- Majjhima Nikāya 89
Dhammacetiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dhammacetiyasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka (Thích-ca). Medalumpa là một thị trấn của dân chúng Sakka.
SC 2Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala đi đến Nangaraka vì có một vài công việc. Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với Dīgha Karayana
SC 3—Này Karayana, hãy sửa soạn các cỗ xe thù thắng, ta muốn đi đến các thượng uyển để ngắm phong cảnh.
SC 4—Thưa vâng, Ðại vương.
SC 5Dīgha Karayana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, cho sửa soạn các cỗ xe thù thắng, rồi thưa với vua Pasenadi nước Kosala
SC 6—Tâu Ðại vương, các cỗ xe thù thắng của Ðại vương đã sửa soạn xong, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
SC 7Rồi vua Pasenadi nước Kosala, leo lên một cỗ xe thù thắng, đi ra khỏi Nangaraka cùng nhiều cỗ xe thù thắng khác, với tất cả uy vệ của vua chúa, và đi đến vườn thượng uyển, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ, vào vườn thượng uyển, trong khi đi qua đi lại trong vườn thượng uyển, trong khi tản bộ thưởng ngoạn, vua Pasenadi nước Kosala thấy những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, ít ồn, vắng người, thoáng gió, xa lánh mọi tụ hội đông đảo, thích hợp với trầm tư mặc tưởng. Thấy vậy, vua liền nghĩ đến Thế Tôn: “Những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, ít ồn, vắng người, thoáng gió, xa lánh mọi tụ hội đông đảo, thích hợp với trầm tư mặc tưởng này, chính tại đây, chúng ta đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”. Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với Dīgha Karayana
SC 8—Này Karayana, những gốc cây khả ái … Chánh Ðẳng Giác. Này Karayana, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trú tại chỗ nào?
SC 9—Tâu Ðại vương, có một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Medalumpa. Tại đấy, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đang trú.
SC 10—Này Karayana, Medalumpa, thị trấn của dân chúng Sakka, cách xa Nangaraka bao nhiêu?
SC 11—Tâu Ðại vương, cách không xa, có ba yojana (do tuần). Có thể đi đến chỗ ấy trong ngày.
SC 12—Vậy này Karayana, hãy sửa soạn các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 13—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
SC 14Dīgha Karayana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, cho sửa soạn các cỗ xe thù thắng, sau khi sửa soạn xong các cỗ xe thù thắng, liền tâu với vua Pasenadi nước Kosala
SC 15—Tâu Ðại vương các cỗ xe thù thắng đã sửa soạn xong, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
SC 16Rồi vua Pasenadi nước Kosala, leo lên một cỗ xe thù thắng, và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, từ Nangaraka đi đến Medulampa, thị trấn của dân chúng Sakka, đến nơi đó nội trong ngày, rồi đi đến tịnh xá. Vua đi xe cho đến chỗ nào có thể đi xe được, rồi xuống xe đi bộ vào tịnh xá. Lúc bấy giờ một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Vua Pasenadi nước Kosala đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo ấy
SC 17—Chư Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 18—Thưa Ðại vương, Thế Tôn ở trong ngôi nhà này với các cửa khép kín. Hãy im lặng đến gần, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, sau khi đằng hắng, hãy gõ vào khóa cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho Ðại vương.
SC 19Rồi vua Pasenadi nước Kosala, ngay tại chỗ ấy, trao kiếm và vành khăn cho Dīgha Karayana. Rồi Dīgha Karayana tự nghĩ: “Nay vua muốn đi một mình. Ở đây, ta phải dừng lại”. Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa.
SC 20Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên
SC 21—Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
SC 22—Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
SC 23—Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn. “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì”.
SC 24Lại nữa bạch Thế Tôn, vua chúa cãi lộn với vua chúa, Sát-đế-lị cãi lộn với Sát-đế-lị, Bà-la-môn cãi lộn với Bà-la-môn, gia chủ cãi lộn với gia chủ, mẹ cãi lộn với con, con cãi lộn với mẹ, cha cãi lộn với con, con cãi lộn với cha, anh em cãi lộn với anh em, anh em cãi lộn với chị em, chị em cãi lộn với anh em, bạn bè cãi lộn với bạn bè. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống với nhau thuận hòa, thân hữu, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra, có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì”.
SC 25Lại nữa, bạch Thế Tôn, con đi du hành tản bộ từ công viên này đến công viên khác, từ cung uyển này đến cung uyển khác. Ở đấy, con thấy một số Sa-môn, Bà-la-môn gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật sự các bậc Tôn giả này sống Phạm hạnh không được hoan hỷ hay có những ác nghiệp được giấu kín. Do vậy, các vị Tôn giả này mới gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn. Con đi đến các vị ấy và nói:
SC 26“—Vì sao chư Tôn giả lại gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn?”.
SC 27Các vị ấy trả lời như sau:
SC 28“—Tâu Ðại vương, chúng tôi bị bệnh gia truyền”.
SC 29Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái, không dao động, bình tĩnh, sống dựa vào sự hỷ cúng của người khác, với tâm tư như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật sự các bậc Tôn giả này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự nên các bậc Tôn giả này hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái, không dao động, bình tĩnh, sống dựa vào sự hỷ cúng của người khác, với tâm tư như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.
SC 30Lại nữa, bạch Thế Tôn, con là một vị vua Sát-đế-lị, đã làm lễ quán đảnh, có thể hành quyết những ai đáng bị hành quyết, gia phạt những ai đáng bị gia phạt, trục xuất những ai đáng bị trục xuất. Nhưng bạch Thế Tôn, khi con ngồi xử kiện, có người đôi khi nói ngắt lời của con. Và con không có dịp để nói: “Này Quý vị, chớ có ngắt lời nói của ta, khi ta đang ngồi xử kiện. Quý vị hãy chờ cho đến khi ta nói xong”. Bạch Thế Tôn, thế mà có người vẫn ngắt lời nói của con. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng nhảy mũi hay tiếng ho khởi lên. Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: “Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp”. Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Thính chúng này thật khéo được huấn luyện, không gậy, không kiếm. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đồ chúng này có một đồ chúng nào khác được khéo huấn luyện như đồ chúng này. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.
