- Majjhima Nikāya 97
Dhanañjānisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dhanañjānisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
SC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đang du hành tại Dakkhinagiri (Nam Sơn) cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Một vị Tỷ-kheo sau khi an cư mùa mưa ở Rājagaha (Vương Xá) đi đến Dakkhinagiri và đi đến Tôn giả Sāriputta, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sāriputta, những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Sāriputta nói với vị Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên
SC 3—Này Hiền giả, Thế Tôn có được không bệnh, mạnh khỏe không?
SC 4—Thưa Hiền giả, Thế Tôn không bệnh và được mạnh khỏe.
SC 5—Thưa Hiền giả, còn chúng Tỷ-kheo có được không bệnh và mạnh khỏe không?
SC 6—Thưa Hiền giả, chúng Tỷ-kheo cũng không bệnh và được mạnh khỏe.
SC 7—Ở đây, này Hiền giả, có Bà-la-môn tên là Dhananjani ở tại Tandulapala. Này Hiền giả, Bà-la-môn Dhananjani có được không bệnh và mạnh khỏe không?
SC 8—Thưa Hiền giả, Bà-la-môn Dhananjani cũng không bệnh và được mạnh khỏe.
SC 9—Này Hiền giả, Bà-la-môn Dhanajani có được không phóng dật không?
SC 10—Thưa Hiền giả, làm sao Bà-la-môn Dhannajani có thể không phóng dật được! Thưa Hiền giả, Bà-la-môn Dhananjani ỷ thế vua, bóc lột các Bà-la-môn gia chủ, ỷ thế các Bà-la-môn gia chủ, bóc lột vua. Người vợ trước của Bà-la-môn có thành tín, cưới từ một gia đình có thành tín đã từ trần. Người vợ sau không có thành tín và cưới từ một gia đình không có thành tín.
SC 11—Này Hiền giả, thật là một tin không tốt lành! Này Hiền giả, thật là một tin không tốt lành khi chúng ta được nghe Bà-la-môn Dhananjani phóng dật. Rất có thể chúng ta có dịp gặp Bà-la-môn Dhananjani, rất có thể sẽ có một cuộc đàm thoại.
SC 12Rồi Tôn giả Sāriputta sau khi ở tại Dakkhinagiri cho đến khi vừa ý, liền khởi hành đi Rājagaha (Vương Xá), tuần tự du hành và đến tại Vương Xá. Ở đây, Tôn giả Sāriputta trú ở Rājagaha, Veluvana, tại Kalandakanivapa.
SC 13Rồi Tôn giả Sāriputta đắp y vào buổi sáng, cầm y bát, đi vào Vương Xá để khất thực. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Dhananjani đang cho vắt sữa bò ở ngoài thành. Tôn giả Sāriputta sau khi khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Bà-la-môn Dhananjani. Bà-la-môn Dhananjani thấy Tôn giả Sāriputta từ xa đi tới, sau khi thấy, liền đi đến Tôn giả Sāriputta, sau khi đến liền thưa với Tôn giả Sāriputta
SC 14—Hãy uống sữa này và chờ cho đến giờ ăn cơm.
SC 15—Thôi vừa rồi, Bà-la-môn. Hôm nay ta đã ăn xong. Ta sẽ ngồi nghỉ trưa ở một góc cây. Ông có thể đến đó.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 16Bà-la-môn Dhananjani vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Rồi Bà-la-môn Dhananjani sau khi ăn sáng xong, liền đi đến Tôn giả Sāriputta, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta nói với Bà-la-môn Dhananjani đang ngồi một bên
SC 17—Này Dhananjani, ông có không phóng dật không?
SC 18—Thưa Tôn giả Sāriputta, làm sao chúng tôi có thể không phóng dật được, khi chúng tôi còn cha mẹ phải phụng dưỡng, còn vợ con phải nuôi dưỡng, còn đầy tớ, lao công phải nuôi dưỡng, còn có những trách nhiệm bạn bè thân hữu phải làm đối với bạn bè thân hữu, còn có những trách nhiệm bà con huyết thống phải làm đối với bà con huyết thống, còn có những trách nhiệm tân khách phải làm đối với tân khách, còn có những trách nhiệm tổ tiên phải làm đối với tổ tiên, còn có những trách nhiệm chư Thiên phải làm đối với chư Thiên, còn có những trách nhiệm vua chúa phải làm đối với vua chúa, lại còn thân này cần phải làm cho thỏa mãn và trưởng dưỡng!
SC 19—Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh. Do nhân duyên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, các địa ngục quân kéo người ấy đến địa ngục. Người ấy làm được gì khi nói: “Tôi vì cha mẹ đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo tôi đến địa ngục”? Hay cha mẹ của người ấy làm được gì khi nói: “Con chúng tôi vì cha mẹ đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo nó đến địa ngục”?
SC 20—Thưa không được, Tôn giả Sāriputta. Các địa ngục quân vẫn quăng người ấy xuống địa ngục, dầu người ấy có khóc than.
SC 21—Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì vợ con làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh. Do nhân duyên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, các địa ngục quân kéo người ấy đến địa ngục. Người ấy làm được gì khi nói: “Tôi vì vợ con đã làm các điều phi pháp, đã làm điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo tôi đến địa ngục”? Hay vợ con người ấy có làm được gì khi nói: “Chồng, cha tôi vì chúng tôi đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo chồng, cha tôi đến địa ngục”?
SC 22—Thưa không được, Tôn giả Sāriputta. Các địa ngục quân vẫn quăng người ấy xuống địa ngục, dầu người ấy có khóc than.
SC 23—Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì đầy tớ lao công làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh. Do nhân duyên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, các địa ngục quân kéo người ấy đến địa ngục. Người ấy làm được gì khó nói: “Tôi vì các đầy tớ lao công đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo tôi đến địa ngục”? Hay các đầy tớ lao công có làm được gì khi nói: “Chủ chúng tôi vì chúng tôi đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo chủ chúng tôi đến địa ngục”?
SC 24—Thưa không được, Tôn giả Sāriputta. Các địa ngục quân vẫn quăng người ấy xuống địa ngục, dầu người ấy có khóc than.
SC 25—Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì bạn bè thân hữu … dầu người ấy có khóc than.
SC 26Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì các tân khách … dầu người ấy có khóc than.
SC 27Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vi tổ tiên … dầu người ấy có khóc than.
SC 28Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì chư Thiên … dầu người ấy có khóc than.
SC 29Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì vua chúa … dầu người ấy có khóc than.
SC 30Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì làm cho thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh. Do nhân duyên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh này, các địa ngục quân kéo người ấy đến địa ngục. Người ấy làm được gì khi người ấy nói: “Vì làm cho thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân, tôi đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh này. Chớ có để các địa ngục quân kéo tôi đến địa ngục”? Hay các người khác có làm được gì khi họ nói: “Vì làm cho thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân, người này làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh này. Chớ có để các địa ngục quân kéo nó đến địa ngục”?
SC 31—Thưa không được, Tôn giả Sāriputta. Các địa ngục quân vẫn quăng người ấy xuống địa ngục, dầu người ấy có khóc than.
