- Majjhima Nikāya 96
Esukārīsutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Esukārīsutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá Vệ), rừng Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Rồi Bà-la-môn Esukari đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, và sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên, ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Esukari bạch Thế Tôn
SC 3—Thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương bốn loại phụng sự: chủ trương phụng sự cho Bà-la-môn, chủ trương phụng sự cho Sát-đế-lỵ (Khattiya), chủ trương phụng sự cho Phệ-xá (Vessa: người buôn bán), chủ trương phụng sự cho Thủ-đà (Sudda: lao công). Ở đây, thưa Tổn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương phụng sự cho Bà-la-môn như sau: Bà-la-môn phụng sự cho Bà-la-môn; hay Khattiya phụng sự cho Bà-la-môn; hay Vessa phụng sự cho Bà-la-môn, hay Sudda phụng sự cho Bà-la-môn. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương phụng sự cho Bà-la-môn. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương phụng sự cho Khattiya như sau: Khattiya phụng sự cho Khattiya; hay Vessa phụng sự cho Khattiya; hay Sudda phụng sự cho Khattiya. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương phụng sự cho Khattiya. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương phụng sự cho Vessa như sau: Vessa phụng sự cho Vessa; hay Sudda phụng sự cho Vessa. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương phụng sự cho Vessa. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương phụng sự cho Sudda như sau: Sudda phụng sự cho Sudda. Vì rằng không còn ai khác có thể phụng sự cho Sudda. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương phụng sự cho Sudda. Thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương bốn loại phụng sự này. Ở đây, Tôn giả Gotama có nói gì về vấn đề này?
SC 4—Nhưng này các Bà-la-môn, có phải tất cả mọi người ở đời đồng ý với các Bà-la-môn khi họ chủ trương bốn loại phụng sự này?
SC 5—Không có vậy, thưa Tôn giả Gotama.
SC 6—Này Bà-la-môn, ví như một người nghèo nàn, không có sở hữu, khốn khổ, dầu cho người đó không muốn, vẫn bị bắt nuốt miếng thịt: “Này người kia, Ông phải ăn miếng thịt này và Ông phải trả một số tiền”. Cũng vậy, này Bà-la-môn, dầu không được các Sa-môn, Bà-la-môn ấy chấp nhận, các Bà-la-môn chủ trương bốn loại phụng sự này.
SC 7Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng, tất cả cần phải phụng sự. Nhưng này Bà-la-môn, Ta cũng không nói rằng, tất cả không cần phải phụng sự. Vì rằng, này Bà-la-môn, nếu có ai trong khi phụng sự, trở thành xấu hơn, không trở thành tốt hơn, Ta không nói rằng, người đó cần phải phụng sự. Nhưng này Bà-la-môn, nếu có ai trong khi phụng sự, trở thành tốt hơn, không trở thành xấu hơn. Ta nói rằng, người đó cần phải phụng sự.
SC 8Và nếu này Bà-la-môn, có người hỏi vị Khattiya như sau: “Người phụng sự cho Ông, do nguyên nhân phụng sự này trở thành xấu hơn, không trở thành tốt hơn; hay người phụng sự cho Ông, do nguyên nhân phụng sự này trở thành tốt hơn, không trở thành xấu hơn? Và như vậy, Ông ở đây cần phải được phụng sự bởi người nào?” Vị Khattiya, này Bà-la-môn, nếu trả lời chân chánh cần phải đáp như sau: “Người nào phụng sự tôi, do nguyên nhân phụng sự này trở thành xấu hơn, không tốt hơn, thì tôi không cần người ấy phụng sự tôi. Nhưng nếu người nào phụng sự tôi, do nguyên nhân phụng sự này trở thành tốt hơn, không xấu hơn, thì tôi cần người ấy phụng sự tôi”.
SC 9Và này Bà-la-môn, nếu có người hỏi Bà-la-môn … Này Bà-la-môn, nếu có người hỏi Vessa … và này Bà-la-môn, nếu có người hỏi Sudda như sau: “Người phụng sự cho ông, do nguyên nhân phụng sự này trở thành xấu hơn, không trở thành tốt hơn; hay người phụng sự cho ông, do nguyên nhân phụng sự này trở thành tốt hơn, không trở thành xấu hơn? Và như vậy, ông ở đây cần phải được phụng sự bởi người nào?” Người Sudda, này Bà-la-môn, nếu trả lời chơn chánh cần phải đáp như sau: “Người nào phụng sự tôi, do nguyên nhân phụng sự này trở thành xấu hơn, không tốt hơn, thì tôi không cần người ấy phụng sự tôi. Nhưng nếu người nào phụng sự tôi, do nguyên nhân phụng sự này trở thành tốt hơn, không xấu hơn, thì tôi cần người ấy phụng sự tôi”.
SC 10Này Bà-la-môn, Ta không nói tốt hơn vì sanh trong một gia đình cao quý. Này Bà-la-môn, Ta không nói xấu hơn vì sanh trong một gia đình cao quý. Này Bà-la-môn, Ta không nói tốt hơn vì nhan sắc thù thắng. Này Bà-la-môn, Ta không nói xấu hơn vì nhan sắc thù thắng. Này Bà-la-môn, Ta không nói tốt hơn vì tài sản thù thắng. Này Bà-la-môn, Ta không nói xấu hơn vì tài sản thù thắng.
SC 11Ở đây, này Bà-la-môn, có người sanh trong một gia đình cao quý, sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến. Do vậy, Ta không nói tốt hơn vì sanh trong một gia đình cao quý. Ở đây, này Bà-la-môn có người sanh trong một gia đình cao quý từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến. Do vậy, Ta không nói trở thành xấu hơn vì sanh trong gia đình cao quý.
SC 12Ở đây, này Bà-la-môn, có người với nhan sắc thù thắng … Ở đây, này Bà-la-môn, có người với tài sản thù thắng, sát sanh, lấy của không cho … có tà kiến. Do vậy, Ta không nói trở thành tốt hơn vì có tài sản thù thắng. Ở đây, này Bà-la-môn, có người với tài sản thù thắng từ bỏ sát sanh … có chánh kiến. Do vậy, Ta không nói trở thành xấu hơn vì có tài sản thù thắng.
SC 13Này Bà-la-môn, Ta không nói tất cả cần phải phụng sự. Nhưng này Bà-la-môn, Ta cũng không nói tất cả không cần phải phụng sự. Này Bà-la-môn, người nào phụng sự, do nguyên nhân phụng sự này, lòng tin được tăng trưởng, giới được tăng trưởng, sự nghe được tăng trưởng, bố thí được tăng trưởng, trí tuệ được tăng trưởng, Ta nói người ấy cần phải phụng sự.
SC 14Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Esukari bạch Thế Tôn
SC 15—Thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương bốn loại tài sản, chủ trương tài sản của người Bà-la-môn, chủ trương tài sản của người Khattiya, chủ trương tài sản của người Vessa, chủ trương tài sản của người Sudda.