SC 31Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy ở đây một số Sát-đế-lị bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này, chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Họ sắp đặt câu hỏi: “Chúng ta sau khi đến sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này. Khi bị ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia”. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng hay thị trấn này”. Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại khai thị cho các vị này, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Ðược Sa-môn Gotama, với pháp thoại khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn! Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Bạch Thế Tôn, như vậy là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.
SC 32Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy ở đây một số Bà-la-môn bác học … Gia chủ bác học, Sa-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc, những vị này đi chỗ này chỗ kia như muốn đả phá các tà kiến … họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ xin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế Tôn cho họ được xuất gia. Ðược xuất gia như vậy, một số các vị ấy sống một mình, không phóng dật, nỗ lực, tinh cần và không bao lâu sau, tự chứng với thắng trí, chứng ngộ chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích tối thượng của Phạm hạnh mà những Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Họ nói như sau: “Thật sự chúng ta gần hoại vong! Thật sự chúng ta gần hoại diệt! Xưa kia chúng ta không phải Sa-môn lại tự xem là Sa-môn, không phải Bà-la-môn lại tự xem là Bà-la-môn, không phải bậc A-la-hán lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán”. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.
SC 33Lại nữa, bạch Thế Tôn, Isidatta và Purāna là hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, sinh sống do con cho, và chính con đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với con như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, trong khi hành quân chống với đội quân đối nghịch, và muốn thử thách Isidatta và Purāna, hai quan giữ ngựa, con đến ở tại một căn nhà chật hẹp. Rồi bạch Thế Tôn, hai quan giữ ngựa, Isidatta và Purāna, sau khi cùng nhau đàm luận về chánh pháp hơn nửa đêm, rồi nằm xuống ngủ, với đầu của họ hướng về phía mà họ được nghe là chỗ Thế Tôn ở và với chân hướng về chỗ con. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purāna này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự”. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.
SC 34Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuộc dòng Sát-đế-lị, con cũng thuộc dòng Sát-đế-lị. Thế Tôn là người nước Kosala, con cũng thuộc người nước Kosala. Thế Tôn được tám mươi tuổi, con cũng được tám mươi tuổi. Vì Thế Tôn thuộc dòng Sát-đế-lị và con cũng thuộc dòng Sát-đế-lị; vì Thế Tôn là người nước Kosala, con cũng thuộc người Kosala; vì Thế Tôn được tám mươi tuổi, con cũng được tám mươi tuổi; nên con sẵn sàng hạ mình tột bực đối với Thế Tôn, và biểu lộ tình thân ái. Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con nhiều công việc, có nhiều bổn phận phải làm.
SC 35—Thưa Ðại vương, Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
SC 36Rồi vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 37Khi vua Pasenadi nước Kosala ra đi không bao lâu, Thế Tôn cho gọi các Tỷ-kheo
SC 38—Này các Tỷ-kheo, đấy là vua Pasenadi nước Kosala. Sau khi nói lên những pháp trang nghiêm, vua đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Này các Tỷ-kheo, hãy học các pháp trang nghiêm. Hãy thấu triệt các pháp trang nghiêm. Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì các pháp trang nghiêm. Này các Tỷ-kheo, các pháp trang nghiêm này liên hệ đến mục tiêu, là căn bản của Phạm hạnh.
SC 39Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 18–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Dhammacetiya
Tena kho pana samayena rājā pasenadi kosalo nagarakaṁ anuppatto hoti kenacideva karaṇīyena.
Atha kho rājā pasenadi kosalo dīghaṁ kārāyanaṁ āmantesi: “yojehi, samma kārāyana, bhadrāni bhadrāni yānāni, uyyānabhūmiṁ gacchāma subhūmiṁ dassanāyā”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho dīgho kārāyano rañño pasenadissa kosalassa paṭissutvā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā rañño pasenadissa kosalassa paṭivedesi: “yuttāni kho te, deva, bhadrāni bhadrāni yānāni. Yassadāni kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi nagarakamhā niyyāsi mahaccā rājānubhāvena. Yena ārāmo tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova ārāmaṁ pāvisi.
Addasā kho rājā pasenadi kosalo ārāme jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno rukkhamūlāni pāsādikāni pasādanīyāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. Disvāna bhagavantaṁyeva ārabbha sati udapādi: “imāni kho tāni rukkhamūlāni pāsādikāni pasādanīyāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni, yattha sudaṁ mayaṁ taṁ bhagavantaṁ payirupāsāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
Now at that time King Pasenadi of Kosala had arrived at Townsville on some business.
Then he addressed Dīgha Kārāyana, “My good Kārāyana, harness the finest chariots. We will go to a park and see the scenery.”
“Yes, Your Majesty,” replied Dīgha Kārāyana. He harnessed the chariots and informed the king, “Your Majesty, the finest chariots are harnessed. Please go at your convenience.”
Then King Pasenadi mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out in full royal pomp from Townsville, heading for the park grounds. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and entered the park on foot.
As he was going for a walk in the park he saw roots of trees that were impressive and inspiring, quiet and still, far from the madding crowd, remote from human settlements, and fit for retreat. The sight reminded him right away of the Buddha: “These roots of trees, so impressive and inspiring, are like those where we used to pay homage to the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.”
364. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở giữa những người Sakya, tại một thị trấn của dòng họ Sakya tên là Medāḷupa. Vào lúc ấy, vua Pasenadi của xứ Kosala đã đến Nagaraka vì một công việc nào đó. Bấy giờ, vua Pasenadi của xứ Kosala gọi Dīgha Kārāyana và nói: “Này khanh Kārāyana, hãy thắng những cỗ xe tốt nhất, chúng ta sẽ đi đến khu vườn để ngắm cảnh đẹp.” – “Vâng, tâu thiên tử,” Dīgha Kārāyana vâng lời vua Pasenadi của xứ Kosala, cho thắng những cỗ xe tốt nhất, rồi báo lại cho vua Pasenadi của xứ Kosala: “Tâu thiên tử, những cỗ xe tốt nhất đã được thắng sẵn cho ngài. Bây giờ là thời điểm ngài cho là thích hợp.” Bấy giờ, vua Pasenadi của xứ Kosala lên một cỗ xe tốt, cùng với những cỗ xe tốt khác, với uy nghi vương giả vĩ đại, rời khỏi Nagaraka. Ngài đi về hướng khu vườn. Ngài đi bằng xe cho đến khi hết đoạn đường dành cho xe, rồi xuống xe và đi bộ vào khu vườn. Vua Pasenadi của xứ Kosala, trong khi đi dạo, đi kinh hành, đi loanh quanh trong khu vườn, đã nhìn thấy những gốc cây làm phát sinh niềm tin, làm phát sinh sự hoan hỷ, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng gió người, thích hợp cho sự riêng tư của con người, phù hợp cho việc độc cư. Sau khi nhìn thấy, niệm tưởng về đức Thế Tôn khởi lên: “Đây chính là những gốc cây làm phát sinh niềm tin, làm phát sinh sự hoan hỷ, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng gió người, thích hợp cho sự riêng tư của con người, phù hợp cho việc độc cư, nơi mà chúng ta đã từng thân cận đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.”
Atha kho rājā pasenadi kosalo dīghaṁ kārāyanaṁ āmantesi: “imāni kho, samma kārāyana, tāni rukkhamūlāni pāsādikāni pasādanīyāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni, yattha sudaṁ mayaṁ taṁ bhagavantaṁ payirupāsāma arahantaṁ sammāsambuddhaṁ. Kahaṁ nu kho, samma kārāyana, etarahi so bhagavā viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti?
“Atthi, mahārāja, medāḷupaṁ nāma sakyānaṁ nigamo. Tattha so bhagavā etarahi viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti.
“Kīvadūre pana, samma kārāyana, nagarakamhā medāḷupaṁ nāma sakyānaṁ nigamo hotī”ti?
“Na dūre, mahārāja; tīṇi yojanāni; sakkā divasāvasesena gantun”ti.
“Tena hi, samma kārāyana, yojehi bhadrāni bhadrāni yānāni, gamissāma mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho dīgho kārāyano rañño pasenadissa kosalassa paṭissutvā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā rañño pasenadissa kosalassa paṭivedesi: “yuttāni kho te, deva, bhadrāni bhadrāni yānāni. Yassadāni kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi nagarakamhā yena medāḷupaṁ nāma sakyānaṁ nigamo tena pāyāsi. Teneva divasāvasesena medāḷupaṁ nāma sakyānaṁ nigamaṁ sampāpuṇi. Yena ārāmo tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova ārāmaṁ pāvisi.
He addressed Dīgha Kārāyana, “These roots of trees, so impressive and inspiring, are like those where we used to pay homage to the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. My good Kārāyana, where is that Buddha at present?”
“Great king, there is a Sakyan town named Medaḷumpa. That’s where the Buddha is now staying.”
“But how far away is that town?”
“Not far, Great King, it’s three leagues. We can get there while it’s still light.”
“Well then, harness the chariots, and we shall go to see the Buddha.”
“Yes, Your Majesty,” replied Dīgha Kārāyana. He harnessed the chariots and informed the king, “Your Majesty, the finest chariots are harnessed. Please go at your convenience.”
Then King Pasenadi mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out from Townsville to Medaḷumpa. He reached the town while it was still light and headed for the monastery grounds. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and entered the monastery on foot.
365. Bấy giờ, đức vua Pasenadi xứ Kosala cho gọi Dīgha Kārāyana và nói: “Này Kārāyana thân hữu, những gốc cây này thật khả ái, thật làm phát sinh tịnh tín, ít tiếng động, ít huyên náo, vắng người, thích hợp cho nơi kín đáo, thích hợp cho việc độc cư thiền tịnh, chính là những nơi mà chúng ta đã từng hầu cận Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy. Này Kārāyana thân hữu, hiện nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, đang trú ở đâu?” “Tâu Đại vương, có một thị trấn của dòng họ Sakya tên là Medāḷupa. Hiện nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, đang trú ở đấy.” “Này Kārāyana thân hữu, thị trấn Medāḷupa của dòng họ Sakya cách thị trấn này bao xa?” “Tâu Đại vương, không xa lắm, khoảng ba do-tuần. Có thể đi đến nơi trong phần còn lại của ngày.” “Vậy thì, này Kārāyana thân hữu, hãy thắng những cỗ xe tốt nhất. Chúng ta sẽ đi yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.” “Tâu Thiên tử, xin vâng.” Dīgha Kārāyana vâng lời đức vua Pasenadi xứ Kosala, cho thắng những cỗ xe tốt nhất, rồi đến trình báo với đức vua Pasenadi xứ Kosala: “Tâu Thiên tử, những cỗ xe tốt nhất đã được thắng sẵn cho ngài. Nay ngài biết đây là thời điểm thích hợp.” Bấy giờ, đức vua Pasenadi xứ Kosala lên một cỗ xe tốt, cùng với những cỗ xe tốt khác rời khỏi thị trấn, đi về hướng thị trấn Medāḷupa của dòng họ Sakya. Ngài đã đến được thị trấn Medāḷupa của dòng họ Sakya ngay trong phần còn lại của ngày hôm đó. Ngài đi về hướng khu vườn. Đi xe đến hết đoạn đường dành cho xe, ngài xuống xe và đi bộ vào khu vườn.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū abbhokāse caṅkamanti. Atha kho rājā pasenadi kosalo yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca: “kahaṁ nu kho, bhante, etarahi so bhagavā viharati arahaṁ sammāsambuddho? Dassanakāmā hi mayaṁ taṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
“Eso, mahārāja, vihāro saṁvutadvāro. Tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno āḷindaṁ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭehi. Vivarissati bhagavā te dvāran”ti. Atha kho rājā pasenadi kosalo tattheva khaggañca uṇhīsañca dīghassa kārāyanassa pādāsi. Atha kho dīghassa kārāyanassa etadahosi: “rahāyati kho dāni rājā, idheva dāni mayā ṭhātabban”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yena so vihāro saṁvutadvāro tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno āḷindaṁ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭesi. Vivari bhagavā dvāraṁ.
