn sẽ ra đi.
6304. Thậm chí trong khi sống trong gia đình của thân quyến giàu sang, có chén bát vàng lấp lánh, nàng cũng không thể nào tránh khỏi lời nói lăng mạ từ các anh em và từ các bạn gái. Tình cảnh góa bụa là đắng cay ở thế gian, tâu đấng thủ lãnh xa binh, con vẫn sẽ ra đi.
6305. Dòng sông không có nước là trơ trụi, đất nước không có vua là trơ trụi, thậm chí phụ nữ góa chồng cũng là trơ trụi, cho dầu nàng có mười anh em trai. Tình cảnh góa bụa là đắng cay ở thế gian, tâu đấng thủ lãnh xa binh, con vẫn sẽ ra đi.
6306. Là cờ là tiêu biểu của cỗ xe, khói là tiêu biểu của ngọn lửa, vị vua là tiêu biểu của đất nước, người chồng là tiêu biểu của phụ nữ. Tình cảnh góa bụa là đắng cay ở thế gian, tâu đấng thủ lãnh xa binh, con vẫn sẽ ra đi.
6307. Người nữ nào đồng cam cộng khổ với chồng, chia ngọt sẻ bùi với chồng thì có được tiếng tốt. Chư Thiên thật sự khen ngợi người nữ ấy, bởi vì nàng ấy làm được điều khó làm.
6308. Con sẽ mặc vải màu ca-sa và luôn luôn theo sát chồng. Thậm chi, khi trái đất còn chưa bị vỡ tan, con không (bao giờ) mong muốn thiếu vắng Vessantara. Tình cảnh góa bụa là đắng cay ở thế gian, tâu đấng thủ lãnh xa binh, con vẫn sẽ ra đi.
6309. Dầu cho trái đất bao quanh bởi biển cả có chứa đựng nhiều của cải, được chất đầy châu báu các loại khác nhau, con không (bao giờ) mong muốn thiếu vắng Vessantara.
6310. Quả thật có những phụ nữ vô cùng nhẫn tâm, khi người chồng bị khổ cực, mà các nàng lại mong muốn sự sung sướng cho bản thân; trái tim của các nàng ấy là như thế nào?
6311. Khi vị đại vương, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đang rời khỏi, con sẽ theo sát chàng, bởi vì chàng là người ban cho con mọi điều ước muốn.”
6312. Vị đại vương đã nói với nàng Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân ấy rằng: “Cả hai đứa con này của con, Jāli và Kaṇhājinā, còn thơ dại. Này người con gái có ưu điểm, con hãy để lại và con hãy ra đi. Hãy để cha mẹ nuôi dưỡng chúng.”
6313. Công chúa Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, đã nói với vị vua ấy rằng: “Tâu bệ hạ, cả hai Jāli và Kaṇhājinā là hai đứa con nhỏ yêu quý của con. Chúng sẽ khiến cho con, người có cuộc sống sầu muộn, được vui sướng ở tại nơi ấy, trong khu rừng.”
6314. Vị đại vương, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đã nói với nàng ấy rằng: “Sau khi đã thọ dụng bữa ăn với gạo sāli , có trộn lẫn thịt tinh khiết, hai đứa trẻ sẽ làm thế nào trong khi ăn những trái của các cây rừng?
6315. Sau khi đã thọ dụng ở đĩa đồng nặng một trăm phala , ở đĩa vàng nặng một trăm rājika , hai đứa trẻ sẽ làm thế nào trong khi ăn ở những chiếc lá của các cây rừng?
6316. Sau khi đã mặc các loại tơ lụa xứ Kāsi và các loại vải xứ Khoma và Kodumbara, hai đứa trẻ sẽ làm thế nào trong khi mặc các y vỏ cây làm bằng cỏ kusa ?
6317. Sau khi đã di chuyển bằng các phương tiện chuyên chở, bằng kiệu khiêng và bằng cỗ xe, hai đứa trẻ sẽ làm thế nào trong khi chạy loanh quanh bằng đôi chân (của chúng)?
6318. Sau khi đã nằm ngủ trong ngôi nhà có mái nhọn, kín gió, có then cửa đã cài, hai đứa trẻ sẽ làm thế nào trong khi nằm ngủ ở gốc cây?
6319. Sau khi đã nằm ngủ ở các giường nệm được trải thảm len lông dài nhiều màu sắc, hai đứa trẻ sẽ làm thế nào trong khi nằm ngủ ở thảm cỏ?
6320. Sau khi đã thoa bôi với dầu thơm của gỗ kỳ nam và trầm hương, hai đứa trẻ sẽ làm thế nào trong khi lấm lem bụi bặm và cáu ghét?
6321. Được nuôi dưỡng sung sướng, có cơ thể được quạt bởi các cây quạt lông đuôi bò và quạt lông công, hai đứa trẻ sẽ làm thế nào khi bị cắn bởi các con mòng và các con muỗi?”
6322. Công chúa Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, đã nói với vị vua ấy rằng: “Tâu bệ hạ, xin cha chớ than vãn, và xin cha chớ có ưu tư. Chúng con sẽ như thế nào thì hai đứa trẻ sẽ như thế ấy.”
6323. Sau khi nói lời này, nàng Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, đã ra đi. Người con gái có ưu điểm đã mang hai đứa con đi theo con đường của vị vua xứ Sivi.
6324. Kế đó, đức vua Vessantara, dòng Sát- đế- lỵ, sau khi ban phát vật thí, đã đảnh lễ cha và mẹ, rồi hướng vai phải đi nhiễu quanh họ.
6325. Vị ấy đã mau chóng bước lên cỗ xe được thắng bốn ngựa, rồi đã đưa vợ và hai con ra đi về phía ngọn núi Vaṅka.
6326. Sau đó, đức vua Vessantara đã đi đến nơi có nhiều người tụ tập và đã nói rằng: “Chúng tôi đi đến nơi ấy. Chúc các thân nhân được mạnh khỏe.”
6327. “Nào, hỡi nàng Maddī, nàng hãy nhìn xem. Quả thật vẻ đẹp đáng yêu được nhìn thấy: Chỗ ở của vị đứng đầu xứ Sivi là nơi trú ngụ thuộc về người cha của trẫm.”
6328. Các vị Bà-la-môn đã đi theo Vessantara. Họ đã cầu xin vị ấy các con ngựa. Được cầu xin, vị ấy đã ban phát bốn con ngựa cho bốn người.
6329. “Nào, hỡi nàng Maddī, nàng hãy nhìn xem. Quả thật điều kỳ diệu được nhìn thấy: Những con ngựa thuần thục đưa trẫm đi là những con nai với sắc màu hồng.”
6330. Rồi, vị Bà-la-môn thứ năm đã đi đến nơi này. Vị ấy đã cầu xin Vessantara cỗ xe. Được cầu xin, Vessantara đã cho cỗ xe đến vị ấy. Và tâm ý của vị Vessantara này không bị bấn loạn.
6331. Sau đó, đức vua Vessantara đã bảo nhóm người của mình xuống xe, rồi đã vui vẻ bàn giao cỗ xe ngựa cho vị Bà-la-môn tầm cầu tài sản.
6332. “Này Maddī, nàng hãy bế Kaṇhājinā, nó nhẹ và là em gái. Trẫm sẽ bồng Jāli, bởi vì nó nặng và là anh trai.”
6333. Vị vua đã mang theo đứa bé trai, và nàng công chúa mang theo đứa bé gái, họ đã cùng nhau vui vẻ lên đường, với lời nói yêu thương với nhau.
(còn tiếp)
6334. Mỗi lúc có những người nào đó đi đến ở con đường cùng chiều, ở lối đi ngược chiều, chúng tôi hỏi họ về đường đi rằng: ‘Núi Vaṅka ở đâu?’
6335. Tại nơi ấy, sau khi nhìn chúng tôi, những người ấy đã than vãn thương xót. Họ cho biết về nỗi khó nhọc rằng: ‘Núi Vaṅka còn xa lắm.’
6336. Mỗi lúc hai đứa trẻ nhìn thấy những cây đã trổ quả ở khu rừng lớn, chính vì nguyên nhân của những trái cây ấy mà hai đứa trẻ kêu khóc.
6337. Sau khi nhìn thấy hai đứa trẻ đang khóc lóc, các thân cây sum suê, bị xúc động, đã tự mình hạ thấp xuống và di chuyển đến gần hai đứa trẻ.
6338. Sau khi nhìn thấy sự kỳ diệu, phi thường, có sự dựng đứng lông này, nàng Maddī, người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, đã thốt lên lời tán thán (rằng):
6339. Thật là điều kỳ diệu ở thế gian, là việc phi thường, có sự rởn lông! Các thân cây đã tự mình hạ thấp xuống bởi oai lực của Vessantara.
6340. Vì lòng thương tưởng hai đứa trẻ, các Dạ-xoa đã thâu ngắn lại đoạn đường. Bọn họ đã đến được đất nước Ceta ngay khi ngày vừa hết.
6341. Sau khi đã đi đoạn đường dài, bọn họ đã đến được đất nước Ceta, xứ sở giàu có, phồn thịnh, có nhiều cơm, rượu, thịt.
6342. Sau khi nhìn thấy người phụ nữ có ưu điểm đi đến, các nàng hầu đã vây quanh (nói rằng): “Quả thật vị phu nhân thanh nhã này đi lại bằng đôi chân (của bà)!”
6343. Sau khi đã di chuyển bằng các phương tiện chuyên chở và bằng kiệu khiêng, hôm nay, vị nữ Sát-đế-lỵ, nàng Maddī ấy đi lại trong khu rừng bằng đôi chân (của nàng)!
6344. Sau khi nhìn thấy vị Vessantara ấy, các lãnh tụ xứ Ceta đã đi đến gần, nức nở (nói rằng): “Tâu bệ hạ, phải chăng ngài được an khang? Phải chăng ngài được vô sự? Phải chăng phụ thân của ngài được vô bệnh, và xứ Sivi được vô sự?
6345. Tâu đại vương, quân đội của ngài đâu? Cỗ vương xa của ngài đâu rồi? Ngài đã đi đường xa đến không có ngựa, không có cỗ xe. Phải chăng ngài đã bị các kẻ thù tấn công, rồi ngài đã đến được địa phương này?”
6346. “Này các thân hữu, tôi được an khang. Này các thân hữu, tôi được vô sự. Còn phụ thân của tôi được vô bệnh, và xứ Sivi được vô sự.
6347, 6348, 6349. Bởi vì tôi đã bố thí đến các vị Bà-la-môn con voi thông minh, có ngà như cán cày, xứng đáng để cỡi, biết được địa thế của mọi chiến trường, con voi hạng nhất, toàn màu trắng, được choàng lên tấm len màu vàng cam, đã phát dục, có (khả năng) nghiền nát đối phương, có ngà, có cây quạt lông đuôi bò, màu trắng, tương tự như núi Kelāsa, có chiếc lọng màu trắng, có tấm đệm ngồi, có y sĩ chăm sóc, có viên quản tượng, là phương tiện di chuyển cao quý dành để chuyên chở đức vua.
259. Với quạt đuôi trâu rừng và ngọc thạch, Đã dẫm tan bao đám quân thù địch. Thật hung hăng, dài thẳng tắp đôi ngà, Trắng ngần như núi tuyết Ke-là-sa.
260. Lọng trắng, cân đai xứng ngôi chúa thượng, Với đám quân hầu cùng người quản tượng, Bảo vật này ta đã lấy phát phân.
6350. Các người dân xứ Sivi giận dữ với tôi về việc này, và phụ hoàng có ý bực mình. Đức vua ép buộc tôi, và tôi đi đến núi Vaṅka. Này các thân hữu, hãy tìm cho một khoảng trống ở khu rừng mà chúng tôi có thể cư ngụ.”
6351. “Tâu đại vương, chào mừng ngài đã ngự đến, và việc ngài đã đi đến không gặp khó khăn! Ngài hãy biết rằng ngài là vị chúa tể đã đạt đến vị thế dành cho ngài ở nơi này.
6352. Tâu đại vương, xin ngài hãy thọ dụng rau cải, ngó sen, mật ong, thịt, cơm gạo lúa sāli thuần khiết. Ngài đã đến và là khách của chúng tôi.”
6353. “Hãy để tôi nhận lãnh vật bố thí quý giá đã được làm ra của tất cả các vị. Nhưng đức vua ép buộc tôi, và tôi sẽ đi đến núi Vaṅka. Này các thân hữu, hãy tìm cho một khoảng trống ở khu rừng mà chúng tôi có thể cư ngụ.”
6354. “Tâu đấng thủ lãnh xa binh, xin ngài hãy ở lại ngay tại nơi này, ở đất nước Ceta, trong lúc các người dân xứ Ceta sẽ đi đến để yêu cầu trực tiếp với đức vua, để giải bày với đại vương, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi.
6355. Sau khi tôn vinh ngài đây, được sung sướng với nhân duyên đã đạt, các người dân xứ Ceta sẽ tập hợp lại và sẽ ra đi, tâu vị Sát-đế-lỵ, xin ngài nhận biết như vậy.”
6356. “Chớ vui thích việc ra đi của các vị để yêu cầu trực tiếp với đức vua, để giải bày với đại vương. Đức vua ở nơi ấy không phải là vị chúa tể.
6357. Các đạo quân và các thị dân xứ Sivi quả thật vô cùng giận dữ. Bọn họ muốn truất phế vua bởi vì việc làm của tôi.”
6358. “Nếu việc đó đã xảy ra ở đất nước ấy, tâu vị làm hưng thịnh đất nước, xin ngài hãy trị vì vương quốc ngay tại nơi này, ngài được các người dân xứ Ceta ủng hộ.
6359. Đất nước này giàu có và phồn thịnh, là xứ sở giàu có và rộng lớn. Tâu bệ hạ, xin ngài hãy thực hiện ý định chỉ đạo vương quốc.”
6360. “Hỡi các con dân xứ Ceta, hãy lắng nghe tôi. Tôi đã bị trục xuất ra khỏi đất nước, tôi không có ước muốn hay ý định chỉ đạo vương quốc.
6361. Các đạo quân và các thị dân xứ Sivi có thể không vui, nếu các người dân xứ Ceta làm lễ phong vương cho kẻ đã bị trục xuất ra khỏi đất nước.
6362. Sẽ có sự bất hòa trầm trọng giữa các vị bởi vì việc làm của tôi, và còn có sự gây gỗ của những người dân xứ Sivi; sự cãi vã không được tôi ưa thích.
6363. Rồi sẽ có sự gây gỗ khủng khiếp, sự xung đột không phải là ít. Bởi vì việc làm của một mình tôi mà nhiều người có thể bị hãm hại.
6364. Hãy để tôi nhận lãnh vật bố thí quý giá đã được làm ra của tất cả các vị. Nhưng đức vua ép buộc tôi, và tôi sẽ đi đến núi Vaṅka. Này các thân hữu, hãy tìm cho một khoảng trống ở khu rừng mà chúng tôi có thể cư ngụ.”
6365. “Đương nhiên, chúng tôi thông báo cho ngài tùy theo khả năng. Hãy để cho các vị ẩn sĩ của hoàng gia được an ổn ở nơi mà các ngọn lửa tế thần đã được tập trung lại.
6366. Tâu đại vương, kia là ngọn núi đá Gandhamādana, là nơi mà ngài cùng với hai con và người vợ sẽ cư ngụ.”
6367. Các người dân xứ Ceta với cặp mắt ứa lệ, với khuôn mặt đầy nước mắt, đã chỉ dẫn cho vị ấy rằng: “Tâu đại vương, từ đây, ngày hãy đi thẳng, về phía hướng Bắc.
6368. Thưa ngài, rồi ngài sẽ nhìn thấy ngọn núi tên Vipula, có các cây cối khác loại mọc dày đặc, có bóng râm mát mẻ, làm thích ý.
6369, 6370. Sau khi đã vượt qua nơi ấy, thưa ngài, rồi ngài sẽ nhìn thấy chỗ nước xoáy, có dòng sông tên là Ketumatī sâu thẳm, chảy ra từ hang núi, đông đúc với những loài cá lớn vảy, có bến tắm xinh đẹp, và có nhiều nước. Ngài hãy tắm, uống nước, và thư giãn tại nơi ấy cùng với các con.
283. Đầy cá, tôm, nơi trú ngụ bình an, Dòng nước sâu kia tuôn chảy tràn lan, Ngài sẽ uống, tắm, chơi cùng con cái.
6371. Thưa ngài, rồi ngài sẽ nhìn thấy cây sung có trái ngọt đã được mọc lên ở đỉnh đồi đáng yêu, có bóng râm mát mẻ, làm thích ý.
6372. Thưa ngài, rồi ngài sẽ nhìn thấy ngọn núi tên là Nālika được đông đúc với những bầy chim khác loại, là tảng núi đá được loài nhân điểu lui tới.
6373. Về phía đông bắc của tảng núi đá, hồ nước ấy có tên là Mucalinda, được bao phủ bởi các bông sen trắng và bởi các bông súng trắng.
6374. Ngài đây, tựa như con sư tử có sự quan sát con mồi, đã đi sâu vào khu rừng rậm, là khu rừng tương tự như đám mây, thường xuyên có lớp cỏ xanh bao phủ, được bao phủ bởi cả hai loại: các cây cho hoa và các cây ăn trái.
6375. Tại nơi ấy, ở thân cây đã được nở rộ hoa lúc vào mùa, nhiều con chim có màu sắc khác nhau có giọng hót tròn trịa, có âm thanh ngọt ngào, cất tiếng hót hòa theo con chim đang hót.
6376, 6377. Sau khi đi đến các khe núi hiểm trở và các ngọn nguồn của những dòng sông, ngài sẽ nhìn thấy hồ sen có mọc nhiều loại cây karañja và cây kakudha , được đông đúc với những loài cá lớn vảy, có bến tắm xinh đẹp, có nhiều nước, có bốn cạnh bằng nhau, tốt lành, không có mùi khó chịu.
291. Đầy cá tôm, nơi trú ngụ an thân Dòng nước kia sâu thăm thẳm vô cùng Bền vững, thanh bình, tỏa mùi thơm dịu, Chẳng hơi nồng nặc làm ta khó chịu,
6378. Về phía đông bắc của hồ nước ấy, ngài hãy tạo dựng gian nhà lá. Sau khi đã tạo dựng gian nhà lá, ngài hãy cố gắng trong việc thu nhặt củ quả để mưu sinh.
6379. Có lão Bà-la-môn tên Jūjaka cư ngụ ở xứ Kaliṅga. Ông ấy có người vợ trẻ tên là Amittatāpanā.
6380. Các phụ nữ đội nước ở ngôi làng ấy, sau khi đi đến dòng sông, đã nói về nàng ấy. Những người nữ có tánh bộp chộp, sau khi tụ tập lại, đã mắng nhiếc nàng ấy rằng:
6381. “Mẹ của cô chắc chắn là không thương cô, cha của cô chắc chắn là không thương cô. Họ đã gã cô cho lão già, trong khi cô đang còn trẻ như vậy.
6382. Các thân quyến của cô quả thật không có lợi ích! Họ đã kín đáo bàn bạc. Họ đã gã cô cho lão già, trong khi cô đang còn trẻ như vầy.
6383. Các thân quyến của cô quả thật có hành động sai trái! Họ đã kín đáo bàn bạc. Họ đã gã cô cho lão già, trong khi cô đang còn trẻ như vầy.
6384. Các thân quyến của cô quả thật là độc ác! Họ đã kín đáo bàn bạc. Họ đã gã cô cho lão già, trong khi cô đang còn trẻ như vầy.
6385. Các thân quyến của cô quả thật không được vừa ý! Họ đã kín đáo bàn bạc. Họ đã gã cô cho lão già, trong khi cô đang còn trẻ như vầy.
6386. Cô sống cuộc sống không được vừa ý với người chồng già nua. Cô đây sống với lão già, cái chết đối với cô còn quý hơn mạng sống.
6387. Này mỹ nữ, này người đẹp, phải chăng cha và mẹ đã không tìm kiếm cho cô người chồng khác? Họ đã gã cô cho lão già, trong khi cô đang còn trẻ như vầy.
6388. Việc tế lễ vào ngày mồng chín của cô sẽ được cúng hiến qua loa, việc tế thần lửa của cô sẽ không được thực hiện. Họ đã gã cô cho lão già, trong khi cô đang còn trẻ như vầy.
6389. Phải chăng cô đây, ở thế gian, đã sỉ vả các vị Sa-môn, các vị Bà-la-môn có sự nương tựa vào Phạm hạnh, có giới hạnh, có kiến thức? (Kết quả là) cô đây sống với lão già, trong khi cô đang còn trẻ như vầy.
6390. Bị rắn cắn không khổ, bị gươm đâm không khổ, nhưng khổ sở và đau đớn khi nhìn thấy người chồng già nua.
6391. Không có sự vui đùa, không có sự khoái lạc cùng với người chồng già nua, không có chuyện trò trao đổi, thậm chí nụ cười cũng không rạng rỡ.
6392. Vào lúc chàng trai và cô gái chuyện trò ở nơi vắng vẻ, tất cả các nỗi sầu muộn ẩn náu ở trong tim của hai người đều tiêu tan.
6393. Cô trẻ trung, có sắc đẹp, được các nam nhân mong ước. Cô hãy bỏ đi và hãy ở nhà của các thân quyến, lão già sẽ tạo được điều gì vui sướng?”
6394. “Này ông Bà-la-môn, tôi không đi đến dòng sông mang nước về cho ông nữa. Này ông Bà-la-môn, các người đàn bà mắng nhiếc tôi bởi vì ông già cả.”
6395. “Nàng chớ làm công việc cho tôi nữa, chớ mang nước về cho tôi nữa. Tôi sẽ mang nước về. Phu nhân chớ có nổi giận.”
6396. “Ở gia tộc mà tôi sanh ra không có việc ông phải đi mang nước về. Tôi sẽ không ở trong nhà của ông nữa, này ông Bà-la-môn, ông hãy biết như vậy.
6397. Này ông Bà-la-môn, nếu ông không dẫn về đứa tôi trai hoặc đứa tớ gái cho tôi, tôi sẽ không ở bên cạnh ông nữa, này ông Bà-la-môn, ông hãy biết như vậy.”
6398. “Này nữ Bà-la-môn, tôi không có căn bản nghề nghiệp, tài sản, hoặc lúa gạo, từ đâu tôi sẽ dẫn về đứa tôi trai hoặc đứa tớ gái cho phu nhân? Tôi sẽ phục vụ phu nhân. Phu nhân chớ có nổi giận.”
6399. “Ông hãy đến, tôi sẽ thuật lại cho ông y như lời nói tôi đã nghe được: Vị vua Vessantara ấy cư ngụ ở núi Vaṅka.
6400. Này ông Bà-la-môn, ông hãy đi đến và cầu xin vị ấy đứa tôi trai và đứa tớ gái. Được cầu xin, vị Sát-đế-lỵ ấy sẽ cho đứa tôi trai và đứa tớ gái đến ông.”
6401. “Tôi già cả, yếu sức, và đoạn đường đi thì dài, vô cùng hiểm trở. Xin phu nhân chớ than vãn, và xin phu nhân chớ có ưu tư. Tôi sẽ phục vụ phu nhân. Phu nhân chớ có nổi giận.”
6402. “Giống như người chưa đi đến chiến trường, còn chưa chiến đấu, mà đã bị thua trận, tương tự y như thế, này ông Bà-la-môn, ông còn chưa đi mà đã đầu hàng.
6403. Này ông Bà-la-môn, nếu ông không dẫn về đứa tôi trai hoặc đứa tớ gái cho tôi, tôi sẽ không ở trong nhà của ông nữa, này ông Bà-la-môn, ông hãy biết như vậy. Tôi sẽ làm điều không vừa ý đối với ông, điều ấy sẽ là nỗi khổ đau cho ông.
6404. Vào những dịp lễ hội theo thời tiết liên quan đến các vì tinh tú, lúc ông nhìn thấy tôi, đã được trang điểm, đang vui sướng cùng với những người nam khác, điều ấy sẽ là nỗi khổ đau cho ông.
6405. Trong khi ông bị già nua và than vãn do việc không nhìn thấy tôi, này ông Bà-la-môn, lưng sẽ còng hơn và nhiều sợi tóc bạc sẽ xuất hiện.”
6406. Do đó, lão Bà-la-môn ấy bị sợ hãi, bị khốn khổ bởi sự luyến ái trong các dục, có sự phục tùng người nữ Bà-la-môn, đã nói với người nữ Bà-la-môn điều này:
6407. “Này nữ Bà-la-môn, nàng hãy chuẩn bị lương thực đi đường cho tôi gồm các kẹo mè và các bánh bột đường, các cục mật đã được khéo làm và giỏ thức ăn.
6408. Tôi sẽ dẫn về hai đứa trẻ trai làm nô lệ có cùng dòng dõi với nàng. Chúng sẽ hầu cận nàng ngày đêm không biếng nhác.”
6409. Sau khi nói lời này, lão Bà-la-môn đã mang đôi giày vào. Sau đó, lão ấy đã dặn dò và đi nhiễu quanh người vợ.
6410. Với khuôn mặt đẫm lệ, với dáng vẻ đạo sĩ khổ hạnh, lão Bà-la-môn ấy, trong khi thực hiện việc tìm kiếm tôi tớ, đã đi đến thành phố phồn thịnh của xứ Sivi.
6411. Sau khi đi đến nơi ấy, lão Bà-la-môn ấy đã nói với những người đã tụ tập tại nơi ấy rằng: “Đức vua Vessantara ở đâu? Chúng tôi có thể tìm gặp vị Sát-đế-lỵ ở nơi nào?”
6412. Đám dân chúng ấy, những người đã tụ tập tại nơi ấy, đã nói với lão ấy rằng: “Này Bà-la-môn, bị các ngươi quấy rầy với sự bố thí quá mức, vị Sát-đế-lỵ đã bị trục xuất ra khỏi đất nước của mình và cư ngụ ở núi Vaṅka.
6413. Này Bà-la-môn, bị các ngươi quấy rầy với sự bố thí quá mức, vị Sát-đế-lỵ đã mang theo vợ con và cư ngụ ở núi Vaṅka.”
6414. Bị thúc giục bởi nữ Bà-la-môn, lão Bà-la-môn ấy, có sự tham đắm dục vọng, đã theo đuổi sự sai lầm ấy, ở trong khu rừng đông đúc các thú dữ, được lai vãng bởi loài tê giác và loài báo.
6415. Mang theo cây gậy bằng gỗ beluva , chiếc muỗng tế thần lửa, và cái bình đựng nước, lão ấy đã đi vào khu rừng rộng lớn, nơi lão đã nghe về vị bố thí theo ước muốn.
6416. Khi lão ấy đã đi vào khu rừng rộng lớn, các con chó sói đã vây quanh lão ấy. Lão đã kêu thét lên. Bị lạc lối, lão ấy càng đi ra xa khỏi con đường.
6417. Sau đó, lão Bà-la-môn ấy, bị tham đắm của cải, không tự kiềm chế, đã lạc mất con đường dẫn đến núi Vaṅka. [Bị những con chó vây quanh, lão đã ngồi ở trên cây.] Lão đã nói lên những lời kệ này:
6418. “Người nào cho ta biết về vị thái tử hạng nhất, bậc chiến thắng (tâm bỏn xẻn), không bị khuất phục? Người nào cho ta biết về Vessantara, vị bố thí sự bình an cho kẻ bị sợ hãi?
6419. Người nào cho ta biết về Vessantara, vị đại vương ví như quả đất? Người này là nơi nâng đỡ của những kẻ đang cầu xin, tựa như quả đất là nơi nâng đỡ của các chúng sanh.
6420. Người nào cho ta biết về Vessantara, vị đại vương ví như biển cả? Người này là điểm đến của những kẻ đang cầu xin, tựa như đại dương là điểm đến của các dòng sông.
6421. Người nào cho ta biết về Vessantara, vị đại vương ví như hồ nước, có bến tắm xinh đẹp, trong sạch, có nước mát, làm thích ý, được che phủ bởi các bông sen trắng, được gắn liền với tua nhụy và phấn hoa?
6422. Tựa như cây sung mọc ở đường lộ, có bóng mát, làm thích ý, là nơi nghỉ dưỡng của những người bị mệt mỏi, là nơi tiếp đón những người bị mệt nhọc, người nào cho ta biết về Vessantara, vị đại vương ví như thế ấy?
6423. Tựa như cây đa mọc ở đường lộ, có bóng mát, làm thích ý, là nơi nghỉ dưỡng của những người bị mệt mỏi, là nơi tiếp đón những người bị mệt nhọc, người nào cho ta biết về Vessantara, vị đại vương ví như thế ấy?
6424. Tựa như cây xoài mọc ở đường lộ, có bóng mát, làm thích ý, là nơi nghỉ dưỡng của những người bị mệt mỏi, là nơi tiếp đón những người bị mệt nhọc, người nào cho ta biết về Vessantara, vị đại vương ví như thế ấy?
6425. Tựa như cây sāla mọc ở đường lộ, có bóng mát, làm thích ý, là nơi nghỉ dưỡng của những người bị mệt mỏi, là nơi tiếp đón những người bị mệt nhọc, người nào cho ta biết về Vessantara, vị đại vương ví như thế ấy?
6426. Tựa như cội cây mọc ở đường lộ, có bóng mát, làm thích ý, là nơi nghỉ dưỡng của những người bị mệt mỏi, là nơi tiếp đón những người bị mệt nhọc, người nào cho ta biết về Vessantara, vị đại vương ví như thế ấy?
6427. Và trong lúc than van như vậy, ta đã đi vào khu rừng rộng lớn. Người nào có thể nói rằng: ‘Tôi biết (chỗ ngụ của Vessantara),’ người ấy tạo ra nỗi vui mừng cho ta.’
6428. Và trong lúc than van như vậy, ta đã đi vào khu rừng rộng lớn. Người nào có thể nói rằng: ‘Tôi biết (chỗ ngụ của Vessantara),’ với một lời nói ấy, người ấy có thể tạo nên phước báu không phải là ít.”
6429. Có gã thợ săn người xứ Ceta đang đi trong rừng đã đáp lại lão ấy rằng: “Này Bà-la-môn, bị các ngươi quấy rầy với sự bố thí quá mức, vị Sát-đế-lỵ đã bị trục xuất ra khỏi đất nước của mình và cư ngụ ở núi Vaṅka.
6430. Này Bà-la-môn, bị các ngươi quấy rầy với sự bố thí quá mức, vị Sát-đế-lỵ đã mang theo vợ con và cư ngụ ở núi Vaṅka.
6431. Kẻ ngu muội, không có làm phận sự gì, đã rời khỏi đất nước đi vào rừng tìm kiếm vị thái tử, tựa như con cò đang tìm bắt cá ở vũng nước.
6432. Này Bà-la-môn, ta sẽ không ban cho lão đây còn mạng sống ở nơi này, bởi vì mũi tên này, được ta bắn ra, sẽ uống máu của lão.
6433. Mũi tên, sau khi giết chết lão, sẽ cắt đứt trái tim cùng với thớ thịt. Này Bà-la-môn, ta sẽ cúng tế loài chim ở con đường bằng thịt của lão.
6434. Này Bà-la-môn, ta sẽ cắt đứt trái tim của lão, rồi dâng lên làm vật cúng tế cùng với phần thịt, phần mỡ, và cái đầu của lão.
6435. Này Bà-la-môn, khi trái tim ấy đã khéo được hiến dâng, đã khéo được cúng tế cùng với thịt của lão, lão sẽ không dẫn đi vợ và các con của vị thái tử.”
6436. “Này cậu trai xứ Ceta, hãy lắng nghe ta. Vị Bà-la-môn là người sứ giả, không được giết hại. Chính vì thế, người ta không giết sứ giả; điều này là quy luật cổ xưa.
6437. Mọi người dân Sivi đã suy nghĩ lại. Phụ hoàng muốn gặp vị ấy, và mẫu hậu của ngài ấy yếu sức, không bao lâu nữa cặp mắt sẽ hư hoại.
6438. Ta là người sứ giả đã được họ phái đi. Này cậu trai xứ Ceta, hãy lắng nghe ta. Ta sẽ đưa vị thái tử đi. Nếu ngươi biết, ngươi hãy chỉ cho ta.”
6439. “Lão là vị sứ giả yêu quý của người mà ta yêu quý. Này Bà-la-môn, ta sẽ cho lão được thành tựu trọn vẹn, cùng với hũ mật ong này và đùi thịt nai. Ta sẽ nói cho lão về khu vực ấy, nơi mà vị bố thí theo ước muốn cư ngụ.”
Đoạn Về Bà-la-môn Jūjaka được hoàn tất.
6440. “Này vị Bà-la-môn vĩ đại, kia là ngọn núi đá Gandhamādana, là nơi đức vua Vessantara cư ngụ cùng với hai con.
6441. Vị ấy đang khoác vào bộ dạng Bà-la-môn, mang móc câu và muỗng tế thần lửa, tóc bện, mặc y phục da thú, nằm trên đất, tôn thờ thần lửa.
6442. Những nơi màu xanh ngắt được nhìn thấy kia là những giống cây mang các trái khác loại, và những ngọn núi của giống cây añjana , có màu xanh um, được vươn lên tận đỉnh của đám mây.
6443. Các loại cây dhava , cây long thọ, cây nhục quế, cây sāla , các giống dây leo run rẩy, đung đưa theo làn gió, tựa như những chàng trai trẻ lảo đảo một khi đã uống say.
6444. Ở phía trên những hàng cây, tựa như có những cuộc hòa nhạc được nghe tiếng. Các con chim najjuha , các bầy chim cu cu (líu lo) bay nhảy từ cây này sang cây khác.
6445. Các chiếc lá của những cành cây được lay động tựa như mời gọi người đang đi đến, tựa như làm cho khách đi đến được vui thích, khiến người trú ngụ được hài lòng; nơi ấy đức vua Vessantara cư ngụ cùng với hai con.
6446. Vị ấy đang khoác vào bộ dạng Bà-la-môn, mang móc câu và muỗng tế thần lửa, tóc bện, mặc y phục da thú, nằm trên đất, tôn thờ thần lửa.
6447. (Ở tại nơi này) có các cây xoài, các cây táo rừng, các cây mít, các cây sāla , các cây mận, các cây vibhītaka , các cây harītakī , các cây āmalakā , các cây sung, và các cây táo ta.
6448. Và ở tại nơi này có các cây timba xinh đẹp, các cây đa, và các cây táo rừng, các cây madhuka có vị ngọt chiếu sáng, và các cây sung có trái chín ở chỗ thấp.
6449. Các cây pārevata , các cây chuối có trái dài, các cây nho, và các tổ mật ong. Tại nơi ấy, có thể tự mình lấy mật ong tinh khiết và thọ dụng.
6450. Ở tại nơi này, có một số cây xoài đã được trổ bông, một số khác tồn tại và đã được kết trái, một số khác có trái còn non và đã chín, cả hai (loại trái còn non và đã chín) có màu sắc như của con nhái.
6451. Và ở nơi này, con người đứng ở bên dưới hái những trái xoài chín. Những trái chín và luôn cả những trái còn non là hạng nhất về màu sắc, mùi thơm, và hương vị.
6452. Quả thật là điều quá sức kỳ diệu đối với tôi! Tiếng kêu ‘Ủa’ lóe lên ở tôi. Chỗ ngụ chiếu sáng như là của chư Thiên, tương tự khu vườn Nandana.
6453. Ở khu rừng rộng lớn của những cây chà là, có các cây lá cọ và các cây dừa đứng thẳng, tựa như những tràng hoa đã được kết lại, được nhìn thấy tựa như những cây cờ hiệu, với những bông hoa có nhiều màu sắc khác nhau tựa như các chòm sao điểm tô bầu trời.
6454. Các cây kuṭaji , các cây kuṭṭha , các cây tagara , và các cây pāṭalī đã được trổ hoa. Các cây nguyệt quế, các cây nguyệt quế núi, và các cây koviḷārā đã được trổ hoa.
6455. Các cây bả đậu, các cây soma , các cây kỳ nam, và các cây bhallī là có nhiều. Các cây puttajīva , các cây kakudha , và các cây asana ở nơi này đã được trổ hoa.
6456. Các cây kuṭaja , các cây salala , các cây nīpa , các cây kosamba , các cây sa kê, các cây dhava , và các cây sāla đã được trổ hoa ở tại nơi ấy, tương tự như những đống rơm.
6457. Không xa khu rừng ấy, ở vùng đất làm cho thích ý, có một cái hồ được che phủ bởi các giống sen hồng và sen xanh, tựa như (hồ nước Nandā) ở khu vườn Nandana của chư Thiên.
6458. Rồi ở nơi này, tại thân cây đã được nở rộ hoa lúc vào mùa, các con chim cu cu có giọng hót du dương, bị ngất ngây bởi mật của các bông hoa, làm vang động khu rừng.
6459. Những giọt mật với các bụi phấn hoa nhỏ xuống ở mỗi chiếc lá sen. Rồi ở nơi này, có các làn gió thổi từ hướng nam rồi từ hướng tây; khu ẩn cư được rải rắc bởi bụi phấn từ tua nhụy của các hoa sen.
6460. Ở nơi này, có các cây siṅghāṭaka thô kệch, các giống lúa tự nhiên saṃsādiyā và pasādiyā . Và ở nơi này, có nhiều con cua di chuyển cùng với các con cá và rùa. Có mật ngọt tiết ra từ các củ sen, rồi sữa và bơ lỏng tiết ra từ các rễ sen.
6461. Có mùi thơm ngát thổi vào khu rừng ấy, hòa quyện cùng với các hương thơm khác loại. Khu rừng ấy dường như làm cho con người say đắm với hương thơm, với những cành hoa. Các con ong kêu vo ve ở khắp các nơi bởi mùi thơm của các bông hoa.
6462. Rồi ở nơi này, còn có những con chim, gồm nhiều loài chim có các màu sắc khác nhau. Chúng vui đùa cùng với các con chim mái, hót líu lo với nhau.
6463. Có bốn loài chim làm tổ cạnh hồ nước, có bốn tiếng hót khác nhau, chúc mừng vị Vessantara sống vui vẻ, hạnh phúc cùng với hai con yêu dấu.
6464. Tựa như những tràng hoa đã được kết lại đứng thẳng, tựa như những cây cờ hiệu được nhìn thấy, với những bông hoa có nhiều màu sắc khác nhau được kết lại khéo léo bởi các tay thợ thiện xảo, nơi ấy đức vua Vessantara cư ngụ cùng với hai con.
6465. Vị ấy đang khoác vào bộ dạng Bà-la-môn, mang móc câu và muỗng tế thần lửa, tóc bện, mặc y phục da thú, nằm trên đất, tôn thờ thần lửa.”
(Lời Bà-la-môn Jūjaka)
6466. “Đây là phần ăn lúa mạch của ta, đã được trộn đều với mật ong, và các cục mật ong đã khéo được vo lại. Ta biếu ngươi phần ăn lúa mạch của ta.”
6467. “Hãy để lại phần ăn đi đường cho chính ông. Tôi không cần phần ăn đi đường. Này vị Bà-la-môn, ông hãy bắt đầu từ đây. Này vị Bà-la-môn, ông hãy đi một cách thoải mái.
6468. Lối đi bộ này đi đến, đi thẳng đến khu ẩn cư. Tại nơi ấy, còn có vị ẩn sĩ Accuta, có răng bị đóng bợn, có đầu lấm bụi, đang khoác vào bộ dạng Bà-la-môn, mang móc câu và muỗng tế thần lửa, tóc bện.
6469. Vị ấy, mặc y phục da thú, nằm trên đất, tôn thờ thần lửa. Ông hãy đi đến và hỏi vị ấy. Vị ấy sẽ chỉ đường cho ông.”
6470. Nghe xong điều này, vị thân quyến của đấng Brahmā đã đi nhiễu quanh người thợ săn xứ Ceta, rồi với tâm phấn khởi, đã khởi hành đi đến nơi vị ẩn sĩ Accuta đang ở.
Phần Mô Tả Khu Rừng Nhỏ được hoàn tất.
6471. Trong lúc đang đi, lão (Jūjaka) dòng họ Bhāradvāja ấy đã nhìn thấy vị ẩn sĩ Accuta. Sau khi nhìn thấy vị ấy, lão Bhāradvāja đã tỏ ra thân thiện với vị ẩn sĩ ấy rằng:
6472. “Thưa ngài, phải chăng ngài được an khang? Thưa ngài, phải chăng ngài được vô sự? Phải chăng ngài nuôi sống bằng việc thu nhặt? Phải chăng có nhiều rễ củ và trái cây?
6473. Phải chăng có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát? Phải chăng không có sự hãm hại ở khu rừng đông đúc các loài thú dữ?”
(Lời vị ẩn sĩ Accuta)
6474. “Thưa vị Bà-la-môn, tôi được an khang. Và thưa vị Bà-la-môn, tôi được vô sự. Tôi nuôi sống bằng việc thu nhặt. Rễ củ và trái cây có nhiều.
6475. Có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát. Không có sự hãm hại đến với tôi ở khu rừng đông đúc các loài thú dữ.
6476. Và có nhiều cây cau cho tôi đây khi tôi sống ở khu ẩn cư. Tôi không biết đến bệnh tật không thích ý đã được sanh khởi.
6477. Thưa vị Bà-la-môn vĩ đại, chào mừng ngài đã đến và việc đi đến tốt lành của ngài. Thưa ngài, xin ngài hãy đi vào bên trong. Xin ngài hãy rửa sạch hai bàn chân của ngài.
6478. Thưa vị Bà-la-môn, có các loại trái cây tinduka , piyāla , madhuka , kāsumārī ngọt như mật ong, xin ngài hãy thưởng lãm các trái ngon nhất.
6479. Cũng có nước uống mát lạnh này được mang lại từ hang núi, thưa vị Bà-la-môn vĩ đại, xin ngài hãy uống nước từ nơi ấy nếu ngài muốn.”
6480. “Vật bố thí quý giá của tất cả các vị làm ra đã được ta nhận lãnh. Có người con trai ruột của đại vương Sañjaya đã bị lưu đày bởi những người dân xứ Sivi. Ta đi đến để gặp vị ấy; nếu ngài biết, xin ngài hãy chỉ cho ta.”
6481. “Ngài đi đến gặp đức vua xứ Sivi không có mục đích tốt lành. Tôi nghĩ rằng ngài ước ao người vợ chung thủy của đức vua.
6482. Tôi nghĩ rằng ngài muốn Kaṇhājinā là tớ gái và Jāli là tôi trai. Hay là ngài đã đi đến để đưa ba mẹ con rời khỏi khu rừng. Thưa vị Bà-la-môn, các của cải, tài sản, và lúa gạo của vị vua ấy không thấy có.”
6483. “Thưa ngài đạo sĩ, ta không có dáng vẻ giận dữ, ta không đi đến để cầu xin. Việc nhìn thấy các bậc thánh thiện là tốt đẹp. Việc cộng trú (với họ) luôn luôn an lạc.
6484. Từ khi đức vua xứ Sivi bị lưu đày bởi những người dân xứ Sivi, ta chưa được gặp lại. Ta đi đến để gặp vị ấy; nếu ngài biết, xin ngài hãy chỉ cho ta.”
6485. “Thưa vị Bà-la-môn vĩ đại, kia là ngọn núi đá Gandhamādana, là nơi đức vua Vessantara cư ngụ cùng với hai con.
6486. Vị ấy đang khoác vào bộ dạng Bà-la-môn, mang móc câu và muỗng tế thần lửa, tóc bện, mặc y phục da thú, nằm trên đất, tôn thờ thần lửa.
6487. Những nơi màu xanh ngắt được nhìn thấy kia là những giống cây mang các trái khác loại, và những ngọn núi của giống cây añjana , có màu xanh um, được vươn lên tận đỉnh của đám mây.
6488. Các loại cây dhava , cây long thọ, cây nhục quế, cây sāla , các giống dây leo run rẩy, đung đưa theo làn gió, tựa như những chàng trai trẻ lảo đảo một khi đã uống say.
6489. Ở phía trên những hàng cây, tựa như có những cuộc hòa nhạc được nghe tiếng. Các con chim najjuha , các bầy chim cu cu (líu lo) bay nhảy từ cây này sang cây khác.
6490. Các chiếc lá của những cành cây được lay động tựa như mời gọi người đang đi đến, tựa như làm cho khách đi đến được vui thích, khiến người trú ngụ được hài lòng; nơi ấy đức vua Vessantara cư ngụ cùng với hai con.
6491. Vị ấy đang khoác lên bộ dạng Bà-la-môn, mang móc câu và muỗng tế thần lửa, tóc bện, mặc y phục da thú, nằm trên đất, tôn thờ thần lửa.
6492. Những chùm hoa kareri lan rộng ở vùng đất làm cho thích ý. Mặt đất xanh tươi màu cỏ mới; tại nơi ấy không có bụi bặm bốc lên.
6493. Các cọng cỏ (có màu sắc) giống như cái cổ của loài chim công, (mềm mại) tương tự như sự xúc chạm với bông gòn, và không vươn lên quá bốn ngón tay ở xung quanh.
6494. Các trái xoài, mận đỏ, táo rừng, và các trái sung chín muồi ở chỗ thấp bên dưới. Với các giống cây sản xuất ra hoa quả, khu rừng ấy là nơi làm tăng trưởng niềm thích thú.
6495. Ở tại nơi ấy, cũng có dòng nước trôi chảy với nước trong sạch, có mùi thơm, tương tự màu sắc của ngọc bích, được lai vãng bởi những đàn cá.
6496. Không xa khu rừng ấy, ở vùng đất làm cho thích ý, có một cái hồ được che phủ bởi các giống sen hồng và sen xanh, tựa như (hồ nước Nandā) ở khu vườn Nandana của chư Thiên.
6497. Thưa vị Bà-la-môn, ở trong hồ nước ấy có ba giống hoa sen với nhiều màu sắc: một số màu xanh, một số màu trắng, và một số màu đỏ.
6498. Các hoa sen ở tại nơi ấy tựa như vải sợi len. Hồ nước ấy có tên là Mucalinda, được che phủ bởi các loài sen trắng, súng trắng, và cây kalamba .
6499. Rồi ở nơi này, các hoa sen nở rộ được nhìn thấy như là vô số kể. Chúng nở rộ vào mùa nóng, vào mùa lạnh; chúng vươn cao đến đầu gối, và che lấp phần ở bên dưới.
6500. Có những hương thơm tỏa ra bao trùm các bông hoa nhiều màu sắc. Các con ong kêu vo ve ở khắp các nơi bởi mùi thơm của các bông hoa.
6501. Rồi ở nơi này, thưa vị Bà-la-môn, có những giống cây sống ở trong nước. Các cây kadamba , các cây pāṭalī nở rộ, và các cây kovilāra đã được trổ hoa.
6502. Các cây aṅkola , các cây kaccikāra , và các cây pārijañña đã được trổ hoa. Có những cây vāraṇa và sāyana ở hai bên bờ hồ Mucalinda.
6503. Các cây keo, các cây setapārīsa , các cây padmaka tỏa ra làn gió tốt lành. Các cây nigguṇḍī , các cây sirinigguṇḍī , và các cây asana ở nơi ấy được đã được trổ hoa.
6504. Các cây paṃgura , các cây vakula , các cây sāla , và các cây sobhañjana đã được trổ hoa. Các cây ketaka , các cây kaṇikāra , và các cây kaṇavera đã được trổ hoa.
6505. Các cây ajjuna , các cây ajjukaṇṇa , và các cây mahānāma đã được trổ hoa. Các cây kiṃsuka đứng thẳng, với các ngọn đã được trổ hoa trọn vẹn, tựa như đang cháy sáng.
6506. Các cây setapaṇṇi , các cây thất diệp, các cây chuối, các cây kusumbhara , các cây dhanu , các cây takkārī , cùng với các cây siṃsapā và các cây varaṇa có các bông hoa.
6507. Các cây acchiva , các cây sabala , các cây sallakī , các cây setageru , các cây tagara , các cây maṃsi , các cây kuṭṭha , và các cây kulāvara đã được trổ hoa.
6508. Các cây mới lớn và các cổ thụ ở nơi này không bị cong queo, đã trổ hoa, mọc ở cả hai bên của khu ẩn cư, xung quanh ngôi nhà thờ lửa.
6509. Rồi ở nơi này, các cây phajjaṇika được sanh trưởng nhiều ở trong nước, có các loại cây họ đậu như muggati và karati , có nhiều rong rêu và loài thủy thảo siṃsaka .
6510. Nước hồ được bao bọc bởi các bờ đất và bị xao động bởi gió. Có các loài ong tên gọi là hiṃgujāla . Và ở nơi này, có các cây dāsīma và các cây kacaka , có nhiều cây kalamba nhỏ thấp.
6511. Thưa vị Bà-la-môn, các cây còn sống được bao phủ bởi giống dây leo eḷambaraka ; hương thơm của chúng được lưu lại bảy ngày.
6512. Các bông hoa xinh đẹp tồn tại ở hai bên hồ Mucalinda. Được bao phủ bởi các loài hoa súng xanh, khu rừng ấy trở nên rạng rỡ; hương thơm của chúng được lưu lại nửa tháng.
6513. Các loài dây leo nīlapupphī , setavārī , girikaṇṇikā đã được trổ hoa, Khu rừng ấy được bao phủ bởi các cây kaṭeruka và các bụi cây tulasī .
6514. Khu rừng ấy dường như làm cho con người say đắm với hương thơm, với những cành hoa. Các con ong kêu vo ve ở khắp các nơi bởi mùi thơm của các bông hoa.
6515. Thưa vị Bà-la-môn, có ba loại dây bí đã mọc lên ở cái hồ nước ấy. Và một số có trái lớn bằng chậu nước, hai loại kia có trái lớn bằng cái trống con.
6516. Rồi ở nơi này, có nhiều cây cải, cây tỏi màu xanh, cây asī tựa như cây thốt nốt sinh trưởng; có nhiều hoa súng xanh có thể ngắt (bằng tay).
6517. (Có các loài dây leo như) cây apphoṭā , cây suriyavallī , cây kāḷiyā , cây madhugandhiya , cây asoka , cây mudayantī , cây vallibha , và cây khuddapupphiya .
6518. Các bụi cây koraṇḍaka , cây anojā , các loài dây leo nāgā và vallikā đã được trổ hoa. Các loài dây leo kiṃsuka đã leo lên thân cây rồi sinh trưởng, và nở rộ hoa.
6519. Các cây kaṭeruha , cây vāsantī , cây yūthikā , cây madhugandhiya , cây nīliyā , cây hoa nhài trâu, cây bhaṇḍī , cây padumuttara rạng ngời rực rỡ.
6520. Các cây hoa kèn, cây samuddakappāsi , và cây kaṇikārā đã trổ hoa, được nhìn thấy tựa như tấm lưới bằng vàng, sáng lấp lánh tương tự ngọn lửa.
6521. Bất cứ những loài hoa nào đã sinh trưởng ở đất liền và ở trong nước, tất cả đều được nhìn thấy ở tại nơi ấy; hồ Mucalinda chứa đựng khối nước lớn đáng yêu như vậy.
6522. Rồi hồ nước này có nhiều loài thủy tộc, như là cá rohita , cá naḷapī , cá siṅgu , cá sấu, cá kiếm, và cá susu .
6523. Mật ong, cây cam thảo, và cây tālīsa , cây piyaṅguka , cây unnaka , cây bhaddamutta , cây satapuppha , và cây lolupa .
6524. Và các loại cây có mùi thơm là vô số như cây tagara , cây tuṅgavaṇṭaka , cây padmaka , cây narada , cây kuṭṭha , cây jhāmaka , và cây hareṇukā .
6525. Các cây nghệ, các loại đá thơm, và các cây hirivera , cây guggula , cây vibhedikā , cây coraka , cây kuṭṭha , cây long não, cây kaliṅgu .
6526. Rồi ở nơi này, có các con sư tử, các con cọp, các nữ Dạ-xoa mặt lừa, các con voi, các con sơn dương, các con hoẵng, và có cả các con hươu, các con nai rừng.
6527. Hai loài chó: chó koṭṭhu và chó suṇa , các con nai nhỏ, chồn bay, sóc, bò mộng, hai loài nai: nai calanī và nai laṅghī , ba loài khỉ: khỉ jhāpitā , khỉ makkaṭā , và khỉ picu .
6528. Hai loài nai lớn: nai kakkaṭa và nai katamāya , gấu, trâu rừng là có nhiều, tê ngưu, heo rừng, cáo, và sóc đen là vô số ở nơi này.
6529. Các con trâu rừng, chó nhà, chó rừng, và các con vượn ở khắp nơi; các con kỷ đà, tắc kè, nai đốm, và cả các con báo.
6530. Các con thỏ rừng, diều hâu, sư tử, chim quạ, gà lôi, nai, chim công, thiên nga trắng, và chim trĩ.
6531. Các con gà gô, gà rừng, các con voi cất tiếng hót đối đáp qua lại; có các chim cò, chim diệc, gà nước, chim le le, chim kuñja , và chim vādika .
6532. Các chim ưng, chim diều hâu đỏ, chim pampaka , chim jīvajīvaka , chim kapiñjara , chim đa đa, chim kulāva , và chim paṭikuttaka .
6533. Các con chim maddālaka , chim celakedu , chim bhaṇḍu , và chim tên đa đa, chim celābaka , chim piṅgulā , chim godhaka , và chim aṅgahetuka .
6534. Các con chim karaviya , chim vagga , chim cú mèo, chim ưng biển. (Khu rừng) được đông đúc với những bầy chim khác loại, líu lo với nhiều giọng hót khác nhau.
6535. Rồi ở nơi này, có những con chim màu lục sẫm có tiếng hót du dương; chúng vui đùa với những con chim mái, cất tiếng hót đối đáp qua lại.
6536. Rồi ở nơi này, có những con chim là loài lưỡng sanh có âm giọng du dương đều đều, có cặp mắt đẹp với đuôi mắt màu trắng, có chùm lông đuôi nhiều màu sắc.
6537. Rồi ở nơi này, có những con chim là loài lưỡng sanh có âm giọng du dương đều đều, là những con chim công với những cái cổ màu lục, cất tiếng hót đối đáp qua lại.
6538. Các con chim trĩ, chim kulīraka , chim gõ kiến, chim pokkharasātaka , chim kāḷāmeyya , chim balīyakkha , chim kadamba , chim két, và chim sāḷika .
6539. Rồi ở nơi này, các con chim naḷaka màu vàng nghệ, màu đỏ, màu trắng là có nhiều, chim vāraṇa , chim hiṅgurāja , chim kadamba , chim két, và chim cu cu.
6540. Các con chim ưng, chim ó biển, chim thiên nga, chim bồ nông, chim parivadantika , chim pākahaṃsa vô cùng mạnh mẽ, chim najjuha , và chim jīvajīvaka .
6541. Các con chim bố câu, chim ravihaṃsa , chim hồng hạc, chim nadīcara , chim vāraṇa với tiếng kêu đáng yêu, cất lên tiếng hót vào cả hai thời điểm (ban ngày và ban đêm).
6542. Rồi ở nơi này, có nhiều con chim là các loài lưỡng sanh với nhiều màu sắc khác nhau; chúng vui đùa cùng những con chim mái, cất tiếng hót đối đáp qua lại.
6543. Rồi ở nơi này, có nhiều con chim là các loài lưỡng sanh với nhiều màu sắc khác nhau, tất cả bọn chúng hót lên những điệu nhạc du dương ở hai bên bờ hồ Mucalinda.
6544. Rồi ở nơi này, có những con chim là loài lưỡng sanh tên gọi karaviya ; chúng vui đùa cùng những con chim mái, cất tiếng hót đối đáp qua lại.
6545. Rồi ở nơi này, có những con chim là loài lưỡng sanh tên gọi karaviya ; tất cả bọn chúng hót lên những điệu nhạc du dương ở hai bên bờ hồ Mucalinda.
6546. Khu rừng đông đúc với các con sơn dương, các con hoẵng, được tới lui bởi các con voi, được che phủ bởi những loài dây leo khác nhau, được lai vãng bởi các con nai kadali .
6547. Rồi ở nơi này, có nhiều cây cải, nhiều lúa mọc hoang và đậu varaka , lúa sāli đơm hạt không phải cày bừa và cây mía ở nơi ấy không phải là ít.
6548. Lối đi bộ này đi đến, đi thẳng đến khu ẩn cư. Người đã đạt đến nơi ấy không tìm thấy sự đói, sự khát, và sự bất mãn, là nơi đức vua Vessantara cư ngụ cùng với hai con.
6549. Vị ấy đang khoác vào bộ dạng Bà-la-môn, mang móc câu và muỗng tế thần lửa, tóc bện, mặc y phục da thú, nằm trên đất, tôn thờ thần lửa.”
6550. Nghe được điều này, lão Bà-la-môn đã đi nhiễu quanh vị ẩn sĩ, rồi với tâm phấn khởi, đã khởi hành đi đến nơi vị Vessantara đang ở.
Phần Mô Tả Khu Rừng Lớn được hoàn tất.
(Lời vị Vessantara)
6551. “Này Jāli, con hãy đứng lên và hãy đứng ngay ngắn. Được nhìn thấy như là trước đây, như khi cha nhìn thấy vị Bà-la-môn, các niềm vui lan tỏa ở nơi cha.”
6552. “Thưa cha, con cũng nhìn thấy; vị ấy có vẻ như là vị Bà-la-môn, dường như vị ấy đi đến có mục đích. Chúng ta sẽ có khách.”
(Lời trao đổi giữa Bà-la-môn Jūjaka và vị Vessantara)
6553. “Thưa ngài, phải chăng ngài được an khang? Thưa ngài, phải chăng ngài được vô sự? Phải chăng ngài nuôi sống bằng việc thu nhặt? Phải chăng có nhiều rễ củ và trái cây?
6554. Phải chăng có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát? Phải chăng không có sự hãm hại ở khu rừng đông đúc các loài thú dữ?”
6555. “Này vị Bà-la-môn, chúng tôi được an khang. Và Này vị Bà-la-môn, chúng tôi được vô sự. Chúng tôi nuôi sống bằng việc thu nhặt. Rễ củ và trái cây có nhiều.
6556. Có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát. Không có sự hãm hại đến với chúng tôi ở khu rừng đông đúc các loài thú dữ.
6557. Suốt bảy tháng chúng tôi sống cuộc sống sầu muộn ở trong rừng, chúng tôi nhìn thấy người này đầu tiên, là vị Bà-la-môn với dáng vóc thiên thần, mang theo cây gậy bằng gỗ beḷuva , cái bật lửa, và bình nước uống.
6558. Này vị Bà-la-môn vĩ đại, chào mừng ông đã đến và việc đi đến tốt lành của ông. Xin ông hãy đi vào bên trong. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho ông. Xin ông hãy rửa sạch hai bàn chân của ông.
6559. Này vị Bà-la-môn, có các loại trái cây tinduka , piyāla , madhuka , kāsumārī ngọt như mật ong, xin ông hãy thưởng lãm các trái ngon nhất.
6560. Cũng có nước uống mát lạnh này được mang lại từ hang núi, Này vị Bà-la-môn vĩ đại, xin ông hãy uống nước từ nơi ấy nếu ông muốn.
6561. Vậy thì vì lý do gì, hay là vì nguyên nhân gì, mà ông đã đi đến khu rừng rộng lớn? Được hỏi, xin ông hãy giải thích điều ấy cho tôi.”
6562. “Giống như dòng nước chảy luôn luôn được tràn đầy, không bị cạn kiệt, tương tự như vậy, ta đã đi đến để cầu xin ngài. Được yêu cầu, xin ngài hãy ban cho ta hai người con.”
6563. “Tôi sẽ ban cho, tôi không do dự. Này vị Bà-la-môn, ông là chủ nhân, ông hãy dẫn chúng đi. Vào buổi sáng, nàng công chúa đã ra đi, chiều tối, nàng sẽ trở về sau việc thu nhặt củ quả.
6564. Này vị Bà-la-môn, ông hãy ở qua một đêm, đến sáng hãy ra đi, để nàng ấy tắm rửa, xức dầu thơm, rồi đeo tràng hoa cho chúng.
6565. Này vị Bà-la-môn, ông hãy ở qua một đêm, đến sáng hãy ra đi. Này vị Bà-la-môn, ông sẽ ra đi mang theo hai đứa trẻ đã được che phủ với các bông hoa khác nhau, đã được tô điểm với nhiều hương thơm khác nhau, đã được chất đầy với các loại củ quả khác nhau.”
6566. “Ta không thích thú việc ở lại, việc ra đi được ta vui thích. Có thể có sự nguy hiểm cho ta, thưa đấng thủ lãnh xa binh, ta cần phải ra đi.
6567. Bởi vì nàng ấy không sẵn sàng đáp ứng lời cầu xin, có thể gây trở ngại. Các nữ nhân biết được quỷ kế. Họ nắm giữ mọi thứ theo sự sai trái.
6568. Đối với người đang bố thí vật thí vì niềm tin (vào nghiệp và quả), chớ nhìn người mẹ của những đứa trẻ ấy. Nàng ấy thậm chí có thể gây trở ngại, thưa đấng thủ lãnh xa binh, ta cần phải ra đi.
6569. Xin ngài hãy thông báo cho hai đứa trẻ ấy. Chớ để hai đứa trẻ nhìn thấy mẹ của chúng. Đối với người đang bố thí vật thí vì niềm tin (vào nghiệp và quả), như vậy phước báu được tăng trưởng.
6570. Xin ngài hãy thông báo cho hai đứa trẻ ấy. Chớ để hai đứa trẻ nhìn thấy mẹ của chúng. Tâu bệ hạ, sau khi bố thí tài sản đến người như ta đây, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.”
6571. “Nếu ông không muốn gặp người vợ chung thủy của tôi, ông hãy cho cả hai Jāli và Kaṇhājinā gặp mặt ông nội.
6572. Sau khi nhìn thấy hai đứa trẻ có giọng nói du dương, có lời nói đáng yêu này, ông nội sẽ sung sướng, có thiện ý, hân hoan, rồi sẽ ban cho ông nhiều tài sản.”
6573. “Ta sợ hãi về tội bắt cóc. Thưa thái tử, xin ngài hãy lắng nghe tôi. Đức vua có thể ban cho ta hình phạt, có thể bán ta đi, hoặc giết chết ta. Bị thất bại về tài sản và những kẻ nô tỳ, ta sẽ bị chê trách bởi vị nữ Bà-la-môn (người vợ).”
6574. “Sau khi nhìn thấy hai đứa trẻ có giọng nói du dương, có lời nói đáng yêu này, vị đại vương, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đứng vững ở công lý, sau khi đạt được tâm phỉ lạc, sẽ ban cho ông nhiều tài sản.”
6575. “Ta sẽ không làm theo điều mà ngài chỉ bảo cho ta. Và ta sẽ dẫn hai đứa trẻ về làm người hầu hạ cho vị nữ Bà-la-môn.”
6576. Vì thế, sau khi nghe được lời nói của kẻ hung ác, cả hai đứa trẻ Jāli và Kaṇhājinā, bị bức hiếp, đã bỏ chạy đến nơi này nơi khác.
(Lời vị Vessantara nói với con trai Jāli)
6577. “Này con thương, con hãy đến. Này con trai yêu quý, con hãy làm cho pháp toàn hảo của cha được hoàn tất. Con hãy tưới mát trái tim của cha, hãy làm theo lời nói của cha.
6578. Và con hãy là phương tiện di chuyển, là chiếc thuyền không bị chao đảo của cha ở biển cả của hiện hữu. Cha sẽ vượt qua bờ kia của sự sanh, cha sẽ giúp cho cả thế gian luôn cả chư Thiên vượt qua.”
(Lời vị Vessantara nói với con gái Kaṇhājinā)
6579. “Này con thương, con hãy đến. Này con gái yêu quý, con hãy làm cho pháp toàn hảo của cha được hoàn tất. Con hãy tưới mát trái tim của cha, hãy làm theo lời nói của cha.
6580. Và con hãy là phương tiện di chuyển, là chiếc thuyền không bị chao đảo của cha ở biển cả của hiện hữu. Cha sẽ vượt qua bờ kia của sự sanh, cha sẽ nâng đỡ thế gian luôn cả chư Thiên.”
6581. Sau đó, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi đã dắt hai đứa trẻ Jāli và Kaṇhājinā lại, rồi đã bố thí vật thí đến lão Bà-la-môn.
6582. Sau đó, vị Vessantara đã dắt hai đứa trẻ Jāli và Kaṇhājinā lại, rồi đã hân hoan bố thí vật thí tối thượng – là hai đứa con nhỏ – đến lão Bà-la-môn.
6583. Lúc bấy giờ, việc ấy đã là sự kinh hoàng. Lúc bấy giờ, đã có sự dựng đứng lông. Vào lúc hai đứa con nhỏ được ban ra, trái đất đã rúng động.
6584. Lúc bấy giờ, việc ấy đã là sự kinh hoàng. Lúc bấy giờ, đã có sự dựng đứng lông. Vào lúc đức vua, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đã chắp tay lại, và đã bố thí vật thí – là hai đứa trẻ đã được sống sung sướng – đến lão Bà-la-môn.
6585. Sau đó, lão Bà-la-môn hung ác ấy đã dùng những chiếc răng cắn đứt sợi dây rừng, và đã trói hai cánh tay của hai đứa trẻ lại bằng sợi dây rừng, rồi đã dùng sợi dây rừng quất vào chúng.
6586. Kế đến, lão Bà-la-môn ấy đã cầm lấy sợi dây thừng và đã cầm lấy cây gậy, rồi vừa đánh đập vừa dẫn chúng đi, trong khi đức vua xứ Sivi đang dõi mắt nhìn theo.
6587. Tiếp đó, hai đứa trẻ, sau khi được thoát khỏi lão Bà-la-môn, đã bỏ đi. Đứa bé trai ấy đã ngước nhìn cha với cặp mắt tràn đầy nước mắt.
6588. Đứa bé trai đảnh lễ hai bàn chân của người cha, trong khi đang run rẩy tựa như chiếc lá sung. Sau khi đảnh lễ hai bàn chân của người cha, nó đã nói lời nói này:
6589. “Thưa cha, trong lúc mẹ đi vắng, và thưa cha, cha sẽ bố thí chúng con. Thưa cha, hãy chờ đến khi chúng ta gặp lại mẹ rồi cha sẽ bố thí chúng con.
6590. Thưa cha, trong lúc mẹ đi vắng, và thưa cha, cha sẽ bố thí chúng con. Thưa cha, cha chớ bố thí chúng con cho đến khi mẹ về lại với chúng con. Khi ấy, hãy để cho lão Bà-la-môn này bán chúng con hoặc giết chết tùy ý.
6591. Bàn chân (của lão) to rộng, móng dơ dáy, mông xệ xuống, môi trên trề ra, nhểu nước miếng, nhe răng nanh, mũi bị gãy.
6592. Bụng (của lão) như cái lu, lưng còng, rồi hai mắt không đều, râu màu hung đỏ, tóc màu vàng, da nhăn nheo, lấm tấm các chấm tàn nhang.
