- Majjhima Nikāya 98
Vāseṭṭhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Vāseṭṭhasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Icchanankala (Y-xa-năng -gia-la), tại khu rừng Icchanankala.
SC 2Lúc bấy giờ có rất nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có trú tại Icchanankala như Bà-la-môn Canki, Bà-la-môn Tarukkha, Bà-la-môn Pokkharasati, Bà-la-môn Jānussoni, Bà-la-môn Todeyya cùng rất nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có khác. Rồi trong khi các thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bhāradvāja đang tản bộ du hành, câu chuyện sau đây được khởi lên: “Thế nào là một vị Bà-la-môn?”
SC 3Thanh niên Bhāradvāja nói như sau
SC 4—Nếu ai thiện sanh từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh, như vậy là làm một vị Bà-la-môn.
SC 5Thanh niên Vasettha nói như sau
SC 6—Nếu ai có giới hạnh và thành tựu các cấm giới, như vậy là một vị Bà-la-môn.
SC 7Thanh niên Bà-la-môn Bhāradvāja không thể thuyết phục thanh niên Bà-la-môn Vasettha, và thanh niên Bà-la-môn Vasettha không thể thuyết phục thanh niên Bhāradvāja. Rồi thanh niên Bà-la-môn Vasettha nói với thanh niên Bà-la-môn Bhāradvāja
SC 8—Này Bhāradvāja, Sa-môn Gotama này là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay đang trú ở Icchanankala, tại khu rừng Icchanankala. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ðây là Thế Tôn … Phật, Thế Tôn”. Này Tôn giả Bhāradvāja, chúng ta hãy đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy hỏi Tôn giả Gotama về nghĩa lý này, và Sa-môn Gotama trả lời như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.
—Thưa vâng.
SC 9Thanh niên Bà-la-môn Bhāradvāja vâng đáp thanh niên Vasettha. Rồi thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bhāradvāja cùng đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Bà-la-môn Vasettha dùng những bài kệ bạch Thế Tôn:
SC 10Chúng con cả hai người,
Ðược tôn xưng, tự nhận,
Là những bậc thông thái
Cả ba tập Vệ-đà.SC 11Con là đệ tử Ngài,
Pokkharasati,
Còn vị thanh niên này,
Ðệ tử Tarukkha.SC 12Ba Vệ-đà nói gì,
Chúng con đều thông đạt,
Văn cú và văn phạm,
Chúng con đều thấu hiểu,
Thuyết giảng và giải thích,
Thật giống bậc Ðạo sư.SC 13Tôn giả Gotama,
Giữa hai người chúng con
Có sự tranh luận này,
Về huyết thống thọ sanh.SC 14Bhāradvāja nói:
“Chính do sự thọ sanh”.
Con nói: “Do hành động,
Mới thành Bà-la-môn”.SC 15Mong bậc có Pháp nhãn,
Hiểu cho là như vậy.
Cả hai người chúng con,
Không thể thuyết phục nhau.
Chúng con đến hỏi Ngài,
Bậc Chánh Giác tôn xưng.SC 16Như trăng được tròn đầy,
Quần chúng đến chấp tay,
Ðảnh lễ và chiêm ngưỡng.
Cũng vậy, ở trong đời,
Quần chúng đến đảnh lễ,
Gotama Tôn giả.SC 17Chúng con đến hỏi Ngài,
Bậc Pháp nhãn thế gian,
Bà-la-môn do sanh,
Hay chính do hành động?
Chúng con không được biết,
Hãy nói chúng con biết.
Ðức Thế Tôn bèn nói:
SC 18Này Ông Vasettha,
Ta trả lời cho Ông,
Thuận thứ và như thật,
Sự phân loại do sanh,
Của các loại hữu tình,
Chính do sự sanh đẻ,
Do sanh, có dị loại.SC 19Hãy xem cỏ và cây,
Dầu chúng không nhận thức,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.SC 20Hãy xem loại côn trùng,
Bướm đêm, các loại kiến,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.SC 21Hãy xem loại bốn chân,
Loại nhỏ và loại lớn,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.SC 22Hãy xem loài bò sát,
Loại rắn, loại lưng dài,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.SC 23Hãy xem các loại cá,
Loại sinh sống trong nước,
Chúng có tướng thọ sanh,
Da sanh, có dị loại.SC 24Hãy xem các loại chim,
Loại có cánh trên trời,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.SC 25Tùy theo sự thọ sanh,
Chúng có tướng tùy sanh.
Trong thế giới loài Người,
Tướng sanh không có nhiều.SC 26Không ở đầu mái tóc,
Không ở tai, ở mắt,
Không ở miệng, ở mũi,
Không ở môi, ở mày,
Không ở cổ, ở nách,
Không ở bụng, ở lưng,
Không ở ngực, ở vú,
Không âm hộ, hành dâm.SC 27Không ở tay, ở chân,
Không ở ngón, ở móng,
Không ở cổ chân, vế,
Không ở sắc, ở tiếng.SC 28Không tướng, do tùy sanh,
Tùy sanh, loại sai khác.
Trên tự thân con người,
Không có gì đặc biệt.
Chỉ tùy theo danh xưng,
Loài Người được kêu gọi.SC 29Ðối người tự sinh sống.