SC 32—Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì cha mẹ làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 33—Thưa Tôn giả Sāriputta, người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, người vì cha mẹ làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 34—Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể phụng dưỡng cha mẹ, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì vợ con làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì vợ con, làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 35—Thưa Tôn giả Sāriputta, một người vì vợ con làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, một người vì vợ con làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 36—Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể nuôi dưỡng vợ con, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì đầy tớ lao công làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì đầy tớ lao công làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 37—Thưa Tôn giả Sāriputta, người vì đầy tớ lao công làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, người vì đầy tớ lao công làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 38—Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể nuôi dưỡng đầy tớ lao công, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì bạn bè thân hữu làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay là người vì bạn bè thân hữu làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 39—Thưa Tôn giả Sāriputta, người vị bạn bè thân hữu làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, người vì bạn bè thân hữu làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 40—Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể nuôi dưỡng bạn bè thân hữu, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì bà con huyết thống làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì bà con huyết thống làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 41—Thưa Tôn giả Sāriputta, người vì bà con huyết thống làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, người vì bà con huyết thống làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 42—Này Dhananjani, có những hành động khác, có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể nuôi dưỡng bà con huyết thống, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì tân khách làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì tân khách làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 43—Thưa Tôn giả Sāriputta, người vì tân khách làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, người vì tân khách làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 44—Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể làm các bổn phận tân khách đối với tân khách, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì tổ tiên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay người vì tổ tiên làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 45—Thưa Tôn giả Sāriputta, người vì tổ tiên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, người vì tổ tiên làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 46—Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể làm được những trách nhiệm tổ tiên phải làm đối với các tổ tiên, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì chư Thiên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay người vì chư Thiên làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 47—Thưa Tôn giả Sāriputta, người vì chư Thiên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, người vì chư Thiên làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 48—Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể làm được các trách nhiệm chư Thiên, phải làm đối với chư Thiên, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Người vì vua chúa làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay người vì vua chúa làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 49—Thưa Tôn giả Sāriputta, người vì vua chúa làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, người vì vua chúa làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 50—Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, có thể làm các trách nhiệm vua chúa phải làm đối với vua chúa, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Người vì làm thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân làm điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay là người vì làm thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân, làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?
SC 51—Thưa Tôn giả Sāriputta, người vì làm thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sāriputta, người vì làm thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.
SC 52—Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể làm thỏa mãn, trưởng dưỡng cái thân, không làm các điều ác, làm được các thiện hành.
SC 53Bà-la-môn Dhananjani hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Sāriputta dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 54Bà-la-môn Dhananjani sau một thời gian bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Bà-la-môn Dhananjani cho gọi một người khác
SC 55—Ông hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị bạo bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn”. Rồi Ông đi đến Tôn giả Sāriputta, sau khi đến, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sāriputta, và thưa: “Thưa Tôn giả Sāriputta, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sāriputta và thưa: “Tôn giả, lành thay nếu Tôn giả Sāriputta vì lòng từ bi thương xót, đi đến trú xá của Bà-la-môn Dhananjani”.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 56Người ấy vâng theo lời Bà-la-môn Dhananjani, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn
SC 57—Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 58Rồi đi đến Tôn giả Sāriputta, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sāriputta
SC 59—Thưa Tôn giả, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sāriputta và thưa: “Thưa tôn giả, lành thay nếu Tôn giả Sāriputta vì lòng từ bi thương xót, đi đến trú xá của Bà-la-môn Dhananjani”.
SC 60Tôn giả Sāriputta im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Sāriputta đắp y, cầm y bát đi đến trú xá Bà-la-môn Dhananjani, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sāriputta hỏi Bà-la-môn Dhananjani
SC 61—Ta mong, này Dhananjani, Ông có thể kham nhẫn; ta mong Ông có thể chịu đựng; ta mong khổ thọ được giảm thiểu, không có gia tăng, và sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng!
SC 62—Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của tôi gia tăng, không có giảm thiểu. Và sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sāriputta, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Những khổ thống của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sāriputta, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi siết chặt; cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta, tôi bị cảm đau đầu một cách kinh khủng. Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Những khổ thống của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sāriputta, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của tôi. Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Những thống khổ của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sāriputta, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Những khổ thống của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu.
SC 63—Này Dhananjani, địa ngục hay bàng sanh, chỗ nào tốt hơn?
SC 64—Thưa Tôn giả Sāriputta, bàng sanh tốt hơn địa ngục.
SC 65—Này Dhananjani, bàng sanh hay cảnh ngạ quỷ, chỗ nào tốt hơn?
SC 66—Thưa Tôn giả Sāriputta, cảnh ngạ quỷ tốt hơn bàng sanh.
SC 67—Này Dhananjani, cảnh giới ngạ quỷ hay loài Người, chỗ nào tốt hơn?
SC 68—Thưa Tôn giả Sāriputta, loài Người tốt hơn cảnh giới ngạ quỷ.
SC 69—Này Dhananjani, loài Người hay Tứ thiên vương thiên, chỗ nào tốt hơn?
SC 70—Thưa Tôn giả Sāriputta, Tứ thiên vương thiên tốt hơn loài Người.
SC 71—Này Dhananjani, Tứ thiên vương thiên hay Tam thập tam thiên, chỗ nào tốt hơn?
SC 72—Thưa Tôn giả Sāriputta, Tam thập tam thiên tốt hơn Tứ thiên vương thiên.
SC 73—Này Dhananjani, Tam thập tam thiên hay Dạ-ma Thiên, chỗ nào tốt hơn?
SC 74—Thưa Tôn giả Sāriputta, Dạ-ma thiên tốt hơn Tam thập tam thiên.
SC 75—Này Dhananjani, Dạ-ma thiên hay Ðâu-suất-đà thiên (Tusita), chỗ nào tốt hơn?
SC 76—Thưa Tôn giả Sāriputta, Ðâu-Suất-đà thiên tốt hơn Dạ-ma thiên.
SC 77—Này Dhananjani, Ðâu-suất-đà thiên hay Hóa lạc thiên (Nimmānarati), chỗ nào tốt hơn?
SC 78—Thưa Tôn giả Sāriputta, Hóa lạc thiên tốt hơn Ðâu-suất-đà thiên.
SC 79—Này Dhananjani, Hóa lạc thiên hay Tha hóa tự tại thiên, chỗ nào tốt hơn?
SC 80—Thưa Tôn giả Sāriputta, Tha hóa tự tại thiên tốt hơn Hóa lạc thiên.
SC 81—Này Dhananjani, Tha hóa tự tại thiên hay Phạm thiên giới, chỗ nào tốt hơn?
SC 82—Tôn giả Sāriputta đã nói: “Phạm thiên giới”. Tôn giả Sāriputta đã nói: “Phạm thiên giới”.
SC 83Rồi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ: “Các vị Bà-la-môn này rất ái luyến Phạm thiên giới. Vậy ta hãy thuyết giảng con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên”.
SC 84—Này Dhananjani, ta sẽ thuyết giảng cho Ông con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên. Hãy nghe khéo tác ý, ta sẽ giảng.
—Thưa vâng.
SC 85Bà-la-môn Dhananjani vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta thuyết như sau
SC 86—Này Dhananjani, thế nào là con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên? Ở đây, này Dhananjani, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Này Dhananjani, như vậy là con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên.
SC 87Lại nữa, này Dhananjani, vị Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ … an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Này Dhananjani, như vậy là con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên.
SC 88—Vậy thưa Tôn giả Sāriputta, hãy nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn”.
SC 89Rồi Tôn giả Sāriputta, dầu cho có những cảnh giới cao thượng hơn cần phải chứng, sau khi an trú Bà-la-môn vào Phạm thiên giới thấp kém, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Và Bà-la-môn Dhananjani, sau khi Tôn giả Sāriputta ra đi không bao lâu, liền mệnh chung và được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 90Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 91—Này các Tỷ-kheo, dầu cho có những cảnh giới cao thượng hơn cần phải chứng, Sāriputta sau khi an trú Bà-la-môn Dhananjani vào Phạm thiên giới thấp kém, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 92Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
SC 93—Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 94—Này Sāriputta, vì sao, dầu cho có những cảnh giới cao thượng hơn cần phải chứng, Ông sau khi an trú Bà-la-môn Dhananjani vào Phạm thiên giới thấp kém, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi?
SC 95—Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: “Những vị Bà-la-môn này rất luyến ái Phạm thiên giới”. Do vậy con mới thuyết giảng con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên.
