- Majjhima Nikāya 9
Sammādiṭṭhisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sammādiṭṭhisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.—“ Hiền giả”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau
SC 2—Chư Hiền, chánh tri kiến, chánh tri kiến, được gọi là như vậy. Chư Hiền, cho đến như thế nào, một Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
SC 3—Chúng tôi từ xa đến để được hiểu ý nghĩa lời nói ấy từ Tôn giả Sāriputta. Thật lành thay, nếu Tôn giả Sāriputta giảng cho ý nghĩa lời nói ấy. Sau khi nghe Tôn giả Sāriputta, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
SC 4—Chư Hiền, vậy hãy nghe, hãy khéo tác ý. Ta sẽ giảng.
SC 5—Thưa vâng, Hiền giả!—Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Sāriputta.
SC 6Tôn giả Sāriputta nói như sau
SC 7—Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
SC 8Chư Hiền, thế nào là bất thiện, thế nào là căn bổn bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bổn thiện? Chư Hiền, sát sanh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, tà hạnh trong các dục là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói hai lưỡi là bất thiện, ác khẩu là bất thiện, nói phù phiếm là bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là bất thiện.
SC 9Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện? Tham là căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si là căn bổn bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện.
SC 10Và này chư Hiền, thế nào là thiện? Từ bỏ sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là thiện.
SC 11Chư Hiền, thế nào là căn bổn thiện? Không tham là căn bổn thiện, không sân là căn bổn thiện, không si là căn bổn thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn thiện.
SC 12Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri bất thiện như vậy, tuệ tri căn bổn bất thiện như vậy, tuệ tri thiện như vậy, tuệ tri căn bổn thiện như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên “Tôi là”, đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
—Lành thay, Hiền giả!
SC 13Các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sāriputta và hỏi thêm Tôn giả Sāriputta câu hỏi như sau
SC 14—Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
SC 15—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn, tuệ tri tập khởi của thức ăn, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn, và tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
SC 16Chư Hiền, thế nào là thức ăn, thế nào là tập khởi của thức ăn, thế nào là đoạn diệt của thức ăn, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn? Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sanh đã sanh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sanh được hỗ trợ cho sanh. Thế nào là bốn? Ðoàn thực, loại thô hay loại tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư. Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn. Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.
SC 17Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn như vậy, tuệ tri tập khởi của thức ăn như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên “Tôi là”, đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
—Lành thay, Hiền giả!
SC 18Các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sāriputta liền hỏi thêm Tôn giả Sāriputta câu hỏi như sau
SC 19—Này Hiền giả, có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
SC 20—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ, tuệ tri Tập khởi của khổ, tuệ tri Ðoạn diệt của khổ, tuệ tri Con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
SC 21Chư Hiền, thế nào là Khổ, thế nào là Tập khởi của khổ, thế nào là Ðoạn diệt của khổ, thế nào là Con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Chư Hiền, như vậy gọi là Khổ.
SC 22Chư Hiền, thế nào là Tập khởi của khổ? Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Chư Hiền, như vậy gọi là Tập khởi của khổ.
SC 23Chư Hiền, thế nào là Ðoạn diệt của khổ? Ðó là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn, sự quăng bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp khát ái ấy.
SC 24Chư Hiền, thế nào là Con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ? Chính là Thánh Ðạo Tám Ngành đưa đến khổ diệt, tức là Chánh tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 25Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ như vậy, tuệ tri Tập khởi của khổ như vậy, tuệ tri Ðoạn diệt của khổ như vậy, tuệ tri con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ như vậy, khi ấy vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, … (như trên) … và thành tựu diệu pháp này.
SC 26—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử … (như trên) … thành tựu diệu pháp này?
SC 27—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết, tuệ tri tập khởi của già chết, tuệ tri đoạn diệt của già chết, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, … (như trên) … và thành tựu diệu pháp này.
SC 28Chư Hiền, thế nào là già chết, thế nào là tập khởi của già chết, thế nào là đoạn diệt của già chết, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự già cả, suy lão, rụng răng, tóc bạc da nhăn, tuổi thọ ngày một hao mòn, bại hoại các căn; chư Hiền, như vậy gọi là già. Chư Hiền thế nào là chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự mệnh một, từ trần, hủy hoại, hoại diệt, tử biệt, mệnh chung, hủy hoại các uẩn, vất bỏ hình hài; chư Hiền, như vậy gọi là chết. Già như vậy và chết như vậy, chư Hiền, như vậy gọi là già chết. Từ sự tập khởi của sanh, có sự tập khởi của già chết, từ sự đoạn diệt của sanh, có sự đoạn diệt của già chết. Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, tức là: Chánh Tri kiến … (như trên) … Chánh Ðịnh.
SC 29Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết như vậy, tuệ tri tập khởi của già chết như vậy, tuệ tri đoạn diệt của già chết như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên … (như trên)…, và thành tựu diệu pháp này.
SC 30—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác…?
SC 31—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri sanh, tuệ tri tập khởi của sanh, tuệ tri đoạn diệt của sanh, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sanh, chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến … (như trên) … và thành tựu diệu pháp này.
SC 32Chư Hiền, thế nào là sanh, thế nào là tập khởi của sanh, thế nào là đoạn diệt của sanh, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của sanh? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự sanh, hiện khởi, xuất hiện, hiện diện, hiện hành các uẩn, tụ đắc các xứ; Chư Hiền, như vậy gọi là sanh. Từ sự tập khởi của hữu có sự tập khởi của sanh, từ sự đoạn diệt của hữu, có sự đoạn diệt của sanh, và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của sanh, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 33Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri được sanh như vậy, tuệ tri được tập khởi của sanh như vậy, tuệ tri được đoạn diệt của sanh như vậy, tuệ tri được con đường đưa đến đoạn diệt của sanh như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên … (như trên) … như vậy … (như trên) … và thành tựu diệu pháp này.
SC 34—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có pháp môn nào khác…?
SC 35—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hữu, tuệ tri tập khởi của hữu, tuệ tri đoạn diệt của hữu, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hữu, chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến … (như trên) … và thành tựu diệu pháp này.
SC 36Chư Hiền, thế nào là hữu, thế nào là tập khởi của hữu, thế nào là đoạn diệt của hữu, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của hữu? Chư Hiền, có ba hữu này: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Từ tập khởi của thủ, có tập khởi của hữu; từ đoạn diệt của thủ có đoạn diệt của hữu và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của hữu, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 37Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hữu như vậy, tuệ tri tập khởi của hữu như vậy, tuệ tri đoạn diệt của hữu như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hữu như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên … và thành tựu diệu pháp này.
SC 38—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác…?
SC 39- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri tập khởi của thủ, tuệ tri đoạn diệt của thủ, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thủ, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến … và thành tựu diệu pháp này.
SC 40Chư Hiền, thế nào là thủ, thế nào là tập khởi của thủ, thế nào là đoạn diệt của thủ, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ? Chư Hiền, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Từ tập khởi của ái, có tập khởi của thủ; từ đoạn diệt của ái, có đoạn diệt của thủ; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 41Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thủ như vậy, tuệ tri tập khởi của thủ như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thủ như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thủ như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên và thành tựu diệu pháp này.
SC 42—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có pháp môn nào khác…?
SC 43—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền khi nào Thánh đệ tử tuệ tri ái, tuệ tri tập khởi của ái, tuệ tri đoạn diệt của ái, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của ái, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến … và thành tựu diệu pháp này.