Chăn bò, lo ruộng đất,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nông phu,
Không phải Bà-la-môn.SC 30Ai sống theo nghề nghiệp,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là công thợ,
Không phải Bà-la-môn.SC 31Ai sống nghề buôn bán,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là thương nhân,
Không phải Bà-la-môn.SC 32Ai sống hầu hạ người,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nô bộc,
Không phải Bà-la-môn.SC 33Ai sống lấy của người,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là kẻ trộm,
Không phải Bà-la-môn.SC 34Ai sống nghề cung tên,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nhà binh,
Không phải Bà-la-môn.SC 35Ai sống nghề tế tự,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là tế quan,
Không phải Bà-la-môn.SC 36Ai sống giữa loài Người,
Thọ hưởng làng, quốc độ,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là vua chúa,
Không phải Bà-la-môn.SC 37Và Ta không có gọi,
Kẻ ấy Bà-la-môn.
Chỉ vì do thọ sanh,
Dầu vị ấy cao sang,
Dầu vị ấy giàu có,
Nhưng còn ham thế lợi.SC 38Không tham lam thế lợi,
Không chấp thủ sở hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 39Vị đoạn tận kiết sử,
Không ai không sợ hãi,
Siêu việt mọi chấp trước,
Thoát ly các hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 40Cắt dây thừng, dây ách,
Dây cương, cùng dây trói,
Quăng đi cây chắn ngang,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Bậc sáng suốt, giác ngộ,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 41Ai không lỗi, chịu đựng,
Nhiếc mắng cùng đánh trói,
Trang bị với nhẫn lực,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 42Không phẫn nộ, giữ luật,
Có giới hạnh không kiêu,
Nhiếp phục, thân tối hậu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 43Như nước trên lá sen,
Hột cải trên đỉnh nhọn,
Không tham luyến dục vọng,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 44Ai biết ngay đời này
Khổ vì ngã đoạn tận,
Gánh nặng được đặt xuống,
Xa lìa các hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 45Tuệ thâm sâu, có trí
Thiện xảo đạo phi đạo,
Ðích tối thượng đạt được,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 46Ai không còn liên hệ,
Cả tại gia, xuất gia,
Không nhà trú, thiểu dục,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 47Bỏ gậy đối chúng sanh,
Kẻ yếu cùng kẻ mạnh,
Không giết, không hại ai,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 48Giữa kẻ thù, không thù,
Giữa hung bạo, an tịnh,
Giữa chấp thủ, không chấp,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 49Dối, tham, sân, mạn, phú,
Ai bỏ rơi được chúng,
Như hột cải rơi khỏi.
Ðầu nhọn của mũi kim,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 50Ai dạy thật nhỏ nhẹ,
Nói lên lời chơn thực,
Không xúc chạm một ai,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 51Dài ngắn hay lớn nhỏ,
Thanh tịnh hay bất tịnh,
Ở đời vật dài ngắn,
Lớn, nhỏ, tịnh, bất tịnh,
Không lấy vật không cho,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 52Với ai không tham cầu,
Ðời này và đời sau,
Từ bỏ mọi tham cầu,
Ðoạn rời mọi hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 53Ai không có chấp tàng,
Với trí đoạn nghi hoặc,
Ðạt nhập đáy bất tử.
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 54Ở đời ai vượt khỏi,
Mọi buộc ràng thiện ác,
Không sầu, không bụi uế,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 55Ai không uế, thanh tịnh,
Không gợn, sáng như trăng,
Hỷ, hữu được đoạn trừ,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 56Ai vượt qua hiểm lộ,
Ác lộ, luân hồi, si,
Vượt khỏi, đến bờ kia,
Thiền tư, không dao động,
Ðoạn trừ mọi nghi hoặc,
An tịnh, không chấp trước,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 57Ở đời, bỏ dục vọng,
Không nhà, sống xuất gia,
Ðoạn trừ dục và hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 58Ở đời, bỏ tham ác,
Không nhà, sống xuất gia,
Ðoạn trừ ác và hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 59Ai từ bỏ nhân ách,
Vượt qua cả thiên ách,
Ðoạn trừ mọi ách nạn,
Thoát ly mọi hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 60Từ bỏ lạc, bất lạc,
Thanh lương, không y trú,
Chiến thắng mọi thế giới,
Bậc anh hùng dũng mãnh,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 61Ai biết thật hoàn toàn,
Sự sanh diệt chúng sanh,
Không tham trước, Thiện Thệ,
Giác ngộ, đạt chánh giác,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 62Không biết chỗ sở thủ,
Thiên, Nhân, Càn-thát-bà,
Lậu hoặc được đoạn trừ,
Bậc Ứng Cúng, La-Hán,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 63Ai không có chấp trước,
Ðời trước, sau, đời này,
Không chấp, không sở hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 64Ngưu vương, bậc Tối thắng,
Anh hùng, bậc Ðại sĩ,
Bậc Chinh phục, Bất động,
Tắm sạch, bậc Giác Ngộ,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 65Ai biết được đời trước,
Thấy được thiện, ác thú,
Ðạt được sanh diệt đoạn,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.SC 66Ðiều thế giới cho gọi,
Là “tên” và “gia tộc”,
Chỉ tục danh, thông danh,
Danh từ khởi nhiều chỗ.SC 67Ðã lâu đời chấp trước,
Tà kiến của kẻ ngu,
Kẻ ngu tự tuyên bố,
Bà-la-môn do sanh.SC 68Không phải do sanh đẻ,
Ðược gọi Bà-la-môn,
Không phải do sanh đẻ,
Gọi phi Bà-la-môn.SC 69Chính do sự hành động
Ðược gọi Bà-la-môn,
Chính do sự hành động
Gọi phi Bà-la-môn.SC 70Hành động làm nông phu,
Hành động làm công thợ,
Hành động làm lái buôn,
Hành động làm nô bộc.SC 71Hành động làm ăn trộm,
Hành động làm nhà binh.