Atha kho rājā pasenadi kosalo vihāraṁ pavisitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati, pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti: “rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo; rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo”ti.
At that time several mendicants were walking mindfully in the open air. King Pasenadi of Kosala went up to them and said, “Sirs, where is the Blessed One at present, the perfected one, the fully awakened Buddha? For I want to see him.”
“Great king, that’s his dwelling, with the door closed. Approach it quietly, without hurrying; go onto the porch, clear your throat, and knock on the door-panel. The Buddha will open the door.” The king right away presented his sword and turban to Dīgha Kārāyana, who thought, “Now the king seeks privacy. I should wait here.”
Then the king approached the Buddha’s dwelling, cleared his throat and knocked on the door-panel, and the Buddha opened the door.
King Pasenadi entered the dwelling, and bowed with his head to the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name: “Sir, I am Pasenadi, king of Kosala! I am Pasenadi, king of Kosala!”
366. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỳ-khưu đang đi kinh hành ở ngoài trời. Bấy giờ, đức vua Pasenadi xứ Kosala đi đến chỗ các vị Tỳ-khưu ấy; sau khi đến, ngài nói với các vị Tỳ-khưu ấy rằng: “Bạch chư Tôn giả, hiện nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, đang trú ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.” “Tâu Đại vương, kia là ngôi tịnh xá có cửa đang đóng. Xin ngài hãy đi đến đấy một cách im lặng, không vội vã bước vào hiên nhà, rồi hắng giọng và gõ vào then cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho ngài.” Bấy giờ, đức vua Pasenadi xứ Kosala liền ở đấy trao gươm và khăn vành cho Dīgha Kārāyana. Bấy giờ, Dīgha Kārāyana khởi lên ý nghĩ này: “Nay đức vua muốn được riêng tư. Ta nên đứng lại chính tại đây.” Bấy giờ, đức vua Pasenadi xứ Kosala đi đến ngôi tịnh xá có cửa đang đóng một cách im lặng, không vội vã bước vào hiên nhà, rồi hắng giọng và gõ vào then cửa. Thế Tôn mở cửa. Bấy giờ, đức vua Pasenadi xứ Kosala bước vào tịnh xá, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, dùng miệng hôn và dùng tay xoa bóp chân của Thế Tôn, rồi xưng danh: “Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi xứ Kosala; bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi xứ Kosala.”
“Kiṁ pana tvaṁ, mahārāja, atthavasaṁ sampassamāno imasmiṁ sarīre evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karosi, mittūpahāraṁ upadaṁsesī”ti?
“Atthi kho me, bhante, bhagavati dhammanvayo hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti. Idhāhaṁ, bhante, passāmi eke samaṇabrāhmaṇe pariyantakataṁ brahmacariyaṁ carante dasapi vassāni, vīsampi vassāni, tiṁsampi vassāni, cattārīsampi vassāni. Te aparena samayena sunhātā suvilittā kappitakesamassū pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārenti. Idha panāhaṁ, bhante, bhikkhū passāmi yāvajīvaṁ āpāṇakoṭikaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carante. Na kho panāhaṁ, bhante, ito bahiddhā aññaṁ evaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ samanupassāmi. Ayampi kho me, bhante, bhagavati dhammanvayo hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
“But, Great King, for what reason do you demonstrate such utmost deference for this body, conveying your manifest love?”
“Sir, I infer about the Buddha from the teaching: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’ It happens, sir, that I see some ascetics and brahmins leading the spiritual life only for a limited period: ten, twenty, thirty, or forty years. Some time later—nicely bathed and anointed, with hair and beard dressed—they amuse themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. But here I see the mendicants leading the spiritual life entirely full and pure as long as they live, to their last breath. I don’t see any other spiritual life elsewhere so full and pure. That’s why I infer this about the Buddha from the teaching: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
367. “Thưa Đại vương, ngài thấy có mục đích lợi ích gì mà lại thực hiện sự hết mực khiêm cung và biểu lộ lòng quý mến như vậy đối với thân này?” “Bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn, con có sự nhận thức hợp pháp này: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Chánh Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là những vị khéo thực hành.’ Bạch Thế Tôn, ở đây con thấy có một số Sa-môn, Bà-la-môn thực hành phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, hay bốn mươi năm. Về sau, họ tắm gội sạch sẽ, thoa dầu thơm, cắt sửa râu tóc, rồi tận hưởng, vui đùa, thỏa thích với năm dục công đức. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các vị Tỳ-khưu thực hành phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, ngoài giáo pháp này, con không thấy ở đâu khác có phạm hạnh viên mãn và thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây cũng là sự nhận thức hợp pháp của con đối với Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Chánh Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là những vị khéo thực hành.’”
Puna caparaṁ, bhante, rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatayopi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati. Idha panāhaṁ, bhante, bhikkhū passāmi samagge sammodamāne avivadamāne khīrodakībhūte aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassante viharante. Na kho panāhaṁ, bhante, ito bahiddhā aññaṁ evaṁ samaggaṁ parisaṁ samanupassāmi. Ayampi kho me, bhante, bhagavati dhammanvayo hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, kings fight with kings, aristocrats fight with aristocrats, brahmins fight with brahmins, householders fight with householders. A mother fights with her child, child with mother, father with child, and child with father. Brother fights with brother, brother with sister, sister with brother, and friend fights with friend. But here I see the mendicants living in harmony, appreciating each other, without dispute, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes. I don’t see any other assembly elsewhere so harmonious. So I infer this about the Buddha from the teaching: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
368. “Lại nữa, bạch Thế Tôn, các vị vua tranh chấp với các vị vua, các Sát-đế-lỵ tranh chấp với các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn tranh chấp với các Bà-la-môn, các gia chủ tranh chấp với các gia chủ; mẹ tranh cãi với con trai, con trai tranh cãi với mẹ; cha tranh cãi với con trai, con trai tranh cãi với cha; anh em tranh cãi với chị em, chị em tranh cãi với anh em; bạn bè tranh cãi với bạn bè. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các vị Tỳ-khưu sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không tranh cãi, như nước hòa với sữa, nhìn nhau với ánh mắt thân ái. Bạch Thế Tôn, ngoài giáo pháp này, con không thấy ở đâu khác có một hội chúng hòa hợp như vậy. Bạch Thế Tôn, đây cũng là sự nhận thức hợp pháp của con đối với Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Chánh Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là những vị khéo thực hành.’”