6593. Hai mắt như mắt mèo, hông, lưng, và thân cong quẹo, bàn chân bị biến dạng, mặc y phục da dê đồ sộ và thô kệch, không giống con người, là kẻ gây nên nỗi sợ hãi.
6594. Thưa cha, lão là người hay là Dạ-xoa có thức ăn là thịt và máu, mà lão đã từ làng đi vào rừng cầu xin cha tài sản? Trong khi chúng con bị quỷ sứ dẫn đi, tại sao cha lại dửng dưng?
6595. Phải chăng trái tim của cha là tảng đá, là cục sắt có sự trói buộc chặt chẽ, khi cha không biết đến chúng con bị lão Bà-la-môn tầm cầu tài sản, vô cùng hung ác, trói lại và đánh đập chúng con như là đánh đập trâu bò?
6596. Hãy để Kaṇhā ở lại ngay tại nơi này. Nó không hiểu biết bất cứ việc gì. Nó tựa như con nai cái nhỏ bị lạc khỏi bầy, thèm khát sữa mẹ, kêu khóc.
6597. Việc (bị đánh đập) như thế này không là điều khổ sở đối với con, bởi vì việc này loài người có thể nhận lãnh. Và việc con không còn nhìn thấy mẹ, việc ấy đối với con là khổ sở hơn việc (bị đánh đập) này.
6598. Việc (bị đánh đập) như thế này không là điều khổ đau đối với con, bởi vì việc này loài người có thể nhận lãnh. Và việc con không còn nhìn thấy cha, việc ấy đối với con là khổ sở hơn việc (bị đánh đập) này.
6599. Người mẹ khốn khổ ấy quả thật sẽ khóc lóc trong đêm dài, khi không nhìn thấy Kaṇhājinā, cô bé gái có dáng vẻ dễ mến.
6600. Người cha khốn khổ ấy quả thật sẽ khóc lóc trong đêm dài, khi không nhìn thấy Kaṇhājinā, cô bé gái có dáng vẻ dễ mến.
6601. Người mẹ khốn khổ ấy quả thật sẽ khóc lóc dài lâu ở khu ẩn cư, khi không nhìn thấy Kaṇhājinā, cô bé gái có dáng vẻ dễ mến.
6602. Người cha khốn khổ ấy quả thật sẽ khóc lóc dài lâu ở khu ẩn cư, khi không nhìn thấy Kaṇhājinā, cô bé gái có dáng vẻ dễ mến.
6603. Người mẹ khốn khổ ấy quả thật sẽ khóc lóc trong đêm dài, vào lúc nửa đêm hoặc lúc cuối đêm, tựa như dòng sông sẽ trở nên khô cạn.
6604. Người cha khốn khổ ấy quả thật sẽ khóc lóc trong đêm dài, vào lúc nửa đêm hoặc lúc cuối đêm, tựa như dòng sông sẽ trở nên khô cạn.
6605. Những cây táo hồng, những cây vedisa , những cây sindhuvārika này thuộc về cha, hôm nay, chúng con từ giã những giống cây đa dạng ấy.
6606. Những cây sung, những cây mít, những cây đa, những cây táo rừng này, hôm nay, chúng con từ giã những loại trái cây đa dạng ấy.
6607. Những khu vườn này tồn tại, dòng sông có nước mát này, là những nơi chúng con đùa giỡn trước đây, hôm nay, chúng con từ giã chúng.
6608. Những thứ trái cây nhiều loại ở bên trên ngọn núi này, những trái cây chúng con mang đi trước đây, hôm nay, chúng con từ giã chúng.
6609. Những thứ trái cây nhiều loại ở bên trên ngọn núi này, những trái cây chúng con ăn trước đây, hôm nay, chúng con từ giã chúng.
6610. Những con voi, những con ngựa (đồ chơi) này của chúng con, và những con trâu (đồ chơi) này của chúng con, chúng con đùa giỡn với chúng trước đây, hôm nay, chúng con từ giã chúng.”
6611. Hai đứa trẻ ấy, trong khi bị lôi đi, đã nói với người cha điều này: “Cha ơi, cầu mong mẹ sẽ sống mạnh khỏe, và cầu mong cha được an lạc.
6612. Những con voi, những con ngựa (đồ chơi) này của chúng con, và những con trâu (đồ chơi) này của chúng con, cha có thể trao chúng cho mẹ; với chúng mẹ sẽ vơi đi nỗi sầu muộn.
6613. Những con voi, những con ngựa (đồ chơi) này của chúng con, và những con trâu (đồ chơi) này của chúng con, trong khi ngắm nhìn chúng, mẹ sẽ dẹp đi nỗi sầu muộn.”
6614. Sau đó, khi đã bố thí xong vật thí (hai con), đức vua Vessantara, vị Sát-đế-lỵ, đã đi vào gian nhà lá và đã than khóc một cách bi thương rằng:
6615. “Vậy thì hôm nay, hai đứa trẻ sẽ khóc lóc với ai khi bị đói, bị khát? Ai sẽ cho chúng thức ăn lúc chiều tối vào thời điểm đi ngủ?
6616. Vậy thì hôm nay, hai đứa trẻ sẽ khóc lóc với ai khi bị đói, bị khát lúc chiều tối vào thời điểm đi ngủ rằng: ‘Mẹ ơi, chúng con đói. Hãy cho chúng con ăn’?
6617. Làm thế nào chúng có thể đi bộ đường xa, không giày dép, bị mệt nhọc với hai bàn chân bị sưng vù? Ai sẽ nắm lấy bàn tay chúng (dẫn đi)?
6618. Tại sao lão ấy không có xấu hổ trong khi đánh đập chúng ngay trước mặt ta, trong khi hai đứa con của ta không phải là những đứa trẻ tồi bại? Lão Bà-la-môn quả thật vô liêm sỉ!
6619. Người có sự liêm sỉ thì ai sẽ đánh đập kẻ vô cùng hư hỏng, khi chính kẻ ấy có thể là tôi trai, tớ gái, hay là kẻ hầu hạ nào khác của ta?
6620. Lão sỉ vả và đánh đập hai đứa con yêu quý của ta, trong khi ta tựa như con cá đã bị giam hãm ở miệng của chiếc lưới đánh cá.
6621. Ta sẽ cầm lấy cây cung và buộc thanh gươm ở phía trái, rồi sẽ dẫn đi hai đứa con của mình, bởi vì sự đọa đày của hai đứa con là nỗi khổ đau.
6622. Điều này là không có cơ sở, là trạng thái khổ đau về việc hai đứa trẻ có thể bị giết chết. Người nào đã hiểu rõ truyền thống của các bậc thiện nhân mà còn bị tiếc nuối sau khi đã bố thí?”
(Lời Lời than van của bé trai Jāli)
6623. “Nghe rằng sự thật là như vầy, một số người ở thế gian này đã nói rằng: ‘Người nào (có cha) mà không có mẹ của mình thì giống như là không có; ta đây là như thế ấy.
6624. Này Kaṇhā, hãy đến. Chúng ta sẽ chết. Mạng sống của chúng ta không có ý nghĩa gì. Chúng ta đã được cha bố thí cho lão Bà-la-môn tầm cầu tài sản, vô cùng hung ác, là kẻ đánh đập chúng ta như là đánh đập trâu bò.
6625. Những cây táo hồng, những cây vedisa , những cây sindhuvārika này thuộc về cha, này Kaṇhā, chúng ta từ giã những giống cây đa dạng ấy.
6626. Những cây sung, những cây mít, những cây đa, những cây táo rừng này, này Kaṇhā, chúng ta từ giã những loại trái cây đa dạng ấy.
6627. Những khu vườn này tồn tại, dòng sông có nước mát này, là những nơi chúng con đùa giỡn trước đây, hôm nay, chúng ta từ giã chúng.
6628. Những thứ trái cây nhiều loại ở bên trên ngọn núi này, những trái cây chúng ta mang đi trước đây, này Kaṇhā, chúng ta từ giã chúng.
6629. Những thứ trái cây nhiều loại ở bên trên ngọn núi này, những trái cây chúng ta ăn trước đây, này Kaṇhā, chúng ta từ giã chúng.
6630. Những con voi, những con ngựa (đồ chơi) này của chúng ta, và những con trâu (đồ chơi) này của chúng ta, chúng ta đùa giỡn với chúng trước đây, này Kaṇhā, chúng ta từ giã chúng.”
6631. Hai đứa trẻ ấy, trong khi bị lôi đi, sau khi được thoát khỏi lão Bà-la-môn, cả hai đứa trẻ Jāli và Kaṇhājinā đã bỏ chạy đến nơi này nơi khác.
6632. Sau đó, lão Bà-la-môn ấy đã cầm lấy sợi dây thừng và đã cầm lấy cây gậy, rồi vừa đánh đập vừa dẫn chúng đi, trong khi đức vua xứ Sivi đang dõi mắt nhìn theo.
6633. Kaṇhājinā đã nói điều ấy với cha rằng: “Cha ơi, lão Bà-la-môn này đánh con bằng cây gậy như là đánh đứa tớ gái đã được sanh ra ở trong nhà.
6634. Và cha ơi, lão này không phải là Bà-la-môn; các vị Bà-la-môn là có đạo lý. Cha ơi, gã Dạ-xoa với vóc dáng Bà-la-môn dẫn chúng con đi để ăn thịt. Trong khi chúng con bị quỷ sứ dẫn đi, tại sao cha lại dửng dưng?”
(Lời than van của bé gái Kaṇhājinā)
6635. “Các bàn chân nhỏ của chúng con đau nhức, và cuộc hành trình dài là vô cùng khó đi. Mặt trời treo lơ lửng ở dưới thấp, và lão Bà-la-môn thúc giục chúng con bước đi.
6636. Chúng con cầu khấn các thần linh, các ngọn núi và các khu rừng. Chúng con xin cúi đầu đảnh lễ (các gia tộc loài rồng cai quản) hồ nước và (đang cư ngụ) ở dòng sông có những bến tắm xinh đẹp.
6637. Thưa các loài cỏ, các giống dây leo, các thảo dược, các ngọn núi và các khu rừng, xin các ngài hãy chúc sức khỏe cho mẹ. Lão Bà-la-môn này dẫn chúng con đi.
6638. Xin các ngài hãy nói với mẹ Maddī, là mẹ của chúng con, rằng: ‘Nếu mẹ muốn đuổi theo, mẹ nên mau chóng đuổi theo chúng con.
6639. Lối đi bộ này đi đến, đi thẳng đến khu ẩn cư. Mẹ nên đi theo chính lối đi ấy, mẹ có thể mau chóng nhìn thấy chúng con.
6640. Ôi, hỡi người mẹ có tóc bện, hỡi người mẹ mang lại rễ và trái cây rừng, sau khi nhìn thấy khu ẩn cư trống không, điều ấy sẽ là nỗi đau khổ cho mẹ.
6641. Phải chăng quá tốn thời gian cho mẹ trong việc đạt được không ít củ quả thu nhặt? Và mẹ không biết chúng con bị lão Bà-la-môn tầm cầu tài sản, vô cùng hung ác, trói lại và đánh đập chúng con như là đánh đập trâu bò?
6642. Ôi, ước gì hôm nay chúng con cũng còn nhìn thấy mẹ trở về vào lúc chiều tối sau việc thu nhặt củ quả. Mẹ sẽ mời lão Bà-la-môn món trái cây trộn với mật ong.
6643. Một khi đã được ăn no, đã được thỏa mãn, lão này có thể không thúc giục chúng con một cách tàn nhẫn. Lão Bà-la-môn quả thật đã thúc giục một cách tàn nhẫn khiến các bàn chân của chúng con bị sưng vù.’” Với sự mong ngóng mẹ, hai đứa trẻ đã than van tại nơi ấy như thế.
Đoạn Về Hai Đứa Trẻ.
6644. Sau khi nghe lời than vãn của hai đứa trẻ, các Thiên nhân đã nói với ba vị Thiên tử lời nói này: “Ba ngài hãy biến thành ba loài thú dữ trong khu rừng là: sư tử, cọp, và beo.
6645. Chớ bao giờ để nàng công chúa của chúng ta trở về vào lúc chiều tối sau việc thu nhặt củ quả. Chớ bao giờ để các loài thú ở trong khu rừng vắng vẻ của chúng ta giết hại nàng ấy.
6646. Nếu loài sư tử, cọp, và beo giết hại người mẹ gương mẫu ấy, làm sao bé trai Jāli và bé gái Kaṇhājinā có thể sống còn? Với cả hai điều ấy, hãy để con người gương mẫu được sống đến già với chồng và hai người con.”
(Lời công chúa Maddī)
6647. “Cây xẻng nhỏ của ta rơi xuống, và con mắt phải co giật, các cây có trái trở nên không còn trái, tất cả phương hướng đối với ta trở nên mờ mịt.
6648. Đối với ta đây, vào thời điểm chiều tối là việc trở về lại khu ẩn cư. Khi mặt trời đã lặn xuống, các thú dữ đã rình rập ở con đường.
6649. Mặt trời treo lơ lửng ở dưới thấp, và khu ẩn cư thật sự là còn xa. Và vật mà ta sẽ mang về từ nơi này là thức ăn mà họ có thể thọ dụng.
6650. Có lẽ vị Sát-đế-lỵ ấy một mình ngồi yên ở gian nhà lá, đang dỗ dành hai đứa trẻ bị đói bụng sau khi nhìn thấy ta còn chưa về.
6651. Có lẽ hai đứa con nhỏ ấy của ta – của người mẹ khốn khổ và thảm thương – lúc chiều tối vào thời điểm đi ngủ, vẫn ngồi yên, như là đã được uống sữa.
6652. Có lẽ hai đứa con nhỏ ấy của ta – của người mẹ khốn khổ và thảm thương – lúc chiều tối vào thời điểm đi ngủ, vẫn ngồi yên, như là đã được uống nước.
6653. Có lẽ hai đứa con nhỏ ấy của ta – của người mẹ khốn khổ và thảm thương – đã đi ra đón và đứng chờ ta, tựa như hai con bê thơ dại trông chờ bò mẹ.
6654. Có lẽ hai đứa con nhỏ ấy của ta – của người mẹ khốn khổ và thảm thương – đã đi ra đón và đứng chờ ta, tựa như hai con chim thiên nga đứng ở phía trên hồ nước cỏn con.
6655. Có lẽ hai đứa con nhỏ ấy của ta – của người mẹ khốn khổ và thảm thương – đã đi ra đón và đứng chờ ta ở chỗ không xa khu ẩn cư.
6656. Có con đường chỉ vừa đủ cho một người đi bộ, là con đường độc đạo, bên hông là hồ nước và đầm lầy. Ta không nhìn thấy con đường nào khác theo đó có thể đi về khu ẩn cư.
6657. Xin kính lễ các loài thú là các vị vua có sức mạnh vĩ đại ở chốn rừng thẳm. Theo nguyên tắc, các ngài là anh em với ta. [1] Được yêu cầu, xin các ngài hãy nhường đường cho ta.
[1] Ta là con gái của vua loài người, các ngài cũng là con trai của vua loài thú. Như vậy, theo nguyên tắc, các ngài là anh em với ta ( Sđd . 558).
6658. Ta là vợ của vị thái tử có sự vinh quang và đã bị đày đọa. Nhưng ta không khinh thường chồng, tựa như nàng Sīta chung thủy không khi dễ Rāma chồng nàng.
6659. Các ngài có thể nhìn thấy các con lúc chiều tối, khi đến giờ đi ngủ. Và ta có thể gặp lại các con, cả hai Jāli và Kaṇhājinā.
6660. Rễ củ và trái cây này là có nhiều, và thức ăn này không phải là ít. Ta sẽ để lại một nửa trong số này. Được yêu cầu, xin các ngài hãy nhường đường cho ta.
6661. Mẹ của chúng ta là con gái của vua, và cha của chúng ta là con trai của vua. Theo nguyên tắc, các ngài là anh em với ta. Được yêu cầu, xin các ngài hãy nhường đường cho ta.”
6662. Sau khi lắng nghe lời nói êm ái chứa đựng nhiều bi thương của nàng lúc nàng ấy đang than vãn, các con thú dữ đã rời khỏi con đường bỏ đi.
(Lời công chúa Maddī)
6663. “Ở khu vực này, hai đứa con nhỏ, bị lem luốc bụi bặm, đã đi ra đón và đứng chờ ta, tựa như hai con bê thơ dại trông chờ bò mẹ.
6664. Ở khu vực này, hai đứa con nhỏ, bị lem luốc bụi bặm, đã đi ra đón và đứng chờ ta, tựa như hai con chim thiên nga đứng ở phía trên hồ nước cỏn con.
6665. Ở khu vực này, hai đứa con nhỏ, bị lem luốc bụi bặm, đã đi ra đón và đứng chờ ta ở chỗ không xa khu ẩn cư.
6666. Chúng tựa như những con thú con, vểnh tai lên, hối hả chạy đến gần bên, vui vẻ, mừng rỡ, nhảy nhót, làm rung động trái tim người mẹ. Hôm nay, ta không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā.
6667. Tựa như con dê cái, con nai cái rời bầy thú con, tựa như con chim được tự do khỏi chiếc lồng, tựa như con sư tử cái thèm muốn thức ăn, ta đã rời khỏi hai con và đã đi ra ngoài. Hôm nay, ta không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā.
6668. Dấu chân này của chúng tựa như dấu chân như của các con voi ở ngọn núi. Có những đống cát rải rác ở chỗ không xa khu ẩn cư. Hôm nay, ta không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā.
6669. Hai đứa con nhỏ, bị phủ đầy đất cát, bị lem luốc bụi bặm, hối hả chạy đến gần bên. Ta không nhìn thấy hai đứa trẻ ấy.
6670. Trước đây, chúng thường đi ra đón ta đang trở về ở đằng xa, từ phía khu rừng. Hôm nay, ta không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā.
6671. Tựa như bầy thú con đi ra đón dê mẹ, nai mẹ, hai đứa trẻ từ khu ẩn cư đi ra đón ta, trông ngóng ta ở đằng xa, Ta không nhìn thấy hai đứa trẻ ấy.
6672. Đồ chơi này của chúng, trái beluva màu vàng nhạt, đã bị rơi lăn lóc. Hôm nay, ta không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā.
6673. Hai bầu vú này của ta căng đầy sữa, và lồng ngực của ta tan nát. Hôm nay, ta không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā.
6674. Chúng bám lấy hông của ta, một đứa đeo một bầu vú. Hôm nay, ta không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā.
6675. Vào lúc chiều tối của ta đây, hai đứa con nhỏ, bị lem luốc bụi bặm, quây quần ở bên hông của ta. Ta không nhìn thấy hai đứa trẻ ấy.
6676. Khu ẩn cư này đây, lúc trước, đối với ta có vẻ như là hội chợ. Hôm nay, trong khi ta không nhìn thấy hai đứa trẻ ấy, khu ẩn cư tựa như quay tròn.
6677. Có phải khu ẩn cư này đối với ta có vẻ như là có quá ít tiếng động? Ngay cả các con quạ cũng không kêu réo. Chắc chắn các đứa trẻ của ta đã chết!
6678. Có phải khu ẩn cư này đối với ta có vẻ như là có quá ít tiếng động? Ngay cả các con chim cũng không kêu réo. Chắc chắn các đứa trẻ của ta đã chết!
6679. Việc gì đây mà chàng im lặng? Thậm chí giống như tâm thức của thiếp đã nhìn thấy trong giắc mơ tối qua. Ngay cả các con quạ cũng không kêu réo. Chắc chắn các đứa trẻ của ta đã chết!
6680. Việc gì đây mà chàng im lặng? Thậm chí giống như tâm thức của thiếp đã nhìn thấy trong giắc mơ tối qua. Ngay cả các con chim cũng không kêu réo. Chắc chắn các đứa trẻ của ta đã chết!
6681. Ôi tướng công của thiếp, phải chăng các con thú đã ăn thịt hai đứa trẻ? Ai đó trong khu rừng cằn cỗi, hoang vu đã dẫn đi hai đứa trẻ của thiếp?
6682. Hay chúng đã được phái đi làm sứ giả? Hay hai đứa trẻ ăn nói dễ thương đã ngủ? Hay chúng mải mê ở các trò chơi rồi chạy ra bên ngoài?
6683. Mái tóc của chúng vẫn không nhìn thấy, tay chân của Jāli cũng không. Có phải các con chim đã bắt đi? Ai đó đã dẫn đi hai đứa trẻ của thiếp?
6684. Giống như vết thương bị đâm thủng bởi mũi tên, việc này còn khổ đau hơn thế. Hôm nay, thiếp không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā.
6685. Việc này cũng là mũi tên thứ hai làm rung động trái tim của thiếp. Việc thiếp không nhìn thấy hai con và việc chàng không nói chuyện với thiếp.
6686. Thưa hoàng tử, nội ngày nay, trong đêm này, nếu chàng không thông báo cho thiếp, thiếp nghĩ rằng thiếp có mạng sống đã chấm dứt. Sáng sớm mai, chàng sẽ thấy thiếp đã chết.”
(Lời đức Bồ-tát Vessantara)
6687. “Này công chúa Maddī cao sang, có danh vọng, phải chăng nàng đã ra đi lúc sáng sớm cho việc thu nhặt củ quả, tại sao nàng lại trở về vào lúc chiều tối thế này?”
(Lời công chúa Maddī)
6688. “Phải chăng chàng đã nghe âm thanh của loài sư tử và cọp gầm rống khi chúng đi đến hồ nước để uống nước và tiếng hót (của bầy chim)?
6689. Đã có dấu hiệu báo trước cho thiếp trong khi thiếp đang đi lang thang ở khu rừng rộng lớn: Cây xẻng nhỏ của thiếp đã rời khỏi bàn tay rơi xuống, và thậm chí cái quai giỏ bị trượt khỏi bờ vai.
6690. Khi ấy, thiếp đã bị ức chế, bị khiếp sợ, thiếp đã lần lượt chắp tay lại lễ bái tất cả các phương, mong sao có được sự bình yên từ việc này.
6691. Vị thái tử của chúng tôi chớ bị giết chết bởi loài sư tử hay loài báo. Hoặc hai đứa trẻ chớ bị tấn công bởi các con gấu, chó sói, và chó rừng.
6692. Sư tử, cọp, và beo là ba loài thú dữ ở khu rừng. Chúng đã bao vây thiếp ở con đường; vì thế, thiếp đã trở về vào lúc chiều tối.
6693. Thiếp là người nữ có tóc bện, có thực hành Phạm hạnh, đã chăm sóc chồng và hai con ngày đêm, tựa như chàng trai trẻ chăm sóc vị thầy dạy học.
6694. Sau khi khoác lên các tấm da dê, mẹ đi lang thang ngày đêm, mang về rễ và trái cây rừng bởi vì lòng thương mến các con, hỡi hai đứa con nhỏ.
6695. Củ nghệ màu vàng này và trái beḷuva màu vàng nhạt đã được mang lại, và mẹ đã mang về các trái cây chín; này hai con nhỏ, các thứ này là đồ chơi dành cho các con.
6696. Thưa vị Sát- đế- lỵ, chàng hãy ăn củ sen, ngó sen, ngó súng, và hạt dẻ nước này được trộn với các loại mật ong cùng các con.
6697. Chàng hãy cho Jāli đóa sen hồng, rồi cho con gái bông súng trắng. Chàng hãy nhìn các con có đeo tràng hoa đang nhảy múa. Thưa ngài Sivi, xin chàng hãy gọi các con.
6698. Sau đó, thưa đấng thủ lãnh xa binh, xin chàng hãy lắng nghe giọng nói du dương, dễ thương của Kaṇhājinā khi con đang đi đến gần nơi ẩn cư.
6699. Đã bị trục xuất khỏi đất nước, cả hai chúng ta sướng khổ cùng nhau. Chàng cũng hãy cho thiếp nhìn thấy những người con của Sivi, cả hai Jāli và Kaṇhājinā.
6700. Phải chăng thiếp đã nguyền rủa các vị Sa-môn, các vị Bà-la-môn chuyên chú hành Phạm hạnh, có giới hạnh, có kiến thức rộng ở thế gian, nên hôm nay, thiếp không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā?
6701. Những cây táo hồng, những cây vedisa , những cây sindhuvārika này thuộc về chàng, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy những giống cây đa dạng ấy.
6702. Những cây sung, những cây mít, những cây đa, những cây táo rừng này, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy những loại trái cây đa dạng ấy.
6703. Những khu vườn này tồn tại, dòng sông có nước mát này, là những nơi hai con đã đùa giỡn trước đây, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy chúng.
6704. Những thứ trái cây nhiều loại ở bên trên ngọn núi này, những trái cây hai con đã mang đi trước đây, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy chúng.
6705. Những thứ trái cây nhiều loại ở bên trên ngọn núi này, những trái cây hai con đã ăn trước đây, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy chúng.
6706. Những con voi, những con ngựa (đồ chơi) này của các con, và những con trâu (đồ chơi) này của hai con, hai con đã đùa giỡn với chúng trước đây, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy chúng.
6707. Những con nai vàng, thỏ, cú mèo này, và nhiều con nai kadali , hai con đã đùa giỡn với chúng trước đây, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy chúng.
6708. Các con chim thiên nga, các con cò này, và các con công có chùm lông đuôi nhiều màu sắc, hai con đã đùa giỡn với chúng trước đây, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy chúng.
6709. Những khóm cây rừng này đây được trổ hoa vào mọi thời điểm, là những nơi hai con đã đùa giỡn trước đây, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy chúng.
6710. Những hồ nước này đây đáng yêu, với những con hồng hạc kêu ríu rít, được che phủ bởi những loài thủy thảo và những hoa sen hồng sen xanh, là những nơi hai con đã đùa giỡn trước đây, giờ hai đứa trẻ không được nhìn thấy chúng.
6711. Các thanh củi không được chàng chẻ nhỏ, nước không được chàng mang lại, thậm chí ngọn lửa cũng không được chàng chăm sóc, chàng trầm tư điều gì tựa như kẻ ngu khờ?
6712. Người thương sau khi gặp gỡ với người thương, sự mệt nhọc của thiếp được tan biến. Hôm nay, thiếp không nhìn thấy cả hai đứa con ấy, Jāli và Kaṇhājinā.
6713. Ôi bệ hạ, thiếp quả thật không nhìn thấy các con của chúng ta, bởi vì chúng đã bị hãm hại, đã chết rồi. Ngay cả các con quạ cũng không kêu réo. Chắc chắn các đứa trẻ của thiếp đã bị hãm hại!
6714. Ôi bệ hạ, thiếp quả thật không nhìn thấy các con của chúng ta, bởi vì chúng đã bị hãm hại, đã chết rồi. Ngay cả các con chim cũng không kêu réo. Chắc chắn các đứa trẻ của ta đã chết!”
6715. Sau khi than khóc tại chỗ đó, nàng ấy đã đi đến các ngọn núi và các khu rừng, rồi khu ẩn cư thêm một lần nữa và khóc lóc bên cạnh chồng rằng:
6716. “Ôi bệ hạ, thiếp quả thật không nhìn thấy các con của chúng ta, bởi vì chúng đã bị hãm hại, đã chết rồi. Ngay cả các con quạ cũng không kêu réo. Chắc chắn các đứa trẻ của thiếp đã bị hãm hại!
6717. Ôi bệ hạ, thiếp quả thật không nhìn thấy các con của chúng ta, bởi vì chúng đã bị hãm hại, đã chết rồi. Ngay cả các con chim cũng không kêu réo. Chắc chắn các đứa trẻ của ta đã chết!
6718. Ôi bệ hạ, trong khi đi lang thang ở các gốc cây, ở các ngọn núi, và ở các hang động, thiếp quả thật không nhìn thấy các con của chúng ta, bởi vì chúng đã bị hãm hại, đã chết rồi.”
6719. Nàng công chúa Maddī cao sang, có danh vọng, đã đưa hai cánh tay lên kêu khóc như thế, rồi đã ngã xuống ở trên mặt đất, ngay tại chỗ ấy.
6720. Khi nàng công chúa bị ngã xuống, vị Vessantara đã rảy nước cho nàng ấy. Sau khi biết được nàng ấy đã được tỉnh táo, vị Vessantara đã nói với nàng ấy điều này:
6721. “Này Maddī, ngay từ ban đầu, ta đã không muốn tạo ra sự khổ đau cho nàng. Có lão hành khất Bà-la-môn nghèo khó, già cả, đã đi đến nhà. Hai con đã được ta ban cho lão ấy. Này Maddī, nàng chớ lo sợ. Hãy bình tĩnh.
6722. Này Maddī, nàng hãy nhìn ta. Nàng chớ than khóc cho các con quá nhiều. Chúng ta sẽ nhận lại các con. Chúng ta sẽ sống và khỏe mạnh.
6723. Sau khi nhìn thấy người hành khất đi đến, bậc thiện nhân có thế bố thí vật thí là các đứa con, gia súc, thóc lúa, và tài sản khác ở trong nhà. Này Maddī, nàng hãy tùy hỷ với ta về vật bố thí tối thượng là hai đứa con nhỏ.”
6724. “Thưa bệ hạ, thiếp tùy hỷ với chàng về vật bố thí tối thượng là hai đứa con nhỏ. Sau khi bố thí, chàng hãy khiến cho tâm được tịnh tín và hãy là người ban bố vật thí nhiều hơn nữa.
6725. Thưa quân vương, giữa những người có trạng thái bỏn xẻn, chàng đây đã ban vật thí đến vị Bà-la-môn, chàng là bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi.
6726. Vì chàng trái đất đã gầm rú, vì chàng tiếng động đã đi đến Thiên cung, các tia chớp đã phát ra ở khắp nơi, tựa như các ngọn núi đã có sự đồng ý.
6727. Hai hội chúng chư Thiên Nārada và Pabbata tùy hỷ đối với chàng đây. Thiên Chủ Inda và đấng Brahmā, vị chúa của loài người, các vị Thiên Vương Soma, Yama, và Vessavaṇa, tất cả chư Thiên ở cõi Trời Đạo Lợi với Thiên Chủ Inda đều tùy hỷ.”
6728. Nàng công chúa Maddī cao sang, có danh vọng đã tùy hỷ vật bố thí tối thượng là hai đứa con nhỏ của vị Vessantara như thế.
Đoạn Về Nàng Maddī được hoàn tất.
6729. Sau đó, vào lúc tàn đêm, cho đến lúc mọc lên của mặt trời, Thiên Chủ Sakka, với vóc dáng Bà-la-môn, đã hiện ra với hai người ấy [1] vào lúc sáng sớm.
[1] Hai người ấy là đức Bồ- tát Vessantara và người vợ là công chúa Maddī (ND).
(Lời Thiên Chủ Sakka)
6730. “Thưa ngài, phải chăng ngài được an khang? Thưa ngài, phải chăng ngài được vô sự? Phải chăng ngài nuôi sống bằng việc thu nhặt? Phải chăng có nhiều rễ củ và trái cây?
6731. Phải chăng có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát? Phải chăng không có sự hãm hại ở khu rừng đông đúc các loài thú dữ?”
(Lời đức Bồ- tát Vessantara)
6732. “Này vị Bà-la-môn, chúng tôi được an khang. Và Này vị Bà-la-môn, chúng tôi được vô sự. Chúng tôi nuôi sống bằng việc thu nhặt. Rễ củ và trái cây có nhiều.
6733. Có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát. Không có sự hãm hại đến với chúng tôi ở khu rừng đông đúc các loài thú dữ.
6734. Suốt bảy tháng chúng tôi sống cuộc sống sầu muộn ở trong rừng, chúng tôi nhìn thấy người này lần thứ nhì, là vị Bà-la-môn với dáng vóc thiên thần, mang theo cây gậy bằng gỗ beḷuva , đang mặc áo choàng da dê.
6735. Này vị Bà-la-môn vĩ đại, chào mừng ông đã đến và việc đi đến tốt lành của ông. Thưa ông, xin ông hãy đi vào bên trong. Xin ông hãy rửa sạch hai bàn chân của ông.
6736. Này vị Bà-la-môn, có các loại trái cây tinduka , piyāla , madhuka , kāsumārī ngọt như mật ong, xin ông hãy thưởng lãm các trái ngon nhất.
6737. Cũng có nước uống mát lạnh này được mang lại từ hang núi, Này vị Bà-la-môn vĩ đại, xin ông hãy uống nước từ nơi ấy nếu ông muốn.
6738. Vậy thì vì lý do gì, hay là vì nguyên nhân gì, mà ông đã đi đến khu rừng rộng lớn? Được hỏi, xin ông hãy giải thích điều ấy cho tôi.”
6739. “Giống như dòng nước chảy luôn luôn được tràn đầy, không bị cạn kiệt, tương tự như vậy, ta đã đi đến để cầu xin ngài. Được yêu cầu, xin ngài hãy ban cho ta người vợ.”
6740. “Này vị Bà-la-môn, tôi sẽ ban cho, tôi không do dự việc mà ông yêu cầu tôi. Tôi không cất giấu vật đang có. Tâm của tôi vui thích trong việc bố thí.”
6741. Sau khi nắm lấy nàng Maddī ở bàn tay và cái bình đựng nước, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi đã ban vật thí đến vị Bà-la-môn.
6742. Lúc bấy giờ, việc ấy đã là sự kinh hoàng. Lúc bấy giờ, đã có sự dựng đứng lông. Trong lúc vị ấy ban tặng nàng Maddī cho người này, trái đất đã rúng động.
6743. Nàng Maddī không có chút cau mày, không bất bình, không khóc lóc. Nàng chỉ nhìn, im lặng (nghĩ rằng): “Chàng biết việc ấy là cao quý.”
6744. Trong khi dứt bỏ con trai Jāli, con gái Kaṇhājinā, và hoàng hậu Maddī người vợ chung thủy, Ta đã không phải nghĩ ngợi với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
6745. Cả hai đứa con không có bị ta ghét bỏ, hoàng hậu Maddī không có bị ta ghét bỏ, đối với Ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế Ta đã bố thí những người thân yêu.
(Lời công chúa Maddī)
6746. “Khi còn con gái, thiếp là vợ của chàng. Người chồng là chủ nhân của thiếp. Chàng có thể ban tặng thiếp cho người nào chàng muốn, hoặc có thể bán đi, hoặc có thể giết chết.”
6747. Biết được ý định của hai người, vị chúa của chư Thiên đã nói điều này: “Ngài đã chiến thắng tất cả các chướng ngại thuộc cõi Trời và cõi người.
6748. Vì ngài trái đất đã gầm rú, vì ngài tiếng động đã đi đến Thiên cung. Các tia chớp đã phát ra ở khắp nơi, tựa như các ngọn núi đã có sự đồng ý.
6749. Hai hội chúng chư Thiên Nārada và Pabbata tùy hỷ đối với ngài đây. Thiên Chủ Inda và đấng Brahmā, vị chúa của loài người, các vị Thiên Vương Soma, Yama, và Vessavaṇa, tất cả chư Thiên đều tùy hỷ, bởi vì ngài đây làm được công việc khó làm.
6750. Trong khi họ cho vật khó cho, trong khi họ làm công việc khó làm, những kẻ xấu không làm theo được; pháp của những người tốt là khó đạt đến.
6751. Vì thế, cảnh giới tái sanh sau kiếp này dành cho những người tốt và những kẻ không tốt là khác nhau, những kẻ không tốt đi địa ngục, những người tốt có sự đi đến cõi trời.
6752. Việc ngài đã bố thí hai đứa trẻ, đã bố thí người vợ trong khi sống ở trong rừng được gọi là cỗ xe tối thượng; sau khi không đọa vào khổ cảnh, việc ấy hãy thành tựu kết quả cho ngài ở cõi Trời.
6753. Ta ban lại cho ngài nàng Maddī, người vợ có sự xinh đẹp toàn thân. Chính ngài là tương xứng với nàng Maddī, và nàng Maddī là tương xứng với chồng.
6754. Giống như sữa và vỏ sò, cả hai có màu sắc giống nhau, tương tự như vậy, ngài và nàng Maddī có tâm ý tương đồng.
6755. Bị đày đọa, cả hai vị sống ở nơi này, trong khu rừng, tại khu ẩn cư. Hai vị là Sát-đế-lỵ, được thành tựu về dòng họ, thuộc dòng dõi cao sang về bên mẹ và bên cha. Hai vị có thể làm phước thiện như thế trong khi tiếp tục bố thí.
6756. Ta là Sakka, chúa tể của chư Thiên, đã đi đến bên cạnh ngài. Thưa vị ẩn sĩ của hoàng gia, ta ban cho ngài tám điều ước muốn.”
6757. “Tâu Thiên Chủ Sakka, tâu vị chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài đã ban cho tôi điều ước muốn, mong rằng phụ vương có thể tùy thuận cho tôi từ nơi này trở về lại nhà của mình, và có thể trao lại vương vị; tôi chọn điều ước muốn thứ nhất ấy.
6758. Tôi không vui thích việc xử tử con người, dầu là kẻ đã gây tội ác, tôi có thể giải thoát kẻ tử tù khỏi cái chết; tôi chọn điều ước muốn thứ nhì này.
6759. Các lão niên, các thanh niên, và các trung niên có thể sống nương tựa vào chính tôi; tôi chọn điều ước muốn thứ ba này.
6760. Tôi không quyến rũ vợ người khác, trung thành với vợ của mình, không bị ở dưới quyền lực của nữ nhân; tôi chọn điều ước muốn thứ tư này.
6761. Thưa Thiên Chủ Sakka, mong rằng con trai của tôi được sanh ra, nó được sống lâu và có thể trị vì trái đất một cách công minh; tôi chọn điều ước muốn thứ năm này.
6762. Sau đó, vào lúc tàn đêm, cho đến lúc mọc lên của mặt trời, các thực phẩm của cõi Trời sẽ hiện ra; tôi chọn điều ước muốn thứ sáu này.
6763. (Vật thí) không bị cạn kiệt trong khi tôi đang bố thí, tôi không hối tiếc sau khi bố thí, tôi có tâm tịnh tính trong khi bố thí; tôi chọn điều ước muốn thứ bảy này.
6764. Trong khi được giải thoát từ nơi này, tôi có sự đi đến cõi Trời, là sự ra đi đặc biệt, từ nơi ấy tôi không có sự tái sanh nữa; tôi chọn điều ước muốn thứ tám này.”
6765. Sau khi lắng nghe lời nói ấy của Vessantara, vị chúa của chư Thiên đã nói điều này: “Quả thật, không bao lâu nữa, người cha của ngài sẽ đi đến để gặp lại ngài.”
6766. Sau khi nói điều này, vị Trời Đế Thích, đấng Thiên Vương, chồng của nàng Sujā đã ban điều ước muốn cho Vessantara rồi đã trở về lại tập thể cõi Trời.
Đoạn Về Thiên Chủ Sakka được hoàn tất.
(Lời đại vương Sañjaya)
6767. “Khuôn mặt này là của ai mà chói sáng tựa như vàng được nấu chảy bởi ngọn lửa, tựa như đồng tiền bằng vàng rực rỡ ở miệng bễ lò rèn?
6768. Cả hai có các bộ phận cơ thể tương tự, cả hai có đặc điểm tương tự, đứa bé trai giống như Jāli, đứa bé gái giống như Kaṇhājinā.
6769. Tựa như hai con sư tử đang đi ra khỏi hang, cả hai có hình dáng giống nhau. Hai đứa trẻ này có vẻ như được làm toàn bằng vàng.
6770. Này vị Bhāradvāja, từ nơi nào mà lão dẫn lại hai đứa trẻ này? Hôm nay, ngài đã đến được vương quốc, này vị Bà-la-môn, ngài từ nơi nào đi đến?”
(Lời Bà-la-môn Jūjaka)
6771. “Tâu bệ hạ, hai đứa trẻ ấy thuộc về thần. Tâu đại vương Sañjaya, chúng đã được ban cho với sự hân hoan. Kể tử khi hai đứa trẻ đã được bố thí cho thần, đến nay là mười lăm đêm.”
6772. “Bằng lời nói ngon ngọt nào (mà lão đã đạt được hai đứa trẻ)? Lão hãy làm cho trẫm tin bằng cách thức đúng đắn. Ai đã bố thí cho lão vật thí ấy – hai đứa con nhỏ – là vật thí tối thượng?”
6773. “Đức vua Vessantara là nơi nương tựa của những người cầu xin, tựa như trái đất là nơi nương tựa của các sinh linh, vị vua ấy đã bố thí cho thần hai đứa con, trong khi đang sống ở trong rừng.
6774. Đức vua Vessantara là đích đến của những người cầu xin, tựa như biển cả là đích đến của các dòng sông, vị vua ấy đã bố thí cho thần hai đứa con, trong khi đang sống ở trong rừng.”
(Lời các quan đại thần)
6775. “Quả thật vị vua có đức tin trong lúc đang ở nhà đã làm điều sai trái. Vậy tại sao kẻ bị đày đọa ở trong rừng vẫn có thế bố thí hai đứa con nhỏ?
6776. Hỡi quý ông, hết thảy quý ông đã tụ hội ở nơi này, xin quý ông hãy chú tâm lắng nghe điều này: Tại sao đức vua Vessantara đã bố thí hai đứa con, trong khi đang sống ở trong rừng?
6777. Vị ấy có thể bố thí tôi trai và tớ gái, ngựa, hoặc con la cái và cỗ xe, voi cái và voi đực, tại sao vị ấy lại bố thí hai đứa trẻ?”
(Lời bé trai Jāli)
6778. “Thưa ông nội, người không có tôi trai, tớ gái, ngựa, hoặc con la cái và cỗ xe, voi cái, voi đực, và long tượng, người ấy có thể bố thí cái gì?”
6779. “Này hai con nhỏ, chúng ta không khen và chúng ta không chê việc bố thí của người này, vậy trái tim của người này đã như thế nào sau khi đã bố thí hai con cho người nghèo khổ?”
6780. “Trái tim của người này đã khổ sở, và ngài cũng nhìn thấy sức nóng của nó. Với hai mắt đỏ ngầu như ngôi sao Rohiṇī, cha đã để cho các giọt nước mắt tuôn trào.
6781. Điều mà Kaṇhājinā đã nói với cha rằng: ‘Cha ơi, lão Bà-la-môn này đánh con bằng cây gậy như là đánh đứa tớ gái đã được sanh ra ở trong nhà.
6782. Và cha ơi, lão này không phải là Bà-la-môn; các vị Bà-la-môn là có đạo lý. Cha ơi, gã Dạ-xoa với vóc dáng Bà-la-môn dẫn chúng con đi để ăn thịt. Trong khi chúng con bị quỷ sứ dẫn đi, tại sao cha lại dửng dưng?’”
(Lời đại vương Sañjaya)
6783. “Mẹ của hai con là công chúa, và cha của hai con là thái tử. Trước đây, hai con đã trèo vào lòng của ông, giờ hai con tại sao lại đứng ở đằng xa?”
(Lời bé trai Jāli)
6784. “Mẹ của hai con là công chúa, và cha của hai con là thái tử. Chúng con là nô lệ của lão Bà-la-môn; vì thế, chúng con đứng ở đằng xa.”
6785. “Cháu yêu, chớ nói như thế. Trái tim của nội bị đốt nóng. Thân thể nội tựa như giàn lửa thiêu, nội không đạt được sự thoải mái ở chiếc ghế ngồi.
6786. Cháu yêu, chớ nói như thế. Chớ tạo thêm nỗi sầu muộn cho nội. Nội sẽ chuộc lại với giá cao, các cháu sẽ không còn là nô lệ.
6787. Này cháu, cha đã định giá hai cháu thế nào rồi trao hai cháu cho lão Bà-la-môn? Cháu hãy nói đúng theo sự thật với nội. Hãy để các giá cả khiến lão Bà-la-môn chấp nhận.
6788. Thưa nội, bởi vì cha đã trao con cho lão Bà-la-môn với giá một ngàn, còn Kaṇhājinā thơ ngây là con gái với giá một trăm voi và (các thứ khác mỗi thứ một trăm).”
6789. “Này quan thủ kho, khanh hãy đứng dậy và cấp tốc chi trả cho vị Bà-la-môn. Khanh hãy xuất ra một trăm tớ gái, một trăm tôi trai, gia súc, voi, bò mỗi thứ một trăm, và một ngàn tiền vàng cho việc chuộc lại hai con nhỏ.”
6790. Sau đó, viên quan thủ kho đã cấp tốc chi trả cho vị Bà-la-môn. Vị ấy đã xuất ra một trăm tớ gái, một trăm tôi trai, gia súc, voi, bò mỗi thứ một trăm, và một ngàn tiền vàng cho việc chuộc lại hai con nhỏ.
6791. Sau khi đã chuộc lại, vị đại vương đã bảo người cho hai đứa trẻ tắm rửa, ăn uống, trang điểm với vật dụng, rồi cho đặt vào ngồi ở trong lòng.
6793. Khi hai đứa trẻ đã được gội đầu, có y phục sạch sẽ, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, đức vua, tức ông nội, đã đặt chúng vào lòng và hỏi han.
6794. Khi hai đứa trẻ đã được chưng diện với mọi vật trang điểm, có vòng hoa, và bông tai kêu leng keng, đức vua đã đặt Jāli vào lòng và đã nói lời nói này:
6795. “Này Jāli, phải chăng cả hai người họ, mẹ và cha của cháu, đều khỏe mạnh? Phải chăng họ nuôi sống bằng việc thu nhặt? Phải chăng có nhiều rễ củ và trái cây?
6796. Phải chăng có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát, và không có sự hãm hại đến với họ ở khu rừng đông đúc các loài thú dữ?”
6797. “Tâu bệ hạ, cả hai người họ, mẹ và cha của cháu, đều khỏe mạnh. Họ nuôi sống bằng việc thu nhặt. Rễ củ và trái cây có nhiều.
6798. Có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát, và không có sự hãm hại đến với họ ở khu rừng đông đúc các loài thú dữ.
6799. Trong khi đào các củ khoai mỡ, củ cải, củ hành, và củ takkala , mẹ đã mang về trái táo rừng, hạt dẻ, trái bella , rồi nuôi dưỡng chúng con.
6800. Mẹ là người mang về rễ và trái cây rừng, bất cứ vật gì mà mẹ mang về, tất cả chúng con đã quây quần lại và ăn vật ấy, ban đêm và ban ngày.
6801. Và mẹ của chúng con, trong khi mang trái cây về, đã trở nên gầy ốm, vàng vọt, mảnh mai bởi gió và nắng, tựa như đóa sen bị bàn tay dày vò.
6802. Các sợi tóc của mẹ trở nên mỏng manh trong khi mẹ đi lang thang ở khu rừng rộng lớn, ở khu rừng đông đúc các thú dữ, được lai vãng bởi loài tê giác và loài báo.
6803. Mẹ đã buộc các sợi tóc thành bện và mang đất ở nách, mặc y phục da thú, nằm trên đất, tôn thờ thần lửa.
6804. Những đứa con trai đã được sanh ra ở thế gian đều được mọi người yêu quý. Ông nội của chúng con chắc chắn đã không có lòng yêu thương con trai!”
6805. “Này cháu Jāli, quả thật là điều đã làm sai trái của nội. Nội đã tạo nghiệp hủy hoại sự tiến triển. Nội đây vì lời nói của dân chúng xứ Sivi mà đã trục xuất người không tồi bại.
6806. Bất cứ vật gì của ta có ở nơi này, tài sản và thóc lúa hiện có (nội cho tất cả đến cha cháu). Hãy để Vessantara trở về làm vua, hãy để Vessantara lãnh đạo đất nước Sivi.”
6807. “Tâu bệ hạ, với lời nói của cháu thì con người vô cùng cao cả của xứ Sivi sẽ không trở về. Chính đích thân bệ hạ hãy đi đến và ban tặng các của cải cho người con trai ruột.”
6808. Sau đó, đại vương Sañjaya đã ra lệnh cho vị tướng lãnh quân đội rằng: “Hãy cho các đoàn quân gồm có tượng binh, mã binh, xa binh, và bộ binh nai nịt để đón rước vị ấy. Còn các thị dân và các vị quan tế tự Bà-la-môn hãy đi theo trẫm.
6809. Kế đến, sáu mươi ngàn chiến sĩ có dáng vẻ dễ mến, đã được nai nịt, đã được trang phục với nhiều màu sắc khác nhau, hãy cấp tốc đi đến.
6810. Nhiều vị mang y phục màu xanh, nhiều vị mặc màu vàng, nhiều vị khác có khăn đội đầu màu đỏ, nhiều vị mặc màu trắng, đã được nai nịt, đã được trang phục với nhiều y phục khác nhau, hãy cấp tốc đi đến.
6811, 6812. Giống như ngọn núi tuyết Gandhamādana – có hương thơm, được che phủ bởi nhiều loại cây khác nhau, là nơi trú ngụ của tập thể chư Thiên, – chói sáng và tỏa hương đi khắp các phương bởi các loại thảo dược của cõi Trời, các vị đã được nai nịt hãy cấp tốc đi đến, hãy chói sáng và tỏa hương đi khắp các phương.
6813, 6814. Kế đến, hãy thắng yên cương cho mười bốn ngàn con voi, là những con khổng tượng có dây đai bằng vàng, có trang phục là yên cương bằng vàng, được cỡi lên bởi các viên quản tượng có cây thương móc câu ở bàn tay. Các viên quản tượng đã được nai nịt, đã được nhìn thấy ngồi trên mình của các con voi, hãy cấp tốc đi đến.
6815, 6816. Kế đến, hãy thắng yên cương cho mười bốn ngàn con ngựa, là những con ngựa Sindhu thuần chủng về dòng dõi, có sức chuyển vận mau lẹ, được cỡi lên bởi các kỵ mã có mang gươm và cung. Các kỵ mã đã được nai nịt, đã được trang phục, ngồi trên lưng của các con ngựa, hãy cấp tốc đi đến.
6817. Kế đến, hãy thắng ngựa cho mười bốn ngàn con cỗ xe, có các vành bánh xe được làm cẩn thận bằng sắt, có các khung xe được khảm bằng vàng.
6818. Ở trên xe, hãy treo lên các cờ hiệu và các mộc che bằng da thú, và hãy cho các cung thủ có tài nghệ vững chắc giương các cây cung. Các xa phu ở trên các cỗ xe, đã được nai nịt, hãy cấp tốc đi đến.
6819. Hãy để sẵn các cánh hoa để tung lên, các bông hoa, các tràng hoa, nước thơm, dầu thơm, và các vật có giá trị dọc theo lộ trình vị ấy sẽ đi đến.
6820. Hãy bày ra ở mỗi ngôi làng một trăm chum rượu ủ men và rượu nấu, ở đường đi dọc theo lộ trình vị ấy sẽ đi đến.
6821. Hãy bày ra các món thịt, các loại bánh ngọt, bánh saṅkulī , bánh kem, được kết hợp với các món cá, ở đường đi dọc theo lộ trình vị ấy sẽ đi đến.
6822. Hãy bày ra bơ lỏng, dầu ăn, sữa đông, sữa tươi, và nhiều rượu làm từ hạt kê, làm từ hạt lúa, ở đường đi dọc theo lộ trình vị ấy sẽ đi đến.
6823. (Hãy tập hợp) các thợ nướng bánh, các đầu bếp, các vũ công, các kịch sĩ, các ca sĩ, các nghệ sĩ hát theo nhịp vỗ tay, các nghệ nhân biểu diễn chum và trống, các nữ ca sĩ giọng trầm, các nghệ sĩ giải khuây.
6824. Hãy cho tấu lên tất cả các cây đàn vīṇā , các trống lớn, và các trống con, hãy cho thổi lên các tù và vỏ ốc miệng lớn, và hãy làm vang lên các chiếc trống một mặt.
6825. Hãy cho vỗ lên các trống nhỏ, các chập chõa, các tù và vỏ ốc, các nhạc cụ godha , các đàn dây, các trống con, và các chiếc trống kuṭumba .”
6826. Đạo quân vĩ đại ấy, binh đội của xứ Sivi đã xuất phát, đã khởi hành đi đến ngọn núi Vaṅka theo sự hướng dẫn đường đi của bé trai Jāli.
6827. Con khổng tượng, con voi sáu mươi năm tuổi, rống lên tiếng kêu của loài voi. Con voi rống lên tiếng kêu của loài voi trong khi yên cương đang được buộc vào.
6828. Các con ngựa thuần chủng đã hí vang, tiếng động của bánh xe đã nổi lên, bụi mù đã che phủ bầu trời, binh đội của xứ Sivi đã xuất phát.
6829. Đạo quân vĩ đại ấy, mang theo vật cần thiết, đã xuất phát, đã khởi hành đi đến ngọn núi Vaṅka theo sự hướng dẫn đường đi của bé trai Jāli.
6830. Họ đã đi vào khu rừng rộng lớn, có nhiều cành cây, có nhiều đầm nước, được che phủ bởi cả hai loại: các cây cho hoa và các cây ăn quả.
6831. Tại nơi ấy, ở thân cây đã được nở rộ hoa lúc vào mùa, nhiều con chim có màu sắc khác nhau có giọng hót tròn trịa, có âm thanh ngọt ngào, cất tiếng hót hòa theo con chim đang hót.
6832. Họ đã đi đoạn đường dài (sáu mươi do-tuần). Khi đã trải qua nhiều ngày đêm, họ đã đi đến gần khu vực ấy, nơi vị Vessantara cư ngụ.
Đoạn Về Vị Đại Vương được hoàn tất.
6833. Sau khi nghe được tiếng động của những người ấy, Vessantara đã trở nên hoảng sợ. Vị ấy đã leo lên ngọn núi, và hoảng sợ quan sát đạo quân.
6834. “Này Maddī, nàng hãy lắng tai nghe. Có tiếng động như thế này ở khu rừng: các con ngựa thuần chủng hí vang và các cờ hiệu được nhìn thấy.
6835. Phải chăng những gã thợ săn này đã dùng các tấm lưới rào quanh, rồi lùa các bầy thú ở khu rừng rơi xuống hố liền khi ấy, và trong lúc la hét, chúng giết chết những con thú ngon nhất trong số đó bằng những lao nhọn?
6836. Giống như chúng ta là những người không tồi bại, những kẻ bị đày đọa ở trong rừng đã bị rơi vào bàn tay của kẻ thù. Nàng hãy nhìn xem kẻ sát hại những người yếu đuối.”
6837. “Các kẻ thù không có thể áp bức được chàng, tựa như ngọn lửa ở trong biển nước. Chàng hãy suy xét đến chính điều ấy, [1] cũng có thể có sự bình yên từ việc này.
[1] Lời tiên tri của Thiên Chủ Sakka về việc phụ hoàng sẽ vào rừng để rước Vessantara về lại hoàng cung (JaA. vi, 583). Xem câu kệ 6765 ở trang 463.
6838. Sau đó, đức vua Vessantara đã leo xuống núi, rồi đã ngồi xuống ở gian nhà lá, sau khi đã củng cố lại tâm ý.
6839. Sau khi đã bảo cỗ xe quay lại và sau khi đã cho bố trí quân lính bảo vệ, người cha (đại vương Sañjaya) đã đi đến gặp người con (đức vua Vessantara) đang sống một mình ở trong khu rừng.
6840. Sau khi leo xuống từ mình voi, vị đại vương đã khoác hoàng bào một bên vai trái, chắp tay lại. Được tùy tùng bởi các quan đại thần, ngài đã đi đến để phục hồi vương vị cho người con trai.
6841. Tại nơi ấy, ngài đã nhìn thấy vị vương tử có dáng vẻ đáng yêu, bình tĩnh, ngồi ở gian nhà lá, đang trầm tư, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
6842. Và sau khi nhìn thấy người cha ấy đang đi đến với sự mong ngóng con trai, Vessantara và Maddī đã đi ra đón tiếp và thi lễ.
6843. Nàng Maddī đã đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của cha chồng (nói rằng): “Tâu bệ hạ, thần thiếp chính là Maddī, con dâu của bệ hạ, xin đảnh lễ hai bàn chân của ngài.” Tại nơi ấy, vua cha đã ôm chầm lấy hai người và vuốt ve bằng bàn tay.
(Lời trao đổi giữa hai cha con, đại vương Sañjaya và đức vua Vessantara)
6844. “Này con trai, phải chăng con được an khang? Này con trai, phải chăng con được vô sự? Phải chăng các con nuôi sống bằng việc thu nhặt? Phải chăng có nhiều rễ củ và trái cây?
6845. Phải chăng có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát? Phải chăng không có sự hãm hại ở khu rừng đông đúc các loài thú dữ?”
6846. “Tâu bệ hạ, chúng con có cách kiếm sống, và cách ấy là thấp kém. Sinh kế quả thật khó khăn, chúng con nuôi mạng bằng việc thu nhặt củ quả.
6847. Tâu đại vương, tựa như người đánh xe rèn luyện con ngựa chưa được thuần phục, chúng con đây chưa được thành tựu, nhưng đã được rèn luyện; sự bất hạnh rèn luyện chúng con.
6848. Tuy nhiên, là những người bị đày đọa ở trong rừng, có cuộc sống sầu muộn, tâu đại vương, chúng con có thân thể bị ốm o, do việc không nhìn thấy cha và mẹ.
6849. Thậm chí, cả hai Jāli và Kaṇhājinā – những người thừa kế còn chưa được thành tựu của cha là vị đứng đầu xứ Sivi – thì đã ở dưới quyền lực của lão Bà-la-môn vô cùng hung ác; gã đánh đập hai trẻ như là đánh đập trâu bò.
6850. Nếu cha biết về hai đứa con ấy của công chúa Maddī, xin cha hãy thông báo. Xin cha hãy mau chóng làm chủ cho chúng con, tựa như cứu chữa người thanh niên bị rắn cắn.”
6851. “Cả hai đứa trẻ đã được chuộc lại, cả hai Jāli và Kaṇhājinā, sau khi cha đã ban bố tài sản cho lão Bà-la-môn. Này con trai, chớ sợ hãi, hãy bình tĩnh.”
6852. “Thưa cha, phải chăng cha được an khang? Thưa cha, phải chăng cha được vô sự? Thưa cha, phải chăng mắt của mẹ con không bị hư hoại?”
6853. “Này con trai, cha được an khang. Và này con trai, cha được vô sự. Này con trai, còn mắt của mẹ con không bị hư hoại.”
6854. “Phải chăng bầy thú kéo xe của cha không có bệnh? Và phải chăng cỗ xe hoạt động tốt?Phải chăng các xứ sở được thịnh vượng? Phải chăng mưa không bị gián đoạn?”
6855. “Bầy thú kéo xe của cha không có bệnh, và cỗ xe hoạt động tốt. Còn các xứ sở được thịnh vượng, và mưa không bị gián đoạn.”
6856. Trong khi hai người đang trao đổi như vậy, mẫu hậu – cũng là một công chúa, đi bộ, không giày dép – đã được nhìn thấy trong số mọi người, ở lối đi vào ngọn núi.
6857. Và sau khi nhìn thấy người mẹ ấy đang đi đến với sự mong ngóng con trai, Vessantara và Maddī đã đi ra đón tiếp và thi lễ.
6858. Nàng Maddī đã đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của mẹ chồng (nói rằng): “Thưa mẫu hậu, thần thiếp chính là Maddī, con dâu của mẫu hậu, xin đảnh lễ hai bàn chân của mẫu hậu.”
6859. Và hai đứa con nhỏ, đã đi đến bình yên, sau khi nhìn thấy nàng Maddī từ đằng xa, đã khóc lóc chạy đến mẹ, tựa như hai con bê thơ dại chạy đến bò mẹ.
6860. Và nàng Maddī, sau khi nhìn thấy từ đằng xa hai đứa con nhỏ đã đi đến bình yên, trong lúc đang run rẩy tựa như người bị phi nhân nhập, đã tiết ra hai dòng sữa từ hai bầu vú.
6861. Vào lúc các thân quyến đã gặp lại nhau, có tiếng động lớn đã sanh lên, các ngọn núi đã cùng nhau gào thét, trái đất đã bị rúng động.
6862. Trong khi ban cho đám mây mưa, trời đã đổ mưa ngay lập tức. Khi ấy, đức vua Vessantara đã gặp gỡ với các thân quyến.
6863. Hai cháu nội, con dâu, con trai, vị đại vương, và hoàng hậu đã ở chung một nơi. Vào lúc họ gặp gỡ nhau, khi ấy, đã có sự dựng đứng lông.
6864. Tất cả dân chúng đã tụ tập lại ở khu rừng khiếp đảm, chắp tay lên hướng về vị ấy, khóc lóc, thỉnh cầu Vessantara và Maddī rằng: “Ngài là chúa tể, là đức vua của chúng tôi. Xin cả hai vị hãy trị vì xứ sở của chúng tôi.”
Đoạn Về Sáu Vị Sát-đế-lỵ.
(Lời đức Bồ-tát Vessantara)
6865. “Trong khi con đang trị vì xứ sở một cách công minh, cha và luôn cả dân chúng nữa, cùng các thị dân đã tụ họp lại, các người đã trục xuất con ra khỏi đất nước.”
6866. “Này con trai, quả thật là điều đã làm sai trái của cha. Cha đã tạo nghiệp hủy hoại sự tiến triển. Cha đây vì lời nói của dân chúng xứ Sivi mà đã trục xuất người không tồi bại.
6867. Bằng bất cứ cách thức nào đó, thậm chí là bằng sinh mạng của mình, con nên nhấc lên nỗi khổ đau cho cha, cho mẹ, và cho cả em gái nữa.”
6868. Sau đó, đức vua Vessantara đã cho gột rửa bụi bặm và cáu ghét. Sau khi đã cho gột rửa bụi bặm và cáu ghét, vị ấy đã trở lại vóc dáng thật sự.
6869. Vị ấy đã được gội đầu, có y phục sạch sẽ, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, sau đó đã cỡi lên con voi Paccaya và đã buộc chặt thanh gươm là vật làm cho kẻ thù phải bực bội.
6870. Kế đến, sáu mươi ngàn chiến sĩ có dáng vẻ dễ mến, được sanh ra cùng ngày, đã vây quanh, tạo niềm vui cho đấng thủ lãnh xa binh.
6871. Sau đó, các nàng hầu của đức vua Sivi đã tụ tập lại và cũng đã tắm gội cho nàng Maddī (và chúc tụng rằng): “Mong rằng Vessantara cùng với hai con Jāli và Kaṇhājinā hãy bảo vệ cho nàng. Rồi đại vương Sañjaya cũng hãy hộ trì cho nàng.”
6872. Sau khi đạt được duyên sự này và nhớ lại nỗi khó nhọc của bản thân trong quá khứ, họ đã tổ chức lễ hội ăn mừng ở trong lòng ngọn núi Vaṅka đáng yêu.
6873. Sau khi đạt được duyên sự này và nhớ lại nỗi khó nhọc của bản thân trong quá khứ, sau khi gặp lại các con, nàng Maddī đã vui mừng, hân hoan, hài lòng, có được khí sắc.
6874. Sau khi đạt được duyên sự này và nhớ lại nỗi khó nhọc của bản thân trong quá khứ, cùng với hai con, nàng Maddī đã vui mừng, hân hoan, sung sướng, có được khí sắc.
(Lời nàng Maddī nói với hai con)
6875. “Trước đây, mẹ đã ăn ngày một bữa, thường xuyên nằm ngủ ở nền đất. Này hai con thơ, bởi vì mong mỏi các con mà mẹ đã sự hành trì như thế.
6876. Hôm nay, sự hành trì ấy của mẹ đã được thành tựu. Này hai con thơ, mẹ đã gặp lại hai con. Này con Jāli, mong rằng hạnh phúc đã sanh lên cho mẹ và đã sanh lên cho cha hãy bảo vệ con. Và mong rằng đại vương Sañjaya cũng hộ trì con.
6877. Và có bất cứ phước báu nào đã được tạo ra thuộc về mẹ và thuộc về cha của con, do tất cả các thiện pháp ấy, mong rằng con sẽ không già và không chết.”
6878. Mẹ chồng đã bảo mang lại cho con dâu các thứ y phục bằng bông gòn, tơ lụa, sợi len, vải xứ Kodumbara; với những thứ ấy, nàng Maddī đã chói sáng.
6879. Sau đó, mẹ chồng đã bảo mang lại cho con dâu y phục bằng sợi len, vòng đeo cánh tay, vòng đeo cổ tay, đai lưng bằng ngọc ma-ni; với những thứ ấy, nàng Maddī đã chói sáng.
6880. Sau đó, mẹ chồng đã bảo mang lại cho con dâu y phục bằng sợi len, vòng đeo cánh tay, vòng đeo cổ làm bằng ngọc quý; với những thứ ấy, nàng Maddī đã chói sáng.
6881. Sau đó, mẹ chồng đã bảo mang lại cho con dâu vật trang sức ở trán, tràng hoa ở bên trán, và các vòng đeo làm bằng ngọc ma-ni nhiều màu sắc; với những thứ ấy, nàng Maddī đã chói sáng.
6882. Sau đó, mẹ chồng đã bảo mang lại cho con dâu hai vật trang sức khác nữa, thêm vào đai lưng, và vật trang sức ở bàn chân; với những thứ ấy, nàng Maddī đã chói sáng.
6883. Sau khi xem xét vật trang sức có kết chỉ và không có kết chỉ, rồi trang điểm, nàng Maddī là hạng nhất. Nàng công chúa đã chói sáng, tựa như các Thiên nữ ở khu vườn Nandana.
6884. Khi đã được gội đầu, có y phục sạch sẽ, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, nàng công chúa đã chói sáng, tựa như các nữ thần ở cõi Trời Đạo Lợi.
6885. Tựa như cây chuối sanh trưởng ở khu rừng Cittalatā được va chạm bởi làn gió, nàng công chúa Maddī có đôi môi đỏ đã chói sáng.
6886. Tựa như loài nữ nhân điểu đã được sanh ra có cặp cánh nhiều màu sắc bay lượn, nàng công chúa với cặp môi tương tự như trái bimba chín màu đỏ đã chói sáng.
6887. Họ đã đem lại cho nàng ấy con voi, là con khổng tượng không quá già, chịu đựng được giáo nhọn, chịu đựng được mũi tên, có ngà như cán cày, xứng đáng để cỡi.
6888. Nàng Maddī ấy đã leo lên con voi, là con khổng tượng không quá già, chịu đựng được giáo nhọn, chịu đựng được mũi tên, có ngà như cán cày, xứng đáng để cỡi.
6889. Ở toàn bộ khu rừng ấy, hết thảy các loài thú sống ở nơi này, nhờ vào oai lực của Vessantara, đã không hãm hại lẫn nhau.
6890. Ở toàn bộ khu rừng ấy, hết thảy các loài chim sống ở nơi này, nhờ vào oai lực của Vessantara, đã không hãm hại lẫn nhau.
6891. Ở toàn bộ khu rừng ấy, hết thảy các loài thú sống ở nơi này đã tập trung lại một chỗ, khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xuất phát.
6892. Ở toàn bộ khu rừng ấy, hết thảy các loài chim sống ở nơi này đã tập trung lại một chỗ, khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xuất phát.
6893. Ở toàn bộ khu rừng ấy, hết thảy các loài thú sống ở nơi này đã không kêu lên các tiếng kêu, khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xuất phát.
6894. Ở toàn bộ khu rừng ấy, hết thảy các loài chim sống ở nơi này đã không hót lên các tiếng hót, khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xuất phát.