Hành động làm tế quan,
Hành động làm vua chúa.SC 72Kẻ trí thấy hành động,
Như thật là như vậy.
Thấy rõ lý duyên khởi,
Biết rõ nghiệp dị thục.SC 73Do nghiệp, đời luân chuyển
Do nghiệp, người luân hồi.
Nghiệp trói buộc chúng sanh,
Như trục xe quay bánh.SC 74Do khổ hạnh, Phạm hạnh,
Tiết chế và chế ngự,
Tác thành Bà-la-môn.
Bà-la-môn như vậy,
Mới thật là tối thượng,SC 75Ba Vệ-đà thành tựu,
An tịnh, tái sanh đoạn,
Vesettha nên biết,
Kẻ ấy được Phạm thiên,
Ðược Thiên chủ Sakka,
Biết đến thật tường tận.
SC 76Khi được nghe nói vậy, hai thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bhāradvāja bạch Thế Tôn
SC 77—Thật vi diệu thay, tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Thưa Tôn giả Gotama, nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 18–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Vāseṭṭha
Tena kho pana samayena sambahulā abhiññātā abhiññātā brāhmaṇamahāsālā icchānaṅgale paṭivasanti, seyyathidaṁ—caṅkī brāhmaṇo, tārukkho brāhmaṇo, pokkharasāti brāhmaṇo, jāṇussoṇi brāhmaṇo, todeyyo brāhmaṇo, aññe ca abhiññātā abhiññātā brāhmaṇamahāsālā.
Atha kho vāseṭṭhabhāradvājānaṁ māṇavānaṁ jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamantānaṁ anuvicarantānaṁ ayamantarākathā udapādi: “kathaṁ, bho, brāhmaṇo hotī”ti?
Bhāradvājo māṇavo evamāha: “yato kho, bho, ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena—ettāvatā kho, bho, brāhmaṇo hotī”ti.
Vāseṭṭho māṇavo evamāha: “yato kho, bho, sīlavā ca hoti vattasampanno ca—ettāvatā kho, bho, brāhmaṇo hotī”ti.
Neva kho asakkhi bhāradvājo māṇavo vāseṭṭhaṁ māṇavaṁ saññāpetuṁ, na pana asakkhi vāseṭṭho māṇavo bhāradvājaṁ māṇavaṁ saññāpetuṁ.
Atha kho vāseṭṭho māṇavo bhāradvājaṁ māṇavaṁ āmantesi: “ayaṁ kho, bho bhāradvāja, samaṇo gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Āyāma, bho bhāradvāja, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ etamatthaṁ pucchissāma. Yathā no samaṇo gotamo byākarissati tathā naṁ dhāressāmā”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho bhāradvājo māṇavo vāseṭṭhassa māṇavassa paccassosi.
Now at that time several very well-known well-to-do brahmins were residing in Icchānaṅgala. They included the brahmins Caṅkī, Tārukkha, Pokkharasāti, Jānussoṇi, Todeyya, and others.
Then as the students Vāseṭṭha and Bhāradvāja were going for a walk they began to discuss the question: “How do you become a brahmin?”
Bhāradvāja said this: “When you’re well born on both your mother’s and father’s side, stemming from a clean vessel, with irrefutable and impeccable genealogy back to the seventh paternal generation—then you’re a brahmin.”
Vāseṭṭha said this: “When you’re ethical and accomplished in doing your duties—then you’re a brahmin.”
But neither was able to persuade the other.
So Vāseṭṭha said to Bhāradvāja, “Worthy Bhāradvāja, the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—is staying in a forest near Icchānaṅgala. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ Come, let’s go to see him and ask him about this matter. As he answers, so we’ll remember it.”
“Yes, worthy sir,” replied Bhāradvāja.
454. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Icchānaṅgala, trong một khu rừng gần Icchānaṅgala. Lúc bấy giờ, có nhiều vị Bà-la-môn đại phú, nổi tiếng và có danh vọng, đang cư ngụ tại Icchānaṅgala, đó là Bà-la-môn Caṅkī, Bà-la-môn Tārukkha, Bà-la-môn Pokkharasāti, Bà-la-môn Jāṇussoṇi, Bà-la-môn Todeyya, và các vị Bà-la-môn đại phú khác, nổi tiếng và có danh vọng. Bấy giờ, trong khi các thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang đi kinh hành, dạo bước, cuộc thảo luận này đã khởi lên giữa họ: “Thưa ngài, do đâu một người là Bà-la-môn?” Thanh niên Bhāradvāja nói như sau: “Thưa ngài, khi một người có dòng dõi trong sạch từ cả hai phía, bên mẹ và bên cha, có mẫu thai trong sạch cho đến bảy đời tổ phụ, không bị chê bai, không bị chỉ trích về phương diện dòng dõi — do như vậy, thưa ngài, một người là Bà-la-môn.” Thanh niên Vāseṭṭha nói như sau: “Thưa ngài, khi một người có giới hạnh và đầy đủ các bổn phận — do như vậy, thưa ngài, một người là Bà-la-môn.” Thanh niên Bhāradvāja đã không thể thuyết phục được thanh niên Vāseṭṭha, và thanh niên Vāseṭṭha cũng không thể thuyết phục được thanh niên Bhāradvāja. Bấy giờ, thanh niên Vāseṭṭha nói với thanh niên Bhāradvāja: “Này bạn Bhāradvāja, Sa-môn Gotama, là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang trú ở Icchānaṅgala, trong một khu rừng gần Icchānaṅgala. Tiếng lành đồn xa về Tôn giả Gotama như sau: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Này bạn Bhāradvāja, chúng ta hãy đi đến chỗ Sa-môn Gotama; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Sa-môn Gotama về ý nghĩa này. Như Sa-môn Gotama trả lời cho chúng ta, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.” Thanh niên Bhāradvāja đáp lại thanh niên Vāseṭṭha: “Thưa vâng, bạn.”