Puna caparāhaṁ, bhante, ārāmena ārāmaṁ, uyyānena uyyānaṁ anucaṅkamāmi anuvicarāmi. Sohaṁ tattha passāmi eke samaṇabrāhmaṇe kise lūkhe dubbaṇṇe uppaṇḍuppaṇḍukajāte dhamanisanthatagatte, na viya maññe cakkhuṁ bandhante janassa dassanāya. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘addhā ime āyasmanto anabhiratā vā brahmacariyaṁ caranti, atthi vā tesaṁ kiñci pāpaṁ kammaṁ kataṁ paṭicchannaṁ; tathā hi ime āyasmanto kisā lūkhā dubbaṇṇā uppaṇḍuppaṇḍukajātā dhamanisanthatagattā, na viya maññe cakkhuṁ bandhanti janassa dassanāyā’ti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘kiṁ nu kho tumhe āyasmanto kisā lūkhā dubbaṇṇā uppaṇḍuppaṇḍukajātā dhamanisanthatagattā, na viya maññe cakkhuṁ bandhatha janassa dassanāyā’ti? Te evamāhaṁsu: ‘bandhukarogo no, mahārājā’ti. Idha panāhaṁ, bhante, bhikkhū passāmi haṭṭhapahaṭṭhe udaggudagge abhiratarūpe pīṇindriye appossukke pannalome paradattavutte migabhūtena cetasā viharante. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘addhā ime āyasmanto tassa bhagavato sāsane uḷāraṁ pubbenāparaṁ visesaṁ jānanti; tathā hi ime āyasmanto haṭṭhapahaṭṭhā udaggudaggā abhiratarūpā pīṇindriyā appossukkā pannalomā paradattavuttā migabhūtena cetasā viharantī’ti. Ayampi kho me, bhante, bhagavati dhammanvayo hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, I have walked and wandered from monastery to monastery and from park to park. There I’ve seen some ascetics and brahmins who are thin, haggard, pale, and veiny—hardly a captivating sight for people, you’d think. It occurred to me: ‘Clearly these venerables lead the spiritual life dissatisfied, or they’re hiding some bad deed they’ve done. That’s why they’re thin, haggard, pale, and veiny—hardly a captivating sight for people, you’d think.’ I went up to them and said: ‘Venerables, why are you so thin, haggard, pale, and veiny—hardly a captivating sight for people, you’d think?’ They say: ‘We have jaundice, Great King.’ But here I see mendicants always smiling and joyful, obviously happy, with cheerful faces, living relaxed, unruffled, surviving on charity, their hearts free as a wild deer. It occurred to me: ‘Clearly these venerables have realized a higher distinction in the Buddha’s instructions than they had before. That’s why these venerables are always smiling and joyful, obviously happy, with cheerful faces, living relaxed, unruffled, surviving on charity, their hearts free as a wild deer.’ So I infer this about the Buddha from the teaching: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
369. “Bạch Thế Tôn, lại nữa, con đi kinh hành, đi dạo từ khu vườn này đến khu vườn khác, từ công viên này đến công viên khác. Ở đó, con thấy một số vị Sa-môn, Bà-la-môn gầy gò, thô kệch, xấu xí, da dẻ xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân, dường như không thu hút được ánh mắt của người nhìn. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ thế này: ‘Chắc chắn các vị tôn giả này sống đời phạm hạnh mà không hoan hỷ, hoặc có làm điều ác nghiệp nào đó rồi che giấu; vì vậy nên các vị tôn giả này mới gầy gò, thô kệch, xấu xí, da dẻ xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân, dường như không thu hút được ánh mắt của người nhìn.’ Con bèn đến gần họ và hỏi: ‘Tại sao các tôn giả lại gầy gò, thô kệch, xấu xí, da dẻ xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân, dường như không thu hút được ánh mắt của người nhìn?’ Họ trả lời: ‘Thưa Đại vương, chúng tôi mắc phải chứng bệnh di truyền.’ Nhưng ở đây, bạch Thế Tôn, con lại thấy các vị Tỳ-khưu hoan hỷ, phấn khởi, hân hoan, vui thích, các căn viên mãn, ít lo lắng, không còn lông tóc dựng đứng, sống bằng vật thực của người khác cúng dường, an trú với tâm như loài nai. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ thế này: ‘Chắc chắn các vị tôn giả này đã biết được một pháp thù thắng cao thượng, tuần tự trước sau trong giáo pháp của Thế Tôn; vì vậy nên các vị tôn giả này mới hoan hỷ, phấn khởi, hân hoan, vui thích, các căn viên mãn, ít lo lắng, không còn lông tóc dựng đứng, sống bằng vật thực của người khác cúng dường, an trú với tâm như loài nai.’ Bạch Thế Tôn, đây cũng là sự suy luận hợp pháp của con về Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, giáo pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn là những người khéo thực hành.’”
