- Majjhima Nikāya 88
Bāhitikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Bāhitikasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp cô độc).
SC 2Rồi Tôn giả Ānanda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Ði khất thực ở Sāvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tôn giả đi đến lâu đài Pubbārāma Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường) để nghỉ trưa.
SC 3Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala cưỡi trên con voi Ekapundarika và đi ra khỏi thành Sāvatthi trong buổi sáng sớm. Vua Pasenadi nước Kosala thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với vị đại thần Sirivaḍḍha
SC 4—Vị Tôn giả ấy, này Sirivaḍḍha, có phải là Ānanda không?
SC 5—Thưa phải, tâu Ðại vương, Tôn giả ấy là Ānanda.
SC 6Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với một người khác
SC 7—Này Người kia, hãy đi đến Tôn giả Ānanda, sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ānanda, rồi thưa như sau: “Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Ānanda không có công việc gì phải làm gấp, thưa Tôn giả, mong Tôn giả hãy vì lòng từ chờ đợi một lát”.
SC 8—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
SC 9Người ấy vâng đáp vua Pasenadi xứ Kosala, đi đến Tôn giả Ānanda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng một bên. Ðứng một bên, người ấy thưa với Tôn giả Ānanda
SC 10—Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ānanda, và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Ānanda không có công việc gì phải làm gấp, thưa Tôn giả, mong Tôn giả hãy vì lòng từ chờ đợi một lát”.
SC 11Tôn giả Ānanda im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến bờ sông Aciravatī, sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã đoạn sẵn, dưới một gốc cây. Rồi vua Pasenadi nước Kosala, cưỡi voi cho đến chỗ nào có thể đi voi được, rồi xuống voi đi bộ đến chỗ Tôn giả Ānanda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tôn giả Ānanda
SC 12—Thưa Tôn giả, ở đây, mong Tôn giả Ānanda ngồi trên thảm ngựa.
SC 13—Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ðại vương hãy ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi.
SC 14Vua Pasenadi nước Kosala ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tôn giả Ānanda
SC 15—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn không làm các thân hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 16—Thưa Ðại vương, Thế Tôn không làm các thân hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 17—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn không làm các khẩu hành … không làm các ý hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 18—Thưa Ðại vương, Thế Tôn không làm các khẩu hành, ý hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 19—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, điều mà tôi không thể nói lên một cách đầy đủ trong một câu hỏi, đã được Tôn giả Ānanda nói lên một cách đầy đủ trong câu trả lời câu hỏi. Thưa Tôn giả, khi người ngu si, thiếu kinh nghiệm tán thán hay hủy báng những người khác, mà không chứng nghiệm và suy xét, thì chúng tôi không y cứ vào đấy và xem như là lõi cây. Nhưng thưa Tôn giả, khi người có trí, có kinh nghiệm tán thán hay hủy báng những người khác, có chứng nghiệm và suy xét, thì chúng tôi y cứ vào đấy và xem như là lõi cây.
SC 20Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, thế nào là thân hành mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 21—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì bất thiện.
SC 22—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành bất thiện?
SC 23—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì có tội.
SC 24—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành có tội?
SC 25—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì có hại.
SC 26—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành có hại?
SC 27—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành nào có khổ báo.
SC 28—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành có khổ báo?
SC 29—Thưa Ðại vương, phàm thân hành gì đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, từ nơi thân hành ấy, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm. Thưa Ðại vương, thân hành như vậy bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 30—Thưa Tôn giả, thế nào là khẩu hành … thế nào là ý hành bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 31—Thưa Ðại vương, bất cứ ý hành gì bất thiện.
SC 32—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành bất thiện?
SC 33—Thưa Ðại vương, phàm ý hành gì có tội.
SC 34—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có tội?
SC 35—Thưa Ðại vương, phàm ý hành gì có hại.
SC 36—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có hại?
SC 37—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào có khổ báo.
SC 38—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có khổ báo?
SC 39—Thưa Ðại vương, phàm ý hành gì đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, từ nơi ý hành ấy các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm. Thưa Ðại vương, ý hành như vậy bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 40—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn tán thán sự đoạn trừ tất cả bất thiện pháp?