SC 16Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương tài sản của Bà-la-môn là khất thực. Nhưng khi người Bà-la-môn khinh thường tài sản khất thực, người ấy không làm bổn phận của mình và giống như người chăn bò lấy của không cho. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương tài sản của Bà-la-môn. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương tài sản của Khattiya là cung và tên. Nhưng khi người Khattiya khinh thường tài sản cung và tên, người ấy không làm bổn phận của mình, và giống như người chăn bò lấy của không cho. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương tài sản của Khattiya. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương tài sản của Vessa là canh nông và nuôi bò. Nhưng khi người Vessa khinh thường tài sản canh nông và nuôi bò, người ấy không làm bổn phận của mình, và giống như người chăn bò lấy của không cho. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương tài sản của Vessa. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn chủ trương tài sản của Sudda là lưỡi liềm và đòn gánh. Nhưng khi người Sudda khinh thường tài sản lưỡi liềm và đòn gánh, người ấy không làm bổn phận của mình và giống như người chăn bò lấy của không cho. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn, chủ trương tài sản của người Sudda. Các Bà-la-môn, thưa Tôn giả Gotama, chủ trương bốn loại tài sản này. Ở đây, Tôn giả Gotama nói gì về vấn đề này?
SC 17—Này Bà-la-môn, có phải tất cả mọi người ở đây đồng ý với các Bà-la-môn khi họ chủ trương bốn loại tài sản này?
SC 18—Không có vậy, thưa Tôn giả Gotama.
SC 19—Này Bà-la-môn, ví như một người nghèo nàn, không có sở hữu, khốn khổ, dầu cho người đó không muốn, vẫn bị bắt nuốt miếng thịt: “Này người kia, Ông phải ăn miếng thịt này và Ông phải trả một số tiền”. Cũng vậy, này Bà-la-môn, dầu không được các Bà-la-môn, Sa-môn ấy chấp nhận, các Bà-la-môn vẫn chủ trương bốn loại tài sản này. Này Bà-la-môn, Ta chủ trương tài sản cho con người là Thánh pháp vô thượng. Trong khi nhớ đến gia hệ thuở xưa của mình về phía cha và mẹ, chỗ nào một tự thể sanh ra, thời sẽ được chấp nhận tùy thuộc chỗ ấy. Nếu tự thể được sanh ra trong một gia đình Khattiya, thời được chấp nhận là Khattiya. Nếu tự thể được sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn, thời được chấp nhận là Bà-la-môn. Nếu tự thể được sanh ra trong một gia đình Vessa, thời được chấp nhận là Vessa. Nếu tự thể được sanh ra trong một gia đình Sudda, thời được chấp nhận là Sudda. Này Bà-la-môn, như tùy thuộc duyên gì một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa được chấp nhận theo duyên ấy. Nếu do duyên củi, một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa ấy được chấp nhận là lửa củi. Nếu do duyên dăm bào, một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa ấy được chấp nhận là lửa dăm bào. Nếu do duyên cỏ, một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa ấy được chấp nhận là lửa cỏ. Nếu do duyên phân bò, một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa ấy được chấp nhận là lửa phân bò. Cũng vậy, này Bà-la-môn, Ta chủ trương tài sản cho con người là Thánh pháp vô thượng. Trong khi nhớ đến gia hệ thuở xưa của mình về phía cha và mẹ, chỗ nào một tự thể sanh ra, thời sẽ được chấp nhận tùy thuộc chỗ ấy. Nếu tự thể được sanh ra trong một gia đình Khattiya, thời được chấp nhận là Khattiya. Nếu tự thể được sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn … trong một gia đình Vessa … trong một gia đình Sudda, thời được chấp nhận là Sudda.
SC 20Nhưng này Bà-la-môn, nếu một người từ một gia đình Khattiya xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình nhờ Pháp và Luật được Như Lai tuyên thuyết, người ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, người ấy thành tựu chánh đạo, thiện pháp.
SC 21Này Bà-la-môn, nếu một người từ một gia đình Bà-la-môn … từ một gia đình Vessa … từ một gia đình Sudda xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhờ Pháp và Luật được Như Lai tuyên thuyết, người ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho … có chánh kiến, người ấy thành tựu chánh đạo, thiện pháp.
SC 22Này Bà-la-môn, ông nghĩ thế nào? Trong lập trường này, chỉ có người Bà-la-môn mới có thể tu tập từ tâm, không hận, không sân; người Khattiya không có thể được, người Vessa không có thể được, người Sudda không có thể được?
SC 23—Thưa không phải vậy, Tôn giả Gotama. Người Khattiya, thưa Tôn giả Gotama, cũng có thể trong lập trường này, tu tập từ tâm, không hận, không sân. Người Bà-la-môn cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama; người Vessa cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama; người Sudda cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, thưa Tôn giả Gotama, trong lập trường này đều có thể tu tập từ tâm, không hận, không sân.
SC 24—Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu một người từ gia đình Khattiya, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, người ấy nhờ Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh … có chánh kiến, người ấy thành tựu chánh đạo, thiện pháp. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có người Bà-la-môn mới có thể lấy cào lưng và bột tắm, đi đến sông, và tắm rửa cho sạch đất và bụi; người Khattiya không thể được; người Vessa không thể được; người Sudda không thể được?
SC 25—Thưa không phải vậy, Tôn giả Gotama. Người Khattiya, thưa Tôn giả Gotama, cũng có thể lấy cào lưng và bột tắm, đi đến sông và tắm rửa cho sạch đất và bụi, người Bà-la-môn cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama; người Vessa cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama; người Sudda cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, thưa Tôn giả Gotama, đều có thể lấy cào lưng và bột tắm đi đến sông và tắm rửa cho sạch đất và bụi.
SC 26—Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu từ một gia đình Khattiya, có người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, người này nhờ Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh … có chánh kiến, người ấy được xem là thành tựu chánh đạo, thiện pháp. Này Bà-la-môn, nếu một người từ gia đình Bà-la-môn; này Bà-la-môn, nếu một người từ gia đình Vessa; này Bà-la-môn, nếu một người từ gia đình Sudda, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, người ấy nhờ Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh … có chánh kiến, người ấy được xem là thành tựu chánh đạo, thiện pháp.
SC 27Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, nếu có vị vua Khattiya đã làm lễ quán đảnh, cho hội họp một trăm người thuộc nhiều chủng tánh khác nhau và nói: “Quý vị hãy đến đây, quý vị nào thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn, sanh ra từ hoàng tộc, hãy đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, bằng cây saka, hay cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, quay cho bật lửa và sức nóng hiện ra. Còn những người thuộc gia đình Chiên-đà-la (hạ tiện), thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình đổ phân, hãy đến đây, đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y-la (elanda: cây thu đủ thầu dầu), và quay cho bật lửa và sức nóng hiện ra”. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Có phải chỉ có ngọn lửa được nhen lên và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn, sanh từ hoàng tộc, sau khi đem đến bộ phận của đồ quay lửa, làm bằng cây saka, hay cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, chỉ có lửa ấy mới có ngọn, mới có màu sắc, mới có ánh sáng, và chỉ có ngọn lửa ấy mới dùng được vào các công việc do lửa đem lại; còn ngọn lửa được nhen lên và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình hạ tiện, thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình đổ phân, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y-lan, lửa ấy không có ngọn, không có màu sắc, không có ánh sáng, và ngọn lửa ấy không có thể dùng được vào các công việc do lửa đem lại?