6895. Con đường vua đi đã được sửa soạn, đã được trang hoàng, đã được trải bông hoa, từ nơi Vessantara đã trú ngụ cho đến kinh thành Jetuttara.
6896. Kế đến, sáu mươi ngàn chiến sĩ có dáng vẻ dễ mến đã vây quanh khắp các nơi khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xuất phát.
6897. Các công nương, các hoàng tử, các thương nhân, và các vị Bà-la-môn, đã vây quanh khắp các nơi khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xuất phát.
6898. Các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh đã vây quanh khắp các nơi khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xuất phát.
6899. Các đám đông dân chúng và các đám đông thị dân đã vây quanh khắp các nơi khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xuất phát.
6900. Các dũng sĩ đội mão tròn, mặc da thú, tay cầm gươm, mặc áo giáo đẹp, đã tiến lên phía trước khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, xuất phát.
6901. Họ đã tiến vào kinh thành đáng yêu, có nhiều tường thành và cổng chào, được đầy đủ cơm ăn, nước uống, với các điệu vũ và lời ca, cả hai loại.
6902. Dân chúng đã được hân hoan, các thị dân đã tụ hội lại khi vị thái tử, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đã về đến.
6903. Họ đã vẫy khăn chúc mừng khi vị bố thí của cải đi đến. Vị ấy đã đem đến sự vui mừng cho thành phố. Vị ấy đã công bố sự tự do khỏi sự trói buộc, giam cầm (cho tất cả chúng sanh).
6904. Trởi đã lập tức đổ xuống cơn mưa bằng vàng khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh đất nước Sivi, đã tiến vào.
6905. Từ đó, đức vua Vessantara, vị Sát-đế-lỵ đã ban phát vật thí. Do sự hoại rã của thân, vị có trí tuệ ấy đã tái sanh vào cõi Trời.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
547. Vessantarajātakaṃ (10)
547. The Vessantara Jātaka (10)
547. Chuyện Bổn Sanh Vessantara (10)
Dasavarakathā
The Discourse on the Ten Boons
Câu chuyện về Mười Điều Nguyện
1655.
1655.
1655.
‘‘Phussatī † varavaṇṇābhe, varassu dasadhā vare;
Pathabyā cārupubbaṅgi, yaṃ tuyhaṃ manaso piyaṃ’’.
"O Phussatī, of excellent beauty and radiance, choose ten boons. O you of lovely form on this earth, choose whatever is dear to your mind."
“Này Phussatī, người có dung sắc và hào quang tuyệt vời, người có thân thể xinh đẹp trên cõi đất, hãy chọn lấy mười điều phước, bất cứ điều gì làm hài lòng tâm ý của nàng.”
1656.
1656.
1656.
‘‘Devarāja namo tyatthu, kiṃ pāpaṃ pakataṃ mayā;
Rammā cāvesi maṃ ṭhānā, vātova dharaṇīruhaṃ’’.
"Homage to you, O King of Gods, what evil have I done? You remove me from my delightful place, like the wind, a tree."
“Thưa Thiên Vương, xin kính lễ ngài. Con đã làm điều ác gì, mà ngài khiến con phải rời khỏi nơi an lạc này, như gió làm bật gốc cây?”
1657.
1657.
1657.
‘‘Na ceva te kataṃ pāpaṃ, na ca me tvamasi appiyā;
Puññañca te parikkhīṇaṃ, yena tevaṃ vadāmahaṃ.
"No evil has been done by you, nor are you un-dear to me; but your merit is exhausted, which is why I speak thus."
“Nàng chẳng làm điều ác gì, cũng chẳng phải ta không thương mến nàng. Nhưng phước của nàng đã cạn, vì thế nên ta mới nói với nàng như vậy.”
1658.
1658.
1658.
‘‘Santike maraṇaṃ tuyhaṃ, vinābhāvo bhavissati;
Paṭigaṇhāhi me ete, vare dasa pavecchato’’.
"Your death is near, there will be separation; accept these ten boons from me as I offer them."
“Cái chết của nàng đã gần kề, sẽ có sự chia ly. Hãy nhận lấy mười điều phước này từ ta, người ban tặng.”
1659.
1659.
1659.
‘‘Varaṃ ce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Sivirājassa bhaddante, tattha assaṃ nivesane.
"If you would grant me a boon, O Sakka, lord of all beings, may I be in the dwelling of King Sivi, O blessed one."
“Nếu ngài ban cho con một điều phước, thưa Sakka, chúa tể của tất cả chúng sanh, xin cho con được ở trong cung điện của vua xứ Sivi.”
1660.
1660.
1660.
‘‘Nīlanettā nīlabhamu, nilakkhī ca yathā migī;
Phussatī nāma nāmena, tatthapassaṃ purindada.
"With blue eyes, blue eyebrows, and eyes like a doe; Phussatī by name, there I saw her, O Giver to the People."
“Với đôi mắt xanh biếc, lông mày xanh biếc, và đôi mắt đen như mắt nai, với tên gọi là Phussatī, xin cho con được ở nơi ấy, thưa ngài Purindada.”
1661.
1661.
1661.
‘‘Puttaṃ labhetha varadaṃ, yācayogaṃ † amacchariṃ;
Pūjitaṃ paṭirājūhi, kittimantaṃ yasassinaṃ.
"May I obtain a son who is a giver of the best, worthy of requests, free from stinginess, honored by rival kings, renowned and glorious."
“Xin cho con có được một người con trai, người ban tặng những điều tốt lành, xứng đáng được cầu xin, không keo kiệt, được các vị vua lân bang tôn kính, có danh tiếng và vinh quang.”
1662.
1662.
1662.
‘‘Gabbhaṃ me dhārayantiyā, majjhimaṅgaṃ anunnataṃ;
Kucchi anunnato assa, cāpaṃva likhitaṃ samaṃ.
"While I am carrying a child in the womb, may my waist not be prominent; may my belly be not raised up, but even, like a well-drawn bow."
“Khi con mang thai, xin cho phần eo của con không bị phình ra, bụng của con không nhô lên, mà phẳng đều như một cây cung được vẽ khéo.”
1663.
1663.
1663.
‘‘Thanā me nappapateyyuṃ, palitā na santu vāsava;
Kāye rajo na limpetha, vajjhañcāpi pamocaye.
"May my breasts not sag, may there be no grey hairs, O Vāsava; may dust not adhere to my body, and may I be able to release the condemned."
“Xin cho ngực của con không bị chảy xệ, xin cho tóc không bạc, thưa Vāsava. Xin cho bụi bặm không bám vào thân thể con, và xin cho con có thể giải thoát cho người bị kết án tử hình.”
1664.
1664.
1664.
‘‘Mayūrakoñcābhirude, nārivaragaṇāyute;
Khujjacelāpakākiṇṇe, sūdamāgadhavaṇṇite.
"(May my dwelling be) resounding with peacocks and herons, frequented by groups of excellent women, filled with hunchbacks and attendants, and praised by cooks and bards."
“Xin cho nơi ấy vang lừng tiếng công và tiếng diệc, có nhiều đoàn cung nữ xinh đẹp, đông đúc những người hầu lưng gù và người lùn, được các đầu bếp và người hát rong ca tụng.”
1665.
1665.
1665.
‘‘Citraggaḷerughusite, surāmaṃsapabodhane;
Sivirājassa bhaddante, tatthassaṃ mahesī piyā’’.
"(May it be) resounding with various sounds, arousing delight in liquor and meat; in the realm of King Sivi, O blessed one, may I there be the beloved chief queen."
“Nơi vang dội tiếng then cài được trang trí, nơi người ta được đánh thức bởi rượu và thịt. Thưa ngài, xin cho con được làm hoàng hậu yêu quý của vua xứ Sivi ở nơi ấy.”
1666.
1666.
1666.
‘‘Ye te dasa varā dinnā, mayā sabbaṅgasobhane;
Sivirājassa vijite, sabbe te lacchasī vare.
"These ten boons that have been given to you by me, O you who are beautiful in every limb, you shall obtain all these boons in the kingdom of King Sivi."
“Mười điều phước này đã được ta ban cho, hỡi người đẹp toàn diện. Trong vương quốc của vua xứ Sivi, nàng sẽ nhận được tất cả những điều phước ấy.”
1667.
1667.
1667.
‘‘Idaṃ vatvāna maghavā, devarājā sujampati;
Phussatiyā varaṃ datvā, anumodittha vāsavo.
Having said this, Maghavā, the King of Gods, Sujampati, having given the boons to Phussatī, Vāsava rejoiced.
Nói lời này xong, Maghavā, vị Thiên Vương, chồng của Sujā, sau khi ban các điều phước cho Phussatī, Vāsava đã tùy hỷ.
Dasavarakathā nāma.
The Story of the Ten Boons.
Phẩm Câu chuyện về Mười Điều Nguyện.
Hemavantaṃ
The Himalayas
Tuyết Sơn
1668.
1668.
1668.
‘‘Parūḷhakacchanakhalomā, paṅkadantā rajassirā;
Paggayha dakkhiṇaṃ bāhuṃ, kiṃ maṃ yācanti brāhmaṇā’’.
"With overgrown armpit hair, nails, and body hair, with mud-stained teeth and dusty heads, raising their right arms, what do these brahmins beg from me?"
‘Lông nách và lông thân mọc dài, răng dính bùn, đầu dính bụi; giơ cánh tay phải lên, các vị Bà-la-môn đang xin tôi điều gì vậy?’
1669.
1669.
1669.
‘‘Ratanaṃ deva yācāma, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhanaṃ;
Dadāhi pavaraṃ nāgaṃ, īsādantaṃ urūḷhavaṃ’’.
"We ask for the jewel, O king, the increaser of the Sivi kingdom's prosperity. Bestow upon us the excellent elephant, the noble tusker with tusks like plough-shafts, of great stature."
‘Tâu Thiên tử, chúng tôi xin vật báu, vật làm cho xứ Sivi được phồn thịnh. Xin hãy ban cho con voi đực cao quý, có ngà như cây đòn voi, to lớn.’
1670.
1670.
1670.
‘‘Dadāmi na vikampāmi, yaṃ maṃ yācanti brāhmaṇā;
Pabhinnaṃ kuñjaraṃ dantiṃ, opavayhaṃ gajuttamaṃ’’.
"I give and do not waver, whatever the brahmins ask of me; a magnificent elephant in rut, a tusker, a superb elephant fit for a king to ride."
‘Ta cho, ta không do dự, điều mà các vị Bà-la-môn đang xin ta; con voi đực có ngà đang trong thời kỳ động cỡn, con voi tốt nhất xứng đáng để cưỡi.’
1671.
1671.
1671.
‘‘Hatthikkhandhato oruyha, rājā cāgādhimānaso;
Brāhmaṇānaṃ adā dānaṃ, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano’’.
"Descending from the elephant's back, the king, with a mind set on generosity, gave the gift to the brahmins, he, the increaser of the Sivi realm."
‘Xuống khỏi lưng voi, đức vua có tâm thiên về bố thí, vị làm cho xứ Sivi được phồn thịnh, đã ban vật bố thí cho các vị Bà-la-môn.’
1672.
1672.
1672.
‘‘Tadāsi yaṃ bhiṃsanakaṃ, tadāsi lomahaṃsanaṃ;
Hatthināge padinnamhi, medanī sampakampatha.
"Then there was terror, then there was hair-raising; when the great elephant was given away, the earth trembled."
‘Khi ấy đã có sự kinh khủng, khi ấy đã có sự dựng tóc gáy; khi con voi chúa được cho đi, mặt đất đã rung chuyển.’
1673.
1673.
1673.
‘‘Tadāsi yaṃ bhiṃsanakaṃ, tadāsi lomahaṃsanaṃ;
Hatthināge padinnamhi, khubbhittha nagaraṃ tadā.
"Then there was terror, then there was hair-raising; when the great elephant was given away, the city was then agitated."
“Lúc ấy thật là kinh khủng, lúc ấy thật là rợn tóc gáy; khi voi chúa được cho đi, bấy giờ thành phố bị xáo động.”
1674.
1674.
1674.
‘‘Samākulaṃ puraṃ āsi, ghoso ca vipulo mahā;
Hatthināge padinnamhi, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane’’.
"The city was in turmoil, and a great and widespread noise arose when the great elephant, the increaser of the Sivi realm, was given away."
“Thành phố đã trở nên hỗn loạn, và có tiếng huyên náo lớn lao; khi voi chúa, vật làm phồn vinh cho xứ Sivi, được cho đi.”
1675.
1675.
1675.
‘‘Uggā ca rājaputtā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā.
"Nobles and princes, merchants and brahmins, elephant riders, army commanders, charioteers, and foot soldiers—"
“Những người thuộc giai cấp Ugga và các vương tử, các thương gia và các vị Bà-la-môn; những người quản tượng, các tướng lãnh, các xa phu, và các bộ binh.”
1676.
1676.
1676.
‘‘Kevalo cāpi nigamo, sivayo ca samāgatā;
Disvā nāgaṃ nīyamānaṃ, te rañño paṭivedayuṃ.
"The entire town as well, and the Sivis who had assembled, seeing the elephant being led away, reported it to the king."
“Và toàn thể thị dân, và dân chúng xứ Sivi đã tụ họp lại; sau khi thấy con voi chúa bị dắt đi, họ đã tâu trình lên đức vua.”
1677.
1677.
1677.
‘‘Vidhamaṃ deva te raṭṭhaṃ, putto vessantaro tava;
Kathaṃ no hatthinaṃ dajjā, nāgaṃ raṭṭhassa pūjitaṃ.
"Your son Vessantara is destroying your kingdom, O king. How could he give away our elephant, the elephant revered by the realm?"
“Tâu đại vương, vương quốc của ngài đang bị hủy hoại, bởi Vessantara, con trai của ngài. Làm sao ngài ấy lại có thể cho đi con voi của chúng ta, con voi chúa được cả vương quốc tôn kính?”
1678.
1678.
1678.
‘‘Kathaṃ no kuñjaraṃ dajjā, īsādantaṃ urūḷhavaṃ;
Khettaññuṃ sabbayuddhānaṃ, sabbasetaṃ gajuttamaṃ.
"How could he give away our elephant, with tusks like plough-shafts, of great stature, expert in all battlefields, the all-white, best of elephants?"
“Làm sao ngài ấy lại có thể cho đi con voi của chúng ta, với cặp ngà như gọng xe, oai vệ; là con vật thiện chiến, toàn thân màu trắng, là voi chúa ưu việt nhất?”
1679.
1679.
1679.
‘‘Paṇḍukambalasañchannaṃ, pabhinnaṃ sattumaddanaṃ;
Dantiṃ savāḷabījaniṃ, setaṃ kelāsasādisaṃ.
"Covered with a pale woolen blanket, in rut, crushing foes; a tusker with a yak-tail whisk, white as Mount Kailasa."
“Được phủ bằng tấm thảm len màu vàng nhạt, đang trong thời kỳ động cỡn, là con vật dẹp tan quân thù; con voi có ngà, với chiếc quạt đuôi bò trắng, toàn thân màu trắng giống như núi Kelāsa.”
1680.
1680.
1680.
‘‘Sasetacchattaṃ saupādheyyaṃ, sāthabbanaṃ sahatthipaṃ;
Aggayānaṃ rājavāhiṃ, brāhmaṇānaṃ adā gajaṃ †.
"With a white parasol and its trappings, with its lore and its elephant-driver, the foremost royal vehicle—he gave the elephant to the brahmins."
“Cùng với lọng trắng, cùng với đồ trang sức, cùng với tấm phủ lưng, cùng với người quản tượng; vật cưỡi hàng đầu, vật chuyên chở của hoàng gia, ngài ấy đã cho con voi đến các vị Bà-la-môn.”
1681.
1681.
1681.
‘‘Annaṃ pānañca yo † dajjā, vatthasenāsanāni ca;
Etaṃ kho dānaṃ patirūpaṃ, etaṃ kho brāhmaṇārahaṃ.
"One who gives food and drink, and clothes and lodging—this indeed is a fitting gift, this indeed is worthy of brahmins."
“Người nào cho đi thức ăn và thức uống, và y phục, chỗ ở; việc bố thí ấy quả là thích hợp, việc ấy quả là xứng đáng cho các vị Bà-la-môn.”
1682.
1682.
1682.
‘‘Ayaṃ te vaṃsarājā no, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano †;
Kathaṃ vessantaro putto, gajaṃ bhājeti sañjaya.
"This was our dynastic treasure, the increaser of the Sivi realm; how could Vessantara, your son, give away the elephant, O Sañjaya?"
“Đây là báu vật hoàng gia của chúng ta, vật làm phồn vinh cho xứ Sivi; tâu vua Sañjaya, làm sao hoàng tử Vessantara lại đem con voi đi cho?”
1683.
1683.
1683.
‘‘Sace tvaṃ na karissasi, sivīnaṃ vacanaṃ idaṃ;
Maññe taṃ saha puttena, sivī hatthe karissare’’.
"If you do not act upon this word of the Sivis, I think the Sivis will take you, together with your son, into their hands."
“Nếu ngài không làm theo lời này của dân chúng Sivi; chúng tôi nghĩ rằng dân chúng Sivi sẽ ra tay xử lý ngài cùng với con trai của ngài.”
1684.
1684.
1684.
‘‘Kāmaṃ janapado māsi, raṭṭhañcāpi vinassatu;
Nāhaṃ sivīnaṃ vacanā, rājaputtaṃ adūsakaṃ;
Pabbājeyyaṃ sakā raṭṭhā, putto hi mama oraso.
"Let the countryside perish, and let the kingdom be destroyed; I will not, at the word of the Sivis, banish my innocent prince from my own realm, for he is my own legitimate son."
“Cứ để cho xứ sở này không còn, và vương quốc cũng cứ bị hủy diệt; ta sẽ không vì lời của dân chúng Sivi mà trục xuất khỏi vương quốc của mình một vị vương tử không có lỗi lầm; vì ngài là con ruột của ta.”
1685.
1685.
1685.
‘‘Kāmaṃ janapado māsi, raṭṭhañcāpi vinassatu;
Nāhaṃ sivīnaṃ vacanā, rājaputtaṃ adūsakaṃ;
Pabbājeyyaṃ sakā raṭṭhā, putto hi mama atrajo.
"Let the countryside perish, and let the kingdom be destroyed; I will not, at the word of the Sivis, banish my innocent prince from my own realm, for he is my own son, born of my body."
“Cứ để cho xứ sở này không còn, và vương quốc cũng cứ bị hủy diệt; ta sẽ không vì lời của dân chúng Sivi mà trục xuất khỏi vương quốc của mình một vị vương tử không có lỗi lầm; vì ngài là con trai của ta.”
1686.
1686.
1686.
‘‘Na cāhaṃ tasmiṃ dubbheyyaṃ, ariyasīlavato hi so;
Asilokopi me assa, pāpañca pasave bahuṃ;
Kathaṃ vessantaraṃ puttaṃ, satthena ghātayāmase’’.
"And I would not be hostile toward him, for he is of noble virtue; it would be a disgrace for me, and would produce much evil; how could we have our son, Prince Vessantara, slain with a weapon?"
“Và ta sẽ không phản bội ngài ấy, vì ngài là người có giới hạnh cao quý. Ta sẽ bị tiếng xấu, và sẽ tạo ra nhiều điều ác. Làm sao chúng ta có thể dùng gươm đao để giết hại con trai Vessantara?”
1687.
1687.
1687.
‘‘Mā naṃ daṇḍena satthena, na hi so bandhanāraho;
Pabbājehi ca naṃ raṭṭhā, vaṅke vasatu pabbate’’.
"Let him not be harmed with rod or weapon, for he does not deserve to be bound; but banish him from the kingdom, let him dwell on Mount Vaṅka."
“Xin đừng dùng gậy gộc hay gươm đao, vì ngài ấy không đáng bị trói buộc; nhưng hãy trục xuất ngài ấy khỏi vương quốc, hãy để ngài ấy sống ở núi Vaṅka.”
1688.
1688.
1688.
‘‘Eso ce sivīnaṃ chando, chandaṃ na panudāmase;
Imaṃ so vasatu rattiṃ, kāme ca paribhuñjatu.
"If this is the wish of the Sivis, we shall not reject their wish; let him stay for this one night and enjoy sensual pleasures."
“Nếu đây là ý muốn của dân chúng Sivi, ta sẽ không từ chối ý muốn ấy. Hãy để ngài ấy ở lại đêm nay, và tận hưởng các dục lạc.”
1689.
1689.
1689.
‘‘Tato ratyā vivasāne, sūriyassuggamanaṃ pati †;
Samaggā sivayo hutvā, raṭṭhā pabbājayantu naṃ’’.
"Then at the end of the night, toward the rising of the sun, let the Sivis, having united, banish him from the kingdom."
“Sau đó, khi đêm tàn, vào lúc mặt trời mọc; dân chúng Sivi sau khi đã đồng lòng tụ họp, hãy trục xuất ngài ấy khỏi vương quốc.”
1690.
1690.
1690.
‘‘Uṭṭhehi katte taramāno, gantvā vessantaraṃ vada;
Sivayo deva te kuddhā, negamā ca samāgatā.
"Rise up, charioteer, and hasten; go and tell Vessantara: ‘The Sivis are angry with you, O lord, and the townsfolk have assembled.’"
“Này người truyền tin, hãy đứng dậy, mau lên, hãy đi đến và nói với Vessantara: ‘Tâu điện hạ, dân chúng Sivi đang tức giận ngài, và các thị dân đã tụ họp lại’.”
1691.
1691.
1691.
‘‘Uggā ca rājaputtā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Kevalo cāpi nigamo, sivayo ca samāgatā.
"Nobles and princes, merchants and brahmins, elephant riders, army commanders, charioteers, and foot soldiers, the entire town as well, and the Sivis have assembled."
“Những người thuộc giai cấp Ugga và các vương tử, các thương gia và các vị Bà-la-môn; những người quản tượng, các tướng lãnh, các xa phu, và các bộ binh; và toàn thể thị dân, và dân chúng xứ Sivi đã tụ họp lại.”
1692.
1692.
1692.
‘‘Asmā ratyā vivasāne, sūriyassuggamanaṃ pati;
Samaggā sivayo hutvā, raṭṭhā pabbājayanti taṃ.
"At the end of this night, toward the rising of the sun, the Sivis, having united, will banish you from the kingdom."
“Khi đêm nay tàn, vào lúc mặt trời mọc; dân chúng Sivi sau khi đã đồng lòng tụ họp, sẽ trục xuất ngài khỏi vương quốc.”
1693.
1693.
1693.
‘‘Sa kattā taramānova, sivirājena pesito;
Āmuttahatthābharaṇā, suvattho candanabhūsito.
That charioteer, hastening, sent by the Sivi king, wearing hand-ornaments, well-dressed and adorned with sandalwood,
“Người truyền tin ấy, vội vã, được vua xứ Sivi phái đi; tay đeo trang sức, y phục chỉnh tề, thân thoa gỗ chiên-đàn.”
1694.
1694.
1694.
‘‘Sīsaṃ nhāto udake so, āmuttamaṇikuṇḍalo;
Upāgami puraṃ rammaṃ, vessantaranivesanaṃ.
his head bathed, wearing jeweled earrings, he approached the lovely city, the dwelling of Vessantara.
“Người ấy đã gội đầu sạch sẽ, tai đeo bông tai bằng ngọc; đã đi đến thành phố xinh đẹp, đến cung điện của Vessantara.”
1695.
1695.
1695.
‘‘Tatthaddasa kumāraṃ so, ramamānaṃ sake pure;
Parikiṇṇaṃ amaccehi, tidasānaṃva vāsavaṃ.
There he saw the prince, delighting in his own city, surrounded by ministers, like Vāsava among the thirty-three gods.
“Ở đấy, người ấy đã thấy vị hoàng tử, đang vui vầy trong thành phố của mình; được các vị quan vây quanh, giống như trời Đế Thích ở giữa chư vị trời Ba Mươi Ba.”
1696.
1696.
1696.
‘‘So tattha gantvā taramāno, kattā vessantaraṃbravi;
Dukkhaṃ te vedayissāmi, mā me kujjhi rathesabha.
Having gone there and hastening, the charioteer said to Vessantara: "I must announce sorrow to you; do not be angry with me, O bull among charioteers."
“Người ấy, sau khi vội vã đi đến đấy, người truyền tin đã nói với Vessantara: ‘Tôi sắp báo cho ngài một tin buồn, xin ngài đừng giận tôi, hỡi bậc chiến sĩ xa luân’.”
1697.
1697.
1697.
‘‘Vanditvā rodamāno so, kattā rājānamabravi;
Bhattā mesi mahārāja, sabbakāmarasāharo.
Bowing down and weeping, that charioteer addressed the king: "You are my master, great king, the provider of all desired pleasures."
“Sau khi đảnh lễ và khóc lóc, người truyền tin ấy đã tâu với hoàng tử: ‘Tâu đại vương, ngài là chủ của tôi, là người ban cho mọi dục lạc và mỹ vị’.”
1698.
1698.
1698.
‘‘Dukkhaṃ te vedayissāmi, tattha assāsayantu maṃ;
Sivayo deva te kuddhā, negamā ca samāgatā.
"I must announce sorrow to you; may you all give me solace in this. The Sivis are angry with you, O lord, and the townsfolk have gathered."
“Tôi sắp báo cho ngài một tin buồn, xin ngài hãy an ủi tôi về điều đó. Tâu điện hạ, dân chúng Sivi đang tức giận ngài, và các thị dân đã tụ họp lại.”
1699.
1699.
1699.
‘‘Uggā ca rājaputtā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Kevalo cāpi nigamo, sivayo ca samāgatā.
"Nobles and princes, merchants and brahmins, elephant riders, army commanders, charioteers, and foot soldiers, the entire town as well, and the Sivis have assembled."
“Những người thuộc giai cấp Ugga và các vương tử, các thương gia và các vị Bà-la-môn; những người quản tượng, các tướng lãnh, các xa phu, và các bộ binh; và toàn thể thị dân, và dân chúng xứ Sivi đã tụ họp lại.”
1700.
1700.
1700.
‘‘Asmā ratyā vivasāne, sūriyassuggamanaṃ pati;
Samaggā sivayo hutvā, raṭṭhā pabbājayanti taṃ’’.
"At the end of this night, toward the rising of the sun, the Sivis, having united, will banish you from the kingdom."
“Khi đêm nay tàn, vào lúc mặt trời mọc; dân chúng Sivi sau khi đã đồng lòng tụ họp, sẽ trục xuất ngài khỏi vương quốc.”
1701.
1701.
1701.
‘‘Kismiṃ me sivayo kuddhā, nāhaṃ passāmi dukkaṭaṃ;
Taṃ me katte viyācikkha, kasmā pabbājayanti maṃ’’.
"About what are the Sivis angry with me? I see no wrongdoing. Explain this to me, charioteer—why do they banish me?"
“Vì điều gì mà dân chúng Sivi tức giận ta? Ta không thấy mình có lỗi lầm gì. Này người truyền tin, hãy giải thích điều đó cho ta, tại sao họ lại trục xuất ta?”
1702.
1702.
1702.
‘‘Uggā ca rājaputtā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Nāgadānena khiyyanti, tasmā pabbājayanti taṃ’’.
"The nobles and princes, merchants and brahmins, elephant riders, army commanders, charioteers, and foot soldiers are vexed by the gift of the elephant; therefore, they banish you."
“Những người thuộc giai cấp Ugga và các vương tử, các thương gia và các vị Bà-la-môn; những người quản tượng, các tướng lãnh, các xa phu, và các bộ binh; họ phẫn nộ vì việc bố thí con voi chúa, vì thế họ trục xuất ngài.”
1703.
1703.
1703.
‘‘Hadayaṃ cakkhumpahaṃ dajjaṃ, kiṃ me bāhirakaṃ dhanaṃ;
Hiraññaṃ vā suvaṇṇaṃ vā, muttā veḷuriyā maṇi.
"I would give my heart, even my eye. What to me is external wealth? Gold or fine gold, pearls, beryl, or gems."
Ta có thể cho đi trái tim và con mắt, của cải bên ngoài đối với ta là gì; Dù là bạc hay là vàng, là ngọc trai, lưu ly, hay châu báu.
1704.
1704.
1704.
‘‘Dakkhiṇaṃ vāpahaṃ bāhuṃ, disvā yācakamāgate;
Dadeyyaṃ na vikampeyyaṃ, dāne me ramate mano.
"Even my right arm, seeing beggars approach, I would give without wavering; my mind delights in giving."
Khi thấy người đến xin, ta có thể cho đi cánh tay phải; Ta sẽ cho đi và không dao động, tâm của ta vui thích trong sự bố thí.
1705.
1705.
1705.
‘‘Kāmaṃ maṃ sivayo sabbe, pabbājentu hanantu vā;
Neva dānā viramissaṃ, kāmaṃ chindantu sattadhā’’.
"Let all the Sivis banish or kill me as they please; I will never cease from giving, let them cut me into seven pieces."
Cứ để cho tất cả dân Sivi trục xuất ta hay là giết đi; Ta sẽ không bao giờ ngừng bố thí, cứ để họ chặt ta ra làm bảy mảnh.
1706.
1706.
1706.
‘‘Evaṃ taṃ sivayo āhu, negamā ca samāgatā;
Kontimārāya tīrena, girimārañjaraṃ pati;
Yena pabbājitā yanti, tena gacchatu subbato’’.
Thus say the Sivis and the assembled townsfolk: 'By the bank of the Kontimārā, towards Mount Arañjara, let the virtuous one go by the path the banished take.'
Như vậy, dân chúng Sivi và các thị dân đã hội họp lại và nói với ngài rằng: ‘Bên bờ sông Kontimārā, hướng về núi Mārañjara; Con đường mà những người bị trục xuất phải đi, hãy để bậc đức hạnh đi theo con đường ấy.’
1707.
1707.
1707.
‘‘Sohaṃ tena gamissāmi, yena gacchanti dūsakā;
Rattindivaṃ me khamatha, yāva dānaṃ dadāmahaṃ’’.
I will go that way, where wrongdoers go; grant me a night and a day, that I may give a gift.
Ta sẽ đi theo con đường ấy, con đường mà những kẻ phạm tội phải đi; Xin hãy dung thứ cho ta một ngày một đêm, trong khi ta thực hành bố thí.
1708.
1708.
1708.
‘‘Āmantayittha rājānaṃ, maddiṃ sabbaṅgasobhanaṃ;
Yaṃ te kiñci mayā dinnaṃ, dhanaṃ dhaññañca vijjati.
He addressed the royal Maddī, beautiful in every limb: 'Whatever wealth and grain exists that I have given you,
Vua đã ngỏ lời với nàng Maddī, người xinh đẹp toàn vẹn: ‘Bất cứ thứ gì ta đã trao cho nàng, tài sản và ngũ cốc hiện có.
1709.
1709.
1709.
‘‘Hiraññaṃ vā suvaṇṇaṃ vā, muttā veḷuriyā bahū;
Sabbaṃ taṃ nidaheyyāsi, yañca te pettikaṃ dhanaṃ.
'Bullion or gold, many pearls and beryls—all that you should secure, and whatever paternal wealth is yours.'
Dù là bạc hay là vàng, nhiều ngọc trai và lưu ly; Nàng hãy cất giữ tất cả những thứ ấy, và cả tài sản của cha nàng để lại.
1710.
1710.
1710.
‘‘Tamabravi rājaputtī, maddī sabbaṅgasobhanā;
Kuhiṃ deva nidahāmi, taṃ me akkhāhi pucchito’’.
The princess Maddī, beautiful in every limb, said to him, 'Where, my lord, shall I secure it? Tell me, now that I have asked.'
Công chúa Maddī, người xinh đẹp toàn vẹn, đã thưa với ngài: ‘Tâu đức vua, con nên cất giữ ở đâu? Khi được hỏi, xin ngài hãy chỉ cho con.’
1711.
1711.
1711.
‘‘Sīlavantesu dajjāsi, dānaṃ maddi yathārahaṃ;
Na hi dānā paraṃ atthi, patiṭṭhā sabbapāṇinaṃ.
'Give to the virtuous, Maddī, gifts according to what is proper; for there is no support higher than giving, a foundation for all living beings.'
‘Hỡi Maddī, nàng hãy bố thí cho những người có giới đức, một cách xứng đáng; Vì không có gì cao thượng hơn sự bố thí, là nơi nương tựa cho tất cả chúng sanh.’
1712.
1712.
1712.
‘‘Puttesu maddi dayesi, sassuyā sasuramhi ca;
Yo ca taṃ bhattā maññeyya, sakkaccaṃ taṃ upaṭṭhahe.
Be kind to your children, Maddī, and to your mother-in-law and father-in-law. And diligently attend to him whom you would acknowledge as your husband.
‘Hỡi Maddī, hãy thương yêu các con, cả mẹ chồng và cha chồng; Và người nào sẽ là chồng của nàng, hãy kính cẩn phụng sự người ấy.’
1713.
1713.
1713.
‘‘No ce taṃ bhattā maññeyya, mayā vippavasena te;
Aññaṃ bhattāraṃ pariyesa, mā kisittho † mayā vinā’’.
'If, however, a husband should not acknowledge you, due to your separation from me, seek another husband; do not waste away without me.'
‘Nếu không có ai nhận nàng làm vợ, vì nàng đã xa cách ta; Hãy tìm một người chồng khác, đừng vì thiếu ta mà hao gầy.’
1714.
1714.
1714.
‘‘Ahañhi vanaṃ gacchāmi, ghoraṃ vāḷamigāyutaṃ;
Saṃsayo jīvitaṃ mayhaṃ, ekakassa brahāvane’’.
'For I am going to the forest, dreadful and haunted by fierce beasts; my life is uncertain, alone in the great wilderness.'
‘Vì ta sẽ đi vào rừng, một nơi kinh khủng đầy dã thú; Mạng sống của ta không chắc chắn, khi chỉ một mình trong khu rừng lớn.’
1715.
1715.
1715.
‘‘Tamabravi rājaputtī, maddī sabbaṅgasobhanā;
‘‘Abhumme kathaṃ nu bhaṇasi, pāpakaṃ vata bhāsasi.
Then princess Maddī, beautiful in every limb, said to him: 'How can you speak so? You utter a wicked thing!'
Công chúa Maddī, người xinh đẹp toàn vẹn, đã thưa với ngài: ‘Sao ngài lại nói những lời không xứng đáng như vậy, thật ngài đã nói ra lời xấu xa.’
1716.
1716.
1716.
‘‘Nesa dhammo mahārāja, yaṃ tvaṃ gaccheyya ekako;
Ahampi tena gacchāmi, yena gacchasi khattiya.
'This is not right, great king, that you should go alone. I too will go by the path that you take, O warrior.'
‘Tâu đại vương, đó không phải là chánh pháp, việc ngài đi một mình; Thiếp cũng sẽ đi theo con đường ấy, con đường mà ngài đi, hỡi bậc Sát-đế-lỵ.’
1717.
1717.
1717.
‘‘Maraṇaṃ vā tayā saddhiṃ, jīvitaṃ vā tayā vinā;
Tadeva maraṇaṃ seyyo, yaṃ ce jīve tayā vinā.
Death with you, or life without you—that very death is better than that I should live without you.
‘Hoặc là chết cùng với ngài, hoặc là sống mà không có ngài; Cái chết ấy vẫn tốt hơn, so với cuộc sống mà không có ngài.’
1718.
1718.
1718.
‘‘Aggiṃ ujjālayitvāna †, ekajālasamāhitaṃ;
Tattha me † maraṇaṃ seyyo, yaṃ ce jīve tayā vinā.
Having kindled a fire, gathered into a single flame, death therein would be better for me than to live without you.
‘Thà nhóm lên một ngọn lửa, thành một khối lửa duy nhất; Cái chết của thiếp ở nơi đó còn tốt hơn, so với cuộc sống mà không có ngài.’
1719.
1719.
1719.
‘‘Yathā āraññakaṃ nāgaṃ, dantiṃ anveti hatthinī;
Jessantaṃ giriduggesu, samesu visamesu ca.
Just as a female elephant follows a wild tusker, victorious in mountain passes, on level and uneven ground,
‘Giống như voi cái đi theo voi đực của rừng sâu, con voi có ngà; Đang chiến thắng ở những nơi hiểm trở trên núi, trên cả đất bằng và nơi gập ghềnh.’
1720.
1720.
1720.
‘‘Evaṃ taṃ anugacchāmi, putte ādāya pacchato;
Subharā te bhavissāmi, na te hessāmi dubbharā.
so will I follow you, taking the children behind me; I will be easy for you to support, I will not be a burden to you.
‘Cũng vậy, thiếp sẽ đi theo ngài, dẫn các con đi ở phía sau; Thiếp sẽ dễ dàng cho ngài chăm sóc, sẽ không là gánh nặng cho ngài.’
1721.
1721.
1721.
‘‘Ime kumāre passanto, mañjuke piyabhāṇine;
Āsīne † vanagumbasmiṃ, na rajjassa sarissasi.
Seeing these boys, charming and sweet-spoken, seated in a forest thicket, you will not long for the kingdom.
‘Khi nhìn thấy các con trẻ này, đáng yêu và nói lời dễ thương; Đang ngồi trong bụi cây của rừng, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1722.
1722.
1722.
‘‘Ime kumāre passanto, mañjuke piyabhāṇine;
Kīḷante vanagumbasmiṃ, na rajjassa sarissasi.
Seeing these boys, charming and sweet-spoken, playing in a forest thicket, you will not long for the kingdom.
‘Khi nhìn thấy các con trẻ này, đáng yêu và nói lời dễ thương; Đang vui đùa trong bụi cây của rừng, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1723.
1723.
1723.
‘‘Ime kumāre passanto, mañjuke piyabhāṇine;
Assame ramaṇīyamhi, na rajjassa sarissasi.
Seeing these boys, charming and sweet-spoken, in a delightful hermitage, you will not long for the kingdom.
‘Khi nhìn thấy các con trẻ này, đáng yêu và nói lời dễ thương; Ở trong am thất khả ái, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1724.
1724.
1724.
‘‘Ime kumāre passanto, mañjuke piyabhāṇine;
Kīḷante assame ramme, na rajjassa sarissasi.
Seeing these boys, charming and sweet-spoken, playing in a lovely hermitage, you will not long for the kingdom.
‘Khi nhìn thấy các con trẻ này, đáng yêu và nói lời dễ thương; Đang vui đùa trong am thất khả ái, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1725.
1725.
1725.
‘‘Ime kumāre passanto, māladhārī alaṅkate;
Assame ramaṇīyamhi, na rajjassa sarissasi.
Seeing these boys, wearing garlands and adorned, in a delightful hermitage, you will not long for the kingdom.
‘Khi nhìn thấy các con trẻ này, đeo vòng hoa và được trang điểm; Ở trong am thất khả ái, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1726.
1726.
1726.
‘‘Ime kumāre passanto, māladhārī alaṅkate;
Kīḷante assame ramme, na rajjassa sarissasi.
Seeing these boys, wearing garlands and adorned, playing in a lovely hermitage, you will not long for the kingdom.
‘Khi nhìn thấy các con trẻ này, đeo vòng hoa và được trang điểm; Đang vui đùa trong am thất khả ái, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1727.
1727.
1727.
‘‘Yadā dakkhisi naccante, kumāre māladhārine;
Assame ramaṇīyamhi, na rajjassa sarissasi.
When you see the boys dancing, wearing garlands, in a delightful hermitage, you will not long for the kingdom.
‘Khi ngài nhìn thấy các con trẻ đeo vòng hoa đang nhảy múa; Ở trong am thất khả ái, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1728.
1728.
1728.
‘‘Yadā dakkhisi naccante, kumāre māladhārine;
Kīḷante assame ramme, na rajjassa sarissasi.
When you see the boys dancing, wearing garlands, playing in a lovely hermitage, you will not long for the kingdom.
‘Khi ngài nhìn thấy các con trẻ đeo vòng hoa đang nhảy múa; Đang vui đùa trong am thất khả ái, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1729.
1729.
1729.
‘‘Yadā dakkhisi mātaṅgaṃ, kuñjaraṃ saṭṭhihāyanaṃ;
Ekaṃ araññe carantaṃ, na rajjassa sarissasi.
When you see a great elephant, a sixty-year-old tusker, wandering alone in the forest, you will not long for the kingdom.
‘Khi ngài nhìn thấy con voi, con voi chúa sáu mươi tuổi; Đang đi một mình trong rừng, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1730.
1730.
1730.
‘‘Yadā dakkhisi mātaṅgaṃ, kuñjaraṃ saṭṭhihāyanaṃ;
Sāyaṃ pāto vicarantaṃ, na rajjassa sarissasi.
When you see a great elephant, a sixty-year-old tusker, roaming at dusk and dawn, you will not long for the kingdom.
‘Khi ngài nhìn thấy con voi, con voi chúa sáu mươi tuổi; Đang đi lang thang buổi chiều và buổi sáng, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1731.
1731.
1731.
‘‘Yadā kareṇusaṅghassa, yūthassa purato vajaṃ;
Koñcaṃ kāhati mātaṅgo, kuñjaro saṭṭhihāyano;
Tassa taṃ nadato sutvā, na rajjassa sarissasi.
When a great elephant, a sixty-year-old tusker, goes before a herd of she-elephants and trumpets, hearing its cry, you will not long for the kingdom.
‘Khi con voi, con voi chúa sáu mươi tuổi, đi trước đàn voi cái; Và cất tiếng rống lên; Nghe tiếng rống ấy của nó, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1732.
1732.
1732.
‘‘Dubhato vanavikāse, yadā dakkhisi kāmado;
Vane vāḷamigākiṇṇe, na rajjassa sarissasi.
When you see the forest blossoming on both sides, a giver of pleasures, a forest teeming with fierce beasts, you will not long for the kingdom.
‘Khi ngài nhìn thấy cây cối trong rừng nở hoa ở hai bên, thỏa mãn các ước muốn; Trong khu rừng đầy dẫy dã thú, ngài sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1733.
1733.
1733.
‘‘Migaṃ disvāna sāyanhaṃ, pañcamālinamāgataṃ;
Kimpurise ca naccante, na rajjassa sarissasi.
Seeing a deer at evening, come wearing five garlands, and the kimpurisas dancing, you will not long for the kingdom.
‘Khi thấy con nai vào buổi chiều đến núi Pañcamālina, và các vị Khẩn-na-la đang nhảy múa, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1734.
1734.
1734.
‘‘Yadā sossasi nigghosaṃ, sandamānāya sindhuyā;
Gītaṃ kimpurisānañca, na rajjassa sarissasi.
When you hear the roar of the flowing river, and the songs of the kimpurisas, you will not long for the kingdom.
‘Khi nàng nghe tiếng vang của dòng sông đang chảy, và tiếng hát của các vị Khẩn-na-la, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1735.
1735.
1735.
‘‘Yadā sossasi nigghosaṃ, girigabbharacārino;
Vassamānassulūkassa, na rajjassa sarissasi.
When you hear the cry of the owl that haunts the mountain caves, you will not long for the kingdom.
‘Khi nàng nghe tiếng vang của con cú đang kêu, con vật đi trong hang núi, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1736.
1736.
1736.
‘‘Yadā sīhassa byagghassa, khaggassa gavayassa ca;
Vane sossasi vāḷānaṃ, na rajjassa sarissasi.
When you hear in the forest the cries of fierce lions, tigers, rhinoceroses, and wild oxen, you will not long for the kingdom.
‘Khi ở trong rừng, nàng nghe tiếng của sư tử, cọp, tê giác, và bò rừng, những loài dã thú, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1737.
1737.
1737.
‘‘Yadā morīhi parikiṇṇaṃ, barihīnaṃ matthakāsinaṃ;
Moraṃ dakkhisi naccantaṃ, na rajjassa sarissasi.
When you see a peacock dancing, surrounded by peahens, chief among the crested birds, you will not long for the kingdom.
‘Khi nàng thấy con công có mào, được các con công mái vây quanh, đang nhảy múa, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1738.
1738.
1738.
‘‘Yadā morīhi parikiṇṇaṃ, aṇḍajaṃ citrapakkhinaṃ;
Moraṃ dakkhisi naccantaṃ, na rajjassa sarissasi.
When you see a peacock dancing, surrounded by peahens, born from an egg, with colorful wings, you will not long for the kingdom.
‘Khi nàng thấy con công, loài sinh từ trứng, có cánh sặc sỡ, được các con công mái vây quanh, đang nhảy múa, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1739.
1739.
1739.
‘‘Yadā morīhi parikiṇṇaṃ, nīlagīvaṃ sikhaṇḍinaṃ;
Moraṃ dakkhisi naccantaṃ, na rajjassa sarissasi.
When you see a peacock dancing, surrounded by peahens, blue-necked and crested, you will not long for the kingdom.
‘Khi nàng thấy con công có cổ xanh, có mào, được các con công mái vây quanh, đang nhảy múa, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1740.
1740.
1740.
‘‘Yadā dakkhisi hemante, pupphite dharaṇīruhe;
Surabhiṃ sampavāyante, na rajjassa sarissasi.
When you see in winter the trees of the earth in bloom, wafting their fragrance, you will not long for the kingdom.
‘Khi nàng thấy vào mùa đông, các cây cối đang trổ hoa, đang tỏa hương thơm ngát, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1741.
1741.
1741.
‘‘Yadā hemantike māse, haritaṃ dakkhisi medaniṃ †;
Indagopakasañchannaṃ, na rajjassa sarissasi.
When in the winter months you see the earth green, covered with cochineal insects, you will not long for the kingdom.
‘Khi vào tháng mùa đông, nàng sẽ thấy mặt đất xanh tươi, được bao phủ bởi loài côn trùng đỏ, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1742.
1742.
1742.
‘‘Yadā dakkhisi hemante, pupphite dharaṇīruhe;
Kuṭajaṃ bimbajālañca, pupphitaṃ loddapadmakaṃ †;
Surabhiṃ sampavāyante, na rajjassa sarissasi.
When you see in winter the earth's trees in bloom—the kuṭaja, bimbajāla, loddha, and padmaka flowering—wafting their fragrance, you will not long for the kingdom.
‘Khi nàng thấy vào mùa đông, các cây cối đang trổ hoa: cây Kuṭaja và cây Bimbajāla, cây Lodda và cây Padmaka đang trổ hoa, đang tỏa hương thơm ngát, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
1743.
1743.
1743.
‘‘Yadā hemantike māse, vanaṃ dakkhisi pupphitaṃ;
Opupphāni ca padmāni, na rajjassa sarissasi’’.
When in the winter months you see the forest blossoming, with water-lilies and lotuses in bloom, you will not long for the kingdom.
‘Khi vào tháng mùa đông, nàng sẽ thấy khu rừng đang trổ hoa, và những bông hoa sen, nàng sẽ không còn nhớ đến vương quốc.’
Hemavantaṃ nāma.
The Section on the Himālaya.
Phẩm Hemavanta.
Dānakaṇḍaṃ
The Chapter on Giving.
Chương Bố Thí.
1744.
1744.
1744.
‘‘Tesaṃ lālappitaṃ sutvā, puttassa suṇisāya ca;
Kalunaṃ † paridevesi, rājaputtī yasassinī.
Hearing their lamentation, and that of her son and daughter-in-law, the glorious princess lamented piteously.
‘Sau khi nghe lời than vãn của con trai và của con dâu, vị vương nữ lừng danh đã than khóc một cách thảm thương.’
1745.
1745.
1745.
‘‘Seyyo visaṃ me khāyitaṃ, papātā papateyyahaṃ;
Rajjuyā bajjha miyyāhaṃ, kasmā vessantaraṃ puttaṃ;
Pabbājenti adūsakaṃ.
Better for me to eat poison, to fall from a precipice, to die bound by a rope. Why do they banish my son Vessantara, the innocent one?
‘Thà rằng ta ăn thuốc độc, thà rằng ta gieo mình xuống vực thẳm, thà rằng ta treo cổ tự vẫn; tại sao họ lại trục xuất con trai Vessantara, người không có tội?’
1746.
1746.
1746.
‘‘Ajjhāyakaṃ dānapatiṃ, yācayogaṃ amacchariṃ;
Pūjitaṃ paṭirājūhi, kittimantaṃ yasassinaṃ;
Kasmā vessantaraṃ puttaṃ, pabbājenti adūsakaṃ.
A master of recitations, a generous donor, open to requests, ungrudging, honored by rival kings, famed, and glorious—why do they banish Vessantara, their son, who is innocent?
‘Người học rộng, vị chủ về bố thí, người thích hợp cho kẻ cầu xin, không keo kiệt, được các vị vua lân bang kính trọng, người có tiếng tăm, có danh vọng; tại sao họ lại trục xuất con trai Vessantara, người không có tội?’
1747.
1747.
1747.
‘‘Mātāpettibharaṃ jantuṃ, kule jeṭṭhāpacāyikaṃ;
Kasmā vessantaraṃ puttaṃ, pabbājenti adūsakaṃ.
One who supports his mother and father, and honors the elders of his clan—why do they banish Vessantara, their son, who is innocent?
‘Người nuôi dưỡng cha mẹ, người kính trọng bậc trưởng thượng trong dòng tộc; tại sao họ lại trục xuất con trai Vessantara, người không có tội?’
1748.
1748.
1748.
‘‘Rañño hitaṃ devihitaṃ, ñātīnaṃ sakhinaṃ hitaṃ;
Hitaṃ sabbassa raṭṭhassa, kasmā vessantaraṃ puttaṃ;
Pabbājenti adūsakaṃ.
A benefit to the king, a benefit to the queen, a benefit to relatives and friends, a benefit to the whole realm—why do they banish Vessantara, their son, who is innocent?
‘Người mưu cầu lợi ích cho đức vua, cho hoàng hậu, lợi ích cho quyến thuộc, cho bạn bè, lợi ích cho toàn thể vương quốc; tại sao họ lại trục xuất con trai Vessantara, người không có tội?’
1749.
1749.
1749.
‘‘Madhūniva palātāni, ambāva patitā chamā;
Evaṃ hessati te raṭṭhaṃ, pabbājenti adūsakaṃ.
Like plundered honeycombs, like mangoes fallen to the ground, so will your kingdom be, when they banish the innocent one.
‘Vương quốc của ngài sẽ trở nên như những tổ ong đã bị lấy mật, như những quả xoài đã rụng xuống đất; (vì) họ trục xuất người không có tội.’
1750.
1750.
1750.
‘‘Haṃso nikhīṇapattova, pallalasmiṃ anūdake;
Apaviṭṭho amaccehi, eko rājā vihiyyasi.
Like a swan with worn-out feathers in a waterless marsh, forsaken by your ministers, you, O king, will be left all alone.
‘Như con thiên nga bị rụng lông trong cái ao không có nước, bị các vị quan đại thần xa lánh, đức vua một mình, ngài sẽ bị khốn khổ.’
1751.
1751.
1751.
‘‘Taṃ taṃ brūmi mahārāja, attho te mā upaccagā;
Mā naṃ sivīnaṃ vacanā, pabbājesi adūsakaṃ’’.
This I tell you, great king, let not your welfare pass you by. Do not, at the word of the Sivi people, banish the innocent one.
‘Tâu Đại vương, tôi xin nói với ngài điều này, mong rằng lợi ích sẽ không vuột khỏi ngài. Chớ vì lời nói của dân Sivi mà ngài trục xuất người không có tội.’
1752.
1752.
1752.
‘‘Dhammassāpacitiṃ kummi, sivīnaṃ vinayaṃ dhajaṃ;
Pabbājemi sakaṃ puttaṃ, pāṇā piyataro hi me’’.
I pay respect to the Dhamma, the discipline and banner of the Sivis; I banish my own son, though he is dearer to me than life.
‘Ta thể hiện sự tôn kính đối với Chánh pháp, đối với kỷ luật và ngọn cờ của dân Sivi; ta trục xuất đứa con trai của ta, dù nó còn thân thương hơn mạng sống của ta.’
1753.
1753.
1753.
‘‘Yassa pubbe dhajaggāni, kaṇikārāva pupphitā;
Yāyantamanuyāyanti, svajjekova gamissati.
He whose banners, like blossoming kanikāra trees, formerly followed him as he went—today he will go alone.
‘Người mà trước đây, khi đang di chuyển, các ngọn cờ như những cây kaṇikāra trổ hoa đã đi theo sau, hôm nay người ấy sẽ đi một mình.’
1754.
1754.
1754.
‘‘Yassa pubbe dhajaggāni, kaṇikāravanāniva;
Yāyantamanuyāyanti, svajjekova gamissati.
He whose banners, like a forest of kanikāra trees, formerly followed him as he went—today he will go alone.
‘Người mà trước đây, khi đang di chuyển, các ngọn cờ như những khu rừng kaṇikāra đã đi theo sau, hôm nay người ấy sẽ đi một mình.’
1755.
1755.
1755.
‘‘Yassa pubbe anīkāni, kaṇikārāva pupphitā;
Yāyantamanuyāyanti, svajjekova gamissati.
He whose armies, like blossoming kanikāra trees, formerly followed him as he went—today he will go alone.
‘Người mà trước đây, khi đang di chuyển, các đạo quân như những cây kaṇikāra trổ hoa đã đi theo sau, hôm nay người ấy sẽ đi một mình.’
1756.
1756.
1756.
‘‘Yassa pubbe anīkāni, kaṇikāravanāniva;
Yāyantamanuyāyanti, svajjekova gamissati.
He whose armies, like a forest of kanikāra trees, formerly followed him as he went—today he will go alone.
Trước kia, các đạo quân theo sau ngài khi ngài đi, giống như những khu rừng hoa kaṇikāra; hôm nay, ngài sẽ đi một mình.
1757.
1757.
1757.
‘‘Indagopakavaṇṇābhā, gandhārā paṇḍukambalā;
Yāyantamanuyāyanti, svajjekova gamissati.
Those of the hue of the Indagopa insect, the pale woolen blankets of Gandhāra, used to follow him as he went—today he will go alone.
Những con ngựa Gandhāra, sắc màu như côn trùng indagopaka, phủ chăn len màu vàng, đã theo sau ngài khi ngài đi; hôm nay, ngài sẽ đi một mình.
1758.
1758.
1758.
‘‘Yo pubbe hatthinā yāti, sivikāya rathena ca;
Svajja vessantaro rājā, kathaṃ gacchati pattiko.
He who formerly went by elephant, by palanquin, and by chariot—how does that King Vessantara today go on foot?
Vị vua trước kia đi bằng voi, bằng kiệu, và bằng xe; hôm nay, vua Vessantara, làm sao lại đi bộ?
1759.
1759.
1759.
‘‘Kathaṃ candanalittaṅgo, naccagītappabodhano;
Khurājinaṃ pharasuñca, khārikājañca hāhiti †.
How will he, whose limbs were anointed with sandalwood, who was awakened by dance and song, now carry a hide, an axe, and a carrying-pole with baskets?
Làm sao người có thân thể thoa đàn hương, được đánh thức bởi ca múa, lại có thể mang tấm da thô, chiếc rìu, và đòn gánh?
1760.
1760.
1760.
‘‘Kasmā nābhiharissanti, kāsāva ajināni ca;
Pavisantaṃ brahāraññaṃ, kasmā cīraṃ na bajjhare.
Why will they not bring him ochre robes and animal hides? As he enters the great forest, why is he not bound with bark cloth?
Tại sao họ không mang đến y màu cà sa và da thú? Khi ngài vào đại lâm, tại sao y vỏ cây không được mặc vào?
1761.
1761.
1761.
‘‘Kathaṃ nu cīraṃ dhārenti, rājapabbājitā janā;
Kathaṃ kusamayaṃ cīraṃ, maddī paridahissati.
How now will they wear bark robes, those royal banished folk? How shall Maddī wear a robe made of kusa grass?
“Làm sao những người xuất gia dòng dõi hoàng tộc có thể mặc (y khổ hạnh) được lâu dài? Làm sao nàng Maddī sẽ mặc được chiếc y bằng cỏ kusa?”
1762.
1762.
1762.
‘‘Kāsiyāni ca dhāretvā, khomakoṭumbarāni ca;
Kusacīrāni dhārentī, kathaṃ maddī karissati.
Having worn silks from Kāsi, and fine linen and cotton cloth, how will Maddī manage, wearing robes of kusa grass?
“Đã từng mặc lụa Kasi, vải lanh và vải bông, (nay) phải mặc y bằng cỏ kusa, nàng Maddī sẽ làm thế nào đây?”
1763.
1763.
1763.
‘‘Vayhāhi pariyāyitvā, sivikāya rathena ca;
Sā kathajja anujjhaṅgī, pathaṃ gacchati pattikā.
Having traveled about in carriages, in palanquins and chariots—how will she today, unsupported, go along the path on foot?
“Đã từng đi lại bằng kiệu, bằng võng và bằng xe, làm sao hôm nay nàng ấy, người vốn mỏng manh, lại phải đi bộ trên đường?”
1764.
1764.
1764.
‘‘Yassā mudutalā hatthā, caraṇā ca sukhedhitā;
Sā kathajja anujjhaṅgī, pathaṃ gacchati pattikā.
She whose hands have soft palms, and whose feet were delicately raised—how will she today, unsupported, go along the path on foot?
“Người mà đôi tay có lòng bàn tay mềm mại, và đôi chân được nuôi dưỡng trong sung sướng, làm sao hôm nay nàng ấy, người vốn mỏng manh, lại phải đi bộ trên đường?”
1765.
1765.
1765.
‘‘Yassā mudutalā pādā, caraṇā ca sukhedhitā;
Pādukāhi suvaṇṇāhi, pīḷamānāva gacchati;
Sā kathajja anujjhaṅgī, pathaṃ gacchati pattikā.
She whose feet have soft soles, and whose steps are so delicate that she walked even in golden sandals as if in pain—how will she today, unsupported, go along the path on foot?
“Người mà đôi bàn chân có lòng chân mềm mại, và đôi chân được nuôi dưỡng trong sung sướng, (ngay cả khi) đi đôi dép bằng vàng cũng như bị đau đớn; làm sao hôm nay nàng ấy, người vốn mỏng manh, lại phải đi bộ trên đường?”
1766.
1766.
1766.
‘‘Yāssu itthisahassānaṃ, purato gacchati mālinī;
Sā kathajja anujjhaṅgī, vanaṃ gacchati ekikā.
She who, adorned with garlands, used to walk before thousands of women—how will she today, unsupported, go to the forest alone?
“Nàng, người thường trang điểm vòng hoa đi trước hàng ngàn thị nữ, làm sao hôm nay nàng ấy, người vốn mỏng manh, lại đi vào rừng một mình?”
1767.
1767.
1767.
‘‘Yāssu sivāya sutvāna, muhuṃ uttasate pure;
Sā kathajja anujjhaṅgī, vanaṃ gacchati bhīrukā.
She who, in the city, would often tremble upon hearing the cry of a jackal—how does she today, unsupported and timid, go to the forest?
“Nàng, người ở trong thành nghe tiếng chó rừng rú cũng thường kinh hãi, làm sao hôm nay nàng ấy, người vốn mỏng manh, lại đi vào rừng, vốn là người nhút nhát?”
1768.
1768.
1768.
‘‘Yāssu indasagottassa, ulūkassa pavassato;
Sutvāna nadato bhītā, vāruṇīva pavedhati;
Sā kathajja anujjhaṅgī, vanaṃ gacchati bhīrukā.
She who, hearing the hooting cry of the owl of Indra's clan, would tremble in fear like a vāruṇī creeper—how does she today, unsupported and timid, go to the forest?
“Nàng, người nghe tiếng kêu của con cú thuộc dòng dõi Indra cũng sợ hãi, run rẩy như người phụ nữ say rượu; làm sao hôm nay nàng ấy, người vốn mỏng manh, lại đi vào rừng, vốn là người nhút nhát?”
1769.
1769.
1769.
‘‘Sakuṇī hataputtāva, suññaṃ disvā kulāvakaṃ;
Ciraṃ dukkhena jhāyissaṃ, suññaṃ āgammimaṃ puraṃ.
Like a bird whose young are slain, seeing her empty nest, long will I grieve in sorrow, having come to this empty city.
“Như con chim bị mất con, thấy tổ trống, ta sẽ sầu muộn trong đau khổ lâu dài, khi trở về kinh thành trống vắng này.”
1770.
1770.
1770.
‘‘Sakuṇī hataputtāva, suññaṃ disvā kulāvakaṃ;
Kisā paṇḍu bhavissāmi, piye putte apassatī.
Like a bird whose young are slain, seeing her empty nest, I will grow thin and pale, not seeing my beloved sons.
“Như con chim bị mất con, thấy tổ trống, ta sẽ trở nên gầy gò, xanh xao, vì không thấy các con yêu quý.”
1771.
1771.
1771.
‘‘Sakuṇī hataputtāva, suññaṃ disvā kulāvakaṃ;
Tena tena padhāvissaṃ, piye putte apassatī.
Like a bird whose young are slain, seeing her empty nest, I will rush here and there, not seeing my beloved sons.
“Như con chim bị mất con, thấy tổ trống, ta sẽ chạy ngược chạy xuôi, vì không thấy các con yêu quý.”
1772.
1772.
1772.
‘‘Kurarī † hatachāpāva, suññaṃ disvā kulāvakaṃ;
Ciraṃ dukkhena jhāyissaṃ, suññaṃ āgammimaṃ puraṃ.
Like an osprey whose fledglings are slain, seeing her empty nest, long will I grieve in sorrow, having come to this empty city.
“Như con chim ó bị mất con, thấy tổ trống, ta sẽ sầu muộn trong đau khổ lâu dài, khi trở về kinh thành trống vắng này.”
1773.
1773.
1773.
‘‘Kurarī hatachāpāva, suññaṃ disvā kulāvakaṃ;
Kisā paṇḍu bhavissāmi, piye putte apassatī.
Like an osprey whose fledglings are slain, seeing her empty nest, I will grow thin and pale, not seeing my beloved sons.
“Như con chim ó bị mất con, thấy tổ trống, ta sẽ trở nên gầy gò, xanh xao, vì không thấy các con yêu quý.”
1774.
1774.
1774.
‘‘Kurarī hatachāpāva, suññaṃ disvā kulāvakaṃ;
Tena tena padhāvissaṃ, piye putte apassatī.
Like an osprey whose fledglings are slain, seeing her empty nest, I will rush here and there, not seeing my beloved sons.
“Như con chim ó bị mất con, thấy tổ trống, ta sẽ chạy ngược chạy xuôi, vì không thấy các con yêu quý.”
1775.
1775.
1775.
‘‘Sā nūna cakkavākīva, pallalasmiṃ anūdake;
Ciraṃ dukkhena jhāyissaṃ, suññaṃ āgammimaṃ puraṃ.
Surely, like a ruddy sheldrake in a waterless pond, long will I grieve in sorrow, having come to this empty city.
“Chắc chắn ta, như con vịt trời trong ao cạn nước, sẽ sầu muộn trong đau khổ lâu dài, khi trở về kinh thành trống vắng này.”
1776.
1776.
1776.
‘‘Sā nūna cakkavākīva, pallalasmiṃ anūdake;
Kisā paṇḍu bhavissāmi, piye putte apassatī.
Surely, like a ruddy sheldrake in a waterless pond, I will become thin and pale, not seeing my beloved sons.
“Chắc chắn ta, như con vịt trời trong ao cạn nước, sẽ trở nên gầy gò, xanh xao, vì không thấy các con yêu quý.”
1777.
1777.
1777.
‘‘Sā nūna cakkavākīva, pallalasmiṃ anūdake;
Tena tena padhāvissaṃ, piye putte apassatī.
Surely, like a ruddy sheldrake in a waterless pond, I will rush here and there, not seeing my beloved sons.
“Chắc chắn ta, như con vịt trời trong ao cạn nước, sẽ chạy ngược chạy xuôi, vì không thấy các con yêu quý.”
1778.
1778.
1778.
‘‘Evaṃ me vilapantiyā, rājā puttaṃ adūsakaṃ;
Pabbājesi vanaṃ raṭṭhā, maññe hissāmi jīvitaṃ’’.
While I was thus lamenting, the king banished my innocent son from the kingdom to the forest; I think I shall give up my life.
“Trong khi ta đang than khóc như thế này, đức vua đã đày người con vô tội từ vương quốc vào rừng, ta nghĩ rằng ta sẽ từ bỏ mạng sống.”
1779.
1779.
1779.
‘‘Tassā lālappitaṃ sutvā, sabbā antepure bahū †;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, sivikaññā samāgatā.
Hearing her wailing, all the many Sivi maidens in the inner palace gathered together and, raising their arms, cried out.
“Nghe lời than khóc của bà, tất cả nhiều người trong nội cung, các thiếu nữ Sivi đã tụ tập lại, giơ tay lên và kêu khóc.”
1780.
1780.
1780.
‘‘Sālāva sampamathitā, mālutena pamadditā;
Senti puttā ca dārā ca, vessantaranivesane.
Like sāla trees violently shaken, crushed by the wind, so lie the sons and wives in Vessantara’s dwelling.
“Như những cây sala bị lay động mạnh, bị gió quật ngã, các con trai và các bà vợ nằm la liệt trong dinh thự của Vessantara.”
1781.
1781.
1781.
‘‘Orodhā ca kumārā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, vessantaranivesane.
The royal ladies and princes, the merchants and brahmins, raising their arms, cried out in Vessantara’s dwelling.
“Các cung nữ, các hoàng tử, các thương gia và các vị Bà-la-môn, (tất cả đều) giơ tay lên và kêu khóc trong dinh thự của Vessantara.”
1782.
1782.
1782.
‘‘Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, vessantaranivesane.
Elephant riders, army commanders, charioteers, and foot soldiers, raising their arms, cried out in Vessantara's dwelling.
“Những người quản tượng, các binh sĩ, những người đánh xe, những người lính bộ, (tất cả đều) giơ tay lên và kêu khóc trong dinh thự của Vessantara.”
1783.
1783.
1783.
‘‘Tato ratyā vivasāne, sūriyassuggamanaṃ pati;
Atha vessantaro rājā, dānaṃ dātuṃ upāgami.
Then, at the end of the night, toward the rising of the sun, King Vessantara approached to give gifts.
“Sau đó, vào lúc cuối đêm, lúc bình minh, bấy giờ vua Vessantara đã đi đến để bố thí.”
1784.
1784.
1784.
‘‘Vatthāni vatthakāmānaṃ, soṇḍānaṃ detha vāruṇiṃ;
Bhojanaṃ bhojanatthīnaṃ, sammadeva pavecchatha.
Give clothes to those who desire clothes, give strong drink to those fond of it; give food to those who need food—distribute it all properly.
“(Ngài phán:) ‘Hãy cho y phục đến những người muốn y phục, hãy cho rượu đến những người nghiện rượu. Hãy ban phát vật thực một cách hợp lý cho những người cần vật thực.’”
1785.
1785.
1785.
‘‘Mā ca kiñci vanibbake, heṭṭhayittha idhāgate;
Tappetha annapānena, gacchantu paṭipūjitā.
Let no beggar who comes here be harmed; satisfy them with food and drink; let them depart, honored.
“‘Và đừng có bất cứ người ăn xin nào đã đến đây bị các ngươi quấy nhiễu. Hãy làm cho họ hài lòng với đồ ăn thức uống, hãy để họ ra đi sau khi được tôn trọng.’”