Puna caparāhaṁ, bhante, rājā khattiyo muddhāvasitto; pahomi ghātetāyaṁ vā ghātetuṁ, jāpetāyaṁ vā jāpetuṁ, pabbājetāyaṁ vā pabbājetuṁ. Tassa mayhaṁ, bhante, aḍḍakaraṇe nisinnassa antarantarā kathaṁ opātenti. Sohaṁ na labhāmi: ‘mā me bhonto aḍḍakaraṇe nisinnassa antarantarā kathaṁ opātetha, kathāpariyosānaṁ me bhonto āgamentū’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, antarantarā kathaṁ opātenti. Idha panāhaṁ, bhante, bhikkhū passāmi; yasmiṁ samaye bhagavā anekasatāya parisāya dhammaṁ deseti, neva tasmiṁ samaye bhagavato sāvakānaṁ khipitasaddo vā hoti ukkāsitasaddo vā. Bhūtapubbaṁ, bhante, bhagavā anekasatāya parisāya dhammaṁ deseti. Tatraññataro bhagavato sāvako ukkāsi. Tamenaṁ aññataro sabrahmacārī jaṇṇukena ghaṭṭesi: ‘appasaddo āyasmā hotu, māyasmā saddamakāsi; satthā no bhagavā dhammaṁ desetī’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Adaṇḍena vata kira, bho, asatthena evaṁ suvinītā parisā bhavissatī’ti. Na kho panāhaṁ, bhante, ito bahiddhā aññaṁ evaṁ suvinītaṁ parisaṁ samanupassāmi. Ayampi kho me, bhante, bhagavati dhammanvayo hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, as an anointed aristocratic king I am able to execute, fine, or banish those who are guilty. Yet when I’m sitting in court they interrupt me. And I can’t get them to stop interrupting me and wait until I’ve finished speaking. But here I see the mendicants while the Buddha is teaching an assembly of many hundreds, and there is no sound of his disciples coughing or clearing their throats. Once it so happened that the Buddha was teaching an assembly of many hundreds. Then one of his disciples cleared their throat. And one of their spiritual companions nudged them with their knee, to indicate: ‘Hush, venerable, don’t make a sound! Our teacher, the Blessed One, is teaching!’ It occurred to me: ‘Oh lord, how incredible, how amazing, how an assembly can be so well trained without rod or sword!’ I don’t see any other assembly elsewhere so well trained. So I infer this about the Buddha from the teaching: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
370. “Bạch Thế Tôn, lại nữa, con là vua, thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh; con có quyền xử tử người đáng bị xử tử, phạt tiền người đáng bị phạt tiền, hoặc trục xuất người đáng bị trục xuất. Bạch Thế Tôn, khi con đang ngồi xử án, thỉnh thoảng lại có người xen vào lời nói của con. Con không thể ngăn họ, dù đã nói: ‘Này các khanh, khi ta đang ngồi xử án, xin đừng xen vào lời nói của ta, xin các khanh hãy đợi đến khi ta nói xong.’ Bạch Thế Tôn, họ vẫn cứ thỉnh thoảng xen vào lời nói của con. Nhưng ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các vị Tỳ-khưu; vào lúc Thế Tôn thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, lúc ấy không hề có tiếng hắt hơi hay tiếng ho của các vị đệ tử Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, đã từng có lần Thế Tôn thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Trong lúc đó, một vị đệ tử của Thế Tôn ho lên. Một vị đồng phạm hạnh khác đã dùng đầu gối huých vị ấy và nói: ‘Xin tôn giả hãy im lặng, xin tôn giả đừng gây ra tiếng động; bậc Đạo sư, Thế Tôn của chúng ta đang thuyết pháp.’ Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ thế này: ‘Thật kỳ diệu thay, thưa quý vị! Thật hy hữu thay, thưa quý vị! Thật vậy, một hội chúng được khéo huấn luyện như thế này mà không cần đến roi vọt, không cần đến khí giới!’ Bạch Thế Tôn, con không thấy một hội chúng nào khác ở ngoài giáo pháp này mà được huấn luyện khéo léo như vậy. Bạch Thế Tôn, đây cũng là sự suy luận hợp pháp của con về Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, giáo pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn là những người khéo thực hành.’”
Puna caparāhaṁ, bhante, passāmi idhekacce khattiyapaṇḍite nipuṇe kataparappavāde vālavedhirūpe. Te bhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni. Te suṇanti: ‘samaṇo khalu, bho, gotamo amukaṁ nāma gāmaṁ vā nigamaṁ vā osarissatī’ti. Te pañhaṁ abhisaṅkharonti: ‘imaṁ mayaṁ pañhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā pucchissāma. Evañce no puṭṭho evaṁ byākarissati, evamassa mayaṁ vādaṁ āropessāma; evañcepi no puṭṭho evaṁ byākarissati, evampissa mayaṁ vādaṁ āropessāmā’ti. Te suṇanti: ‘samaṇo khalu, bho, gotamo amukaṁ nāma gāmaṁ vā nigamaṁ vā osaṭo’ti. Te yena bhagavā tenupasaṅkamanti. Te bhagavā dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti. Te bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā na ceva bhagavantaṁ pañhaṁ pucchanti, kuto vādaṁ āropessanti? Aññadatthu bhagavato sāvakā sampajjanti. Ayampi kho me, bhante, bhagavati dhammanvayo hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, I’ve seen some astute aristocrats who are subtle, accomplished in the doctrines of others, hair-splitters. You’d think they live to demolish convictions with their intellect. They hear: ‘So, gentlemen, that ascetic Gotama will come down to such-and-such village or town.’ They formulate a question, thinking: ‘We’ll approach the ascetic Gotama and ask him this question. If he answers like this, we’ll refute him like that; and if he answers like that, we’ll refute him like this.’ When they hear that he has come down they approach him. The Buddha educates, encourages, fires up, and inspires them with a Dhamma talk. They don’t even get around to asking their question to the Buddha, so how could they refute his answer? Invariably, they become his disciples. So I infer this about the Buddha from the teaching: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
371. “Bạch Thế Tôn, lại nữa, ở đây con thấy có một số học giả dòng Sát-đế-lỵ, những người thông thái, tinh thông ngoại luận, giống như những tay cung thiện xạ có thể bắn trúng một sợi lông. Họ đi đây đi đó, dường như để phá tan các tà kiến bằng trí tuệ của mình. Họ nghe tin: ‘Này quý vị, Sa-môn Gotama sẽ đến làng kia hoặc thị trấn kia.’ Họ bèn chuẩn bị câu hỏi: ‘Chúng ta sẽ đến gần Sa-môn Gotama và hỏi câu này. Nếu được hỏi như vậy, ngài trả lời thế này, thì chúng ta sẽ bắt bẻ luận điểm của ngài như thế này; và nếu được hỏi như vậy, ngài trả lời thế kia, thì chúng ta cũng sẽ bắt bẻ luận điểm của ngài như thế kia.’ Họ nghe tin: ‘Này quý vị, Sa-môn Gotama đã đến làng kia hoặc thị trấn kia.’ Họ bèn đi đến chỗ Thế Tôn. Thế Tôn dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn và hoan hỷ. Sau khi được Thế Tôn dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, họ đã không hỏi Thế Tôn câu hỏi nào cả, huống nữa là bắt bẻ luận điểm? Trái lại, họ đã trở thành đệ tử của Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, đây cũng là sự suy luận hợp pháp của con về Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, giáo pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn là những người khéo thực hành.’”