Atha kho vāseṭṭhabhāradvājā māṇavā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho vāseṭṭho māṇavo bhagavantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
So they went to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side, and Vāseṭṭha addressed the Buddha in verse:
455. Rồi các thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ cùng Thế Tôn nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời chào mừng thân hữu, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Vāseṭṭha bạch với Thế Tôn bằng những câu kệ:
“Anuññātapaṭiññātā, tevijjā mayamasmubho; Ahaṁ pokkharasātissa, tārukkhassāyaṁ māṇavo.
“We’re both authorized masters of the three Vedas. I’m a student of Pokkharasāti, and he of Tārukkha.
“Chúng con cả hai đều được (thầy) công nhận và tự nhận là người thông suốt ba tập Vệ-đà. Con là đệ tử của Pokkharasāti, còn thanh niên này là của Tārukkha.”
Tevijjānaṁ yadakkhātaṁ, tatra kevalinosmase; Padakasmā veyyākaraṇā, jappe ācariyasādisā; Tesaṁ no jātivādasmiṁ, vivādo atthi gotama.
We’re fully qualified in all the Vedic experts teach. As philologists and grammarians, we match our tutors in recitation. We have a dispute regarding genealogy.
“Về những gì được các bậc thầy tam Vệ-đà giảng dạy, chúng con đều thông suốt trọn vẹn. Chúng con là những nhà ngữ pháp, những người giải thích, trong việc tụng đọc, chúng con ngang bằng với các vị thầy. Thưa ngài Gotama, chúng con có sự tranh luận về vấn đề dòng dõi.”
Jātiyā brāhmaṇo hoti, bhāradvājo iti bhāsati; Ahañca kammunā brūmi, evaṁ jānāhi cakkhuma.
For Bhāradvāja says that one is a brahmin due to birth, but I declare it’s because of one’s deeds. Oh Clear-eyed One, know this as our debate.
“Bhāradvāja nói rằng: ‘Do dòng dõi mà thành Bà-la-môn.’ Còn con thì nói rằng do nghiệp. Xin bậc Pháp nhãn hãy biết như vậy.”
Te na sakkoma ñāpetuṁ, aññamaññaṁ mayaṁ ubho; Bhavantaṁ puṭṭhumāgamā, sambuddhaṁ iti vissutaṁ.
Since neither of us was able to convince the other, we’ve come to ask you, sir, renowned as the awakened one.
“Chúng con cả hai không thể thuyết phục được lẫn nhau. Chúng con đến đây để hỏi Ngài, bậc được tôn xưng là Chánh Đẳng Giác.”
Candaṁ yathā khayātītaṁ, pecca pañjalikā janā; Vandamānā namassanti, lokasmiṁ gotamaṁ.
As people honor with cupped palms the moon on the cusp of waxing, bowing, they revere Gotama in the world.
“Như người đời đến gần vầng trăng tròn viên mãn, chắp tay cung kính đảnh lễ, cũng vậy trong thế gian, họ tôn kính ngài Gotama.”
Cakkhuṁ loke samuppannaṁ, mayaṁ pucchāma gotamaṁ; Jātiyā brāhmaṇo hoti, udāhu bhavati kammunā; Ajānataṁ no pabrūhi, yathā jānemu brāhmaṇan”ti.
We ask this of Gotama, the Eye arisen in the world: is one a brahmin due to birth, or else because of deeds? We don’t know, please tell us, so we can recognize a brahmin.”
“Chúng con xin hỏi ngài Gotama, bậc Pháp nhãn đã khởi lên trong thế gian: Do dòng dõi mà thành Bà-la-môn, hay do nghiệp mà thành? Xin hãy giảng cho chúng con, những người chưa biết, để chúng con có thể biết về Bà-la-môn.”
“Tesaṁ vo ahaṁ byakkhissaṁ, (vāseṭṭhāti bhagavā) Anupubbaṁ yathātathaṁ; Jātivibhaṅgaṁ pāṇānaṁ, Aññamaññāhi jātiyo.
“I shall explain to you,” said the Buddha, “accurately and in sequence, the taxonomy of living creatures, for species are indeed diverse.
(Thế Tôn nói:) “Này Vāseṭṭha, Ta sẽ giảng cho các ngươi tuần tự và đúng như thật về sự phân loại các loài hữu tình theo dòng dõi, vì các dòng dõi của chúng thật khác nhau.”
Tiṇarukkhepi jānātha, na cāpi paṭijānare; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, aññamaññā hi jātiyo.
Know the grass and trees, though they lack self-awareness. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Hãy biết về các loài cỏ cây. Chúng không tự nhận biết, nhưng đặc điểm của chúng là do dòng dõi, vì các dòng dõi của chúng thật khác nhau.”
Tato kīṭe paṭaṅge ca, yāva kunthakipillike; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, aññamaññā hi jātiyo.
Next there are bugs that crawl or fly, and so on, to ants and termites. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Rồi đến các loài côn trùng, bướm ngài, cho đến các loài kiến và mối. Đặc điểm của chúng là do dòng dõi, vì các dòng dõi của chúng thật khác nhau.”