1786.
1786.
1786.
‘‘Athettha vattatī saddo, tumulo bheravo mahā;
Dānena taṃ nīharanti, puna dānaṃ adā tuvaṃ †.
Then a sound arose, tumultuous, dreadful, and great: 'By his giving they banish him, yet he gave gifts again!'
“Bấy giờ ở đây một tiếng động vang lên, náo động, kinh khủng, và to lớn: ‘Họ trục xuất ngài vì sự bố thí, (mà) ngài lại còn bố thí nữa!’”
1787.
1787.
1787.
‘‘Tesu mattā kilantāva, sampatanti vanibbakā;
Nikkhamante mahārāje, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
Intoxicated and exhausted, the beggars collapsed as the great king, the increaser of the Sivi kingdom, departed.
“Khi đức vua vĩ đại, người làm cho vương quốc Sivi thịnh vượng, đang ra đi, những người ăn xin ngã xuống như thể say sưa và mệt mỏi.”
1788.
1788.
1788.
‘‘Acchecchuṃ vata bho rukkhaṃ, nānāphaladharaṃ dumaṃ;
Yathā vessantaraṃ raṭṭhā, pabbājenti adūsakaṃ.
Alas, indeed, they have cut down the tree, the tree bearing various fruits, just as they banish the innocent Vessantara from the kingdom.
“Ôi, họ đã đốn hạ cây, cây mang nhiều loại quả, cũng như họ trục xuất Vessantara, người vô tội, khỏi vương quốc.”
1789.
1789.
1789.
‘‘Acchecchuṃ vata bho rukkhaṃ, sabbakāmadadaṃ dumaṃ;
Yathā vessantaraṃ raṭṭhā, pabbājenti adūsakaṃ.
Alas, indeed, they have cut down the tree, the wish-granting tree, just as they banish the innocent Vessantara from the kingdom.
“Ôi, họ đã đốn hạ cây, cây ban cho mọi điều mong muốn, cũng như họ trục xuất Vessantara, người vô tội, khỏi vương quốc.”
1790.
1790.
1790.
‘‘Acchecchuṃ vata bho rukkhaṃ, sabbakāmarasāharaṃ;
Yathā vessantaraṃ raṭṭhā, pabbājenti adūsakaṃ.
Alas, indeed, they have cut down the tree, the tree bringing all desired tastes, just as they banish the innocent Vessantara from the kingdom.
“Ôi, họ đã đốn hạ cây, cây mang lại mọi hương vị mong muốn, cũng như họ trục xuất Vessantara, người vô tội, khỏi vương quốc.”
1791.
1791.
1791.
‘‘Ye vuḍḍhā ye ca daharā, ye ca majjhimaporisā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, nikkhamante mahārāje;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
Those who were old, those who were young, and those in the prime of life, stretched out their arms and wailed as the great king departed, the increaser of the Sivi kingdom.
Những người già, những người trẻ, và những người trung niên, đã giơ tay lên mà than khóc, khi đức vua vĩ đại, bậc làm hưng thịnh xứ Sivi, đang ra đi.
1792.
1792.
1792.
‘‘Atiyakkhā vassavarā, itthāgārā ca rājino;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, nikkhamante mahārāje;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
The chief consorts and the women of the king's inner palace stretched out their arms and wailed as the great king, the increaser of the Sivi kingdom, departed.
Các hoạn quan, các quan thị vệ, và các cung nữ của đức vua, đã giơ tay lên mà than khóc, khi đức vua vĩ đại, bậc làm hưng thịnh xứ Sivi, đang ra đi.
1793.
1793.
1793.
‘‘Thiyopi tattha pakkanduṃ, yā tamhi nagare ahu;
Nikkhamante mahārāje, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
The women in that city also wailed there, as the great king, the increaser of the Sivi kingdom, departed.
Các phụ nữ có mặt trong thành phố ấy cũng đã than khóc, khi đức vua vĩ đại, bậc làm hưng thịnh xứ Sivi, đang ra đi.
1794.
1794.
1794.
‘‘Ye brāhmaṇā ye ca samaṇā, aññe vāpi vanibbakā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, adhammo kira bho iti.
The brahmins, ascetics, and other mendicants stretched out their arms and cried out, 'Indeed, sirs, this is unrighteous!'
Những vị Bà-la-môn, những vị Sa-môn, và cả những người hành khất khác, đã giơ tay lên mà than khóc rằng: 'Thưa ngài, đây quả là điều phi pháp'.
1795.
1795.
1795.
‘‘Yathā vessantaro rājā, yajamāno sake pure;
Sivīnaṃ vacanatthena, samhā raṭṭhā nirajjati.
Thus King Vessantara, while performing sacrifices in his own city, is banished from his own kingdom by the word of the Sivis.
Như thế, vua Vessantara, người đã thực hành bố thí trong thành của mình, vì lời nói của dân Sivi, đã bị trục xuất khỏi vương quốc của mình.
1796.
1796.
1796.
‘‘Satta hatthisate datvā, sabbālaṅkārabhūsite;
Suvaṇṇakacche mātaṅge, hemakappanavāsase.
Having given seven hundred elephants, all adorned with ornaments, great elephants with golden girth-bands, clad in golden caparisons.
Đã bố thí bảy trăm con voi, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những con voi có đai bụng bằng vàng, có yên và y phục bằng vàng.
1797.
1797.
1797.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, tomaraṅkusapāṇibhi;
Esa vessantaro rājā, samhā raṭṭhā nirajjati.
Mounted by chieftains with spears and goads in hand; this King Vessantara is banished from his own kingdom.
Được cưỡi bởi các vị trưởng làng, tay cầm lao và móc sắt; vua Vessantara ấy đã bị trục xuất khỏi vương quốc của mình.
1798.
1798.
1798.
‘‘Satta assasate datvā, sabbālaṅkārabhūsite;
Ājānīyeva jātiyā, sindhave sīghavāhane.
Having given seven hundred horses, all adorned with ornaments, thoroughbreds by birth, swift steeds from Sindh.
Đã bố thí bảy trăm con ngựa, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, thuộc giống ngựa thuần chủng, ngựa xứ Sindhu, chạy nhanh.
1799.
1799.
1799.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, illiyācāpadhāribhi;
Esa vessantaro rājā, samhā raṭṭhā nirajjati.
Mounted by chieftains bearing swords and bows; this King Vessantara is banished from his own kingdom.
Được cưỡi bởi các vị trưởng làng, tay cầm kiếm và cung; vua Vessantara ấy đã bị trục xuất khỏi vương quốc của mình.
1800.
1800.
1800.
‘‘Satta rathasate datvā, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
Having given seven hundred chariots, yoked and ready with banners raised high, covered with leopard and tiger skins, and all adorned with ornaments.
Đã bố thí bảy trăm cỗ xe, được trang bị, có cờ dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức.
1801.
1801.
1801.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Esa vessantaro rājā, samhā raṭṭhā nirajjati.
Mounted by chieftains, armored and with bows in hand; this King Vessantara is banished from his own kingdom.
Được điều khiển bởi các vị trưởng làng, tay cầm cung, mình mặc áo giáp; vua Vessantara ấy đã bị trục xuất khỏi vương quốc của mình.
1802.
1802.
1802.
‘‘Satta itthisate datvā, ekamekā rathe ṭhitā;
Sannaddhā nikkharajjūhi, suvaṇṇehi alaṅkatā.
Having given seven hundred women, each standing in a chariot, equipped with golden cords and adorned with golden ornaments.
Đã bố thí bảy trăm phụ nữ, mỗi người đứng trên một cỗ xe, được trang bị với những dây chuyền, được trang điểm bằng vàng.
1803.
1803.
1803.
‘‘Pītālaṅkārā pītavasanā, pītābharaṇavibhūsitā;
Aḷārapamhā hasulā, susaññā tanumajjhimā;
Esa vessantaro rājā, samhā raṭṭhā nirajjati.
Adorned with yellow ornaments, clad in yellow robes, embellished with yellow jewelry; with curved eyelashes, smiling, of graceful form, and slender-waisted; this King Vessantara is banished from his own kingdom.
Trang sức vàng, y phục vàng, được tô điểm bằng đồ trang sức màu vàng, lông mi cong, hay mỉm cười, dáng người cân đối, eo thon; vua Vessantara ấy đã bị trục xuất khỏi vương quốc của mình.
1804.
1804.
1804.
‘‘Satta dhenusate datvā, sabbā kaṃsupadhāraṇā †;
Esa vessantaro rājā, samhā raṭṭhā nirajjati.
Having given seven hundred milk-cows, all with bronze pails; this King Vessantara is banished from his own kingdom.
Đã bố thí bảy trăm con bò sữa, tất cả đều có thùng vắt sữa bằng đồng; vua Vessantara ấy đã bị trục xuất khỏi vương quốc của mình.
1805.
1805.
1805.
‘‘Satta dāsisate datvā, satta dāsasatāni ca;
Esa vessantaro rājā, samhā raṭṭhā nirajjati.
Having given seven hundred female slaves and seven hundred male slaves, this King Vessantara is banished from his own kingdom.
Đã bố thí bảy trăm nữ tỳ, và bảy trăm nam nô; vua Vessantara ấy đã bị trục xuất khỏi vương quốc của mình.
1806.
1806.
1806.
‘‘Hatthī assarathe † datvā, nāriyo ca alaṅkatā;
Esa vessantaro rājā, samhā raṭṭhā nirajjati.
Having given elephants, horses, chariots, and adorned women, this King Vessantara is banished from his own kingdom.
Đã bố thí voi, ngựa, xe, và các phụ nữ được trang điểm; vua Vessantara ấy đã bị trục xuất khỏi vương quốc của mình.
1807.
1807.
1807.
‘‘Tadāsi yaṃ bhiṃsanakaṃ, tadāsi lomahaṃsanaṃ;
Mahādāne padinnamhi, medanī sampakampatha.
Then it was dreadful, then it was hair-raising; when the great gift was given, the earth quaked.
Khi ấy, điều kinh khiếp đã xảy ra, khi ấy, điều dựng tóc gáy đã xảy ra; khi cuộc đại bố thí được thực hiện, mặt đất đã rung chuyển.
1808.
1808.
1808.
‘‘Tadāsi yaṃ bhiṃsanakaṃ, tadāsi lomahaṃsanaṃ;
Yaṃ pañjalikato rājā, samhā raṭṭhā nirajjati.
Then it was dreadful, then it was hair-raising, when the king, with hands joined in reverence, was banished from his own kingdom.
Khi ấy, điều kinh khiếp đã xảy ra, khi ấy, điều dựng tóc gáy đã xảy ra, khi đức vua chắp tay bị trục xuất khỏi vương quốc của mình.
1809.
1809.
1809.
‘‘Athettha vattatī saddo, tumulo bheravo mahā;
Dānena taṃ nīharanti, puna dānaṃ adā tuvaṃ.
Then a sound arose, tumultuous, dreadful, and great: 'By his giving they banish him, yet he gave gifts again!'
Và rồi ở đây, một tiếng động ồn ào, khủng khiếp, và to lớn vang lên: 'Họ trục xuất ngài vì sự bố thí, (mà) ngài lại còn thực hiện bố thí nữa'.
1810.
1810.
1810.
‘‘Tesu mattā kilantāva, sampatanti vanibbakā;
Nikkhamante mahārāje, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane’’.
Intoxicated and exhausted, the beggars collapsed as the great king, the increaser of the Sivi kingdom, departed.
Trong số họ, những người hành khất say sưa và mệt mỏi đã ngã xuống, khi đức vua vĩ đại, bậc làm hưng thịnh xứ Sivi, đang ra đi.
1811.
1811.
1811.
‘‘Āmantayittha rājānaṃ, sañjayaṃ dhamminaṃ varaṃ †;
Avaruddhasi maṃ deva, vaṅkaṃ gacchāmi pabbataṃ.
He addressed King Sañjaya, the best of the righteous: 'You have banished me, O lord; I shall go to Vaṅka mountain.'
(Vessantara) đã thưa với đức vua Sañjaya, bậc hiền đức cao cả: 'Tâu thiên tử, ngài đã trục xuất con, con sẽ đi đến núi Vaṅka'.
1812.
1812.
1812.
‘‘Ye hi keci mahārāja, bhūtā ye ca bhavissare;
Atittāyeva kāmehi, gacchanti yamasādhanaṃ.
For all beings, O great king, who have been and who will be, go to Yama's abode, unsatisfied with sensual pleasures.
Tâu đại vương, bất cứ ai đã từng tồn tại và sẽ tồn tại, vẫn không thỏa mãn với các dục lạc, đều đi đến cõi của Diêm vương.
1813.
1813.
1813.
‘‘Svāhaṃ sake abhissasiṃ, yajamāno sake pure;
Sivīnaṃ vacanatthena, samhā raṭṭhā nirajjati.
I, who was master in my own city and performed sacrifices, am banished from my own kingdom by the word of the Sivis.
Con, người đã thực hành bố thí trong thành của mình, vì lời nói của dân Sivi, bị trục xuất khỏi vương quốc. Con sẽ tự mình nỗ lực.
1814.
1814.
1814.
‘‘Aghaṃ taṃ paṭisevissaṃ, vane vāḷamigākiṇṇe;
Khaggadīpinisevite, ahaṃ puññāni karomi;
Tumhe paṅkamhi sīdatha’’.
I will resort to that dangerous forest, teeming with beasts of prey, frequented by rhinoceroses and leopards. I will make merit, while you sink in the mud.
Con sẽ chịu đựng nỗi khổ ấy, trong khu rừng đầy dẫy thú dữ, nơi có tê giác và báo lui tới. Con làm các công đức, (trong khi) các ngài chìm đắm trong vũng lầy.
1815.
1815.
1815.
‘‘Anujānāhi maṃ amma, pabbajjā mama ruccati;
Svāhaṃ sake abhissasiṃ, yajamāno sake pure;
Sivīnaṃ vacanatthena, samhā raṭṭhā nirajjati.
Grant me permission, mother, for the renunciant life is pleasing to me. I, who was master in my own city and performed sacrifices, am banished from my own kingdom by the word of the Sivis.
Tâu mẫu hậu, xin hãy cho phép con, con ưa thích việc xuất gia. Con, người đã thực hành bố thí trong thành của mình, vì lời nói của dân Sivi, bị trục xuất khỏi vương quốc.
1816.
1816.
1816.
‘‘Aghaṃ taṃ paṭisevissaṃ, vane vāḷamigākiṇṇe;
Khaggadīpinisevite, ahaṃ puññāni karomi;
I will resort to that dangerous wilderness, teeming with beasts of prey, frequented by rhinoceroses and leopards, and there I will perform meritorious deeds.
Con sẽ chịu đựng nỗi khổ ấy, trong khu rừng đầy dẫy thú dữ, nơi có tê giác và báo lui tới. Con làm các công đức,
Tumhe paṅkamhi sīdatha †.
While you sink in the mud.
(trong khi) các ngài chìm đắm trong vũng lầy.
1817.
1817.
1817.
‘‘Anujānāmi taṃ putta, pabbajjā te samijjhatu;
Ayañca maddī kalyāṇī, susaññā tanumajjhimā;
I grant you permission, son. May your renunciation be successful. But this Maddi, who is lovely, of graceful form, and slender-waisted—
Này con trai, mẹ cho phép con, mong rằng việc xuất gia của con được thành tựu. Còn nàng Maddī đức hạnh này, dáng người cân đối, eo thon;
Acchataṃ saha puttehi, kiṃ araññe karissati’’.
Let her stay here with her sons; what will she do in the forest?
hãy để nàng ở lại cùng với các con. Nàng sẽ làm gì trong rừng?
1818.
1818.
1818.
‘‘Nāhaṃ akāmā dāsimpi, araññaṃ netumussahe;
Sace icchati anvetu, sace nicchati acchatu’’.
I would not venture to take even an unwilling slave girl to the forest; if she wishes, let her follow; if she does not wish, let her stay.
Con không thể chịu đựng được việc đưa một người không muốn vào rừng, dù là một nữ tỳ. Nếu nàng muốn, hãy để nàng đi theo; nếu nàng không muốn, hãy để nàng ở lại.
1819.
1819.
1819.
‘‘Tato suṇhaṃ mahārājā, yācituṃ paṭipajjatha;
Mā candanasamācāre, rajojallaṃ adhārayi.
Then the great king proceeded to entreat his daughter-in-law: 'Do not, you whose conduct is like sandalwood, cover yourself in dust and dirt.'
Tâu Đại vương, sau đó ngài nên tiến đến và thỉnh cầu con dâu. Xin đừng để người quen dùng đàn hương phải mang lấy bụi bẩn.
1820.
1820.
1820.
‘‘Mā kāsiyāni dhāretvā †, kusacīraṃ adhārayi;
Dukkho vāso araññasmiṃ, mā hi tvaṃ lakkhaṇe gami.
Do not, having once worn Benares silk, now wear a garment of kusa grass. Life in the forest is harsh; do not go, O fortunate one.
Đừng để người đã mặc lụa Kasi phải mặc y vỏ cây. Cuộc sống trong rừng là khổ đau, này Lakkhaṇā, nàng chớ đi.
1821.
1821.
1821.
‘‘Tamabravi rājaputtī, maddī sabbaṅgasobhanā;
Nāhaṃ taṃ sukhamiccheyyaṃ, yaṃ me vessantaraṃ vinā’’.
To him spoke the princess Maddi, lovely in all her limbs: 'I would not wish for any happiness that is without Vessantara.'
Công chúa Maddī, xinh đẹp toàn thân, thưa với vua rằng: ‘Con không mong muốn hạnh phúc nào mà không có Vessantara của con.’
1822.
1822.
1822.
‘‘Tamabravi mahārājā, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano;
Iṅgha maddī nisāmeti, vane ye honti dussahā.
The great king, increaser of the Sivi realm, said to her: 'Come, Maddī, listen now to the things in the forest that are hard to endure.'
Đại vương, người làm cho vương quốc Sivi thịnh vượng, nói với nàng rằng: ‘Này Maddī, hãy nghe đây, về những điều khó khăn trong rừng.’
1823.
1823.
1823.
‘‘Bahū kīṭā paṭaṅgā ca, makasā madhumakkhikā;
Tepi taṃ tattha hiṃseyyuṃ, taṃ te dukkhataraṃ siyā.
Many insects, moths, mosquitoes, and honeybees—they too might harm you there; that would be more painful for you.
Có nhiều sâu bọ và bướm đêm, muỗi và ong mật; chúng cũng sẽ làm hại nàng ở đó, điều ấy sẽ là nỗi khổ lớn hơn cho nàng.
1824.
1824.
1824.
‘‘Apare passa santāpe, nadīnupanisevite;
Sappā ajagarā nāma, avisā te mahabbalā.
See other afflictions, dwelling near rivers: serpents named Ajagara, non-venomous, and of great strength.
Hãy xem những nỗi khổ khác ở nơi có các dòng sông lui tới: có loài rắn tên là trăn, chúng không có nọc độc nhưng sức rất mạnh.
1825.
1825.
1825.
‘‘Te manussaṃ migaṃ vāpi, api māsannamāgataṃ;
Parikkhipitvā bhogehi, vasamānenti attano.
They encircle with their coils a man or a beast, even one that has come near, and bring it under their control.
Khi người hay thú đến gần, chúng dùng thân quấn quanh và khuất phục theo ý mình.
1826.
1826.
1826.
‘‘Aññepi kaṇhajaṭino †, acchā nāma aghammigā;
Na tehi puriso diṭṭho, rukkhamāruyha muccati.
And other dangerous beasts, bears by name, with matted black fur; no man seen by them escapes by climbing a tree.
Còn có những loài thú dữ khác gọi là gấu, có bờm đen; người nào bị chúng nhìn thấy thì không thể trèo cây thoát được.
1827.
1827.
1827.
‘‘Saṅghaṭṭayantā siṅgāni, tikkhaggātippahārino †;
Mahiṃsā vicarantettha, nadiṃ sotumbaraṃ pati.
Clashing their horns, with sharp points and fierce blows, buffaloes roam here, toward the Sotumbara river.
Những con trâu rừng húc sừng vào nhau, với đầu sừng nhọn hoắt và cú húc dữ dội, đi lang thang ở đây, hướng về sông Sotumbara.
1828.
1828.
1828.
‘‘Disvā migānaṃ yūthānaṃ, gavaṃ sañcarataṃ vane;
Dhenuva vacchagiddhāva, kathaṃ maddi karissasi.
Seeing herds of wild animals and cattle wandering in the forest, like a cow longing for her calf, what will you do, Maddī?
Khi thấy những đàn thú, đàn bò đi lang thang trong rừng, nàng sẽ làm gì, hỡi Maddī, giống như bò mẹ nhớ thương bê con?
1829.
1829.
1829.
‘‘Disvā sampatite ghore, dumaggesu plavaṅgame;
Akhettaññāya te maddi, bhavissate mahabbhayaṃ.
Seeing the dreadful monkeys leaping in the treetops, for you, Maddī, who are unfamiliar with the region, there will be great fear.
Khi thấy những con khỉ đáng sợ chuyền trên ngọn cây, đối với nàng, hỡi Maddī, người không quen thuộc nơi này, sẽ có nỗi sợ hãi lớn lao.
1830.
1830.
1830.
‘‘Yā tvaṃ sivāya sutvāna, muhuṃ uttasayī † pure;
Sā tvaṃ vaṅkamanuppattā, kathaṃ maddi karissasi.
You who, upon hearing the cry of a jackal, were often frightened in the past; now that you have reached the Vaṅka mountain, what will you do, Maddī?
Nàng, người trước kia ở thành thị thường sợ hãi khi nghe tiếng chó rừng, khi đã đến núi Vanka, nàng sẽ làm gì, hỡi Maddī?
1831.
1831.
1831.
‘‘Ṭhite majjhanhike † kāle, sannisinnesu pakkhisu;
Saṇateva brahāraññaṃ, tattha kiṃ gantumicchasi’’.
At high noon, when the birds are settled and still, the great forest falls silent; why do you wish to go there?
Vào lúc giữa trưa, khi các loài chim đã im tiếng, đại lâm dường như rền rĩ, tại sao nàng lại muốn đến nơi ấy?
1832.
1832.
1832.
‘‘Tamabravi rājaputtī, maddī sabbaṅgasobhanā;
Yāni etāni akkhāsi, vane paṭibhayāni me;
Sabbāni abhisambhossaṃ, gacchaññeva rathesabha.
The princess Maddī, beautiful in every limb, said to him: 'All these dangers in the forest that you have described to me, I shall overcome them all. I will certainly go, O bull among charioteers.'
Công chúa Maddī, xinh đẹp toàn thân, thưa rằng: ‘Những điều đáng sợ trong rừng mà ngài đã kể cho con, con sẽ vượt qua tất cả. Thưa bậc chiến sĩ xa luân, con nhất định sẽ đi.’
1833.
1833.
1833.
‘‘Kāsaṃ kusaṃ poṭakilaṃ, usiraṃ muñjapabbajaṃ †;
Urasā panudahissāmi, nassa hessāmi dunnayā.
Kāsa grass, kusa grass, poṭakila, usīra, and muñja reeds, I will push aside with my chest; I shall not be of weak resolve.
Cỏ kāsa, cỏ kusa, cỏ poṭakila, cỏ usīra, cỏ muñja, cỏ pabbaja, con sẽ dùng ngực để rẽ lối đi. Con sẽ không có hành vi xấu.
1834.
1834.
1834.
‘‘Bahūhi vata cariyāhi, kumārī vindate patiṃ;
Udarassuparodhena, gohanuveṭhanena ca.
Indeed, through many observances a maiden finds a husband: through restraint of the belly and through wrapping the shins.
Thật vậy, một thiếu nữ tìm được chồng là nhờ nhiều hạnh kiểm: nhờ nhịn ăn, và nhờ trét phân bò.
1835.
1835.
1835.
‘‘Aggissa pāricariyāya, udakummujjanena ca;
Vedhabyaṃ † kaṭukaṃ loke, gacchaññeva rathesabha.
By tending the sacred fire and by plunging into water—widowhood is bitter in the world. I will certainly go, O bull among charioteers.
Nhờ phụng sự thần lửa, và nhờ dầm mình trong nước. Cảnh góa bụa ở đời thật cay đắng, thưa bậc chiến sĩ xa luân, con nhất định sẽ đi.
1836.
1836.
1836.
‘‘Apissā hoti appatto, ucchiṭṭhamapi bhuñjituṃ;
Yo naṃ hatthe gahetvāna, akāmaṃ parikaḍḍhati;
Vedhabyaṃ kaṭukaṃ loke, gacchaññeva rathesabha.
She may not even get to eat the leftovers of him who, seizing her by the hand, drags her against her will. Widowhood is bitter in the world; I will certainly go, O bull among charioteers.
Nàng thậm chí không được ăn phần thừa của kẻ đã nắm tay lôi nàng đi một cách miễn cưỡng. Cảnh góa bụa ở đời thật cay đắng, thưa bậc chiến sĩ xa luân, con nhất định sẽ đi.
1837.
1837.
1837.
‘‘Kesaggahaṇamukkhepā, bhūmyā ca parisumbhanā;
Datvā ca nopakkamati, bahudukkhaṃ anappakaṃ;
Vedhabyaṃ kaṭukaṃ loke, gacchaññeva rathesabha.
Seizing her by the hair and lifting her up, striking her on the ground; and having struck her, he does not desist—much suffering, and not a little. Widowhood is bitter in the world; I will certainly go, O bull among charioteers.
Bị nắm tóc nhấc lên, bị đập xuống đất; dù đã trả nợ, chủ nợ vẫn không đi, thật nhiều khổ đau không ít. Cảnh góa bụa ở đời thật cay đắng, thưa bậc chiến sĩ xa luân, con nhất định sẽ đi.
1838.
1838.
1838.
‘‘Sukacchavī vedhaverā, datvā subhagamānino;
Akāmaṃ parikaḍḍhanti, ulūkaññeva vāyasā;
Vedhabyaṃ kaṭukaṃ loke, gacchaññeva rathesabha.
Though she has fair skin, men proud of their good fortune drag the unwilling widow, just as crows drag an owl. Widowhood is bitter in the world; I will certainly go, O bull among charioteers.
Những kẻ thù của người góa bụa, có làn da đẹp, tự cho mình là tuấn tú, lôi nàng đi một cách miễn cưỡng, như quạ lôi con cú. Cảnh góa bụa ở đời thật cay đắng, thưa bậc chiến sĩ xa luân, con nhất định sẽ đi.
1839.
1839.
1839.
‘‘Api ñātikule phīte, kaṃsapajjotane vasaṃ;
Nevābhivākyaṃ na labhe, bhātūhi sakhinīhipi †;
Vedhabyaṃ kaṭukaṃ loke, gacchaññeva rathesabha.
Even in a prosperous family of kinsmen, living in a shining bronze mansion, she receives no greeting from her brothers or female friends. Widowhood is bitter in the world; I will certainly go, O bull among charioteers.
Dù sống trong gia đình quyến thuộc giàu có, với những vật dụng bằng đồng sáng loáng, nàng cũng không nhận được lời nói tử tế từ anh em hay bạn bè. Cảnh góa bụa ở đời thật cay đắng, thưa bậc chiến sĩ xa luân, con nhất định sẽ đi.
1840.
1840.
1840.
‘‘Naggā nadī anūdakā, naggaṃ raṭṭhaṃ arājakaṃ;
Itthīpi vidhavā naggā, yassāpi dasa bhātaro;
Vedhabyaṃ kaṭukaṃ loke, gacchaññeva rathesabha.
A river without water is bare, a kingdom without a king is bare; a widowed woman is also bare, even if she has ten brothers. Widowhood is bitter in the world; I will certainly go, O bull among charioteers.
Sông không nước là trơ trụi, nước không vua là trơ trụi; người phụ nữ góa chồng cũng trơ trụi, dù nàng có mười người anh em. Cảnh góa bụa ở đời thật cay đắng, thưa bậc chiến sĩ xa luân, con nhất định sẽ đi.
1841.
1841.
1841.
‘‘Dhajo rathassa paññāṇaṃ, dhūmo paññāṇamaggino;
Rājā rathassa paññāṇaṃ, bhattā paññāṇamitthiyā;
Vedhabyaṃ kaṭukaṃ loke, gacchaññeva rathesabha.
The banner is the sign of a chariot, smoke is the sign of fire; the king is the sign of a kingdom, a husband is the sign of a woman. Widowhood is bitter in the world; I will certainly go, O bull among charioteers.
Cờ là biểu hiệu của xe, khói là biểu hiệu của lửa; vua là biểu hiệu của quốc gia, chồng là biểu hiệu của người phụ nữ. Cảnh góa bụa ở đời thật cay đắng, thưa bậc chiến sĩ xa luân, con nhất định sẽ đi.
1842.
1842.
1842.
‘‘Yā daliddī daliddassa, aḍḍhā aḍḍhassa kittimaṃ;
Taṃ ve devā pasaṃsanti, dukkarañhi karoti sā.
The poor woman who is true to a poor man, the rich woman to a rich man—her the gods indeed praise, for she does what is difficult.
Người vợ nghèo của người chồng nghèo, người vợ giàu của người chồng giàu, là điều đáng ca ngợi. Chư thiên tán thán người vợ ấy, vì nàng làm được việc khó làm.
1843.
1843.
1843.
‘‘Sāmikaṃ anubandhissaṃ, sadā kāsāyavāsinī;
Pathabyāpi abhijjantyā †, vedhabyaṃ kaṭukitthiyā.
I will follow my husband, always wearing the ascetic's ochre robe. For a woman, even one who might desire the whole earth, widowhood is bitter.
Con sẽ theo chồng, luôn mặc y màu cà sa. Dù cho đất có nứt ra, cảnh góa bụa đối với người phụ nữ vẫn cay đắng.
1844.
1844.
1844.
‘‘Api sāgarapariyantaṃ, bahuvittadharaṃ mahiṃ;
Nānāratanaparipūraṃ, nicche vessantaraṃ vinā.
Without Vessantara, she would not desire the earth, though it be bounded by the ocean, possessed of great wealth, and full of various jewels.
“Dù cho là trái đất, có biển cả bao quanh, chứa đựng nhiều của cải, đầy dẫy các loại châu báu, (thần thiếp) cũng không mong muốn nếu không có Vessantara.”
1845.
1845.
1845.
‘‘Kathaṃ nu tāsaṃ hadayaṃ, sukharā vata itthiyo;
Yā sāmike dukkhitamhi, sukhamicchanti attano.
How indeed are the hearts of those women, seekers of their own comfort, who desire happiness for themselves while their husband is suffering?
“Trái tim của những người phụ nữ ấy quả là thế nào, ôi những người phụ nữ thật là sung sướng; những người mà khi chồng mình đang đau khổ, lại mong muốn hạnh phúc cho riêng mình.”
1846.
1846.
1846.
‘‘Nikkhamante mahārāje, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane;
Tamahaṃ anubandhissaṃ, sabbakāmadado hi me’’.
When the great king, the increaser of the Sivi realm, departs, I will follow him, for he is the giver of all my desires.
“Khi đức vua vĩ đại, người làm cho vương quốc Sivi phồn thịnh, ra đi; thần thiếp sẽ đi theo ngài, vì ngài là người ban cho thần thiếp mọi điều mong muốn.”
1847.
1847.
1847.
‘‘Tamabravi mahārājā, maddiṃ sabbaṅgasobhanaṃ;
Ime te daharā puttā, jālī kaṇhājinā cubho;
Nikkhippa lakkhaṇe gaccha, mayaṃ te posayāmase’’ †.
The great king said to Maddī, beautiful in every limb: 'These young children of yours, Jāli and Kaṇhājinā, both—leave them, O you of auspicious signs, and go. We shall look after them.'
“Đức vua vĩ đại đã nói với nàng, với nàng Maddī có thân hình toàn mỹ: ‘Đây là những đứa con nhỏ của nàng, cả Jāli và Kaṇhājinā; nàng hãy để chúng lại, hỡi người có tướng tốt, và hãy đi. Chúng ta sẽ nuôi nấng chúng.’”
1848.
1848.
1848.
‘‘Tamabravi rājaputtī, maddī sabbaṅgasobhanā;
Piyā me puttakā deva, jālī kaṇhājinā cubho;
Tyamhaṃ tattha ramessanti, araññe jīvasokinaṃ’’.
The princess Maddī, beautiful in every limb, replied: 'My beloved children, O king, Jāli and Kaṇhājinā, both; they will delight me there in the forest, as I live in sorrow.'
“Nàng công chúa, nàng Maddī có thân hình toàn mỹ, đã nói với ngài: ‘Tâu đức vua, những đứa con thân yêu của thiếp, cả Jāli và Kaṇhājinā; chúng sẽ làm cho thiếp vui thích ở nơi ấy, trong khu rừng, khi thiếp sống trong sầu muộn.’”
1849.
1849.
1849.
‘‘Tamabravi mahārājā, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano;
Sālīnaṃ odanaṃ bhutvā, suciṃ maṃsūpasecanaṃ;
Rukkhaphalāni bhuñjantā, kathaṃ kāhanti dārakā.
'Having been used to eating fine sālī rice with pure meat sauces, how will the children fare eating the fruits of trees?'
Vị đại vương, người làm cho xứ Sivi được phồn thịnh, đã nói với nàng rằng: ‘Sau khi đã ăn cơm nấu bằng gạo Sāli, với đồ ăn có thịt trong sạch, (nay) các con nhỏ ăn trái cây rừng, làm sao chúng có thể sống được?’
1850.
1850.
1850.
‘‘Bhutvā satapale kaṃse, sovaṇṇe satarājike;
Rukkhapattesu bhuñjantā, kathaṃ kāhanti dārakā.
'Having eaten from bronze bowls worth a hundred palas, and golden ones of great value, how will the children fare, eating from tree leaves?'
‘Sau khi đã ăn trong những chén bát bằng vàng, trị giá một trăm (lượng), (nay) các con nhỏ ăn trên lá cây, làm sao chúng có thể sống được?’
1851.
1851.
1851.
‘‘Kāsiyāni ca dhāretvā, khomakoṭumbarāni ca;
Kusacīrāni dhārentā, kathaṃ kāhanti dārakā.
'Having worn garments of Kāsi silk, and fine linen and cotton cloth, how will the children fare, wearing robes of grass and bark?'
‘Sau khi đã mặc y phục bằng lụa Kasi, bằng vải gai và vải bông, (nay) các con nhỏ mặc vỏ cây và cỏ kusa, làm sao chúng có thể sống được?’
1852.
1852.
1852.
‘‘Vayhāhi pariyāyitvā, sivikāya rathena ca;
Pattikā paridhāvantā, kathaṃ kāhanti dārakā.
'Having traveled in conveyances, palanquins, and chariots, how will the children fare, running about on foot?'
‘Sau khi đã đi lại bằng kiệu, bằng võng và bằng xe, (nay) các con nhỏ phải đi bộ, làm sao chúng có thể sống được?’
1853.
1853.
1853.
‘‘Kūṭāgāre sayitvāna, nivāte phusitaggaḷe;
Sayantā rukkhamūlasmiṃ, kathaṃ kāhanti dārakā.
'Having slept in gabled chambers, sheltered from the wind with bolts fastened, how will the children fare, sleeping at the foot of a tree?'
‘Sau khi đã ngủ trong các lâu đài có nóc nhọn, kín gió, được cài then, (nay) các con nhỏ ngủ dưới gốc cây, làm sao chúng có thể sống được?’
1854.
1854.
1854.
‘‘Pallaṅkesu sayitvāna, gonake cittasanthate;
Sayantā tiṇasanthāre, kathaṃ kāhanti dārakā.
'Having slept on divans with beautifully spread woolen covers, how will the children fare, sleeping on a bed of grass?'
‘Sau khi đã ngủ trên những giường nệm, có trải thảm len lông dài sặc sỡ, (nay) các con nhỏ ngủ trên thảm cỏ, làm sao chúng có thể sống được?’
1855.
1855.
1855.
‘‘Gandhakena vilimpitvā, agarucandanena ca;
Rajojallāni dhārentā, kathaṃ kāhanti dārakā.
'Having been anointed with perfumes, with aloe and sandalwood, how will the children fare, covered in dust and grime?'
‘Sau khi đã thoa các loại hương, trầm hương và chiên-đàn, (nay) các con nhỏ mình mẩy lấm lem bụi đất, làm sao chúng có thể sống được?’
1856.
1856.
1856.
‘‘Cāmaramorahatthehi, bījitaṅgā sukhedhitā †;
Phuṭṭhā ḍaṃsehi makasehi, kathaṃ kāhanti dārakā’’.
'Their limbs fanned by yak-tail whisks and peacock feathers, nurtured in comfort, how will the children fare, bitten by gadflies and mosquitoes?'
‘Sau khi đã được quạt bằng phất trần và lông công, thân thể được nuôi dưỡng trong an lạc, (nay) các con nhỏ bị ruồi muỗi chích đốt, làm sao chúng có thể sống được?’
1857.
1857.
1857.
‘‘Tamabravi rājaputtī, maddī sabbaṅgasobhanā;
Mā deva paridevesi, mā ca tvaṃ vimano ahu;
Yathā mayaṃ bhavissāma, tathā hessanti dārakā.
The princess Maddī, beautiful in all her limbs, replied: 'Do not lament, O king, and do not be disheartened. As we shall be, so will the children be.'
Công chúa Maddī, người xinh đẹp toàn diện, đã nói với chàng rằng: ‘Tâu thiên tử, xin đừng than khóc, xin chàng chớ có ưu phiền. Chúng ta sống như thế nào, thì các con nhỏ cũng sẽ như thế ấy.’
1858.
1858.
1858.
‘‘Idaṃ vatvāna pakkāmi, maddī sabbaṅgasobhanā;
Sivimaggena anvesi, putte ādāya lakkhaṇā’’.
Having said this, Maddī, beautiful in every limb, departed. She, the one of auspicious signs, followed along the Sivi road, taking her children.
Nói lời này xong, nàng Maddī, người xinh đẹp toàn diện, đã ra đi. Người có phước tướng ấy đã dẫn theo các con, đi theo con đường của xứ Sivi.
1859.
1859.
1859.
Tato vessantaro rājā, dānaṃ datvāna khattiyo;
Pitu mātu ca vanditvā, katvā ca naṃ padakkhiṇaṃ.
Then King Vessantara, the Khattiya, having given gifts, paid homage to his father and mother and circumambulated them respectfully.
Bấy giờ, vua Vessantara, vị Sát-đế-lỵ, sau khi đã bố thí, đã đảnh lễ phụ vương và mẫu hậu, và đã đi nhiễu quanh các ngài.
1860.
1860.
1860.
Catuvāhiṃ rathaṃ yuttaṃ, sīghamāruyha sandanaṃ;
Ādāya puttadārañca, vaṅkaṃ pāyāsi pabbataṃ.
Having swiftly mounted the swift chariot yoked with four horses, taking his children and wife, he set out for the Vaṅka mountain.
Nhanh chóng bước lên cỗ xe được thắng bốn con ngựa, mang theo vợ và các con, ngài đã khởi hành đến núi Vanka.
1861.
1861.
1861.
Tato vessantaro rājā, yenāsi bahuko jano;
‘‘Āmanta kho taṃ gacchāma, arogā hontu ñātayo’’.
Then King Vessantara, where many people were, said: 'We now take our leave of you; we are going. May our kinsmen be free from illness.'
Bấy giờ, vua Vessantara, ở nơi có đông đảo dân chúng, (đã nói): ‘Này, chúng tôi xin cáo từ để ra đi, mong rằng các quyến thuộc được an khang.’
1862.
1862.
1862.
‘‘Iṅgha maddi nisāmehi, rammarūpaṃva dissati;
Āvāsaṃ siviseṭṭhassa, pettikaṃ bhavanaṃ mama’’.
Come, Maddi, listen: it appears like a delightful sight. This is the dwelling place of the chief of the Sivis, my ancestral home.
‘Này Maddī, nàng hãy nhìn xem, cảnh tượng khả ái đang hiện ra. Đấy là nơi ở của bậc tối thắng trong dòng Sivi, là ngôi nhà của phụ vương ta.’
1863.
1863.
1863.
‘‘Taṃ brāhmaṇā anvagamuṃ, te naṃ asse ayācisuṃ;
Yācito paṭipādesi, catunnaṃ caturo haye’’’.
The brahmins followed him and requested horses from him. When requested, he provided four horses for the four of them.
‘Các vị Bà-la-môn đã đi theo ngài, họ đã xin ngài những con ngựa. Khi được xin, ngài đã ban cho, bốn con ngựa cho bốn người.’
1864.
1864.
1864.
‘‘Iṅgha maddi nisāmehi, cittarūpaṃva dissati;
Migarohiccavaṇṇena, dakkhiṇassā vahanti maṃ’’.
Come, Maddi, listen: it appears like a painted image. With the color of a red deer, the southern mares carry me.
‘Này Maddī, nàng hãy nhìn xem, cảnh tượng kỳ diệu đang hiện ra. Những con nai cái màu đỏ như nai Rohita đang kéo xe cho ta ở phía bên phải.’
1865.
1865.
1865.
‘‘Athettha pañcamo āgā, so taṃ rathamayācatha;
Tassa taṃ yācitodāsi, na cassupahato mano.
Then a fifth one came there and asked him for his chariot. He gave it when asked, and his mind was not afflicted.
‘Rồi một người thứ năm đã đến, người ấy đã xin ngài cỗ xe. Khi được xin, ngài đã ban cho người ấy, và tâm ngài không hề bị dao động.’
1866.
1866.
1866.
‘‘Tato vessantaro rājā, oropetvā † sakaṃ janaṃ;
Assāsayi assarathaṃ, brāhmaṇassa dhanesino’’.
Then King Vessantara, having caused his own family to alight, handed over the horse-chariot to the wealth-seeking brahmin.
Bấy giờ, vua Vessantara, sau khi để cho người nhà của mình xuống xe, đã trao cỗ xe ngựa cho vị Bà-la-môn đang tìm cầu tài sản.
1867.
1867.
1867.
‘‘Tvaṃ maddi kaṇhaṃ gaṇhāhi, lahu esā kaniṭṭhikā;
Ahaṃ jāliṃ gahessāmi, garuko bhātiko hi so’’.
You, Maddi, take Kaṇhā; she is light, being the younger sister. I will take Jāli, for he is heavy, being the brother.
‘Này Maddī, nàng hãy bế bé Kaṇhā, em gái này thì nhẹ. Ta sẽ bế bé Jāli, vì người anh này thì nặng.’
1868.
1868.
1868.
‘‘Rājā kumāramādāya, rājaputtī ca dārikaṃ;
Sammodamānā pakkāmuṃ, aññamaññaṃ piyaṃvadā’’.
The king, taking the prince, and the princess, the maiden, departed, rejoicing together, speaking pleasant words to one another.
Nhà vua bế hoàng tử, và công chúa bế công chúa nhỏ; họ cùng nhau ra đi trong hoan hỷ, nói với nhau những lời thương mến.
Dānakaṇḍaṃ nāma.
The Chapter on Giving.
Phẩm Bố Thí.
Vanapavesanaṃ
Entering the Forest
Vào Rừng
1869.
1869.
1869.
‘‘Yadi keci manujā enti, anumagge paṭipathe;
Maggaṃ te paṭipucchāma, kuhiṃ vaṅkatapabbato.
If any people come, along the main path or a side path, we ask them the way: ‘Where is Vaṅkata Mountain?’
‘Nếu có người nào đi đến, trên lối mòn, trên đường đi, chúng tôi hỏi họ đường đi: ‘Núi Vanka ở đâu?’
1870.
1870.
1870.
‘‘Te tattha amhe passitvā, kalunaṃ paridevayuṃ;
Dukkhaṃ te paṭivedenti, dūre vaṅkatapabbato’’.
Seeing us there, they would lament piteously; they would report the hardship: ‘Far away is Vaṅkata Mountain.’
‘Họ ở đấy, sau khi thấy chúng tôi, đã than khóc một cách bi thương. Họ báo cho chúng tôi tin buồn rằng: ‘Núi Vanka còn ở xa.’
1871.
1871.
1871.
‘‘Yadi passanti pavane, dārakā phaline † dume;
Tesaṃ phalānaṃ hetumhi, uparodanti dārakā.
If the children see fruit-bearing trees in the forest, for the sake of those fruits the children cry.
‘Nếu ở trong rừng, các con nhỏ nhìn thấy những cây có trái, vì muốn có những trái cây ấy, các con nhỏ đã khóc đòi.’
1872.
1872.
1872.
‘‘Rodante dārake disvā, ubbiddhā † vipulā dumā;
Sayamevonamitvāna, upagacchanti dārake.
Seeing the crying children, the tall, large trees, bending down of their own accord, approach the children.
‘Khi thấy các con nhỏ đang khóc, những cây to lớn cao ngất đã tự mình uốn cành xuống thấp, đến gần các con nhỏ.’
1873.
1873.
1873.
‘‘Idaṃ accherakaṃ disvā, abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ;
Sādhukāraṃ pavattesi, maddī sabbaṅgasobhanā.
Seeing this wonder, amazing and hair-raising, Maddī, beautiful in every limb, uttered a cry of approval.
‘Sau khi thấy điều kỳ diệu, lạ thường, và dựng tóc gáy này, nàng Maddī, người xinh đẹp toàn diện, đã thốt lên lời tán thán ‘Lành thay!’.’
1874.
1874.
1874.
‘‘Accheraṃ vata lokasmiṃ, abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ;
Vessantarassa tejena, sayamevonatā dumā’’.
‘A wonder indeed in the world, amazing and hair-raising! By the majesty of Vessantara, the trees have bent down of their own accord.’
‘Thật là kỳ diệu ở trên đời, thật là lạ thường và dựng tóc gáy! Do oai lực của Vessantara, các cây đã tự mình uốn cành xuống thấp.’
1875.
1875.
1875.
‘‘Saṅkhipiṃsu pathaṃ yakkhā, anukampāya dārake;
Nikkhantadivaseneva, cetaraṭṭhaṃ upāgamuṃ’’.
The yakkhas shortened the path, out of compassion for the children; on the very day they set out, they arrived in the Ceta country.
‘Các vị Dạ-xoa, do lòng bi mẫn đối với các con nhỏ, đã rút ngắn con đường. Dường như chỉ trong ngày khởi hành, họ đã đến được xứ Ceta.’
1876.
1876.
1876.
‘‘Te gantvā dīghamaddhānaṃ, cetaraṭṭhaṃ upāgamuṃ;
Iddhaṃ phītaṃ janapadaṃ, bahumaṃsasurodanaṃ’’.
Having travelled a long distance, they arrived in the Ceta country, a prosperous and flourishing land, abundant with meat, liquor, and rice.
‘Sau khi đã đi một đoạn đường dài, họ đã đến được xứ Ceta, một quốc độ thành công, thịnh vượng, có nhiều thịt, rượu, và cơm gạo.’
1877.
1877.
1877.
‘‘Cetiyo parivāriṃsu, disvā lakkhaṇamāgataṃ;
Sukhumālī vata ayyā, pattikā paridhāvati.
The Cetans surrounded them, seeing her who had arrived endowed with auspicious marks. ‘How delicate indeed is the noble lady, wandering on foot!’
Dân chúng xứ Ceti đã vây quanh, khi thấy người có tướng tốt đã đến; Than ôi, vị mệnh phụ này thật là yểu điệu, (thế mà) lại phải đi bộ rảo quanh.
1878.
1878.
1878.
‘‘Vayhāhi pariyāyitvā, sivikāya rathena ca;
Sājja maddī araññasmiṃ, pattikā paridhāvati’’.
Having travelled about in litters, palanquins, and chariots, today that same Maddī wanders on foot in the forest.
Đã từng đi lại bằng các loại kiệu, bằng kiệu và bằng xe; hôm nay, nàng Maddī ở trong khu rừng, lại phải đi bộ rảo quanh.
1879.
1879.
1879.
‘‘Taṃ disvā cetapāmokkhā, rodamānā upāgamuṃ;
Kacci nu deva kusalaṃ, kacci deva anāmayaṃ;
Kacci pitā arogo te, sivīnañca anāmayaṃ.
Seeing him, the Cetan chiefs approached weeping: ‘We trust, O lord, that you are well? We trust, O lord, that you are in good health? We trust your father is free from illness, and that the Sivis are also well?’
Thấy ngài, các vị lãnh đạo xứ Ceti, vừa khóc vừa tiến lại gần; Tâu Thiên tử, ngài có được an lành chăng, tâu Thiên tử, ngài có được vô bệnh chăng? Thân phụ của ngài có được vô bệnh, và dân chúng xứ Sivi có được an khang chăng?
1880.
1880.
1880.
‘‘Ko te balaṃ mahārāja, ko nu te rathamaṇḍalaṃ;
Anassako arathako, dīghamaddhānamāgato;
Kaccāmittehi pakato, anuppattosimaṃ disaṃ’’.
‘Where is your army, O great king? Where is your retinue of chariots? Without horses, without a chariot, you have come a long way. We trust you have not been overcome by enemies, having arrived in this region?’
Tâu Đại vương, quân đội của ngài đâu, đoàn chiến xa của ngài đâu? Không ngựa, không xe, ngài đã đến từ một quãng đường dài; có phải ngài đã bị kẻ thù đánh bại, nên mới đến vùng này chăng?
1881.
1881.
1881.
‘‘Kusalañceva me samma, atho samma anāmayaṃ;
Atho pitā arogo me, sivīnañca anāmayaṃ.
‘Indeed, friends, I am well, and also, friends, I am in good health. Moreover, my father is free from illness, and the Sivis are also well.’
Này các bạn, tôi vẫn được an lành, và này các bạn, tôi vẫn được vô bệnh; Thân phụ của tôi cũng được vô bệnh, và dân chúng xứ Sivi cũng được an khang.
1882.
1882.
1882.
‘‘Ahañhi kuñjaraṃ dajjaṃ, īsādantaṃ urūḷhavaṃ;
Khettaññuṃ sabbayuddhānaṃ, sabbasetaṃ gajuttamaṃ.
‘For I gave away an elephant, with tusks like chariot-poles, of mighty frame, skilled in all battlefields, an all-white, supreme elephant.’
Bởi vì tôi đã bố thí con voi đực, có ngà như gọng xe, oai vệ; thiện chiến trong mọi trận mạc, toàn thân màu trắng, là con voi chúa.
1883.
1883.
1883.
‘‘Paṇḍukambalasañchannaṃ, pabhinnaṃ sattumaddanaṃ;
Dantiṃ savāḷabījaniṃ, setaṃ kelāsasādisaṃ.
‘Covered with a pale woolen blanket, in rut and crushing its foes, a tusker with its chowrie-fan, white as Mount Kelāsa.’
(Con voi) được phủ bằng tấm chăn len màu vàng, đang trong thời kỳ tiết dịch, có thể dẫm nát kẻ thù; con voi có ngà, với chiếc quạt bằng lông đuôi bò yak, màu trắng như núi Kelāsa.
1884.
1884.
1884.
‘‘Sasetacchattaṃ saupādheyyaṃ, sāthappanaṃ sahatthipaṃ;
Aggayānaṃ rājavāhiṃ, brāhmaṇānaṃ adāsahaṃ.
‘With its white parasol and cushions, with its housing and its elephant-keeper, the foremost royal vehicle—this I gave to the brahmins.’
Cùng với lọng trắng, cùng với đồ trang sức, cùng với thảm phủ, cùng với người quản tượng; là vật cưỡi bậc nhất, là vật chuyên chở của đức vua, tôi đã bố thí cho các vị Bà-la-môn.
1885.
1885.
1885.
‘‘Tasmiṃ me sivayo kuddhā, pitā cupahatomano;
Avaruddhasi maṃ rājā, vaṅkaṃ gacchāmi pabbataṃ;
Okāsaṃ sammā jānātha, vane yattha vasāmase’’.
‘On account of this, the Sivis were angry with me, and my father’s mind was afflicted. The king has banished me; I go to Vaṅka mountain. Please know of a suitable place in the forest where we might dwell.’
Vì việc ấy, dân chúng xứ Sivi đã phẫn nộ với tôi, và thân phụ của tôi cũng bị phiền muộn; Đức vua đã đày ải tôi, tôi sẽ đi đến núi Vanka; xin các bạn hãy tìm giúp một nơi trong rừng để chúng tôi có thể cư ngụ.
1886.
1886.
1886.
‘‘Svāgataṃ te mahārāja, atho te adurāgataṃ;
Issarosi anuppatto, yaṃ idhatthi pavedaya.
‘Welcome to you, great king, and your arrival is fortunate. You have arrived as our lord; tell us what is needed here.’
Xin chào mừng ngài, tâu Đại vương, và sự quang lâm của ngài thật là tốt lành; Ngài đã đến đây với tư cách là người chủ, xin hãy cho biết ngài cần gì ở nơi đây.
1887.
1887.
1887.
‘‘Sākaṃ bhisaṃ madhuṃ maṃsaṃ, suddhaṃ sālinamodanaṃ;
Paribhuñja mahārāja, pāhuno nosi āgato’’.
‘Vegetables, lotus roots, honey, and meat, and pure Sāli rice—partake of these, great king, you are our honored guest who has arrived.’
Rau, củ sen, mật ong, thịt, và cơm nấu bằng gạo Sāli tinh khiết; xin Đại vương hãy dùng, ngài đã đến đây là khách của chúng tôi.
1888.
1888.
1888.
‘‘Paṭiggahitaṃ yaṃ dinnaṃ, sabbassa agghiyaṃ kataṃ;
Avaruddhasi maṃ rājā, vaṅkaṃ gacchāmi pabbataṃ;
Okāsaṃ sammā jānātha, vane yattha vasāmase’’.
‘What has been given is accepted, and all has been honored. The king has banished me; I go to Vaṅka mountain. Please know of a suitable place in the forest where we might dwell.’
Những gì được dâng tặng đều đã được đón nhận, tất cả đều được xem là quý giá; Đức vua đã đày ải tôi, tôi sẽ đi đến núi Vanka; xin các bạn hãy tìm giúp một nơi trong rừng để chúng tôi có thể cư ngụ.
1889.
1889.
1889.
‘‘Idheva tāva acchassu, cetaraṭṭhe rathesabha;
Yāva cetā gamissanti, rañño santika yācituṃ.
‘Stay here for a while, O bull among charioteers, in the Ceta country, until the Cetans go to the king’s presence to plead.’
Tâu bậc chiến sĩ xa thần, xin ngài hãy ở lại đây, trong vương quốc Ceti; cho đến khi dân chúng Ceti đi đến yết kiến đức vua để cầu xin.
1890.
1890.
1890.
‘‘Nijjhāpetuṃ mahārājaṃ, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhanaṃ;
Taṃ taṃ cetā purakkhatvā, patītā laddhapaccayā;
Parivāretvāna gacchanti, evaṃ jānāhi khattiya’’.
‘To persuade the great king, the increaser of the Sivis’ realm; then the Cetans, having placed you at their head, pleased and having gained their purpose, will go surrounding you—know this, O warrior.’
Để thuyết phục đức Đại vương, người làm hưng thịnh vương quốc Sivi; dân chúng Ceti sẽ tôn ngài lên làm người lãnh đạo, với lòng hoan hỷ và tin tưởng; họ sẽ đi theo vây quanh ngài. Tâu bậc Sát-đế-lỵ, xin hãy biết như vậy.
1891.
1891.
1891.
‘‘Mā vo ruccittha gamanaṃ, rañño santika yācituṃ;
Nijjhāpetuṃ mahārājaṃ, rājāpi tattha nissaro.
‘Let not this journey to plead with the king be agreeable to you. To persuade the great king is not possible, for the king himself is powerless in this matter.’
Xin các bạn đừng nên đi đến yết kiến đức vua để cầu xin; để thuyết phục đức Đại vương, (bởi vì) ngay cả đức vua cũng bất lực trong việc này.
1892.
1892.
1892.
‘‘Accuggatā hi sivayo, balaggā negamā ca ye;
Te vidhaṃsetumicchanti, rājānaṃ mama kāraṇā’’.
‘For the Sivis are extremely powerful, as are the army leaders and the townsfolk. They wish to destroy the king on my account.’
Bởi vì dân chúng xứ Sivi, các tướng lãnh và thị dân, đã trở nên quá khích; họ muốn hãm hại đức vua vì cớ của tôi.
1893.
1893.
1893.
‘‘Sace esā pavattettha, raṭṭhasmiṃ raṭṭhavaḍḍhana;
Idheva rajjaṃ kārehi, cetehi parivārito.
‘If this is the situation in the realm, O increaser of the realm, then rule the kingdom right here, surrounded by the Cetans.’
Tâu ngài, người làm hưng thịnh vương quốc, nếu tình hình trong nước là như vậy; xin ngài hãy trị vì vương quốc ngay tại đây, với dân chúng Ceti vây quanh.
1894.
1894.
1894.
‘‘Iddhaṃ phītañcidaṃ raṭṭhaṃ, iddho janapado mahā;
Matiṃ karohi tvaṃ deva, rajjassa manusāsituṃ’’.
‘Prosperous and flourishing is this realm, this great land is wealthy. Make up your mind, O lord, to govern the kingdom.’
Vương quốc này thịnh vượng và phồn vinh, xứ sở này rộng lớn và giàu có; tâu Thiên tử, xin ngài hãy quyết định để cai trị vương quốc này.
1895.
1895.
1895.
‘‘Na me chando mati atthi, rajjassa anusāsituṃ;
Pabbājitassa raṭṭhasmā, cetaputtā suṇātha me.
‘I have no desire or intention to govern the kingdom, having been banished from my country. Listen to me, O sons of the Cetas.’
Hỡi các con dân xứ Ceti, xin hãy nghe tôi, tôi không có ý muốn hay tâm trí để cai trị vương quốc, (tôi) là người đã bị trục xuất khỏi xứ sở.
1896.
1896.
1896.
‘‘Atuṭṭhā sivayo āsuṃ, balaggā negamā ca ye;
Pabbājitassa raṭṭhasmā, cetā rajjebhisecayuṃ.
‘The Sivis would be displeased, as would the army leaders and the townsfolk, if the Cetans were to consecrate me, one banished from his kingdom, as king.’
Dân chúng xứ Sivi, các tướng lãnh và thị dân, sẽ không hài lòng; nếu người dân Ceti tấn phong vương vị cho một người đã bị trục xuất khỏi xứ sở.
1897.
1897.
1897.
‘‘Asammodiyampi vo assa, accantaṃ mama kāraṇā;
Sivīhi bhaṇḍanañcāpi, viggaho me na ruccati.
‘There would be endless discord for you on my account; and quarreling with the Sivis and conflict are not agreeable to me.’
Các bạn cũng sẽ có sự bất hòa, hoàn toàn là vì cớ của tôi; và sự tranh chấp với dân chúng xứ Sivi, sự xung đột không làm tôi hài lòng.
1898.
1898.
1898.
‘‘Athassa bhaṇḍanaṃ ghoraṃ, sampahāro anappako;
Ekassa kāraṇā mayhaṃ, hiṃseyya bahuko jano.
‘Then there would be fierce conflict, no small slaughter; on account of me alone, many people would be harmed.’
Khi ấy sẽ có cuộc tranh chấp ghê gớm, và sự bạo lực không phải là nhỏ; chỉ vì một mình tôi, mà nhiều người sẽ bị tổn hại.
1899.
1899.
1899.
‘‘Paṭiggahitaṃ yaṃ dinnaṃ, sabbassa agghiyaṃ kataṃ;
Avaruddhasi maṃ rājā, vaṅkaṃ gacchāmi pabbataṃ;
Okāsaṃ sammā jānātha, vane yattha vasāmase’’.
‘What has been given is accepted, and all has been honored. The king has banished me; I go to Vaṅka mountain. Please know of a suitable place in the forest where we might dwell.’
Những gì được dâng tặng đều đã được đón nhận, tất cả đều được xem là quý giá; Đức vua đã đày ải tôi, tôi sẽ đi đến núi Vanka; xin các bạn hãy tìm giúp một nơi trong rừng để chúng tôi có thể cư ngụ.
1900.
1900.
1900.
‘‘Taggha te mayamakkhāma, yathāpi kusalā tathā;
Rājisī yattha sammanti, āhutaggī samāhitā.
“Indeed, we shall tell you, as those who are skilled, where the royal sages dwell, with sacrificial fires appeased, composed.”
Chắc chắn rồi, chúng tôi sẽ chỉ cho ngài, vì chúng tôi là những người am tường; nơi các vị vua ẩn sĩ cư ngụ, những người chăm sóc ngọn lửa tế lễ, với tâm định tĩnh.
1901.
1901.
1901.
‘‘Esa selo mahārāja, pabbato gandhamādano;
Yattha tvaṃ saha puttehi, saha bhariyāya cacchasi.
“This mountain, great king, is Mount Gandhamādana, where you will dwell with your sons and with your wife.”
Tâu Đại vương, đây là ngọn núi, núi Gandhamādana; nơi ngài sẽ cư ngụ cùng với các con và cùng với hiền thê.
1902.
1902.
1902.
‘‘Taṃ cetā anusāsiṃsu, assunettā rudaṃmukhā;
Ito gaccha mahārāja, ujuṃ yenuttarā mukho.
“The Cetans, with tearful eyes and weeping faces, instructed him: ‘Go forth from here, great king, straight on toward the north.’”
Dân chúng Ceti đã chỉ dẫn cho ngài, với mắt đẫm lệ, mặt khóc than; Tâu Đại vương, từ đây xin hãy đi thẳng về hướng bắc.
1903.
1903.
1903.
‘‘Atha dakkhisi bhaddante, vepullaṃ nāma pabbataṃ;
Nānādumagaṇākiṇṇaṃ, sītacchāyaṃ manoramaṃ.
“Then, venerable sir, you will see a mountain named Vepulla, teeming with various kinds of trees, cool-shaded and delightful.”
Thưa ngài, rồi ngài sẽ thấy ngọn núi tên là Vepulla; phủ đầy các loại cây khác nhau, có bóng mát và cảnh đẹp.
1904.
1904.
1904.
‘‘Tamatikkamma bhaddante, atha dakkhisi āpagaṃ;
Nadiṃ ketumatiṃ nāma, gambhīraṃ girigabbharaṃ.
“Having passed beyond that, venerable sir, you will then see a river named Ketumatī, deep, flowing through a mountain gorge.”
Thưa ngài, sau khi đi qua nơi ấy, rồi ngài sẽ thấy một dòng sông; con sông tên là Ketumatī, sâu thẳm, chảy trong hẻm núi.
1905.
1905.
1905.
‘‘Puthulomamacchākiṇṇaṃ, supatitthaṃ mahodakaṃ;
Tattha nhatvā pivitvā ca, assāsetvā saputtake.
“Teeming with broad-scaled fish, with pleasant fords and abundant water; there, having bathed and drunk, refresh your children.”
Đầy những loài cá vây rộng, có bến nước tốt và nhiều nước; ở đó, sau khi tắm và uống, và cho các con được nghỉ ngơi.
1906.
1906.
1906.
‘‘Atha dakkhisi bhaddante, nigrodhaṃ madhupipphalaṃ;
Rammake sikhare jātaṃ, sītacchāyaṃ manoramaṃ.
“Then, venerable sir, you will see a banyan tree with sweet fruits, grown on a charming peak, with cool shade and delightful.”
Thưa ngài, rồi ngài sẽ thấy một cây đa có quả ngọt; mọc trên một đỉnh núi xinh đẹp, có bóng mát và cảnh đẹp.
1907.
1907.
1907.
‘‘Atha dakkhisi bhaddante, nāḷikaṃ nāma pabbataṃ;
Nānādijagaṇākiṇṇaṃ, selaṃ kimpurisāyutaṃ.
“Then, venerable sir, you will see a mountain named Nāḷika, teeming with various flocks of birds, a rocky place inhabited by kimpurisas.”
Thưa ngài, rồi ngài sẽ thấy, ngọn núi tên là Nāḷika; Tràn ngập các đàn chim đa dạng, khối đá có các vị khẩn-na-la cư ngụ.
1908.
1908.
1908.
‘‘Tassa uttarapubbena, mucalindo nāma so saro;
Puṇḍarīkehi sañchanno, setasogandhikehi ca.
“To its northeast lies a lake called Mucalinda, covered with white lotuses and with white fragrant water lilies.”
Về phía đông bắc của núi ấy, có hồ nước tên là Mucalinda; Được bao phủ bởi những hoa sen trắng, và cả những hoa súng trắng thơm.
1909.
1909.
1909.
‘‘So vanaṃ meghasaṅkāsaṃ, dhuvaṃ haritasaddalaṃ;
Sīhovāmisapekkhīva vanasaṇḍaṃ vigāhaya;
Puppharukkhehi sañchannaṃ, phalarukkhehi cūbhayaṃ.
“That forest, resembling a cloud, ever verdant and lush; enter the woodland thicket like a lion seeking prey; it is covered with flowering trees and fruit-bearing trees on both sides.”
Vị ấy, giống như sư tử tìm kiếm con mồi, hãy đi sâu vào lùm cây trong khu rừng; Khu rừng ấy giống như đám mây, luôn có cỏ xanh tươi; Được bao phủ bởi cả hai loại cây: cây có hoa và cây có quả.
1910.
1910.
1910.
‘‘Tattha bindussarā vaggū, nānāvaṇṇā bahū dijā;
Kūjantamupakūjanti, utusaṃpupphite dume.
“There, with sweet voices, many birds of various colors sing and echo one another among the trees blossoming in season.”
Ở nơi ấy, nhiều loài chim đủ màu sắc, có tiếng hót ngọt ngào, du dương; Chúng hót vang và hót đáp lại nhau, trên những cây đang trổ hoa đúng mùa.
1911.
1911.
1911.
‘‘Gantvā girividuggānaṃ, nadīnaṃ pabhavāni ca;
So addasa † pokkharaṇiṃ, karañjakakudhāyutaṃ.
“Having gone to mountain fastnesses and the sources of rivers, he saw a lotus pond, frequented by karañja and kakudha trees.”
Sau khi đi qua những lối đi hiểm trở của núi non, và những nơi phát nguồn của các dòng sông; Vị ấy đã nhìn thấy một hồ sen, có nhiều cây vương tùng và cây karañja.
1912.
1912.
1912.
‘‘Puthulomamacchākiṇṇaṃ, supatitthaṃ mahodakaṃ;
Samañca caturaṃsañca, sāduṃ appaṭigandhiyaṃ.
“Teeming with broad-scaled fish, with pleasant fords and abundant water; level and four-cornered, sweet and free from foul odors.”
Hồ ấy đầy những loài cá vảy rộng, có bến tắm tốt, nước dồi dào; Bằng phẳng và có bốn cạnh đều nhau, nước ngọt và không có mùi khó chịu.
1913.
1913.
1913.
‘‘Tassā uttarapubbena, paṇṇasālaṃ amāpaya;
Paṇṇasālaṃ amāpetvā, uñchācariyāya īhatha’’.
“To its northeast, have a leaf-hut made; having had the leaf-hut made, strive for the life of gleaning.”
Về phía đông bắc của hồ ấy, hãy cho dựng một am lá; Sau khi đã cho dựng am lá, hãy nỗ lực sống bằng cách lượm lặt.