SC 44Chư Hiền, thế nào là ái, thế nào là tập khởi của ái, thế nào là đoạn diệt của ái, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của ái? Chư Hiền, có sáu loại ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Từ tập khởi của thọ, có tập của ái, từ đoạn diệt của thọ, có đoạn diệt của ái, và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của ái, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 45Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri ái như vậy, tuệ tri tập khởi của ái như vậy, tuệ tri đoạn diệt của ái như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của ái như vậy, khi ấy, vị ấy, đoạn trừ tất cả tham tùy miên … và thành tựu diệu pháp.
SC 46—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác…?
SC 47—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thọ, tuệ tri tập khởi của thọ, tuệ tri đoạn diệt của thọ, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thọ, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến … và thành tựu diệu pháp này.
SC 48Chư Hiền, thế nào là thọ, thế nào là tập khởi của thọ, thế nào là đoạn diệt của thọ, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thọ? Chư Hiền, có sáu loại thọ này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Từ tập khởi của xúc, có tập khởi của thọ; từ đoạn diệt của xúc, có đoạn diệt của thọ; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thọ, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 49Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thọ như vậy, tuệ tri tập khởi của thọ như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thọ như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thọ như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên … và thành tựu diệu pháp này.
SC 50—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác…?
SC 51—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri xúc, tuệ tri tập khởi của xúc, tuệ tri đoạn diệt của xúc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của xúc, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến … và thành tựu diệu pháp này.
SC 52Chư Hiền, thế nào là xúc, thế nào là tập khởi của xúc, thế nào là đoạn diệt của xúc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của xúc? Chư Hiền, có sau loại xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Từ tập khởi của sáu nhập, có tập khởi từ xúc; từ đoạn diệt của sáu nhập, có đoạn diệt của xúc, và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của xúc, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri xúc như vậy, tuệ tri tập khởi của xúc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của xúc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của xúc như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên … và thành tựu diệu pháp này.
SC 53—Lành thay, Hiền giả … câu hỏi như sau: Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác…?
SC 54—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri sáu nhập, tuệ tri tập khởi của sáu nhập, tuệ tri đoạn diệt của sáu nhập, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến … và thành tựu diệu pháp này.
SC 55Chư Hiền, thế nào là sáu nhập, thế nào là tập khởi của sáu nhập, thế nào là đoạn diệt của sáu nhập, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập? Chư Hiền, có sáu nhập này: nhãn nhập, nhĩ nhập, tỷ nhập, thiệt nhập, thân nhập, ý nhập. Từ tập khởi của danh sắc có tập khởi của sáu nhập; từ đoạn diệt của danh sắc có đoạn diệt của sáu nhập; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 56Chư Hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri sáu nhập như vậy, tuệ tri tập khởi của sáu nhập như vậy, tuệ tri đoạn diệt của sáu nhập như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên … và thành tựu diệu hạnh pháp này.
SC 57—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác…?
SC 58—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri danh sắc, tuệ tri tập khởi của danh sắc, tuệ tri đoạn diệt của danh sắc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến … và thành tựu diệu pháp này.
SC 59Chư Hiền, thế nào là danh sắc, thế nào là tập khởi của danh sắc, thế nào là đoạn diệt của danh sắc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, chư Hiền, như vậy gọi là danh; bốn đại và sắc do bốn đại tạo thành, chư Hiền, như vậy gọi là sắc; như vậy đây là danh và đây là sắc, Chư Hiền, như vậy gọi là danh sắc. Từ tập khởi của thức, có tập khởi của danh sắc; từ đoạn diệt của thức, có đoạn diệt của danh sắc; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 60Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri danh sắc như vậy, tuệ tri tập khởi của danh sắc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của danh sắc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc như vậy, khi ấy, vị ấy, đoạn trừ tất cả tham tùy miên … và thành tựu diệu pháp này.
SC 61—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác…?
SC 62—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức, tuệ tri tập khởi của thức, tuệ tri đoạn diệt của thức, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến … và thành tựu diệu pháp này.
SC 63Chư Hiền, thế nào là thức, thế nào là tập khởi của thức, thế nào là đoạn diệt của thức, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức? Chư Hiền, có sáu loại thức này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Từ tập khởi của hành, có tập khởi của thức; từ đoạn diệt của hành có đoạn diệt của thức; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 64Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức như vậy, tuệ tri tập khởi của thức như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên … và thành tựu diệu pháp này.
SC 65—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác…?
SC 66—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hành, tuệ tri tập khởi của hành, tuệ tri đoạn diệt của hành, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hành, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến … và thành tựu diệu pháp này.
SC 67Chư Hiền, thế nào là hành, thế nào là tập khởi của hành, thế nào là đoạn diệt của hành, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của hành? Chư Hiền, có ba loại hành này: thân hành, ngữ hành, tâm hành. Từ tập khởi của vô minh, có tập khởi của hành; từ đoạn diệt của vô minh, có đoạn diệt của hành; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của hành, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 68Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hành như vậy, tuệ tri tập khởi của hành như vậy, tuệ tri đoạn diệt của hành như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hành như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên … và thành tựu diệu pháp này.
SC 69—Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác…?
SC 70—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri vô minh, tuệ tri tập khởi của vô minh, tuệ tri đoạn diệt của vô minh, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh, khi ấy, Thánh đệ tử có chánh tri kiến … (như trên) … và thành tựu diệu pháp này.
SC 71Chư Hiền, thế nào là vô minh, thế nào là tập khởi của vô minh, thế nào là đoạn diệt của vô minh, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh? Sự không tuệ tri về khổ, không tuệ tri về khổ tập, không tuệ tri về khổ diệt, không tuệ tri về con đường đưa đến khổ diệt, Chư Hiền, như vậy gọi là vô minh. Từ tập khởi của lậu hoặc, có tập khởi của vô minh; từ đoạn diệt của lậu hoặc, có đoạn diệt của vô minh; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh, tức là: Chánh Tri kiến … Chánh Ðịnh.
SC 72Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri vô minh như vậy, tuệ tri tập khởi của vô minh như vậy, tuệ tri đoạn diệt của vô minh như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên … và thành tựu diệu pháp này.
—Lành thay, Hiền giả!
SC 73Các vị Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sāriputta, liền hỏi thêm Tôn giả Sāriputta câu hỏi như sau
SC 74—Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
SC 75—Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri lậu hoặc, tuệ tri tập khởi của lậu hoặc, tuệ tri đoạn diệt của lậu hoặc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc. Chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
SC 76Chư Hiền, thế nào là lậu hoặc, thế nào là tập khởi của lậu hoặc, thế nào là đoạn diệt của lậu hoặc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc? Chư Hiền, có ba lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Từ tập khởi của vô minh có tập khởi của lậu hoặc; từ đoạn diệt của vô minh có đoạn diệt của lậu hoặc và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.
SC 77Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri lậu hoặc như vậy, tuệ tri tập khởi của lậu hoặc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của lậu hoặc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên “Tôi là”, đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
SC 78Tôn giả Sāriputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời giảng của Tôn giả Sāriputta.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Chánh Kiến
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
89. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn Jetavana của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ-kheo: 'Này chư hiền Tỳ-kheo.' Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta: 'Thưa hiền giả.' Tôn giả Sāriputta nói như sau:
“‘Sammādiṭṭhi sammādiṭṭhī’ti, āvuso, vuccati. Kittāvatā nu kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti?