SC 41—Thưa Ðại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả bất thiện pháp và thành tựu các thiện pháp.
SC 42—Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, thế nào là thân hành không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 43—Thưa Ðại vương, bất cứ thiện thân hành nào.
SC 44—Thưa Tôn giả, thế nào là thiện thân hành?
SC 45—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào không có tội.
SC 46—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành không có tội?
SC 47—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào không có hại.
SC 48—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành không có hại?
SC 49—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào có lạc báo.
SC 50—Thưa tôn giả, thế nào là thân hành có lạc báo?
SC 51—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, từ nơi thân hành ấy, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng. Thưa Ðại vương, thân hành như vậy không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 52—Thưa Tôn giả Ānanda, thế nào là khẩu hành … thế nào là ý hành không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 53—Thưa Ðại vương, bất cứ thiện ý hành nào.
SC 54—Thưa Tôn giả, thế nào là thiện ý hành?
SC 55—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào không có tội.
SC 56—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành không có tội?
SC 57—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào không có hại.
SC 58—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành không có hại?
SC 59—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào có lạc báo.
SC 60—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có lạc báo?
SC 61—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, từ nơi ý hành ấy, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng. Thưa Ðại vương, ý hành như vậy không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 62—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn tán thán sự thành tựu tất cả thiện pháp?
SC 63—Thưa Ðại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả bất thiện pháp, và thành tựu các thiện pháp.
SC 64—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thật khéo nói thay việc này, thưa Tôn giả. Do Tôn giả Ānanda mà chúng tôi, thưa Tôn giả, được hoan hỷ và thỏa mãn với những lời khéo nói của Tôn giả Ānanda. Ðược hoan hỷ và thỏa mãn, thưa Tôn giả, với những lời khéo nói của Tôn giả Ānanda, chúng tôi vui lòng tặng một con voi báu cho Tôn giả Ānanda, nếu Tôn giả Ānanda được phép nhận con voi báu. Chúng tôi vui lòng tặng con ngựa báu cho Tôn giả Ānanda, nếu Tôn giả Ānanda được phép nhận con ngựa báu. Chúng tôi vui lòng tặng một làng ân tứ cho Tôn giả Ānanda, nếu Tôn giả Ānanda được phép nhận một làng ân tứ. Nhưng thưa Tôn giả, chúng tôi được biết như sau: “Việc này Tôn giả Ānanda không được phép”. Thưa Tôn giả, có cuộn vải ngoại hóa này, được gắn vào trong một cán dù, do vua Ajātasattu, con bà Videhi nước Magadha gởi cho tôi, dài mười sáu khuỷu tay, rộng tám khuỷu tay. Thưa Toân giả, mong Tôn giả Ānanda vì lòng từ bi nạp thọ cho.
SC 65—Thôi vừa rồi, Ðại vương! Tôi đã đủ ba y.
SC 66—Thưa Tôn giả, sau cơn mưa lớn trên sườn núi, cả Tôn giả và tôi đã thấy lúc ấy sông Aciravatī chảy mạnh, tràn qua hai bên bờ như thế nào. Cũng vậy, thưa Tôn giả, Tôn giả Ānanda có thể làm cho mình ba y, từ nơi tấm vải ngoại hóa này. Còn ba y cũ, Tôn giả Ānanda có thể đem phân phát cho các đồng Phạm hạnh. Như vậy sự bố thí này của chúng tôi được trôi chảy, như nước lan tràn qua bờ. Thưa Tôn giả, mong Tôn giả nhận cho tấm vải ngoại hóa này.
SC 67Rồi Tôn giả Ānanda nhận lấy tấm vải ngoại hóa. Rồi vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tôn giả Ānanda
SC 68—Thưa Tôn giả Ānanda, nay chúng tôi phải đi. Chúng tôi có nhiều công vụ, có nhiều trách nhiệm phải làm.
SC 69—Thưa Ðại vương, nay Ðại vương hãy làm gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
SC 70Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Ānanda dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân bên hữu hướng về ngài, rồi ra đi.