SC 28—Không phải vậy, thưa Tôn giả Gotama. Ngọn lửa được nhen lên, sức nóng được tạo ra, thưa Tôn giả Gotama, từ người thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn, sanh từ hoàng tộc, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng cây saka hay cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, ngọn lửa ấy có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, ngọn lửa ấy dùng được vào các công việc do lửa đem lại; còn ngọn lửa được nhen lên, và sức nóng tạo ra từ người thuộc gia đình hạ tiện, thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình đổ phân, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y-lan, lửa ấy cũng có ngọn, cũng có màu sắc, cũng có ánh sáng, và ngọn lửa ấy có thể dùng được vào các công việc do lửa đem lại. Thưa Tôn giả Gotama, tất cả ngọn lửa đều có ngọn, đều có màu sắc, đều có ánh sáng, tất cả loại lửa đều có thể dùng được vào các công việc do lửa đem lại.
SC 29—Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu có người từ gia đình Khattiya xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhờ Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, người ấy từ bỏ sát sanh … có chánh kiến, người ấy được xem là thành tựu chánh đạo, thiện pháp. Nếu có người từ gia đình Bà-la-môn … Nếu có người từ gia đình Vessa … Nếu có người từ gia đình Sudda, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhờ Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, người ấy từ bỏ sát sanh … có chánh kiến, người ấy được xem là thành tựu chánh đạo, thiện pháp.
SC 30Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Esukari bạch Thế Tôn
SC 31—Thật vi diệu thay, tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Thưa Tôn giả Gotama, nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 18–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Esukārī
Atha kho esukārī brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho esukārī brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“brāhmaṇā, bho gotama, catasso pāricariyā paññapenti—brāhmaṇassa pāricariyaṁ paññapenti, khattiyassa pāricariyaṁ paññapenti, vessassa pāricariyaṁ paññapenti, suddassa pāricariyaṁ paññapenti. Tatridaṁ, bho gotama, brāhmaṇā brāhmaṇassa pāricariyaṁ paññapenti: ‘brāhmaṇo vā brāhmaṇaṁ paricareyya, khattiyo vā brāhmaṇaṁ paricareyya, vesso vā brāhmaṇaṁ paricareyya, suddo vā brāhmaṇaṁ paricareyyā’ti. Idaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā brāhmaṇassa pāricariyaṁ paññapenti. Tatridaṁ, bho gotama, brāhmaṇā khattiyassa pāricariyaṁ paññapenti: ‘khattiyo vā khattiyaṁ paricareyya, vesso vā khattiyaṁ paricareyya, suddo vā khattiyaṁ paricareyyā’ti. Idaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā khattiyassa pāricariyaṁ paññapenti. Tatridaṁ, bho gotama, brāhmaṇā vessassa pāricariyaṁ paññapenti: ‘vesso vā vessaṁ paricareyya, suddo vā vessaṁ paricareyyā’ti. Idaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā vessassa pāricariyaṁ paññapenti. Tatridaṁ, bho gotama, brāhmaṇā suddassa pāricariyaṁ paññapenti: ‘suddova suddaṁ paricareyya. Ko panañño suddaṁ paricarissatī’ti? Idaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā suddassa pāricariyaṁ paññapenti. Brāhmaṇā, bho gotama, imā catasso pāricariyā paññapenti. Idha bhavaṁ gotamo kimāhā”ti?
“Kiṁ pana, brāhmaṇa, sabbo loko brāhmaṇānaṁ etadabbhanujānāti: ‘imā catasso pāricariyā paññapentū’”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Seyyathāpi, brāhmaṇa, puriso daliddo assako anāḷhiyo. Tassa akāmassa bilaṁ olaggeyyuṁ: ‘idaṁ te, ambho purisa, maṁsaṁ khāditabbaṁ, mūlañca anuppadātabban’ti. Evameva kho, brāhmaṇa, brāhmaṇā appaṭiññāya tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ, atha ca panimā catasso pāricariyā paññapenti.
Nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘sabbaṁ paricaritabban’ti vadāmi; nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘sabbaṁ na paricaritabban’ti vadāmi.
Then Esukārī the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, the brahmins prescribe four kinds of service: for a brahmin, an aristocrat, a peasant, and a menial. This is the service they prescribe for a brahmin: ‘A brahmin, an aristocrat, a peasant, and a menial may all serve a brahmin.’ This is the service they prescribe for an aristocrat: ‘An aristocrat, a peasant, and a menial may all serve an aristocrat.’ This is the service they prescribe for a peasant: ‘A peasant or a menial may serve a peasant.’ This is the service they prescribe for a menial: ‘Only a menial may serve a menial. For who else will serve a menial?’ These are the four kinds of service that the brahmins prescribe. What do you say about this?”
“But brahmin, did the whole world authorize the brahmins to prescribe these four kinds of service?”
“No, worthy Gotama.”
“It’s as if they were to force a chop on a poor, penniless person, telling them, ‘Eat this meat and pay for it!’ In the same way, the brahmins have prescribed these four kinds of service without the consent of those ascetics and brahmins.
Brahmin, I don’t say that you should serve everyone, nor do I say that you shouldn’t serve anyone.
436. Tôi nghe như vầy. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, vị Bà-la-môn tên là Esukārī đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng đức Thế Tôn nói lên lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn Esukārī bạch với đức Thế Tôn điều này: “Thưa tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn quy định bốn loại phục vụ: họ quy định sự phục vụ đối với người Bà-la-môn, họ quy định sự phục vụ đối với người Sát-đế-lỵ, họ quy định sự phục vụ đối với người Phệ-xá, họ quy định sự phục vụ đối với người Thủ-đà-la. Trong đó, thưa tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn quy định sự phục vụ đối với người Bà-la-môn như sau: ‘Hoặc người Bà-la-môn nên phục vụ người Bà-la-môn, hoặc người Sát-đế-lỵ nên phục vụ người Bà-la-môn, hoặc người Phệ-xá nên phục vụ người Bà-la-môn, hoặc người Thủ-đà-la nên phục vụ người Bà-la-môn.’ Thưa tôn giả Gotama, đây là sự phục vụ đối với người Bà-la-môn mà các vị Bà-la-môn đã quy định. Trong đó, thưa tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn quy định sự phục vụ đối với người Sát-đế-lỵ như sau: ‘Hoặc người Sát-đế-lỵ nên phục vụ người Sát-đế-lỵ, hoặc người Phệ-xá nên phục vụ người Sát-đế-lỵ, hoặc người Thủ-đà-la nên phục vụ người Sát-đế-lỵ.’ Thưa tôn giả Gotama, đây là sự phục vụ đối với người Sát-đế-lỵ mà các vị Bà-la-môn đã quy định. Trong đó, thưa tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn quy định sự phục vụ đối với người Phệ-xá như sau: ‘Hoặc người Phệ-xá nên phục vụ người Phệ-xá, hoặc người Thủ-đà-la nên phục vụ người Phệ-xá.’ Thưa tôn giả Gotama, đây là sự phục vụ đối với người Phệ-xá mà các vị Bà-la-môn đã quy định. Trong đó, thưa tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn quy định sự phục vụ đối với người Thủ-đà-la như sau: ‘Chỉ người Thủ-đà-la nên phục vụ người Thủ-đà-la. Còn ai khác sẽ phục vụ người Thủ-đà-la chứ?’ Thưa tôn giả Gotama, đây là sự phục vụ đối với người Thủ-đà-la mà các vị Bà-la-môn đã quy định. Thưa tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn quy định bốn loại phục vụ này. Về vấn đề này, tôn giả Gotama nói như thế nào?”