“Reverends, they speak of this thing called ‘right view’. How do you define a noble disciple who has right view, whose view is correct, who has experiential confidence in the teaching, and has come to the true teaching?”
“‘Chánh kiến, chánh kiến’, thưa chư hiền, được nói đến như vậy. Thưa chư hiền, cho đến mức độ nào một vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến ngay thẳng, có niềm tin tuyệt đối vào Chánh pháp, và đã đạt đến Chánh pháp này?”
“Dūratopi kho mayaṁ, āvuso, āgaccheyyāma āyasmato sāriputtassa santike etassa bhāsitassa atthamaññātuṁ. Sādhu vatāyasmantaṁyeva sāriputtaṁ paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Āyasmato sāriputtassa sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, āvuso, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Reverend, we would travel a long way to learn the meaning of this statement in the presence of Venerable Sāriputta. May Venerable Sāriputta himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, reverends, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Sāriputta said this:
“Thưa hiền giả, chúng con từ xa đến đây, đến trước Tôn giả Sāriputta để tìm hiểu ý nghĩa của lời dạy này. Lành thay, mong rằng chính Tôn giả Sāriputta hãy giải thích ý nghĩa của lời dạy này. Sau khi nghe từ Tôn giả Sāriputta, các Tỳ-kheo sẽ ghi nhớ.” “Vậy thì, chư hiền, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.” “Vâng, thưa hiền giả.” Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:
“Yato kho, āvuso, ariyasāvako akusalañca pajānāti, akusalamūlañca pajānāti, kusalañca pajānāti, kusalamūlañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ.
Katamaṁ panāvuso, akusalaṁ, katamaṁ akusalamūlaṁ, katamaṁ kusalaṁ, katamaṁ kusalamūlaṁ? Pāṇātipāto kho, āvuso, akusalaṁ, adinnādānaṁ akusalaṁ, kāmesumicchācāro akusalaṁ, musāvādo akusalaṁ, pisuṇā vācā akusalaṁ, pharusā vācā akusalaṁ, samphappalāpo akusalaṁ, abhijjhā akusalaṁ, byāpādo akusalaṁ, micchādiṭṭhi akusalaṁ—idaṁ vuccatāvuso akusalaṁ.
Katamañcāvuso, akusalamūlaṁ? Lobho akusalamūlaṁ, doso akusalamūlaṁ, moho akusalamūlaṁ—idaṁ vuccatāvuso, akusalamūlaṁ.
“A noble disciple understands the unskillful and its root, and the skillful and its root. When they’ve done this, they’re defined as a noble disciple who has right view, whose view is correct, who has experiential confidence in the teaching, and has come to the true teaching.
But what is the unskillful and what is its root? And what is the skillful and what is its root? Killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical; covetousness, ill will, and wrong view. This is called the unskillful.
And what is the root of the unskillful? Greed, hate, and delusion. This is called the root of the unskillful.
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri về bất thiện, tuệ tri về căn bản của bất thiện, tuệ tri về thiện, và tuệ tri về căn bản của thiện – chừng ấy thôi, này chư hiền, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến ngay thẳng, có niềm tin tuyệt đối vào Chánh pháp, và đã đạt đến Chánh pháp này. Và này chư hiền, thế nào là bất thiện, thế nào là căn bản của bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bản của thiện? Sát sanh, này chư hiền, là bất thiện; lấy của không cho là bất thiện; tà hạnh trong các dục là bất thiện; nói dối là bất thiện; nói hai lưỡi là bất thiện; nói lời độc ác là bất thiện; nói lời phù phiếm là bất thiện; tham lam là bất thiện; sân hận là bất thiện; tà kiến là bất thiện. Này chư hiền, đây được gọi là bất thiện. Và này chư hiền, thế nào là căn bản của bất thiện? Tham là căn bản của bất thiện, sân là căn bản của bất thiện, si là căn bản của bất thiện. Này chư hiền, đây được gọi là căn bản của bất thiện.
Katamañcāvuso, kusalaṁ? Pāṇātipātā veramaṇī kusalaṁ, adinnādānā veramaṇī kusalaṁ, kāmesumicchācārā veramaṇī kusalaṁ, musāvādā veramaṇī kusalaṁ, pisuṇāya vācāya veramaṇī kusalaṁ, pharusāya vācāya veramaṇī kusalaṁ, samphappalāpā veramaṇī kusalaṁ, anabhijjhā kusalaṁ, abyāpādo kusalaṁ, sammādiṭṭhi kusalaṁ—idaṁ vuccatāvuso, kusalaṁ.
Katamañcāvuso, kusalamūlaṁ? Alobho kusalamūlaṁ, adoso kusalamūlaṁ, amoho kusalamūlaṁ—idaṁ vuccatāvuso, kusalamūlaṁ.
And what is the skillful? Refraining from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; refraining from speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical; contentment, good will, and right view. This is called the skillful.
And what is the root of the skillful? Contentment, love, and understanding. This is called the root of the skillful.
“Và này chư hiền, thế nào là thiện? Từ bỏ sát sanh là thiện; từ bỏ lấy của không cho là thiện; từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện; từ bỏ nói dối là thiện; từ bỏ nói hai lưỡi là thiện; từ bỏ nói lời độc ác là thiện; từ bỏ nói lời phù phiếm là thiện; không tham lam là thiện; không sân hận là thiện; chánh kiến là thiện. Này chư hiền, đây được gọi là thiện. Và này chư hiền, thế nào là căn bản của thiện? Vô tham là căn bản của thiện, vô sân là căn bản của thiện, vô si là căn bản của thiện. Này chư hiền, đây được gọi là căn bản của thiện.
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ akusalaṁ pajānāti, evaṁ akusalamūlaṁ pajānāti, evaṁ kusalaṁ pajānāti, evaṁ kusalamūlaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya, paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā, ‘asmī’ti diṭṭhimānānusayaṁ samūhanitvā, avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā, diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
A noble disciple understands in this way the unskillful and its root, and the skillful and its root. They’ve completely given up the underlying tendency to greed, dispelled the underlying tendency to aversion, and eradicated the underlying tendency to the view and conceit ‘I am’. They’ve given up ignorance and given rise to knowledge, and make an end of suffering in this very life. When they’ve done this, they’re defined as a noble disciple who has right view, whose view is correct, who has experiential confidence in the teaching, and has come to the true teaching.”
“Này chư hiền, khi vị Thánh đệ tử tuệ tri về bất thiện như vậy, tuệ tri về căn bản của bất thiện như vậy, tuệ tri về thiện như vậy, tuệ tri về căn bản của thiện như vậy, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn tham tùy miên, loại bỏ sân tùy miên, nhổ sạch kiến mạn tùy miên 'tôi là', đoạn trừ vô minh, làm cho minh sanh khởi, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Chừng ấy thôi, này chư hiền, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến ngay thẳng, có niềm tin tuyệt đối vào Chánh pháp, và đã đạt đến Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ uttari pañhaṁ apucchuṁ: “siyā panāvuso, aññopi pariyāyo yathā ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti?
“Siyā, āvuso.
Saying “Good, reverend,” those mendicants approved and agreed with what Sāriputta said. Then they asked another question: “But reverend, might there be another way to describe a noble disciple who has right view, whose view is correct, who has experiential confidence in the teaching, and has come to the true teaching?”
“There might, reverends.