Catuppadepi jānātha, khuddake ca mahallake; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, aññamaññā hi jātiyo.
Know the quadrupeds, too, both small and large. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Hãy biết về các loài bốn chân, cả nhỏ lẫn lớn. Đặc điểm của chúng là do dòng dõi, vì các dòng dõi của chúng thật khác nhau.”
Pādudarepi jānātha, urage dīghapiṭṭhike; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, aññamaññā hi jātiyo.
Know, too, the long-backed snakes, crawling on their bellies. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Hãy biết về các loài bò bằng bụng, các loài rắn lưng dài. Đặc điểm của chúng là do dòng dõi, vì các dòng dõi của chúng thật khác nhau.”
Tato macchepi jānātha, udake vārigocare; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, aññamaññā hi jātiyo.
Next know the fish, whose habitat is the water. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Rồi hãy biết về các loài cá, sống và di chuyển trong nước. Đặc điểm của chúng là do dòng dõi, vì các dòng dõi của chúng thật khác nhau.”
Tato pakkhīpi jānātha, pattayāne vihaṅgame; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, aññamaññā hi jātiyo.
Next know the birds, winged chariots in flight. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Rồi hãy biết về các loài chim, đi bằng cánh, bay trên không. Đặc điểm của chúng là do dòng dõi, vì các dòng dõi của chúng thật khác nhau.”
Yathā etāsu jātīsu, liṅgaṁ jātimayaṁ puthu; Evaṁ natthi manussesu, liṅgaṁ jātimayaṁ puthu.
While the differences between these species are defined by birth, the differences between humans are not defined by birth.
“Như trong các dòng dõi này, đặc điểm do dòng dõi là riêng biệt, cũng vậy, ở loài người không có đặc điểm riêng biệt do dòng dõi.”
Na kesehi na sīsehi, na kaṇṇehi na akkhīhi; Na mukhena na nāsāya, na oṭṭhehi bhamūhi vā.
Not by hair nor by head, not by ear nor by eye, not by mouth nor by nose, not by lips nor by eyebrow,
“Không phải do tóc, không phải do đầu, không phải do tai, không phải do mắt; không phải do miệng, không phải do mũi, không phải do môi, hay do lông mày.”
Na gīvāya na aṁsehi, na udarena na piṭṭhiyā; Na soṇiyā na urasā, na sambādhe na methune.
not by shoulder nor by neck, not by belly nor by back, not by buttocks nor by breast, not by groin nor by genitals,
“Không phải do cổ, không phải do vai, không phải do bụng, không phải do lưng; không phải do hông, không phải do ngực, không phải do bộ phận sinh dục, không phải do giao hợp.”
Na hatthehi na pādehi, naṅgulīhi nakhehi vā; Na jaṅghāhi na ūrūhi, na vaṇṇena sarena vā; Liṅgaṁ jātimayaṁ neva, yathā aññāsu jātisu.
not by hands nor by feet, not by fingers nor by nails, not by knees nor by thighs, not by color nor by voice: none of these are defined by birth as it is for other species.
“Không phải do tay, không phải do chân, không phải do ngón tay hay móng tay; không phải do cẳng chân, không phải do đùi, không phải do màu da hay giọng nói. Đặc điểm do dòng dõi không hề có, như ở các dòng dõi khác.”
Paccattañca sarīresu, manussesvetaṁ na vijjati; Vokārañca manussesu, samaññāya pavuccati.
In specific human bodies you can’t find such distinctions. The distinctions among humans are spoken of by convention.
“Trong thân thể của loài người, sự khác biệt này không tồn tại ở mỗi cá nhân. Sự khác biệt giữa loài người chỉ được gọi theo quy ước.”
Yo hi koci manussesu, gorakkhaṁ upajīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, kassako so na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off keeping cattle: know them, Vāseṭṭha, as a farmer, not a brahmin.
“Này Vāseṭṭha, hãy biết như vầy: Bất cứ ai trong loài người sống bằng nghề nông, người ấy là nông dân, không phải là Bà-la-môn.”
Yo hi koci manussesu, puthusippena jīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, sippiko so na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off various professions: know them, Vāseṭṭha, as a professional, not a brahmin.
“Này Vāseṭṭha, hãy biết như vầy: Bất cứ ai trong loài người sống bằng nhiều nghề thủ công, người ấy là thợ thủ công, không phải là Bà-la-môn.”
Yo hi koci manussesu, vohāraṁ upajīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, vāṇijo so na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off trade: know them, Vāseṭṭha, as a trader, not a brahmin.
“Này Vāseṭṭha, hãy biết như vầy: Bất cứ ai trong loài người sống bằng nghề buôn bán, người ấy là thương nhân, không phải là Bà-la-môn.”
Yo hi koci manussesu, parapessena jīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, pessako so na brāhmaṇo.
Yo hi koci manussesu,
Anyone among humans who lives off serving others: know them, Vāseṭṭha, as a servant, not a brahmin.
Anyone among humans
“Này Vāseṭṭha, hãy biết như vầy: Bất cứ ai trong loài người sống bằng nghề phục vụ người khác, người ấy là người phục vụ, không phải là Bà-la-môn.”
Này Vāseṭṭha, trong loài người, bất cứ ai sống bằng của không cho, hãy biết như vầy: người ấy là kẻ trộm, không phải là Bà-la-môn.
Yo hi koci manussesu, issatthaṁ upajīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, yodhājīvo na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off archery: know them, Vāseṭṭha, as a warrior, not a brahmin.