Vanapavesanaṃ nāma.
Entering the Forest.
Phẩm Vào Rừng.
Jūjakapabbaṃ
The Chapter of Jūjaka
Phẩm Jūjaka.
1914.
1914.
1914.
‘‘Ahu vāsī kaliṅgesu, jūjako nāma brāhmaṇo;
Tassāsi daharā bhariyā, nāmenāmittatāpanā.
“There was a resident in the Kaliṅga country, a brahmin named Jūjaka. He had a young wife, Amittatāpanā by name.”
Đã có một vị Bà-la-môn tên là Jūjaka, cư ngụ ở xứ Kaliṅga; Vị ấy có một người vợ trẻ, tên là Amittatāpanā.
1915.
1915.
1915.
‘‘Tā naṃ tattha gatāvocuṃ, nadiṃ udakahāriyā;
Thiyo naṃ paribhāsiṃsu, samāgantvā kutūhalā.
“The women who had gone to the river to fetch water spoke to her. Gathering out of curiosity, they reviled her.”
Những người phụ nữ mang nước từ sông, khi đến nơi ấy đã nói với nàng; Họ tụ tập lại một cách hiếu kỳ và đã mắng nhiếc nàng.
1916.
1916.
1916.
‘‘Amittā nūna te mātā, amitto nūna te pitā;
Ye taṃ jiṇṇassa pādaṃsu, evaṃ dahariyaṃ satiṃ.
“Surely your mother is an enemy, and surely your father is an enemy, who gave you, being so young, to an old man.”
Chắc hẳn mẹ của cô là kẻ thù, chắc hẳn cha của cô là kẻ địch; Những người đã gả cô cho một người già, trong khi cô còn trẻ như thế.
1917.
1917.
1917.
‘‘Ahitaṃ vata te ñātī, mantayiṃsu rahogatā;
Ye taṃ jiṇṇassa pādaṃsu, evaṃ dahariyaṃ satiṃ.
“Indeed, your relatives consulted in private to your detriment, who gave you, being so young, to an old man.”
Than ôi, họ hàng của cô đã bàn bạc điều bất lợi ở nơi kín đáo; Những người đã gả cô cho một người già, trong khi cô còn trẻ như thế.
1918.
1918.
1918.
‘‘Amittā vata te ñātī, mantayiṃsu rahogatā;
Ye taṃ jiṇṇassa pādaṃsu, evaṃ dahariyaṃ satiṃ.
“Indeed, your relatives are enemies; having consulted in private, they gave you, being so young, to an old man.”
Than ôi, họ hàng của cô là những kẻ thù, đã bàn bạc ở nơi kín đáo; Những người đã gả cô cho một người già, trong khi cô còn trẻ như thế.
1919.
1919.
1919.
‘‘Dukkaṭaṃ vata te ñātī, mantayiṃsu rahogatā;
Ye taṃ jiṇṇassa pādaṃsu, evaṃ dahariyaṃ satiṃ.
“Indeed, your relatives have done wrong; having consulted in private, they gave you, being so young, to an old man.”
Than ôi, họ hàng của cô đã làm điều sai trái, khi bàn bạc ở nơi kín đáo; Những người đã gả cô cho một người già, trong khi cô còn trẻ như thế.
1920.
1920.
1920.
‘‘Pāpakaṃ vata te ñātī, mantayiṃsu rahogatā;
Ye taṃ jiṇṇassa pādaṃsu, evaṃ dahariyaṃ satiṃ.
“Indeed, your relatives have done evil; having consulted in private, they gave you, being so young, to an old man.”
Than ôi, họ hàng của cô đã bàn bạc điều tội lỗi ở nơi kín đáo; Những người đã gả cô cho một người già, trong khi cô còn trẻ như thế.
1921.
1921.
1921.
‘‘Amanāpaṃ vata te ñātī, mantayiṃsu rahogatā;
Ye taṃ jiṇṇassa pādaṃsu, evaṃ dahariyaṃ satiṃ.
“Indeed, your relatives have done what is displeasing; having consulted in private, they gave you, being so young, to an old man.”
Than ôi, họ hàng của cô đã bàn bạc điều không vừa ý ở nơi kín đáo; Những người đã gả cô cho một người già, trong khi cô còn trẻ như thế.
1922.
1922.
1922.
‘‘Amanāpavāsaṃ vasi, jiṇṇena patinā saha †;
Yā tvaṃ vasasi jiṇṇassa, mataṃ te jīvitā varaṃ.
“You live an unpleasant life with an aged husband. For you who live with an old man, death is better than life.”
Cô sống một cuộc sống không vừa ý, cùng với người chồng già; Vì cô sống với người già, cái chết của cô còn hơn là sự sống.
1923.
1923.
1923.
‘‘Na hi nūna tuyhaṃ kalyāṇi, pitā mātā ca sobhane;
Aññaṃ bhattāraṃ vindiṃsu, ye taṃ jiṇṇassa pādaṃsu;
Evaṃ dahariyaṃ satiṃ.
“Surely, fair lady, O beautiful one, your father and mother found no other husband, for they gave you, being so young, to an old man.”
Này cô gái xinh đẹp, này cô gái đáng yêu, chắc hẳn cha và mẹ của cô; Đã không thể tìm được người chồng nào khác, nên mới gả cô cho một người già; Trong khi cô còn trẻ như thế.
1924.
1924.
1924.
‘‘Duyiṭṭhaṃ te navamiyaṃ, akataṃ aggihuttakaṃ;
Ye taṃ jiṇṇassa pādaṃsu, evaṃ dahariyaṃ satiṃ.
“Your new moon observance must have been ill-performed, your fire sacrifice neglected, for them to have given you, being so young, to an old man.”
Lễ tế của cô vào ngày mồng chín đã bị cúng sai, lễ tế lửa đã không được thực hiện; Vì thế họ đã gả cô cho một người già, trong khi cô còn trẻ như thế.
1925.
1925.
1925.
‘‘Samaṇe brāhmaṇe nūna, brāhmaṇacariyaparāyaṇe;
Sā tvaṃ loke abhisapi, sīlavante bahussute;
Yā tvaṃ vasasi jiṇṇassa, evaṃ dahariyā satī.
“Surely you have cursed in the world ascetics and brahmins devoted to the holy life, the virtuous and very learned, you who live with an old man, being so young.”
Chắc hẳn cô đã nguyền rủa ở trên đời, các vị Sa-môn, Bà-la-môn; Những vị tận tụy với phạm hạnh, những bậc có giới hạnh và đa văn; Vì thế cô phải sống với người già, trong khi còn là một cô gái trẻ.
1926.
1926.
1926.
‘‘Na dukkhaṃ ahinā daṭṭhaṃ, na dukkhaṃ sattiyā hataṃ;
Tañca dukkhañca tibbañca, yaṃ passe jiṇṇakaṃ patiṃ.
“Being bitten by a snake is not such suffering, nor is being struck by a spear; but that suffering is sharp indeed, which is to see an aged husband.”
Bị rắn cắn không phải là khổ, bị giáo đâm không phải là khổ; Nhưng điều này mới là khổ, là nỗi khổ đau đớn, ấy là việc nhìn thấy người chồng già.
1927.
1927.
1927.
‘‘Natthi khiḍḍā natthi rati, jiṇṇena patinā saha;
Natthi allāpasallāpo, jagghitumpi † na sobhati.
“There is no play, there is no delight, with an aged husband. There is no friendly conversation; even to laugh is not seemly.”
Không có sự vui đùa, không có sự hoan lạc, khi ở cùng người chồng già; Không có chuyện trò thân mật, ngay cả việc cười đùa cũng không đẹp đẽ.
1928.
1928.
1928.
‘‘Yadā ca daharo daharā, mantayanti † rahogatā;
Sabbesaṃ sokā nassanti, ye keci hadayassitā.
“When a young man and a young woman converse together in private, all their sorrows vanish, whatever clings to the heart.”
Và khi một chàng trai trẻ và một cô gái trẻ, trò chuyện với nhau ở nơi kín đáo; Tất cả những sầu muộn, bất cứ sầu muộn nào ngự trị trong tim, đều sẽ tiêu tan.
1929.
1929.
1929.
‘‘Daharā tvaṃ rūpavatī, purisānaṃbhipatthitā;
Gaccha ñātikule accha, kiṃ jiṇṇo ramayissati’’.
“You are young, beautiful, and desired by men. Go, stay among your relatives. What pleasure can an old man give?”
Cô còn trẻ và xinh đẹp, được những người đàn ông mong muốn; Hãy đi về ở với gia đình họ hàng, một người già thì có thể làm cho vui thích được gì?
1930.
1930.
1930.
‘‘Na te brāhmaṇa gacchāmi, nadiṃ udakahāriyā;
Thiyo maṃ paribhāsanti, tayā jiṇṇena brāhmaṇa’’.
“I will not go to the river to fetch water, brahmin. The women insult me on account of you, an old brahmin.”
Thưa Bà-la-môn, tôi sẽ không đi ra sông xách nước cho ông nữa; Các bà mắng nhiếc tôi, vì ông là một người già, thưa Bà-la-môn.
1931.
1931.
1931.
‘‘Mā me tvaṃ akarā kammaṃ, mā me udakamāhari;
Ahaṃ udakamāhissaṃ, mā bhoti kupitā ahu’’.
“Do not do my work, do not fetch my water. I will bring the water myself. Do not be angry, lady.”
Nàng đừng làm việc cho ta, đừng xách nước cho ta; Ta sẽ đi xách nước, thưa bà, xin bà đừng tức giận.
1932.
1932.
1932.
‘‘Nāhaṃ tamhi kule jātā, yaṃ tvaṃ udakamāhare;
Evaṃ brāhmaṇa jānāhi, na te vacchāmahaṃ ghare.
“I was not born in a family where you would fetch water. Know this, brahmin: I will not live in your house.”
Tôi không sinh ra trong gia đình mà ở đó ông phải đi xách nước; Thưa Bà-la-môn, hãy biết như vậy, tôi sẽ không ở trong nhà của ông nữa.
1933.
1933.
1933.
‘‘Sace me dāsaṃ dāsiṃ vā, nānayissasi brāhmaṇa;
Evaṃ brāhmaṇa jānāhi, na te vacchāmi santike’’.
“If you do not bring me a male or female slave, brahmin, know this: I will not live with you.”
Thưa Bà-la-môn, nếu ông không mang về cho tôi một người nô lệ nam hay một người nữ tỳ; Thưa Bà-la-môn, hãy biết như vậy, tôi sẽ không sống gần ông nữa.
1934.
1934.
1934.
‘‘Natthi me sippaṭhānaṃ vā, dhanaṃ dhaññañca brāhmaṇi;
Kutohaṃ dāsaṃ dāsiṃ vā, ānayissāmi bhotiyā;
Ahaṃ bhotiṃ upaṭṭhissaṃ, mā bhoti kupitā ahu’’.
“I have no craft, nor wealth or grain, O brahmin woman. From where shall I bring a male or female slave for you? I will attend to you, lady. Do not be angry, lady.”
Thưa bà, ta không có nghề nghiệp, cũng không có của cải hay lúa gạo; Ta sẽ từ đâu mà mang về một người nô lệ nam hay một người nữ tỳ cho bà được; Ta sẽ phục vụ bà, thưa bà, xin bà đừng tức giận.
1935.
1935.
1935.
‘‘Ehi te ahamakkhissaṃ, yathā me vacanaṃ sutaṃ;
Esa vessantaro rājā, vaṅke vasati pabbate.
“Come, I will tell you, as I have heard it said. King Vessantara lives on Vaṅka Mountain.”
“Hãy lại đây, ta sẽ nói cho ngươi biết, theo như lời ta đã được nghe; Vua Vessantara kia đang sống ở trên núi Vaṅka.”
1936.
1936.
1936.
‘‘Taṃ tvaṃ gantvāna yācassu, dāsaṃ dāsiñca brāhmaṇa;
So te dassati yācito, dāsaṃ dāsiñca khattiyo’’.
“Go and beg from him a male and female slave, brahmin. When asked, that khattiya will give them to you.”
“Ngươi hãy đến đó và xin, hỡi Bà-la-môn, một nam nô và một nữ tỳ; khi được xin, vị Sát-đế-lỵ ấy sẽ ban cho ngươi một nam nô và một nữ tỳ.”
1937.
1937.
1937.
‘‘Jiṇṇohamasmi dubbalo †, dīgho caddhā suduggamo;
Mā bhoti paṭidevesi, mā ca tvaṃ † vimanā ahu;
Ahaṃ bhotiṃ upaṭṭhissaṃ, mā bhoti kupitā ahu’’.
“I am old and frail, and the road is long and very difficult to travel. Do not grieve, lady, and do not be downcast. I will attend to you, lady. Do not be angry, lady.”
“Ta đã già yếu, đường lại xa xôi và rất khó đi; bà đừng than van, và bà cũng đừng nản lòng. Ta sẽ hầu hạ bà, bà đừng nổi giận.”
1938.
1938.
1938.
‘‘Yathā agantvā saṅgāmaṃ, ayuddhova parājito;
Evameva tuvaṃ brahme, agantvāva parājito.
Just as one is defeated without going to battle, without having fought, even so, brahmin, you are defeated without even going.
“Giống như người chưa ra chiến trường, chưa chiến đấu đã bị bại trận; cũng vậy, hỡi Bà-la-môn, ngươi chưa đi đã bị thất bại rồi.”
1939.
1939.
1939.
‘‘Sace me dāsaṃ dāsiṃ vā, nānayissasi brāhmaṇa;
Evaṃ brāhmaṇa jānāhi, na te vacchāmahaṃ ghare;
Amanāpaṃ te karissāmi, taṃ te dukkhaṃ bhavissati.
If you do not bring me a male or female slave, brahmin, know this: I will not remain in your house. I will do what is displeasing to you, and that will be your suffering.
“Nếu ngươi không mang về cho ta một nam nô hay một nữ tỳ, hỡi Bà-la-môn; thì hỡi Bà-la-môn, hãy biết rằng, ta sẽ không ở trong nhà của ngươi nữa; ta sẽ làm cho ngươi không vừa ý, và đó sẽ là nỗi khổ của ngươi.”
1940.
1940.
1940.
‘‘Nakkhatte utupubbesu, yadā maṃ dakkhisilaṅkataṃ;
Aññehi saddhiṃ ramamānaṃ, taṃ te dukkhaṃ bhavissati.
When, at the festivals of the constellations and seasons, you see me adorned, delighting with others, that will be suffering for you.
“Vào những ngày lễ hội, những dịp đầu mùa, khi ngươi thấy ta trang điểm lộng lẫy, vui vầy cùng những người khác, đó sẽ là nỗi khổ của ngươi.”
1941.
1941.
1941.
‘‘Adassanena mayhaṃ te, jiṇṇassa paridevato;
Bhiyyo vaṅkā ca palitā, bahū hessanti brāhmaṇa’’.
By my not being seen by you, and by your lamenting as an old man, your wrinkles and gray hairs will only increase, brahmin.
“Vì không được nhìn thấy ta, đối với ngươi, một lão già than khóc, những nếp nhăn và tóc bạc sẽ càng thêm nhiều, hỡi Bà-la-môn.”
1942.
1942.
1942.
‘‘Tato so brāhmaṇo bhīto, brāhmaṇiyā vasānugo;
Aṭṭito kāmarāgena, brāhmaṇiṃ etadabravi’’.
Then that brahmin, afraid, submissive to his brahmin wife, afflicted by sensual passion, said this to his brahmin wife:
“Bấy giờ, người Bà-la-môn ấy, vì sợ hãi, bị người vợ Bà-la-môn chi phối, bị khổ não bởi lòng tham ái, đã nói với người vợ Bà-la-môn điều này.”
1943.
1943.
1943.
‘‘Pātheyyaṃ me karohi tvaṃ, saṃkulyā saguḷāni ca †;
Madhupiṇḍikā ca sukatāyo, sattubhattañca brāhmaṇi.
Prepare provisions for me: cakes with molasses, well-made honey balls, and roasted barley meal, O brahmin woman.
“Nàng hãy chuẩn bị lương thực đi đường cho ta, những chiếc bánh ngọt có đường mật, và những viên bánh mật được làm khéo, và cả bột rang nữa, hỡi nàng Bà-la-môn.”
1944.
1944.
1944.
‘‘Ānayissaṃ methunake, ubho dāsakumārake;
Te taṃ paricarissanti, rattindivamatanditā’’.
I will bring back a pair of young male slaves. They will attend to you day and night, tirelessly.
“Ta sẽ mang về một cặp, cả hai đứa trẻ nô lệ; chúng sẽ hầu hạ nàng, ngày đêm không mệt mỏi.”
1945.
1945.
1945.
‘‘Idaṃ vatvā brahmabandhu, paṭimuñci upāhanā;
Tato so mantayitvāna, bhariyaṃ katvā padakkhiṇaṃ.
Having said this, the brahmin put on his sandals. Then, after taking counsel, he circumambulated his wife.
“Nói lời này xong, người bạn của Phạm Thiên (Bà-la-môn) đã mang đôi dép vào; sau đó, sau khi đã bàn bạc, và đi quanh vợ theo chiều bên phải.”
1946.
1946.
1946.
‘‘Pakkāmi so ruṇṇamukho, brāhmaṇo sahitabbato;
Sivīnaṃ nagaraṃ phītaṃ, dāsapariyesanaṃ caraṃ’’.
He set off with a tearful face, the brahmin, firm in his vow, wandering to the prosperous city of the Sivis in search of a slave.
“Người Bà-la-môn ấy, mặt đẫm lệ, người giữ gìn giới hạnh, đã ra đi; đến thành phố phồn thịnh của xứ Sivi, đi tìm kiếm nô lệ.”
1947.
1947.
1947.
‘‘So tattha gantvā avaca †, ye tatthāsuṃ samāgatā;
Kuhiṃ vessantaro rājā, kattha passemu khattiyaṃ’’.
Arriving there, he said to those who were gathered there: ‘Where is King Vessantara? Where can we see the khattiya?’
“Đến nơi ấy, ông ta đã nói với những người đang tụ tập ở đó: ‘Vua Vessantara ở đâu? Chúng tôi có thể gặp vị Sát-đế-lỵ ở đâu?’”
1948.
1948.
1948.
‘‘Te janā taṃ avaciṃsu, ye tatthāsuṃ samāgatā;
Tumhehi brahme pakato, atidānena khattiyo;
Pabbājito sakā raṭṭhā, vaṅke vasati pabbate.
Those people who had gathered there said to him: 'By you brahmins, the khattiya has been brought to this state through excessive giving. Banished from his own kingdom, he lives on Vaṅka Mountain.'
“Những người đang tụ tập ở đó đã nói với ông ta: ‘Hỡi Bà-la-môn, chính các người đã làm cho vị Sát-đế-lỵ ấy ra nông nỗi này, vì sự bố thí quá độ; ngài đã bị trục xuất khỏi vương quốc của mình, và đang sống ở trên núi Vaṅka.’”
1949.
1949.
1949.
‘‘Tumhehi brahme pakato, atidānena khattiyo;
Ādāya puttadārañca, vaṅke vasati pabbate’’.
By you, O brahmin, the khattiya has been brought to this state through excessive giving. Taking his children and wife, he dwells on Vaṅka Mountain.
“Hỡi Bà-la-môn, chính các người đã làm cho vị Sát-đế-lỵ ấy ra nông nỗi này, vì sự bố thí quá độ; mang theo vợ con, ngài đang sống ở trên núi Vaṅka.”
1950.
1950.
1950.
‘‘So codito brāhmaṇiyā, brāhmaṇo kāmagiddhimā;
Aghaṃ taṃ paṭisevittha, vane vāḷamigākiṇṇe;
Khaggadīpinisevite.
Urged on by the brahmin woman, the brahmin, greedy for sensual pleasures, pursued that evil deed in the forest, teeming with beasts of prey, frequented by rhinoceroses and leopards.
“Bị người vợ Bà-la-môn thúc giục, người Bà-la-môn tham lam dục vọng; đã gánh chịu nỗi khổ ấy, trong khu rừng đầy dẫy dã thú, nơi có tê giác và báo lui tới.”
1951.
1951.
1951.
‘‘Ādāya beḷuvaṃ daṇḍaṃ, aggihuttaṃ kamaṇḍaluṃ;
So pāvisi brahāraññaṃ, yattha assosi kāmadaṃ.
Taking a beluva-wood staff, his fire-offering implements, and a water pot, he entered the great forest, where he heard of the giver of wishes.
“Mang theo cây gậy tre, đồ cúng lửa, và bình nước; ông ta đã đi vào khu rừng lớn, nơi ông ta đã nghe nói có người ban cho mọi điều mong muốn.”
1952.
1952.
1952.
‘‘Taṃ paviṭṭhaṃ brahāraññaṃ, kokā naṃ parivārayuṃ;
Vikkandi so vippanaṭṭho, dūre panthā apakkami.
When he had entered that great forest, wolves surrounded him. He cried out, lost and bewildered, and strayed far from the path.
“Khi ông ta đi vào khu rừng lớn, bầy chó sói đã vây quanh ông. Ông ta la hét, hoàn toàn lạc lối, đã đi lạc xa khỏi con đường.”
1953.
1953.
1953.
‘‘Tato so brāhmaṇo gantvā, bhogaluddho asaññato;
Vaṅkassorohaṇe naṭṭhe, imā gāthā abhāsatha’’.
Then that brahmin, greedy for possessions and unrestrained, having gone and become lost at the descent of Vaṅka, spoke these verses:
“Bấy giờ, người Bà-la-môn ấy, sau khi đã đi, tham lam của cải, không tự chủ, bị lạc ở sườn núi Vaṅka, đã nói lên những câu kệ này.”
1954.
1954.
1954.
‘‘Ko rājaputtaṃ nisabhaṃ, jayantamaparājitaṃ;
Bhaye khemassa dātāraṃ, ko me vessantaraṃ vidū.
Who knows Prince Vessantara for me—the bull among men, the victorious, the unconquered, the giver of safety in time of fear?
“Ai biết vị vương tử, bậc trượng phu, người chiến thắng, không thể bị đánh bại; người ban cho sự an ổn trong lúc sợ hãi? Ai có thể cho tôi biết về Vessantara?”
1955.
1955.
1955.
‘‘Yo yācataṃ patiṭṭhāsi, bhūtānaṃ dharaṇīriva;
Dharaṇūpamaṃ mahārājaṃ, ko me vessantaraṃ vidū.
Who knows Vessantara for me—the great king who was a refuge to supplicants, like the earth to beings, comparable to the earth?
“Người là nơi nương tựa cho những kẻ van xin, như trái đất đối với chúng sanh; vị vua vĩ đại ví như trái đất, ai có thể cho tôi biết về Vessantara?”
1956.
1956.
1956.
‘‘Yo yācataṃ gatī āsi, savantīnaṃva sāgaro;
Sāgarūpamaṃ † mahārājaṃ, ko me vessantaraṃ vidū.
Who knows Vessantara for me—the great king who was a resort for supplicants, like the ocean for flowing rivers, comparable to the ocean?
“Người là nơi tìm đến của những kẻ van xin, như biển cả đối với các dòng sông; vị vua vĩ đại ví như biển cả, ai có thể cho tôi biết về Vessantara?”
1957.
1957.
1957.
‘‘Kalyāṇatitthaṃ sucimaṃ, sītūdakaṃ manoramaṃ;
Puṇḍarīkehi sañchannaṃ, yuttaṃ kiñjakkhareṇunā;
Rahadūpamaṃ † mahārājaṃ, ko me vessantaraṃ vidū.
Who knows Vessantara for me—the great king comparable to a lake with a fine, pure ford, with cool, delightful water, covered with white lotuses, and filled with filaments and pollen?
“Như một bến nước tốt lành, trong sạch, nước mát và dễ chịu; được bao phủ bởi những đóa sen trắng, đầy ắp phấn hoa; vị vua vĩ đại ví như hồ nước, ai có thể cho tôi biết về Vessantara?”
1958.
1958.
1958.
‘‘Assatthaṃva pathe jātaṃ, sītacchāyaṃ manoramaṃ;
Santānaṃ visametāraṃ, kilantānaṃ paṭiggahaṃ;
Tathūpamaṃ mahārājaṃ, ko me vessantaraṃ vidū.
Who knows Vessantara for me—the great king comparable to a sacred fig tree grown by the road, with cool and delightful shade, a resting place for travelers, a welcome for the weary?
“Như cây bồ đề mọc bên đường, có bóng mát và dễ chịu; là nơi xua tan mệt mỏi cho người lữ hành, là nơi nương tựa cho kẻ kiệt sức; vị vua vĩ đại ví như thế, ai có thể cho tôi biết về Vessantara?”
1959.
1959.
1959.
‘‘Nigrodhaṃva pathe jātaṃ, sītacchāyaṃ manoramaṃ;
Santānaṃ visametāraṃ, kilantānaṃ paṭiggahaṃ;
Tathūpamaṃ mahārājaṃ, ko me vessantaraṃ vidū.
Who knows Vessantara for me—the great king comparable to a banyan tree grown by the road, with cool and delightful shade, a resting place for travelers, a welcome for the weary?
“Như cây đa mọc bên đường, có bóng mát và dễ chịu; là nơi xua tan mệt mỏi cho người lữ hành, là nơi nương tựa cho kẻ kiệt sức; vị vua vĩ đại ví như thế, ai có thể cho tôi biết về Vessantara?”
1960.
1960.
1960.
‘‘Ambaṃ iva pathe jātaṃ, sītacchāyaṃ manoramaṃ;
Santānaṃ visametāraṃ, kilantānaṃ paṭiggahaṃ;
Tathūpamaṃ mahārājaṃ, ko me vessantaraṃ vidū.
Who knows Vessantara for me—the great king comparable to a mango tree grown by the road, with cool and delightful shade, a resting place for travelers, a welcome for the weary?
“Như cây xoài mọc ở ven đường, có bóng mát dễ chịu; là nơi nghỉ ngơi cho người mệt mỏi, là nơi nương tựa cho người kiệt sức; vị đại vương ví như thế ấy, ai biết được Vessantara của tôi ở đâu.”
1961.
1961.
1961.
‘‘Sālaṃ iva pathe jātaṃ, sītacchāyaṃ manoramaṃ;
Santānaṃ visametāraṃ, kilantānaṃ paṭiggahaṃ;
Tathūpamaṃ mahārājaṃ, ko me vessantaraṃ vidū.
Who knows Vessantara for me—the great king comparable to a sal tree grown by the road, with cool and delightful shade, a resting place for travelers, a welcome for the weary?
“Như cây Sāla mọc ở ven đường, có bóng mát dễ chịu; là nơi nghỉ ngơi cho người mệt mỏi, là nơi nương tựa cho người kiệt sức; vị đại vương ví như thế ấy, ai biết được Vessantara của tôi ở đâu.”
1962.
1962.
1962.
‘‘Dumaṃ iva pathe jātaṃ, sītacchāyaṃ manoramaṃ;
Santānaṃ visametāraṃ, kilantānaṃ paṭiggahaṃ;
Tathūpamaṃ mahārājaṃ, ko me vessantaraṃ vidū.
Who knows Vessantara for me—the great king comparable to a tree grown by the road, with cool and delightful shade, a resting place for travelers, a welcome for the weary?
“Như cây đại thụ mọc ở ven đường, có bóng mát dễ chịu; là nơi nghỉ ngơi cho người mệt mỏi, là nơi nương tựa cho người kiệt sức; vị đại vương ví như thế ấy, ai biết được Vessantara của tôi ở đâu.”
1963.
1963.
1963.
‘‘Evañca me vilapato, paviṭṭhassa brahāvane;
Ahaṃ jānanti yo vajjā, nandiṃ so janaye mama.
As I lament thus, having entered the great forest, may whoever should say, ‘I know,’ bring joy to me.
“Trong khi tôi đang than khóc như thế, sau khi đã vào trong khu rừng lớn; người nào nói rằng: ‘Tôi biết,’ người ấy sẽ mang lại niềm vui cho tôi.”
1964.
1964.
1964.
‘‘Evañca me vilapato, paviṭṭhassa brahāvane;
Ahaṃ jānanti yo vajjā, tāya so ekavācāya;
Pasave puññaṃ anappakaṃ’’.
As I lament thus, having entered the great forest, may whoever should say, ‘I know,’ by that single utterance, generate abundant merit.
“Trong khi tôi đang than khóc như thế, sau khi đã vào trong khu rừng lớn; người nào nói rằng: ‘Tôi biết,’ chỉ với một lời nói ấy, người ấy sẽ tạo ra phước báu không nhỏ.”
1965.
1965.
1965.
‘‘Tassa ceto paṭissosi, araññe luddako caraṃ;
Tumhehi brahme pakato, atidānena khattiyo;
Pabbājito sakā raṭṭhā, vaṅke vasati pabbate.
A hunter wandering in the forest heard his lament and replied: 'By you, O brahmin, the khattiya has been brought to this state through excessive giving. Banished from his own kingdom, he lives on Vaṅka Mountain.'
Tâm ý của y đã được nghe bởi người thợ săn đang đi trong rừng: ‘Này Bà-la-môn, do các người mà vị Sát-đế-lỵ, vì bố thí quá độ, đã bị trục xuất khỏi xứ sở của mình, đang sống ở núi Vanka.’
1966.
1966.
1966.
‘‘Tumhehi brahme pakato, atidānena khattiyo;
Ādāya puttadārañca, vaṅke vasati pabbate.
By you, O brahmin, the khattiya has been brought to this state through excessive giving. Taking his children and wife, he dwells on Vaṅka Mountain.
‘Này Bà-la-môn, do các người mà vị Sát-đế-lỵ, vì bố thí quá độ, đã mang theo vợ con, đang sống ở núi Vanka.’
1967.
1967.
1967.
‘‘Akiccakārī dummedho, raṭṭhā pavanamāgato;
Rājaputtaṃ gavesanto, bako macchamivodake.
A witless man, doing what should not be done, has come from the kingdom to the forest, seeking the prince, like a heron seeking a fish in the water.
‘Kẻ ngu si làm điều không nên làm, từ xứ sở đã đi vào rừng, tìm kiếm vị vương tử, giống như con diệc tìm cá ở trong nước.’
1968.
1968.
1968.
‘‘Tassa tyāhaṃ na dassāmi, jīvitaṃ idha brāhmaṇa;
Ayañhi te mayā nunno †, saro pissati lohitaṃ.
I will not grant you your life here, brahmin. For this arrow, shot by me, will drink your blood.
‘Vì thế, này Bà-la-môn, ở đây ta sẽ không cho ngươi mạng sống. Vì mũi tên này do ta bắn ra, sẽ uống máu của ngươi.’
1969.
1969.
1969.
‘‘Siro te vajjhayitvāna, hadayaṃ chetvā sabandhanaṃ;
Panthasakuṇaṃ † yajissāmi, tuyhaṃ maṃsena brāhmaṇa.
Having smashed your head and cut out your heart with its attachments, I will make an offering to the birds of the path with your flesh, O brahmin.
‘Sau khi chặt đầu ngươi, cắt lấy quả tim cùng với cuống của nó, ta sẽ cúng tế cho loài chim trời bằng thịt của ngươi, này Bà-la-môn.’
1970.
1970.
1970.
‘‘Tuyhaṃ maṃsena medena, matthakena ca brāhmaṇa;
Āhutiṃ paggahessāmi, chetvāna hadayaṃ tava.
With your flesh, fat, and brain, O brahmin, I will make an offering, having cut out your heart.
‘Này Bà-la-môn, với thịt, với mỡ, và với óc của ngươi, sau khi đã cắt lấy tim của ngươi, ta sẽ dâng lên vật cúng dường.’
1971.
1971.
1971.
‘‘Taṃ me suyiṭṭhaṃ suhutaṃ, tuyhaṃ maṃsena brāhmaṇa;
Na ca tvaṃ rājaputtassa, bhariyaṃ putte ca nessasi’’.
That will be well-sacrificed, well-offered by me with your flesh, O brahmin. And you shall not take away the prince’s wife and children.
‘Này Bà-la-môn, đó sẽ là sự tế tự tốt đẹp, là vật cúng dường tốt đẹp cho ta bằng thịt của ngươi; và ngươi sẽ không thể đem đi vợ và các con của vương tử.’
1972.
1972.
1972.
‘‘Avajjho brāhmaṇo dūto, cetaputta suṇohi me;
Tasmā hi dūtaṃ na hanti, esa dhammo sanantano.
A brahmin envoy is inviolable, son of Ceta, listen to me. Therefore, one does not kill an envoy; this is the ancient law.
‘Này con của Ceta, hãy nghe tôi đây. Sứ giả Bà-la-môn là người không thể bị giết. Vì thế, người ta không giết sứ giả, đây là định luật vĩnh hằng.’
1973.
1973.
1973.
‘‘Nijjhattā sivayo sabbe, pitā naṃ daṭṭhumicchati;
Mātā ca dubbalā tassa, acirā cakkhūni jīyare.
All the Sivis are worn out with longing; his father wishes to see him. And his mother is frail; soon her eyes will fail.
‘Tất cả dân chúng xứ Sivi đã nguôi giận. Phụ thân của ngài mong muốn được gặp ngài. Mẫu thân của ngài thì yếu đuối, chẳng bao lâu nữa đôi mắt của bà sẽ bị hư hoại.’
1974.
1974.
1974.
‘‘Tesāhaṃ pahito dūto, cetaputta suṇohi me;
Rājaputtaṃ nayissāmi, yadi jānāsi saṃsa me.
‘‘Piyassa me piyo dūto, puṇṇapattaṃ dadāmi te’’;
I have been sent as their envoy, son of Ceta, listen to me. I am to lead the prince back; if you know, tell me.” “You are the dear envoy of one dear to me; I give you this full bowl.
‘Này con của Ceta, hãy nghe tôi. Tôi là sứ giả được họ phái đi, tôi sẽ đưa vương tử trở về. Nếu ngươi biết, hãy chỉ cho tôi.’ ‘Ngươi là sứ giả thân mến của người thân mến của ta. Ta tặng cho ngươi gói lương thực này.’
1975.
1975.
1975.
‘‘Imañca madhuno tumbaṃ, migasatthiñca brāhmaṇa;
Tañca te desamakkhissaṃ, yattha sammati kāmado’’.
And this gourd of honey, O brahmin, and a deer’s thigh; I will also point out to you the place where the giver of wishes dwells.
‘Và này Bà-la-môn, ta tặng ngươi bầu mật ong này và miếng thịt đùi nai này. Và ta sẽ chỉ cho ngươi nơi ở của vị ban tặng điều mong ước.’
Jūjakapabbaṃ nāma.
The Chapter on Jūjaka.
Phẩm Jūjaka.
Cūḷavanavaṇṇanā
The Shorter Description of the Forest
Miêu tả khu rừng nhỏ
1976.
1976.
1976.
‘‘Esa selo mahābrahme, pabbato gandhamādano;
Yattha vessantaro rājā, saha puttehi sammati.
This is that Mount Gandhamādana, O great brahmin, where King Vessantara dwells together with his children.
‘Này đại Bà-la-môn, đây là tảng đá, là ngọn núi Gandhamādana, nơi vua Vessantara cùng với các con đang trú ngụ.’
1977.
1977.
1977.
‘‘Dhārento brāhmaṇavaṇṇaṃ, āsadañca † masaṃ jaṭaṃ;
Cammavāsī chamā seti, jātavedaṃ namassati.
Wearing the guise of a brahmin, with staff, beard, and matted hair, clad in skins, he sleeps on the ground, worshipping the sacrificial fire.
‘Ngài mang hình dáng của một vị Bà-la-môn, với cây gậy, mình đầy bụi bẩn và tóc bện lại. Ngài mặc da thú, nằm trên đất, và thờ phụng thần lửa Jātaveda.’
1978.
1978.
1978.
‘‘Ete nīlā padissanti, nānāphaladharā dumā;
Uggatā abbhakūṭāva, nīlā añjanapabbatā.
These dark trees appear, bearing various fruits, lofty as cloud-peaks, dark as antimony mountains.
‘Kia là những cây cối màu xanh sẫm, mang nhiều loại quả khác nhau, hiện ra sừng sững như những đỉnh mây, xanh thẳm như những ngọn núi tô bằng thuốc vẽ mắt.’
1979.
1979.
1979.
‘‘Dhavassakaṇṇā khadirā, sālā phandanamāluvā;
Sampavedhanti vātena, sakiṃ pītāva māṇavā.
Dhava, Assakaṇṇa, Khadira, Sāla, Phandana, and Māluvā trees tremble in the wind, like youths who have drunk once.
‘Các cây Dhava, Assakaṇṇa, Khadira, Sāla, Phandana, và Māluvā, chúng rung rinh trong gió, giống như những chàng trai trẻ lần đầu uống rượu.’
1980.
1980.
1980.
‘‘Upari dumapariyāyesu, saṅgītiyova suyyare;
Najjuhā kokilasaṅghā †, sampatanti dumā dumaṃ.
Above, among the trees, a sound like singing is heard; flocks of cuckoos alight from tree to tree.
‘Ở trên ngọn cây, nghe như có những tiếng hợp xướng; từng đàn chim Najjuhā và chim cu, bay chuyền từ cây này sang cây khác.’
1981.
1981.
1981.
‘‘Avhayanteva gacchantaṃ, sākhāpattasamīritā;
Ramayanteva āgantaṃ, modayanti nivāsinaṃ;
Yattha vessantaro rājā, saha puttehi sammati.
Stirred by branches and leaves, they seem to call out to the traveler, delighting the newcomer, gladdening the inhabitant, where King Vessantara dwells together with his children.
‘Những cành lá rung rinh dường như mời gọi người đang rời đi, dường như làm vui lòng người đang đến, và làm hoan hỷ người đang ở. Đó là nơi vua Vessantara cùng với các con đang trú ngụ.’
1982.
1982.
1982.
‘‘Dhārento brāhmaṇavaṇṇaṃ, āsadañca masaṃ jaṭaṃ;
Cammavāsī chamā seti, jātavedaṃ namassati.
Wearing the guise of a brahmin, with staff, beard, and matted hair, clad in skins, he sleeps on the ground, honoring the sacred fire.
‘Ngài mang hình dáng của một vị Bà-la-môn, với cây gậy, mình đầy bụi bẩn và tóc bện lại. Ngài mặc da thú, nằm trên đất, và thờ phụng thần lửa Jātaveda.’
1983.
1983.
1983.
‘‘Ambā kapitthā panasā, sālā jambū vibhītakā;
Harītakī āmalakā, assatthā badarāni ca.
Mangoes, wood-apples, jackfruits, sāl trees, rose-apples, vibhītaka, harītakī, āmalaka, assattha trees, and jujubes.
‘Có các cây xoài, cây thị, cây mít, cây sala, cây trâm, cây bàng, cây kha tử, cây me rừng, cây bồ đề, và cả cây táo ta.’
1984.
1984.
1984.
‘‘Cārutimbarukkhā cettha, nigrodhā ca kapitthanā;
Madhumadhukā thevanti, nīce pakkā cudumbarā.
Here are lovely Timbaru trees, and Nigrodhas, and Kapittha trees; Madhu and Madhuka thrive, ripe Udumbara fruits grow low.
‘Ở đây có những cây Timbaru xinh đẹp, có cây đa và cây Kapitthana. Những cây Madhuka ngọt ngào nhỏ giọt mật, và bên dưới là những cây sung đã chín quả.’
1985.
1985.
1985.
‘‘Pārevatā bhaveyyā ca, muddikā ca madhutthikā;
Madhuṃ anelakaṃ tattha, sakamādāya bhuñjare.
Pigeons are here, and doves, and Muddikā and Madhutthikā; pure honey is there, they take their own and eat.
‘Có các loại cây Pārevata, Bhaveyya, cây nho và cây Madhutthikā. Ở đó có mật ong nguyên chất, người ta tự lấy mà dùng.’
1986.
1986.
1986.
‘‘Aññettha pupphitā ambā, aññe tiṭṭhanti dovilā;
Aññe āmā ca pakkā ca, bhekavaṇṇā tadūbhayaṃ.
Here some mango trees are in bloom, others stand with fruit; some are unripe and some ripe, and both are the color of a frog.
‘Ở đây, một số cây xoài đang ra hoa, một số khác đang kết trái non. Một số khác nữa có cả quả xanh và quả chín, cả hai đều có màu như da ếch.’
1987.
1987.
1987.
‘‘Athettha heṭṭhā puriso, ambapakkāni gaṇhati;
Āmāni ceva pakkāni, vaṇṇagandharasuttame.
And here below a man gathers mango fruits, both unripe and ripe, supreme in color, scent, and taste.
‘Rồi ở đây, bên dưới, một người có thể hái những quả xoài, cả quả xanh lẫn quả chín, là những quả tuyệt hảo về màu sắc, hương thơm và vị ngon.’
1988.
1988.
1988.
‘‘Ateva me acchariyaṃ, hiṅkāro paṭibhāti maṃ;
Devānamiva āvāso, sobhati nandanūpamo.
Thus it is wondrous to me, an exclamation arises in me; like the abode of gods, it shines, comparable to Nandana Grove.
‘Đối với tôi, điều này thật kỳ diệu, một âm thanh vi vu hiện ra trong tôi. Nơi này rực rỡ như trú xứ của chư thiên, sánh ngang với vườn Nandana.’
1989.
1989.
1989.
‘‘Vibhedikā nāḷikerā, khajjurīnaṃ brahāvane;
Mālāva ganthitā ṭhanti, dhajaggāneva dissare;
Nānāvaṇṇehi puppheti, nabhaṃ tārācitāmiva.
Vibhedikā trees, coconut palms, and date palms in the great forest stand like woven garlands, appearing like banner tops; the forest blooms with various colors, like the sky adorned with stars.
‘Trong khu rừng lớn có cây Vibhedikā, cây dừa, cây chà là. Chúng đứng đó như những tràng hoa được kết lại, trông như những ngọn cờ phướn. Với những bông hoa nhiều màu sắc, khu rừng giống như bầu trời được điểm tô bằng các vì sao.’
1990.
1990.
1990.
‘‘Kuṭajī kuṭṭhatagarā, pāṭaliyo ca pupphitā;
Punnāgā giripunnāgā, koviḷārā ca pupphitā.
Kuṭaja trees, Kuṭṭhatagara trees, and Pāṭali trees are in bloom; Punnāga trees, Giripunnāga trees, and Koviḷāra trees are in bloom.
‘Các cây Kuṭaja, Kuṭṭha, Tagara, và Pāṭali đang nở hoa. Các cây Punnāga, Giripunnāga, và Koviḷāra cũng đang nở hoa.’
1991.
1991.
1991.
‘‘Uddālakā somarukkhā, agaruphalliyā † bahū;
Puttajīvā † ca kakudhā, asanā cettha pupphitā.
Uddālaka trees, Soma trees, many Agarupalliyā, and Puttajīva trees, Kakudha trees, and Asana trees are in bloom here.
‘Có nhiều cây Uddālaka, Somarukkha, Agaru, và Phalliya. Cả cây Puttajīva và Kakudha, và ở đây cây Asana cũng đang nở hoa.’
1992.
1992.
1992.
‘‘Kuṭajā salaḷā nīpā †, kosambā labujā dhavā;
Sālā ca pupphitā tattha, palālakhalasannibhā.
Kuṭaja, Salaḷa, Nīpa, Kosamba, Labuja, Dhava, and Sāla trees are blooming there, resembling heaps of straw.
‘Các cây Kuṭaja, Salaḷa, Nīpa, Kosamba, Labuja, và Dhava. Và ở đó, các cây Sāla cũng đang nở hoa, trông giống như một đống rơm.’
1993.
1993.
1993.
‘‘Tassāvidūre pokkharaṇī, bhūmibhāge manorame;
Padumuppalasañchannā, devānamiva nandane.
Not far from it is a lotus pond, in a delightful region of the earth, covered with lotuses and water lilies, like the Nandana grove of the gods.
Ở không xa nơi ấy, tại một vùng đất khả ái, có một hồ sen; được bao phủ bởi hoa sen và hoa súng, giống như (hồ) trong vườn trời Nandana.
1994.
1994.
1994.
‘‘Athettha puppharasamattā, kokilā mañjubhāṇikā;
Abhinādenti pavanaṃ, utusampupphite dume.
And here, intoxicated with flower nectar, the sweet-speaking cuckoos fill the forest with sound, when the trees are in full seasonal bloom.
Và ở nơi đây, những con chim tu hú có tiếng hót ngọt ngào, say sưa với mật hoa, làm vang dội khu rừng trên những cành cây đang trổ hoa đúng mùa.
1995.
1995.
1995.
‘‘Bhassanti makarandehi, pokkhare pokkhare madhū;
Athettha vātā vāyanti, dakkhiṇā atha pacchimā;
Padumakiñjakkhareṇūhi, okiṇṇo hoti assamo.
Honey drips with nectar from every lotus; and here the winds blow, from the south and then the west; the hermitage is strewn with lotus pollen.
Mật ngọt từ nhụy hoa nhỏ giọt trên từng lá sen; và ở đây, những ngọn gió thổi đến, từ phương nam rồi từ phương tây; am thất được bao phủ bởi phấn từ nhị hoa sen.
1996.
1996.
1996.
‘‘Thūlā siṅghāṭakā cettha, saṃsādiyā pasādiyā †;
Macchakacchapabyāviddhā, bahū cettha mupayānakā;
Madhuṃ bhisehi savati, khirasappimuḷālibhi.
Here are broad water chestnuts, to be enjoyed and delighted in; filled with fish and turtles, many come here. Honey flows from the lotus stalks, with milk, ghee, and lotus roots.
Và ở đây có những củ ấu to, ngon ngọt và đẹp mắt; (hồ) đầy dẫy cá và rùa, và ở đây có nhiều loài thủy tộc; mật ngọt chảy ra từ những ngó sen, (ngọt như) sữa, bơ lỏng, và các loại củ.
1997.
1997.
1997.
‘‘Surabhī taṃ vanaṃ vāti, nānāgandhasamoditaṃ †;
Sammaddateva † gandhena, pupphasākhāhi taṃ vanaṃ;
Bhamarā pupphagandhena, samantā mabhināditā.
A fragrant wind blows through that forest, filled with various scents; that forest is as if overwhelmed by the fragrance of blossoming branches; bees, drawn by the flowers’ fragrance, resound on all sides.
Khu rừng ấy tỏa hương thơm ngát, hòa quyện với nhiều mùi hương khác nhau; khu rừng với những cành hoa dường như bị nghiền nát bởi hương thơm; những con ong bởi hương hoa, làm vang dội khắp nơi.
1998.
1998.
1998.
‘‘Athettha sakuṇā santi, nānāvaṇṇā bahū dijā;
Modanti saha bhariyāhi, aññamaññaṃ pakūjino.
And here there are birds, many twice-born of various colors; they rejoice with their mates, cooing to one another.
Và ở đây có các loài chim, nhiều loài lông vũ đủ màu sắc; chúng vui vẻ cùng với bạn tình, cùng nhau ca hót.
1999.
1999.
1999.
‘‘Nandikā jīvaputtā ca, jīvaputtā piyā ca no;
Piyā puttā piyā nandā, dijā pokkharaṇīgharā.
The Nandikā and Jīvaputtā birds are here, and the Jīvaputtā are dear to us; dear are the Piyaputta, dear are the Nandā, the birds who dwell in the lotus pond.
Có chim Nandikā và Jīvaputtā, và Jīvaputtā thân thương của chúng tôi; chim Puttā thân thương, Nandā thân thương, những loài chim có nhà ở hồ sen.
2000.
2000.
2000.
‘‘Mālāva ganthitā ṭhanti, dhajaggāneva dissare;
Nānāvaṇṇehi pupphehi, kusaleheva suganthitā †;
Yattha vessantaro rājā, saha puttehi sammati.
They stand like woven garlands, and appear like banner tops, skillfully woven with flowers of many colors; where King Vessantara dwells at peace with his children.
(Cây cối) đứng đó như những tràng hoa được kết lại, trông như những ngọn cờ phướn; được kết khéo léo bởi người tài hoa với những bông hoa nhiều màu sắc; nơi mà vua Vessantara cùng với các con đang trú ngụ.
2001.
2001.
2001.
‘‘Dhārento brāhmaṇavaṇṇaṃ, āsadañca masaṃ jaṭaṃ;
Cammavāsī chamā seti, jātavedaṃ namassati’’.
Wearing the garb of a brahmin, with staff, beard, and matted hair, clad in skins, he sleeps on the bare ground and reveres the sacrificial fire.
Mang hình tướng của một vị Bà la môn, với ghế ngồi, bụi bặm và tóc bện; mặc y bằng da thú, nằm ngủ trên đất, và thờ phụng thần lửa.
2002.
2002.
2002.
‘‘Idañca me sattubhattaṃ, madhunā paṭisaṃyutaṃ;
Madhupiṇḍikā ca sukatāyo, sattubhattaṃ dadāmi te’’.
And this is my barley-meal, mixed with honey, and well-made honey-balls too. I give you this barley-meal.
Và đây là bột rang của tôi, được trộn với mật ong; và những viên bánh mật được làm rất khéo, tôi xin dâng ngài phần bột rang này.
2003.
2003.
2003.
‘‘Tuyheva sambalaṃ hotu, nāhaṃ icchāmi sambalaṃ;
Itopi brahme gaṇhāhi, gaccha brahme yathāsukhaṃ.
Let the provisions be yours, I do not desire provisions. Take from here also, O brahmin, go, O brahmin, as you please.
Phần lương thực này hãy là của ngài, tôi không muốn nhận lương thực; hỡi Bà la môn, hãy lấy thêm từ đây nữa, hỡi Bà la môn, hãy đi tùy ý.
2004.
2004.
2004.
‘‘Ayaṃ ekapadī eti, ujuṃ gacchati assamaṃ;
Isīpi accuto tattha, paṅkadanto rajassiro;
Dhārento brāhmaṇavaṇṇaṃ, āsadañca masaṃ jaṭaṃ.
This single path leads straight to the hermitage; there dwells the sage Accuta, with mud-stained teeth and dust-covered head, wearing the guise of a brahmin, with staff, beard, and matted hair.
Con đường mòn này đi thẳng đến am thất; ở đó có vị ẩn sĩ Accuta, răng dính bùn, đầu đầy bụi; mang hình tướng của một vị Bà la môn, với ghế ngồi, bụi bặm và tóc bện.
2005.
2005.
2005.
‘‘Cammavāsī chamā seti, jātavedaṃ namassati;
Taṃ tvaṃ gantvāna pucchassu, so te maggaṃ pavakkhati’’.
Clad in skins, he sleeps on the bare ground, pays homage to the sacred fire. Go and ask him, he will tell you the path.
Mặc y bằng da thú, nằm ngủ trên đất, và thờ phụng thần lửa; ngài hãy đi đến đó và hỏi vị ấy, vị ấy sẽ chỉ đường cho ngài.
2006.
2006.
2006.
Idaṃ sutvā brahmabandhu, cetaṃ katvā padakkhiṇaṃ;
Udaggacitto pakkāmi, yenāsi accuto isi.
Hearing this, the brahmin, making a respectful circuit around him, departed with an uplifted heart to where the sage Accuta was.
Nghe vậy, người bà la môn ấy, sau khi đi quanh Ceta theo chiều kim đồng hồ; với tâm hân hoan, đã ra đi, đến nơi có ẩn sĩ Accuta.
Cūḷavanavaṇṇanā.
The Description of the Small Forest.
Mô tả khu rừng nhỏ.
Mahāvanavaṇṇanā
The Description of the Great Forest.
Mô tả khu rừng lớn.
2007.
2007.
2007.
Gacchanto so bhāradvājo, addassa accutaṃ isiṃ;
Disvāna taṃ bhāradvājo, sammodi isinā saha.
As that Bhāradvāja went, he saw the sage Accuta. Having seen him, Bhāradvāja exchanged greetings with the sage.
Vị Bà la môn thuộc dòng dõi Bhāradvāja ấy trong khi đi, đã trông thấy ẩn sĩ Accuta; sau khi thấy vị ấy, vị Bà la môn đã cùng với vị ẩn sĩ chào hỏi thân mật.
2008.
2008.
2008.
‘‘Kacci nu bhoto kusalaṃ, kacci bhoto anāmayaṃ;
Kacci uñchena yāpesi, kacci mūlaphalā bahū.
“I hope, sir, that you are well, that you are free from illness. Do you subsist on gleanings? Are roots and fruits abundant?
Thưa ngài, ngài có được an lành chăng? Thưa ngài, ngài có được vô bệnh chăng? Ngài có sống bằng cách lượm lặt chăng? Rễ và trái cây có được nhiều chăng?
2009.
2009.
2009.
‘‘Kacci ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā;
Vane vāḷamigākiṇṇe, kacci hiṃsā na vijjati’’.
“Are gadflies and mosquitoes few, and creeping things as well? In this forest teeming with wild beasts, is no harm found?”
Ruồi và muỗi, cùng các loài bò sát có ít chăng? Trong khu rừng đầy dẫy thú dữ, có sự nguy hại nào không?
2010.
2010.
2010.
‘‘Kusalañceva me brahme, atho brahme anāmayaṃ;
Atho uñchena yāpemi, atho mūlaphalā bahū.
“All is well with me, brahmin, and I am free from illness. I subsist on gleanings, and roots and fruits are abundant.
Thưa Bà la môn, tôi được an lành, và thưa Bà la môn, tôi được vô bệnh; và tôi sống bằng cách lượm lặt, và rễ và trái cây cũng có nhiều.
2011.
2011.
2011.
‘‘Atho ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā;
Vane vāḷamigākiṇṇe, hiṃsā mayhaṃ na vijjati.
“And gadflies and mosquitoes are few, and creeping things as well. In this forest teeming with wild beasts, no harm comes to me.
Và ruồi và muỗi, cùng các loài bò sát cũng ít; trong khu rừng đầy dẫy thú dữ, không có sự nguy hại nào đối với tôi.
2012.
2012.
2012.
‘‘Bahūni vassapūgāni, assame vasato mama;
Nābhijānāmi uppannaṃ, ābādhaṃ amanoramaṃ.
“For the many years I have dwelt in this hermitage, I do not recall any disagreeable illness arising.
Trong nhiều năm tôi sống ở am thất này; tôi không biết đến việc phát sinh một bệnh tật nào không vừa ý.
2013.
2013.
2013.
‘‘Svāgataṃ te mahābrahme, atho te adurāgataṃ;
Anto pavisa bhaddante, pāde pakkhālayassu te.
“Welcome to you, great brahmin, and your coming is not unwelcome. Enter within, good sir, and wash your feet.”
Xin chào mừng ngài, hỡi đại Bà la môn, và sự đến của ngài thật là tốt lành; xin mời ngài vào trong, thưa hiền giả, xin hãy rửa chân.
2014.
2014.
2014.
‘‘Tindukāni piyālāni, madhuke kāsumāriyo;
Phalāni khuddakappāni, bhuñja brahme varaṃ varaṃ.
"Here are tinduka and piyāla fruits, madhuka and kāsumārī. These are small forest fruits; eat, brahmin, the very best."
Trái thị, trái trâm, trái madhuka, trái kāsumāri; những loại trái cây nhỏ này, xin mời Bà la môn dùng những thứ tốt nhất.
2015.
2015.
2015.
‘‘Idampi pānīyaṃ sītaṃ, ābhataṃ girigabbharā;
Tato piva mahābrahme, sace tvaṃ abhikaṅkhasi’’.
"This cool water was brought from a mountain cave. Drink, great brahmin, if you wish."
Và đây là nước uống mát lạnh, được mang về từ hang núi; xin mời đại Bà la môn hãy uống, nếu ngài mong muốn.
2016.
2016.
2016.
‘‘Paṭiggahitaṃ yaṃ dinnaṃ, sabbassa agghiyaṃ kataṃ;
Sañjayassa sakaṃ puttaṃ, sivīhi vippavāsitaṃ;
Tamahaṃ dassanamāgato, yadi jānāsi saṃsa me’’.
"What was given is accepted; all of it is held in high esteem. I have come to see Sañjaya's own son, who was banished by the Sivis. If you know, tell me."
Những gì được dâng tặng đã được nhận, tất cả sự hiếu khách đã được thực hiện; người con trai của vua Sañjaya, bị dân xứ Sivi trục xuất; tôi đến đây để gặp vị ấy, nếu ngài biết, xin hãy chỉ cho tôi.
2017.
2017.
2017.
‘‘Na bhavaṃ eti puññatthaṃ, sivirājassa dassanaṃ;
Maññe bhavaṃ patthayati, rañño bhariyaṃ patibbataṃ;
Maññe kaṇhājinaṃ dāsiṃ, jāliṃ dāsañca icchasi.
"You have not come for the sake of merit, to see the Sivi king. I think you desire the king's devoted wife; I think you want Kaṇhājinā the female slave, and Jāli the male slave."
Ngài đến đây không phải vì mục đích tốt lành, để gặp đức vua xứ Sivi; tôi nghĩ rằng ngài mong muốn người vợ chung thủy của đức vua; tôi nghĩ rằng ngài muốn Kaṇhājinā làm nữ tỳ, và muốn Jāli làm nam tớ.
2018.
2018.
2018.
‘‘Atha vā tayo mātāputte, araññā netumāgato;
Na tassa bhogā vijjanti, dhanaṃ dhaññañca brāhmaṇa’’.
"Or perhaps you have come to lead the three—mother and children—from the forest. He has no possessions, wealth, or grain, O brahmin."
Hoặc là ngài đến để dẫn ba mẹ con ra khỏi khu rừng; hỡi Bà la môn, vị ấy không có của cải, không có tài sản hay lúa gạo.
2019.
2019.
2019.
‘‘Akuddharūpohaṃ bhoto †, nāhaṃ yācitumāgato;
Sādhu dassanamariyānaṃ, sannivāso sadā sukho.
"I am not of an angry disposition, sir, nor have I come to beg. It is good to see the noble ones; living with them is always pleasant."
Thưa ngài, tôi không có ác ý, tôi không đến để xin xỏ; thật tốt lành khi được thấy các bậc thánh nhân, sống cùng các vị ấy luôn là hạnh phúc.
2020.
2020.
2020.
‘‘Adiṭṭhapubbo sivirājā, sivīhi vippavāsito;
Tamahaṃ dassanamāgato, yadi jānāsi saṃsa me’’.
"I have not seen the Sivi king before, he who was exiled by the Sivis. I have come to see him; if you know, tell me."
Tôi chưa từng thấy đức vua xứ Sivi trước đây, người bị dân xứ Sivi trục xuất; tôi đến đây để gặp vị ấy, nếu ngài biết, xin hãy chỉ cho tôi.
2021.
2021.
2021.
‘‘Esa selo mahābrahme, pabbato gandhamādano;
Yattha vessantaro rājā, saha puttehi sammati.
"This, great brahmin, is the mountain Gandhamādana, where King Vessantara dwells together with his children."
Thưa Đại Bà-la-môn, đây là núi đá, ngọn núi Hương Sơn; nơi đức vua Vessantara cùng các con đang trú ngụ.
2022.
2022.
2022.
‘‘Dhārento brāhmaṇavaṇṇaṃ, āsadañca masaṃ jaṭaṃ;
Cammavāsī chamā seti, jātavedaṃ namassati.
"Assuming the appearance of a brahmin, with matted hair and a deerskin, clad in skins, he sleeps on the ground and pays homage to the sacred fire."
Mang hình dáng Bà-la-môn, với ghế da, bụi bẩn và tóc bện; Ngài mặc da thú, nằm trên đất, và lễ bái thần Lửa.
2023.
2023.
2023.
‘‘Ete nīlā padissanti, nānāphaladharā dumā;
Uggatā abbhakūṭāva nīlā añjanapabbatā.
"Here appear dark trees, bearing various fruits, towering like storm clouds, dark as mountains of antimony."
Những cây cối mang nhiều loại quả kia trông có màu xanh thẳm; chúng vươn cao như những đỉnh mây, xanh như những ngọn núi thuốc vẽ mắt.
2024.
2024.
2024.
‘‘Dhavassakaṇṇā khadirā, sālā phandanamāluvā;
Sampavedhanti vātena, sakiṃ pītāva māṇavā.
"Dhava, assakaṇṇa, khadira, sāla, phandana, and māluva trees tremble in the wind, like youths who have drunk for the first time."
Các cây dhava, assakaṇṇa, khadira, sāla, phandana, māluvā; chúng rung rinh trong gió, giống như các chàng trai trẻ lần đầu uống rượu.
2025.
2025.
2025.
‘‘Upari dumapariyāyesu, saṅgītiyova suyyare;
Najjuhā kokilasaṅghā, sampatanti dumā dumaṃ.
"Above, in the treetops, sounds like a concert are heard. Flocks of najjuhas and cuckoos fly from tree to tree."
Trên những tầng cây cao, nghe như có những tiếng hợp xướng; những bầy chim cu Najjuhā bay chuyền từ cây này sang cây khác.
2026.
2026.
2026.
‘‘Avhayanteva gacchantaṃ, sākhāpattasamīritā;
Ramayanteva āgantaṃ, modayanti nivāsinaṃ;
Yattha vessantaro rājā, saha puttehi sammati.
"Stirred by their branches and leaves, they seem to call out to the traveler, delighting the newcomer and gladdening the resident, there where King Vessantara dwells together with his children."
Những cành lá rung rinh dường như mời gọi người đang đi, dường như làm vui lòng người mới đến, và làm hoan hỷ người đang cư ngụ; nơi đức vua Vessantara cùng các con đang trú ngụ.
2027.
2027.
2027.
‘‘Dhārento brāhmaṇavaṇṇaṃ, āsadañca masaṃ jaṭaṃ;
Cammavāsī chamā seti, jātavedaṃ namassati.
"Assuming the appearance of a brahmin, with matted hair and a deerskin, clad in skins, he sleeps on the ground and pays homage to the sacred fire."
Mang hình dáng Bà-la-môn, với ghế da, bụi bẩn và tóc bện; Ngài mặc da thú, nằm trên đất, và lễ bái thần Lửa.
2028.
2028.
2028.
‘‘Karerimālā vitatā, bhūmibhāge manorame;
Saddalāharitā bhūmi, na tatthuddhaṃsate rajo.
"Garlands of kareri flowers are spread out on the delightful ground. The earth is lush and green with grass; no dust is stirred up there."
Những tràng hoa kareri trải rộng trên vùng đất đẹp đẽ; mặt đất xanh tươi cỏ non, nơi ấy bụi không tung lên.
2029.
2029.
2029.
‘‘Mayūragīvasaṅkāsā, tūlaphassasamūpamā;
Tiṇāni nātivattanti, samantā caturaṅgulā.
"Like peacock necks in hue, soft as cotton to the touch, the grasses do not exceed four fingers' breadth all around."
Những ngọn cỏ giống như màu cổ công, mềm mại như chạm vào bông gòn; chúng mọc không cao quá bốn ngón tay ở khắp mọi nơi.
2030.
2030.
2030.
‘‘Ambā jambū kapitthā ca, nīce pakkā cudumbarā;
Paribhogehi rukkhehi, vanaṃ taṃ rativaḍḍhanaṃ.
"Mangoes, rose-apples, wood-apples, and low-hanging, ripe figs—with such trees for use, that forest increases delight."
Nào xoài, nào táo, nào thị, và những quả sung chín mọng trĩu cành; với những cây ăn trái, khu rừng ấy làm tăng thêm niềm vui.
2031.
2031.
2031.
‘‘Veḷuriyavaṇṇasannibhaṃ, macchagumbanisevitaṃ;
Suciṃ sugandhaṃ salilaṃ, āpo tatthapi sandati.
"Water with the appearance of beryl, frequented by schools of fish, pure and fragrant, flows even there."
Nước trong như ngọc lưu ly, là nơi các đàn cá thường lui tới; dòng nước trong sạch, thơm ngát cũng chảy ở nơi ấy.
2032.
2032.
2032.
‘‘Tassāvidūre pokkharaṇī, bhūmibhāge manorame;
Padumuppalasañchannā, devānamiva nandane.
"Not far from there, in a delightful spot, is a lotus pond, covered with lotuses and water lilies, like the Nandana grove of the gods."
Không xa nơi ấy, trên một vùng đất đẹp đẽ, có một hồ sen; hồ được bao phủ bởi hoa sen và hoa súng, giống như vườn Nandana của chư Thiên.
2033.
2033.
2033.
‘‘Tīṇi uppalajātāni, tasmiṃ sarasi brāhmaṇa;
Vicittaṃ nīlānekāni, setā lohitakāni ca.
"Three kinds of water lilies are in that pond, O brahmin: various blues, whites, and reds."
Thưa Bà-la-môn, trong hồ ấy có ba loại hoa súng; có nhiều loại màu sắc khác nhau, nhiều bông màu xanh, và có cả màu trắng và màu đỏ.
2034.
2034.
2034.
‘‘Khomāva tattha padumā, setasogandhikehi ca;
Kalambakehi sañchanno, mucalindo nāma so saro.
"There, lotuses like fine linen are found, along with white fragrant water lilies. That pond, named Mucalinda, is covered with kalambaka shrubs."
Ở đó, những đóa sen trắng mịn như vải lanh, cùng với những bông súng trắng thơm ngát; hồ ấy được bao phủ bởi hoa kalambaka, tên là Mucalinda.
2035.
2035.
2035.
‘‘Athettha padumā phullā, apariyantāva dissare;
Gimhā hemantikā phullā, jaṇṇutagghā upattharā.
"Here lotuses bloom, appearing limitless. In summer and winter they bloom, knee-deep coverlets."
Và ở đây, những đóa sen nở rộ, trông như vô tận; chúng nở vào mùa hè và mùa đông, trải rộng cao đến đầu gối.
2036.
2036.
2036.
‘‘Surabhī sampavāyanti, vicittapupphasanthatā;
Bhamarā pupphagandhena, samantā mabhināditā.
"Sweet scents drift from the carpet of diverse flowers. Bees hum all around, drawn by the flowers' fragrance."
Hương thơm tỏa ra từ thảm hoa muôn màu; những con ong bị thu hút bởi hương hoa, bay vo ve khắp nơi.
2037.
2037.
2037.
‘‘Athettha udakantasmiṃ, rukkhā tiṭṭhanti brāhmaṇa;
Kadambā pāṭalī phullā, koviḷārā ca pupphitā.
"Here, along the water's edge, trees stand, O brahmin: kadambas, pāṭalī in bloom, and koviḷārā blossoming."
Thưa Bà-la-môn, và ở đây, bên bờ nước, có những cây đang đứng; cây kadambā và pāṭalī đang nở hoa, và cây koviḷāra cũng đã trổ bông.
2038.
2038.
2038.
‘‘Aṅkolā kacchikārā ca, pārijaññā ca pupphitā;
Vāraṇā vayanā † rukkhā, mucalindamubhato † saraṃ.
"Aṅkola and kacchikāra trees, and pārijaññā trees are in full bloom. Vāraṇā and vayanā trees stand on both sides of the Mucalinda pond."
Cây aṅkola và kacchikāra, và cây pārijaññā cũng đã trổ bông; cây vāraṇā và vayanā mọc ở hai bên hồ Mucalinda.
2039.
2039.
2039.