90. “Lành thay, thưa hiền giả.” Các Tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Tôn giả Sāriputta, rồi hỏi thêm một câu hỏi nữa: “Thưa hiền giả, có thể có một pháp môn nào khác, mà theo đó vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến ngay thẳng, có niềm tin tuyệt đối vào Chánh pháp, và đã đạt đến Chánh pháp này không?”
Katamo panāvuso, āhāro, katamo āhārasamudayo, katamo āhāranirodho, katamā āhāranirodhagāminī paṭipadā? Cattārome, āvuso, āhārā bhūtānaṁ vā sattānaṁ ṭhitiyā, sambhavesīnaṁ vā anuggahāya. Katame cattāro? Kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṁ catutthaṁ. Taṇhāsamudayā āhārasamudayo, taṇhānirodhā āhāranirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo āhāranirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto, sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
But what is fuel? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? These four fuels maintain sentient beings that have been born and help those about to be born. What four? Edible food, whether solid or subtle; contact is the second, mental intention the third, and consciousness the fourth. Fuel originates from craving. Fuel ceases when craving ceases. The practice that leads to the cessation of fuel is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
“Có thể có, chư hiền. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri về vật thực, tuệ tri về sự tập khởi của vật thực, tuệ tri về sự đoạn diệt của vật thực, và tuệ tri về con đường đưa đến sự đoạn diệt của vật thực – chừng ấy thôi, này chư hiền, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến ngay thẳng, có niềm tin tuyệt đối vào Chánh pháp, và đã đạt đến Chánh pháp này. Và này chư hiền, thế nào là vật thực, thế nào là sự tập khởi của vật thực, thế nào là sự đoạn diệt của vật thực, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của vật thực? Này chư hiền, có bốn loại vật thực này để duy trì các chúng sanh đã hiện hữu hoặc để hỗ trợ các chúng sanh đang tìm chỗ tái sanh. Thế nào là bốn? Đoàn thực, thô hay tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực. Do ái tập khởi nên vật thực tập khởi; do ái đoạn diệt nên vật thực đoạn diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của vật thực chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ āhāraṁ pajānāti, evaṁ āhārasamudayaṁ pajānāti, evaṁ āhāranirodhaṁ pajānāti, evaṁ āhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya, paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā, ‘asmī’ti diṭṭhimānānusayaṁ samūhanitvā, avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā, diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
A noble disciple understands in this way fuel, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They’ve completely given up the underlying tendency to greed, dispelled the underlying tendency to aversion, and eradicated the underlying tendency to the view and conceit ‘I am’. They’ve given up ignorance and given rise to knowledge, and make an end of suffering in this very life. When they’ve done this, they’re defined as a noble disciple who has right view, whose view is correct, who has experiential confidence in the teaching, and has come to the true teaching.”
“Này chư hiền, khi vị Thánh đệ tử tuệ tri về vật thực như vậy, tuệ tri về sự tập khởi của vật thực như vậy, tuệ tri về sự đoạn diệt của vật thực như vậy, tuệ tri về con đường đưa đến sự đoạn diệt của vật thực như vậy, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn tham tùy miên, loại bỏ sân tùy miên, nhổ sạch kiến mạn tùy miên 'tôi là', đoạn trừ vô minh, làm cho minh sanh khởi, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Chừng ấy thôi, này chư hiền, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến ngay thẳng, có niềm tin tuyệt đối vào Chánh pháp, và đã đạt đến Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ uttari pañhaṁ apucchuṁ: “siyā panāvuso, aññopi pariyāyo yathā ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti?
“Siyā, āvuso.
Saying “Good, reverend,” those mendicants … asked another question: “But reverend, might there be another way to describe a noble disciple who … has come to the true teaching?”
“There might, reverends.
91. “Thưa hiền giả, lành thay.” Các vị tỳ khưu ấy sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của tôn giả Sāriputta, đã hỏi tôn giả Sāriputta câu hỏi thêm nữa: “Thưa hiền giả, có thể có phương pháp nào khác mà nhờ đó vị Thánh đệ tử có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được ngay thẳng, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, và đã đi đến Chánh Pháp này không?”
“Thưa các hiền giả, có thể có. Này các hiền giả, khi nào vị Thánh đệ tử liễu tri về khổ, liễu tri về khổ tập, liễu tri về khổ diệt, và liễu tri về con đường đưa đến khổ diệt – này các hiền giả, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử cũng có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được ngay thẳng, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, và đã đi đến Chánh Pháp này. Và này các hiền giả, thế nào là khổ, thế nào là khổ tập, thế nào là khổ diệt, thế nào là con đường đưa đến khổ diệt? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ; sầu, bi, khổ, ưu, não cũng là khổ; gặp gỡ điều không ưa thích cũng là khổ; xa lìa điều ưa thích cũng là khổ; mong cầu mà không được cũng là khổ; tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Này các hiền giả, đây được gọi là khổ. Và này các hiền giả, thế nào là khổ tập? Chính là ái này, đưa đến tái sanh, cùng đi với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là: dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các hiền giả, đây được gọi là khổ tập. Và này các hiền giả, thế nào là khổ diệt? Chính là sự ly tham và đoạn diệt không còn dư tàn của ái ấy, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các hiền giả, đây được gọi là khổ diệt. Và này các hiền giả, thế nào là con đường đưa đến khổ diệt? Chính là Bát Chánh Đạo này, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định. Này các hiền giả, đây được gọi là con đường đưa đến khổ diệt.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ dukkhaṁ pajānāti, evaṁ dukkhasamudayaṁ pajānāti, evaṁ dukkhanirodhaṁ pajānāti, evaṁ dukkhanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya, paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā, ‘asmī’ti diṭṭhimānānusayaṁ samūhanitvā, avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā, diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
A noble disciple understands in this way suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They’ve completely given up the underlying tendency to greed, dispelled the underlying tendency to aversion, and eradicated the underlying tendency to the view and conceit ‘I am’. They’ve given up ignorance and given rise to knowledge, and make an end of suffering in this very life. When they’ve done this, they’re defined as a noble disciple who has right view, whose view is correct, who has experiential confidence in the teaching, and has come to the true teaching.”
“Này các hiền giả, khi nào vị Thánh đệ tử liễu tri về khổ như vậy, liễu tri về khổ tập như vậy, liễu tri về khổ diệt như vậy, liễu tri về con đường đưa đến khổ diệt như vậy, vị ấy sau khi đã đoạn trừ hoàn toàn tham tùy miên, đã loại bỏ sân tùy miên, đã nhổ lên tận gốc rễ ngã kiến và ngã mạn tùy miên 'tôi là', sau khi đã đoạn trừ vô minh, đã làm cho minh sanh khởi, vị ấy trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại. Này các hiền giả, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử cũng có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được ngay thẳng, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, và đã đi đến Chánh Pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ uttari pañhaṁ apucchuṁ: “siyā panāvuso, aññopi pariyāyo yathā ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti?
“Siyā, āvuso.
Saying “Good, reverend,” those mendicants … asked another question: “But reverend, might there be another way to describe a noble disciple who … has come to the true teaching?”
“There might, reverends.
92. “Thưa hiền giả, lành thay.” Các vị tỳ khưu ấy sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của tôn giả Sāriputta, đã hỏi tôn giả Sāriputta câu hỏi thêm nữa: “Thưa hiền giả, có thể có phương pháp nào khác mà nhờ đó vị Thánh đệ tử có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được ngay thẳng, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, và đã đi đến Chánh Pháp này không?”