SC 96—Và này Sāriputta, Bà-la-môn Dhananjani đã mệnh chung và sanh lên Phạm thiên giới.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hie6.u đính: 18–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Dhanañjāni
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto dakkhiṇāgirismiṁ cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ. Atha kho aññataro bhikkhu rājagahe vassaṁvuṭṭho yena dakkhiṇāgiri yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ bhikkhuṁ āyasmā sāriputto etadavoca: “kaccāvuso, bhagavā arogo ca balavā cā”ti?
“Arogo cāvuso, bhagavā balavā cā”ti.
“Kacci panāvuso, bhikkhusaṅgho arogo ca balavā cā”ti?
“Bhikkhusaṅghopi kho, āvuso, arogo ca balavā cā”ti.
“Ettha, āvuso, taṇḍulapālidvārāya dhanañjāni nāma brāhmaṇo atthi. Kaccāvuso, dhanañjāni brāhmaṇo arogo ca balavā cā”ti?
“Dhanañjānipi kho, āvuso, brāhmaṇo arogo ca balavā cā”ti.
“Kacci panāvuso, dhanañjāni brāhmaṇo appamatto”ti?
“Kuto panāvuso, dhanañjānissa brāhmaṇassa appamādo? Dhanañjāni, āvuso, brāhmaṇo rājānaṁ nissāya brāhmaṇagahapatike vilumpati, brāhmaṇagahapatike nissāya rājānaṁ vilumpati. Yāpissa bhariyā saddhā saddhakulā ānītā sāpi kālaṅkatā; aññāssa bhariyā assaddhā assaddhakulā ānītā”ti.
“Dussutaṁ vatāvuso, assumha, dussutaṁ vatāvuso, assumha; ye mayaṁ dhanañjāniṁ brāhmaṇaṁ pamattaṁ assumha. Appeva ca nāma mayaṁ kadāci karahaci dhanañjāninā brāhmaṇena saddhiṁ samāgaccheyyāma, appeva nāma siyā kocideva kathāsallāpo”ti?
Now at that time Venerable Sāriputta was wandering in the Southern Hills together with a large Saṅgha of mendicants. Then a certain mendicant who had completed the rainy season residence in Rājagaha went to the Southern Hills, where he approached Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. Sāriputta said to him, “Reverend, I hope the Buddha is healthy and strong?”
“He is, reverend.”
“And I hope that the mendicant Saṅgha is healthy and strong.”
“It is.”
“Reverend, at the rice checkpoint at the city gate there is a brahmin named Dhanañjāni. I hope that he is healthy and strong?”
“He too is well.”
“But is he diligent?”
“How could he possibly be diligent? Dhanañjāni robs the brahmins and householders in the name of the king, and he robs the king in the name of the brahmins and householders. His wife, a lady of faith who he married from a family of faith, has passed away. And he has taken a new wife who has no faith.”
“Oh, it’s bad news to hear that Dhanañjāni is negligent. Hopefully, some time or other I’ll get to meet him, and we can have a discussion.”
445. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đang du hành ở Dakkhiṇāgiri cùng với đại chúng Tỳ-khưu. Khi ấy, có một Tỳ-khưu nọ, sau khi an cư mùa mưa ở Rājagaha, đã đi đến Dakkhiṇāgiri, đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, vị ấy đã cùng Tôn giả Sāriputta chào hỏi thăm viếng. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thăm viếng thân hữu, vị ấy ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta nói với vị Tỳ-khưu đang ngồi một bên như sau: ‘Này hiền giả, Thế Tôn có được vô bệnh, có được khỏe mạnh không?’ ‘Thưa hiền giả, Thế Tôn được vô bệnh, được khỏe mạnh.’ ‘Này hiền giả, chúng Tỳ-khưu có được vô bệnh, có được khỏe mạnh không?’ ‘Thưa hiền giả, chúng Tỳ-khưu cũng được vô bệnh, được khỏe mạnh.’ ‘Này hiền giả, ở đây, gần cổng Taṇḍulapāli, có Bà-la-môn tên là Dhanañjāni. Này hiền giả, Bà-la-môn Dhanañjāni có được vô bệnh, có được khỏe mạnh không?’ ‘Thưa hiền giả, Bà-la-môn Dhanañjāni cũng được vô bệnh, được khỏe mạnh.’ ‘Này hiền giả, Bà-la-môn Dhanañjāni có sống không phóng dật không?’ ‘Thưa hiền giả, làm sao Bà-la-môn Dhanañjāni có thể không phóng dật được? Thưa hiền giả, Bà-la-môn Dhanañjāni nương tựa vào nhà vua để bóc lột các Bà-la-môn và gia chủ, và nương tựa vào các Bà-la-môn và gia chủ để bóc lột nhà vua. Người vợ có đức tin của ông ta, được cưới về từ một gia đình có đức tin, cũng đã qua đời; ông ta đã cưới một người vợ khác không có đức tin, từ một gia đình không có đức tin.’ ‘Thật là một tin không hay chúng ta đã nghe, này hiền giả! Thật là một tin không hay chúng ta đã nghe, này hiền giả; khi chúng ta nghe rằng Bà-la-môn Dhanañjāni sống phóng dật. Mong rằng có một lúc nào đó chúng ta có thể gặp gỡ Bà-la-môn Dhanañjāni, mong rằng có thể có một cuộc nói chuyện nào đó.’”
Atha kho āyasmā sāriputto dakkhiṇāgirismiṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ āyasmā sāriputto rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi. Tena kho pana samayena dhanañjāni brāhmaṇo bahinagare gāvo goṭṭhe duhāpeti. Atha kho āyasmā sāriputto rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena dhanañjāni brāhmaṇo tenupasaṅkami.
Addasā kho dhanañjāni brāhmaṇo āyasmantaṁ sāriputtaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “ito, bho sāriputta, payo, pīyataṁ tāva bhattassa kālo bhavissatī”ti.
“Alaṁ, brāhmaṇa. Kataṁ me ajja bhattakiccaṁ. Amukasmiṁ me rukkhamūle divāvihāro bhavissati. Tattha āgaccheyyāsī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho dhanañjāni brāhmaṇo āyasmato sāriputtassa paccassosi.
Atha kho dhanañjāni brāhmaṇo pacchābhattaṁ bhuttapātarāso yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho dhanañjāniṁ brāhmaṇaṁ āyasmā sāriputto etadavoca: “kaccāsi, dhanañjāni, appamatto”ti?
“Kuto, bho sāriputta, amhākaṁ appamādo yesaṁ no mātāpitaro posetabbā, puttadāro posetabbo, dāsakammakarā posetabbā, mittāmaccānaṁ mittāmaccakaraṇīyaṁ kātabbaṁ, ñātisālohitānaṁ ñātisālohitakaraṇīyaṁ kātabbaṁ, atithīnaṁ atithikaraṇīyaṁ kātabbaṁ, pubbapetānaṁ pubbapetakaraṇīyaṁ kātabbaṁ, devatānaṁ devatākaraṇīyaṁ kātabbaṁ, rañño rājakaraṇīyaṁ kātabbaṁ, ayampi kāyo pīṇetabbo brūhetabbo”ti?
When Sāriputta had stayed in the Southern Hills as long as he pleased, he set out for Rājagaha. Traveling stage by stage, he arrived at Rājagaha, where he stayed in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then he robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms. Now at that time Dhanañjāni was having his cows milked in a cow-shed outside the city. Then Sāriputta wandered for alms in Rājagaha. After the meal, on his return from almsround, he approached Dhanañjāni.
Seeing Sāriputta coming off in the distance, Dhanañjāni went to him and said, “Here, worthy Sāriputta, drink some fresh milk before the meal time.”
“Enough, brahmin, I’ve finished eating for today. I shall be at the root of that tree there for the day’s meditation. Come see me there.”
“Yes, worthy sir,” replied Dhanañjāni.
When Dhanañjāni had finished breakfast he went to Sāriputta and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. Sāriputta said to him, “I hope you’re diligent, Dhanañjāni?”