Này Vāseṭṭha, trong loài người, bất cứ ai sống bằng nghề cung tên, hãy biết như vầy: người ấy là kẻ sống bằng nghề chiến đấu, không phải là Bà-la-môn.
Yo hi koci manussesu, porohiccena jīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, yājako so na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off priesthood: know them, Vāseṭṭha, as a sacrificer, not a brahmin.
Này Vāseṭṭha, trong loài người, bất cứ ai sống bằng nghề tế tự, hãy biết như vầy: người ấy là người tế tự, không phải là Bà-la-môn.
Yo hi koci manussesu, gāmaṁ raṭṭhañca bhuñjati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, rājā eso na brāhmaṇo.
Anyone among humans who taxes village and nation, know them, Vāseṭṭha, as a ruler, not a brahmin.
Này Vāseṭṭha, trong loài người, bất cứ ai hưởng dụng làng mạc và xứ sở, hãy biết như vầy: người ấy là vua, không phải là Bà-la-môn.
Na cāhaṁ brāhmaṇaṁ brūmi, yonijaṁ mattisambhavaṁ; Bhovādi nāma so hoti, sace hoti sakiñcano; Akiñcanaṁ anādānaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
I don’t call someone a brahmin after the mother’s womb they’re born from. If they still have attachments, they’re just someone who says ‘worthy’. Having nothing, taking nothing: that’s who I declare a brahmin.
Ta không gọi là Bà-la-môn người sinh từ bào thai, sinh từ mẹ (Bà-la-môn). Nếu người ấy còn có chướng ngại, người ấy chỉ được gọi là 'người nói bho'. Người không chướng ngại, không chấp thủ, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Sabbasaṁyojanaṁ chetvā, yo ve na paritassati; Saṅgātigaṁ visaṁyuttaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Having cut off all fetters they have no anxiety; they’ve slipped their chains and are detached: that’s who I declare a brahmin.
Người đã cắt đứt tất cả các kiết sử, thật sự không còn run sợ, đã vượt qua sự dính mắc, đã được giải thoát, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Chetvā naddhiṁ varattañca, sandānaṁ sahanukkamaṁ; Ukkhittapalighaṁ buddhaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve cut the strap and harness, the halter and bridle too; with cross-bar lifted, they’re awakened: that’s who I declare a brahmin.
Người đã cắt đứt dây da (sân), dây buộc (tham), dây xích (tà kiến) cùng với các tùy miên, đã nhổ lên thanh cài (vô minh), đã giác ngộ, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Akkosaṁ vadhabandhañca, aduṭṭho yo titikkhati; Khantībalaṁ balānīkaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Abuse, killing, caging: they endure these without anger. Patience is their powerful army: that’s who I declare a brahmin.
Người không sân hận, kham nhẫn sự mắng nhiếc, sự giết hại và trói buộc, có sức mạnh là sự kham nhẫn, có đạo quân là sự kham nhẫn, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Akkodhanaṁ vatavantaṁ, sīlavantaṁ anussadaṁ; Dantaṁ antimasārīraṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Not irritable or pretentious, dutiful in precepts and observances, tamed, bearing their final body: that’s who I declare a brahmin.
Người không phẫn nộ, giữ giới hạnh, có giới đức, không có tham ái, đã được điều phục, mang thân cuối cùng, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Vāripokkharapatteva, āraggeriva sāsapo; Yo na limpati kāmesu, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Like water from a lotus leaf, like a mustard seed off the point of a pin, sensual pleasures slip off them: that’s who I declare a brahmin.
Như nước trên lá sen, như hạt cải trên đầu mũi dùi, người nào không dính mắc vào các dục, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yo dukkhassa pajānāti, idheva khayamattano; Pannabhāraṁ visaṁyuttaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They understand for themselves the end of suffering in this life; with burden put down, detached: that’s who I declare a brahmin.
Người nào ngay tại đây biết rõ sự đoạn tận khổ của mình, đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Gambhīrapaññaṁ medhāviṁ, maggāmaggassa kovidaṁ; Uttamatthamanuppattaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Deep in wisdom, intelligent, expert in the path and what is not the path; arrived at the highest goal: that’s who I declare a brahmin.
Người có trí tuệ sâu sắc, bậc hiền trí, thông thạo về đạo và phi đạo, đã đạt đến mục đích tối thượng, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Asaṁsaṭṭhaṁ gahaṭṭhehi, anāgārehi cūbhayaṁ; Anokasārimappicchaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Mixing with neither householders nor the homeless; a migrant with no bastion, few in wishes: that’s who I declare a brahmin.
Người không giao du với cả hàng tại gia lẫn người xuất gia, không sống nương tựa (ái dục), ít mong muốn, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Nidhāya daṇḍaṁ bhūtesu, tasesu thāvaresu ca; Yo na hanti na ghāteti, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve laid aside violence against creatures firm and frail; not killing or making others kill: that’s who I declare a brahmin.
Người đã đặt hình phạt xuống đối với các chúng sinh, cả loài run sợ lẫn loài vững vàng, người không tự mình giết, không bảo người khác giết, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Aviruddhaṁ viruddhesu, attadaṇḍesu nibbutaṁ; Sādānesu anādānaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Not fighting among those who fight, quenched among those who have taken up arms, not grasping among those who grasp: that’s who I declare a brahmin.
Người không chống đối giữa những người chống đối, tịch tịnh giữa những người cầm hình phạt, không chấp thủ giữa những người chấp thủ, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yassa rāgo ca doso ca, māno makkho ca ohito; Sāsaporiva āraggā, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve discarded greed and hate, along with conceit and contempt, like a mustard seed off the point of a pin: that’s who I declare a brahmin.