“Thưa các hiền giả, có thể có. Này các hiền giả, khi nào vị Thánh đệ tử liễu tri về già-chết, liễu tri về nguyên nhân của già-chết, liễu tri về sự diệt của già-chết, và liễu tri về con đường đưa đến sự diệt của già-chết – này các hiền giả, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử cũng có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được ngay thẳng, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, và đã đi đến Chánh Pháp này. Và này các hiền giả, thế nào là già-chết, thế nào là nguyên nhân của già-chết, thế nào là sự diệt của già-chết, thế nào là con đường đưa đến sự diệt của già-chết? Ở các chúng sanh trong các loài chúng sanh khác nhau, sự già, sự suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm sút, các căn chín muồi – này các hiền giả, đây được gọi là già. Và này các hiền giả, thế nào là chết? Ở các chúng sanh từ các loài chúng sanh khác nhau, sự chết, sự qua đời, sự tan rã, sự biến mất, cái chết, sự mệnh chung, sự làm ra thời gian, sự tan rã của các uẩn, sự vất bỏ thân xác, sự đoạn tuyệt của mạng căn – này các hiền giả, đây được gọi là chết. Như vậy, đây là già và đây là chết – này các hiền giả, đây được gọi là già-chết. Do sanh tập khởi nên già-chết tập khởi; do sanh diệt nên già-chết diệt. Con đường đưa đến sự diệt của già-chết chính là Bát Chánh Đạo này, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ jarāmaraṇaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇasamudayaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
“Này các hiền giả, khi nào vị Thánh đệ tử liễu tri về già-chết như vậy, liễu tri về nguyên nhân của già-chết như vậy, liễu tri về sự diệt của già-chết như vậy, liễu tri về con đường đưa đến sự diệt của già-chết như vậy, vị ấy sau khi đã đoạn trừ hoàn toàn tham tùy miên... cho đến... trở thành người chấm dứt khổ đau. Này các hiền giả, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử cũng có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được ngay thẳng, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, và đã đi đến Chánh Pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako jātiñca pajānāti, jātisamudayañca pajānāti, jātinirodhañca pajānāti, jātinirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamā panāvuso, jāti, katamo jātisamudayo, katamo jātinirodho, katamā jātinirodhagāminī paṭipadā? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṁ pātubhāvo, āyatanānaṁ paṭilābho—ayaṁ vuccatāvuso, jāti. Bhavasamudayā jātisamudayo, bhavanirodhā jātinirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo jātinirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands rebirth, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation … But what is rebirth? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? The rebirth, inception, conception, regeneration, manifestation of the aggregates, and acquisition of the sense fields of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called rebirth. Rebirth originates from continued existence. Rebirth ceases when continued existence ceases. The practice that leads to the cessation of rebirth is simply this noble eightfold path …”
93. “Lành thay, chư hiền”... tôi đã hỏi – Này chư hiền, lại có thể có... “Này chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri sanh, tuệ tri tập khởi của sanh, tuệ tri sự đoạn diệt của sanh, và tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của sanh – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được chánh trực, vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được Chánh pháp này. Và này chư hiền, thế nào là sanh, thế nào là tập khởi của sanh, thế nào là sự đoạn diệt của sanh, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của sanh? Sự sanh, sự xuất sanh, sự nhập thai, sự tái sanh, sự xuất hiện của các uẩn, sự thành tựu các xứ của các chúng sanh này hay chúng sanh khác trong loài chúng sanh này hay loài chúng sanh khác – này chư hiền, đây được gọi là sanh. Do hữu tập khởi nên sanh tập khởi, do hữu đoạn diệt nên sanh đoạn diệt; con đường đưa đến sự đoạn diệt của sanh chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ jātiṁ pajānāti, evaṁ jātisamudayaṁ pajānāti, evaṁ jātinirodhaṁ pajānāti, evaṁ jātinirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri sanh như vậy, tuệ tri tập khởi của sanh như vậy, tuệ tri sự đoạn diệt của sanh như vậy, tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của sanh như vậy, vị ấy sau khi đoạn tận hoàn toàn tùy miên tham... trở thành người chấm dứt khổ đau – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được chánh trực, vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako bhavañca pajānāti, bhavasamudayañca pajānāti, bhavanirodhañca pajānāti, bhavanirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamo panāvuso, bhavo, katamo bhavasamudayo, katamo bhavanirodho, katamā bhavanirodhagāminī paṭipadā? Tayome, āvuso, bhavā—kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo. Upādānasamudayā bhavasamudayo, upādānanirodhā bhavanirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhavanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands continued existence, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. But what is continued existence? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? There are these three states of continued existence. Existence in the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm. Continued existence originates from grasping. Continued existence ceases when grasping ceases. The practice that leads to the cessation of continued existence is simply this noble eightfold path …”
94. “Lành thay, chư hiền”... tôi đã hỏi – Này chư hiền, lại có thể có... “Này chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri hữu, tuệ tri tập khởi của hữu, tuệ tri sự đoạn diệt của hữu, và tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của hữu – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được chánh trực, vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được Chánh pháp này. Và này chư hiền, thế nào là hữu, thế nào là tập khởi của hữu, thế nào là sự đoạn diệt của hữu, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của hữu? Này chư hiền, có ba loại hữu này: dục hữu, sắc hữu, và vô sắc hữu. Do thủ tập khởi nên hữu tập khởi, do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt; con đường đưa đến sự đoạn diệt của hữu chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ bhavaṁ pajānāti, evaṁ bhavasamudayaṁ pajānāti, evaṁ bhavanirodhaṁ pajānāti, evaṁ bhavanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti. Ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri hữu như vậy, tuệ tri tập khởi của hữu như vậy, tuệ tri sự đoạn diệt của hữu như vậy, tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của hữu như vậy, vị ấy sau khi đoạn tận hoàn toàn tùy miên tham... trở thành người chấm dứt khổ đau. Này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được chánh trực, vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako upādānañca pajānāti, upādānasamudayañca pajānāti, upādānanirodhañca pajānāti, upādānanirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamaṁ panāvuso, upādānaṁ, katamo upādānasamudayo, katamo upādānanirodho, katamā upādānanirodhagāminī paṭipadā? Cattārimāni, āvuso, upādānāni—kāmupādānaṁ, diṭṭhupādānaṁ, sīlabbatupādānaṁ, attavādupādānaṁ. Taṇhāsamudayā upādānasamudayo, taṇhānirodhā upādānanirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo upādānanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands grasping, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation … But what is grasping? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? There are these four kinds of grasping. Grasping at sensual pleasures, views, precepts and observances, and theories of a self. Grasping originates from craving. Grasping ceases when craving ceases. The practice that leads to the cessation of grasping is simply this noble eightfold path …”