Khattiyañcepi, brāhmaṇa, evaṁ puccheyyuṁ: ‘yaṁ vā te paricarato pāricariyāhetu pāpiyo assa na seyyo, yaṁ vā te paricarato pāricariyāhetu seyyo assa na pāpiyo; kamettha paricareyyāsī’ti, khattiyopi hi, brāhmaṇa, sammā byākaramāno evaṁ byākareyya: ‘yañhi me paricarato pāricariyāhetu pāpiyo assa na seyyo, nāhaṁ taṁ paricareyyaṁ; yañca kho me paricarato pāricariyāhetu seyyo assa na pāpiyo tamahaṁ paricareyyan’ti.
Brāhmaṇañcepi, brāhmaṇa …pe… vessañcepi, brāhmaṇa …pe… suddañcepi, brāhmaṇa, evaṁ puccheyyuṁ: ‘yaṁ vā te paricarato pāricariyāhetu pāpiyo assa na seyyo, yaṁ vā te paricarato pāricariyāhetu seyyo assa na pāpiyo; kamettha paricareyyāsī’ti, suddopi hi, brāhmaṇa, sammā byākaramāno evaṁ byākareyya: ‘yañhi me paricarato pāricariyāhetu pāpiyo assa na seyyo, nāhaṁ taṁ paricareyyaṁ; yañca kho me paricarato pāricariyāhetu seyyo assa na pāpiyo tamahaṁ paricareyyan’ti.
Nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uccākulīnatā seyyaṁso’ti vadāmi, na panāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uccākulīnatā pāpiyaṁso’ti vadāmi; nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uḷāravaṇṇatā seyyaṁso’ti vadāmi, na panāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uḷāravaṇṇatā pāpiyaṁso’ti vadāmi; nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uḷārabhogatā seyyaṁso’ti vadāmi, na panāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uḷārabhogatā pāpiyaṁso’ti vadāmi.
If they were to ask an aristocrat this, ‘Who should you serve? Someone in whose service you get worse, or someone in whose service you get better?’ Answering rightly, an aristocrat would say, ‘Someone in whose service I get better.’
If they were to ask a brahmin … a peasant … or a menial this, ‘Who should you serve? Someone in whose service you get worse, or someone in whose service you get better?’ Answering rightly, a menial would say, ‘Someone in whose service I get better.’
Brahmin, I don’t say that an eminent family makes you a better or worse person. I don’t say that exceptional beauty makes you a better or worse person. I don’t say that exceptional wealth makes you a better or worse person.
437. “Này Bà-la-môn, có phải toàn thể thế gian này đều chấp thuận cho các Bà-la-môn quy định bốn loại phục vụ này không?” “Thưa không, Tôn giả Gotama.” “Này Bà-la-môn, ví như một người nghèo khó, không tài sản, không của cải. Người ta có thể treo một miếng thịt cho người ấy dù người ấy không muốn và nói: ‘Này ông kia, ông phải ăn miếng thịt này và phải trả tiền.’ Cũng vậy, này Bà-la-môn, các Bà-la-môn đã quy định bốn loại phục vụ này cho các Sa-môn, Bà-la-môn kia mà không có sự đồng ý của họ. Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: ‘Nên phục vụ tất cả mọi người.’ Này Bà-la-môn, Ta cũng không nói rằng: ‘Không nên phục vụ tất cả mọi người.’ Này Bà-la-môn, đối với người nào, khi phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy mà người phục vụ trở nên xấu đi, không tốt hơn, Ta nói rằng người ấy ‘không nên được phục vụ’. Và này Bà-la-môn, đối với người nào, khi phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy mà người phục vụ trở nên tốt hơn, không xấu đi, Ta nói rằng người ấy ‘nên được phục vụ’. Này Bà-la-môn, nếu người ta hỏi một vị Sát-đế-lỵ như sau: ‘Có một người mà khi ông phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy ông trở nên xấu đi, không tốt hơn; và có một người mà khi ông phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy ông trở nên tốt hơn, không xấu đi. Trong hai người này, ông sẽ phục vụ ai?’, này Bà-la-môn, vị Sát-đế-lỵ ấy, nếu trả lời một cách đúng đắn, sẽ trả lời như sau: ‘Đối với người nào, khi tôi phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy mà tôi trở nên xấu đi, không tốt hơn, tôi sẽ không phục vụ người ấy. Và đối với người nào, khi tôi phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy mà tôi trở nên tốt hơn, không xấu đi, tôi sẽ phục vụ người ấy.’ Này Bà-la-môn, nếu người ta hỏi một vị Bà-la-môn... (lược)... nếu người ta hỏi một vị Phệ-xá... (lược)... nếu người ta hỏi một vị Thủ-đà-la như sau: ‘Có một người mà khi ông phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy ông trở nên xấu đi, không tốt hơn; và có một người mà khi ông phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy ông trở nên tốt hơn, không xấu đi. Trong hai người này, ông sẽ phục vụ ai?’, này Bà-la-môn, vị Thủ-đà-la ấy, nếu trả lời một cách đúng đắn, sẽ trả lời như sau: ‘Đối với người nào, khi tôi phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy mà tôi trở nên xấu đi, không tốt hơn, tôi sẽ không phục vụ người ấy. Và đối với người nào, khi tôi phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy mà tôi trở nên tốt hơn, không xấu đi, tôi sẽ phục vụ người ấy.’ Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: ‘Do dòng dõi cao quý mà trở nên cao thượng hơn.’ Này Bà-la-môn, Ta cũng không nói rằng: ‘Do dòng dõi cao quý mà trở nên thấp kém hơn.’ Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: ‘Do dung sắc xinh đẹp mà trở nên cao thượng hơn.’ Này Bà-la-môn, Ta cũng không nói rằng: ‘Do dung sắc xinh đẹp mà trở nên thấp kém hơn.’ Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: ‘Do tài sản giàu có mà trở nên cao thượng hơn.’ Này Bà-la-môn, Ta cũng không nói rằng: ‘Do tài sản giàu có mà trở nên thấp kém hơn.’