SC 71Tôn giả Ānanda, sau khi vua Pasenadi nước Kosala ra đi không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda tường thuật lên Thế Tôn tất cả cuộc đàm thoại với vua Pasenadi nước Kosala rồi dâng tấm vải ngoại hóa lên Thế Tôn.
SC 72Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 73—Thật hạnh phúc thay cho vua Pasenadi nước Kosala! Thật tốt đẹp thay cho vua Pasenadi nước Kosala! Vua đã được yết kiến Tôn giả Ānanda và được cúng dường.
SC 74Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 18–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Bāhitika
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiyaṁ piṇḍāya pāvisi. Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena pubbārāmo migāramātupāsādo tenupasaṅkami divāvihārāya.
Tena kho pana samayena rājā pasenadi kosalo ekapuṇḍarīkaṁ nāgaṁ abhiruhitvā sāvatthiyā niyyāti divā divassa. Addasā kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna sirivaḍḍhaṁ mahāmattaṁ āmantesi: “āyasmā no eso, samma sirivaḍḍha, ānando”ti.
“Evaṁ, mahārāja, āyasmā eso ānando”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, ambho purisa, yenāyasmā ānando tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato ānandassa pāde sirasā vandāhi: ‘rājā, bhante, pasenadi kosalo āyasmato ānandassa pāde sirasā vandatī’ti; evañca vadehi: ‘sace kira, bhante, āyasmato ānandassa na kiñci accāyikaṁ karaṇīyaṁ, āgametu kira, bhante, āyasmā ānando muhuttaṁ anukampaṁ upādāyā’”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho so puriso rañño pasenadissa kosalassa paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so puriso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “rājā, bhante, pasenadi kosalo āyasmato ānandassa pāde sirasā vandati; evañca vadeti: ‘sace kira, bhante, āyasmato ānandassa na kiñci accāyikaṁ karaṇīyaṁ, āgametu kira, bhante, āyasmā ānando muhuttaṁ anukampaṁ upādāyā’”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yāvatikā nāgassa bhūmi nāgena gantvā nāgā paccorohitvā pattikova yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “sace, bhante, āyasmato ānandassa na kiñci accāyikaṁ karaṇīyaṁ, sādhu, bhante, āyasmā ānando yena aciravatiyā nadiyā tīraṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.
Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. He wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Eastern Monastery, the stilt longhouse of Migāra’s mother, for the day’s meditation.
Now at that time King Pasenadi of Kosala mounted the Single Lotus Elephant and drove out from Sāvatthī in the middle of the day. He saw Ānanda coming off in the distance and said to the chief minister Sirivaḍḍha, “My dear Sirivaḍḍha, isn’t that Venerable Ānanda?”
“Indeed it is, Great King.”
Then King Pasenadi addressed a man, “Please, my man, go to Venerable Ānanda, and in my name bow with your head to his feet. Say to him, ‘Sir, King Pasenadi of Kosala bows with his head at your feet.’ And then say, ‘Sir, if you have no urgent business, please wait a while out of sympathy.’”
“Yes, Your Majesty,” that man replied. He did as the king asked.
Ānanda consented with silence.
Then King Pasenadi rode on the elephant as far as the terrain allowed, then descended and approached Ānanda on foot. He bowed, stood to one side, and said to Ānanda, “Sir, if you have no urgent business, it would be nice of you to go to the bank of the Aciravatī River out of sympathy.”
Ānanda consented with silence.
358. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Ānanda đắp y, mang bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, vào lúc sau buổi ăn, khi đã đi khất thực về, Tôn giả đi đến tu viện Pubbārāma, lâu đài của mẹ Migāra, để nghỉ ban ngày. Vào lúc ấy, vua Pasenadi xứ Kosala, sau khi cỡi voi Ekapuṇḍarīka, đang đi ra khỏi Sāvatthī vào giữa ban ngày. Vua Pasenadi xứ Kosala trông thấy Tôn giả Ānanda đang đi đến từ xa. Thấy vậy, vua gọi đại thần Sirivaḍḍha: “Này khanh Sirivaḍḍha, có phải vị kia là Tôn giả Ānanda không?” “Tâu đại vương, đúng vậy, vị kia là Tôn giả Ānanda.” Bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala gọi một người đàn ông: “Này khanh, hãy lại đây, hãy đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nhân danh ta, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Ānanda và thưa rằng: ‘Tâu ngài, vua Pasenadi xứ Kosala xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Ānanda.’ Và hãy thưa thêm như vầy: ‘Tâu ngài, nếu Tôn giả Ānanda không có việc gì khẩn cấp phải làm, xin Tôn giả Ānanda, vì lòng bi mẫn, vui lòng chờ đợi một lát.’” “Vâng, tâu đức vua,” người ấy vâng lời vua Pasenadi xứ Kosala, rồi đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, người ấy đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng sang một bên. Đứng một bên, người ấy bạch với Tôn giả Ānanda: “Tâu ngài, vua Pasenadi xứ Kosala xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Ānanda; và vua có lời nhắn như sau: ‘Tâu ngài, nếu Tôn giả Ānanda không có việc gì khẩn cấp phải làm, xin Tôn giả Ānanda, vì lòng bi mẫn, vui lòng chờ đợi một lát.’” Tôn giả Ānanda đã im lặng nhận lời. Bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala đi bằng voi cho đến khi hết đoạn đường voi có thể đi, rồi xuống voi và đi bộ đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, vua đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng sang một bên. Đứng một bên, vua Pasenadi xứ Kosala bạch với Tôn giả Ānanda: “Tâu ngài, nếu Tôn giả Ānanda không có việc gì khẩn cấp phải làm, sādhu, tâu ngài, xin Tôn giả Ānanda, vì lòng bi mẫn, vui lòng đi đến bờ sông Aciravatī.” Tôn giả Ānanda đã im lặng nhận lời.
Atha kho āyasmā ānando yena aciravatiyā nadiyā tīraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā aññatarasmiṁ rukkhamūle paññatte āsane nisīdi. Atha kho rājā pasenadi kosalo yāvatikā nāgassa bhūmi nāgena gantvā nāgā paccorohitvā pattikova yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “idha, bhante, āyasmā ānando hatthatthare nisīdatū”ti.
“Alaṁ, mahārāja. Nisīda tvaṁ; nisinno ahaṁ sake āsane”ti.
Nisīdi kho rājā pasenadi kosalo paññatte āsane. Nisajja kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “kiṁ nu kho, bhante ānanda, so bhagavā tathārūpaṁ kāyasamācāraṁ samācareyya, yvāssa kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehī”ti?
“Na kho, mahārāja, so bhagavā tathārūpaṁ kāyasamācāraṁ samācareyya, yvāssa kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
He went to the river bank and sat at the root of a certain tree on a seat spread out. Then King Pasenadi rode on the elephant as far as the terrain allowed, then descended and approached Ānanda on foot. He bowed, stood to one side, and said to Ānanda, “Here, Venerable Ānanda, sit on this elephant rug.”
“Enough, Great King, you sit on it. I’m sitting on my own seat.”
So the king sat down on the seat spread out, and said, “Honorable Ānanda, would the Buddha engage in the sort of behavior—by way of body, speech, or mind—that is faulted by ascetics and brahmins?”
“No, Great King, the Buddha would not engage in the sort of behavior that is faulted by sensible ascetics and brahmins.”
359. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến bờ sông Aciravatī; sau khi đến, Tôn giả ngồi xuống trên một chỗ ngồi đã được soạn sẵn dưới gốc một cây. Bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala đi bằng voi cho đến khi hết đoạn đường voi có thể đi, rồi xuống voi và đi bộ đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, vua đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng sang một bên. Đứng một bên, vua Pasenadi xứ Kosala bạch với Tôn giả Ānanda: “Tâu ngài, xin Tôn giả Ānanda hãy ngồi trên tấm thảm trải lưng voi này.” “Thôi đủ rồi, tâu đại vương. Xin đại vương cứ ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ của tôi rồi.” Vua Pasenadi xứ Kosala bèn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi, vua Pasenadi xứ Kosala bạch với Tôn giả Ānanda: “Tâu ngài Ānanda, có phải Đức Thế Tôn sẽ thực hành một loại thân hành nào mà thân hành ấy đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn chỉ trích không?” “Tâu đại vương, không đâu. Đức Thế Tôn sẽ không thực hành một loại thân hành nào mà thân hành ấy đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí chỉ trích.”