95. “Lành thay, chư hiền”... tôi đã hỏi – Này chư hiền, lại có thể có... “Này chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri thủ, tuệ tri tập khởi của thủ, tuệ tri sự đoạn diệt của thủ, và tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thủ – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được chánh trực, vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được Chánh pháp này. Và này chư hiền, thế nào là thủ, thế nào là tập khởi của thủ, thế nào là sự đoạn diệt của thủ, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thủ? Này chư hiền, có bốn loại thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ. Do ái tập khởi nên thủ tập khởi, do ái đoạn diệt nên thủ đoạn diệt; con đường đưa đến sự đoạn diệt của thủ chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ upādānaṁ pajānāti, evaṁ upādānasamudayaṁ pajānāti, evaṁ upādānanirodhaṁ pajānāti, evaṁ upādānanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri thủ như vậy, tuệ tri tập khởi của thủ như vậy, tuệ tri sự đoạn diệt của thủ như vậy, tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thủ như vậy, vị ấy sau khi đoạn tận hoàn toàn tùy miên tham... trở thành người chấm dứt khổ đau – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được chánh trực, vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako taṇhañca pajānāti, taṇhāsamudayañca pajānāti, taṇhānirodhañca pajānāti, taṇhānirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamā panāvuso, taṇhā, katamo taṇhāsamudayo, katamo taṇhānirodho, katamā taṇhānirodhagāminī paṭipadā? Chayime, āvuso, taṇhākāyā—rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā. Vedanāsamudayā taṇhāsamudayo, vedanānirodhā taṇhānirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo taṇhānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands craving, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation … But what is craving? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? There are these six classes of craving. Craving for sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. Craving originates from feeling. Craving ceases when feeling ceases. The practice that leads to the cessation of craving is simply this noble eightfold path …”
96. “Lành thay, chư hiền”... tôi đã hỏi – Này chư hiền, lại có thể có... “Này chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri ái, tuệ tri tập khởi của ái, tuệ tri sự đoạn diệt của ái, và tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của ái – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được chánh trực, vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được Chánh pháp này. Và này chư hiền, thế nào là ái, thế nào là tập khởi của ái, thế nào là sự đoạn diệt của ái, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của ái? Này chư hiền, có sáu thân ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Do thọ tập khởi nên ái tập khởi, do thọ đoạn diệt nên ái đoạn diệt; con đường đưa đến sự đoạn diệt của ái chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ taṇhaṁ pajānāti, evaṁ taṇhāsamudayaṁ pajānāti, evaṁ taṇhānirodhaṁ pajānāti, evaṁ taṇhānirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri ái như vậy, tuệ tri ái tập khởi như vậy, tuệ tri ái diệt như vậy, tuệ tri con đường đưa đến ái diệt như vậy, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn tùy miên tham... (cho đến)... trở thành người chấm dứt khổ đau – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được với Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako vedanañca pajānāti, vedanāsamudayañca pajānāti, vedanānirodhañca pajānāti, vedanānirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamā panāvuso, vedanā, katamo vedanāsamudayo, katamo vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā? Chayime, āvuso, vedanākāyā—cakkhusamphassajā vedanā, sotasamphassajā vedanā, ghānasamphassajā vedanā, jivhāsamphassajā vedanā, kāyasamphassajā vedanā, manosamphassajā vedanā. Phassasamudayā vedanāsamudayo, phassanirodhā vedanānirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo vedanānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands feeling, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation … But what is feeling? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? There are these six classes of feeling. Feeling born of contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Feeling originates from contact. Feeling ceases when contact ceases. The practice that leads to the cessation of feeling is simply this noble eightfold path …”
97. “Lành thay, thưa chư hiền.” ... (cho đến) ... đã hỏi: “Thưa chư hiền, liệu có thể có ... (cho đến) ...” “Thưa chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri cả thọ, tuệ tri cả thọ tập khởi, tuệ tri cả thọ diệt, và tuệ tri cả con đường đưa đến thọ diệt – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được với Chánh pháp này. Thưa chư hiền, thế nào là thọ, thế nào là thọ tập khởi, thế nào là thọ diệt, thế nào là con đường đưa đến thọ diệt? Này chư hiền, có sáu thân thọ này: thọ sanh do nhãn xúc, thọ sanh do nhĩ xúc, thọ sanh do tỷ xúc, thọ sanh do thiệt xúc, thọ sanh do thân xúc, thọ sanh do ý xúc. Do xúc tập khởi nên có thọ tập khởi, do xúc diệt nên có thọ diệt, và con đường đưa đến thọ diệt chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến ... (cho đến) ... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ vedanaṁ pajānāti, evaṁ vedanāsamudayaṁ pajānāti, evaṁ vedanānirodhaṁ pajānāti, evaṁ vedanānirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri thọ như vậy, tuệ tri thọ tập khởi như vậy, tuệ tri thọ diệt như vậy, tuệ tri con đường đưa đến thọ diệt như vậy, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn tùy miên tham... (cho đến)... trở thành người chấm dứt khổ đau – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được với Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako phassañca pajānāti, phassasamudayañca pajānāti, phassanirodhañca pajānāti, phassanirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamo panāvuso, phasso, katamo phassasamudayo, katamo phassanirodho, katamā phassanirodhagāminī paṭipadā? Chayime, āvuso, phassakāyā—cakkhusamphasso, sotasamphasso, ghānasamphasso, jivhāsamphasso, kāyasamphasso, manosamphasso. Saḷāyatanasamudayā phassasamudayo, saḷāyatananirodhā phassanirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo phassanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands contact, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation … But what is contact? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? There are these six classes of contact. Contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Contact originates from the six sense fields. Contact ceases when the six sense fields cease. The practice that leads to the cessation of contact is simply this noble eightfold path …”
98. “Lành thay, thưa chư hiền.” ... (cho đến) ... đã hỏi: “Thưa chư hiền, liệu có thể có ... (cho đến) ...” “Thưa chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri cả xúc, tuệ tri cả xúc tập khởi, tuệ tri cả xúc diệt, và tuệ tri cả con đường đưa đến xúc diệt – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được với Chánh pháp này. Thưa chư hiền, thế nào là xúc, thế nào là xúc tập khởi, thế nào là xúc diệt, thế nào là con đường đưa đến xúc diệt? Này chư hiền, có sáu thân xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Do sáu xứ tập khởi nên có xúc tập khởi, do sáu xứ diệt nên có xúc diệt, và con đường đưa đến xúc diệt chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến ... (cho đến) ... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ phassaṁ pajānāti, evaṁ phassasamudayaṁ pajānāti, evaṁ phassanirodhaṁ pajānāti, evaṁ phassanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri xúc như vậy, tuệ tri xúc tập khởi như vậy, tuệ tri xúc diệt như vậy, tuệ tri con đường đưa đến xúc diệt như vậy, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn tùy miên tham... (cho đến)... trở thành người chấm dứt khổ đau – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được với Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako saḷāyatanañca pajānāti, saḷāyatanasamudayañca pajānāti, saḷāyatananirodhañca pajānāti, saḷāyatananirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamaṁ panāvuso, saḷāyatanaṁ, katamo saḷāyatanasamudayo, katamo saḷāyatananirodho, katamā saḷāyatananirodhagāminī paṭipadā? Chayimāni, āvuso, āyatanāni—cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ. Nāmarūpasamudayā saḷāyatanasamudayo, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saḷāyatananirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands the six sense fields, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation … But what are the six sense fields? What is their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation? There are these six sense fields. The sense fields of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. The six sense fields originate from name and form. The six sense fields cease when name and form cease. The practice that leads to the cessation of the six sense fields is simply this noble eightfold path …”