“How can I possibly be diligent, worthy Sāriputta? I have to provide for my mother and father, my wives and children, and my bondservants and workers. And I have to make the proper offerings to friends and colleagues, relatives and kin, guests, ancestors, deities, and king. And then this body must also be fattened and built up.”
446. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta, sau khi ở Dakkhiṇāgiri tùy theo ý muốn, đã lên đường du hành đến Rājagaha. Du hành tuần tự, ngài đã đến Rājagaha. Tại đó, Tôn giả Sāriputta trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Sāriputta đắp y, cầm y bát, vào Rājagaha để khất thực. Lúc ấy, Bà-la-môn Dhanañjāni đang cho vắt sữa bò trong một chuồng bò bên ngoài thành phố. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta, sau khi đi khất thực ở Rājagaha, dùng xong bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, đã đi đến chỗ Bà-la-môn Dhanañjāni. Bà-la-môn Dhanañjāni thấy Tôn giả Sāriputta từ xa đi đến. Thấy vậy, ông ta đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, ông ta nói với Tôn giả Sāriputta như sau: ‘Thưa Tôn giả Sāriputta, mời ngài dùng sữa ở đây. Trong khi ngài dùng, sẽ đến giờ dùng bữa.’ ‘Thôi đủ rồi, này Bà-la-môn. Hôm nay tôi đã dùng bữa xong. Tôi sẽ nghỉ trưa dưới gốc cây kia. Ông hãy đến đó.’ ‘Vâng, thưa Tôn giả,’ Bà-la-môn Dhanañjāni đã vâng lời Tôn giả Sāriputta. Khi ấy, Bà-la-môn Dhanañjāni, sau bữa ăn, đã dùng xong bữa sáng, liền đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, ông ta đã cùng Tôn giả Sāriputta chào hỏi thăm viếng. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thăm viếng thân hữu, ông ta ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta nói với Bà-la-môn Dhanañjāni đang ngồi một bên như sau: ‘Này Dhanañjāni, ông có sống không phóng dật không?’ ‘Thưa Tôn giả Sāriputta, làm sao chúng tôi có thể không phóng dật được, khi chúng tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ, phải nuôi dưỡng vợ con, phải nuôi dưỡng tôi tớ và người làm công, phải làm những việc cần làm cho bạn bè và thân hữu, phải làm những việc cần làm cho bà con huyết thống, phải làm những việc cần làm cho khách, phải làm những việc cần làm cho hương linh đã khuất, phải làm những việc cần làm cho chư thiên, phải làm những việc cần làm cho nhà vua, và cả thân này cũng phải được nuôi nấng, bồi bổ.’”
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, idhekacco mātāpitūnaṁ hetu adhammacārī visamacārī assa, tamenaṁ adhammacariyāvisamacariyāhetu nirayaṁ nirayapālā upakaḍḍheyyuṁ. Labheyya nu kho so ‘ahaṁ kho mātāpitūnaṁ hetu adhammacārī visamacārī ahosiṁ, mā maṁ nirayaṁ nirayapālā’ti, mātāpitaro vā panassa labheyyuṁ ‘eso kho amhākaṁ hetu adhammacārī visamacārī ahosi, mā naṁ nirayaṁ nirayapālā’”ti?
“No hidaṁ, bho sāriputta. Atha kho naṁ vikkandantaṁyeva niraye nirayapālā pakkhipeyyuṁ”.
“What do you think, Dhanañjāni? Suppose someone was to behave in an unprincipled and immoral way for the sake of their parents. Because of this the wardens of hell would drag them to hell. Could they get out of being dragged to hell by pleading that they had acted for the sake of their parents? Or could their parents save them by pleading that the acts had been done for their sake?”
“No, worthy Sāriputta. Rather, even as they were wailing the wardens of hell would cast them down into hell.”
447. “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì cha mẹ mà hành động phi pháp, hành động không công bằng. Do nhân duyên hành động phi pháp, hành động không công bằng ấy, các người canh giữ địa ngục sẽ lôi người ấy vào địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Tôi vì cha mẹ mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi tôi vào địa ngục’? Hoặc cha mẹ của người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Người này vì chúng tôi mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi nó vào địa ngục’?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, trong khi người ấy đang kêu la, các người canh giữ địa ngục vẫn ném người ấy vào địa ngục.”
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, idhekacco puttadārassa hetu adhammacārī visamacārī assa, tamenaṁ adhammacariyāvisamacariyāhetu nirayaṁ nirayapālā upakaḍḍheyyuṁ. Labheyya nu kho so ‘ahaṁ kho puttadārassa hetu adhammacārī visamacārī ahosiṁ, mā maṁ nirayaṁ nirayapālā’ti, puttadāro vā panassa labheyya ‘eso kho amhākaṁ hetu adhammacārī visamacārī ahosi mā naṁ nirayaṁ nirayapālā’”ti? “No hidaṁ, bho sāriputta. Atha kho naṁ vikkandantaṁyeva niraye nirayapālā pakkhipeyyuṁ”.
“What do you think, Dhanañjāni? Suppose someone was to behave in an unprincipled and immoral way for the sake of their wives and children …
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì vợ con mà hành động phi pháp, hành động không công bằng. Do nhân duyên hành động phi pháp, hành động không công bằng ấy, các người canh giữ địa ngục sẽ lôi người ấy vào địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Tôi vì vợ con mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi tôi vào địa ngục’? Hoặc vợ con của người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Người này vì chúng tôi mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi nó vào địa ngục’?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, trong khi người ấy đang kêu la, các người canh giữ địa ngục vẫn ném người ấy vào địa ngục.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì tôi tớ và người làm công mà hành động phi pháp, hành động không công bằng. Do nhân duyên hành động phi pháp, hành động không công bằng ấy, các người canh giữ địa ngục sẽ lôi người ấy vào địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Tôi vì tôi tớ và người làm công mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi tôi vào địa ngục’? Hoặc các tôi tớ và người làm công của người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Người này vì chúng tôi mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi nó vào địa ngục’?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, trong khi người ấy đang kêu la, các người canh giữ địa ngục vẫn ném người ấy vào địa ngục.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì bạn bè và thân hữu mà hành động phi pháp, hành động không công bằng. Do nhân duyên hành động phi pháp, hành động không công bằng ấy, các người canh giữ địa ngục sẽ lôi người ấy vào địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Tôi vì bạn bè và thân hữu mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi tôi vào địa ngục’? Hoặc bạn bè và thân hữu của người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Người này vì chúng tôi mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi nó vào địa ngục’?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, trong khi người ấy đang kêu la, các người canh giữ địa ngục vẫn ném người ấy vào địa ngục.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì bà con quyến thuộc mà hành động phi pháp, hành động không công bằng. Do nhân duyên hành động phi pháp, hành động không công bằng ấy, các người canh giữ địa ngục sẽ lôi người ấy vào địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Tôi vì bà con quyến thuộc mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi tôi vào địa ngục’? Hoặc bà con quyến thuộc của người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Người này vì chúng tôi mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi nó vào địa ngục’?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, trong khi người ấy đang kêu la, các người canh giữ địa ngục vẫn ném người ấy vào địa ngục.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì khách khứa mà hành động phi pháp, hành động không công bằng. Do nhân duyên hành động phi pháp, hành động không công bằng ấy, các người canh giữ địa ngục sẽ lôi người ấy vào địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Tôi vì khách khứa mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi tôi vào địa ngục’? Hoặc các vị khách của người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Người này vì chúng tôi mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi nó vào địa ngục’?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, trong khi người ấy đang kêu la, các người canh giữ địa ngục vẫn ném người ấy vào địa ngục.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì tổ tiên đã quá vãng mà hành động phi pháp, hành động không công bằng. Do nhân duyên hành động phi pháp, hành động không công bằng ấy, các người canh giữ địa ngục sẽ lôi người ấy vào địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Tôi vì tổ tiên đã quá vãng mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi tôi vào địa ngục’? Hoặc tổ tiên đã quá vãng của người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Người này vì chúng tôi mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi nó vào địa ngục’?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, trong khi người ấy đang kêu la, các người canh giữ địa ngục vẫn ném người ấy vào địa ngục.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì chư thiên mà hành động phi pháp, hành động không công bằng. Do nhân duyên hành động phi pháp, hành động không công bằng ấy, các người canh giữ địa ngục sẽ lôi người ấy vào địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được điều này chăng: ‘Tôi vì chư thiên mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi tôi vào địa ngục’? Hoặc chư thiên có thể đạt được điều này chăng: ‘Người này vì chúng tôi mà đã hành động phi pháp, hành động không công bằng. Xin các người canh giữ địa ngục đừng lôi nó vào địa ngục’?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, trong khi người ấy đang kêu la, các người canh giữ địa ngục vẫn ném người ấy vào địa ngục.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì lý do nhà vua mà là người hành phi pháp, hành không công bằng. Do hành phi pháp, hành không công bằng, các lính canh địa ngục sẽ lôi người ấy xuống địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được (sự miễn trừ) khi nói rằng: ‘Tôi đã hành phi pháp, hành không công bằng vì lý do nhà vua, mong các lính canh địa ngục đừng lôi tôi xuống địa ngục’, hay nhà vua của người ấy có thể đạt được (sự miễn trừ cho người ấy) khi nói rằng: ‘Người này đã hành phi pháp, hành không công bằng vì lý do của chúng ta, mong các lính canh địa ngục đừng lôi người ấy xuống địa ngục’ không?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, các lính canh địa ngục sẽ ném người ấy vào địa ngục trong khi người ấy đang la khóc.”