‘‘Sirīsā setapārisā †, sādhu vāyanti padmakā;
Nigguṇḍī sirīnigguṇḍī †, asanā cettha pupphitā.
"Sirīsa, setapārisa, and padmaka trees are sweetly fragrant. Nigguṇḍī, sirīnigguṇḍī, and asanā are in bloom here."
Cây sirīsa, cây setapārisa, cây padmaka tỏa hương thơm ngát; cây nigguṇḍī, cây sirīnigguṇḍī, và cây asanā cũng đã nở hoa ở đây.
2040.
2040.
2040.
‘‘Paṅgurā † bahulā selā, sobhañjanā ca pupphitā;
Ketakā kaṇikārā ca, kanaverā ca pupphitā.
"Abundant paṅgurā, selā, and sobhañjanā are in bloom. Ketakā, kaṇikārā, and kanaverā are also in full flower."
Cây paṅgura, bahula, selā, và cây sobhañjanā đã trổ bông; cây ketakā, kaṇikārā, và cây kanaverā cũng đã nở hoa.
2041.
2041.
2041.
‘‘Ajjunā ajjukaṇṇā ca, mahānāmā ca pupphitā;
Supupphitaggā tiṭṭhanti, pajjalanteva kiṃsukā.
"Arjuna, assakaṇṇa, and mahānāmā are in bloom. They stand with their topmost branches in flower, blazing like kiṃsukā trees."
Cây ajjuna, ajjukaṇṇa, và cây mahānāmā đã trổ bông; chúng đứng với ngọn cây nở hoa rực rỡ, còn cây kiṃsuka thì như đang bốc cháy.
2042.
2042.
2042.
‘‘Setapaṇṇī sattapaṇṇā, kadaliyo kusumbharā;
Dhanutakkārī pupphehi, sīsapāvaraṇāni ca.
"Setapaṇṇī, sattapaṇṇā, kadaliyo, and kusumbharā are here. Dhanutakkārī and sīsapā are covered in flowers."
Cây setapaṇṇī, sattapaṇṇā, cây chuối và cây kusumbharā; cây dhanutakkārī với những bông hoa trông như những tấm khăn che đầu.
2043.
2043.
2043.
‘‘Acchivā sallavā † rukkhā, sallakiyo ca pupphitā;
Setageru ca tagarā, maṃsikuṭṭhā kulāvarā.
"Acchivā and sallavā trees, and sallakiyo are in bloom. Setageru, tagarā, maṃsikuṭṭhā, and kulāvarā are also here."
Cây acchivā, sallavā, và cây sallakī đã trổ bông; còn có cây setageru, tagarā, maṃsikuṭṭha, và kulāvarā.
2044.
2044.
2044.
‘‘Daharā rukkhā ca vuddhā ca, akuṭilā cettha pupphitā;
Assamaṃ ubhato ṭhanti, agyāgāraṃ samantato.
"Both young and old trees here, unbending, are in full bloom. They stand on both sides of the hermitage, surrounding the fire-hall."
Cả cây non lẫn cây già, đều mọc thẳng tắp và đã nở hoa ở đây; chúng đứng ở hai bên am thất, và bao quanh nhà lửa.
2045.
2045.
2045.
‘‘Athettha udakantasmiṃ, bahujāto phaṇijjako;
Muggatiyo karatiyo, sevālasīsakā bahū.
"And there by the water’s edge, phaṇijjako grows abundantly. Muggatiyo, karatiyo, and many sevālasīsakā are also there."
Và ở đây, bên bờ nước, mọc rất nhiều cây bạc hà (phaṇijjaka); có cây muggati, karati, và rất nhiều rêu sevālasīsaka.
2046.
2046.
2046.
‘‘Uddāpavattaṃ † ulluḷitaṃ, makkhikā hiṅgujālikā;
Dāsimakañjako † cettha, bahū nīcekaḷambakā.
"Uddāpavatta, ulluḷita, makkhikā, and hiṅgujālikā are here. Also dāsimakañjako, and many nīcekaḷambakā."
Có cây uddāpavatta, ulluḷita, makkhikā, hiṅgujālikā; ở đây cũng có cây dāsimakañjaka, và nhiều cây kaḷambaka mọc thấp.
2047.
2047.
2047.
‘‘Elamphurakasañchannā †, rukkhā tiṭṭhanti brāhmaṇa;
Sattāhaṃ dhāriyamānānaṃ, gandho tesaṃ na chijjati.
"Covered with elā and phuraka, the trees stand, O brahmin. Even when held for seven days, their fragrance does not fade."
Thưa Bà-la-môn, có những cây được bao phủ bởi dây leo elamphuraka; hương thơm của chúng không phai tàn dù được mang trong bảy ngày.
2048.
2048.
2048.
‘‘Ubhato saraṃ mucalindaṃ, pupphā tiṭṭhanti sobhanā;
Indīvarehi sañchannaṃ, vanaṃ taṃ upasobhati.
"On both sides of the Mucalinda pond, beautiful flowers stand. Covered with indīvara flowers, that grove shines brightly."
Ở hai bên hồ Mucalinda, có những bông hoa xinh đẹp đang khoe sắc; khu rừng ấy, được bao phủ bởi những bông súng xanh, trông thật lộng lẫy.
2049.
2049.
2049.
‘‘Aḍḍhamāsaṃ dhāriyamānānaṃ, gandho tesaṃ na chijjati;
Nīlapupphī setavārī, pupphitā girikaṇṇikā;
Kalerukkhehi † sañchannaṃ, vanaṃ taṃ tulasīhi ca.
"Even when kept for half a month, their fragrance does not fade. Nīlapupphī, setavārī, and girikaṇṇikā are in bloom. That grove is covered with kalerukkha and tulasī."
Hương thơm của chúng không phai tàn dù được mang trong nửa tháng; cây nīlapupphī, setavārī, và cây girikaṇṇikā đã nở hoa; khu rừng ấy được bao phủ bởi cây kalerukkha và cả cây hương nhu (tulasī).
2050.
2050.
2050.
‘‘Sammaddateva gandhena, pupphasākhāhi taṃ vanaṃ;
Bhamarā pupphagandhena, samantā mabhināditā.
"That grove seems intoxicated with the fragrance of its flowering branches. Bees hum all around, drawn by the flowers' fragrance."
Khu rừng ấy với những cành hoa dường như say sưa trong hương thơm; những con ong bị thu hút bởi hương hoa, bay vo ve khắp nơi.
2051.
2051.
2051.
‘‘Tīṇi kakkārujātāni, tasmiṃ sarasi brāhmaṇa;
Kumbhamattāni cekāni, murajamattāni tā ubho.
"Three kinds of kakkāru grow in that lake, O brahmin: some are the size of pots, and the other two are the size of drums."
"Này Bà-la-môn, trong hồ ấy có ba loại bầu; một loại lớn bằng cái ghè, và cả hai loại kia lớn bằng cái trống."
2052.
2052.
2052.
‘‘Athettha sāsapo bahuko, nādiyo † haritāyuto;
Asī tālāva tiṭṭhanti, chejjā indīvarā bahū.
"And here there is much mustard, with green stalks. Eighty palm trees stand, and many indīvara flowers are ready to be picked."
"Ở đây có nhiều hạt cải, có các cây sậy xanh tươi; có tám mươi cây cọ đứng vững, có nhiều hoa sen xanh có thể cắt được."
2053.
2053.
2053.
‘‘Apphoṭā suriyavallī ca, kāḷīyā † madhugandhiyā;
Asokā mudayantī ca, vallibho khuddapupphiyo.
"Apphoṭā, suriyavallī, kāḷīyā with honeyed scent, asokā, mudayantī, and vallibho with small flowers."
"Có cây nhài Apphoṭā và dây leo suriyavallī, cây kāḷīyā tỏa hương ngọt ngào; có cây vô ưu và cây nhài mudayantī, và các loại dây leo có hoa nhỏ."
2054.
2054.
2054.
‘‘Koraṇḍakā anojā ca, pupphitā nāgamallikā †;
Rukkhamāruyha tiṭṭhanti, phullā kiṃsukavalliyo.
Koraṇḍaka, anojā, and nāgamallikā are in bloom; having climbed the trees, the kiṃsuka creepers stand in full blossom.
"Có cây mào gà vàng và cây anojā, cây nhài nāgamallikā đang nở hoa; các dây leo kiṃsuka nở rộ, leo lên cây mà đứng."
2055.
2055.
2055.
‘‘Kaṭeruhā ca vāsantī, yūthikā madhugandhiyā;
Niliyā sumanā bhaṇḍī, sobhati padumuttaro.
Kaṭeruha, vāsantī, and honey-scented yūthikā are there; niliyā, sumanā, and bhaṇḍī too; and the excellent lotus shines.
"Có cây kaṭeruhā và cây nhài vāsantī, cây nhài yūthikā tỏa hương ngọt ngào; có cây niliyā, cây nhài sumanā, cây bhaṇḍī, và hoa sen tối thượng đang tỏa sáng."
2056.
2056.
2056.
‘‘Pāṭalī samuddakappāsī, kaṇikārā ca pupphitā;
Hemajālāva dissanti, ruciraggi sikhūpamā.
Pāṭalī, samuddakappāsī, and kaṇikārā are in bloom. They appear like golden nets, beautiful as the crests of a fire.
"Cây hoa pāṭalī, cây bông biển, và cây kaṇikāra đang nở hoa; chúng trông như những tấm lưới bằng vàng, giống như ngọn lửa rực rỡ."
2057.
2057.
2057.
‘‘Yāni tāni ca pupphāni, thalajānudakāni ca;
Sabbāni tattha dissanti, evaṃ rammo mahodadhi.
Whatever flowers there are, both land-born and water-born, all of them are seen there. So delightful is the great ocean.
"Những loài hoa nào, cả trên cạn lẫn dưới nước; tất cả đều được thấy ở nơi ấy, đại dương (hồ lớn) thật là đáng vui thích như vậy."
2058.
2058.
2058.
‘‘Athassā pokkharaṇiyā, bahukā vārigocarā;
Rohitā naḷapī † siṅgū, kumbhilā makarā susū.
And in that lotus pond are many aquatic creatures: rohitā, naḷapī, siṅgū, kumbhila, makara, and susu.
"Trong hồ sen ấy, có nhiều loài thủy tộc: cá rohitā, cá naḷapī, cá siṅgū, cá sấu, giao long, và cá heo."
2059.
2059.
2059.
‘‘Madhu ca madhulaṭṭhi ca, tālisā ca piyaṅgukā;
Kuṭandajā bhaddamuttā †, setapupphā ca lolupā.
There are madhu, madhulaṭṭhi, tālisā, and piyaṅgukā; kuṭandajā, bhaddamuttā, setapupphā, and lolupā.
"Có cây cam thảo, cây madhulaṭṭhi, cây tālisā và cây piyaṅgukā; có cây kuṭandajā, cỏ gấu, cây hoa trắng và cây lolupā."
2060.
2060.
2060.
‘‘Surabhī ca rukkhā tagarā, bahukā tuṅgavaṇṭakā †;
Padmakā naradā kuṭṭhā, jhāmakā ca hareṇukā.
There are fragrant trees, tagara, and many tuṅgavaṇṭakā; padmakā, naradā, kuṭṭhā, jhāmakā, and hareṇukā.
"Có các cây thơm và cây tagarā, nhiều cây có cuống cao; có cây padmakā, cây cam tùng, cây thổ mộc hương, cây jhāmakā và hương liệu hareṇukā."
2061.
2061.
2061.
‘‘Haliddakā gandhasilā, hiriverā ca guggulā;
Vibhedikā corakā kuṭṭhā, kappurā ca kaliṅgukā.
There are haliddakā, gandhasilā, hiriverā, and guggulā; vibhedikā, corakā, kuṭṭhā, kappurā, and kaliṅgukā.
"Có cây nghệ, đá thơm, rễ thơm hiriverā và nhựa thơm guggulā; có cây vibhedikā, hương liệu corakā, cây thổ mộc hương, long não và cây kaliṅgukā."
2062.
2062.
2062.
‘‘Athettha sīhabyagghā ca, purisālū ca hatthiyo;
Eṇeyyā pasadā ceva, rohiccā sarabhā migā.
And here there are lions and tigers, bears and elephants; eṇeyya deer, pasada deer, rohicca deer, and sarabha deer.
"Ở đây có sư tử và cọp, có loài ăn thịt người và voi; có sơn dương đen, nai đốm, nai đỏ, và loài hươu sarabhā."
2063.
2063.
2063.
‘‘Koṭṭhasuṇā suṇopi ca, tuliyā naḷasannibhā;
Cāmarī calanī laṅghī, jhāpitā makkaṭā picu.
There are jackals and dogs, and slender tuliyā; cāmarī, calanī, laṅghī, jhāpitā, monkeys, and picu.
"Có chó rừng và cả chó nhà, có rái cá, loài giống cây sậy; có bò Tây Tạng, linh dương calanī, loài laṅghī, loài jhāpitā, khỉ, và loài picu."
2064.
2064.
2064.
‘‘Kakkaṭā kaṭamāyā ca, ikkā goṇasirā bahū;
Khaggā varāhā nakulā, kāḷakettha bahūtaso.
There are crabs and kaṭamāyā, and many ikkā and goṇasirā; rhinoceroses, boars, mongooses, and here there are many kāḷaka.
"Có cua, loài kaṭamāyā, gấu, và nhiều loài đầu bò; có tê giác, heo rừng, chồn, và ở đây có rất nhiều loài vật đen."
2065.
2065.
2065.
‘‘Mahiṃsā soṇasiṅgālā, pampakā ca samantato;
Ākucchā pacalākā ca, citrakā cāpi dīpiyo.
There are buffaloes, dogs, and jackals, and pampakā all around; ākucchā and pacalākā, and also citrakā and panthers.
"Có trâu, chó và chó rừng, và loài pampakā ở khắp nơi; có loài ākucchā và pacalākā, và cả báo gấm và báo hoa mai."
2066.
2066.
2066.
‘‘Pelakā ca vighāsādā, sīhā gogaṇisādakā;
Aṭṭhapādā ca morā ca, bhassarā ca kukutthakā.
There are pelakā and vighāsādā, lions and gogaṇisādakā; aṭṭhapādā, peacocks, bhassarā, and wild cocks.
"Có thỏ và loài ăn xác thối, sư tử ăn thịt cả đàn bò; có loài tám chân và công, có chim bhassarā và gà rừng."
2067.
2067.
2067.
‘‘Caṅkorā kukkuṭā nāgā, aññamaññaṃ pakūjino;
Bakā balākā najjuhā, dindibhā kuñjavājitā †.
Partridges, cocks, and elephants call to one another; herons, cranes, najjuhā, ḍiṇḍibhā, and kuñjavājitā are there.
"Có chim đa đa, gà trống, chim nāgā, chúng cùng nhau cất tiếng hót; có diệc, hạc, chim najjuhā, chim dindibhā, và chim kuñjavājitā."
2068.
2068.
2068.
‘‘Byagghinasā lohapiṭṭhā, pammakā † jīvajīvakā;
Kapiñjarā tittirāyo, kulā ca paṭikutthakā.
There are byagghinasā and lohapiṭṭhā, pammakā and pheasants; kapiñjarā partridges and tittirā partridges, kulā and paṭikutthakā.
"Có chim byagghinasā, chim lưng đồng, chim pammakā, chim trĩ; có chim cút, chim đa đa, chim kulā và chim paṭikutthakā."
2069.
2069.
2069.
‘‘Mandālakā celakeṭu, bhaṇḍutittiranāmakā;
Celāvakā piṅgalāyo †, goṭakā aṅgahetukā.
There are mandālakā, celakeṭu, and those named bhaṇḍutittira; celāvakā, piṅgalā, goṭakā, and aṅgahetukā.
"Có chim mandālakā, chim celakeṭu, loài đa đa tên bhaṇḍu; có chim celāvakā, chim cú, chim goṭakā, và chim aṅgahetukā."
2070.
2070.
2070.
‘‘Karaviyā ca saggā ca, uhuṅkārā ca kukkuhā;
Nānādijagaṇākiṇṇaṃ, nānāsaranikūjitaṃ.
There are karavīka birds, saggā, uhuṅkārā, and kukkuhā; the place is filled with flocks of diverse birds, resounding with their varied calls.
"Có chim tu hú, chim saggā, chim uhuṅkārā và chim kukkuhā; nơi đây đầy dẫy các đàn chim khác nhau, vang dội những tiếng hót đa dạng."
2071.
2071.
2071.
‘‘Athettha sakuṇā santi, nīlakā † mañjubhāṇikā;
Modanti saha bhariyāhi, aññamaññaṃ pakūjino.
Here there are birds, blue and sweet-voiced; they rejoice with their mates, calling to one another.
"Ở đây có những loài chim màu xanh, tiếng hót ngọt ngào; chúng vui vẻ cùng bạn đời, cùng nhau cất tiếng hót."
2072.
2072.
2072.
‘‘Athettha sakuṇā santi, dijā mañjussarā sitā;
Setacchikuṭā bhadrakkhā, aṇḍajā citrapekhuṇā.
Here there are birds, twice-born, sweet-voiced, and white; with white crests, beautiful eyes, egg-born, with speckled wings.
"Ở đây có những loài chim, loài sinh hai lần, tiếng hót ngọt ngào, màu trắng; có mào mắt trắng, mắt đẹp, sinh từ trứng, có lông đuôi sặc sỡ."
2073.
2073.
2073.
‘‘Athettha sakuṇā santi, dijā mañjussarā sitā;
Sikhaṇḍī nīlagīvāhi, aññamaññaṃ pakūjino.
Here there are birds, twice-born, sweet-voiced, and white; crested peacocks with blue necks, calling to one another.
"Ở đây có những loài chim, loài sinh hai lần, tiếng hót ngọt ngào; những con công có mào, cổ xanh, cùng nhau cất tiếng hót."
2074.
2074.
2074.
‘‘Kukutthakā kuḷīrakā, koṭṭhā pokkharasātakā;
Kālāmeyyā baliyakkhā, kadambā suvasāḷikā.
There are wild cocks, kuḷīrakā, koṭṭhā, and pokkharasātakā; kālāmeyyā, baliyakkhā, kadamba geese, and mynah birds.
"Có gà rừng, chim kuḷīrakā, chim gõ kiến, chim pokkharasātakā; có chim kālāmeyyā, quạ, ngỗng kadambā, vẹt và chim sáo."
2075.
2075.
2075.
‘‘Haliddā lohitā setā, athettha nalakā bahū;
Vāraṇā bhiṅgarājā ca, kadambā suvakokilā.
Here there are many nalakā birds—yellow, red, and white; vāraṇā and bhiṅgarāja, kadamba geese, and beautiful cuckoos.
"Có những con màu vàng, màu đỏ, màu trắng, và ở đây có nhiều chim nalakā; có chim vāraṇā và chim chèo bẻo, ngỗng kadambā, vẹt và chim tu hú."
2076.
2076.
2076.
‘‘Ukkusā kurarā haṃsā, āṭā parivadentikā;
Pākahaṃsā atibalā, najjuhā jīvajīvakā.
Ospreys, curlews, and swans; āṭā birds and parivadentikā; very strong pākahaṃsā, najjuhā, and pheasants.
"Có chim ó, chim kurarā, thiên nga, chim āṭā, chim parivadentikā; có ngỗng pākahaṃsā rất mạnh mẽ, chim najjuhā và chim trĩ."
2077.
2077.
2077.
‘‘Pārevatā ravihaṃsā, cakkavākā nadīcarā;
Vāraṇābhirudā rammā, ubho kālūpakūjino.
Doves, sun-geese, and river-frequenting ruddy geese; delightful vāraṇābhirudā, both cooing at the proper time.
"Có bồ câu, ngỗng mặt trời, vịt cakkavākā sống ở sông; nơi đây đáng vui thích với tiếng kêu của chim vāraṇā, cả hai đều cất tiếng hót đúng thời."
2078.
2078.
2078.
‘‘Athettha sakuṇā santi, nānāvaṇṇā bahū dijā;
Modanti saha bhariyāhi, aññamaññaṃ pakūjino.
Here there are birds, many twice-born birds of various colors; they rejoice with their mates, calling to one another.
"Ở đây có những loài chim, nhiều loài sinh hai lần với màu sắc đa dạng; chúng vui vẻ cùng bạn đời, cùng nhau cất tiếng hót."
2079.
2079.
2079.
‘‘Athettha sakuṇā santi, nānāvaṇṇā bahū dijā;
Sabbe mañjū nikūjanti, mucalindamubhatosaraṃ.
Here there are birds, many twice-born birds of various colors; all sing sweetly on both sides of the Mucalinda lake.
"Ở đây có những loài chim, nhiều loài sinh hai lần với màu sắc đa dạng; tất cả đều cất tiếng hót ngọt ngào ở hai bên hồ Mucalinda."
2080.
2080.
2080.
‘‘Athettha sakuṇā santi, karaviyā nāma te dijā †;
Modanti saha bhariyāhi, aññamaññaṃ pakūjino.
Here there are birds, those twice-born named karavīka; they rejoice with their mates, calling to one another.
"Ở đây có những loài chim, những loài sinh hai lần ấy tên là karavīka; chúng vui vẻ cùng bạn đời, cùng nhau cất tiếng hót."
2081.
2081.
2081.
‘‘Athettha sakuṇā santi, karaviyā nāma te dijā;
Sabbe mañjū nikūjanti, mucalindamubhatosaraṃ.
Here there are birds, those twice-born named karavīka; all sing sweetly on both sides of the Mucalinda lake.
Ở đây có những loài chim, chúng là loài chim karavīkā; tất cả đều hót líu lo, ở hai bên hồ Mucalinda.
2082.
2082.
2082.
‘‘Eṇeyyapasadākiṇṇaṃ, nāgasaṃsevitaṃ vanaṃ;
Nānālatāhi sañchannaṃ, kadalīmigasevitaṃ.
Crowded with antelope, frequented by elephants; covered with various creepers, frequented by kadalī deer.
Khu rừng đầy dẫy nai và linh dương, được các loài voi lui tới; được che phủ bởi nhiều loại dây leo, được các loài hươu nai lui tới.
2083.
2083.
2083.
‘‘Athettha sāsapo bahuko †, nīvāro varako bahu;
Sāli akaṭṭhapāko ca, ucchu tattha anappako.
Here is much mustard seed, and abundant wild rice and varaka grain; Sāli rice that ripens without cultivation, and plenty of sugarcane.
Ở đây có nhiều hạt cải, nhiều lúa hoang, nhiều đậu; và lúa gạo tự chín, mía ở đó cũng không ít.
2084.
2084.
2084.
‘‘Ayaṃ ekapadī eti, ujuṃ gacchati assamaṃ;
Khudaṃ † pipāsaṃ aratiṃ, tattha patto na vindati;
Yattha vessantaro rājā, saha puttehi sammati.
This single-file path leads straight to the hermitage; one who arrives there finds no hunger, thirst, or discontent; it is where King Vessantara dwells peacefully, together with his children.
Con đường mòn này đi thẳng đến am thất; người đến đó không gặp phải đói, khát, hay buồn chán; nơi vua Vessantara sống cùng với các con.
2085.
2085.
2085.
‘‘Dhārento brāhmaṇavaṇṇaṃ, āsadañca masaṃ jaṭaṃ;
Cammavāsī chamā seti, jātavedaṃ namassati’’.
Maintaining the appearance of a brahmin, with staff, deerskin, and matted hair; he wears an animal hide, sleeps on the bare ground, and pays homage to the sacred fire.
Ngài mang hình dáng Bà-la-môn, với ghế ngồi, tóc rối và bện; mặc da thú, nằm trên đất, và tôn kính thần lửa.
2086.
2086.
2086.
Idaṃ sutvā brahmabandhu, isiṃ katvā padakkhiṇaṃ;
Udaggacitto pakkāmi, yattha vessantaro ahu’’.
Having heard this, the brahmin, after circumambulating the sage, departed with an elated mind to the place where Vessantara was.
Nghe vậy, người Bà-la-môn ấy, sau khi đi quanh vị ẩn sĩ theo chiều kim đồng hồ; với tâm hân hoan, đã ra đi, đến nơi có Vessantara.
Mahāvanavaṇṇanā.
The Description of the Great Forest.
Mô tả về khu rừng lớn.
Dārakapabbaṃ
The Chapter of the Children.
Chương về những đứa trẻ.
2087.
2087.
2087.
‘‘Uṭṭhehi jāli patiṭṭha, porāṇaṃ viya dissati;
Brāhmaṇaṃ viya passāmi, nandiyo mābhikīrare’’.
Arise, Jāli, stand forth. It seems like the old days; I see one who looks like a brahmin. Do not make a sound of welcome.
Này Jāli, hãy đứng dậy, hãy đứng vững, dường như có điềm báo xưa; ta thấy dường như một vị Bà-la-môn, cầu mong niềm vui của chúng ta đừng bị tan vỡ.
2088.
2088.
2088.
‘‘Ahampi tāta passāmi, yo so brahmāva dissati;
Addhiko viya † āyāti, atithī no bhavissati’’.
I too, dear father, see him who appears like Brahmā. He comes like a wayfarer; he will be our guest.
Thưa cha, con cũng thấy, người ấy trông như một vị Phạm thiên; người ấy đến như một khách bộ hành, người ấy sẽ là khách của chúng ta.
2089.
2089.
2089.
‘‘Kacci nu bhoto kusalaṃ, kacci bhoto anāmayaṃ;
Kacci uñchena yāpetha, kacci mūlaphalā bahū.
Is all well with you, sir? Are you free from illness? Do you live on gleanings? Are roots and fruits plentiful?
Phải chăng ngài được an lành? Phải chăng ngài được vô bệnh? Phải chăng ngài sống bằng cách lượm lặt? Phải chăng có nhiều rễ và trái cây?
2090.
2090.
2090.
‘‘Kacci ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā;
Vane vāḷamigākiṇṇe, kacci hiṃsā na vijjati’’.
Are gadflies and mosquitoes few, and likewise reptiles? In this forest teeming with beasts of prey, is there no harm?
Phải chăng ruồi và muỗi, cùng các loài bò sát chỉ có ít? Trong khu rừng đầy dẫy thú dữ, phải chăng không có sự nguy hại nào?
2091.
2091.
2091.
‘‘Kusalañceva no brahme, atho brahme anāmayaṃ;
Atho uñchena yāpema, atho mūlaphalā bahū.
Indeed, brahmin, we are well, and also, brahmin, free from illness; we subsist on gleanings, and also roots and fruits are plentiful.
Thưa ngài Bà-la-môn, chúng tôi được an lành, và thưa ngài Bà-la-môn, chúng tôi được vô bệnh; chúng tôi sống bằng cách lượm lặt, và có nhiều rễ và trái cây.
2092.
2092.
2092.
‘‘Atho ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā;
Vane vāḷamigākiṇṇe, hiṃsā amhaṃ † na vijjati’’.
Furthermore, there are gadflies and mosquitoes, and but few reptiles; in this forest teeming with beasts of prey, no harm befalls us.
Và ruồi và muỗi, cùng các loài bò sát chỉ có ít; trong khu rừng đầy dẫy thú dữ, không có sự nguy hại nào cho chúng tôi.
2093.
2093.
2093.
‘‘Satta no māse vasataṃ, araññe jīvasokinaṃ †;
Idampi paṭhamaṃ passāma, brāhmaṇaṃ devavaṇṇinaṃ;
Ādāya veḷuvaṃ daṇḍaṃ, aggihuttaṃ kamaṇḍaluṃ.
Having lived for seven months in the forest, grieving for our lives, now for the first time we see a brahmin, godlike in appearance, bearing a bamboo staff, the sacrificial fire, and a water-pot.
Chúng tôi sống bảy tháng trong rừng, sống trong sầu muộn; đây là lần đầu tiên chúng tôi thấy một vị Bà-la-môn có dung sắc như chư thiên; mang theo gậy tre, đồ cúng lửa, và bình nước.
2094.
2094.
2094.
‘‘Svāgataṃ te mahābrahme, atho te adurāgataṃ;
Anto pavisa bhaddante, pāde pakkhālayassu te.
Welcome to you, great brahmin, and your coming is indeed fortunate. Enter within, O blessed one, and wash your feet.
Xin chào mừng ngài, đại Bà-la-môn, và chuyến đi của ngài thật tốt đẹp; xin mời ngài vào trong, thưa ngài, xin hãy rửa chân.
2095.
2095.
2095.
‘‘Tindukāni piyālāni, madhuke kāsumāriyo;
Phalāni khuddakappāni, bhuñja brahme varaṃ varaṃ.
Here are Tinduka fruits, Piyālas, Madhukas, and Kāsumārīs; small fruits, O brahmin, eat of the very best.
Trái thị, trái piyāla, trái madhuka, trái kāsumāri; những loại trái cây nhỏ, xin mời ngài Bà-la-môn dùng những thứ tốt nhất.
2096.
2096.
2096.
‘‘Idampi pānīyaṃ sītaṃ, ābhataṃ girigabbharā;
Tato piva mahābrahme, sace tvaṃ abhikaṅkhasi.
Here is cool water, brought from a mountain cavern; drink then, great brahmin, if you so desire.
Đây là nước uống mát lạnh, được mang về từ khe núi; xin mời ngài, đại Bà-la-môn, hãy uống, nếu ngài mong muốn.
2097.
2097.
2097.
‘‘Atha tvaṃ kena vaṇṇena, kena vā pana hetunā;
Anuppatto brahāraññaṃ, taṃ me akkhāhi pucchito’’.
But for what reason, or for what cause, have you come to this great forest? Tell me, since you are asked.
Vậy, với lý do gì, hay với nguyên nhân nào; ngài đã đến khu rừng lớn này, khi được hỏi, xin hãy nói cho tôi biết điều đó.
2098.
2098.
2098.
‘‘Yathā vārivaho pūro, sabbakālaṃ na khīyati;
Evaṃ taṃ yācitāgacchiṃ, putte me dehi yācito’’.
As a river swollen with water at all times does not diminish, so I have come to beg from you; give me your children, I beseech you.
Giống như dòng sông đầy nước, không bao giờ cạn kiệt; tôi đến để xin ngài cũng như vậy, khi được xin, xin hãy cho tôi những đứa con của ngài.
2099.
2099.
2099.
‘‘Dadāmi na vikampāmi, issaro naya brāhmaṇa;
Pāto gatā rājaputtī, sāyaṃ uñchāto ehiti.
I give and do not waver. You are the master, O brahmin, lead them away. The princess went out in the morning; she will return in the evening from her gleaning.
Ta cho, ta không do dự, thưa ngài Bà-la-môn, hãy dẫn chúng đi; công chúa đã đi từ sáng sớm, chiều tối nàng sẽ trở về từ việc lượm lặt.
2100.
2100.
2100.
‘‘Ekarattiṃ vasitvāna, pāto gacchasi brāhmaṇa;
Tassā nhāte upaghāte, atha ne māladhārine.
Stay for one night, O brahmin, and depart in the morning; when she has bathed and served you, then take these garland-wearers.
Sau khi ở lại một đêm, sáng mai ngài hãy đi, thưa Bà-la-môn; sau khi nàng tắm rửa, hôn hít chúng, và chúng được đeo vòng hoa.
2101.
2101.
2101.
‘‘Ekarattiṃ vasitvāna, pāto gacchasi brāhmaṇa;
Nānāpupphehi sañchanne, nānāgandhehi bhūsite;
Nānāmūlaphalākiṇṇe, gaccha svādāya brāhmaṇa’’.
Stay for one night, O brahmin, and depart in the morning. This place is strewn with various flowers, adorned with various scents, and filled with various roots and fruits. Go then, O brahmin, for your enjoyment.
Sau khi ở lại một đêm, sáng mai ngài hãy đi, thưa Bà-la-môn; sau khi chúng được trang điểm với hoa và hương thơm, được ăn no các loại rễ và trái cây, ngài hãy mang chúng đi, thưa Bà-la-môn.
2102.
2102.
2102.
‘‘Na vāsamabhirocāmi, gamanaṃ mayha ruccati;
Antarāyopi me assa, gacchaññeva rathesabha.
I do not wish to stay; it is going that pleases me. An obstacle might arise for me; I must go, O bull among charioteers.
Tôi không thích ở lại, tôi chỉ muốn đi; có thể có chướng ngại cho tôi, tôi phải đi ngay, hỡi bậc xa vương.
2103.
2103.
2103.
‘‘Na hetā yācayogī naṃ, antarāyassa kāriyā;
Itthiyo mantaṃ † jānanti, sabbaṃ gaṇhanti vāmato.
For women are not helpful to a beggar; they are makers of obstacles. Women know spells; they take everything by deceit.
Nàng không phải là người tạo ra chướng ngại cho những người hành khất; nhưng phụ nữ biết mưu kế, họ hiểu mọi việc một cách sai trái.
2104.
2104.
2104.
‘‘Saddhāya dānaṃ dadato, māsaṃ adakkhi mātaraṃ;
Antarāyampi sā kayirā, gacchaññeva rathesabha.
While you are giving this gift in faith, let them not see their mother. She might create an obstacle; I must go, O bull among charioteers.
Trong khi ngài đang bố thí với đức tin, đừng để chúng thấy mẹ của chúng; nàng có thể tạo ra chướng ngại, tôi phải đi ngay, hỡi bậc xa vương.
2105.
2105.
2105.
‘‘Āmantayassu te putte, mā te mātaramaddasuṃ;
Saddhāya dānaṃ dadato, evaṃ puññaṃ pavaḍḍhati.
Bid farewell to your children, lest they see their mother; for one giving a gift with faith, thus merit increases.
Hãy gọi các con của ngài, đừng để chúng thấy mẹ của chúng; khi bố thí với đức tin, công đức sẽ tăng trưởng như vậy.
2106.
2106.
2106.
‘‘Āmantayassu te putte, mā te mātaramaddasuṃ;
Mādisassa dhanaṃ datvā, rāja saggaṃ gamissasi’’.
Bid farewell to your sons, lest they see their mother; having given wealth to one like me, O king, you will go to heaven.
Hãy gọi các con của ngài, đừng để chúng thấy mẹ của chúng; sau khi cho tài sản cho người như tôi, hỡi đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
2107.
2107.
2107.
‘‘Sace tvaṃ nicchase daṭṭhuṃ, mama bhariyaṃ patibbataṃ;
Ayyakassapi dassehi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
If you do not wish to see my devoted wife, then show both Jāli and Kaṇhājinā to their grandfather.
Nếu ngài không muốn thấy người vợ chung thủy của tôi, thì hãy cho ông ngoại của chúng thấy cả hai, Jāli và Kaṇhājinā.
2108.
2108.
2108.
‘‘Ime kumāre disvāna, mañjuke piyabhāṇine;
Patīto sumano vitto, bahuṃ dassati te dhanaṃ’’.
Having seen these children, charming and sweet-spoken, he, being pleased, glad, and delighted, will give you much wealth.
Sau khi thấy hai đứa trẻ này, đáng yêu và nói lời khả ái; ông sẽ hài lòng, vui vẻ, hoan hỷ, và sẽ cho ngài nhiều của cải.
2109.
2109.
2109.
‘‘Acchedanassa bhāyāmi, rājaputta suṇohi me;
Rājadaṇḍāya maṃ dajjā, vikkiṇeyya haneyya vā;
Jino dhanañca dāse ca, gārayhassa brahmabandhuyā’’.
I fear having them taken from me, O prince, listen to me. He might subject me to royal punishment, sell me, or even kill me. The king might take back his property and these slaves from a contemptible brahmin like me.
“Thưa vương tử, xin hãy nghe tôi, tôi sợ bị tước đoạt. Nàng có thể giao tôi cho hình phạt của vua, có thể bán hoặc có thể giết tôi. Người chiếm lại tài sản và các người nô lệ sẽ đáng bị khiển trách đối với một người bà-la-môn.”
2110.
2110.
2110.
‘‘Ime kumāre disvāna, mañjuke piyabhāṇine;
Dhamme ṭhito mahārājā, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano;
Laddhā pītisomanassaṃ, bahuṃ dassati te dhanaṃ’’.
Having seen these children, charming and sweet-spoken, the great king, established in Dhamma, the increaser of the Sivi kingdom, obtaining joy and gladness, will give you much wealth.
“Sau khi nhìn thấy các con trẻ này, đáng yêu và nói lời dễ thương, đức vua vĩ đại, người làm phồn vinh cho xứ Sivi, bậc an trú trong Chánh pháp, sẽ có được niềm hoan hỷ và hạnh phúc, và sẽ ban cho ông nhiều của cải.”
2111.
2111.
2111.
‘‘Nāhaṃ tampi karissāmi, yaṃ maṃ tvaṃ anusāsasi;
Dārakeva ahaṃ nessaṃ, brāhmaṇyā paricārake’’.
I will not do what you instruct me; I shall take the children away to be servants for my brahmin wife.
“Tôi sẽ không làm điều ấy, điều mà ngài chỉ dạy cho tôi. Tôi sẽ chỉ dẫn các đứa trẻ đi, làm người hầu hạ cho bà-la-môn nữ.”
2112.
2112.
2112.
‘‘Tato kumārā byathitā †, sutvā luddassa bhāsitaṃ;
Tena tena padhāviṃsu, jālī kaṇhājinā cubho’’.
Then the children, distressed at hearing the cruel man's words, both Jāli and Kaṇhājinā, fled in every direction.
Bấy giờ, hai con trẻ Jāli và Kaṇhājinā, sau khi nghe lời nói của người tàn ác, đã trở nên đau khổ và chạy trốn chỗ này chỗ kia.
2113.
2113.
2113.
‘‘Ehi tāta piyaputta, pūretha mama pāramiṃ;
Hadayaṃ mebhisiñcetha, karotha vacanaṃ mama.
Come, dear beloved son, fulfill my perfection; gladden my heart, do my bidding.
“Này con trai yêu quý, hãy lại đây, hãy làm viên mãn ba-la-mật của cha. Hãy làm cho trái tim cha được tươi mát, hãy làm theo lời của cha.”
2114.
2114.
2114.
‘‘Yānā nāvā ca me hotha, acalā bhavasāgare;
Jātipāraṃ tarissāmi, santāressaṃ sadevakaṃ’’.
Be for me a vehicle and a ship, unwavering in the ocean of existence; I shall cross beyond birth, and I shall help the world with its gods to cross over.
“Hãy là cỗ xe và con thuyền không lay chuyển cho cha trong biển cả luân hồi. Cha sẽ vượt qua bờ bên kia của sự sanh, và sẽ cứu độ thế gian cùng với chư thiên.”
2115.
2115.
2115.
‘‘Ehi amma piyadhīti, pūretha mama pāramiṃ †;
Hadayaṃ mebhisiñcetha, karotha vacanaṃ mama.
Come, dear beloved daughter, fulfill my perfection; gladden my heart, do my bidding.
“Này con gái yêu quý, hãy lại đây, hãy làm viên mãn ba-la-mật của cha. Hãy làm cho trái tim cha được tươi mát, hãy làm theo lời của cha.”
2116.
2116.
2116.
‘‘Yānā nāvā ca me hotha, acalā bhavasāgare;
Jātipāraṃ tarissāmi, uddharissaṃ sadevakaṃ’’.
Be for me a vehicle and a ship, unwavering in the ocean of existence; I shall cross beyond birth, and I shall uplift the world with its gods.
“Hãy là cỗ xe và con thuyền không lay chuyển cho cha trong biển cả luân hồi. Cha sẽ vượt qua bờ bên kia của sự sanh, và sẽ cứu vớt thế gian cùng với chư thiên.”
2117.
2117.
2117.
‘‘Tato kumāre ādāya, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho;
Brāhmaṇassa adā dānaṃ, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano.
Then taking the children, both Jāli and Kaṇhājinā, he, the increaser of the Sivi kingdom, gave them as a gift to the brahmin.
Bấy giờ, bậc làm phồn vinh cho xứ Sivi, sau khi dẫn hai con trẻ, cả Jāli và Kaṇhājinā, đã ban tặng cho người bà-la-môn.
2118.
2118.
2118.
‘‘Tato kumāre ādāya, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho;
Brāhmaṇassa adā vitto, puttake dānamuttamaṃ.
Then, taking the children, both Jāli and Kaṇhājinā, he, being pleased, gave to the brahmin the excellent gift of his children.
Bấy giờ, với lòng hoan hỷ, ngài dẫn hai con trẻ, cả Jāli và Kaṇhājinā, và ban cho người bà-la-môn món quà tối thượng là các con của mình.
2119.
2119.
2119.
‘‘Tadāsi yaṃ bhiṃsanakaṃ, tadāsi lomahaṃsanaṃ;
Yaṃ kumāre padinnamhi, medanī sampakampatha.
That was a terrifying thing, that was a hair-raising thing: when the children were given away, the earth trembled violently.
Khi ấy, sự việc thật là khủng khiếp, khi ấy, sự việc thật là dựng tóc gáy. Khi các con trẻ được đem cho, mặt đất đã rúng động.
2120.
2120.
2120.
‘‘Tadāsi yaṃ bhiṃsanakaṃ, tadāsi lomahaṃsanaṃ;
Yaṃ pañjalikato rājā, kumāre sukhavacchite;
Brāhmaṇassa adā dānaṃ, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano’’.
That was a terrifying thing, that was a hair-raising thing: when the king, with hands clasped in reverence, the increaser of the Sivi kingdom, gave his tenderly-raised children as a gift to the brahmin.
Khi ấy, sự việc thật là khủng khiếp, khi ấy, sự việc thật là dựng tóc gáy. Khi vị vua, bậc làm phồn vinh cho xứ Sivi, chắp tay lại, đã ban tặng cho người bà-la-môn các con trẻ được nuôi nấng trong sung sướng.
2121.
2121.
2121.
‘‘Tato so brāhmaṇo luddo, lataṃ dantehi chindiya;
Latāya hatthe bandhitvā, latāya anumajjatha †.
Then that cruel brahmin, having bitten off a creeper with his teeth, bound their hands with it and beat them with that same creeper.
Bấy giờ, người bà-la-môn tàn ác ấy, dùng răng cắn đứt một sợi dây leo, dùng dây leo trói tay chúng lại, rồi dùng dây leo mà đánh đập.
2122.
2122.
2122.
‘‘Tato so rajjumādāya, daṇḍañcādāya brāhmaṇo;
Ākoṭayanto te neti, sivirājassa pekkhato’’.
Then that brahmin, taking a rope and a stick, led them away, striking them, while the Sivi king looked on.
Bấy giờ, người bà-la-môn ấy lấy một sợi dây và một cây gậy, vừa đánh đập vừa dẫn chúng đi, trong khi vua xứ Sivi đang nhìn.
2123.
2123.
2123.
‘‘Tato kumārā pakkāmuṃ, brāhmaṇassa pamuñciya;
Assupuṇṇehi nettehi, pitaraṃ so udikkhati.
Then the children ran off, having broken free from the brahmin. With eyes full of tears, he looked up at his father.
Bấy giờ, đứa con trai thoát khỏi tay người bà-la-môn rồi chạy đi; với đôi mắt đẫm lệ, nó nhìn lên người cha.
2124.
2124.
2124.
‘‘Vedhamassatthapattaṃva, pitu pādāni vandati;
Pitu pādāni vanditvā, idaṃ vacanamabravi.
Like a trembling leaf of a sacred fig tree, he bows at his father's feet; having bowed at his father's feet, he spoke these words.
Run rẩy như chiếc lá bồ đề, nó đảnh lễ dưới chân cha. Sau khi đảnh lễ dưới chân cha, nó thốt lên lời này:
2125.
2125.
2125.
‘‘Ammā ca tāta nikkhantā, tvañca no tāta dassasi;
Yāva ammampi passemu, atha no tāta dassasi.
O father, mother has gone out, and you are giving us away. Wait until we can see our mother, and then, father, you may give us away.
“Thưa cha, mẹ đã đi ra ngoài, và cha lại đem cho chúng con. Xin hãy đợi cho đến khi chúng con được gặp mẹ, rồi sau đó thưa cha, cha hãy cho chúng con đi.”
2126.
2126.
2126.
‘‘Ammā ca tāta nikkhantā, tvañca no tāta dassasi;
Mā no tvaṃ tāta adadā, yāva ammāpi etu no;
Tadāyaṃ brāhmaṇo kāmaṃ, vikkiṇātu hanātu vā.
O father, mother has gone out, and you are giving us away. Do not give us away, father, until our mother comes; then let this brahmin do as he pleases, whether to sell us or to kill us.
“Thưa cha, mẹ đã đi ra ngoài, và cha lại đem cho chúng con. Thưa cha, xin đừng cho chúng con đi, cho đến khi mẹ chúng con trở về. Khi ấy, người bà-la-môn này muốn bán hay muốn giết tùy ý.”
2127.
2127.
2127.
‘‘Balaṅkapādo † andhanakho †, atho ovaddhapiṇḍiko †;
Dīghuttaroṭṭho capalo, kaḷāro bhagganāsako.
He has deformed feet and crooked nails, and also sagging calves; a long upper lip, he is unsteady, with protruding teeth and a broken nose.
“Bàn chân sưng vù, móng tay cáu bẩn, và bắp chân thì nổi u. Môi trên dài, tánh tình xảo quyệt, răng vàng khè, mũi thì gãy.”
2128.
2128.
2128.
‘‘Kumbhodaro bhaggapiṭṭhi, atho visamacakkhuko;
Lohamassu haritakeso, valīnaṃ tilakāhato.
He is pot-bellied and broken-backed, and with uneven eyes; with a copper-colored beard and greenish hair, marked with wrinkles and moles.
“Bụng như cái lu, lưng thì gù, và đôi mắt thì lé. Râu màu đồng, tóc màu xanh lá, da nhăn nheo đầy những nốt ruồi.”
2129.
2129.
2129.
‘‘Piṅgalo ca vinato ca, vikaṭo ca brahā kharo;
Ajināni ca sannaddho, amanusso bhayānako.
He is tawny and bent, deformed, large, and rough; clad in animal hides, a frightening, non-human creature.
“Màu da hung hung, dáng người gù gập, hình thù dị dạng, to lớn và thô bạo. Lại còn mặc da thú, trông như một phi nhân đáng sợ.”
2130.
2130.
2130.
‘‘Manusso udāhu yakkho, maṃsalohitabhojano;
Gāmā araññamāgamma, dhanaṃ taṃ tāta yācati.
Is he a human or a yakkha, a devourer of flesh and blood, who has come from a village into the forest to beg for wealth from you, O father?
“Là người hay là dạ-xoa, một kẻ ăn thịt uống máu? Từ làng mạc đến chốn rừng sâu, nó xin cha của cải (là chúng con).”
2131.
2131.
2131.
‘‘Nīyamāne pisācena, kiṃ nu tāta udikkhasi;
Asmā nūna te hadayaṃ, āyasaṃ daḷhabandhanaṃ.
As we are being led away by this ghoul, why, O father, do you just look on? Surely your heart is made of stone, or of iron, strongly bound.
“Khi chúng con bị con quỷ này dẫn đi, tại sao cha chỉ đứng nhìn? Chắc hẳn trái tim của cha được làm bằng sắt, được buộc chặt lại.”
2132.
2132.
2132.
‘‘Yo no baddhe na jānāsi, brāhmaṇena dhanesinā;
“Do you not know us, bound by the brahmin who desires wealth;
“Cha không nhận ra chúng con khi bị trói bởi người bà-la-môn tham của,”
Accāyikena luddena, yo no gāvova sumbhati.
By the urgent and cruel one, who goads us like cattle.
“bởi kẻ tàn ác, vội vã, kẻ đánh đập chúng con như súc vật.”
2133.
2133.
2133.
‘‘Idheva acchataṃ kaṇhā, na sā jānāti kismiñci;
Migīva khīrasammattā, yūthā hīnā pakandati.
“Let Kaṇhā stay right here; she knows nothing at all. Like a doe drunk on milk, separated from the herd, she cries out.
“Xin hãy để Kaṇhā ở lại đây, em ấy chẳng biết gì cả. Giống như con nai tơ còn bú sữa, khi bị tách khỏi bầy, em ấy sẽ kêu khóc.”
2134.
2134.
2134.
‘‘Na me idaṃ tathā dukkhaṃ, labbhā hi pumunā idaṃ;
Yañca ammaṃ na passāmi, taṃ me dukkhataraṃ ito.
“This is not so much my sorrow, for this can be obtained by a man; but that I do not see my mother—that is a greater sorrow to me than this.
“Đối với con, điều này không phải là nỗi khổ dường ấy, vì là phận nam nhi có thể chịu đựng được. Nhưng việc không được nhìn thấy mẹ, đối với con, đó là nỗi khổ lớn hơn điều này.”
2135.
2135.
2135.
‘‘Na me idaṃ tathā dukkhaṃ, labbhā hi pumunā idaṃ;
Yañca tātaṃ na passāmi, taṃ me dukkhataraṃ ito.
“This is not so much my sorrow, for this can be obtained by a man; but that I do not see my father—that is a greater sorrow to me than this.”
“Đối với con, điều này không phải là nỗi khổ dường ấy, vì là phận nam nhi có thể chịu đựng được. Nhưng việc không được nhìn thấy cha, đối với con, đó là nỗi khổ lớn hơn điều này.”
2136.
2136.
2136.
‘‘Sā nūna kapaṇā ammā, cirarattāya rucchati †;
Kaṇhājinaṃ apassantī, kumāriṃ cārudassaniṃ.
“Surely now my poor mother will grieve for a long time, not seeing Kaṇhājinā, the lovely maiden.”
“Chắc hẳn người mẹ đáng thương của con sẽ sầu muộn trong một thời gian dài, khi không nhìn thấy Kaṇhājinā, cô công chúa có dung mạo đáng yêu.”
2137.
2137.
2137.
‘‘So nūna kapaṇo tāto, cirarattāya rucchati;
Kaṇhājinaṃ apassanto, kumāriṃ cārudassaniṃ.
“Surely now my poor father will grieve for a long time, not seeing Kaṇhājinā, the lovely maiden.”
“Chắc hẳn người cha đáng thương của con sẽ sầu muộn trong một thời gian dài, khi không nhìn thấy Kaṇhājinā, cô công chúa có dung mạo đáng yêu.”
2138.
2138.
2138.
‘‘Sā nūna kapaṇā ammā, ciraṃ rucchati assame;
Kaṇhājinaṃ apassantī, kumāriṃ cārudassaniṃ.
“Surely now my poor mother will grieve long in the hermitage, not seeing Kaṇhājinā, the lovely maiden.”
“Chắc chắn người mẹ đáng thương ấy, sẽ buồn rầu lâu dài ở tại am thất; khi không nhìn thấy Kaṇhājinā, cô con gái có dung sắc xinh đẹp.”
2139.
2139.
2139.
‘‘So nūna kapaṇo tāto, ciraṃ rucchati assame;
Kaṇhājinaṃ apassanto, kumāriṃ cārudassaniṃ.
“Surely now my poor father will grieve long in the hermitage, not seeing Kaṇhājinā, the lovely maiden.”
“Chắc chắn người cha đáng thương ấy, sẽ buồn rầu lâu dài ở tại am thất; khi không nhìn thấy Kaṇhājinā, cô con gái có dung sắc xinh đẹp.”
2140.
2140.
2140.
‘‘Sā nūna kapaṇā ammā, cirarattāya rucchati;
Aḍḍharatte va ratte vā, nadīva avasucchati.
“Surely now my poor mother will grieve for a long time; whether at midnight or at dawn, she will dry up like a river.”
“Chắc chắn người mẹ đáng thương ấy, sẽ buồn rầu suốt đêm dài; hoặc vào lúc nửa đêm hay ban đêm, sẽ khô héo như dòng sông.”
2141.
2141.
2141.
‘‘So nūna kapaṇo tāto, cirarattāya rucchati;
Aḍḍharatte va ratte vā, nadīva avasucchati.
“Surely now my poor father will grieve for a long time; whether at midnight or at dawn, he will dry up like a river.”
“Chắc chắn người cha đáng thương ấy, sẽ buồn rầu suốt đêm dài; hoặc vào lúc nửa đêm hay ban đêm, sẽ khô héo như dòng sông.”
2142.
2142.
2142.
‘‘Ime te jambukā rukkhā, vedisā sinduvārakā †;
Vividhāni rukkhajātāni, tāni ajja jahāmase.
“These are your rose-apple trees, the vedisa and sinduvāra trees; various kinds of trees—those we abandon today.”
“Những cây trâm này, cây vedisā, cây sinduvārakā; các loại cây khác nhau, hôm nay chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2143.
2143.
2143.
‘‘Assatthā panasā ceme, nigrodhā ca kapitthanā;
Vividhāni phalajātāni, tāni ajja jahāmase.
“These sacred fig trees, jackfruit trees, banyan trees, and wood-apple trees; various kinds of fruits—those we abandon today.”
“Những cây bồ đề, cây mít này, và cây đa, cây kapitthana; các loại quả khác nhau, hôm nay chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2144.
2144.
2144.
‘‘Ime tiṭṭhanti ārāmā, ayaṃ sītūdakā † nadī;
Yatthassu pubbe kīḷāma, tāni ajja jahāmase.
“These parks stand, this cool-watered river, where we formerly played—those we abandon today.”
“Những khu vườn này đang hiện hữu, dòng sông có nước mát này; nơi mà trước đây chúng ta đã vui đùa, hôm nay chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2145.
2145.
2145.
‘‘Vividhāni pupphajātāni, asmiṃ uparipabbate;
Yānassu pubbe dhārema, tāni ajja jahāmase.
“Various kinds of flowers on this mountain above, which we formerly wore—those we abandon today.”
“Các loại hoa khác nhau, ở trên ngọn núi này; mà trước đây chúng ta đã trang điểm, hôm nay chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2146.
2146.
2146.
‘‘Vividhāni phalajātāni, asmiṃ uparipabbate;
Yānassu pubbe bhuñjāma, tāni ajja jahāmase.
“Various kinds of fruits on this mountain above, which we formerly ate—those we abandon today.”
“Các loại quả khác nhau, ở trên ngọn núi này; mà trước đây chúng ta đã ăn, hôm nay chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2147.
2147.
2147.
‘‘Ime no hatthikā assā, balibaddā ca no ime;
Yehissu pubbe kīḷāma, tāni ajja jahāmase’’.
“These are our toy elephants and horses, and these our bulls, with which we formerly played—those we abandon today.”
“Những con voi nhỏ, ngựa nhỏ của chúng ta này, và những con bò đực nhỏ của chúng ta này; mà trước đây chúng ta đã vui đùa cùng, hôm nay chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2148.
2148.
2148.
‘‘Nīyamānā kumārā te, pitaraṃ etadabravuṃ;
Ammaṃ ārogyaṃ vajjāsi, tvañca tāta sukhī bhava.
As those children were being led away, they said this to their father: “Tell mother to be well, and you, father, be happy.
“Những đứa trẻ ấy, đang bị dẫn đi, đã nói điều này với người cha: ‘Xin hãy nói với mẹ rằng chúng con được an lành, và thưa cha, mong cha được an lạc.’”
2149.
2149.
2149.
‘‘Ime no hatthikā assā, balibaddā ca no ime;
Tāni ammāya dajjesi, sokaṃ tehi vinessati.
“These are our toy elephants and horses, and these our bulls. Give those to mother; with them she will dispel her grief.
“Những con voi nhỏ, ngựa nhỏ của chúng ta này, và những con bò đực nhỏ của chúng ta này; xin hãy trao chúng cho mẹ, mẹ sẽ nguôi ngoai sầu muộn nhờ chúng.”
2150.
2150.
2150.
‘‘Ime no hatthikā assā, balibaddā ca no ime;
Tāni ammā udikkhantī, sokaṃ paṭivinessati.
“These are our toy elephants and horses, and these our bulls. Mother, seeing those, will dispel her grief.”
“Những con voi nhỏ, ngựa nhỏ của chúng ta này, và những con bò đực nhỏ của chúng ta này; khi mẹ nhìn ngắm chúng, mẹ sẽ nguôi ngoai sầu muộn.”
2151.
2151.
2151.
‘‘Tato vessantaro rājā, dānaṃ datvāna khattiyo;
Paṇṇasālaṃ pavisitvā, kalunaṃ paridevayi’’.
Then King Vessantara, the khattiya, having given the gift, entered the leaf-hut and lamented piteously.
“Khi ấy, vua Vessantara, vị Sát-đế-lỵ, sau khi đã bố thí, đã đi vào trong am lá và than khóc một cách thảm thương.”
2152.
2152.
2152.
‘‘Kaṃ nvajja chātā tasitā, uparucchanti dārakā;
Sāyaṃ saṃvesanākāle, ko ne dassati bhojanaṃ.
“Whom now will the hungry, thirsty children cry to? In the evening, at bedtime, who will give them food?
“Hôm nay, khi đói và khát, những đứa trẻ sẽ khóc than với ai? Vào lúc chiều tối, giờ đi ngủ, ai sẽ cho chúng thức ăn?”
2153.
2153.
2153.
‘‘Kaṃ nvajja chātā tasitā, uparucchanti dārakā;
Sāyaṃ saṃvesanākāle, ammā chātamha detha no.
“Whom now will the hungry, thirsty children cry to? In the evening, at bedtime, they will say, ‘Mother, we are hungry, give to us!’
“Hôm nay, khi đói và khát, những đứa trẻ sẽ khóc than với ai? Vào lúc chiều tối, giờ đi ngủ, (chúng sẽ nói): ‘Mẹ ơi, chúng con đói, xin hãy cho chúng con (thức ăn).’”
2154.
2154.
2154.
‘‘Kathaṃ nu pathaṃ gacchanti, pattikā anupāhanā;
Santā sūnehi pādehi, ko ne hatthe gahessati.
“How now will they walk the path, on foot and without shoes? With tired, swollen feet, who will take them by the hand?
“Làm sao chúng có thể đi trên đường, đi bộ, không giày dép? Mệt mỏi với đôi chân sưng phồng, ai sẽ nắm lấy tay chúng?”
2155.
2155.
2155.
‘‘Kathaṃ nu so na lajjeyya, sammukhā paharaṃ mama;
Adūsakānaṃ puttānaṃ, alajjī vata brāhmaṇo.
“How now could he not feel shame, striking my innocent children in my presence? Truly, shameless is that brahmin!
“Làm sao ông ta lại không biết hổ thẹn, khi đánh đập những đứa con vô tội ngay trước mặt ta? Ôi, người Bà-la-môn thật không biết xấu hổ.”
2156.
2156.
2156.
‘‘Yopi me dāsidāsassa, añño vā pana pesiyo;
Tassāpi suvihīnassa, ko lajjī paharissati.
“Even if it were my male or female slave, or some other servant, even one so lowly—what shameless person would strike him?
“Ngay cả đối với tôi tớ nam nữ của ta, hay người hầu khác, dù họ có phạm lỗi, người biết hổ thẹn nào lại có thể đánh đập?”
2157.
2157.
2157.
‘‘Vārijasseva me sato, baddhassa kumināmukhe;
Akkosati paharati, piye putte apassato.
“While I, like a fish caught in the mouth of a fish trap, do not see my beloved children, he reviles and strikes them.
“Đối với ta, giống như con cá bị mắc trong miệng lờ, ông ta mắng nhiếc và đánh đập (chúng) khi ta không nhìn thấy những đứa con thân yêu.”
2158.
2158.
2158.
‘‘Adu cāpaṃ gahetvāna, khaggaṃ bandhiya vāmato;
Ānessāmi sake putte, puttānañhi vadho dukho.
“Taking up my bow, fastening my sword on my left side, I will bring back my own children, for indeed the harming of children is painful.
“Ta sẽ cầm lấy cây cung này, và đeo gươm ở bên trái; ta sẽ mang những đứa con của mình trở về, vì việc hành hạ con cái thật là đau khổ.”
2159.
2159.
2159.
‘‘Aṭṭhānametaṃ † dukkharūpaṃ, yaṃ kumārā vihaññare;
Satañca dhammamaññāya, ko datvā anutappati’’.
“This is an improper form of suffering, that the children are afflicted; and knowing the Dhamma of the good, who, having given, would regret?”
“Đây là điều không thể, là điều đau khổ, rằng những đứa trẻ bị hành hạ. Nhưng khi đã biết được Chánh pháp của bậc thiện nhân, ai sau khi đã bố thí lại hối tiếc?”
2160.
2160.
2160.
‘‘Saccaṃ kirevamāhaṃsu, narā ekacciyā idha;
Yassa natthi sakā mātā, yathā natthi † tatheva so.
“Indeed, some men here have spoken truly thus: ‘He who has no mother of his own is as if he does not exist.’
“Thật vậy, một số người ở đời này đã nói như thế này: ‘Người nào không có mẹ của mình, người ấy cũng giống như không tồn tại.’”
2161.
2161.
2161.
‘‘Ehi kaṇhe marissāma, natthattho jīvitena no;
Dinnamhāti † janindena, brāhmaṇassa dhanesino;
“Come, Kaṇhā, let us die. There is no purpose in our living. We have been given by the king to the brahmin who seeks wealth;
“Lại đây Kaṇhā, chúng ta hãy chết đi, cuộc sống của chúng ta không còn ý nghĩa gì nữa; chúng ta đã bị đức vua ban cho một người Bà-la-môn tham lam của cải;”
Accāyikassa luddassa, yo no gāvova sumbhati.
to the urgent and cruel one, who goads us like cattle.”
một người tàn bạo, hung ác, người đánh đập chúng ta như những con bò.”
2162.
2162.
2162.
‘‘Ime te jambukā rukkhā, vedisā sinduvārakā;
Vividhāni rukkhajātāni, tāni kaṇhe jahāmase.
“These are your rose-apple trees, the vedisa and sinduvāra trees; various kinds of trees—those, Kaṇhā, we abandon.
“Những cây trâm này, cây vedisā, cây sinduvārakā; các loại cây khác nhau, này Kaṇhā, chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2163.
2163.
2163.
‘‘Assatthā panasā ceme, nigrodhā ca kapitthanā;
Vividhāni phalajātāni, tāni kaṇhe jahāmase.
“These sacred fig trees, jackfruit trees, banyan trees, and wood-apple trees; various kinds of fruits—those, Kaṇhā, we abandon.
“Những cây bồ đề, cây mít này, và cây đa, cây kapitthana; các loại quả khác nhau, này Kaṇhā, chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2164.
2164.
2164.
‘‘Ime tiṭṭhanti ārāmā, ayaṃ sītūdakā nadī;
Yatthassu pubbe kīḷāma, tāni kaṇhe jahāmase.
“These parks stand, this cool-watered river, where we formerly played—those, Kaṇhā, we abandon.
“Những khu vườn này đang hiện hữu, dòng sông có nước mát này; nơi mà trước đây chúng ta đã vui đùa, này Kaṇhā, chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2165.
2165.
2165.
‘‘Vividhāni pupphajātāni, asmiṃ uparipabbate;
Yānassu pubbe dhārema, tāni kaṇhe jahāmase.
“Various kinds of flowers on this mountain above, which we formerly wore—those, Kaṇhā, we abandon.
“Các loại hoa khác nhau, ở trên ngọn núi này; mà trước đây chúng ta đã trang điểm, này Kaṇhā, chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2166.
2166.
2166.
‘‘Vividhāni phalajātāni, asmiṃ uparipabbate;
Yānassu pubbe bhuñjāma, tāni kaṇhe jahāmase.
“Various kinds of fruits on this mountain above, which we formerly ate—those, Kaṇhā, we abandon.
“Các loại quả khác nhau, ở trên ngọn núi này; mà trước đây chúng ta đã ăn, này Kaṇhā, chúng ta phải từ bỏ chúng.”
2167.
2167.
2167.
‘‘Ime no hatthikā assā, balibaddā ca no ime;
Yehissu pubbe kīḷāma, tāni kaṇhe jahāmase’’.
“These are our toy elephants and horses, and these our bulls, with which we formerly played—those, Kaṇhā, we abandon.”
Này em Kaṇhā, những voi con, ngựa nhỏ, và bò đực này của chúng ta; những thứ mà trước đây ta thường vui đùa, nay chúng ta phải từ bỏ.
2168.
2168.
2168.
‘‘Nīyamānā kumārā te, brāhmaṇassa pamuñciya;
Tena tena padhāviṃsu, jālī kaṇhājinā cubho’’.
As those children were being led away, having broken free from the brahmin, both Jālī and Kaṇhājinā ran here and there.
Khi bị dẫn đi, các hoàng tử nhỏ ấy đã thoát khỏi tay người Bà-la-môn; cả Jāli và Kaṇhājinā, cả hai đã chạy tán loạn.
2169.
2169.
2169.
‘‘Tato so rajjumādāya, daṇḍañcādāya brāhmaṇo;
Ākoṭayanto te neti, sivirājassa pekkhato’’.
Then that brahmin, taking a rope and a stick, striking them, led them away, while the King of Sivi looked on.
Bấy giờ, người Bà-la-môn ấy lấy dây và gậy; vừa đánh vừa dắt chúng đi, trong khi vua nước Sivi đang nhìn.
2170.
2170.
2170.
‘‘Taṃ taṃ kaṇhājināvoca, ayaṃ maṃ tāta brāhmaṇo;
Laṭṭhiyā paṭikoṭeti, ghare jātaṃva dāsiyaṃ.
Then Kaṇhājina said to him: ‘Father, this brahmin strikes me with a stick, as if I were a slave girl born in his house.’
Khi ấy, Kaṇhājinā đã thưa rằng: 'Thưa cha, người Bà-la-môn này dùng gậy đánh con, như thể con là một nữ tỳ sinh ra trong nhà.'
2171.
2171.
2171.
‘‘Na cāyaṃ brāhmaṇo tāta, dhammikā honti brāhmaṇā;
Yakkho brāhmaṇavaṇṇena, khādituṃ tāta neti no;
Nīyamāne pisācena, kiṃ nu tāta udikkhasi’’.
‘This is not a brahmin, father, for brahmins are righteous. He is a yakkha in the guise of a brahmin, father, who leads us away to be devoured. While being led by a goblin, why, father, do you just look on?’
Thưa cha, đây không phải là Bà-la-môn, các vị Bà-la-môn thì sống đúng pháp. Đây là một dạ-xoa trong hình dạng Bà-la-môn, đang dẫn chúng con đi để ăn thịt. Thưa cha, khi chúng con bị quỷ sứ dẫn đi, sao cha chỉ đứng nhìn?
2172.
2172.
2172.
‘‘Ime no pādakā dukkhā, dīgho caddhā suduggamo;
Nīce colambate sūriyo, brāhmaṇo ca dhāreti † no.
‘These feet of ours are sore, and the path is long and very difficult to traverse; the sun hangs low, and the brahmin drives us on.’
Đôi chân của chúng con đau đớn, đường thì dài và rất khó đi; mặt trời đã xế bóng, và người Bà-la-môn cứ thúc giục chúng con.
2173.
2173.
2173.
‘‘Okandāmase † bhūtāni, pabbatāni vanāni ca;
Sarassa sirasā vandāma, supatitthe ca āpake †.
‘We call upon the spirits, the mountains, and the forests. With our heads we salute the lakes and the waters at the good fords.’
Chúng con hãy kêu gọi các loài hữu tình, các ngọn núi và các khu rừng; chúng con hãy cúi đầu đảnh lễ hồ nước, và các dòng sông có bến tốt.