Puna caparāhaṁ, bhante, passāmi idhekacce brāhmaṇapaṇḍite …pe… gahapatipaṇḍite …pe… samaṇapaṇḍite nipuṇe kataparappavāde vālavedhirūpe. Te bhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni. Te suṇanti: ‘samaṇo khalu, bho, gotamo amukaṁ nāma gāmaṁ vā nigamaṁ vā osarissatī’ti. Te pañhaṁ abhisaṅkharonti: ‘imaṁ mayaṁ pañhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā pucchissāma. Evañce no puṭṭho evaṁ byākarissati, evamassa mayaṁ vādaṁ āropessāma; evañcepi no puṭṭho evaṁ byākarissati, evampissa mayaṁ vādaṁ āropessāmā’ti. Te suṇanti: ‘samaṇo khalu, bho, gotamo amukaṁ nāma gāmaṁ vā nigamaṁ vā osaṭo’ti. Te yena bhagavā tenupasaṅkamanti. Te bhagavā dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti. Te bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā na ceva bhagavantaṁ pañhaṁ pucchanti, kuto vādaṁ āropessanti? Aññadatthu bhagavantaṁyeva okāsaṁ yācanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Te bhagavā pabbājeti. Te tathāpabbajitā samānā ekā vūpakaṭṭhā appamattā ātāpino pahitattā viharantā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti. Te evamāhaṁsu: ‘manaṁ vata, bho, anassāma; manaṁ vata, bho, panassāma’. Mayañhi pubbe assamaṇāva samānā samaṇāmhāti paṭijānimhā, abrāhmaṇāva samānā brāhmaṇāmhāti paṭijānimhā, anarahantova samānā arahantāmhāti paṭijānimhā. ‘Idāni khomha samaṇā, idāni khomha brāhmaṇā, idāni khomha arahanto’ti. Ayampi kho me, bhante, bhagavati dhammanvayo hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, I see some astute brahmins … some astute householders … some astute ascetics who are subtle, accomplished in the doctrines of others, hair-splitters. … They don’t even get around to asking their question to the Buddha, so how could they refute his answer? Invariably, they ask the Buddha for the chance to go forth. And he gives them the going-forth. Soon after going forth, living withdrawn, diligent, keen, and resolute, they realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. They live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness. They say: ‘We were almost lost! We almost perished! For we used to claim that we were ascetics, brahmins, and perfected ones, but we were none of these things. But now we really are ascetics, brahmins, and perfected ones!’ So I infer this about the Buddha from the teaching: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
372. “Bạch Thế Tôn, lại nữa, ở đây con thấy có một số vị học giả Bà-la-môn… gia chủ… Sa-môn, những người tinh tế, thông thạo các học thuyết khác, giống như những tay cung thủ có thể bắn xuyên qua sợi lông. Họ dường như đi khắp nơi, dùng trí tuệ của mình để phá vỡ các tà kiến. Họ nghe rằng: ‘Này các bạn, Sa-môn Gotama chắc chắn sẽ đến làng kia hoặc thị trấn kia.’ Họ chuẩn bị câu hỏi: ‘Chúng ta sẽ đến gặp Sa-môn Gotama và hỏi câu này. Nếu được hỏi như vậy, ngài trả lời thế này, chúng ta sẽ bắt bẻ ngài như thế này; và nếu được hỏi như vậy, ngài trả lời thế kia, chúng ta cũng sẽ bắt bẻ ngài như thế kia.’ Họ nghe rằng: ‘Này các bạn, Sa-môn Gotama đã đến làng kia hoặc thị trấn kia.’ Họ liền đến nơi Thế Tôn ngự. Thế Tôn dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ họ. Được Thế Tôn dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Thế Tôn câu hỏi nào, huống chi là bắt bẻ? Trái lại, họ chỉ xin Thế Tôn cho phép được xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Thế Tôn cho họ xuất gia. Sau khi xuất gia như vậy, họ sống một mình, nơi thanh vắng, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và không bao lâu, họ đã tự mình chứng ngộ với thắng trí ngay trong hiện tại, đạt đến và an trú vào mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Họ đã nói như sau: ‘Suýt nữa thì chúng ta đã bị hoại vong! Suýt nữa thì chúng ta đã bị tiêu vong! Trước đây, khi chưa phải là Sa-môn, chúng ta tự nhận là Sa-môn; khi chưa phải là Bà-la-môn, chúng ta tự nhận là Bà-la-môn; khi chưa phải là A-la-hán, chúng ta tự nhận là A-la-hán. Nhưng nay, chúng ta thực sự là Sa-môn, nay chúng ta thực sự là Bà-la-môn, nay chúng ta thực sự là A-la-hán.’ Bạch Thế Tôn, đây cũng là sự suy luận theo Pháp của con về Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn là bậc thiện hạnh.’”