Uccākulīnopi hi, brāhmaṇa, idhekacco pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pisuṇāvāco hoti, pharusāvāco hoti, samphappalāpī hoti, abhijjhālu hoti, byāpannacitto hoti, micchādiṭṭhi hoti. Tasmā ‘na uccākulīnatā seyyaṁso’ti vadāmi.
Uccākulīnopi hi, brāhmaṇa, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti, anabhijjhālu hoti, abyāpannacitto hoti, sammādiṭṭhi hoti. Tasmā ‘na uccākulīnatā pāpiyaṁso’ti vadāmi.
For some people from eminent families kill living creatures, steal, and commit sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re covetous, malicious, with wrong view. That’s why I don’t say that an eminent family makes you a better person.
But some people from eminent families also refrain from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct. They refrain from using speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical. And they’re content, kind-hearted, with right view. That’s why I don’t say that an eminent family makes you a worse person.
438. “Này Bà-la-môn, ở đây có người tuy thuộc dòng dõi cao quý nhưng lại sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, có lòng tham lam, có tâm sân hận, có tà kiến. Vì vậy, Ta nói rằng: ‘Không phải do dòng dõi cao quý mà trở nên cao thượng hơn.’ Này Bà-la-môn, ở đây cũng có người tuy thuộc dòng dõi cao quý nhưng lại từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có lòng tham lam, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Vì vậy, Ta nói rằng: ‘Không phải do dòng dõi cao quý mà trở nên thấp kém hơn.’”
Uḷāravaṇṇopi hi, brāhmaṇa … pe… uḷārabhogopi hi, brāhmaṇa, idhekacco pāṇātipātī hoti … pe… micchādiṭṭhi hoti. Tasmā ‘na uḷārabhogatā seyyaṁso’ti vadāmi. Uḷārabhogopi hi, brāhmaṇa, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhi hoti. Tasmā ‘na uḷārabhogatā pāpiyaṁso’ti vadāmi.
Nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘sabbaṁ paricaritabban’ti vadāmi, na panāhaṁ, brāhmaṇa, ‘sabbaṁ na paricaritabban’ti vadāmi. Yaṁ hissa, brāhmaṇa, paricarato pāricariyāhetu saddhā vaḍḍhati, sīlaṁ vaḍḍhati, sutaṁ vaḍḍhati, cāgo vaḍḍhati, paññā vaḍḍhati, tamahaṁ ‘paricaritabban’ti vadāmi. Yaṁ hissa, brāhmaṇa, paricarato pāricariyāhetu na saddhā vaḍḍhati, na sīlaṁ vaḍḍhati, na sutaṁ vaḍḍhati, na cāgo vaḍḍhati, na paññā vaḍḍhati, nāhaṁ taṁ ‘paricaritabban’ti vadāmī”ti.
And some people who are exceptionally beautiful … And some people who are exceptionally wealthy kill living creatures … and have wrong view. That’s why I don’t say that exceptional wealth makes you a better person. But some people who are exceptionally wealthy also refrain from killing living creatures … and have right view. That’s why I don’t say that any of these things makes you a better or worse person.
Brahmin, I don’t say that you should serve everyone, nor do I say that you shouldn’t serve anyone. And I say that you should serve someone if serving them makes you grow in faith, ethics, learning, generosity, and wisdom. I say that you shouldn’t serve someone if serving them doesn’t make you grow in faith, ethics, learning, generosity, and wisdom.”
439. “Này Bà-la-môn, người có dung sắc xinh đẹp cũng vậy... (lược)... Này Bà-la-môn, ở đây có người tuy có tài sản giàu có nhưng lại sát sanh... (lược)... có tà kiến. Vì vậy, Ta nói rằng: ‘Không phải do tài sản giàu có mà trở nên cao thượng hơn.’ Này Bà-la-môn, ở đây cũng có người tuy có tài sản giàu có nhưng lại từ bỏ sát sanh... (lược)... có chánh kiến. Vì vậy, Ta nói rằng: ‘Không phải do tài sản giàu có mà trở nên thấp kém hơn.’ Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: ‘Nên phục vụ tất cả mọi người.’ Này Bà-la-môn, Ta cũng không nói rằng: ‘Không nên phục vụ tất cả mọi người.’ Này Bà-la-môn, đối với người nào, khi phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy mà tín tăng trưởng, giới tăng trưởng, văn tăng trưởng, thí tăng trưởng, tuệ tăng trưởng, Ta nói rằng người ấy ‘nên được phục vụ’. Đối với người nào, khi phục vụ, do nhân duyên phục vụ ấy mà tín không tăng trưởng, giới không tăng trưởng, văn không tăng trưởng, thí không tăng trưởng, tuệ không tăng trưởng, Ta nói rằng người ấy ‘không nên được phục vụ’.”
Evaṁ vutte, esukārī brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“brāhmaṇā, bho gotama, cattāri dhanāni paññapenti—brāhmaṇassa sandhanaṁ paññapenti, khattiyassa sandhanaṁ paññapenti, vessassa sandhanaṁ paññapenti, suddassa sandhanaṁ paññapenti. Tatridaṁ, bho gotama, brāhmaṇā brāhmaṇassa sandhanaṁ paññapenti bhikkhācariyaṁ; bhikkhācariyañca pana brāhmaṇo sandhanaṁ atimaññamāno akiccakārī hoti gopova adinnaṁ ādiyamānoti. Idaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā brāhmaṇassa sandhanaṁ paññapenti. Tatridaṁ, bho gotama, brāhmaṇā khattiyassa sandhanaṁ paññapenti dhanukalāpaṁ; dhanukalāpañca pana khattiyo sandhanaṁ atimaññamāno akiccakārī hoti gopova adinnaṁ ādiyamānoti. Idaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā khattiyassa sandhanaṁ paññapenti. Tatridaṁ, bho gotama, brāhmaṇā vessassa sandhanaṁ paññapenti kasigorakkhaṁ; kasigorakkhañca pana vesso sandhanaṁ atimaññamāno akiccakārī hoti gopova adinnaṁ ādiyamānoti. Idaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā vessassa sandhanaṁ paññapenti. Tatridaṁ, bho gotama, brāhmaṇā suddassa sandhanaṁ paññapenti asitabyābhaṅgiṁ; asitabyābhaṅgiñca pana suddo sandhanaṁ atimaññamāno akiccakārī hoti gopova adinnaṁ ādiyamānoti. Idaṁ kho, bho gotama, brāhmaṇā suddassa sandhanaṁ paññapenti. Brāhmaṇā, bho gotama, imāni cattāri dhanāni paññapenti. Idha bhavaṁ gotamo kimāhā”ti?
When he had spoken, Esukārī said to him:
“Worthy Gotama, the brahmins prescribe four kinds of wealth: for a brahmin, an aristocrat, a peasant, and a menial. The wealth they prescribe for a brahmin is living on alms. A brahmin who scorns his own wealth, living on alms, fails in his duty like a guard who steals. The wealth they prescribe for an aristocrat is the bow and quiver. An aristocrat who scorns his own wealth, the bow and quiver, fails in his duty like a guard who steals. The wealth they prescribe for a peasant is farming and animal husbandry. A peasant who scorns his own wealth, farming and animal husbandry, fails in his duty like a guard who steals. The wealth they prescribe for a menial is the scythe and flail. A menial who scorns his own wealth, the scythe and flail, fails in his duty like a guard who steals. These are the four kinds of wealth that the brahmins prescribe. What do you say about this?”
440. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Esukārī bạch với Đức Thế Tôn điều này: – Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn quy định bốn loại tài sản – họ quy định tài sản riêng của Bà-la-môn, họ quy định tài sản riêng của Sát-đế-lỵ, họ quy định tài sản riêng của Phệ-xá, họ quy định tài sản riêng của Thủ-đà-la. Tôn giả Gotama, trong số đó, các Bà-la-môn quy định việc khất thực là tài sản riêng của Bà-la-môn; và vị Bà-la-môn nào xem thường tài sản riêng là việc khất thực thì là người làm việc không nên làm, giống như người chăn bò lấy vật không được cho. Tôn giả Gotama, đây chính là tài sản riêng của Bà-la-môn mà các Bà-la-môn đã quy định. Tôn giả Gotama, trong số đó, các Bà-la-môn quy định cung và ống tên là tài sản riêng của Sát-đế-lỵ; và vị Sát-đế-lỵ nào xem thường tài sản riêng là cung và ống tên thì là người làm việc không nên làm, giống như người chăn bò lấy vật không được cho. Tôn giả Gotama, đây chính là tài sản riêng của Sát-đế-lỵ mà các Bà-la-môn đã quy định. Tôn giả Gotama, trong số đó, các Bà-la-môn quy định việc cày cấy và chăn nuôi là tài sản riêng của Phệ-xá; và vị Phệ-xá nào xem thường tài sản riêng là việc cày cấy và chăn nuôi thì là người làm việc không nên làm, giống như người chăn bò lấy vật không được cho. Tôn giả Gotama, đây chính là tài sản riêng của Phệ-xá mà các Bà-la-môn đã quy định. Tôn giả Gotama, trong số đó, các Bà-la-môn quy định liềm và đòn gánh là tài sản riêng của Thủ-đà-la; và vị Thủ-đà-la nào xem thường tài sản riêng là liềm và đòn gánh thì là người làm việc không nên làm, giống như người chăn bò lấy vật không được cho. Tôn giả Gotama, đây chính là tài sản riêng của Thủ-đà-la mà các Bà-la-môn đã quy định. Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn quy định bốn loại tài sản này. Về điều này, Tôn giả Gotama nói thế nào?
“Kiṁ pana, brāhmaṇa, sabbo loko brāhmaṇānaṁ etadabbhanujānāti: ‘imāni cattāri dhanāni paññapentū’”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Seyyathāpi, brāhmaṇa, puriso daliddo assako anāḷhiyo. Tassa akāmassa bilaṁ olaggeyyuṁ: ‘idaṁ te, ambho purisa, maṁsaṁ khāditabbaṁ, mūlañca anuppadātabban’ti.
Evameva kho, brāhmaṇa, brāhmaṇā appaṭiññāya tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ, atha ca panimāni cattāri dhanāni paññapenti.
Ariyaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, lokuttaraṁ dhammaṁ purisassa sandhanaṁ paññapemi. Porāṇaṁ kho panassa mātāpettikaṁ kulavaṁsaṁ anussarato yattha yattheva attabhāvassa abhinibbatti hoti tena teneva saṅkhyaṁ gacchati. Khattiyakule ce attabhāvassa abhinibbatti hoti ‘khattiyo’tveva saṅkhyaṁ gacchati; brāhmaṇakule ce attabhāvassa abhinibbatti hoti ‘brāhmaṇo’tveva saṅkhyaṁ gacchati; vessakule ce attabhāvassa abhinibbatti hoti ‘vesso’tveva saṅkhyaṁ gacchati; suddakule ce attabhāvassa abhinibbatti hoti ‘suddo’tveva saṅkhyaṁ gacchati.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, yaṁyadeva paccayaṁ paṭicca aggi jalati tena teneva saṅkhyaṁ gacchati. Kaṭṭhañce paṭicca aggi jalati ‘kaṭṭhaggi’tveva saṅkhyaṁ gacchati; sakalikañce paṭicca aggi jalati ‘sakalikaggi’tveva saṅkhyaṁ gacchati; tiṇañce paṭicca aggi jalati ‘tiṇaggi’tveva saṅkhyaṁ gacchati; gomayañce paṭicca aggi jalati ‘gomayaggi’tveva saṅkhyaṁ gacchati.
Evameva kho ahaṁ, brāhmaṇa, ariyaṁ lokuttaraṁ dhammaṁ purisassa sandhanaṁ paññapemi. Porāṇaṁ kho panassa mātāpettikaṁ kulavaṁsaṁ anussarato yattha yattheva attabhāvassa abhinibbatti hoti tena teneva saṅkhyaṁ gacchati.
“But brahmin, did the whole world authorize the brahmins to prescribe these four kinds of wealth?”
“No, worthy Gotama.”
“It’s as if they were to force a chop on a poor, penniless person, telling them, ‘Eat this meat and pay for it!’
In the same way, the brahmins have prescribed these four kinds of wealth without the consent of these ascetics and brahmins.
I assert that a person’s own wealth is the noble, transcendent teaching. But they are reckoned by recollecting the traditional family customs of their mother and father wherever they are incarnated. If they incarnate in a family of aristocrats they are reckoned as an aristocrat. If they incarnate in a family of brahmins they are reckoned as a brahmin. If they incarnate in a family of peasants they are reckoned as a peasant. If they incarnate in a family of menials they are reckoned as a menial.
It’s like fire, which is reckoned according to the very same condition dependent upon which it burns. A fire that burns dependent on logs is reckoned as a log fire. A fire that burns dependent on twigs is reckoned as a twig fire. A fire that burns dependent on grass is reckoned as a grass fire. A fire that burns dependent on cow-dung is reckoned as a cow-dung fire.
In the same way, I assert that a person’s own wealth is the noble, transcendent teaching. But they are reckoned by recollecting the traditional family customs of their mother and father wherever they are incarnated.