“No hidaṁ, bho sāriputta. Atha kho naṁ vikkandantaṁyeva niraye nirayapālā pakkhipeyyuṁ”.
“No, worthy Sāriputta. Rather, even as they were wailing the wardens of hell would cast them down into hell.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có người vì lý do nuôi dưỡng, làm cho thân thể phát triển mà là người hành phi pháp, hành không công bằng. Do hành phi pháp, hành không công bằng, các lính canh địa ngục sẽ lôi người ấy xuống địa ngục. Liệu người ấy có thể đạt được (sự miễn trừ) khi nói rằng: ‘Tôi đã hành phi pháp, hành không công bằng vì lý do nuôi dưỡng, làm cho thân thể phát triển, mong các lính canh địa ngục đừng lôi tôi xuống địa ngục’, hay những người khác của người ấy có thể đạt được (sự miễn trừ cho người ấy) khi nói rằng: ‘Người này đã hành phi pháp, hành không công bằng vì lý do nuôi dưỡng, làm cho thân thể phát triển, mong các lính canh địa ngục đừng lôi người ấy xuống địa ngục’ không?” “Thưa ngài Sāriputta, điều này không thể được. Trái lại, các lính canh địa ngục sẽ ném người ấy vào địa ngục trong khi người ấy đang la khóc.”
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, yo vā mātāpitūnaṁ hetu adhammacārī visamacārī assa, yo vā mātāpitūnaṁ hetu dhammacārī samacārī assa; katamaṁ seyyo”ti?
“Yo hi, bho sāriputta, mātāpitūnaṁ hetu adhammacārī visamacārī assa, na taṁ seyyo; yo ca kho, bho sāriputta, mātāpitūnaṁ hetu dhammacārī samacārī assa, tadevettha seyyo. Adhammacariyāvisamacariyāhi, bho sāriputta, dhammacariyāsamacariyā seyyo”ti.
“Atthi kho, dhanañjāni, aññesaṁ hetukā dhammikā kammantā, yehi sakkā mātāpitaro ceva posetuṁ, na ca pāpakammaṁ kātuṁ, puññañca paṭipadaṁ paṭipajjituṁ.
“Who do you think is better, Dhanañjāni? Someone who, for the sake of their parents, behaves in an unprincipled and immoral manner, or someone who behaves in a principled and moral manner?”
“Someone who behaves in a principled and moral manner for the sake of their parents. For principled and moral conduct is better than unprincipled and immoral conduct.”
“Dhanañjāni, others have livelihoods that are both profitable and legitimate. By means of these it’s possible to provide for your parents, avoid bad deeds, and practice the path of goodness.
448. “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Người nào vì cha mẹ mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, và người nào vì cha mẹ mà là người hành đúng pháp, hành công bằng; người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì cha mẹ mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, người đó không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì cha mẹ mà là người hành đúng pháp, hành công bằng, chính người đó ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với hành phi pháp, hành không công bằng, thì hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, có những công việc đúng pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa nuôi dưỡng cha mẹ, vừa không làm ác nghiệp, và có thể thực hành con đường phước thiện.”
Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, yo vā puttadārassa hetu adhammacārī visamacārī assa, yo vā puttadārassa hetu dhammacārī samacārī assa; katamaṁ seyyo”ti? “Yo hi, bho sāriputta, puttadārassa hetu adhammacārī visamacārī assa, na taṁ seyyo; yo ca kho, bho sāriputta, puttadārassa hetu dhammacārī samacārī assa, tadevettha seyyo. Adhammacariyāvisamacariyāhi, bho sāriputta, dhammacariyāsamacariyā seyyo”ti. “Atthi kho, dhanañjāni, aññesaṁ hetukā dhammikā kammantā yehi sakkā puttadārañceva posetuṁ, na ca pāpakammaṁ kātuṁ, puññañca paṭipadaṁ paṭipajjituṁ.
Who do you think is better, Dhanañjāni? Someone who, for the sake of their wives and children …
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Người nào vì vợ con mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, và người nào vì vợ con mà là người hành đúng pháp, hành công bằng; người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì vợ con mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, người đó không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì vợ con mà là người hành đúng pháp, hành công bằng, chính người đó ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với hành phi pháp, hành không công bằng, thì hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, có những công việc đúng pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa nuôi dưỡng vợ con, vừa không làm ác nghiệp, và có thể thực hành con đường phước thiện.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Người nào vì người làm công, tôi tớ mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, và người nào vì người làm công, tôi tớ mà là người hành đúng pháp, hành công bằng; người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì người làm công, tôi tớ mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, người đó không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì người làm công, tôi tớ mà là người hành đúng pháp, hành công bằng, chính người đó ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với hành phi pháp, hành không công bằng, thì hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, có những công việc đúng pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa nuôi dưỡng những người làm công, tôi tớ, vừa không làm ác nghiệp, và có thể thực hành con đường phước thiện.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Người nào vì bạn bè, thân hữu mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, và người nào vì bạn bè, thân hữu mà là người hành đúng pháp, hành công bằng; người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì bạn bè, thân hữu mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, người đó không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì bạn bè, thân hữu mà là người hành đúng pháp, hành công bằng, chính người đó ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với hành phi pháp, hành không công bằng, thì hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, có những công việc đúng pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa làm những việc cần làm cho bạn bè, thân hữu, vừa không làm ác nghiệp, và có thể thực hành con đường phước thiện.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này? Người nào vì bà con, quyến thuộc mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, và người nào vì bà con, quyến thuộc mà là người hành đúng pháp, hành công bằng; người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì bà con, quyến thuộc mà là người hành phi pháp, hành không công bằng, người đó không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì bà con, quyến thuộc mà là người hành đúng pháp, hành công bằng, chính người đó ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với hành phi pháp, hành không công bằng, thì hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, có những công việc đúng pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa làm những việc cần làm cho bà con, quyến thuộc, vừa không làm ác nghiệp, và có thể thực hành con đường phước thiện.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này: Có người vì lý do khách khứa mà hành phi pháp, hành không công bằng; và có người vì lý do khách khứa mà hành đúng pháp, hành công bằng. Trong hai người ấy, người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do khách khứa mà hành phi pháp, hành không công bằng, người ấy không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do khách khứa mà hành đúng pháp, hành công bằng, chính người ấy ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với việc hành phi pháp, hành không công bằng thì việc hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, thật vậy, có những công việc hợp pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa làm phận sự đối với khách khứa, vừa không làm ác nghiệp, và thực hành con đường phước thiện.