2174.
2174.
2174.
‘‘Tiṇalatāni osadhyo, pabbatāni vanāni ca;
Ammaṃ ārogyaṃ vajjātha, ayaṃ no neti brāhmaṇo.
‘Grasses, creepers, and herbs, mountains and forests—tell our mother we are well, and that this brahmin is leading us away.’
Hỡi cỏ cây, dây leo, dược thảo, hỡi núi non và rừng rậm; xin hãy báo cho mẹ chúng con được bình an, rằng người Bà-la-môn này đang dẫn chúng con đi.
2175.
2175.
2175.
‘‘Vajjantu bhonto ammañca, maddiṃ asmāka mātaraṃ;
Sace anupatitukāmāsi, khippaṃ anupatiyāsi no.
‘May the honored ones tell our mother, Maddī: “If you wish to follow, may you quickly follow us.”’
Xin các ngài hãy nói với mẹ của chúng con, nàng Maddī; nếu mẹ muốn đi theo, xin hãy nhanh chóng đi theo chúng con.
2176.
2176.
2176.
‘‘Ayaṃ ekapadī eti, ujuṃ gacchati assamaṃ;
Tamevānupateyyāsi, api passesi ne lahuṃ.
‘This single path leads straight to the hermitage; follow that very one, and perhaps you might see us soon.’
Con đường mòn này đây, nó dẫn thẳng đến am thất; mẹ hãy đi theo chính con đường ấy, may ra mẹ sẽ sớm thấy chúng con.
2177.
2177.
2177.
‘‘Aho vata re jaṭinī, vanamūlaphalahārike †;
Suññaṃ disvāna assamaṃ, taṃ te dukkhaṃ bhavissati.
‘Alas, O matted-haired one, gatherer of roots and fruits in the forest; seeing the empty hermitage, great will be your sorrow.’
Than ôi, hỡi nữ tu khổ hạnh tóc bện, hỡi người sống bằng rễ cây và trái rừng; khi thấy am thất trống không, người sẽ đau khổ biết bao.
2178.
2178.
2178.
‘‘Ativelaṃ nu ammāya, uñchā laddho anappako †;
Yā no baddhe na jānāsi, brāhmaṇena dhanesinā.
‘For too long has our mother been gathering; her gleaning must be abundant, for she does not know we are bound by this wealth-seeking brahmin.’
Chắc hẳn mẹ của chúng con đã đi mót lượm quá lâu, thu được không ít thành quả; đến nỗi mẹ không biết chúng con đã bị trói bởi người Bà-la-môn tham lam.
2179.
2179.
2179.
‘‘Accāyikena luddena, yo no gāvova sumbhati;
Apajja ammaṃ passemu, sāyaṃ uñchāto āgataṃ.
‘By this urgent and cruel one, who drives us like cattle—would that we might see our mother today, returning in the evening from her gathering.’
Bởi kẻ tàn bạo, độc ác, kẻ thúc giục chúng con như gia súc; ước gì hôm nay chúng con được thấy mẹ, trở về vào buổi chiều sau khi mót lượm.
2180.
2180.
2180.
‘‘Dajjā ammā brāhmaṇassa, phalaṃ khuddena missitaṃ;
Tadāyaṃ asito dhāto, na bāḷhaṃ dhārayeyya † no.
‘May mother give the brahmin fruit mixed with honey; then he, having eaten and being satisfied, would not drive us on so forcefully.’
Ước gì mẹ cho người Bà-la-môn trái cây trộn với mật ong; khi ấy, sau khi ăn no, ông ta sẽ không thúc giục chúng con quá khắc nghiệt.
2181.
2181.
2181.
‘‘Sūnā ca vata no pādā, bāḷhaṃ dhāreti brāhmaṇo;
Iti tattha vilapiṃsu, kumārā mātugiddhino’’.
‘Alas, our feet are swollen, and the brahmin drives us on forcefully.’ Thus they lamented there, the children longing for their mother.
Than ôi, chân của chúng con đã sưng lên, người Bà-la-môn thúc giục quá mạnh; các hoàng tử nhỏ, vì thương nhớ mẹ, đã than khóc như vậy ở nơi ấy.
Dārakapabbaṃ nāma.
The Chapter on the Children.
Phẩm về những đứa trẻ.
Maddīpabbaṃ
The Chapter on Maddī
Phẩm Maddī.
2182.
2182.
2182.
‘‘Tesaṃ lālappitaṃ sutvā, tayo vāḷā vane migā;
Sīho byaggho ca dīpi ca, idaṃ vacanamabravuṃ.
Having heard their lamentation, three wild beasts in the forest—a lion, a tiger, and a leopard—spoke these words:
Nghe tiếng than khóc của các em, ba con mãnh thú trong rừng; sư tử, cọp, và báo, đã nói lên những lời này.
2183.
2183.
2183.
‘‘Mā heva no rājaputtī, sāyaṃ uñchāto āgamā;
Mā hevamhāka nibbhoge, heṭhayittha vane migā.
‘May the princess not return from her gathering in the evening; may the wild beasts in the forest not harm us in our helplessness.’
Công chúa đừng nên trở về từ việc mót lượm vào buổi chiều; mong rằng các mãnh thú trong rừng sẽ không làm hại người bất hạnh của chúng ta.
2184.
2184.
2184.
‘‘Sīho ca naṃ viheṭheyya, byaggho dīpi ca lakkhaṇaṃ;
Neva jālīkumārassa, kuto kaṇhājinā siyā;
Ubhayeneva jīyetha, patiṃ putte ca lakkhaṇā’’.
‘A lion, a tiger, or a leopard might harm him, O Lakkhaṇā. It would not be only Prince Jāli; how then could Kaṇhājinā be safe? O Lakkhaṇā, you would be bereft of both husband and sons.’
Sư tử có thể làm hại nàng, cọp và báo cũng vậy, hỡi người may mắn. Nàng sẽ không còn hoàng tử Jāli, huống chi là Kaṇhājinā. Hỡi người may mắn, nàng sẽ mất cả hai, cả chồng lẫn con.
2185.
2185.
2185.
‘‘Khaṇittikaṃ me patitaṃ, dakkhiṇakkhi ca phandati;
Aphalā phalino rukkhā, sabbā muyhanti me disā.
‘My digging stick has fallen, and my right eye twitches; the fruit-bearing trees are fruitless, and all directions are confused to me.’
Cái cuốc của con đã rơi xuống, mắt phải của con giật giật; cây cối sai quả bỗng như không có quả, mọi phương hướng đối với con đều trở nên mờ mịt.
2186.
2186.
2186.
‘‘Tassā sāyanhakālasmiṃ, assamāgamanaṃ pati;
Atthaṅgatamhi sūriye, vāḷā panthe upaṭṭhahuṃ.
At that evening time, as she was returning to the hermitage, when the sun had set, wild beasts stood upon her path.
Vào buổi chiều, khi nàng đang trên đường trở về am thất; lúc mặt trời đã lặn, các mãnh thú đã đứng chặn trên đường.
2187.
2187.
2187.
‘‘Nīce colambate sūriyo, dūre ca vata assamo;
Yañca nesaṃ ito hassaṃ †, taṃ te bhuñjeyyu bhojanaṃ.
‘The sun hangs low, and the hermitage is indeed far away; whatever food I was to bring them, that they would now be enjoying.’
Mặt trời đã xế bóng, than ôi am thất còn xa; thức ăn mà ta mang về cho chúng, giờ này chúng đã có thể đang ăn.
2188.
2188.
2188.
‘‘So nūna khattiyo eko, paṇṇasālāya acchati;
Tosento dārake chāte, mamaṃ disvā anāyatiṃ.
‘Surely that warrior sits alone in the leaf hut, comforting his hungry children, seeing that I am not returning.’
Chắc hẳn chàng Sát-đế-lỵ đang ngồi một mình trong am lá; dỗ dành những đứa con đang đói, vì không thấy mẹ trở về.
2189.
2189.
2189.
‘‘Te nūna puttakā mayhaṃ, kapaṇāya varākiyā;
Sāyaṃ saṃvesanākāle, khīrapītāva acchare.
‘Surely my children, of a poor and wretched mother, are waiting at evening bedtime as if they had just drunk milk.’
Chắc hẳn những đứa con nhỏ của ta, của người mẹ khốn khổ đáng thương này; vào buổi tối, lúc đi ngủ, chúng sẽ như những đứa trẻ đã được uống sữa.
2190.
2190.
2190.
‘‘Te nūna puttakā mayhaṃ, kapaṇāya varākiyā;
Sāyaṃ saṃvesanākāle, vāripītāva acchare.
‘Surely my children, of a poor and wretched mother, are waiting at evening bedtime as if they had just drunk water.’
Chắc hẳn những đứa con nhỏ của ta, của người mẹ khốn khổ đáng thương này; vào buổi tối, lúc đi ngủ, chúng sẽ như những đứa trẻ đã được uống nước.
2191.
2191.
2191.
‘‘Te nūna puttakā mayhaṃ, kapaṇāya varākiyā;
Paccuggatā maṃ tiṭṭhanti, vacchā bālāva mātaraṃ.
‘Surely my children, of a poor and wretched mother, stand waiting to meet me, like young calves for their mother.’
Chắc hẳn những đứa con nhỏ của ta, của người mẹ khốn khổ đáng thương này; chúng đang đứng chờ đón ta, như những con bê con chờ mẹ.
2192.
2192.
2192.
‘‘Te nūna puttakā mayhaṃ, kapaṇāya varākiyā;
Paccuggatā maṃ tiṭṭhanti, haṃsāvuparipallale.
‘Surely my children, of a poor and wretched mother, stand waiting to meet me, like swans upon a pond.’
Chắc hẳn những đứa con nhỏ của ta, của người mẹ khốn khổ đáng thương này; chúng đang đứng chờ đón ta, như những con thiên nga bên trên ao nhỏ.
2193.
2193.
2193.
‘‘Te nūna puttakā mayhaṃ, kapaṇāya varākiyā;
Paccuggatā maṃ tiṭṭhanti, assamassāvidūrato.
‘Surely my children, of a poor and wretched mother, stand waiting to meet me not far from the hermitage.’
Chắc hẳn những đứa con nhỏ của ta, của người mẹ khốn khổ đáng thương này; chúng đang đứng chờ đón ta, ở nơi không xa am thất.
2194.
2194.
2194.
‘‘Ekāyano ekapatho, sarā sobbhā ca passato;
Aññaṃ maggaṃ na passāmi, yena gaccheyya assamaṃ.
‘The way is one, the path is single; seeing its lakes and pools, I see no other path by which I might reach the hermitage.’
Chỉ có một lối đi, một con đường duy nhất, với hồ và hố ở bên cạnh; ta không thấy con đường nào khác, để có thể đi về am thất.
2195.
2195.
2195.
‘‘Migā namatthu rājāno, kānanasmiṃ mahabbalā;
Dhammena bhātaro hotha, maggaṃ me detha yācitā.
‘Homage to you, O beasts, kings mighty in the forest! Be my brothers in the Dhamma; grant me passage, I implore you.’
Hỡi các loài thú, các vị vua, có sức mạnh lớn ở trong rừng, xin kính lễ các ngài. Xin hãy là những người anh em của tôi theo Chánh pháp, tôi van xin, xin hãy nhường lối cho tôi.
2196.
2196.
2196.
‘‘Avaruddhassāhaṃ bhariyā, rājaputtassa sirīmato;
Taṃ cāhaṃ nātimaññāmi, rāmaṃ sītāvanubbatā.
‘I am the wife of a glorious, exiled prince. I do not scorn him, for I am devoted to him, like Sītā was to Rāma.’
Tôi là vợ của vị vương tử vinh quang, người bị lưu đày. Và tôi không xem thường ngài ấy, (tôi) là người tận tụy như nàng Sītā đối với chàng Rāma.
2197.
2197.
2197.
‘‘Tumhe ca putte passatha, sāyaṃ saṃvesanaṃ pati;
Ahañca putte passeyyaṃ, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
‘You see your own children at evening's rest; and I wish to see my children, Jāli and Kaṇhājinā, both of them.’
Và các ngài cũng được nhìn thấy các con của mình, vào buổi chiều, khi đi về nơi nghỉ ngơi. Và tôi cũng mong được nhìn thấy các con của tôi, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2198.
2198.
2198.
‘‘Bahuṃ cidaṃ mūlaphalaṃ, bhakkho cāyaṃ anappako;
Tato upaḍḍhaṃ dassāmi, maggaṃ me detha yācitā.
‘Here are many roots and fruits, and this food is abundant. I will give you half of it—grant me passage, I implore you.’
Đây là nhiều rễ và trái cây, và món ăn này không phải là ít ỏi. Từ đó, tôi sẽ dâng một nửa, tôi van xin, xin hãy nhường lối cho tôi.
2199.
2199.
2199.
‘‘Rājaputtī ca no mātā, rājaputto ca no pitā;
Dhammena bhātaro hotha, maggaṃ me detha yācitā’’.
‘Our mother is a princess, and our father is a prince; be my brothers in the Dhamma, grant me passage, I implore you.’
Mẹ của chúng tôi là công chúa, và cha của chúng tôi là vương tử. Xin hãy là những người anh em theo Chánh pháp, tôi van xin, xin hãy nhường lối cho tôi.
2200.
2200.
2200.
‘‘Tassā lālappamānāya, bahuṃ kāruññasañhitaṃ;
Sutvā nelapatiṃ vācaṃ, vāḷā panthā apakkamuṃ’’.
Having heard her lament, her eloquent speech imbued with much compassion, the wild beasts departed from the path.
Khi nghe những lời nói không lỗi lầm, chứa đựng nhiều lòng bi mẫn của nàng đang than khóc, các loài dã thú đã rời khỏi con đường.
2201.
2201.
2201.
‘‘Imamhi naṃ padesamhi, puttakā paṃsukuṇṭhitā;
Paccuggatā maṃ tiṭṭhanti, vacchā bālāva mātaraṃ.
‘In this very place, my children, covered with dust, stand waiting to meet me, like young calves for their mother.’
Chính tại nơi này, các con nhỏ, mình đầy bụi đất, đã đứng chờ đón tôi, giống như những con bê con (chờ đón) mẹ của chúng.
2202.
2202.
2202.
‘‘Imamhi naṃ padesamhi, puttakā paṃsukuṇṭhitā;
Paccuggatā maṃ tiṭṭhanti, haṃsāvuparipallale.
‘In this very place, my children, covered with dust, stand waiting to meet me, like swans upon a pond.’
Chính tại nơi này, các con nhỏ, mình đầy bụi đất, đã đứng chờ đón tôi, giống như những con thiên nga ở trên hồ.
2203.
2203.
2203.
‘‘Imamhi naṃ padesamhi, puttakā paṃsukuṇṭhitā;
Paccuggatā maṃ tiṭṭhanti, assamassāvidūrato.
‘In this very place, my children, covered in dust, stand waiting to meet me not far from the hermitage.’
Chính tại nơi này, các con nhỏ, mình đầy bụi đất, đã đứng chờ đón tôi, ở không xa am thất.
2204.
2204.
2204.
‘‘Dve migā viya † ukkaṇṇā †, samantā mabhidhāvino;
Ānandino pamuditā, vaggamānāva kampare;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
‘Like two fawns with ears pricked, they would run all around me; rejoicing, delighted, leaping and gamboling. But today I do not see my children—Jāli and Kaṇhājinā, both of them.’
Giống như hai con nai con háo hức, chúng chạy đến quanh tôi, vui mừng và hoan hỷ, chúng nhảy nhót và run rẩy. Thế mà hôm nay tôi không nhìn thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2205.
2205.
2205.
‘‘Chakalīva migī chāpaṃ, pakkhī muttāva pañjarā;
Ohāya putte nikkhamiṃ, sīhīvāmisagiddhinī;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
‘Like a doe leaving her fawn, like a bird freed from its cage, like a lioness greedy for meat, I left my children and went forth. But today I do not see my children—Jāli and Kaṇhājinā, both of them.’
Như con dê cái (với) con non, như con nai (với) con non, như con chim được thả khỏi lồng; tôi đã rời bỏ các con mà đi, như con sư tử cái tham mồi. Thế mà hôm nay tôi không nhìn thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2206.
2206.
2206.
‘‘Idaṃ nesaṃ padakkantaṃ, nāgānamiva pabbate;
Citakā parikiṇṇāyo, assamassāvidūrato;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
‘Here are their footprints, like those of elephants on the mountain; their sand-castles are scattered about not far from the hermitage. But today I do not see my children, Jāli and Kaṇhājinā, both of them.’
Đây là những dấu chân loang lổ rải rác của chúng, giống như của những con voi ở trên núi, ở không xa am thất. Thế mà hôm nay tôi không nhìn thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2207.
2207.
2207.
‘‘Vālikāyapi okiṇṇā, puttakā paṃsukuṇṭhitā;
Samantā mabhidhāvanti, te na passāmi dārake.
‘Though covered with sand, the children, smeared with dust, would run all around me; but I do not see those boys.’
Các con nhỏ, mình đầy bụi đất, thậm chí còn vương cả cát, chúng thường chạy đến quanh tôi. (Thế mà nay) tôi không nhìn thấy những đứa trẻ ấy.
2208.
2208.
2208.
‘‘Ye maṃ pure paccuṭṭhenti †, araññā dūramāyatiṃ;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
Those who formerly rose to greet me, as I came from afar from the forest; today I do not see my sons, Jāli and Kaṇhājina, both of them.
Những đứa con trước đây thường đứng dậy chào đón tôi, khi tôi từ trong rừng đi về từ xa. Thế mà hôm nay tôi không nhìn thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2209.
2209.
2209.
‘‘Chakaliṃva migiṃ chāpā, paccuggantuna mātaraṃ;
Dūre maṃ pavilokenti †, te na passāmi dārake.
Like fawns going forth to meet their mother, they would look out for me from afar; I do not see those children.
Giống như những con nai con đi ra đón mẹ, chúng thường trông ngóng tôi từ xa. (Thế mà nay) tôi không nhìn thấy những đứa trẻ ấy.
2210.
2210.
2210.
‘‘Idaṃ nesaṃ kīḷānakaṃ, patitaṃ paṇḍubeḷuvaṃ;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
This was their plaything, a fallen yellow reed. Today I do not see my sons, Jāli and Kaṇhājina, both of them.
Đây là đồ chơi của chúng, một trái beluva vàng bị rơi rụng. Thế mà hôm nay tôi không nhìn thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2211.
2211.
2211.
‘‘Thanā ca mayhime pūrā, uro ca sampadālati;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
My breasts are full and my heart is breaking; today I do not see my sons, Jāli and Kaṇhājina, both of them.
Và những bầu vú này của tôi thì căng đầy, và lồng ngực tôi như vỡ tung. Thế mà hôm nay tôi không nhìn thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2212.
2212.
2212.
‘‘Ucchaṅgeko vicināti, thanamekāvalambati;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
One would search in my lap, the other would cling to my breast; today I do not see my sons, Jāli and Kaṇhājina, both of them.
Một đứa thì tìm kiếm trong lòng tôi, một đứa thì níu lấy vú tôi. Thế mà hôm nay tôi không nhìn thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2213.
2213.
2213.
‘‘Yassu sāyanhasamayaṃ, puttakā paṃsukuṇṭhitā;
When in the evening my little sons, covered in dust,
Vào lúc chiều tối, các con nhỏ, mình đầy bụi đất,
Ucchaṅge me vivattanti, te na passāmi dārake.
would roll about on my lap; those children I do not see.
thường lăn lộn trong lòng tôi. (Thế mà nay) tôi không nhìn thấy những đứa trẻ ấy.
2214.
2214.
2214.
‘‘Ayaṃ so assamo pubbe, samajjo paṭibhāti maṃ;
Tyajja putte apassantyā, bhamate viya assamo.
This hermitage formerly appeared to me like a festival ground; today, as I do not see my sons, the hermitage seems to spin.
Trước đây, am thất này đối với tôi dường như là một nơi hội hè. Thế mà hôm nay, khi không nhìn thấy các con, am thất dường như đang quay cuồng.
2215.
2215.
2215.
‘‘Kimidaṃ appasaddova, assamo paṭibhāti maṃ;
Kākolāpi na vassanti, matā me nūna dārakā.
Why does this hermitage seem so silent to me? Not even crows are calling; surely my children are dead.
Tại sao am thất này đối với tôi lại có vẻ im ắng thế này? Ngay cả những con quạ cũng không kêu. Chắc hẳn các con của tôi đã chết rồi.
2216.
2216.
2216.
‘‘Kimidaṃ appasaddova, assamo paṭibhāti maṃ;
Sakuṇāpi na vassanti, matā me nūna dārakā.
Why does this hermitage seem so silent to me? Even the birds do not sing; surely my children are dead.
Tại sao am thất này đối với tôi lại có vẻ im ắng thế này? Ngay cả những con chim cũng không hót. Chắc hẳn các con của tôi đã chết rồi.
2217.
2217.
2217.
‘‘Kimidaṃ tuṇhibhūtosi, api ratteva me mano;
Kākolāpi na vassanti, matā me nūna dārakā.
Why are you so silent? Is my mind distraught? Not even crows are calling; surely my children are dead.
Tại sao chàng lại im lặng thế này, và tâm trí của thiếp đang bừng cháy? Ngay cả những con quạ cũng không kêu. Chắc hẳn các con của tôi đã chết rồi.
2218.
2218.
2218.
‘‘Kimidaṃ tuṇhibhūtosi, api ratteva me mano;
Sakuṇāpi na vassanti, matā me nūna dārakā.
Why are you so silent? Is my mind distraught? Even the birds do not sing; surely my children are dead.
Tại sao chàng lại im lặng thế này, và tâm trí của thiếp đang bừng cháy? Ngay cả những con chim cũng không hót. Chắc hẳn các con của tôi đã chết rồi.
2219.
2219.
2219.
‘‘Kacci nu me ayyaputta, migā khādiṃsu dārake;
Araññe iriṇe vivane, kena nītā me dārakā.
Could it be, my noble lord, that wild beasts have devoured my children? In the forest, in the barren, desolate wilderness, by whom were my children taken away?
Thưa phu quân, có phải chăng các con đã bị thú dữ ăn thịt? Trong rừng rậm, nơi hoang vắng, không người, ai đã mang các con của tôi đi?
2220.
2220.
2220.
‘‘Adu te pahitā dūtā, adu suttā piyaṃvadā;
Adu bahi no nikkhantā, khiḍḍāsu pasutā nu te.
Or were they sent as messengers by you? Or are the sweet-speaking ones asleep? Or have they gone outside, intent on their games?
Hay là chàng đã sai chúng đi làm sứ giả? Hay là những đứa con nói lời đáng yêu đang ngủ? Hay là chúng đã đi ra ngoài? Hay là chúng đang mải mê vui đùa?
2221.
2221.
2221.
‘‘Nevāsaṃ kesā dissanti, hatthapādā ca jālino;
Sakuṇānañca opāto, kena nītā me dārakā.
Neither their hair is seen, nor the hands and feet of Jāli, nor the swooping of birds of prey; by whom were my children taken away?
Không thấy tóc của chúng, cũng không thấy tay chân của Jāli. Và có cả bầy chim đang sà xuống, ai đã mang các con của tôi đi?
2222.
2222.
2222.
‘‘Idaṃ tato dukkhataraṃ, sallaviddho yathā vaṇo;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
This is more painful than that, like a wound pierced by a dart; today I do not see my sons, Jāli and Kaṇhājina, both of them.
Điều này còn đau đớn hơn nữa, giống như vết thương bị mũi tên xuyên qua. Thế mà hôm nay tôi không nhìn thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2223.
2223.
2223.
‘‘Idampi dutiyaṃ sallaṃ, kampeti hadayaṃ mama;
Yañca putte na passāmi, tvañca maṃ nābhibhāsasi.
This second dart, too, makes my heart tremble: that I do not see my sons, and that you do not speak to me.
Đây lại là mũi tên thứ hai làm cho tim tôi run rẩy: ấy là việc tôi không nhìn thấy các con, và cả việc chàng không nói chuyện với tôi.
2224.
2224.
2224.
‘‘Ajjeva † me imaṃ rattiṃ, rājaputta na saṃsasi;
Maññe okkantasantaṃ † maṃ, pāto dakkhisi no mataṃ’’.
O prince, if you do not tell me this very night, I think in the morning you will see me dead, my life departed.
Hỡi vương tử, ngay trong đêm nay, sao chàng không nói gì với thiếp; thiếp nghĩ rằng khi bình minh đến, chàng sẽ thấy thiếp đã chết, không còn sống nữa.
2225.
2225.
2225.
‘‘Nūna maddī varārohā, rājaputtī yasassinī;
Pāto gatāsi uñchāya, kimidaṃ sāyamāgatā’’.
Surely Maddī, the princess of noble form and fame, went foraging in the morning. Why has she returned so late in the evening?
Chắc chắn nàng Maddī, người có vóc dáng tuyệt vời, nàng công chúa danh tiếng; sáng sớm đã đi lượm trái cây, tại sao đến chiều tối mới về?
2226.
2226.
2226.
‘‘Nanu tvaṃ saddamassosi, ye saraṃ pātumāgatā;
Sīhassapi nadantassa, byagghassa ca nikujjitaṃ.
Did you not hear the sound of those who came to the lake to drink, the roar of the lion, and the growl of the tiger?
Chẳng phải chàng đã nghe tiếng động, của những con thú đến hồ để uống nước; cả tiếng sư tử rống, và tiếng cọp gầm gừ hay sao?
2227.
2227.
2227.
‘‘Ahu pubbanimittaṃ me, vicarantyā brahāvane;
Khaṇitto me hatthā patito, uggīvañcāpi † aṃsato.
An omen appeared to me as I wandered in the great forest; my digging tool fell from my hand, and my basket also slipped from my shoulder.
Thiếp đã có điềm báo trước, khi đang đi trong khu rừng lớn; cái cuốc đã rơi khỏi tay thiếp, và cái quang gánh cũng tuột khỏi vai.
2228.
2228.
2228.
‘‘Tadāhaṃ byathitā bhītā, puthu katvāna pañjaliṃ;
Sabbadisā namassissaṃ, api sotthi ito siyā.
Then, distressed and frightened, with hands joined in reverence, I paid homage to all the directions, thinking, 'May there be well-being from this.'
Lúc ấy thiếp run rẩy, sợ hãi, đã chắp tay vái lạy; thiếp đã đảnh lễ khắp mười phương, mong rằng từ đây được an lành.
2229.
2229.
2229.
‘‘Mā heva no rājaputto, hato sīhena dīpinā;
Dārakā vā parāmaṭṭhā, acchakokataracchihi.
May the prince not have been killed by a lion or a leopard, nor the children seized by bears, wolves, or hyenas.
Mong rằng vương tử của chúng ta không bị sư tử hay báo giết hại; hoặc các con không bị gấu, sói, hay linh cẩu tấn công.
2230.
2230.
2230.
‘‘Sīho byaggho ca dīpi ca, tayo vāḷā vane migā;
Te maṃ pariyāvaruṃ maggaṃ, tena sāyamhi āgatā.
A lion, a tiger, and a leopard, three fierce beasts of the forest, blocked my path; for that reason, I have returned in the evening.
Sư tử, cọp, và báo, ba loài thú dữ trong rừng; chúng đã chặn đường của thiếp, vì thế thiếp về muộn vào buổi chiều.
2231.
2231.
2231.
‘‘Ahaṃ patiñca putte ca, āceramiva māṇavo;
Anuṭṭhitā divārattiṃ, jaṭinī brahmacārinī.
I have served my husband and sons like a student serves his teacher, striving day and night, a matted-haired ascetic, living the holy life.
Thiếp đối với chồng và các con, giống như người học trò đối với thầy; đã hầu hạ ngày đêm, như một nữ tu khổ hạnh bện tóc, sống đời phạm hạnh.
2232.
2232.
2232.
‘‘Ajināni paridahitvā, vanamūlaphalahāriyā;
Vicarāmi divārattiṃ, tumhaṃ kāmā hi puttakā.
Clad in hides, gathering forest roots and fruits, I wander day and night for your sake, my children.
Mặc những tấm da thú, đi tìm rễ và trái cây rừng; thiếp đi lại ngày đêm, hỡi các con, chính là vì lòng thương yêu các con.
2233.
2233.
2233.
‘‘Ahaṃ suvaṇṇahaliddiṃ, ābhataṃ paṇḍubeḷuvaṃ;
Rukkhapakkāni cāhāsiṃ, ime vo putta kīḷanā.
I have brought golden turmeric and pale yellow bamboo, and I have brought tree-ripened fruits; these, my sons, are your playthings.
Mẹ đã mang về củ nghệ vàng, đã mang về trái beluva chín vàng; và đã mang về các loại trái cây chín, hỡi các con, đây là đồ chơi cho các con.
2234.
2234.
2234.
‘‘Imaṃ mūlāḷivattakaṃ, sālukaṃ ciñcabhedakaṃ;
Bhuñja khuddehi saṃyuttaṃ, saha puttehi khattiya.
Eat this assortment of roots and bulbs, these lotus roots and tamarind, together with the little ones, with your sons, O Khattiya.
Đây là củ sen, củ súng, và me; hỡi đấng Sát-đế-lỵ, xin hãy dùng chung với mật ong, cùng với các con.
2235.
2235.
2235.
‘‘Padumaṃ jālino dehi, kumudañca kumāriyā;
Māline passa naccante, sivi puttāni avhaya.
Give a lotus to Jāli, and a water lily to the girl; watch them dancing with their garlands, call the children of the Sivis.
Hãy trao hoa sen hồng cho Jāli, và hoa súng cho công chúa; hãy nhìn chúng đeo vòng hoa và nhảy múa, hãy gọi các con của Sivi lại đây.
2236.
2236.
2236.
‘‘Tato kaṇhājināyapi, nisāmehi rathesabha;
Mañjussarāya vagguyā, assamaṃ upayantiyā †.
Then, O bull among charioteers, listen also to Kaṇhājinā, as she of the sweet, lovely voice approaches the hermitage.
Hỡi bậc Ngưu vương trên chiến xa, hãy lắng nghe giọng nói của Kaṇhājinā; giọng nói ngọt ngào, đáng yêu, khi nàng đang đến gần am thất.
2237.
2237.
2237.
‘‘Samānasukhadukkhamhā, raṭṭhā pabbājitā ubho;
Api sivi putte passesi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho.
We who share the same happiness and sorrow were both exiled from the kingdom; O Sivi, do you see your children, Jāli and Kaṇhājina, both of them?
Chúng ta cùng chung hoạn nạn, vui buồn, cả hai bị trục xuất khỏi vương quốc; chàng có thấy các con của Sivi không, cả Jāli và Kaṇhājinā?
2238.
2238.
2238.
‘‘Samaṇe brāhmaṇe nūna, brahmacariyaparāyaṇe;
Ahaṃ loke abhissapiṃ, sīlavante bahussute;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho’’.
Surely I must have cursed some ascetics or brahmins in the world, some who were virtuous, learned, and devoted to the holy life; for today I do not see my children, Jāli and Kaṇhājina, both of them.
Chắc chắn là thiếp đã xúc phạm ở trên đời, các vị Sa-môn, Bà-la-môn, những vị sống đời phạm hạnh, những vị có giới hạnh, đa văn; vì thế hôm nay thiếp không thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2239.
2239.
2239.
‘‘Ime te jambukā rukkhā, vedisā sinduvārakā;
Vividhāni rukkhajātāni, te kumārā na dissare.
Here are your rose-apple trees, your Vedisa and Sinduvāra trees; various kinds of trees, but those princes are not seen.
Đây là những cây trâm, cây vedisā, cây sinduvārakā; có nhiều loại cây khác nhau, nhưng các con không được nhìn thấy.
2240.
2240.
2240.
‘‘Assatthā panasā ceme, nigrodhā ca kapitthanā;
Vividhāni phalajātāni, te kumārā na dissare.
Here are the sacred fig trees, the jackfruit trees, the banyans, and the wood-apple trees; various kinds of fruits, but those princes are not seen.
Đây là những cây bồ đề, cây mít, cây đa và cây thị; có nhiều loại trái cây khác nhau, nhưng các con không được nhìn thấy.
2241.
2241.
2241.
‘‘Ime tiṭṭhanti ārāmā, ayaṃ sītūdakā nadī;
Yatthassu pubbe kīḷiṃsu, te kumārā na dissare.
Here stand the groves, here is the cool-watered river, where they used to play before; but those princes are not seen.
Đây là những khu vườn, đây là dòng sông nước mát; nơi mà trước đây chúng đã vui đùa, nhưng các con không được nhìn thấy.
2242.
2242.
2242.
‘‘Vividhāni pupphajātāni, asmiṃ uparipabbate;
Yānassu pubbe dhāriṃsu, te kumārā na dissare.
There are various kinds of flowers on this mountain slope, which they used to wear before; but those princes are not seen.
Có nhiều loại hoa khác nhau, ở trên ngọn núi này; những thứ mà trước đây chúng đã cài lên, nhưng các con không được nhìn thấy.
2243.
2243.
2243.
‘‘Vividhāni phalajātāni, asmiṃ uparipabbate;
Yānassu pubbe bhuñjiṃsu, te kumārā na dissare.
There are various kinds of fruits on this mountain slope, which they used to eat before; but those princes are not seen.
Có nhiều loại trái cây khác nhau, ở trên ngọn núi này; những thứ mà trước đây chúng đã ăn, nhưng các con không được nhìn thấy.
2244.
2244.
2244.
‘‘Ime te hatthikā assā, balibaddā ca te ime;
Yehissu pubbe kīḷiṃsu, te kumārā na dissare’’.
Here are your little elephants and horses, and here are your oxen, with which they used to play; but those princes are not seen.
Đây là những con voi, con ngựa, và đây là những con bò đực (đồ chơi); những thứ mà trước đây chúng đã vui đùa cùng, nhưng các con không được nhìn thấy.
2245.
2245.
2245.
‘‘Ime sāmā sasolūkā, bahukā kadalīmigā;
Yehissu pubbe kīḷiṃsu, te kumārā na dissare.
Here are the deer, the hares, and the owls, and many antelope with which they used to play; but those princes are not seen.
Đây là những con nai sẫm màu, những con thỏ, và nhiều con hươu chuối; những con vật mà trước đây chúng đã vui đùa cùng, nhưng các con không được nhìn thấy.
2246.
2246.
2246.
‘‘Ime haṃsā ca koñcā ca, mayūrā citrapekhuṇā;
Yehissu pubbe kīḷiṃsu, te kumārā na dissare’’.
Here are the swans and the cranes, and the peacocks with their colorful tails, with which they used to play; but those princes are not seen.
Đây là những con ngỗng, những con diệc, và những con công có bộ lông sặc sỡ; những con vật mà trước đây chúng đã vui đùa cùng, nhưng các con không được nhìn thấy.
2247.
2247.
2247.
‘‘Imā tā vanagumbāyo, pupphitā sabbakālikā;
Yatthassu pubbe kīḷiṃsu, te kumārā na dissare.
Here are those forest thickets, always in bloom; those princes who used to play here are not to be seen.
Đây là những lùm cây trong rừng, nở hoa quanh năm; nơi mà trước đây chúng đã vui đùa, nhưng các con không được nhìn thấy.
2248.
2248.
2248.
‘‘Imā tā pokkharaṇī rammā, cakkavākūpakūjitā;
Mandālakehi sañchannā, padumuppalakehi ca;
Yatthassu pubbe kīḷiṃsu, te kumārā na dissare.
Here are those lovely lotus ponds, resounding with the cries of ruddy geese, covered with mandālaka flowers, lotuses, and blue water lilies; those princes who used to play here are not to be seen.
Đây là những hồ sen đáng yêu, có tiếng chim cakkavāka kêu; được bao phủ bởi những cây mandālaka, và bởi hoa sen hồng và hoa súng; nơi mà trước đây chúng đã vui đùa, nhưng các con không được nhìn thấy.
2249.
2249.
2249.
‘‘Na te kaṭṭhāni bhinnāni, na te udakamāhataṃ;
Aggipi te na hāpito, kiṃ nu mandova jhāyasi.
The firewood is not split, the water is not brought, and the fire is not kindled; why do you brood as if dull-witted?
Chàng đã không chẻ củi, chàng đã không mang nước về; lửa cũng không được chàng nhóm lên, tại sao chàng ngồi trầm ngâm như người uể oải?
2250.
2250.
2250.
‘‘Piyo piyena saṅgamma, samo me † byapahaññati;
Tyajja putte na passāmi, jāliṃ kaṇhājinaṃ cubho’’.
Meeting with my beloved, my tranquility is shattered; for today I do not see my children, Jāli and Kaṇhājinā, both of them.
Khi người thân yêu gặp gỡ người thân yêu, sự bình yên của thiếp bị tan vỡ; vì hôm nay thiếp không thấy các con, cả Jāli và Kaṇhājinā.
2251.
2251.
2251.
‘‘Na kho no deva passāmi, yena te nīhatā matā;
Kākolāpi na vassanti, matā me nūna dārakā.
O king, I do not see by whom they were carried off or killed; even the crows do not cry; surely my children are dead.
Tâu đức vua, thiếp thật không thấy dấu vết nào cho thấy chúng bị mang đi hay đã chết; ngay cả quạ cũng không kêu, chắc chắn các con của thiếp đã chết.
2252.
2252.
2252.
‘‘Na kho no deva passāmi, yena te nīhatā matā;
Sakuṇāpi na vassanti, matā me nūna dārakā’’.
O king, I do not see by whom they were carried off or killed; even the birds do not cry; surely my children are dead.
Tâu đức vua, thiếp thật không thấy dấu vết nào cho thấy chúng bị mang đi hay đã chết; ngay cả chim chóc cũng không hót, chắc chắn các con của thiếp đã chết.
2253.
2253.
2253.
‘‘Sā tattha paridevitvā, pabbatāni vanāni ca;
Punadevassamaṃ gantvā, rodi sāmikasantike †.
Having lamented there among the mountains and forests, she returned again to the hermitage and wept in her husband's presence.
Nàng đã than khóc ở nơi ấy, khắp các ngọn núi và các khu rừng; rồi lại một lần nữa đi đến am thất, nàng đã khóc bên cạnh người chồng.
2254.
2254.
2254.
‘‘‘Na kho no deva passāmi, yena te nīhatā matā;
Kākolāpi na vassanti, matā me nūna dārakā.
'O king, I do not see by whom they were carried off or killed; even the crows do not cry; surely my children are dead.'
“Thưa Thiên tử, thiếp thật không thấy ai đã mang chúng đi hay giết chúng. Ngay cả quạ cũng không kêu, chắc chắn các con của thiếp đã chết rồi.”
2255.
2255.
2255.
‘‘‘Na kho no deva passāmi, yena te nīhatā matā;
Sakuṇāpi na vassanti, matā me nūna dārakā.
'O king, I do not see by whom they were carried off or killed; even the birds do not cry; surely my children are dead.'
“Thưa Thiên tử, thiếp thật không thấy ai đã mang chúng đi hay giết chúng. Ngay cả chim chóc cũng không hót, chắc chắn các con của thiếp đã chết rồi.”
2256.
2256.
2256.
‘‘‘Na kho no deva passāmi, yena te nīhatā matā;
Vicaranti rukkhamūlesu, pabbatesu guhāsu ca’.
'O king, I do not see by whom they were carried off or killed; they may be wandering at the roots of trees, on mountains, and in caves.'
“Thưa Thiên tử, thiếp thật không thấy ai đã mang chúng đi hay giết chúng. Chúng đi lang thang ở gốc cây, trên núi, và trong hang động.”
2257.
2257.
2257.
‘‘Iti maddī varārohā, rājaputtī yasassinī;
Bāhā paggayha kanditvā, tattheva patitā chamā’’.
Thus Maddī, the lovely and renowned princess, stretching out her arms, cried aloud and collapsed right there on the ground.
“Như vậy, nàng Maddī, người có vóc dáng tuyệt vời, vị công chúa lừng danh, đã giơ hai tay lên và than khóc, rồi ngã xuống đất ngay tại đó.”
2258.
2258.
2258.
‘‘Tamajjhapattaṃ rājaputtiṃ, udakenābhisiñcatha;
Assatthaṃ naṃ viditvāna, atha naṃ etadabravi’’.
He sprinkled water on the princess who had collapsed. Then, knowing she had recovered, he spoke this to her.
“Vị công chúa đã ngất đi, (chàng) đã rảy nước lên nàng. Khi biết nàng đã tỉnh lại, bèn nói với nàng lời này.”
2259.
2259.
2259.
‘‘Ādiyeneva te maddi, dukkhaṃ nakkhātumicchisaṃ;
Daliddo yācako vuḍḍho, brāhmaṇo gharamāgato.
'Maddī, from the very beginning I did not wish to tell you this sorrow. A poor, old, begging brahmin came to our dwelling.
“Này Maddī, ngay từ đầu, chàng đã không muốn nói ra điều đau khổ này. Một người Bà la môn già, nghèo khó, một người ăn xin, đã đến nhà chúng ta.”
2260.
2260.
2260.
‘‘Tassa dinnā mayā puttā, maddi mā bhāyi assasa;
Maṃ passa maddi mā putte, mā bāḷhaṃ paridevasi;
'To him I gave our children, Maddī—do not fear, take heart! Look at me, Maddī, not at the children; do not grieve so deeply.
“Chàng đã cho các con của chúng ta cho vị ấy. Này Maddī, đừng sợ hãi, hãy bình tâm lại. Này Maddī, hãy nhìn chàng, đừng (nhìn) các con, đừng than khóc quá nhiều;”
Lacchāma putte jīvantā, arogā ca bhavāmase.
We shall regain our children alive, and may we ourselves be free from disease.
“Nếu chúng ta còn sống và khỏe mạnh, chúng ta sẽ có lại con cái.”
2261.
2261.
2261.
‘‘Putte pasuñca dhaññañca, yañca aññaṃ ghare dhanaṃ;
Dajjā sappuriso dānaṃ, disvā yācakamāgataṃ;
Anumodāhi me maddi, puttake dānamuttamaṃ’’.
Children, cattle, grain, and whatever other wealth is in the house—a virtuous person should give a gift upon seeing a beggar arrive. Rejoice with me, Maddī, in this supreme gift of our children.'
“Con cái, gia súc, và ngũ cốc, và bất cứ tài sản nào khác trong nhà, một người tốt sẽ cho đi như một món quà khi thấy một người ăn xin đến. Này Maddī, hãy hoan hỷ với chàng về sự bố thí cao thượng là các con.”
2262.
2262.
2262.
‘‘Anumodāmi te deva, puttake dānamuttamaṃ;
Datvā cittaṃ pasādehi, bhiyyo dānaṃ dado bhava.
'I rejoice with you, O lord, in the supreme gift of the children. Having given, gladden your heart, and be one who gives even more.'
“Thưa Thiên tử, thiếp xin hoan hỷ với chàng về sự bố thí cao thượng là các con. Sau khi đã cho, hãy làm cho tâm ý trong sạch. Hãy tiếp tục bố thí nhiều hơn nữa.”
2263.
2263.
2263.
‘‘Yo tvaṃ maccherabhūtesu, manussesu janādhipa;
Brāhmaṇassa adā dānaṃ, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano’’.
'You, O lord of men, enhancer of the Sivi kingdom, have given a gift to a brahmin among a people given to stinginess.'
“Hỡi vị vua của dân chúng, hỡi người làm cho vương quốc Sivi thịnh vượng, chàng là người đã bố thí cho người Bà la môn, giữa những con người đầy keo kiệt.”
2264.
2264.
2264.
‘‘Ninnāditā te pathavī, saddo te tidivaṅgato;
Samantā vijjutā āguṃ, girīnaṃva patissutā.
The earth resounded because of you; the sound of it has reached the triple heaven. Lightning flashed all around, like echoes from the mountains.
“Mặt đất đã vang rền vì chàng, tiếng tăm của chàng đã vang đến cõi trời. Sấm chớp lóe lên khắp nơi, như tiếng vang dội của những ngọn núi.”
2265.
2265.
2265.
‘‘Tassa te anumodanti, ubho nāradapabbatā;
Indo ca brahmā pajāpati, somo yamo vessavaṇo;
Sabbe devānumodanti, tāvatiṃsā saindakā.
Both the Nārada and Pabbata mountains rejoice in you; Indra and Brahmā, Pajāpati, Soma, Yama, and Vessavaṇa; all the gods of Tāvatiṃsa, with Indra, rejoice.
“Cả hai ngọn núi Nārada và Pabbata đều hoan hỷ với việc làm của chàng. Inda, Brahmā, Pajāpati, Soma, Yama, Vessavaṇa, tất cả các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba cùng với vua Inda đều hoan hỷ.”
2266.
2266.
2266.
‘‘Iti maddī varārohā, rājaputtī yasassinī;
Vessantarassa anumodi, puttake dānamuttamaṃ’’.
Thus Maddī, the lovely and renowned princess, rejoiced with Vessantara in the supreme gift of their children.
“Như vậy, nàng Maddī, người có vóc dáng tuyệt vời, vị công chúa lừng danh, đã hoan hỷ với Vessantara về sự bố thí cao thượng là các con.”
Maddīpabbaṃ nāma.
The Chapter on Maddī.
Phẩm Maddī.
Sakkapabbaṃ
The Chapter on Sakka
Phẩm Sakka
2267.
2267.
2267.
Tato ratyā vivasāne, sūriyassuggamanaṃ pati;
Sakko brāhmaṇavaṇṇena, pāto tesaṃ adissatha.
Then, at the end of the night, toward the rising of the sun, Sakka, in the guise of a brahmin, appeared to them at dawn.
Sau đó, khi đêm tàn, lúc mặt trời mọc, Sakka trong hình dạng một người Bà la môn đã hiện ra trước mặt họ vào buổi sáng.
2268.
2268.
2268.
‘‘Kacci nu bhoto kusalaṃ, kacci bhoto anāmayaṃ;
Kacci uñchena yāpetha, kacci mūlaphalā bahū.
'Is it well with you, sir? Are you free from illness? Do you subsist on gleanings? Are roots and fruits plentiful?
“Mong rằng ngài được an lành, mong rằng ngài được vô bệnh? Mong rằng ngài sống được bằng việc lượm lặt, mong rằng có nhiều rễ và trái cây?”
2269.
2269.
2269.
‘‘Kacci ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā;
Vane vāḷamigākiṇṇe, kacci hiṃsā na vijjati’’.
'Are gadflies and mosquitoes few, and creeping things as well? In this forest teeming with wild beasts, is there no harm?'
“Mong rằng ruồi và muỗi, cùng các loài bò sát thì ít? Trong khu rừng đầy dã thú, mong rằng không có sự nguy hại nào?”
2270.
2270.
2270.
‘‘Kusalañceva no brahme, atho brahme anāmayaṃ;
Atho uñchena yāpema, atho mūlaphalā bahū.
'It is well with us, brahmin, and we are also free from illness, brahmin. We subsist on gleanings, and roots and fruits are plentiful.
“Thưa Bà la môn, chúng tôi được an lành, và thưa Bà la môn, chúng tôi cũng được vô bệnh. Chúng tôi cũng sống được bằng việc lượm lặt, và cũng có nhiều rễ và trái cây.”
2271.
2271.
2271.
‘‘Atho ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā;
Vane vāḷamigākiṇṇe, hiṃsā mayhaṃ na vijjati.
'Also, there are gadflies and mosquitoes, and few creeping things; in this forest teeming with wild beasts, no harm comes to me.
“Cũng vậy, ruồi và muỗi, cùng các loài bò sát thì ít. Trong khu rừng đầy dã thú, không có sự nguy hại nào đối với tôi.”
2272.
2272.
2272.
‘‘Satta no māse vasataṃ, araññe jīvasokinaṃ;
Idaṃ dutiyaṃ passāma, brāhmaṇaṃ devavaṇṇinaṃ;
Ādāya veḷuvaṃ daṇḍaṃ, dhārentaṃ ajinakkhipaṃ.
'For seven months we have lived in the wilderness, grieving for our living kin. This is the second time we have seen a brahmin with the appearance of a god, carrying a bamboo staff and wearing a deerskin cloak.
“Chúng tôi đã sống bảy tháng trong rừng, sống trong sầu muộn. Đây là lần thứ hai chúng tôi thấy một vị Bà la môn có dung sắc như chư thiên, tay cầm cây gậy tre, mang theo da thú và túi.”
2273.
2273.
2273.
‘‘Svāgataṃ te mahābrahme, atho me adurāgataṃ;
Anto pavisa bhaddante, pāde pakkhālayassu te.
'Welcome to you, great brahmin, and your coming is not unwelcome. Enter within, good sir, and wash your feet.
“Xin chào mừng ngài, hỡi Đại Bà la môn, thật may mắn khi ngài đã đến. Xin mời ngài vào trong, thưa hiền giả, hãy để tôi rửa chân cho ngài.”
2274.
2274.
2274.
‘‘Tindukāni piyālāni, madhuke kāsumāriyo;
Phalāni khuddakappāni, bhuñja brahme varaṃ varaṃ.
'Here are tinduka, piyāla, madhuka, and kāsumārī fruits; small forest fruits—eat the very best, brahmin.
“Trái tinduka, piyāla, madhuka, và kāsumāri, những loại trái cây nhỏ, thưa Bà la môn, xin hãy dùng những thứ tốt nhất.”
2275.
2275.
2275.
‘‘Idampi pānīyaṃ sītaṃ, ābhataṃ girigabbharā;
Tato piva mahābrahme, sace tvaṃ abhikaṅkhasi.
'Here also is cool water, brought from a mountain cavern; drink of it, great brahmin, if you so desire.
“Đây là nước uống mát lạnh, được mang về từ khe núi. Xin mời ngài uống, hỡi Đại Bà la môn, nếu ngài muốn.”
2276.
2276.
2276.
‘‘Atha tvaṃ kena vaṇṇena, kena vā pana hetunā;
Anuppatto brahāraññaṃ, taṃ me akkhāhi pucchito’’.
'Now, for what reason, or on what account, have you come to this great forest? Tell me, as I have asked.'
“Vậy, vì lý do gì, hay vì nguyên nhân nào, mà ngài đã đến khu rừng lớn này? Khi được hỏi, xin hãy cho tôi biết điều đó.”
2277.
2277.
2277.
‘‘Yathā vārivaho pūro, sabbakālaṃ na khīyati;
Evaṃ taṃ yācitāgacchiṃ, bhariyaṃ me dehi yācito’’.
'Just as a full flood of water never runs dry at any time, so I have come to you to ask: give me your wife, I beg of you.'
“Như dòng sông đầy nước không bao giờ cạn kiệt, cũng vậy, tôi đến để xin ngài. Khi được yêu cầu, xin hãy cho tôi người vợ của ngài.”
2278.
2278.
2278.
‘‘Dadāmi na vikampāmi, yaṃ maṃ yācasi brāhmaṇa;
Santaṃ nappaṭiguyhāmi, dāne me ramatī mano’’.
'I give and do not waver in what you ask of me, O brahmin. I do not hide what I have; my mind delights in giving.'
“Tôi cho, không do dự, điều mà ngài xin tôi, hỡi Bà la môn. Tôi không che giấu những gì mình có, tâm tôi vui thích trong sự bố thí.”
2279.
2279.
2279.
‘‘Maddiṃ hatthe gahetvāna, udakassa kamaṇḍaluṃ;
Brāhmaṇassa adā dānaṃ, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano.
Taking Maddī by the hand, and a water pot, the enhancer of the Sivi kingdom gave the gift to the brahmin.
Người làm cho vương quốc Sivi thịnh vượng, đã nắm tay nàng Maddī, và dùng nước từ bình để bố thí nàng cho người Bà la môn.
2280.
2280.
2280.
‘‘Tadāsi yaṃ bhiṃsanakaṃ, tadāsi lomahaṃsanaṃ;
Maddiṃ paricajantassa, medanī sampakampatha.
Then there was a dreadful thing, then there was a hair-raising thing: as he was giving Maddī away, the earth quaked.
“Khi ấy, thật là một điều kinh khủng, khi ấy, thật là một điều dựng tóc gáy. Khi ngài từ bỏ nàng Maddī, mặt đất đã rung chuyển.”
2281.
2281.
2281.
‘‘Neva sā maddī bhākuṭi, na sandhīyati na rodati;
Pekkhatevassa tuṇhī sā, eso jānāti yaṃ varaṃ’’.
But that Maddī neither frowned, nor grew angry, nor wept. Silently she gazed at him, thinking: 'He knows what is best.'
“Nàng Maddī ấy không cau mày, không buồn rầu, không khóc lóc; nàng ấy chỉ im lặng nhìn xem, (nghĩ rằng): ‘Vị ấy biết điều gì là tốt đẹp nhất’.”
2282.
2282.
2282.
‘‘Komārī yassāhaṃ bhariyā, sāmiko mama issaro;
Yassicche tassa maṃ dajjā, vikkiṇeyya haneyya vā’’.
'I am his wife from my youth; my husband is my master. He may give me to whomever he wishes, or sell me, or kill me.'
“Thiếp là vợ của chàng từ thuở thanh xuân, chồng là chủ của thiếp; chàng muốn cho thiếp đến người nào thì có thể cho, hoặc có thể bán đi, hoặc có thể giết đi.”
2283.
2283.
2283.
‘‘Tesaṃ saṅkappamaññāya, devindo etadabravi;
Sabbe jitā te paccūhā, ye dibbā ye ca mānusā.
Understanding their resolve, the king of the gods said this: 'All obstacles are overcome by you, both those that are divine and those that are human.'
Biết được ý định của các vị ấy, vị vua trời đã nói lên điều này: “Tất cả các chướng ngại, những gì thuộc về chư thiên và những gì thuộc về loài người, đã được ngài chiến thắng.
2284.
2284.
2284.
‘‘Ninnāditā te pathavī, saddo te tidivaṅgato;
Samantā vijjutā āguṃ, girīnaṃva patissutā.
The earth resounds because of you; your fame has reached the triple heaven. Lightning flashes all around, like the echoes from the mountains.
“Mặt đất đã vang rền vì ngài, tiếng tăm của ngài đã vang đến tam thiên; tia chớp đã lóe lên khắp nơi, giống như tiếng vang dội của các ngọn núi.
2285.
2285.
2285.
‘‘Tassa te anumodanti, ubho nāradapabbatā;
Indo ca brahmā pajāpati, somo yamo vessavaṇo;
Sabbe devānumodanti, dukkarañhi karoti so.
Both Nārada and Pabbata rejoice in you, as do Indra, Brahmā, Pajāpati, Soma, Yama, and Vessavaṇa; all the gods rejoice, for you have done what is hard to do.
“Cả hai ngọn núi Nārada và Pabbata đều tùy hỷ với ngài; cả Indra, Brahmā, Pajāpati, Soma, Yama, Vessavaṇa; tất cả chư thiên đều tùy hỷ, vì rằng vị ấy đã làm được việc khó làm.
2286.
2286.
2286.
‘‘Duddadaṃ dadamānānaṃ, dukkaraṃ kamma kubbataṃ;
Asanto nānukubbanti, sataṃ dhammo durannayo.
Giving what is hard to give, doing what is hard to do—the wicked do not imitate this; the Dhamma of the good is hard to follow.
“Việc cho đi vật khó cho, việc làm hành động khó làm; những người không phải bậc chân nhân không thể làm theo, Pháp của bậc chân nhân thật khó thực hành theo.
2287.
2287.
2287.
‘‘Tasmā satañca asataṃ, nānā hoti ito gati;
Asanto nirayaṃ yanti, santo saggaparāyaṇā.
Thus, the destiny of the good and the unrighteous differ; the unrighteous go to hell, the good are bound for heaven.
“Vì thế, đối với bậc chân nhân và người không phải chân nhân, cảnh giới từ đây là khác nhau; người không phải chân nhân đi đến địa ngục, bậc chân nhân có cảnh trời là nơi hướng đến.
2288.
2288.
2288.
‘‘Yametaṃ kumāre adā, bhariyaṃ adā vane vasaṃ;
Brahmayānamanokkamma, sagge te taṃ vipaccatu’’.
Since you gave away your children and wife while dwelling in the forest, not forsaking the divine vehicle, may that ripen for you in heaven.
“Việc ngài đã bố thí các con, đã bố thí vợ trong khi đang sống ở trong rừng này; sau khi đã lên cỗ xe Phạm thiên, nguyện cho việc ấy trổ quả cho ngài ở cõi trời.”
2289.
2289.
2289.
‘‘Dadāmi bhoto bhariyaṃ, maddiṃ sabbaṅgasobhanaṃ;
Tvañceva maddiyā channo, maddī ca patinā saha.
I give you Maddī, your wife, radiant in every limb. May you be united with Maddī, and Maddī with her lord.
“Ta trao lại cho ngài người vợ, nàng Maddī xinh đẹp toàn diện; chính ngài xứng hợp với Maddī, và Maddī cũng (xứng hợp) cùng với chồng.
2290.
2290.
2290.
‘‘Yathā payo ca saṅkho ca, ubho samānavaṇṇino;
Evaṃ tuvañca maddī ca, samānamanacetasā.
As milk and a conch, both of equal color, so are you and Maddī, of like mind and heart.
“Giống như sữa và vỏ ốc xà cừ, cả hai đều có màu sắc tương đồng; cũng vậy, ngài và Maddī có tâm và ý tương đồng.
2291.
2291.
2291.
‘‘Avaruddhettha araññasmiṃ, ubho sammatha assame;
Khattiyā gottasampannā, sujātā mātupettito;
Yathā puññāni kayirātha, dadantā aparāparaṃ’’.
Dwell peacefully in the hermitage, both of you, though confined here in the forest; noble khattiyas, rich in lineage, well-born from both mother and father. May you perform meritorious deeds, giving again and again.
“Bị giam hãm ở trong khu rừng này, cả hai hãy an trú ở am thất; là dòng Sát-đế-lỵ, có dòng dõi cao quý, được sanh ra tốt đẹp từ cha và mẹ; mong rằng hai vị hãy làm các phước thiện, bằng cách tiếp tục bố thí.”
2292.
2292.
2292.
‘‘Sakkohamasmi devindo, āgatosmi tavantike;
Varaṃ varassu rājisi, vare aṭṭha dadāmi te’’.
I am Sakka, lord of gods, I have come into your presence. Choose a boon, O royal sage; I give you eight boons.
“Ta là Sakka, vua của chư thiên, ta đã đến gần ngài. Hỡi vị vua ẩn sĩ, hãy chọn lựa điều mong ước, ta ban cho ngài tám điều mong ước.”
2293.
2293.
2293.
‘‘Varaṃ ce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Pitā maṃ anumodeyya, ito pattaṃ sakaṃ gharaṃ;
Āsanena nimanteyya, paṭhametaṃ varaṃ vare.
If you grant me a boon, Sakka, lord of all beings, may my father approve of me, having arrived home from here, and invite me with a seat—this is the first boon I choose.
“Hỡi Sakka, đấng tể chủ của tất cả chúng sanh, nếu ngài ban cho tôi điều mong ước; mong rằng phụ thân sẽ hoan hỷ với tôi, sau khi từ đây trở về nhà của mình; mong rằng ngài sẽ mời tôi bằng chỗ ngồi, tôi chọn điều mong ước thứ nhất này.
2294.
2294.
2294.
‘‘Purisassa vadhaṃ na roceyyaṃ, api kibbisakārakaṃ;
Vajjhaṃ vadhamhā moceyyaṃ, dutiyetaṃ varaṃ vare.
May I not approve of a man's execution, even of a wrongdoer; may I free one liable to execution—this is the second boon I choose.
“Mong rằng tôi không chấp thuận việc hành hình người nào, cho dù là người làm điều ác; mong rằng tôi sẽ giải thoát người đáng bị hành hình khỏi sự hành hình, tôi chọn điều mong ước thứ hai này.
2295.
2295.
2295.
‘‘Ye vuḍḍhā ye ca daharā, ye ca majjhimaporisā;
Mameva upajīveyyuṃ, tatiyetaṃ varaṃ vare.
May the old, the young, and those of middle age all depend upon me alone—this is the third boon I choose.
“Những người già, những người trẻ, và những người trung niên; mong rằng họ sẽ chỉ nương tựa vào tôi để sinh sống, tôi chọn điều mong ước thứ ba này.
2296.
2296.
2296.
‘‘Paradāraṃ na gaccheyyaṃ, sadārapasuto siyaṃ;
Thīnaṃ vasaṃ na gaccheyyaṃ, catutthetaṃ varaṃ vare.
May I not go to another's wife, may I be content with my own wife; may I not go under the sway of women—this is the fourth boon I choose.
“Mong rằng tôi không đi đến vợ của người khác, mong rằng tôi sẽ hài lòng với vợ của mình; mong rằng tôi không bị rơi vào quyền lực của những người nữ, tôi chọn điều mong ước thứ tư này.
2297.
2297.
2297.
‘‘Putto me sakka jāyetha, so ca dīghāyuko siyā;
Dhammena jine pathaviṃ, pañcametaṃ varaṃ vare.
May a son be born to me, Sakka, may he be long-lived, and may he righteously conquer the earth—this is the fifth boon I choose.
“Hỡi Sakka, mong rằng một người con trai sẽ được sanh ra cho tôi, và mong rằng người ấy sẽ được trường thọ; mong rằng người ấy sẽ chinh phục quả đất bằng Chánh Pháp, tôi chọn điều mong ước thứ năm này.
2298.
2298.
2298.
‘‘Tato ratyā vivasāne, sūriyassuggamanaṃ pati;
Dibbā bhakkhā pātubhaveyyuṃ, chaṭṭhametaṃ varaṃ vare.
Then, at the end of the night, as the sun rises, may divine food appear—this is the sixth boon I choose.
“Sau đó, vào lúc đêm tàn, hướng về lúc mặt trời mọc; mong rằng các vật thực của chư thiên sẽ hiện ra, tôi chọn điều mong ước thứ sáu này.
2299.
2299.
2299.
‘‘Dadato me na khīyetha, datvā nānutapeyyahaṃ;
Dadaṃ cittaṃ pasādeyyaṃ, sattametaṃ varaṃ vare.
May what I give never be exhausted, and may I never regret having given. May my mind be gladdened while giving—this is the seventh boon I choose.
“Mong rằng (của cải) của tôi không bị cạn kiệt trong khi bố thí, mong rằng tôi không hối tiếc sau khi đã cho; mong rằng tôi làm cho tâm được trong sạch trong khi đang cho, tôi chọn điều mong ước thứ bảy này.
2300.
2300.
2300.
‘‘Ito vimuccamānāhaṃ, saggagāmī visesagū;
Anivatti tato assaṃ, aṭṭhametaṃ varaṃ vare’’.
Freed from here, may I be bound for heaven, having attained distinction; from there may I be a non-returner—this is the eighth boon I choose.
“Sau khi được giải thoát từ đây, mong rằng tôi sẽ đi đến cõi trời, là người đạt được sự thù thắng; mong rằng tôi sẽ là người không còn trở lui từ nơi ấy, tôi chọn điều mong ước thứ tám này.”
2301.
2301.
2301.
‘‘Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, devindo etadabravi;
Aciraṃ vata te tato, pitā taṃ daṭṭhumessati’’.
Having heard his words, the lord of gods said this: “Soon indeed your father will come from there to see you.”
Sau khi nghe lời nói ấy của vị ấy, vị vua trời đã nói lên điều này: “Chắc chắn không bao lâu nữa, phụ thân của ngài sẽ đến để gặp ngài.”
2302.
2302.
2302.
‘‘Idaṃ vatvāna maghavā, devarājā sujampati;
Vessantare varaṃ datvā, saggakāyaṃ apakkami’’.
Having said this, Maghavā, king of the gods, Sujā’s lord, having granted Vessantara the boons, departed to the heavenly host.
Sau khi nói lên điều này, Maghavā, vị vua trời, chồng của Sujā; sau khi đã ban các điều mong ước cho Vessantara, đã đi đến cõi trời.
Sakkapabbaṃ nāma.
The Chapter on Sakka
Phẩm Sakka.
Mahārājapabbaṃ
The Chapter on the Great King
Phẩm Đại Vương
2303.
2303.
2303.
‘‘Kassetaṃ mukhamābhāti, hemaṃ vuttattamagginā;
Nikkhaṃva jātarūpassa, ukkāmukhapahaṃsitaṃ.
“Whose face shines forth like gold refined by fire, like a golden ornament of pure gold, radiant as if polished by a torch?”
“Khuôn mặt này của ai đang chiếu sáng, giống như vàng đã được tôi luyện trong lửa; giống như đồng tiền bằng vàng ròng, được đánh bóng ở miệng lò.
2304.
2304.
2304.
‘‘Ubho sadisapaccaṅgā, ubho sadisalakkhaṇā;
Jālissa sadiso eko, ekā kaṇhājinā yathā.
“Both are alike in their limbs, both alike in their marks; one is like Jāli, the other like Kaṇhājinā.”
“Cả hai có các chi phần tương tự, cả hai có các tướng mạo tương tự; một đứa giống như Jāli, một đứa giống như Kaṇhājinā.
2305.
2305.
2305.
‘‘Sīhā bilāva nikkhantā, ubho sampatirūpakā;
Jātarūpamayāyeva, ime dissanti dārakā’’.
“Like lions emerged from a cave, both perfectly alike in form; these children appear as if made of pure gold.”
“Giống như các con sư tử đã đi ra khỏi hang, cả hai đều có hình dáng cân đối; những đứa trẻ này trông giống như được làm bằng vàng ròng.”
2306.
2306.
2306.
‘‘Kuto nu bhavaṃ bhāradvāja, ime ānesi dārake;
Ajja raṭṭhaṃ anuppatto, kuhiṃ gacchasi brāhmaṇa’’ †.
“From where, good Bhāradvāja, have you brought these children? You have arrived in the kingdom today; where are you going, brahmin?”
“Thưa ngài Bhāradvāja, ngài đã đem những đứa trẻ này từ đâu đến? Hôm nay đã đến xứ sở, thưa Bà-la-môn, ngài đi đâu?”
2307.
2307.
2307.
‘‘Mayhaṃ te dārakā deva, dinnā vittena sañjaya;
Ajja pannarasā ratti, yato laddhā † me dārakā’’.
“These children are mine, O king; they were given for a price, O Sañjaya. Today is the fifteenth night since I received these children.”
“Thưa đức vua, những đứa trẻ ấy là của tôi, đã được Vessantara cho; thưa Sañjaya, hôm nay là đêm thứ mười lăm, kể từ khi những đứa trẻ đã được tôi nhận lãnh.”
2308.
2308.
2308.
‘‘Kena vā vācapeyyena, sammāñāyena saddahe;
Ko tetaṃ dānamadadā, puttake dānamuttamaṃ’’.
“By what persuasive speech, by what right method, could one believe it? Who gave you that gift, the supreme gift of children?”
“Bằng lời nói đáng tin cậy nào, bằng lý lẽ đúng đắn nào, tôi có thể tin tưởng? Ai đã cho ông vật bố thí ấy, vật bố thí cao cả là những đứa con?”
2309.
2309.
2309.
‘‘Yo yācataṃ patiṭṭhāsi, bhūtānaṃ dharaṇīriva;
So me vessantaro rājā, puttedāsi vane vasaṃ.