Người nào mà tham, sân, mạn, và phẫn đã rơi rụng, như hạt cải từ đầu mũi dùi, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Akakkasaṁ viññāpaniṁ, giraṁ saccaṁ udīraye; Yāya nābhisajje kiñci, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
The words they utter are polished, informative, and true, and don’t offend anyone: that’s who I declare a brahmin.
Người nào nói lên lời nói không thô lỗ, có thể hiểu được, chân thật, lời nói mà không làm ai tức giận, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yo ca dīghaṁ va rassaṁ vā, aṇuṁ thūlaṁ subhāsubhaṁ; Loke adinnaṁ nādeti, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They don’t steal anything in the world, long or short, tiny or huge, beautiful or ugly: that’s who I declare a brahmin.
Người nào ở đời không lấy của không cho, dù dài hay ngắn, nhỏ hay lớn, tốt hay xấu, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Āsā yassa na vijjanti, asmiṁ loke paramhi ca; Nirāsāsaṁ visaṁyuttaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They have no hope for this world or the next; with no need for hope, detached: that’s who I declare a brahmin.
Người nào không có những hy vọng ở đời này và đời sau, không còn hy vọng, đã được giải thoát, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yassālayā na vijjanti, aññāya akathaṅkathiṁ; Amatogadhaṁ anuppattaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They have no clinging, knowledge has freed them of indecision, they’ve arrived at the objective of freedom from death: that’s who I declare a brahmin.
Người nào không có những quyến luyến, do đã biết nên không còn hoài nghi, đã đạt đến và thâm nhập vào Bất tử, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yodhapuññañca pāpañca, ubho saṅgaṁ upaccagā; Asokaṁ virajaṁ suddhaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve escaped the chain of both good and bad deeds; sorrowless, stainless, pure: that’s who I declare a brahmin.
Người nào ở đây đã vượt qua cả hai sự dính mắc là phước và tội, không sầu muộn, không bụi bẩn, thanh tịnh, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Candaṁ va vimalaṁ suddhaṁ, vippasannaṁ anāvilaṁ; Nandībhavaparikkhīṇaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Pure as the spotless moon, clear and unclouded, they’ve ended relish for rebirth: that’s who I declare a brahmin.
Người như mặt trăng, không tỳ vết, trong sạch, trong sáng, không vẩn đục, đã đoạn tận hỷ và hữu, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yo imaṁ palipathaṁ duggaṁ, saṁsāraṁ mohamaccagā; Tiṇṇo pāraṅgato jhāyī, anejo akathaṅkathī; Anupādāya nibbuto, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve got past this grueling swamp of delusion, transmigration. Meditating in stillness, free of indecision, they have crossed over to the far shore. They’re quenched by not grasping: that’s who I declare a brahmin.
Người nào đã vượt qua con đường lầy lội, khó đi, luân hồi, và si mê này; đã vượt qua, đã đến bờ kia, là người thiền định, không dao động, không hoài nghi, không chấp thủ, đã tịch tịnh, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yodhakāme pahantvāna, anāgāro paribbaje; Kāmabhavaparikkhīṇaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve given up sensual pleasures, and have gone forth from lay life; they’ve ended rebirth in the sensual realm: that’s who I declare a brahmin.
Người nào ở đây, sau khi từ bỏ các dục, sống không nhà, đi du hành, đã đoạn tận dục và hữu, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yodhataṇhaṁ pahantvāna, anāgāro paribbaje; Taṇhābhavaparikkhīṇaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve given up craving, and have gone forth from lay life; they’ve ended craving to be reborn: that’s who I declare a brahmin.
Người nào ở đây, sau khi từ bỏ ái, sống không nhà, đi du hành, đã đoạn tận ái và hữu, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Hitvā mānusakaṁ yogaṁ, dibbaṁ yogaṁ upaccagā; Sabbayogavisaṁyuttaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve thrown off the human yoke, and slipped out of the heavenly yoke; unyoked from all yokes: that’s who I declare a brahmin.
Người đã từ bỏ ách của loài người, đã vượt qua ách của chư thiên, đã giải thoát khỏi tất cả các ách, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Hitvā ratiñca aratiṁ, sītībhūtaṁ nirūpadhiṁ; Sabbalokābhibhuṁ vīraṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Giving up desire and discontent, they’re cooled and free of attachments; a hero, master of the whole world: that’s who I declare a brahmin.
Người đã từ bỏ sự ưa thích và không ưa thích, đã trở nên mát mẻ, không còn sinh y, bậc anh hùng đã chinh phục tất cả thế gian, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Cutiṁ yo vedi sattānaṁ, upapattiñca sabbaso; Asattaṁ sugataṁ buddhaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They know the passing away and rebirth of all beings; unattached, holy, awakened: that’s who I declare a brahmin.
Người nào biết một cách toàn diện sự chết và sự sinh của các chúng sinh, không dính mắc, bậc Thiện Thệ, bậc Giác Ngộ, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yassa gatiṁ na jānanti, devā gandhabbamānusā; Khīṇāsavaṁ arahantaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Gods, centaurs, and humans don’t know their destiny; the perfected ones with defilements ended: that’s who I declare a brahmin.
Người nào mà cảnh giới (sau khi chết) chư thiên, càn-thát-bà, và loài người không biết được, bậc đã tận trừ các lậu hoặc, bậc A-la-hán, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yassa pure ca pacchā ca, majjhe ca natthi kiñcanaṁ; Akiñcanaṁ anādānaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They have nothing before or after, or even in between. Having nothing, taking nothing: that’s who I declare a brahmin.