“Tâu ngài Ānanda, còn về khẩu hành... (tương tự)... ý hành, có phải Đức Thế Tôn sẽ thực hành một loại ý hành nào mà ý hành ấy đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn chỉ trích không?” “Tâu đại vương, không đâu. Đức Thế Tôn sẽ không thực hành một loại ý hành nào mà ý hành ấy đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí chỉ trích.”
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yañhi mayaṁ, bhante, nāsakkhimhā pañhena paripūretuṁ taṁ, bhante, āyasmatā ānandena pañhassa veyyākaraṇena paripūritaṁ. Ye te, bhante, bālā abyattā ananuvicca apariyogāhetvā paresaṁ vaṇṇaṁ vā avaṇṇaṁ vā bhāsanti, na mayaṁ taṁ sārato paccāgacchāma; ye pana te, bhante, paṇḍitā viyattā medhāvino anuvicca pariyogāhetvā paresaṁ vaṇṇaṁ vā avaṇṇaṁ vā bhāsanti, mayaṁ taṁ sārato paccāgacchāma.
“It’s incredible, sir, it’s amazing! For I couldn’t fully express the question, but Venerable Ānanda’s answer completed it for me. I don’t believe that praise or criticism of others spoken by incompetent fools, without examining or scrutinizing, is the most important thing. Rather, I believe that praise or criticism of others spoken by competent and intelligent people after examining and scrutinizing is the most important thing.
“Thưa ngài, thật kỳ diệu! Thưa ngài, thật phi thường! Thưa ngài, điều mà chúng tôi đã không thể làm cho trọn vẹn bằng câu hỏi, thưa ngài, điều ấy đã được Tôn giả Ānanda làm cho trọn vẹn bằng sự giải đáp câu hỏi. Thưa ngài, những kẻ ngu dốt, không khôn khéo, không điều tra, không thẩm xét mà nói lời tán thán hay chê bai người khác, chúng tôi không chấp nhận điều đó là cốt lõi. Còn những người có trí tuệ, khôn khéo, thông minh, sau khi đã điều tra, đã thẩm xét mà nói lời tán thán hay chê bai người khác, thưa ngài, chúng tôi chấp nhận điều đó là cốt lõi.”
Katamo pana, bhante ānanda, kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro akusalo”.
But Honorable Ānanda, what kind of bodily behavior is faulted by sensible ascetics and brahmins?”
“Unskillful behavior.”
360. “Thưa ngài Ānanda, thế nào là thân hành đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn bậc trí quở trách?” “Tâu Đại vương, đó là thân hành bất thiện.”
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro akusalo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro sāvajjo”.
“But what kind of bodily behavior is unskillful?”
“Blameworthy behavior.”
“Thưa ngài, thế nào là thân hành bất thiện?” “Tâu Đại vương, đó là thân hành có tội lỗi.”
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro sāvajjo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro sabyābajjho”.
“But what kind of bodily behavior is blameworthy?”
“Hurtful behavior.”
“Thưa ngài, thế nào là thân hành có tội lỗi?” “Tâu Đại vương, đó là thân hành có phiền não.”
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro sabyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro dukkhavipāko”.
“But what kind of bodily behavior is hurtful?”
“Behavior that results in suffering.”
“Thưa ngài, thế nào là thân hành có phiền não?” “Tâu Đại vương, đó là thân hành có quả báo đau khổ.”
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro dukkhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro attabyābādhāyapi saṁvattati, parabyābādhāyapi saṁvattati, ubhayabyābādhāyapi saṁvattati. Tassa akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti; evarūpo kho, mahārāja, kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“But what kind of bodily behavior results in suffering?”
“Bodily behavior that leads to hurting yourself, hurting others, and hurting both, and which makes unskillful qualities grow while skillful qualities decline. That kind of bodily behavior is faulted by sensible ascetics and brahmins.”