99. “Lành thay, thưa chư hiền.” ... (cho đến) ... đã hỏi: “Thưa chư hiền, liệu có thể có ... (cho đến) ...” “Thưa chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri cả sáu xứ, tuệ tri cả sáu xứ tập khởi, tuệ tri cả sáu xứ diệt, và tuệ tri cả con đường đưa đến sáu xứ diệt – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được với Chánh pháp này. Thưa chư hiền, thế nào là sáu xứ, thế nào là sáu xứ tập khởi, thế nào là sáu xứ diệt, thế nào là con đường đưa đến sáu xứ diệt? Này chư hiền, có sáu xứ này: nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Do danh sắc tập khởi nên có sáu xứ tập khởi, do danh sắc diệt nên có sáu xứ diệt, và con đường đưa đến sáu xứ diệt chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến ... (cho đến) ... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ saḷāyatanaṁ pajānāti, evaṁ saḷāyatanasamudayaṁ pajānāti, evaṁ saḷāyatananirodhaṁ pajānāti, evaṁ saḷāyatananirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri sáu xứ như vậy, tuệ tri sáu xứ tập khởi như vậy, tuệ tri sáu xứ diệt như vậy, tuệ tri con đường đưa đến sáu xứ diệt như vậy, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn tùy miên tham... (cho đến)... trở thành người chấm dứt khổ đau – này chư hiền, chỉ với chừng ấy, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đến được với Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako nāmarūpañca pajānāti, nāmarūpasamudayañca pajānāti, nāmarūpanirodhañca pajānāti, nāmarūpanirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamaṁ panāvuso, nāmarūpaṁ, katamo nāmarūpasamudayo, katamo nāmarūpanirodho, katamā nāmarūpanirodhagāminī paṭipadā? Vedanā, saññā, cetanā, phasso, manasikāro—idaṁ vuccatāvuso, nāmaṁ; cattāri ca mahābhūtāni, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāyarūpaṁ—idaṁ vuccatāvuso, rūpaṁ. Iti idañca nāmaṁ idañca rūpaṁ—idaṁ vuccatāvuso, nāmarūpaṁ. Viññāṇasamudayā nāmarūpasamudayo, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo nāmarūpanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands name and form, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation … But what are name and form? What is their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation? Feeling, perception, intention, contact, and application of mind—this is called name. The four principal states, and form derived from the four principal states—this is called form. Such is name and such is form. This is called name and form. Name and form originate from consciousness. Name and form cease when consciousness ceases. The practice that leads to the cessation of name and form is simply this noble eightfold path …”
100. ‘Lành thay, thưa chư hiền’... tôi đã hỏi – Này chư hiền, có thể có... ‘Này chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ danh sắc, biết rõ sự tập khởi của danh sắc, biết rõ sự đoạn diệt của danh sắc, và biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của danh sắc – này chư hiền, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được thẳng thắn, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, đã đi đến Diệu Pháp này. Này chư hiền, thế nào là danh sắc, thế nào là sự tập khởi của danh sắc, thế nào là sự đoạn diệt của danh sắc, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý – này chư hiền, cái này được gọi là danh; và bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo ra – này chư hiền, cái này được gọi là sắc. Như vậy, đây là danh và đây là sắc – này chư hiền, cái này được gọi là danh sắc. Do thức tập khởi nên danh sắc tập khởi, do thức đoạn diệt nên danh sắc đoạn diệt, chính Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến sự đoạn diệt của danh sắc, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.’
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ nāmarūpaṁ pajānāti, evaṁ nāmarūpasamudayaṁ pajānāti, evaṁ nāmarūpanirodhaṁ pajānāti, evaṁ nāmarūpanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
‘Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ danh sắc như vậy, biết rõ sự tập khởi của danh sắc như vậy, biết rõ sự đoạn diệt của danh sắc như vậy, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của danh sắc như vậy, vị ấy, sau khi đã từ bỏ hoàn toàn tùy miên tham... cho đến... trở thành người chấm dứt khổ đau – này chư hiền, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được thẳng thắn, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, đã đi đến Diệu Pháp này.’
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako viññāṇañca pajānāti, viññāṇasamudayañca pajānāti, viññāṇanirodhañca pajānāti, viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamaṁ panāvuso, viññāṇaṁ, katamo viññāṇasamudayo, katamo viññāṇanirodho, katamā viññāṇanirodhagāminī paṭipadā? Chayime, āvuso, viññāṇakāyā—cakkhuviññāṇaṁ, sotaviññāṇaṁ, ghānaviññāṇaṁ, jivhāviññāṇaṁ, kāyaviññāṇaṁ, manoviññāṇaṁ. Saṅkhārasamudayā viññāṇasamudayo, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo viññāṇanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation … But what is consciousness? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? There are these six classes of consciousness. Eye, ear, nose, tongue, body, and mind consciousness. Consciousness originates from choices. Consciousness ceases when choices cease. The practice that leads to the cessation of consciousness is simply this noble eightfold path …”
101. ‘Lành thay, thưa chư hiền’... tôi đã hỏi – Này chư hiền, có thể có... ‘Này chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ thức, biết rõ sự tập khởi của thức, biết rõ sự đoạn diệt của thức, và biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức – này chư hiền, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được thẳng thắn, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, đã đi đến Diệu Pháp này. Này chư hiền, thế nào là thức, thế nào là sự tập khởi của thức, thế nào là sự đoạn diệt của thức, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức? Này chư hiền, có sáu thân thức này – nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Do hành tập khởi nên thức tập khởi, do hành đoạn diệt nên thức đoạn diệt, chính Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.’
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ viññāṇaṁ pajānāti, evaṁ viññāṇasamudayaṁ pajānāti, evaṁ viññāṇanirodhaṁ pajānāti, evaṁ viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya …pe… dukkhassantakaro hoti—
ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
‘Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ thức như vậy, biết rõ sự tập khởi của thức như vậy, biết rõ sự đoạn diệt của thức như vậy, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức như vậy, vị ấy, sau khi đã từ bỏ hoàn toàn tùy miên tham... cho đến... trở thành người chấm dứt khổ đau – này chư hiền, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được thẳng thắn, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, đã đi đến Diệu Pháp này.’
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako saṅkhāre ca pajānāti, saṅkhārasamudayañca pajānāti, saṅkhāranirodhañca pajānāti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katame panāvuso, saṅkhārā, katamo saṅkhārasamudayo, katamo saṅkhāranirodho, katamā saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā? Tayome, āvuso, saṅkhārā—kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro. Avijjāsamudayā saṅkhārasamudayo, avijjānirodhā saṅkhāranirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“There might, reverends. A noble disciple understands choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation … But what are choices? What is their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation? There are these three kinds of choice. Choices by way of body, speech, and mind. Choices originate from ignorance. Choices cease when ignorance ceases. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path …”
102. ‘Lành thay, thưa chư hiền’... tôi đã hỏi – Này chư hiền, có thể có... ‘Này chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ các hành, biết rõ sự tập khởi của các hành, biết rõ sự đoạn diệt của các hành, và biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành – này chư hiền, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được thẳng thắn, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, đã đi đến Diệu Pháp này. Này chư hiền, thế nào là các hành, thế nào là sự tập khởi của các hành, thế nào là sự đoạn diệt của các hành, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành? Này chư hiền, có ba loại hành này – thân hành, khẩu hành, ý hành. Do vô minh tập khởi nên các hành tập khởi, do vô minh đoạn diệt nên các hành đoạn diệt, chính Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.’