Người nào không có chướng ngại ở phía trước, phía sau, và ở giữa, không chướng ngại, không chấp thủ, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Usabhaṁ pavaraṁ vīraṁ, mahesiṁ vijitāvinaṁ; Anejaṁ nhātakaṁ buddhaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Captain of the herd, excellent hero, great seer and victor; unstirred, washed, awakened: that’s who I declare a brahmin.
“Bậc dũng mãnh như bò đầu đàn, bậc tối thượng, bậc tinh cần, bậc đại sĩ đã chiến thắng, không còn ái dục, đã gột sạch phiền não, bậc giác ngộ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.”
Pubbenivāsaṁ yo vedi, saggāpāyañca passati; Atho jātikkhayaṁ patto, tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They who know their past lives, see heaven and places of loss, and have attained the end of rebirth: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào biết được các kiếp quá khứ, thấy được cõi trời và cõi khổ, lại đã đạt đến sự đoạn tận tái sanh, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.”
Samaññā hesā lokasmiṁ, nāmagottaṁ pakappitaṁ; Sammuccā samudāgataṁ, tattha tattha pakappitaṁ.
For name and clan are formulated as mere convention in the world. Produced by mutual agreement, they’re formulated in each case.
“Này, danh và họ được đặt ra trong thế gian này chỉ là tên gọi. Nó phát sanh do quy ước, được đặt ra ở nơi này nơi kia.”
Dīgharattānusayitaṁ, diṭṭhigatamajānataṁ; Ajānantā no pabrunti, jātiyā hoti brāhmaṇo.
For a long time this misconception has prejudiced those who don’t understand. Ignorant, they declare that one is a brahmin by birth.
“Tà kiến này đã ngủ ngầm từ lâu trong tâm của những người không biết. Do không biết, họ nói rằng: ‘Người ấy là Bà-la-môn do dòng dõi’.”
Na jaccā brāhmaṇo hoti, na jaccā hoti abrāhmaṇo; Kammunā brāhmaṇo hoti, kammunā hoti abrāhmaṇo.
You’re not a brahmin by birth, nor by birth a non-brahmin. You’re a brahmin by your deeds, and by deeds a non-brahmin.
“Không phải do dòng dõi mà thành Bà-la-môn, không phải do dòng dõi mà thành người không phải Bà-la-môn. Do hành động mà thành Bà-la-môn, do hành động mà thành người không phải Bà-la-môn.”
Kassako kammunā hoti, sippiko hoti kammunā; Vāṇijo kammunā hoti, pessako hoti kammunā.
You’re a farmer by your deeds, by deeds you’re a professional; you’re a trader by your deeds, by deeds are you a servant;
“Do hành động mà thành nông dân, do hành động mà thành thợ thủ công. Do hành động mà thành thương gia, do hành động mà thành người phục vụ.”
Coropi kammunā hoti, yodhājīvopi kammunā; Yājako kammunā hoti, rājāpi hoti kammunā.
you’re a bandit by your deeds, by deeds you’re a warrior; you’re a sacrificer by your deeds, by deeds you’re a ruler.
“Cũng do hành động mà thành kẻ trộm, cũng do hành động mà thành người lính. Do hành động mà thành người tế tự, cũng do hành động mà thành vua.”
Evametaṁ yathābhūtaṁ, kammaṁ passanti paṇḍitā; Paṭiccasamuppādadassā, kammavipākakovidā.
In this way the astute regard deeds in accord with truth. Seeing dependent origination, they’re expert in deeds and their results.
“Như vậy, các bậc hiền trí, những người thấy lý duyên khởi và thông thạo về nghiệp và quả của nghiệp, thấy được hành động này đúng như thật.”
Kammunā vattati loko, kammunā vattati pajā; Kammanibandhanā sattā, rathassāṇīva yāyato.
Deeds make the world go on, deeds make people go on; sentient beings are bound by deeds, like a moving chariot’s linchpin.
“Thế gian vận hành do nghiệp, chúng sanh vận hành do nghiệp. Chúng sanh bị trói buộc bởi nghiệp, như cái chốt của cỗ xe đang chạy.”
Tapena brahmacariyena, saṁyamena damena ca; Etena brāhmaṇo hoti, etaṁ brāhmaṇamuttamaṁ.
By fervor and spiritual practice, by restraint and by self-control: that’s how to become a brahmin, this is the supreme brahmin.
“Do khổ hạnh và phạm hạnh, do sự tự chế và sự điều phục. Do những điều này mà thành Bà-la-môn, đây là Bà-la-môn tối thượng.”
Tīhi vijjāhi sampanno, santo khīṇapunabbhavo; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, brahmā sakko vijānatan”ti.
Accomplished in the three knowledges, peaceful, with rebirth ended, know them, Vāseṭṭha, as the Divinity and Sakka to the wise.”
“Này Vāseṭṭha, hãy biết như vầy: Người nào đầy đủ ba minh, tịch tịnh, đã đoạn tận tái sanh, đối với người hiểu biết, vị ấy là Phạm thiên, là Đế-thích.”
Evaṁ vutte, vāseṭṭhabhāradvājā māṇavā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gate”ti.
When he had spoken, Vāseṭṭha and Bhāradvāja said to him, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
461. Khi được nói như vậy, các thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja bạch với Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng như người ta có thể lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm cận sự nam, những người đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.’”
Vāseṭṭhasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Vāseṭṭha, kinh thứ tám, chấm dứt.