Puna caparāhaṁ, bhante, ime isidattapurāṇā thapatayo mamabhattā mamayānā, ahaṁ nesaṁ jīvikāya dātā, yasassa āhattā; atha ca pana no tathā mayi nipaccakāraṁ karonti yathā bhagavati. Bhūtapubbāhaṁ, bhante, senaṁ abbhuyyāto samāno ime ca isidattapurāṇā thapatayo vīmaṁsamāno aññatarasmiṁ sambādhe āvasathe vāsaṁ upagacchiṁ. Atha kho, bhante, ime isidattapurāṇā thapatayo bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya vītināmetvā, yato ahosi bhagavā tato sīsaṁ katvā maṁ pādato karitvā nipajjiṁsu. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Ime isidattapurāṇā thapatayo mamabhattā mamayānā, ahaṁ nesaṁ jīvikāya dātā, yasassa āhattā; atha ca pana no tathā mayi nipaccakāraṁ karonti yathā bhagavati. Addhā ime āyasmanto tassa bhagavato sāsane uḷāraṁ pubbenāparaṁ visesaṁ jānantī’ti. Ayampi kho me, bhante, bhagavati dhammanvayo hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, these chamberlains Isidatta and Purāṇa share my meals and my carriages. I give them a livelihood and bring them renown. And yet they don’t show me the same level of deference that they show to the Buddha. Once it so happened that while I was leading a military campaign and testing Isidatta and Purāṇa I took up residence in a cramped house. They spent much of the night discussing the teaching, then they lay down with their heads toward where the Buddha was and their feet toward me. It occurred to me: ‘Oh lord, how incredible, how amazing! These chamberlains Isidatta and Purāṇa share my meals and my carriages. I give them a livelihood and bring them renown. And yet they don’t show me the same level of deference that they show to the Buddha. Clearly these venerables have realized a higher distinction in the Buddha’s instructions than they had before.’ So I infer this about the Buddha from the teaching: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
373. “Bạch Thế Tôn, lại nữa, hai người thợ mộc này, Isidatta và Purāṇa, ăn cơm của con, dùng xe của con; con là người ban cho họ phương tiện sinh sống, là người mang lại danh tiếng cho họ; thế nhưng họ không tỏ lòng tôn kính đối với con như đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, đã có lần, khi con đang dẫn quân ra trận, để thử hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa này, con đã đến ở tại một nơi trú ngụ chật hẹp. Khi ấy, bạch Thế Tôn, hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa này, sau khi trải qua phần lớn đêm trong pháp thoại, họ đã nằm xuống, quay đầu về hướng có Thế Tôn và quay chân về phía con. Bạch Thế Tôn, con đã suy nghĩ thế này: ‘Thật kỳ diệu thay, thưa các bạn! Thật hy hữu thay, thưa các bạn! Hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa này ăn cơm của ta, dùng xe của ta; ta là người ban cho họ phương tiện sinh sống, là người mang lại danh tiếng cho họ; thế nhưng họ không tỏ lòng tôn kính đối với ta như đối với Thế Tôn. Chắc chắn rằng các vị hiền giả này biết được một pháp đặc biệt, cao thượng, từ thấp đến cao, trong giáo pháp của Thế Tôn.’ Bạch Thế Tôn, đây cũng là sự suy luận theo Pháp của con về Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn là bậc thiện hạnh.’”
Puna caparaṁ, bhante, bhagavāpi khattiyo, ahampi khattiyo; bhagavāpi kosalo, ahampi kosalo; bhagavāpi āsītiko, ahampi āsītiko. Yampi, bhante, bhagavāpi khattiyo ahampi khattiyo, bhagavāpi kosalo ahampi kosalo, bhagavāpi āsītiko ahampi āsītiko; imināvārahāmevāhaṁ, bhante, bhagavati paramanipaccakāraṁ kātuṁ, mittūpahāraṁ upadaṁsetuṁ.
Handa ca dāni mayaṁ, bhante, gacchāma; bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, mahārāja, kālaṁ maññasī”ti. Atha kho rājā pasenadi kosalo uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkantassa rañño pasenadissa kosalassa bhikkhū āmantesi: “eso, bhikkhave, rājā pasenadi kosalo dhammacetiyāni bhāsitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto. Uggaṇhatha, bhikkhave, dhammacetiyāni; pariyāpuṇātha, bhikkhave, dhammacetiyāni; dhāretha, bhikkhave, dhammacetiyāni. Atthasaṁhitāni, bhikkhave, dhammacetiyāni ādibrahmacariyakānī”ti.
Furthermore, the Buddha is an aristocrat, and so am I. The Buddha is Kosalan, and so am I. The Buddha is eighty years old, and so am I. Since this is so, it’s proper for me to act with such utmost deference for the Buddha and convey my manifest love.
Well, now, sir, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, Great King, go at your convenience.” Then King Pasenadi rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Soon after the king had left, the Buddha addressed the mendicants: “Mendicants, before he got up and left, King Pasenadi spoke shrines to the teaching. Learn these shrines to the teaching! Memorize these shrines to the teaching! Remember these shrines to the teaching! These shrines to the teaching are beneficial and relate to the fundamentals of the spiritual life.”
374. “Bạch Thế Tôn, lại nữa, Thế Tôn cũng là dòng Sát-đế-lỵ, con cũng là dòng Sát-đế-lỵ; Thế Tôn cũng là người nước Kosala, con cũng là người nước Kosala; Thế Tôn cũng đã tám mươi tuổi, con cũng đã tám mươi tuổi. Bạch Thế Tôn, chính vì lý do Thế Tôn cũng là dòng Sát-đế-lỵ, con cũng là dòng Sát-đế-lỵ; Thế Tôn cũng là người nước Kosala, con cũng là người nước Kosala; Thế Tôn cũng đã tám mươi tuổi, con cũng đã tám mươi tuổi; nên con thấy xứng đáng để tỏ lòng tôn kính tột bậc đối với Thế Tôn, để thể hiện sự quý mến thân tình. Bạch Thế Tôn, giờ đây chúng con xin phép đi; chúng con có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm.” “Thưa Đại vương, bây giờ ngài hãy làm những gì ngài cho là phải thời.” Bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về. Khi vua Pasenadi xứ Kosala vừa đi khỏi không bao lâu, Thế Tôn bảo các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, vua Pasenadi xứ Kosala này, sau khi nói lên những lời tán thán Pháp, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra về. Này các Tỳ khưu, hãy học thuộc lòng những lời tán thán Pháp này; này các Tỳ khưu, hãy ghi nhớ những lời tán thán Pháp này; này các Tỳ khưu, hãy thọ trì những lời tán thán Pháp này. Này các Tỳ khưu, những lời tán thán Pháp này có lợi ích, là nền tảng của phạm hạnh.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Dhammacetiyasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Tán Thán Pháp, kinh thứ chín, kết thúc.