441. – Này Bà-la-môn, có phải tất cả thế gian đều chấp thuận điều này của các Bà-la-môn: ‘Họ hãy quy định bốn loại tài sản này’? – Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy. – Này Bà-la-môn, ví như có người đàn ông nghèo khó, không tài sản, không của cải. Người ta treo một phần thịt cho người ấy dù ông ta không muốn và nói rằng: ‘Này ông, ông phải ăn miếng thịt này và phải trả tiền.’ Này Bà-la-môn, cũng vậy, các Bà-la-môn đã quy định bốn loại tài sản này cho các Sa-môn, Bà-la-môn ấy mà không có sự chấp thuận của họ. Này Bà-la-môn, Ta quy định Pháp Thánh, siêu thế là tài sản riêng của con người. Và khi người ấy nhớ lại dòng dõi gia tộc xưa của cha mẹ, sự tái sanh của hữu thể xảy ra ở dòng dõi nào thì người ấy được gọi tên theo dòng dõi ấy. Nếu sự tái sanh của hữu thể xảy ra trong dòng dõi Sát-đế-lỵ thì người ấy được gọi là ‘Sát-đế-lỵ’; nếu sự tái sanh của hữu thể xảy ra trong dòng dõi Bà-la-môn thì người ấy được gọi là ‘Bà-la-môn’; nếu sự tái sanh của hữu thể xảy ra trong dòng dõi Phệ-xá thì người ấy được gọi là ‘Phệ-xá’; nếu sự tái sanh của hữu thể xảy ra trong dòng dõi Thủ-đà-la thì người ấy được gọi là ‘Thủ-đà-la’. Này Bà-la-môn, ví như lửa cháy tùy thuộc vào nhiên liệu nào thì được gọi tên theo nhiên liệu ấy. Nếu lửa cháy tùy thuộc vào củi thì được gọi là ‘lửa củi’; nếu lửa cháy tùy thuộc vào dăm bào thì được gọi là ‘lửa dăm bào’; nếu lửa cháy tùy thuộc vào cỏ thì được gọi là ‘lửa cỏ’; nếu lửa cháy tùy thuộc vào phân bò thì được gọi là ‘lửa phân bò’. Này Bà-la-môn, cũng vậy, Ta quy định Pháp Thánh, siêu thế là tài sản riêng của con người. Và khi người ấy nhớ lại dòng dõi gia tộc xưa của cha mẹ, sự tái sanh của hữu thể xảy ra ở dòng dõi nào thì người ấy được gọi tên theo dòng dõi ấy.
Khattiyakule ce attabhāvassa abhinibbatti hoti ‘khattiyo’tveva saṅkhyaṁ gacchati; brāhmaṇakule ce attabhāvassa abhinibbatti hoti ‘brāhmaṇo’tveva saṅkhyaṁ gacchati; vessakule ce attabhāvassa abhinibbatti hoti ‘vesso’tveva saṅkhyaṁ gacchati; suddakule ce attabhāvassa abhinibbatti hoti ‘suddo’tveva saṅkhyaṁ gacchati.
“Nếu sự phát sanh của tự thể xảy ra trong dòng dõi Sát-đế-lỵ thì người ấy được gọi là ‘Sát-đế-lỵ’; nếu sự phát sanh của tự thể xảy ra trong dòng dõi Bà-la-môn thì người ấy được gọi là ‘Bà-la-môn’; nếu sự phát sanh của tự thể xảy ra trong dòng dõi Phệ-xá thì người ấy được gọi là ‘Phệ-xá’; nếu sự phát sanh của tự thể xảy ra trong dòng dõi Thủ-đà-la thì người ấy được gọi là ‘Thủ-đà-la’.”
Khattiyakulā cepi, brāhmaṇa, agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, abrahmacariyā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti, anabhijjhālu hoti, abyāpannacitto hoti, sammādiṭṭhi hoti, ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Suppose someone from a family of aristocrats goes forth from the lay life to homelessness. Relying on the teaching and training proclaimed by the Realized One they refrain from killing living creatures, stealing, and sex. They refrain from using speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical. And they’re content, kind-hearted, with right view. They succeed in the system of the skillful teaching.
Này Bà-la-môn, nếu một người từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình, và người ấy, y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ hành vi không phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ lời nói đâm thọc, từ bỏ lời nói thô ác, từ bỏ lời nói vô ích, không có lòng tham lam, có tâm không sân hận, có chánh kiến, thì người ấy là người thành tựu pháp hợp lý, thiện lành.
Brāhmaṇakulā cepi, brāhmaṇa, agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhi hoti, ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Suppose someone from a family of brahmins …
Này Bà-la-môn, nếu một người từ dòng dõi Bà-la-môn, từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình, và người ấy, y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh... (như trên)... có chánh kiến, thì người ấy là người thành tựu pháp hợp lý, thiện lành.
Này Bà-la-môn, nếu một người từ dòng dõi Phệ-xá, từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình, và người ấy, y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh... (như trên)... có chánh kiến, thì người ấy là người thành tựu pháp hợp lý, thiện lành.
Này Bà-la-môn, nếu một người từ giai cấp Thủ-đà-la, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh... cho đến... có chánh kiến, là người thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa, brāhmaṇova nu kho pahoti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetuṁ, no khattiyo no vesso no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Khattiyopi hi, bho gotama, pahoti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetuṁ; brāhmaṇopi hi, bho gotama … vessopi hi, bho gotama … suddopi hi, bho gotama … sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pahonti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetun”ti.
“Evameva kho, brāhmaṇa, khattiyakulā cepi agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhi hoti, ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
What do you think, brahmin? Is only a brahmin capable of developing a heart of love free of enmity and ill will for this region, and not an aristocrat, peasant, or menial?”
“No, worthy Gotama. Aristocrats, brahmins, peasants, and menials can all do so. For all four classes are capable of developing a heart of love free of enmity and ill will for this region.”
“In the same way, suppose someone from a family of aristocrats,
442. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Có phải chỉ Bà-la-môn mới có thể ở trong xứ này tu tập tâm từ không hận, không sân; chứ không phải Sát-đế-lỵ, không phải Phệ-xá, không phải Thủ-đà-la hay sao?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy. Thưa Tôn giả Gotama, Sát-đế-lỵ cũng có thể ở trong xứ này tu tập tâm từ không hận, không sân. Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, Phệ-xá cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, Thủ-đà-la cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, cả bốn giai cấp đều có thể ở trong xứ này tu tập tâm từ không hận, không sân.” “Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu một người từ giai cấp Sát-đế-lỵ, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh... cho đến... có chánh kiến, là người thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.
Này Bà-la-môn, nếu một người từ giai cấp Bà-la-môn... Này Bà-la-môn, nếu một người từ giai cấp Phệ-xá... Này Bà-la-môn, nếu một người từ giai cấp Thủ-đà-la, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh... cho đến... có chánh kiến, là người thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa, brāhmaṇova nu kho pahoti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetuṁ, no khattiyo no vesso no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Khattiyopi hi, bho gotama, pahoti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetuṁ; brāhmaṇopi hi, bho gotama … vessopi hi, bho gotama … suddopi hi, bho gotama … sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pahonti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetun”ti.
“Evameva kho, brāhmaṇa, khattiyakulā cepi agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhi hoti, ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
What do you think, brahmin? Is only a brahmin capable of taking some bathing cleanser, going to the river, and rinsing off dust and dirt, and not an aristocrat, peasant, or menial?”
“No, worthy Gotama. All four classes are capable of doing this.”