“Thưa ngài, thế nào là thân hành có quả báo đau khổ?” “Tâu Đại vương, thân hành nào đưa đến sự tổn hại cho mình, đưa đến sự tổn hại cho người, đưa đến sự tổn hại cho cả hai, các pháp bất thiện của người ấy tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm; tâu Đại vương, loại thân hành như vậy đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn bậc trí quở trách.”
“Katamo pana, bhante ānanda, vacīsamācāro …pe… manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro akusalo”.
“But what kind of verbal behavior … mental behavior is faulted by sensible ascetics and brahmins?” …
“Thưa ngài Ānanda, thế nào là khẩu hành... (v.v)... thế nào là ý hành đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn bậc trí quở trách?” “Tâu Đại vương, đó là ý hành bất thiện.”
“Katamo pana, bhante, manosamācāro akusalo”? “Yo kho, mahārāja, manosamācāro sāvajjo”.
“Thưa ngài, thế nào là ý hành bất thiện?” “Tâu Đại vương, đó là ý hành có tội lỗi.”
“Katamo pana, bhante, manosamācāro sāvajjo”? “Yo kho, mahārāja, manosamācāro sabyābajjho”.
“Thưa ngài, thế nào là ý hành có tội lỗi?” “Tâu Đại vương, đó là ý hành có phiền não.”
“Katamo pana, bhante, manosamācāro sabyābajjho”? “Yo kho, mahārāja, manosamācāro dukkhavipāko”.
“Thưa ngài, thế nào là ý hành có phiền não?” “Tâu Đại vương, đó là ý hành có quả báo đau khổ.”
“Katamo pana, bhante, manosamācāro dukkhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro attabyābādhāyapi saṁvattati, parabyābādhāyapi saṁvattati, ubhayabyābādhāyapi saṁvattati. Tassa akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti; evarūpo kho, mahārāja, manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Mental behavior that leads to hurting yourself, hurting others, and hurting both, and which makes unskillful qualities grow while skillful qualities decline. That kind of mental behavior is faulted by sensible ascetics and brahmins.”
“Thưa ngài, thế nào là ý hành có quả báo đau khổ?” “Tâu Đại vương, ý hành nào đưa đến sự tổn hại cho mình, đưa đến sự tổn hại cho người, đưa đến sự tổn hại cho cả hai, các pháp bất thiện của người ấy tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm; tâu Đại vương, loại ý hành như vậy đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn bậc trí quở trách.”
“Kiṁ nu kho, bhante ānanda, so bhagavā sabbesaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ vaṇṇetī”ti?
“Sabbākusaladhammapahīno kho, mahārāja, tathāgato kusaladhammasamannāgato”ti.
“Sir, does the Buddha praise giving up all these unskillful things?”
“Great king, the Realized One has given up all unskillful things and possesses skillful things.”
“Thưa ngài Ānanda, có phải Thế Tôn chỉ tán thán sự đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện không?” “Tâu Đại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện và đã thành tựu các pháp thiện.”
“Katamo pana, bhante ānanda, kāyasamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro kusalo”.
“But sir, what kind of bodily behavior is not faulted by sensible ascetics and brahmins?”
“Skillful behavior.”
361. “Thưa ngài Ānanda, thế nào là thân hành không đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn bậc trí quở trách?” “Tâu Đại vương, đó là thân hành thiện.”
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro kusalo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro anavajjo”.
“But what kind of bodily behavior is skillful?”
“Blameless behavior.”
“Thưa ngài, thế nào là thân hành thiện?” “Tâu Đại vương, đó là thân hành không có tội lỗi.”
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro anavajjo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro abyābajjho”.
“But what kind of bodily behavior is blameless?”
“Pleasing behavior.”
“Thưa ngài, thế nào là thân hành không có tội lỗi?” “Tâu Đại vương, đó là thân hành không có phiền não.”
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro abyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro sukhavipāko”.
“But what kind of bodily behavior is pleasing?”
“Behavior that results in happiness.”