“He who was a support for beggars, like the earth for beings—that King Vessantara gave his children to me while dwelling in the forest.”
“Vị vua là nơi nương tựa cho những người xin, giống như đất mẹ cho các chúng sanh; vị vua Vessantara ấy của tôi, trong khi sống ở trong rừng, đã cho đi các con của mình.”
2310.
2310.
2310.
‘‘Yo yācataṃ gatī āsi, savantīnaṃva sāgaro;
So me vessantaro rājā, puttedāsi vane vasaṃ’’.
“He who was a refuge for beggars, like the ocean for flowing rivers—that King Vessantara gave his children to me while dwelling in the forest.”
“Vị vua là nơi tìm đến cho những người xin, giống như biển cả cho các dòng sông; vị vua Vessantara ấy của tôi, trong khi sống ở trong rừng, đã cho đi các con của mình.”
2311.
2311.
2311.
‘‘Dukkaṭaṃ vata bho raññā, saddhena gharamesinā;
Kathaṃ nu puttake dajjā, araññe avaruddhako.
“Truly, a wrong was done by the king, a faithful householder! How indeed could he give away his children, while banished in the forest?”
“Ôi, thật là một việc khó làm đã được thực hiện bởi đức vua, một người có đức tin, một người tại gia; làm sao ngài lại có thể cho đi các con của mình, trong khi bị biệt xứ ở trong rừng.”
2312.
2312.
2312.
‘‘Imaṃ bhonto nisāmetha, yāvantettha samāgatā;
Kathaṃ vessantaro rājā, puttedāsi vane vasaṃ.
“Listen, good sirs, all you who are gathered here: how King Vessantara gave away his children while dwelling in the forest.”
“Này các ngài, xin hãy lắng nghe điều này, tất cả những ai đã tụ hội về đây; làm thế nào mà vua Vessantara, trong khi sống ở trong rừng, đã cho đi các con của mình.”
2313.
2313.
2313.
‘‘Dāsiṃ dāsaṃ ca † so dajjā, assaṃ cassatarīrathaṃ;
Hatthiñca kuñjaraṃ dajja, kathaṃ so dajja dārake’’.
“He might give a female slave or a male slave, a horse or a mule-drawn chariot; he might give an elephant or a noble tusker, but how could he give away his children?”
“Ngài có thể cho đi nữ tỳ và nam nô, ngựa, la và xe ngựa; ngài có thể cho đi voi, voi ngà, nhưng làm sao ngài có thể cho đi các con nhỏ của mình.”
2314.
2314.
2314.
‘‘Yassa nassa † ghare dāso, asso cassatarīratho;
Hatthī ca kuñjaro nāgo, kiṃ so dajjā pitāmaha’’.
“If in his house there were no slave, horse, mule-drawn chariot, elephant, tusker, or great elephant, what could he give, O grandfather?”
“Thưa ông nội, người mà trong nhà không có nô lệ, không có ngựa, la, hay xe ngựa; không có voi, voi ngà, hay voi chúa, thì người ấy có thể cho đi vật gì?”
2315.
2315.
2315.
‘‘Dānamassa pasaṃsāma, na ca nindāma puttakā;
Kathaṃ nu hadayaṃ āsi, tumhe datvā vanibbake’’.
“We praise his giving, O children, and we do not blame you; but how was his heart when he gave you to a beggar?”
“Chúng ta tán thán sự bố thí của ngài, và chúng ta không chê trách (việc cho đi) các con; nhưng trái tim của ngài đã như thế nào, khi cho các cháu đi cho một người hành khất.”
2316.
2316.
2316.
‘‘Dukkhassa hadayaṃ āsi, atho uṇhampi passasi;
Rohinīheva tambakkhī, pitā assūni vattayi’’.
“His heart was afflicted by sorrow, and you also see the heat of it; with eyes red like the Rohiṇī stars, our father shed tears.”
“Trái tim của ngài đã đau khổ, và ngài cũng thấy được sự nóng bỏng; đôi mắt đỏ như cá Rohinī, người cha đã tuôn rơi nước mắt.”
2317.
2317.
2317.
‘‘Yaṃ taṃ kaṇhājināvoca, ayaṃ maṃ tāta brāhmaṇo;
Laṭṭhiyā paṭikoṭeti, ghare jātaṃva dāsiyaṃ.
“And this is what Kaṇhājinā said: ‘This brahmin, father, strikes me with a stick as if I were a slave born in the house.’”
“Điều mà Kaṇhājinā đã nói: ‘Thưa cha, vị Bà-la-môn này dùng gậy đánh con, như thể một nữ tỳ sinh ra trong nhà.’”
2318.
2318.
2318.
‘‘Na cāyaṃ brāhmaṇo tāta, dhammikā honti brāhmaṇā;
Yakkho brāhmaṇavaṇṇena, khādituṃ tāta neti no;
Nīyamāne pisācena, kinnu tāta udikkhasi’’.
“‘This is no true brahmin, father, for brahmins are righteous. A yakkha in a brahmin’s guise is taking us to devour, father. As we are being led away by this fiend, why do you just stand watching, father?’”
“‘Thưa cha, đây không phải là một vị Bà-la-môn, các vị Bà-la-môn thì sống đúng theo Chánh pháp. Đây là một dạ xoa trong hình dạng Bà-la-môn, thưa cha, đang dẫn chúng con đi để ăn thịt. Khi chúng con đang bị ác quỷ dẫn đi, tại sao cha chỉ đứng nhìn?’”
2319.
2319.
2319.
‘‘Rājaputtī ca vo mātā, rājaputto ca vo pitā;
Pubbe me aṅgamāruyha, kiṃ nu tiṭṭhatha ārakā’’.
“Your mother is a princess, and your father is a prince; formerly, you climbed upon my lap, why do you now stand so far away?”
“Mẹ của các cháu là một công chúa, và cha của các cháu là một hoàng tử; trước đây các cháu thường trèo lên lòng ông, tại sao bây giờ các cháu lại đứng ở xa như vậy?”
2320.
2320.
2320.
‘‘Rājaputtī ca no mātā, rājaputto ca no pitā;
Dāsā mayaṃ brāhmaṇassa, tasmā tiṭṭhāma ārakā’’.
“Our mother is a princess, and our father is a prince; but we are slaves of the brahmin, therefore we stand at a distance.”
“Mẹ của chúng con là một công chúa, và cha của chúng con là một hoàng tử; nhưng chúng con là nô lệ của vị Bà-la-môn, vì thế chúng con đứng ở xa.”
2321.
2321.
2321.
‘‘Mā sammevaṃ avacuttha, ḍayhate hadayaṃ mama;
Citakāyaṃva me kāyo, āsane na sukhaṃ labhe.
“Do not speak thus, my dears, it burns my heart; my body is like a funeral pyre, I find no comfort on my seat.”
“Các cháu yêu quý, đừng nói như vậy, trái tim của ông đang bốc cháy; thân của ông như ở trên giàn hỏa thiêu, ông không tìm thấy sự an lạc trên ngai vàng.”
2322.
2322.
2322.
‘‘Mā sammevaṃ avacuttha, bhiyyo sokaṃ janetha maṃ;
Nikkiṇissāmi dabbena, na vo dāsā bhavissatha.
“Do not speak thus, my dears; you only increase my sorrow. I will ransom you with wealth; you shall not be slaves.”
“Các cháu yêu quý, đừng nói như vậy, các cháu làm cho ông thêm sầu muộn; ông sẽ dùng của cải để chuộc các cháu, các cháu sẽ không còn là nô lệ nữa.”
2323.
2323.
2323.
‘‘Kimagghiyañhi vo tāta, brāhmaṇassa pitā adā;
Yathābhūtaṃ me akkhātha, paṭipādentu brāhmaṇaṃ’’.
“For what price, my dears, did your father give you to the brahmin? Tell me the truth, that the brahmin may be paid.”
“Hỡi các cháu, cha của các cháu đã cho các cháu cho vị Bà-la-môn với giá bao nhiêu? Hãy nói cho ông biết sự thật, để vị Bà-la-môn được trả tiền.”
2324.
2324.
2324.
‘‘Sahassagghañhi maṃ tāta, brāhmaṇassa pitā adā;
Atha † kaṇhājinaṃ kaññaṃ, hatthinā ca satena ca’’ †.
“Dear father, my father gave me to the brahmin for a thousand; and the maiden Kaṇhājinā for a hundred elephants.”
“Thưa ông, cha đã cho con cho vị Bà-la-môn với giá một ngàn (tiền vàng); còn cô gái Kaṇhājinā, (giá chuộc là) một trăm con voi.”
2325.
2325.
2325.
‘‘Uṭṭhehi katte taramāno, brāhmaṇassa avākara;
Dāsisataṃ dāsasataṃ, gavaṃ hatthusabhaṃ sataṃ;
Jātarūpasahassañca, puttānaṃ dehi nikkayaṃ.
“Rise up, Katta, and quickly provide for the brahmin: a hundred female slaves, a hundred male slaves, a hundred cows, a hundred elephants, a hundred bulls, and a thousand pieces of gold; give this as the ransom for the children.”
“Này người hầu cận, hãy đứng dậy, nhanh lên, hãy trả cho vị Bà-la-môn: một trăm nữ tỳ, một trăm nam nô, một trăm bò, một trăm voi và bò đực; và một ngàn (lượng) vàng, hãy trao làm giá chuộc cho các cháu.”
2326.
2326.
2326.
‘‘Tato kattā taramāno, brāhmaṇassa avākari;
Dāsisataṃ dāsasataṃ, gavaṃ hatthusabhaṃ sataṃ;
Jātarūpasahassañca, puttānaṃdāsi nikkayaṃ’’.
“Then Katta, acting swiftly, provided for the brahmin: a hundred female slaves, a hundred male slaves, a hundred cows, a hundred elephants, a hundred bulls, and a thousand pieces of gold; this he gave as the ransom for the children.”
“Khi ấy, người hầu cận vội vã trả cho vị Bà-la-môn: một trăm nữ tỳ, một trăm nam nô, một trăm bò, một trăm voi và bò đực; và một ngàn (lượng) vàng, đã trao làm giá chuộc cho các cháu.”
2327.
2327.
2327.
‘‘Nikkiṇitvā nahāpetvā, bhojayitvāna dārake;
Samalaṅkaritvā bhaṇḍena, ucchaṅge upavesayuṃ.
Having ransomed the children, they had them bathed and fed, adorned them with ornaments, and seated them upon their laps.
“Sau khi chuộc lại, tắm rửa, và cho các cháu nhỏ ăn; sau khi trang điểm kỹ lưỡng bằng các vật trang sức, họ đã đặt các cháu ngồi vào lòng.”
2328.
2328.
2328.
‘‘Sīsaṃ nhāte sucivatthe, sabbābharaṇabhūsite;
Rājā aṅke karitvāna, ayyako paripucchatha.
With their heads washed, dressed in clean clothes, and adorned with all ornaments, the grandfather, the king, having placed them on his lap, questioned them.
“Sau khi được gội đầu, mặc y phục sạch sẽ, được trang điểm với tất cả đồ trang sức; đức vua, người ông, sau khi đặt các cháu vào lòng, đã hỏi han.”
2329.
2329.
2329.
‘‘Kuṇḍale ghusite māle, sabbābharaṇabhūsite;
Rājā aṅke karitvāna, idaṃ vacanamabravi.
With tinkling earrings and a garland, adorned with all ornaments, the king, placing the child on his lap, spoke these words.
“Với bông tai, dầu thơm, và vòng hoa, được trang điểm với tất cả đồ trang sức; đức vua sau khi đặt các cháu vào lòng, đã nói lên những lời này.”
2330.
2330.
2330.
‘‘Kacci ubho arogā te, jāli mātāpitā tava;
Kacci uñchena yāpetha, kacci mūlaphalā bahū.
“Are your parents both well, Jāli? Do you live by gleaning? Are roots and fruits plentiful?”
“Này Jāli, cha và mẹ của cháu, cả hai đều được khỏe mạnh chứ? Họ có sống bằng cách lượm lặt không? Rễ và quả cây có nhiều không?”
2331.
2331.
2331.
‘‘Kacci ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā;
Vane vāḷamigākiṇṇe, kacci hiṃsā na vijjati’’.
“Are gadflies and mosquitoes few, and reptiles also few? In the forest teeming with beasts of prey, is there no harm?”
“Ruồi trâu, muỗi, và các loài bò sát có ít không? Ở trong rừng đầy dẫy thú dữ, không có sự nguy hiểm nào chứ?”
2332.
2332.
2332.
‘‘Atho ubho arogā me, deva mātāpitā mama;
Atho uñchena yāpenti, atho mūlaphalā bahū.
“Indeed, O king, both my parents are well; indeed, they live by gleaning; indeed, roots and fruits are plentiful.”
“Thưa đức vua, cả cha và mẹ của con đều được khỏe mạnh; họ cũng sống bằng cách lượm lặt, và rễ và quả cây cũng có rất nhiều.”
2333.
2333.
2333.
‘‘Atho ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā;
Vane vāḷamigākiṇṇe, hiṃsā nesaṃ na vijjati.
“Indeed, gadflies and mosquitoes are few, and reptiles also few; in the forest teeming with beasts of prey, there is no harm for them.”
“Ruồi trâu, muỗi, và các loài bò sát cũng có rất ít; ở trong rừng đầy dẫy thú dữ, không có sự nguy hiểm nào đối với họ.”
2334.
2334.
2334.
‘‘Khaṇantālukalambāni, bilāni takkalāni ca;
Kolaṃ bhallātakaṃ bellaṃ, sā no āhatva posati.
“Digging up yams, bulbs, lotus roots, and takkala fruits, and bringing kola, bhallātaka, and bella fruits, she nourishes us.”
Nàng đào các loại củ khoai, củ mài, và các loại trái takkalā; hái trái táo ta, trái bhallātaka, trái quách, rồi mang về nuôi dưỡng chúng tôi.
2335.
2335.
2335.
‘‘Yañceva sā āharati, vanamūlaphalahāriyā;
Taṃ no sabbe samāgantvā, rattiṃ bhuñjāma no divā.
“Whatever she brings, a gatherer of forest roots and fruits, we all gather together to eat it at night, not by day.”
Và bất cứ thứ gì mẹ mang về, là người đi hái lượm rễ cây và trái cây trong rừng, tất cả chúng con tụ họp lại, ăn vào ban đêm chứ không ăn vào ban ngày.
2336.
2336.
2336.
‘‘Ammāva no kisā paṇḍu, āharantī dumapphalaṃ;
Vātātapena sukhumālī, padumaṃ hatthagatāmiva.
“Our mother, bringing fruit from the trees, is thin and pale. Delicate, she is affected by wind and sun, like a lotus held in the hand.”
Mẹ của chúng con, gầy gò và xanh xao, trong khi đi hái trái cây; người vốn mỏng manh, đã bị héo hắt vì gió và nắng, giống như đóa sen cầm trong tay.
2337.
2337.
2337.
‘‘Ammāya patanūkesā, vicarantyā brahāvane;
Vane vāḷamigākiṇṇe, khaggadīpinisevite.
“My mother's hair has grown thin as she wanders in the great forest, a wilderness teeming with beasts of prey, frequented by rhinoceroses and leopards.”
Tóc của mẹ đã trở nên thưa thớt, khi mẹ đi lang thang trong khu rừng lớn; khu rừng đầy dẫy những thú dữ, là nơi lui tới của tê giác và báo gấm.
2338.
2338.
2338.
‘‘Kesesu jaṭaṃ bandhitvā, kacche jallamadhārayi;
Cammavāsī chamā seti, jātavedaṃ namassati.
“Having tied her hair in a matted lock, wearing a skin and a garment of leaves, she sleeps on the ground and worships the sacred fire.”
Mẹ bện tóc thành búi, mình mang đầy bụi bẩn; mẹ mặc da thú, ngủ trên đất, và thờ phụng thần lửa.
2339.
2339.
2339.
‘‘Puttā piyā manussānaṃ, lokasmiṃ udapajjisuṃ;
Na hi nūnamhākaṃ ayyassa, putte sneho ajāyatha’’.
“Beloved children are born to people in this world; surely, no affection for his children arose in our lord.”
‘Các con trai là điều thân ái của loài người, đã được sanh ra ở trong thế gian. Chắc chắn rằng đối với con trai, lòng thương mến đã không sanh khởi cho đức vua của chúng ta’.
2340.
2340.
2340.
‘‘Dukkaṭañca hi no putta, bhūnahaccaṃ kataṃ mayā;
Yohaṃ sivīnaṃ vacanā, pabbājesimadūsakaṃ.
“Indeed, my son, I have done wrong; a deed that destroys merit has been done by me, in that I, heeding the words of the Sivi people, banished the faultless one.”
‘Này con trai, quả thật việc làm lầm lỗi, việc sát hại sinh linh đã được ta thực hiện, bởi vì ta đã trục xuất người vô tội do lời nói của dân chúng Sivi’.
2341.
2341.
2341.
‘‘Yaṃ me kiñci idha atthi, dhanaṃ dhaññañca vijjati;
Etu vessantaro rājā, siviraṭṭhe pasāsatu’’.
“Whatever wealth and grain I possess here, let King Vessantara return and govern the kingdom of the Sivis.”
‘Bất cứ tài sản và lúa gạo nào của ta có được ở đây, vua Vessantara hãy đến, hãy cai trị vương quốc Sivi’.
2342.
2342.
2342.
‘‘Na deva mayhaṃ vacanā, ehiti sivisuttamo;
Sayameva devo gantvā, siñca bhogehi atrajaṃ’’.
“Not by my words, O king, will the best of the Sivis return. The king himself must go and anoint his own son with riches.”
‘Tâu đức vua, bậc tối thượng của dòng Sivi sẽ không đến vì lời nói của con. Chính đức vua hãy đi đến, hãy làm lễ quán đảnh cho con trai của ngài với các tài sản’.
2343.
2343.
2343.
‘‘Tato senāpatiṃ rājā, sajjayo ajjhabhāsatha;
Hatthī assā rathā pattī, senā sannāhayantu naṃ;
Negamā ca maṃ anventu, brāhmaṇā ca purohitā.
Then King Sañjaya addressed his general: ‘Let the army—elephants, horses, chariots, and infantry—be made ready; let the townsfolk follow me, and the brahmins and royal chaplains too.’
‘Khi ấy, đức vua đã nói với vị tướng quân Sajjaya: ‘Voi, ngựa, xe, và bộ binh, quân đội hãy được chuẩn bị. Các thị dân và các vị Bà-la-môn tế tự hãy đi theo ta’.
2344.
2344.
2344.
‘‘Tato saṭṭhisahassāni, yodhino † cārudassanā;
Khippamāyantu sannaddhā, nānāvaṇṇehilaṅkatā.
“Let sixty thousand warriors, of lovely appearance, come quickly, fully armed and adorned in various colors.”
‘Khi ấy, sáu mươi ngàn chiến sĩ có ngoại hình xinh đẹp, được trang hoàng với nhiều màu sắc khác nhau, hãy nhanh chóng đến trong tư thế được vũ trang’.
2345.
2345.
2345.
‘‘Nīlavatthadharā neke †, pītāneke nivāsitā;
Aññe lohitauṇhīsā, suddhāneke nivāsitā;
Khippamāyantu sannaddhā, nānāvaṇṇehilaṅkatā.
“Let some come wearing blue garments, some clad in yellow, others with red turbans, and some dressed in white; let them come quickly, fully armed and adorned in various colors.”
‘Một số người mặc y phục màu xanh, một số người mặc y phục màu vàng, những người khác đội khăn màu đỏ, một số người mặc y phục màu trắng. Được trang hoàng với nhiều màu sắc khác nhau, họ hãy nhanh chóng đến trong tư thế được vũ trang’.
2346.
2346.
2346.
‘‘Himavā yathā gandhadharo, pabbato gandhamādano;
Nānārukkhehi sañchanno, mahābhūtagaṇālayo.
“Like Himavā, the scent-bearing mountain, Gandhamādana, covered with various trees, the abode for hosts of great beings;”
‘Giống như núi Hy-mã-lạp, nơi mang hương thơm, giống như núi Gandhamādana, được bao phủ bởi nhiều loại cây khác nhau, là nơi ở của các loài chúng sanh to lớn’.
2347.
2347.
2347.
‘‘Osadhehi ca dibbehi, disā bhāti pavāti ca;
Khippamāyantu sannaddhā, disā bhantu pavantu ca.
“And with its divine herbs, the quarters shine and a fragrance blows forth. Let them come quickly, fully armed; let the quarters shine and a fragrance blow forth.”
‘Và với các loại dược thảo thiêng liêng, các phương trời tỏa sáng và tỏa hương. Họ hãy nhanh chóng đến trong tư thế được vũ trang, các phương trời hãy tỏa sáng và hãy tỏa hương’.
2348.
2348.
2348.
‘‘Tato nāgasahassāni, yojayantu catuddasa;
Suvaṇṇakacchā mātaṅgā, hemakappanavāsasā.
“Then let them yoke fourteen thousand elephants, great tuskers with golden girths, with golden saddles and coverings.”
‘Khi ấy, mười bốn ngàn con voi, những con voi có đai bụng bằng vàng, có đồ trang sức và y phục bằng vàng, hãy được thắng yên cương’.
2349.
2349.
2349.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, tomaraṅkusapāṇibhi;
Khippamāyantu sannaddhā, hatthikkhandhehi dassitā.
“Mounted by chieftains with lances and goads in hand, let them come quickly, fully armed, displayed upon the backs of elephants.”
‘Được cỡi bởi những người huấn luyện, tay cầm lao và móc sắt, được nhìn thấy trên lưng của những con voi, họ hãy nhanh chóng đến trong tư thế được vũ trang’.
2350.
2350.
2350.
‘‘Tato assasahassāni, yojayantu catuddasa;
Ājānīyāva jātiyā, sindhavā sīghavāhanā.
“Then let fourteen thousand horses be yoked, thoroughbreds by birth, swift steeds from Sindh.”
‘Khi ấy, mười bốn ngàn con ngựa, thuộc dòng dõi thuần chủng, ngựa xứ Sindh, là những vật chuyên chở nhanh chóng, hãy được thắng yên cương’.
2351.
2351.
2351.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, illiyācāpadhāribhi;
Khippamāyantu sannaddhā, assapiṭṭhe alaṅkatā.
“Mounted by chieftains bearing swords and bows, let them come quickly, fully armed and adorned on horseback.”
‘Được cỡi bởi những người huấn luyện, tay mang gươm và cung, được trang hoàng trên lưng ngựa, họ hãy nhanh chóng đến trong tư thế được vũ trang’.
2352.
2352.
2352.
‘‘Tato rathasahassāni, yojayantu catuddasa;
Ayosukatanemiyo, suvaṇṇacitapakkhare.
“Then let fourteen thousand chariots be yoked, with well-made iron rims and side-panels decorated with gold.”
‘Khi ấy, mười bốn ngàn cỗ xe, có vành bánh xe được làm kỹ lưỡng bằng sắt, có các bộ phận phụ được trang trí bằng vàng, hãy được chuẩn bị’.
2353.
2353.
2353.
‘‘Āropentu dhaje tattha, cammāni kavacāni ca;
Vippālentu † ca cāpāni, daḷhadhammā pahārino;
Khippamāyantu sannaddhā, rathesu rathajīvino’’.
“Let them raise their banners, leather shields, and armor; let the strong-bowed strikers string their bows. Let them come quickly, fully armed in their chariots, those who live by the chariot.”
‘Họ hãy dựng lên các lá cờ ở nơi ấy, cùng với các tấm khiên và áo giáp. Và những người tấn công có cung tên vững chắc hãy giương các cây cung. Những người sống bằng nghề xe hãy nhanh chóng đến trong tư thế được vũ trang ở trên các cỗ xe’.
2354.
2354.
2354.
‘‘Lājāolopiyā † pupphā, mālāgandhavilepanā;
Agghiyāni ca tiṭṭhantu, yena maggena ehiti.
“Let roasted grain, flowers, garlands, perfumes, and ointments, and other valuable offerings be placed along the path by which he will come.”
‘Cốm, bánh kẹo, hoa, vòng hoa, hương thơm, và vật xoa bóp, và các vật phẩm cúng dường hãy được đặt sẵn ở trên con đường mà vị ấy sẽ đi đến’.
2355.
2355.
2355.
‘‘Gāme gāme sataṃ kumbhā, merayassa surāya ca;
Maggamhi patitiṭṭhantu †, yena maggena ehiti.
“In every village, let a hundred pots of liquor and spirits be placed on the road by which he will come.”
‘Từ làng này đến làng kia, một trăm bình rượu nồng và rượu mạnh hãy được đặt sẵn ở trên con đường mà vị ấy sẽ đi đến’.
2356.
2356.
2356.
‘‘Maṃsā pūvā saṅkuliyo, kummāsā macchasaṃyutā;
Maggamhi patitiṭṭhantu, yena maggena ehiti.
“Let meat, cakes, sweetmeats, and gruel mixed with fish be placed on the road by which he will come.”
‘Thịt, các loại bánh ngọt, bánh bột chiên, cháo lúa mạch trộn với cá hãy được đặt sẵn ở trên con đường mà vị ấy sẽ đi đến’.
2357.
2357.
2357.
‘‘Sappi telaṃ dadhi khīraṃ, kaṅgubījā † bahū surā;
Maggamhi patitiṭṭhantu, yena maggena ehiti.
“Let ghee, oil, curd, milk, and much liquor brewed from millet seed be placed on the road by which he will come.”
‘Bơ sữa, dầu, sữa chua, sữa tươi, hạt kê, và nhiều rượu mạnh hãy được đặt sẵn ở trên con đường mà vị ấy sẽ đi đến’.
2358.
2358.
2358.
‘‘Āḷārikā ca sūdā ca, naṭanaṭṭakagāyino;
Pāṇissarā kumbhathūṇiyo, mandakā sokajjhāyikā †.
“Cooks and butchers, dancers, actors, and singers; hand-clappers, acrobats, the slow-witted, and those who lament.”
‘Các đầu bếp và những người nấu ăn, các diễn viên, vũ công, và ca sĩ, những người vỗ tay, những người nhào lộn, những người pha trò, và những người than khóc’.
2359.
2359.
2359.
‘‘Āhaññantu sabbavīṇā, bheriyo dindimāni ca;
Kharamukhāni dhamentu †, nadantu ekapokkharā.
“Let all lutes be struck, and drums and kettledrums too; let harsh-mouthed horns be blown, let single-headed drums resound.”
‘Tất cả các cây đàn tỳ bà, các trống lớn và trống nhỏ hãy được đánh lên. Các loại kèn hãy được thổi lên, các trống một mặt hãy vang lên’.
2360.
2360.
2360.
‘‘Mudiṅgā paṇavā saṅkhā, godhā parivadentikā;
Dindimāni ca haññantu, kutumpa † dindimāni ca’’.
“Let mudiṅga-drums, paṇava-drums, conches, godhā-lutes, and parivādinī-lutes resound; let the dindima-drums and kutumba-dindima-drums be struck.”
‘Các trống cơm, các chập chõa, các tù và, các cây đàn bằng da kỳ đà, các trống nhỏ và các trống kutumpa hãy được đánh lên’.
2361.
2361.
2361.
‘‘Sā senā mahatī āsi, uyyuttā sivivāhinī;
Jālinā magganāyena, vaṅkaṃ pāyāsi pabbataṃ.
Great was that army, the equipped Sivi host; with Jāli as guide, it proceeded to the Vanka mountain.
‘Đạo quân Sivi to lớn ấy đã được chuẩn bị. Với Jāli là người dẫn đường, đạo quân đã đi đến núi Vaṅka’.
2362.
2362.
2362.
‘‘Koñcaṃ nadati mātaṅgo, kuñjaro saṭṭhihāyano;
The sixty-year-old tusker, the elephant, cries out like a heron;
‘Con voi, con voi đực sáu mươi tuổi, rống lên tiếng kêu của chim hạc’.
Kacchāya baddhamānāya, koñcaṃ nadati vāraṇo.
When bound with the girth, the elephant cries out like a heron.
‘Trong khi đai bụng đang được buộc chặt, con voi rống lên tiếng kêu của chim hạc’.
2363.
2363.
2363.
‘‘Ājānīyā hasiyanti †, nemighoso ajāyatha;
Abbhaṃ rajo acchādesi, uyyuttā sivivāhinī.
The thoroughbreds neigh, the sound of the wheel-rims arose; dust covered the sky, the army of the Sivis was arrayed for battle.
‘Những con ngựa thuần chủng hí vang, tiếng vành bánh xe đã phát sanh. Bụi bặm bao trùm cả bầu trời, đạo quân Sivi đã được chuẩn bị’.
2364.
2364.
2364.
‘‘Sā senā mahatī āsi, uyyuttā hārahārinī;
Jālinā magganāyena, vaṅkaṃ pāyāsi pabbataṃ.
That army was great, arrayed for battle, carrying provisions; with Jāli as its guide, it proceeded to the crooked mountain.
‘Đạo quân to lớn ấy đã được chuẩn bị, đeo những vòng hoa. Với Jāli là người dẫn đường, đạo quân đã đi đến núi Vaṅka’.
2365.
2365.
2365.
‘‘Te pāviṃsu brahāraññaṃ, bahusākhaṃ mahodakaṃ †;
Puppharukkhehi sañchannaṃ, phalarukkhehi cūbhayaṃ.
They entered the great forest, with its many branches and great waters, covered with both flowering trees and fruit trees.
‘Họ đã đi vào khu rừng lớn, có nhiều cành nhánh và nhiều nước, được bao phủ bởi cả hai loại cây: cây có hoa và cây có quả’.
2366.
2366.
2366.
‘‘Tattha bindussarā vaggū, nānāvaṇṇā bahū dijā;
Kūjantamupakūjanti, utusampupphite dume.
There, many birds of various colors, with lovely, melodious voices, sing and respond in song among the trees blooming in season.
‘Ở nơi ấy, nhiều loài chim có nhiều màu sắc khác nhau, với giọng hót ngọt ngào thánh thót, đang hót và hót đáp lại ở trên các cây đang trổ hoa đúng mùa’.
2367.
2367.
2367.
‘‘Te gantvā dīghamaddhānaṃ, ahorattānamaccaye;
Padesaṃ taṃ upāgacchuṃ, yattha vessantaro ahu’’.
Having traveled a long way, at the passing of days and nights, they approached that region where Vessantara was.
‘Sau khi đã đi một quãng đường dài, sau khi ngày và đêm đã trôi qua, họ đã đi đến nơi mà Vessantara ở’.
Mahārājapabbaṃ nāma.
The Chapter of the Great King.
Phẩm Đại Vương.
Chakhattiyakammaṃ
The Six Royals
Sáu vị Sát-đế-lỵ gặp nhau
2368.
2368.
2368.
‘‘Tesaṃ sutvāna nigghosaṃ, bhīto vessantaro ahu;
Pabbataṃ abhiruhitvā, bhīto senaṃ udikkhati.
Having heard their uproar, Vessantara became frightened; having climbed the mountain, terrified, he gazed upon the army.
Nghe tiếng huyên náo của họ, Vessantara đã trở nên hoảng sợ; leo lên ngọn núi, ngài sợ hãi nhìn xuống đạo quân.
2369.
2369.
2369.
‘‘Iṅgha maddi nisāmehi, nigghoso yādiso vane;
Ājānīyā hasiyanti, dhajaggāni ca dissare.
Come, Maddi, listen to what kind of uproar is in the forest! Thoroughbreds are neighing, and the tops of banners are visible.
Này Maddī, hãy lắng nghe, tiếng huyên náo trong rừng kia là gì; những con ngựa nòi đang hí vang, và những ngọn cờ phướn đang hiện ra.
2370.
2370.
2370.
‘‘Ime nūna araññasmiṃ, migasaṅghāni luddakā;
Vāgurāhi parikkhippa, sobbhaṃ pātetvā tāvade;
Vikkosamānā tibbāhi, hanti nesaṃ varaṃ varaṃ.
Surely these are hunters in the forest who, having surrounded herds of deer with nets and driven them straight into a pit, are crying out with sharp cries as they kill the very best among them.
Chắc hẳn trong khu rừng này, những người thợ săn đang săn đuổi các bầy thú; sau khi bao vây bằng lưới, và dồn chúng vào hố bẫy; họ la hét dữ dội, và giết hại những con thú tốt nhất của chúng.
2371.
2371.
2371.
‘‘Yathā mayaṃ adūsakā, araññe avaruddhakā;
Amittahatthattaṃ gatā, passa dubbalaghātakaṃ’’.
Just as we, who are blameless, confined in the forest, have fallen into the hands of our enemies—behold the slaughter of the weak!
Cũng như chúng ta, những người vô tội, bị giam cầm trong rừng; đã rơi vào tay kẻ thù, hãy xem kẻ giết hại người yếu thế kia.
2372.
2372.
2372.
‘‘Amittā nappasāheyyuṃ, aggīva udakaṇṇave;
Tadeva tvaṃ vicintehi, api sotthi ito siyā’’.
May our enemies not overcome us, just as a fire cannot prevail in the ocean. Reflect on this, and perhaps there may be safety from this.
Kẻ thù không thể áp đảo được, như lửa ở giữa đại dương; nàng hãy suy nghĩ như thế, mong rằng từ đây sẽ có sự an lành.
2373.
2373.
2373.
‘‘Tato vessantaro rājā, orohitvāna pabbatā;
Nisīdi paṇṇasālāyaṃ, daḷhaṃ katvāna mānasaṃ’’.
Then King Vessantara, having descended from the mountain, sat down in the leaf-hut, having made his mind firm.
Khi ấy, vua Vessantara, sau khi đi xuống từ ngọn núi; đã ngồi trong am lá, với tâm trí vững vàng.
2374.
2374.
2374.
‘‘Nivattayitvāna rathaṃ, vuṭṭhapetvāna seniyo;
Ekaṃ araññe viharantaṃ, pitā puttaṃ upāgami.
Having turned back the chariot and halted the armies, the father approached his son, who was dwelling alone in the forest.
Sau khi cho dừng xe lại, và cho quân lính đứng dậy; người cha đã đến gần người con, đang sống một mình trong rừng.
2375.
2375.
2375.
‘‘Hatthikkhandhato oruyha, ekaṃso pañjalīkato;
Parikiṇṇo † amaccehi, puttaṃ siñcitumāgami.
Having descended from the elephant’s back, with his robe over one shoulder and hands clasped in reverence, surrounded by his ministers, he came to anoint his son.
Xuống khỏi lưng voi, vắt áo một bên vai và chắp tay; được các vị quan vây quanh, ngài đến để tấn phong cho con trai.
2376.
2376.
2376.
‘‘Tatthaddasa kumāraṃ so, rammarūpaṃ samāhitaṃ;
Nisinnaṃ paṇṇasālāyaṃ, jhāyantaṃ akutobhayaṃ.
There he saw the prince, of delightful form and composed mind, seated in the leaf-hut, meditating, free from any fear.
Ở đó, ngài đã thấy vị hoàng tử, có dung sắc khả ái, tâm định tĩnh; đang ngồi trong am lá, thiền định, không sợ hãi từ bất cứ đâu.
2377.
2377.
2377.
‘‘Tañca disvāna āyantaṃ, pitaraṃ puttagiddhinaṃ;
Vessantaro ca maddī ca, paccuggantvā avandisuṃ.
And seeing that father approaching, one who yearned for his son, both Vessantara and Maddi went out to meet him and paid him homage.
Và khi thấy người cha đang đến, người rất thương con; cả Vessantara và Maddī đã đi ra đón và đảnh lễ.
2378.
2378.
2378.
‘‘Maddī ca sirasā pāde, sasurassābhivādayi;
‘Maddī ahañhi te deva, pāde vandāmi te suṇhā’ †;
Tesu tattha palisajja, pāṇinā parimajjatha’’.
And Maddi with her head paid homage to her father-in-law’s feet: ‘I am Maddi, O lord, your daughter-in-law; I pay homage to your feet.’ Then, embracing them right there, she stroked them with her hand.
Và Maddī đã cúi đầu đảnh lễ chân của nhạc phụ; 'Thưa đức vua, con là Maddī, con dâu của ngài, xin đảnh lễ chân ngài'; ôm chặt lấy chân ngài ở đó, nàng dùng tay xoa bóp.
2379.
2379.
2379.
‘‘Kacci vo kusalaṃ putta, kacci putta anāmayaṃ;
Kacci uñchena yāpetha, kacci mūlaphalā bahū.
Is all well with you, my son? Are you free from illness, my son? Do you sustain yourselves by gleaning? Are roots and fruits plentiful?
Này con, các con có được an lành không? Này con, các con có được vô bệnh không? Các con có sống bằng việc lượm lặt không? Có nhiều rễ và trái cây không?
2380.
2380.
2380.
‘‘Kacci ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā;
Vane vāḷamigākiṇṇe, kacci hiṃsā na vijjati’’.
Are gadflies and mosquitoes few, and likewise creeping things? In this forest teeming with beasts of prey, is there no harm to be found?
Ruồi và muỗi có ít không? Các loài bò sát có ít không? Trong khu rừng đầy dẫy thú dữ, có sự nguy hại nào không?
2381.
2381.
2381.
‘‘Atthi no jīvikā deva, sā ca yādisakīdisā;
Kasirā jīvikā homa †, uñchācariyāya jīvitaṃ.
We have a livelihood, O lord, such as it is; our livelihood is difficult, a life of gleaning.
Thưa đức vua, chúng con có kế sinh nhai, nhưng nó chỉ tạm bợ; chúng con sống một cuộc sống khó khăn, cuộc sống bằng nghề lượm lặt.
2382.
2382.
2382.
‘‘Aniddhinaṃ mahārāja, dametassaṃva sārathi;
Tyamhā aniddhikā dantā, asamiddhi dameti no.
O great king, just as a charioteer tames a steed, so lack of prosperity tames the powerless. We are powerless and have been tamed; our misfortune has subdued us.
Thưa Đại vương, cũng như người đánh xe chế ngự ngựa, sự thiếu thốn chế ngự người không có quyền lực. Chúng con, những người không có quyền lực, đã được thuần hóa; sự thiếu thốn đã thuần hóa chúng con.
2383.
2383.
2383.
‘‘Api no kisāni maṃsāni, pitu mātu adassanā;
Avaruddhānaṃ mahārāja, araññe jīvasokinaṃ’’.
Indeed, our flesh has grown lean, O great king, from not seeing our father and mother, we who are confined, living in sorrow in the forest.
Thịt da của chúng con cũng gầy gò, vì không được thấy cha mẹ; thưa Đại vương, những người bị giam cầm, sống trong sầu muộn ở trong rừng.
2384.
2384.
2384.
‘‘Yepi te siviseṭṭhassa, dāyādāpattamānasā;
Jālī kaṇhājinā cubho, brāhmaṇassa vasānugā;
Accāyikassa luddassa, yo ne gāvova sumbhati.
And what of Jāli and Kaṇhājinā, the heirs of the best of the Sivis? Both are subject to the will of a harsh and cruel brahmin, who strikes them as though they were cattle.
Và những người thừa kế của ngài, người cao quý nhất của xứ Sivi, những người có tâm trí xứng đáng; cả Jāli và Kaṇhājinā, đã phải tuân theo ý muốn của một Bà-la-môn; một người tàn nhẫn và tham lam, kẻ đã đánh đập chúng như bò.
2385.
2385.
2385.
‘‘Te rājaputtiyā putte, yadi jānātha saṃsatha;
Pariyāpuṇātha no khippaṃ, sappadaṭṭhaṃva māṇavaṃ’’.
Those children of the princess, if you know of them, tell us. Fetch them for us quickly, as one would fetch help for a youth bitten by a snake.
Những đứa con của công chúa ấy, nếu ngài biết, xin hãy cho hay; xin hãy nhanh chóng tìm lại chúng cho chúng con, như tìm lại chàng thanh niên bị rắn cắn.
2386.
2386.
2386.
‘‘Ubho kumārā nikkītā, jālī kaṇhājinā cubho;
Brāhmaṇassa dhanaṃ datvā, putta mā bhāyi assasa’’.
Both children have been redeemed, both Jāli and Kaṇhājinā. Having given wealth to the brahmin, my son, do not fear; be comforted.
Cả hai đứa trẻ đã được chuộc lại, cả Jāli và Kaṇhājinā; sau khi đã trả tiền cho Bà-la-môn, này con, đừng sợ hãi, hãy yên tâm.
2387.
2387.
2387.
‘‘Kacci nu tāta kusalaṃ, kacci tāta anāmayaṃ;
Kacci nu tāta me mātu, cakkhu na parihāyati’’.
Is all well with you, dear father? Are you free from illness, dear father? And my mother, dear father, is her eyesight not failing?
Thưa cha, cha có được an lành không? Thưa cha, cha có được vô bệnh không? Thưa cha, mắt của mẹ con có bị suy giảm không?
2388.
2388.
2388.
‘‘Kusalañceva me putta, atho putta anāmayaṃ;
Atho ca putta te mātu, cakkhu na parihāyati’’.
All is well with me, my son, and I am also free from illness, my son. And your mother’s eyesight, my son, is not failing.
Này con, ta được an lành, và này con, ta được vô bệnh; và này con, mắt của mẹ con không bị suy giảm.
2389.
2389.
2389.
‘‘Kacci arogaṃ yoggaṃ te, kacci vahati vāhanaṃ;
Kacci phīto janapado, kacci vuṭṭhi na chijjati’’.
Are your draught animals healthy? Does your vehicle run well? Is the countryside prosperous? Does the rain not fail?
Các con vật kéo xe của cha có được khỏe mạnh không? Cỗ xe có chạy tốt không? Xứ sở có được thịnh vượng không? Mưa có không bị gián đoạn không?
2390.
2390.
2390.
‘‘Atho arogaṃ yoggaṃ me, atho vahati vāhanaṃ;
Atho phīto janapado, atho vuṭṭhi na chijjati’’.
My draught animals are healthy, and my vehicle runs well. The countryside is prosperous, and the rain does not fail.
Các con vật kéo xe của ta được khỏe mạnh, và cỗ xe chạy tốt; xứ sở được thịnh vượng, và mưa không bị gián đoạn.
2391.
2391.
2391.
‘‘Iccevaṃ mantayantānaṃ, mātā nesaṃ adissatha;
Rājaputtī giridvāre, pattikā anupāhanā.
While they were conferring in this way, their mother appeared; the princess was at the mountain pass, on foot and without sandals.
Trong khi họ đang trò chuyện như vậy, mẹ của họ đã xuất hiện; vị công chúa ở lối vào núi, đi bộ và không mang giày dép.
2392.
2392.
2392.
‘‘Tañca disvāna āyantaṃ, mātaraṃ puttagiddhiniṃ;
Vessantaro ca maddī ca, paccuggantvā avandisuṃ.
And seeing that mother approaching, one who yearned for her children, both Vessantara and Maddi went out to meet her and paid her homage.
Và khi thấy người mẹ đang đến, người rất thương con; cả Vessantara và Maddī đã đi ra đón và đảnh lễ.
2393.
2393.
2393.
‘‘Maddī ca sirasā pāde, sassuyā abhivādayi;
Maddī ahañhi te ayye, pāde vandāmi te suṇhā’’.
And Maddi with her head paid homage to her mother-in-law’s feet, saying: ‘I am Maddi, O noble lady, your daughter-in-law; I pay homage to your feet.’
Và Maddī đã cúi đầu đảnh lễ chân của nhạc mẫu; 'Thưa lệnh bà, con là Maddī, con dâu của bà, xin đảnh lễ chân bà'.
2394.
2394.
2394.
‘‘Maddiñca puttakā disvā, dūrato sotthimāgatā;
Kandantā mabhidhāviṃsu, vacchabālāva mātaraṃ.
And the children, seeing Maddi, who had arrived safely from afar, ran weeping towards her, like young calves towards their mother.
Và khi thấy Maddī, những đứa con nhỏ, đã trở về an toàn từ xa; chúng vừa khóc vừa chạy đến, như những con bê con chạy đến mẹ.
2395.
2395.
2395.
‘‘Maddī ca puttake disvā, dūrato sotthimāgate;
Vāruṇīva pavedhentī, thanadhārābhisiñcatha’’.
And Maddi, seeing her children who had arrived safely from afar, trembled like a rain cloud and drenched them with streams of milk from her breasts.
Và Maddī, khi thấy những đứa con nhỏ, đã trở về an toàn từ xa; run rẩy như người say rượu, những dòng sữa từ vú nàng tuôn chảy.
2396.
2396.
2396.
‘‘Samāgatānaṃ ñātīnaṃ, mahāghoso ajāyatha;
Pabbatā samanādiṃsu, mahī pakampitā ahu.
Among the assembled relatives a great clamor arose; the mountains resounded, and the earth trembled.
Một tiếng reo hò lớn đã vang lên từ những người bà con quyến thuộc đã tụ họp; các ngọn núi đã vang dội, và mặt đất đã rung chuyển.
2397.
2397.
2397.
‘‘Vuṭṭhidhāraṃ pavattento, devo pāvassi tāvade;
Atha vessantaro rājā, ñātīhi samagacchatha.
Then the heavens let loose a torrent of rain, and at that moment King Vessantara was reunited with his relatives.
Ngay lúc ấy, trời đã đổ xuống một trận mưa; rồi vua Vessantara đã đoàn tụ cùng với bà con quyến thuộc.
2398.
2398.
2398.
‘‘Nattāro suṇisā putto, rājā devī ca ekato;
Yadā samāgatā āsuṃ, tadāsi lomahaṃsanaṃ.
The grandchildren, the daughter-in-law, the son, the king, and the queen—when they were all assembled together, it was a hair-raising moment.
Các cháu, con dâu, con trai, đức vua, và hoàng hậu cùng ở bên nhau; khi họ đã đoàn tụ, đó là một cảnh tượng kỳ diệu làm dựng tóc gáy.
2399.
2399.
2399.
‘‘Pañjalikā tassa yācanti, rodantā bherave vane;
Vessantarañca maddiñca, sabbe raṭṭhā samāgatā;
Tvaṃ nosi issaro rājā, rajjaṃ kāretha no ubho’’.
With hands clasped in reverence, they begged him, weeping in the fearsome forest. All the people of the kingdom, assembled before Vessantara and Maddi, said: ‘You are our lord, O king; may you both rule the kingdom for us!’
Họ chắp tay van nài ngài, khóc than trong khu rừng đáng sợ; tất cả dân chúng trong nước đã tụ họp lại van nài Vessantara và Maddī: 'Ngài là chúa tể, là vua của chúng tôi, xin cả hai ngài hãy cai trị vương quốc cho chúng tôi'.
Chakhattiyakammaṃ nāma.
The Deed of the Six Royals.
Phẩm Sáu Vị Sát-đế-lỵ.
2400.
2400.
2400.
‘‘Dhammena rajjaṃ kārentaṃ, raṭṭhā pabbājayittha maṃ;
Tvañca jānapadā ceva, negamā ca samāgatā’’.
You banished me from the kingdom as I was ruling righteously; and you, the country-folk and the townspeople, have now assembled.
Khi con đang trị vì vương quốc theo đúng chánh pháp, chính cha, cùng với dân chúng nông thôn và thành thị đã tụ họp lại, đã trục xuất con khỏi vương quốc.
2401.
2401.
2401.
‘‘Dukkaṭañca hi no putta, bhūnahaccaṃ kataṃ mayā;
Yohaṃ sivīnaṃ vacanā, pabbājesimadūsakaṃ’’.
Indeed, my son, a wrong deed was done by me, a deed destroying merit, in that I, at the word of the Sivi people, banished you, the faultless one.
Hỡi con trai của ta, quả thật ta đã làm một điều sai trái, một tội lỗi nặng nề; chính ta, vì nghe theo lời của dân xứ Sivi, đã trục xuất một người vô tội.
2402.
2402.
2402.
‘‘Yena kenaci vaṇṇena, pitu dukkhaṃ udabbahe;
Mātu bhaginiyā cāpi, api pāṇehi attano’’.
By whatever means, I would relieve the suffering of my father, and also of my mother and sister, even at the cost of my own life.
Bằng bất cứ cách nào, người con nên xua tan nỗi khổ của cha, của mẹ, và cả của chị em gái, dù phải hy sinh cả mạng sống của chính mình.
2403.
2403.
2403.
‘‘Tato vessantaro rājā, rajojallaṃ pavāhayi;
Rajojallaṃ pavāhetvā, saṅkhavaṇṇaṃ † adhārayi’’.
Then King Vessantara washed away the dust and grime. Having washed away the dust and grime, he put on garments the color of a conch shell.
Khi ấy, vua Vessantara đã gột sạch bụi bẩn. Sau khi gột sạch bụi bẩn, ngài đã mặc vào y phục màu vỏ ốc.
2404.
2404.
2404.
‘‘Sīsaṃ nhāto sucivattho, sabbābharaṇabhūsito;
Paccayaṃ nāgamāruyha, khaggaṃ bandhi parantapaṃ.
Having bathed his head, clad in pure robes, and adorned with all ornaments, he mounted the elephant Paccaya and strapped on his sword, the tormentor of foes.
Sau khi gội đầu tắm rửa, mặc y phục sạch sẽ, trang hoàng với tất cả đồ trang sức, ngài, người chinh phục kẻ thù, đã leo lên voi Paccaya và đeo gươm vào.
2405.
2405.
2405.
‘‘Tato saṭṭhisahassāni, yodhino cārudassanā;
Sahajātā pakiriṃsu, nandayantā rathesabhaṃ.
Then sixty thousand soldiers, handsome to behold, his companions from birth, surrounded him, delighting the lord of the chariot.
Khi ấy, sáu mươi ngàn chiến binh có tướng mạo khôi ngô, những người sinh cùng thời với ngài, đã vây quanh, reo hò cổ vũ vị vua lỗi lạc.
2406.
2406.
2406.
‘‘Tato maddimpi nhāpesuṃ, sivikaññā samāgatā;
Vessantaro taṃ pāletu, jālī kaṇhājinā cubho;
Athopi taṃ mahārājā, sañjayo abhirakkhatu’’.
Then the assembled Sivi maidens also bathed Maddi, saying: ‘May Vessantara protect her, may both Jāli and Kaṇhājinā also protect her, and may the great King Sañjaya guard her.’
Khi ấy, các thiếu nữ xứ Sivi đã tụ họp lại và tắm cho nàng Maddī. Cầu mong Vessantara bảo vệ cho nàng, cùng cả hai con là Jāli và Kaṇhājinā; và cầu mong cả đại vương Sañjaya cũng che chở cho nàng.
2407.
2407.
2407.
‘‘Idañca paccayaṃ laddhā, pubbe saṃklesamattano;
Ānandiyaṃ ācariṃsu, ramaṇīye giribbaje.
And having obtained this support, recalling their past affliction, they rejoiced in delightful Giribbaja.
Và khi có được cơ hội này, sau những phiền não trước đây của mình, họ đã vui hưởng hân hoan tại thành Giribbaja khả ái.
2408.
2408.
2408.
‘‘Idañca paccayaṃ laddhā, pubbe saṃklesamattano;
Ānandi vittā sumanā, putte saṅgamma lakkhaṇā.
And having obtained this support, remembering her past affliction, delighted and glad-hearted, she was reunited with her children, who were blessed with good marks.
Và khi có được duyên lành này, sau những phiền não trước đây của mình, nàng Maddī, người có tướng tốt, đã vui mừng, hoan hỷ, và mãn nguyện khi được đoàn tụ cùng các con.
2409.
2409.
2409.
‘‘Idañca paccayaṃ laddhā, pubbe saṃklesamattano;
Ānandi vittā patītā, saha puttehi lakkhaṇā’’.
And having obtained this support, remembering her past affliction, delighted, joyful, and contented, she, who was blessed with good marks, was together with her children.
Và khi có được duyên lành này, sau những phiền não trước đây của mình, nàng Maddī, người có tướng tốt, đã vui mừng, hoan hỷ, và phấn khởi cùng với các con.
2410.
2410.
2410.
‘‘Ekabhattā pure āsiṃ, niccaṃ thaṇḍilasāyinī;
Iti metaṃ vataṃ āsi, tumhaṃ kāmā hi puttakā.
Formerly I ate but a single meal and always slept on the bare ground. Such was my vow, my children, undertaken for your sake.
Hỡi các con yêu quý, trước đây mẹ chỉ ăn một bữa, và luôn ngủ trên đất; đó là lời nguyện của mẹ, quả thật là vì các con.
2411.
2411.
2411.
‘‘Taṃ me vataṃ samiddhajja, tumhe saṅgamma puttakā;
Mātujampi taṃ pāletu, pitujampi ca puttaka;
Athopi taṃ mahārājā, sañjayo abhirakkhatu.
That vow of mine is now fulfilled, having been reunited with you, my children. My son, may you, born of a mother and a father, be protected; and may the great King Sañjaya also guard you.
Hỡi các con yêu quý, lời nguyện ấy của mẹ hôm nay đã được thành tựu, nhờ được đoàn tụ với các con. Hỡi con trai, cầu mong bà ngoại và cả ông ngoại bảo vệ cho con; và cầu mong cả đại vương Sañjaya cũng che chở cho con.
2412.
2412.
2412.
‘‘Yaṃ kiñcitthi kataṃ puññaṃ, mayhañceva pitucca te;
Sabbena tena kusalena, ajaro amaro bhava’’.
Whatever merit has been made by me and by your father, by all that wholesome deed, may you be ageless and deathless!
Bất cứ công đức nào đã được tạo bởi mẹ và cả bởi cha của con; nhờ tất cả thiện nghiệp ấy, cầu mong con được không già, không chết.
2413.
2413.
2413.
‘‘Kappāsikañca koseyyaṃ, khomakoṭumbarāni ca;
Sassu suṇhāya pāhesi, yehi maddī asobhatha.
Cotton and silk, linen and koṭumbara garments, the mother-in-law sent to her daughter-in-law, with which Maddi shone.
Vải bông và vải lụa, vải gai và vải vỏ cây; mẹ chồng đã gửi cho con dâu, những thứ mà nàng Maddī mặc vào trông thật rạng rỡ.
2414.
2414.
2414.
‘‘Tato hemañca kāyūraṃ, gīveyyaṃ ratanāmayaṃ;
Sassu suṇhāya pāhesi, yehi maddī asobhatha.
Then golden armlets and necklaces made of gems, the mother-in-law sent to her daughter-in-law, with which Maddi shone.
Rồi vòng tay bằng vàng và vòng cổ bằng đá quý; mẹ chồng đã gửi cho con dâu, những thứ mà nàng Maddī đeo vào trông thật rạng rỡ.
2415.
2415.
2415.
‘‘Tato hemañca kāyūraṃ, aṅgadaṃ maṇimekhalaṃ;
Sassu suṇhāya pāhesi, yehi maddī asobhatha.
Then golden armlets, bracelets, and jeweled girdles, the mother-in-law sent to her daughter-in-law, with which Maddi shone.
Rồi vòng tay bằng vàng, vòng đeo bắp tay, và thắt lưng bằng ngọc; mẹ chồng đã gửi cho con dâu, những thứ mà nàng Maddī đeo vào trông thật rạng rỡ.
2416.
2416.
2416.
‘‘Uṇṇataṃ mukhaphullañca, nānāratte ca māṇike †;
Sassu suṇhāya pāhesi, yehi maddī asobhatha.
A high forehead-ornament and various red jewels, the mother-in-law sent to her daughter-in-law, with which Maddi shone.
Vương miện và trang sức trên mặt, cùng các loại ngọc nhiều màu sắc; mẹ chồng đã gửi cho con dâu, những thứ mà nàng Maddī đeo vào trông thật rạng rỡ.
2417.
2417.
2417.
‘‘Uggatthanaṃ giṅgamakaṃ, mekhalaṃ pāṭipādakaṃ †;
Sassu suṇhāya pāhesi, yehi maddī asobhatha.
A bodice, a jingling ornament, a girdle, and an anklet, the mother-in-law sent to her daughter-in-law, with which Maddi shone.
Trang sức trên ngực, chuông nhỏ, thắt lưng, và vòng chân; mẹ chồng đã gửi cho con dâu, những thứ mà nàng Maddī đeo vào trông thật rạng rỡ.
2418.
2418.
2418.
‘‘Suttañca suttavajjañca, upanijjhāya seyyasi;
Asobhatha rājaputtī, devakaññāva nandane.
Adorned with pearls and strings of pearls, reclining on a couch, the princess shone like a celestial maiden in the Nandana grove.
Trong tiếng hát và tiếng nhạc, nàng công chúa, người phụ nữ tuyệt vời, đã trở nên rạng rỡ, giống như một thiên nữ ở vườn trời Nandana.
2419.
2419.
2419.
‘‘Sīsaṃ nhātā sucivatthā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Asobhatha rājaputtī, tāvatiṃseva accharā.
Having bathed her head, clad in pure clothes, adorned with every ornament, the princess shone like a nymph of Tāvatiṃsa.
Sau khi gội đầu tắm rửa, mặc y phục sạch sẽ, trang hoàng với tất cả đồ trang sức, nàng công chúa đã trở nên rạng rỡ, giống như một tiên nữ Apsara ở cõi trời Ba Mươi Ba.
2420.
2420.
2420.
‘‘Kadalīva vātacchupitā, jātā cittalatāvane;
Dantāvaraṇasampannā, rājaputtī asobhatha.
Like a plantain tree shaken by the wind, grown in the Cittalatā Grove, endowed with beautiful teeth, the princess shone.
Như cây chuối bị gió lay động, sanh trưởng trong vườn Cittalatā; có đôi môi che phủ hàm răng, nàng công chúa đã thật là rực rỡ.
2421.
2421.
2421.
‘‘Sakuṇī mānusinīva, jātā cittapattā patī;
Nigrodhapakkabimboṭṭhī, rājaputtī asobhatha.
Like a human bird with colorful wings, devoted to her husband, with lips like a ripe banyan fruit, the princess shone.
Như loài chim mang hình người, có đôi cánh sặc sỡ; có đôi môi như trái đa chín, nàng công chúa đã thật là rực rỡ.
2422.
2422.
2422.
‘‘Tassā ca nāgamānesuṃ, nātibaddhaṃva kuñjaraṃ;
Sattikkhamaṃ sarakkhamaṃ, īsādantaṃ urūḷhavaṃ.
And they brought for her an elephant, like a young elephant not tightly bound, enduring spears, enduring arrows, with tusks like a plough-pole, and a strong body.
Và họ đã dắt đến cho nàng con voi đực, con voi không bị trói buộc quá chặt, có thể chịu đựng được gươm, có thể chịu đựng được tên, có ngà như gọng xe, và thật là hùng dũng.
2423.
2423.
2423.
‘‘Sā maddī nāgamāruhi, nātibaddhaṃva kuñjaraṃ;
Sattikkhamaṃ sarakkhamaṃ, īsādantaṃ urūḷhavaṃ’’.
That Maddi mounted the elephant, like a young elephant not tightly bound, enduring spears, enduring arrows, with tusks like a plough-pole, and a strong body.
Nàng Maddī ấy đã leo lên con voi đực, con voi không bị trói buộc quá chặt, có thể chịu đựng được gươm, có thể chịu đựng được tên, có ngà như gọng xe, và thật là hùng dũng.
2424.
2424.
2424.
‘‘Sabbamhi taṃaraññamhi, yāvantettha migā ahuṃ;
Vessantarassa tejena, naññamaññaṃ viheṭhayuṃ.
In all that forest, however many beasts were there, by Vessantara’s power, they did not harm one another.
Trong toàn thể khu rừng ấy, có bao nhiêu loài thú đã hiện hữu ở đấy; do uy lực của Vessantara, chúng đã không làm hại lẫn nhau.
2425.
2425.
2425.
‘‘Sabbamhi taṃaraññamhi, yāvantettha dijā ahuṃ;
Vessantarassa tejena, naññamaññaṃ viheṭhayuṃ.
In all that forest, however many birds were there, by Vessantara’s power, they did not harm one another.
Trong toàn thể khu rừng ấy, có bao nhiêu loài chim đã hiện hữu ở đấy; do uy lực của Vessantara, chúng đã không làm hại lẫn nhau.
2426.
2426.
2426.
‘‘Sabbamhi taṃaraññamhi, yāvantettha migā ahuṃ;
Ekajjhaṃ sannipātiṃsu, vessantare payātamhi;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
In all that forest, however many beasts were there, they assembled together when Vessantara, the enhancer of the Sivi kingdom, had departed.
Trong toàn thể khu rừng ấy, có bao nhiêu loài thú đã hiện hữu ở đấy; chúng đã tụ họp lại cùng một nơi, khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đã ra đi.
2427.
2427.
2427.
‘‘Sabbamhi taṃaraññamhi, yāvantettha dijā ahuṃ;
Ekajjhaṃ sannipātiṃsu, vessantare payātamhi;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
In all that forest, however many birds were there, they assembled together when Vessantara, the enhancer of the Sivi kingdom, had departed.
Trong toàn thể khu rừng ấy, có bao nhiêu loài chim đã hiện hữu ở đấy; chúng đã tụ họp lại cùng một nơi, khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đã ra đi.
2428.
2428.
2428.
‘‘Sabbamhi taṃaraññamhi, yāvantettha migā ahuṃ;
Nāssu mañjū nikūjiṃsu, vessantare payātamhi;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
In all that forest, however many beasts were there, they made no pleasant sound when Vessantara, the enhancer of the Sivi kingdom, had departed.
Trong toàn thể khu rừng ấy, có bao nhiêu loài thú đã hiện hữu ở đấy; chúng đã không cất lên tiếng kêu ngọt ngào, khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đã ra đi.
2429.
2429.
2429.
‘‘Sabbamhi taṃaraññamhi, yāvantettha dijā ahuṃ;
Nāssu mañjū nikūjiṃsu, vessantare payātamhi;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
In all that forest, however many birds were there, they did not sweetly sing when Vessantara, the enhancer of the Sivi kingdom, departed.
Trong toàn thể khu rừng ấy, có bao nhiêu loài chim đã hiện hữu ở đấy; chúng đã không cất lên tiếng hót ngọt ngào, khi Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đã ra đi.
2430.
2430.
2430.
‘‘Paṭiyatto rājamaggo, vicitto pupphasanthato;
Vasi vessantaro yattha, yāvatāva jetuttarā.
The royal road was made ready, adorned and strewn with flowers, where Vessantara stayed, as far as Jetuttara.
Con đường hoàng gia đã được chuẩn bị, được trang hoàng và rải đầy hoa, từ nơi Vessantara đã ở cho đến tận thành Jetuttara.
2431.
2431.
2431.
‘‘Tato saṭṭhisahassāni, yodhino cārudassanā;
Samantā parikiriṃsu, vessantare payātamhi;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
Then sixty thousand warriors, handsome to behold, surrounded him on all sides when Vessantara, the enhancer of the Sivi kingdom, departed.
Khi ấy, sáu mươi ngàn chiến binh có ngoại hình xinh đẹp đã vây quanh bốn phía, trong lúc Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đang lên đường.
2432.
2432.
2432.
‘‘Orodhā ca kumārā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Samantā parikiriṃsu, vessantare payātamhi;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
Women of the inner chambers and young princes, merchants and brahmins, surrounded him on all sides when Vessantara, the enhancer of the Sivi kingdom, departed.
Các cung nữ và các hoàng tử, các thương gia và các vị Bà-la-môn đã vây quanh bốn phía, trong lúc Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đang lên đường.
2433.
2433.
2433.
‘‘Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Samantā parikiriṃsu, vessantare payātamhi;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
Elephant riders, troop-leaders, charioteers, and foot soldiers, surrounded him on all sides when Vessantara, the enhancer of the Sivi kingdom, departed.
Các quản tượng, các tướng lãnh, các xa binh, và các bộ binh đã vây quanh bốn phía, trong lúc Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đang lên đường.
2434.
2434.
2434.
‘‘Samāgatā jānapadā, negamā ca samāgatā;
Samantā parikiriṃsu, vessantare payātamhi;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
Country folk gathered, townsfolk assembled; they surrounded him on all sides when Vessantara, the enhancer of the Sivi kingdom, departed.
Dân chúng thôn quê đã tụ họp, và dân chúng thị thành cũng đã tụ họp; họ đã vây quanh bốn phía, trong lúc Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đang lên đường.
2435.
2435.
2435.
‘‘Karoṭiyā cammadharā, illīhatthā † suvammino;
Purato paṭipajjiṃsu, vessantare payātamhi;
Sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
Drummers wearing leather, sword-bearers, and the well-armored went before him when Vessantara, the enhancer of the Sivi kingdom, departed.
Những người cầm bát, mặc đồ da, tay cầm gươm, mặc áo giáp tốt, đã đi ở phía trước, trong lúc Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đang lên đường.
2436.
2436.
2436.
‘‘Te pāvisuṃ puraṃ rammaṃ, mahāpākāratoraṇaṃ;
Upetaṃ annapānehi, naccagītehi cūbhayaṃ.
They entered the lovely city, with great ramparts and gateways, replete with food and drink, and with both dancing and singing.
Họ đã đi vào thành phố đáng vui thích, có tường thành và cổng chào to lớn, được sung túc với đồ ăn thức uống, và cả hai thứ là múa và hát.
2437.
2437.
2437.
‘‘Vittā jānapadā āsuṃ, negamā ca samāgatā;
Anuppatte kumāramhi, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
The country districts were joyful, and the townspeople gathered together when the prince arrived, the enhancer of the Sivi kingdom.
Dân chúng thôn quê đã được vui mừng, và dân chúng thị thành đã tụ họp; khi vị hoàng tử, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đã quang lâm.
2438.
2438.
2438.
‘‘Celukkhepo avattittha, āgate dhanadāyake;
Nandiṃ pavesi † nagare, bandhanā mokkho aghosatha.
Cloth was tossed up when the wealth-giver arrived; joy entered the city, and release from bonds was announced.
Sự tung vẫy y phục đã diễn ra, khi bậc thí chủ đã đến; niềm vui đã tràn vào thành phố, sự giải thoát khỏi tù đày đã được loan báo.
2439.
2439.
2439.
‘‘Jātarūpamayaṃ vassaṃ, devo pāvassi tāvade;
Vessantare paviṭṭhamhi, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhane.
A rain of gold the sky then poured down, when Vessantara, the increaser of the Sivi kingdom, entered.
Khi ấy, vị trời đã làm cho trận mưa bằng vàng ròng rơi xuống, trong lúc Vessantara, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đang đi vào.
2440.
2440.
2440.
‘‘Tato vessantaro rājā, dānaṃ datvāna khattiyo;
Kāyassa bhedā sappañño, saggaṃ so upapajjathā’’ti.
Then King Vessantara, the Khattiya, having given gifts, upon the breaking up of the body, that wise one was reborn in heaven.
Khi ấy, đức vua Vessantara, vị Sát-đế-lỵ, sau khi đã thực hành bố thí, bậc trí tuệ ấy, sau khi thân hoại, đã được sanh lên cõi trời.
Vessantarajātakaṃ dasamaṃ.
The Vessantara Jātaka, the tenth.
Chuyện Bổn Sanh Vessantara là thứ mười.
The Great Division is concluded.
Đại Phẩm đã kết thúc.
The Jātaka Pāḷi is concluded.
Thánh điển Bổn Sanh đã kết thúc.