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ saṅkhāre pajānāti, evaṁ saṅkhārasamudayaṁ pajānāti, evaṁ saṅkhāranirodhaṁ pajānāti, evaṁ saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya, paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā, ‘asmī’ti diṭṭhimānānusayaṁ samūhanitvā, avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā, diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
‘Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ các hành như vậy, biết rõ sự tập khởi của các hành như vậy, biết rõ sự đoạn diệt của các hành như vậy, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành như vậy, vị ấy, sau khi đã từ bỏ hoàn toàn tùy miên tham, sau khi đã xua tan tùy miên sân, sau khi đã nhổ sạch tùy miên kiến và mạn ‘ta là’, sau khi đã từ bỏ vô minh, làm cho minh sanh khởi, trở thành người chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại – này chư hiền, chỉ với chừng ấy thôi, vị Thánh đệ tử là người có chánh kiến, tri kiến của vị ấy được thẳng thắn, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, đã đi đến Diệu Pháp này.’
“Sādhāvuso”ti kho …pe… apucchuṁ—siyā panāvuso …pe…
“siyā, āvuso. Yato kho, āvuso, ariyasāvako avijjañca pajānāti, avijjāsamudayañca pajānāti, avijjānirodhañca pajānāti, avijjānirodhagāminiṁ paṭipadañca pajānāti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhammaṁ. Katamā panāvuso, avijjā, katamo avijjāsamudayo, katamo avijjānirodho, katamā avijjānirodhagāminī paṭipadā? Yaṁ kho, āvuso, dukkhe aññāṇaṁ, dukkhasamudaye aññāṇaṁ, dukkhanirodhe aññāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṁ—ayaṁ vuccatāvuso, avijjā. Āsavasamudayā avijjāsamudayo, āsavanirodhā avijjānirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo avijjānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
“Might there be another way to describe a noble disciple?”
“There might, reverends. A noble disciple understands ignorance, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation … But what is ignorance? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? Not knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. This is called ignorance. Ignorance originates from defilement. Ignorance ceases when defilement ceases. The practice that leads to the cessation of ignorance is simply this noble eightfold path …”
103. “Lành thay, thưa hiền giả.” ...đã hỏi... “Thưa hiền giả, có thể có...”. “Này chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ vô minh, biết rõ sự tập khởi của vô minh, biết rõ sự đoạn diệt của vô minh, và biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của vô minh – chừng ấy thôi, này chư hiền, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đi vào Chánh pháp này. Nhưng này chư hiền, thế nào là vô minh, thế nào là sự tập khởi của vô minh, thế nào là sự đoạn diệt của vô minh, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của vô minh? Này chư hiền, sự không biết về khổ, sự không biết về khổ tập, sự không biết về khổ diệt, sự không biết về con đường đưa đến khổ diệt – này chư hiền, đây được gọi là vô minh. Do sự tập khởi của các lậu hoặc nên có sự tập khởi của vô minh, do sự đoạn diệt của các lậu hoặc nên có sự đoạn diệt của vô minh. Con đường Thánh đạo tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt của vô minh, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ avijjaṁ pajānāti, evaṁ avijjāsamudayaṁ pajānāti, evaṁ avijjānirodhaṁ pajānāti, evaṁ avijjānirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya, paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā, ‘asmī’ti diṭṭhimānānusayaṁ samūhanitvā, avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā, diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ vô minh như vậy, biết rõ sự tập khởi của vô minh như vậy, biết rõ sự đoạn diệt của vô minh như vậy, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của vô minh như vậy, vị ấy sau khi đã từ bỏ hoàn toàn tham tùy miên, đã loại trừ sân tùy miên, đã nhổ lên tận gốc kiến mạn tùy miên ‘ta là’, sau khi đã từ bỏ vô minh, đã làm cho minh sanh khởi, ngay trong hiện tại trở thành người chấm dứt khổ đau – chừng ấy thôi, này chư hiền, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đi vào Chánh pháp này.”
“Sādhāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ uttari pañhaṁ apucchuṁ: “siyā panāvuso, aññopi pariyāyo yathā ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti?
“Siyā, āvuso.
Saying “Good, reverend,” those mendicants approved and agreed with what Sāriputta said. Then they asked another question: “But reverend, might there be another way to describe a noble disciple who has right view, whose view is correct, who has experiential confidence in the teaching, and has come to the true teaching?”
“There might, reverends.
104. “Lành thay, thưa hiền giả.” Các vị tỳ khưu ấy, sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của Tôn giả Sāriputta, đã hỏi Tôn giả Sāriputta một câu hỏi khác nữa: “Thưa hiền giả, có thể có một phương pháp nào khác nữa, mà theo đó vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đi vào Chánh pháp này không?”
Katamo panāvuso, āsavo, katamo āsavasamudayo, katamo āsavanirodho, katamā āsavanirodhagāminī paṭipadāti? Tayome, āvuso, āsavā—kāmāsavo, bhavāsavo, avijjāsavo. Avijjāsamudayā āsavasamudayo, avijjānirodhā āsavanirodho, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo āsavanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
But what is defilement? What is its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation? There are these three defilements. The defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. Defilement originates from ignorance. Defilement ceases when ignorance ceases. The practice that leads to the cessation of defilement is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
“Này chư hiền, có thể có. Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ các lậu hoặc, biết rõ sự tập khởi của các lậu hoặc, biết rõ sự đoạn diệt của các lậu hoặc, và biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc – chừng ấy thôi, này chư hiền, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đi vào Chánh pháp này. Nhưng này chư hiền, thế nào là lậu hoặc, thế nào là sự tập khởi của lậu hoặc, thế nào là sự đoạn diệt của lậu hoặc, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của lậu hoặc? Này chư hiền, có ba lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu. Do sự tập khởi của vô minh nên có sự tập khởi của các lậu hoặc, do sự đoạn diệt của vô minh nên có sự đoạn diệt của các lậu hoặc. Con đường Thánh đạo tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.”
Yato kho, āvuso, ariyasāvako evaṁ āsavaṁ pajānāti, evaṁ āsavasamudayaṁ pajānāti, evaṁ āsavanirodhaṁ pajānāti, evaṁ āsavanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so sabbaso rāgānusayaṁ pahāya, paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā, ‘asmī’ti diṭṭhimānānusayaṁ samūhanitvā, avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā, diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti—ettāvatāpi kho, āvuso, ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṁ saddhamman”ti.
A noble disciple understands in this way defilement, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They’ve completely given up the underlying tendency to greed, dispelled the underlying tendency to aversion, and eradicated the underlying tendency to the view and conceit ‘I am’. They’ve given up ignorance and given rise to knowledge, and make an end of suffering in this very life. When they’ve done this, they’re defined as a noble disciple who has right view, whose view is correct, who has experiential confidence in the teaching, and has come to the true teaching.”
“Này chư hiền, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ các lậu hoặc như vậy, biết rõ sự tập khởi của các lậu hoặc như vậy, biết rõ sự đoạn diệt của các lậu hoặc như vậy, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc như vậy, vị ấy sau khi đã từ bỏ hoàn toàn tham tùy miên, đã loại trừ sân tùy miên, đã nhổ lên tận gốc kiến mạn tùy miên ‘ta là’, sau khi đã từ bỏ vô minh, đã làm cho minh sanh khởi, ngay trong hiện tại trở thành người chấm dứt khổ đau – chừng ấy thôi, này chư hiền, vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh pháp, đã đi vào Chánh pháp này.”
Idamavocāyasmā sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what Venerable Sāriputta said. Satisfied, the mendicants approved what Sāriputta said.
Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Các vị tỳ khưu ấy, với tâm ý hoan hỷ, đã tín thọ lời dạy của Tôn giả Sāriputta.
Sammādiṭṭhisuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Chánh Kiến, kinh thứ chín, đã chấm dứt.