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này: Có người vì lý do thân quyến đã quá vãng mà hành phi pháp, hành không công bằng; và có người vì lý do thân quyến đã quá vãng mà hành đúng pháp, hành công bằng. Trong hai người ấy, người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do thân quyến đã quá vãng mà hành phi pháp, hành không công bằng, người ấy không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do thân quyến đã quá vãng mà hành đúng pháp, hành công bằng, chính người ấy ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với việc hành phi pháp, hành không công bằng thì việc hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, thật vậy, có những công việc hợp pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa làm phận sự đối với thân quyến đã quá vãng, vừa không làm ác nghiệp, và thực hành con đường phước thiện.
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này: Có người vì lý do chư thiên mà hành phi pháp, hành không công bằng; và có người vì lý do chư thiên mà hành đúng pháp, hành công bằng. Trong hai người ấy, người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do chư thiên mà hành phi pháp, hành không công bằng, người ấy không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do chư thiên mà hành đúng pháp, hành công bằng, chính người ấy ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với việc hành phi pháp, hành không công bằng thì việc hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, thật vậy, có những công việc hợp pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa làm phận sự đối với chư thiên, vừa không làm ác nghiệp, và thực hành con đường phước thiện.
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này: Có người vì lý do đức vua mà hành phi pháp, hành không công bằng; và có người vì lý do đức vua mà hành đúng pháp, hành công bằng. Trong hai người ấy, người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do đức vua mà hành phi pháp, hành không công bằng, người ấy không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do đức vua mà hành đúng pháp, hành công bằng, chính người ấy ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với việc hành phi pháp, hành không công bằng thì việc hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, thật vậy, có những công việc hợp pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa làm phận sự đối với đức vua, vừa không làm ác nghiệp, và thực hành con đường phước thiện.
“Yo hi, bho sāriputta, kāyassa pīṇanāhetu brūhanāhetu adhammacārī visamacārī assa, na taṁ seyyo; yo ca kho, bho sāriputta, kāyassa pīṇanāhetu brūhanāhetu dhammacārī samacārī assa, tadevettha seyyo. Adhammacariyāvisamacariyāhi, bho sāriputta, dhammacariyāsamacariyā seyyo”ti.
“Atthi kho, dhanañjāni, aññesaṁ hetukā dhammikā kammantā, yehi sakkā kāyañceva pīṇetuṁ brūhetuṁ, na ca pāpakammaṁ kātuṁ, puññañca paṭipadaṁ paṭipajjitun”ti.
“Someone who behaves in a principled and moral manner. For principled and moral conduct is better than unprincipled and immoral conduct.”
“Dhanañjāni, others have livelihoods that are both profitable and legitimate. By means of these it’s possible to fatten and build up your body, avoid bad deeds, and practice the path of goodness.”
“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này: Có người vì lý do nuôi dưỡng, bồi đắp cho thân thể mà hành phi pháp, hành không công bằng; và có người vì lý do nuôi dưỡng, bồi đắp cho thân thể mà hành đúng pháp, hành công bằng. Trong hai người ấy, người nào tốt hơn?” “Thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do nuôi dưỡng, bồi đắp cho thân thể mà hành phi pháp, hành không công bằng, người ấy không tốt hơn. Và thưa ngài Sāriputta, người nào vì lý do nuôi dưỡng, bồi đắp cho thân thể mà hành đúng pháp, hành công bằng, chính người ấy ở đây là tốt hơn. Thưa ngài Sāriputta, so với việc hành phi pháp, hành không công bằng thì việc hành đúng pháp, hành công bằng là tốt hơn.” “Này Dhanañjāni, thật vậy, có những công việc hợp pháp khác có nguyên nhân, nhờ đó có thể vừa nuôi dưỡng, bồi đắp cho thân thể, vừa không làm ác nghiệp, và thực hành con đường phước thiện.”
Atha kho dhanañjāni brāhmaṇo āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho dhanañjāni brāhmaṇo aparena samayena ābādhiko ahosi dukkhito bāḷhagilāno. Atha kho dhanañjāni brāhmaṇo aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, ambho purisa, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi: ‘dhanañjāni, bhante, brāhmaṇo ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So bhagavato pāde sirasā vandatī’ti. Yena cāyasmā sāriputto tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato sāriputtassa pāde sirasā vandāhi: ‘dhanañjāni, bhante, brāhmaṇo ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So āyasmato sāriputtassa pāde sirasā vandatī’ti. Evañca vadehi: ‘sādhu kira, bhante, āyasmā sāriputto yena dhanañjānissa brāhmaṇassa nivesanaṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so puriso dhanañjānissa brāhmaṇassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so puriso bhagavantaṁ etadavoca: “dhanañjāni, bhante, brāhmaṇo ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So bhagavato pāde sirasā vandatī”ti. Yena cāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so puriso āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “dhanañjāni, bhante, brāhmaṇo ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So āyasmato sāriputtassa pāde sirasā vandati, evañca vadeti: ‘sādhu kira, bhante, āyasmā sāriputto yena dhanañjānissa brāhmaṇassa nivesanaṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti. Adhivāsesi kho āyasmā sāriputto tuṇhībhāvena.
Then Dhanañjāni the brahmin, having approved and agreed with what Venerable Sāriputta said, rose from his seat and left.
Some time later Dhanañjāni became sick, suffering, gravely ill. Then he addressed a man, “Please, my man, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Say to him: ‘Sir, the brahmin Dhanañjāni is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.’ Then go to Venerable Sāriputta, and in my name bow with your head to his feet. Say to him: ‘Sir, the brahmin Dhanañjāni is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.’ And then say: ‘Sir, please visit Dhanañjāni at his home out of sympathy.’”
“Yes, sir,” that man replied. He did as Dhanañjāni asked. Sāriputta consented with silence.
449. Rồi thì, Bà-la-môn Dhanañjāni, sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của Tôn giả Sāriputta, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi thì, sau một thời gian, Bà-la-môn Dhanañjāni bị lâm bệnh, đau đớn, ốm nặng. Rồi thì, Bà-la-môn Dhanañjāni gọi một người đàn ông nào đó và nói: 'Này ông, hãy đến đây. Ông hãy đi đến nơi Thế Tôn đang ở; sau khi đến, nhân danh tôi, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhanañjāni đang bị bệnh, đau đớn, ốm nặng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’ Và ông hãy đi đến nơi Tôn giả Sāriputta đang ở; sau khi đến, nhân danh tôi, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Sāriputta và thưa rằng: ‘Bạch Tôn giả, Bà-la-môn Dhanañjāni đang bị bệnh, đau đớn, ốm nặng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Sāriputta.’ Và hãy thưa thêm như vầy: ‘Bạch Tôn giả, thật là tốt lành thay, mong Tôn giả Sāriputta vì lòng bi mẫn mà đi đến trú xá của Bà-la-môn Dhanañjāni.’’ 'Vâng, thưa ngài.' Người đàn ông ấy đã vâng lời Bà-la-môn Dhanañjāni rồi đi đến nơi Thế Tôn đang ở; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người đàn ông ấy bạch với Thế Tôn điều này: 'Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhanañjāni đang bị bệnh, đau đớn, ốm nặng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.' Và người ấy đi đến nơi Tôn giả Sāriputta đang ở; sau khi đến, đã đảnh lễ Tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người đàn ông ấy thưa với Tôn giả Sāriputta điều này: 'Bạch Tôn giả, Bà-la-môn Dhanañjāni đang bị bệnh, đau đớn, ốm nặng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Sāriputta, và thưa thêm như vầy: ‘Bạch Tôn giả, thật là tốt lành thay, mong Tôn giả Sāriputta vì lòng bi mẫn mà đi đến trú xá của Bà-la-môn Dhanañjāni.’’ Tôn giả Sāriputta đã im lặng nhận lời.