“In the same way, suppose someone from a family of aristocrats,
443. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Có phải chỉ Bà-la-môn mới có thể lấy bột tắm, đi đến sông và gột rửa bụi bẩn; chứ không phải Sát-đế-lỵ, không phải Phệ-xá, không phải Thủ-đà-la hay sao?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy. Thưa Tôn giả Gotama, Sát-đế-lỵ cũng có thể lấy bột tắm, đi đến sông và gột rửa bụi bẩn. Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, Phệ-xá cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, Thủ-đà-la cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, cả bốn giai cấp đều có thể lấy bột tắm, đi đến sông và gột rửa bụi bẩn.” “Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu một người từ giai cấp Sát-đế-lỵ, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh... cho đến... có chánh kiến, là người thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.
Này Bà-la-môn, nếu một người từ giai cấp Bà-la-môn... Này Bà-la-môn, nếu một người từ giai cấp Phệ-xá... Này Bà-la-môn, nếu một người từ giai cấp Thủ-đà-la, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh... cho đến... có chánh kiến, là người thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa, idha rājā khattiyo muddhāvasitto nānājaccānaṁ purisānaṁ purisasataṁ sannipāteyya: ‘āyantu bhonto ye tattha khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannā sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggiṁ abhinibbattentu, tejo pātukarontu; āyantu pana bhonto ye tattha caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannā sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggiṁ abhinibbattentu, tejo pātukarontū’”ti?
What do you think, brahmin? Suppose an anointed aristocratic king were to gather a hundred people born in different classes and say to them: ‘Please gentlemen, let anyone here who was born in a family of aristocrats, brahmins, or chieftains take a drill-stick made of teak, sal, <i lang='pi' translate='no'>salaḷa</i>, sandalwood, or cherry wood, light a fire and produce heat. And let anyone here who was born in a family of corpse-workers, hunters, bamboo-workers, chariot-makers, or scavengers take a drill-stick made from a mutt’s drinking trough, a pig’s trough, a dustbin, or castor-oil wood, light a fire and produce heat.’
444. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, cho tập hợp một trăm người thuộc các giai cấp khác nhau và nói: ‘Này các khanh, hãy đến đây! Những ai sanh ra từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Vương tộc, hãy lấy cây cọ lửa trên làm bằng gỗ sala, gỗ tùng, gỗ chiên-đàn, hay gỗ padumaka, rồi nhóm lên lửa, làm cho hơi nóng phát sanh. Và này các khanh, hãy đến đây! Những ai sanh ra từ dòng dõi Chiên-đà-la, thợ săn, thợ đan, thợ làm xe, người đổ rác, hãy lấy cây cọ lửa trên làm bằng máng cho chó ăn, máng cho heo ăn, máng giặt đồ của thợ nhuộm, hay gỗ cây thầu dầu, rồi nhóm lên lửa, làm cho hơi nóng phát sanh.’”
“Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa, yo evaṁ nu kho so khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannehi sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto tejo pātukato so eva nu khvāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ; yo pana so caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannehi sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto tejo pātukato svāssa aggi na ceva accimā na ca vaṇṇavā na ca pabhassaro na ca tena sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātun”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Yopi hi so, bho gotama, khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannehi sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto tejo pātukato svāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ; yopi so caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannehi sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto tejo pātukato svāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ. Sabbopi hi, bho gotama, aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca sabbenapi sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātun”ti.
What do you think, brahmin? Would only the fire produced by the high class people with good quality wood have flames, color, and radiance, and be usable as fire, and not the fire produced by the low class people with poor quality wood?”
“No, worthy Gotama. The fire produced by the high class people with good quality wood would have flames, color, and radiance, and be usable as fire, and so would the fire produced by the low class people with poor quality wood. For all fire has flames, color, and radiance, and is usable as fire.”
Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Có phải ngọn lửa do những người sanh từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Vương tộc, lấy cây cọ lửa trên làm bằng gỗ sala, gỗ tùng, gỗ chiên-đàn, hay gỗ padumaka nhóm lên, làm cho hơi nóng phát sanh, chỉ có ngọn lửa ấy mới có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, và chỉ với ngọn lửa ấy mới có thể làm các việc cần dùng đến lửa hay sao? Còn ngọn lửa do những người sanh từ dòng dõi Chiên-đà-la, thợ săn, thợ đan, thợ làm xe, người đổ rác, lấy cây cọ lửa trên làm bằng máng cho chó ăn, máng cho heo ăn, máng giặt đồ của thợ nhuộm, hay gỗ cây thầu dầu nhóm lên, làm cho hơi nóng phát sanh, ngọn lửa ấy không có ngọn, không có màu sắc, không có ánh sáng, và với ngọn lửa ấy không thể làm các việc cần dùng đến lửa hay sao?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy. Thưa Tôn giả Gotama, ngọn lửa do những người sanh từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Vương tộc, lấy cây cọ lửa trên làm bằng gỗ sala, gỗ tùng, gỗ chiên-đàn, hay gỗ padumaka nhóm lên, làm cho hơi nóng phát sanh, ngọn lửa ấy có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, và với ngọn lửa ấy có thể làm các việc cần dùng đến lửa. Và ngọn lửa do những người sanh từ dòng dõi Chiên-đà-la, thợ săn, thợ đan, thợ làm xe, người đổ rác, lấy cây cọ lửa trên làm bằng máng cho chó ăn, máng cho heo ăn, máng giặt đồ của thợ nhuộm, hay gỗ cây thầu dầu nhóm lên, làm cho hơi nóng phát sanh, ngọn lửa ấy cũng có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, và với ngọn lửa ấy cũng có thể làm các việc cần dùng đến lửa. Thưa Tôn giả Gotama, vì tất cả các ngọn lửa đều có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, và với tất cả các ngọn lửa đều có thể làm các việc cần dùng đến lửa.”
“Evameva kho, brāhmaṇa, khattiyakulā cepi agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhi hoti, ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ. Brāhmaṇakulā cepi, brāhmaṇa … vessakulā cepi, brāhmaṇa … suddakulā cepi, brāhmaṇa, agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, abrahmacariyā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti, anabhijjhālu hoti, abyāpannacitto hoti, sammādiṭṭhi hoti, ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“In the same way, suppose someone from a family of aristocrats, brahmins, peasants, or menials goes forth from the lay life to homelessness. Relying on the teaching and training proclaimed by the Realized One they refrain from killing living creatures, stealing, and sex. They refrain from using speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical. And they’re content, kind-hearted, with right view. They succeed in the system of the skillful teaching.”
“Này Bà-la-môn, cũng tương tự như vậy, nếu một người thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và người ấy y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh... cho đến... có chánh kiến, là người thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành. Này Bà-la-môn, nếu một người thuộc dòng dõi Bà-la-môn... Này Bà-la-môn, nếu một người thuộc dòng dõi Phệ-xá... Này Bà-la-môn, nếu một người thuộc dòng dõi Thủ-đà-la từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và người ấy y theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có lòng tham lam, có tâm không sân hận, có chánh kiến, là người thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành.”
Evaṁ vutte, esukārī brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, Esukārī said to him, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Esukārī bạch với Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama!... cho đến... Mong Tôn giả Gotama hãy nhận con làm một cận sự nam đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.’”
Esukārīsuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Esukārī, thứ sáu, chấm dứt.