Atha kho āyasmā sāriputto nivāsetvā pattacīvaramādāya yena dhanañjānissa brāhmaṇassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho āyasmā sāriputto dhanañjāniṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “kacci te, dhanañjāni, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ? Kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti? Paṭikkamosānaṁ paññāyati, no abhikkamo”ti?
“Na me, bho sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti. Abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, bho sāriputta, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evameva kho, bho sāriputta, adhimattā vātā muddhani ca ūhananti. Na me, bho sāriputta, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti. Abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, bho sāriputta, balavā puriso daḷhena varattakkhaṇḍena sīse sīsaveṭhaṁ dadeyya; evameva kho, bho sāriputta, adhimattā sīse sīsavedanā. Na me, bho sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti. Abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, bho sāriputta, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṁ parikanteyya; evameva kho, bho sāriputta, adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti. Na me, bho sāriputta, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti. Abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, bho sāriputta, dve balavanto purisā dubbalataraṁ purisaṁ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṁ samparitāpeyyuṁ; evameva kho, bho sāriputta, adhimatto kāyasmiṁ ḍāho. Na me, bho sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti. Abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo”ti.
He robed up, and, taking his bowl and robe, went to Dhanañjāni’s home, where he sat down on the seat spread out and said to Dhanañjāni, “I hope you’re keeping well, Dhanañjāni, I hope you’re all right. I hope your pain is fading, not growing; that its fading is evident, not its growing.”
“I’m not keeping well, Mister Sāriputta, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading. The winds piercing my head are so severe, it feels like a strong man drilling into my head with a sharp point. I’m not keeping well. The pain in my head is so severe, it feels like a strong man tightening a strong leather strap around my head. I’m not keeping well. The winds slicing my belly are so severe, like a deft butcher or their apprentice were slicing open a cow’s belly with a sharp meat cleaver. I’m not keeping well. The burning in my body is so severe, it feels like two strong men grabbing a weaker man by the arms to burn and scorch him on a pit of glowing coals. I’m not keeping well, Mister Sāriputta, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”
450. Rồi thì, Tôn giả Sāriputta, sau khi đắp y, mang theo y bát, đã đi đến trú xá của Bà-la-môn Dhanañjāni; sau khi đến, ngài đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Tôn giả Sāriputta nói với Bà-la-môn Dhanañjāni điều này: 'Này Dhanañjāni, ông có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không? Các cảm thọ đau đớn có thuyên giảm không, hay là tăng lên? Sự thuyên giảm của chúng có được nhận thấy không, hay là sự tăng lên?' 'Thưa ngài Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi tăng lên chứ không thuyên giảm. Sự tăng lên của chúng được nhận thấy, chứ không phải sự thuyên giảm. Thưa ngài Sāriputta, ví như một người đàn ông khỏe mạnh dùng một mũi nhọn sắc bén để khoan vào đầu; cũng vậy, thưa ngài Sāriputta, những cơn gió dữ dội đang hành hạ trên đầu tôi. Thưa ngài Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi tăng lên chứ không thuyên giảm. Sự tăng lên của chúng được nhận thấy, chứ không phải sự thuyên giảm. Thưa ngài Sāriputta, ví như một người đàn ông khỏe mạnh dùng một sợi dây da chắc chắn để xiết chặt đầu; cũng vậy, thưa ngài Sāriputta, những cơn đau đầu dữ dội đang hành hạ tôi. Thưa ngài Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi tăng lên chứ không thuyên giảm. Sự tăng lên của chúng được nhận thấy, chứ không phải sự thuyên giảm. Thưa ngài Sāriputta, ví như một người đồ tể lành nghề hay đệ tử của người đồ tể dùng con dao mổ bò sắc bén để cắt xẻ bụng; cũng vậy, thưa ngài Sāriputta, những cơn gió dữ dội đang cắt xẻ trong bụng tôi. Thưa ngài Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi tăng lên chứ không thuyên giảm. Sự tăng lên của chúng được nhận thấy, chứ không phải sự thuyên giảm. Thưa ngài Sāriputta, ví như hai người đàn ông khỏe mạnh nắm một người yếu hơn ở hai cánh tay khác nhau rồi hơ nóng, thiêu đốt trên hố than hồng; cũng vậy, thưa ngài Sāriputta, có một sự nóng bức dữ dội trong thân tôi. Thưa ngài Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi tăng lên chứ không thuyên giảm. Sự tăng lên của chúng được nhận thấy, chứ không phải sự thuyên giảm.'
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo—nirayo vā tiracchānayoni vā”ti?
“Nirayā, bho sāriputta, tiracchānayoni seyyo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo—tiracchānayoni vā pettivisayo vā”ti?
“Tiracchānayoniyā, bho sāriputta, pettivisayo seyyo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo—pettivisayo vā manussā vā”ti?
“Pettivisayā, bho sāriputta, manussā seyyo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo—manussā vā cātumahārājikā vā devā”ti?
“Manussehi, bho sāriputta, cātumahārājikā devā seyyo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo—cātumahārājikā vā devā tāvatiṁsā vā devā”ti?
“Cātumahārājikehi, bho sāriputta, devehi tāvatiṁsā devā seyyo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo—tāvatiṁsā vā devā yāmā vā devā”ti?
“Tāvatiṁsehi, bho sāriputta, devehi yāmā devā seyyo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo—yāmā vā devā tusitā vā devā”ti?
“Yāmehi, bho sāriputta, devehi tusitā devā seyyo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo—tusitā vā devā nimmānaratī vā devā”ti?
“Tusitehi, bho sāriputta, devehi nimmānaratī devā seyyo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo—nimmānaratī vā devā paranimmitavasavattī vā devā”ti?
“Nimmānaratīhi, bho sāriputta, devehi paranimmitavasavattī devā seyyo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, dhanañjāni, katamaṁ seyyo paranimmitavasavattī vā devā brahmaloko vā”ti?
“‘Brahmaloko’ti—bhavaṁ sāriputto āha; ‘brahmaloko’ti—bhavaṁ sāriputto āhā”ti.
“Dhanañjāni, which do you think is better: hell or the animal realm?”
“The animal realm is better.”
“Which do you think is better: the animal realm or the ghost realm?”
“The ghost realm is better.”
“Which do you think is better: the ghost realm or human life?”
“Human life is better.”
“Which do you think is better: human life or as one of the gods of the four great kings?”
“The gods of the four great kings.”
“Which do you think is better: the gods of the four great kings or the gods of the thirty-three?”
“The gods of the thirty-three.”
“Which do you think is better: the gods of the thirty-three or the gods of Yama?”
“The gods of Yama.”
“Which do you think is better: the gods of Yama or the joyful gods?”
“The joyful gods.”
“Which do you think is better: the joyful gods or the gods who love to create?”
“The gods who love to create.”
“Which do you think is better: the gods who love to create or the gods who control what is created by others?”
“The gods who control what is created by others.”
“Which do you think is better: the gods who control what is created by others or the realm of divinity?”
“Worthy Sāriputta speaks of the realm of divinity! Worthy Sāriputta speaks of the realm of divinity!”
451. “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – địa ngục hay cảnh giới súc sanh?” “Thưa ngài Sāriputta, cảnh giới súc sanh tốt hơn địa ngục.” “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – cảnh giới súc sanh hay cảnh giới ngạ quỷ?” “Thưa ngài Sāriputta, cảnh giới ngạ quỷ tốt hơn cảnh giới súc sanh.” “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – cảnh giới ngạ quỷ hay loài người?” “Thưa ngài Sāriputta, loài người tốt hơn cảnh giới ngạ quỷ.” “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – loài người hay chư Thiên Tứ Đại Thiên Vương?” “Thưa ngài Sāriputta, chư Thiên Tứ Đại Thiên Vương tốt hơn loài người.” “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – chư Thiên Tứ Đại Thiên Vương hay chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba?” “Thưa ngài Sāriputta, chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba tốt hơn chư Thiên Tứ Đại Thiên Vương.” “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba hay chư Thiên Yāma?” “Thưa ngài Sāriputta, chư Thiên Yāma tốt hơn chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba.” “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – chư Thiên Yāma hay chư Thiên Tusita?” “Thưa ngài Sāriputta, chư Thiên Tusita tốt hơn chư Thiên Yāma.” “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – chư Thiên Tusita hay chư Thiên Nimmānaratī?” “Thưa ngài Sāriputta, chư Thiên Nimmānaratī tốt hơn chư Thiên Tusita.” “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – chư Thiên Nimmānaratī hay chư Thiên Paranimmitavasavattī?” “Thưa ngài Sāriputta, chư Thiên Paranimmitavasavattī tốt hơn chư Thiên Nimmānaratī.” “Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào về điều này, cảnh giới nào tốt hơn – chư Thiên Paranimmitavasavattī hay cõi Phạm Thiên?” “Ngài Sāriputta nói: ‘Cõi Phạm Thiên!’ Ngài Sāriputta nói: ‘Cõi Phạm Thiên!’”
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi:
“ime kho brāhmaṇā brahmalokādhimuttā. Yannūnāhaṁ dhanañjānissa brāhmaṇassa brahmānaṁ sahabyatāya maggaṁ deseyyan”ti.
“Brahmānaṁ te, dhanañjāni, sahabyatāya maggaṁ desessāmi; taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho dhanañjāni brāhmaṇo āyasmato sāriputtassa paccassosi. Āyasmā sāriputto etadavoca:
“katamo ca, dhanañjāni, brahmānaṁ sahabyatāya maggo? Idha, dhanañjāni, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. Ayaṁ kho, dhanañjāni, brahmānaṁ sahabyatāya maggo.
Then Sāriputta thought:
“These brahmins are devoted to the realm of divinity. Why don’t I teach him a path to the company of Divinity?”
“Dhanañjāni, I shall teach you a path to the company of Divinity. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” replied Dhanañjāni. Venerable Sāriputta said this:
“And what is a path to company with Divinity? Firstly, a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. This is a path to company with Divinity.
Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta khởi lên suy nghĩ này: “Các vị Bà-la-môn này có tâm hướng về cõi Phạm Thiên. Vậy ta hãy thuyết giảng cho Bà-la-môn Dhanañjāni con đường đưa đến cộng trú với các Phạm Thiên.” “Này Dhanañjāni, tôi sẽ thuyết giảng cho ông con đường đưa đến cộng trú với các Phạm Thiên; ông hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, tôi sẽ nói.” “Thưa vâng, thưa ngài,” Bà-la-môn Dhanañjāni đã đáp lời Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta đã nói điều này: “Và này Dhanañjāni, thế nào là con đường đưa đến cộng trú với các Phạm Thiên? Ở đây, này Dhanañjāni, vị Tỳ khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không oán, không sân. Này Dhanañjāni, đây chính là con đường đưa đến cộng trú với các Phạm Thiên.”
Puna caparaṁ, dhanañjāni, bhikkhu karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. Ayaṁ kho, dhanañjāni, brahmānaṁ sahabyatāya maggo”ti.
“Tena hi, bho sāriputta, mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi: ‘dhanañjāni, bhante, brāhmaṇo ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So bhagavato pāde sirasā vandatī’”ti. Atha kho āyasmā sāriputto dhanañjāniṁ brāhmaṇaṁ sati uttarikaraṇīye hīne brahmaloke patiṭṭhāpetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha kho dhanañjāni brāhmaṇo acirapakkante āyasmante sāriputte kālamakāsi, brahmalokañca upapajji.
Furthermore, a mendicant meditates spreading a heart full of compassion …
They meditate spreading a heart full of rejoicing …
They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. This is a path to company with Divinity.”
“Well then, Mister Sāriputta, in my name bow with your head to the Buddha’s feet. Say to him: ‘Sir, the brahmin Dhanañjāni is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.’” Then Sāriputta, after establishing Dhanañjāni in the inferior realm of divinity, rose from his seat and left while there was still more left to do. Not long after Sāriputta had left, Dhanañjāni passed away and was reborn in the realm of divinity.
452. “Lại nữa, này Dhanañjāni, vị Tỳ khưu với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, an trú biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế giới với tâm câu hữu với xả, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không oán, không sân. Này Dhanañjāni, đây chính là con đường đưa đến cộng trú với các Phạm Thiên.” “Vậy thì, thưa ngài Sāriputta, xin ngài nhân danh con cúi đầu đảnh lễ chân Đức Thế Tôn và thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhanañjāni bị bệnh, đau khổ, lâm trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Đức Thế Tôn.’” Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta, trong khi vẫn còn việc cao hơn cần phải làm, đã an lập Bà-la-môn Dhanañjāni vào cõi Phạm Thiên thấp kém, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Và Bà-la-môn Dhanañjāni, không lâu sau khi Tôn giả Sāriputta ra đi, đã mệnh chung và được sanh vào cõi Phạm Thiên.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “eso, bhikkhave, sāriputto dhanañjāniṁ brāhmaṇaṁ sati uttarikaraṇīye hīne brahmaloke patiṭṭhāpetvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “dhanañjāni, bhante, brāhmaṇo ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno, so bhagavato pāde sirasā vandatī”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, sāriputta, dhanañjāniṁ brāhmaṇaṁ sati uttarikaraṇīye hīne brahmaloke patiṭṭhāpetvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
“Mayhaṁ kho, bhante, evaṁ ahosi: ‘ime kho brāhmaṇā brahmalokādhimuttā, yannūnāhaṁ dhanañjānissa brāhmaṇassa brahmānaṁ sahabyatāya maggaṁ deseyyan’”ti.
“Kālaṅkato ca, sāriputta, dhanañjāni brāhmaṇo, brahmalokañca upapanno”ti.
Then the Buddha said to the mendicants, “Mendicants, Sāriputta, after establishing Dhanañjāni in the inferior realm of divinity, rose from his seat and left while there was still more left to do.”
Then Sāriputta went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said, “Sir, the brahmin Dhanañjāni is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.”
“But Sāriputta, after establishing Dhanañjāni in the inferior realm of divinity, why did you get up from your seat and leave while there was still more left to do?”
“Sir, I thought: ‘These brahmins are devoted to the realm of divinity. Why don’t I teach him a path to the company of Divinity?’”
“And Sāriputta, the brahmin Dhanañjāni has passed away and been reborn in the realm of divinity.”
453. Bấy giờ, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, Sāriputta này, trong khi vẫn còn việc cao hơn cần phải làm, đã an lập Bà-la-môn Dhanañjāni vào cõi Phạm Thiên thấp kém, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.” Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở; sau khi đến, đã đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta bạch với Đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhanañjāni bị bệnh, đau khổ, lâm trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Đức Thế Tôn.” “Nhưng tại sao, này Sāriputta, trong khi vẫn còn việc cao hơn cần phải làm, ông lại an lập Bà-la-môn Dhanañjāni vào cõi Phạm Thiên thấp kém, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi?” “Bạch Thế Tôn, con đã suy nghĩ như sau: ‘Các vị Bà-la-môn này có tâm hướng về cõi Phạm Thiên, vậy ta hãy thuyết giảng cho Bà-la-môn Dhanañjāni con đường đưa đến cộng trú với các Phạm Thiên.’” “Này Sāriputta, Bà-la-môn Dhanañjāni đã mệnh chung và đã được sanh vào cõi Phạm Thiên.”
Dhanañjānisuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Dhanañjāni, thứ bảy, chấm dứt.