“Thưa ngài, thế nào là thân hành không có phiền não?” “Tâu Đại vương, đó là thân hành có quả báo an lạc.”
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro sukhavipāko”?
“But what kind of bodily behavior results in happiness?”
“Thưa ngài, thế nào là thân hành có quả báo an lạc?”
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro nevattabyābādhāyapi saṁvattati, na parabyābādhāyapi saṁvattati, na ubhayabyābādhāyapi saṁvattati. Tassa akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. Evarūpo kho, mahārāja, kāyasamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Bodily behavior that leads to pleasing yourself, pleasing others, and pleasing both, and which makes unskillful qualities decline while skillful qualities grow. That kind of bodily behavior is not faulted by sensible ascetics and brahmins.”
“Tâu Đại vương, thân hành nào không đưa đến sự tổn hại cho mình, không đưa đến sự tổn hại cho người, không đưa đến sự tổn hại cho cả hai, các pháp bất thiện của người ấy bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng; tâu Đại vương, loại thân hành như vậy không đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn bậc trí quở trách.”
“Katamo pana, bhante ānanda, vacīsamācāro …pe… manosamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro kusalo”.
“But what kind of verbal behavior … mental behavior is not faulted by sensible ascetics and brahmins?” …
“Thưa ngài Ānanda, thế nào là khẩu hành... (v.v)... thế nào là ý hành không đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn bậc trí quở trách?” “Tâu Đại vương, đó là ý hành thiện.”
“Katamo pana, bhante, manosamācāro kusalo”? “Yo kho, mahārāja, manosamācāro anavajjo”.
“Thưa ngài, thế nào là ý hành thiện?” “Tâu Đại vương, đó là ý hành không có tội lỗi.”
“Katamo pana, bhante, manosamācāro anavajjo”? “Yo kho, mahārāja, manosamācāro abyābajjho”.
“Thưa ngài, thế nào là ý hành không có tội lỗi?” “Tâu Đại vương, đó là ý hành không có phiền não.”
“Katamo pana, bhante, manosamācāro abyābajjho”? “Yo kho, mahārāja, manosamācāro sukhavipāko”.
“Thưa ngài, thế nào là ý hành không có phiền não?” “Tâu Đại vương, đó là ý hành có quả báo an lạc.”
“Katamo pana, bhante, manosamācāro sukhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro nevattabyābādhāyapi saṁvattati, na parabyābādhāyapi saṁvattati, na ubhayabyābādhāyapi saṁvattati. Tassa akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. Evarūpo kho, mahārāja, manosamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Mental behavior that leads to pleasing yourself, pleasing others, and pleasing both, and which makes unskillful qualities decline while skillful qualities grow. That kind of mental behavior is not faulted by sensible ascetics and brahmins.”
“Thưa ngài, thế nào là ý hành có quả báo an lạc?” “Tâu Đại vương, ý hành nào không đưa đến sự tổn hại cho mình, không đưa đến sự tổn hại cho người, không đưa đến sự tổn hại cho cả hai. Các pháp bất thiện của người ấy bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng. Tâu Đại vương, loại ý hành như vậy không đáng bị các Sa-môn, Bà-la-môn bậc trí quở trách.”
“Kiṁ pana, bhante ānanda, so bhagavā sabbesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ vaṇṇetī”ti?
“Sabbākusaladhammapahīno kho, mahārāja, tathāgato kusaladhammasamannāgato”ti.
“Sir, does the Buddha praise embracing all these skillful things?”
“Great king, the Realized One has given up all unskillful things and possesses skillful things.”
“Thưa ngài Ānanda, có phải Thế Tôn tán thán sự thành tựu của tất cả các pháp thiện không?” “Tâu Đại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện và đã thành tựu các pháp thiện.”
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāva subhāsitañcidaṁ, bhante, āyasmatā ānandena. Iminā ca mayaṁ, bhante, āyasmato ānandassa subhāsitena attamanābhiraddhā. Evaṁ attamanābhiraddhā ca mayaṁ, bhante, āyasmato ānandassa subhāsitena. Sace, bhante, āyasmato ānandassa hatthiratanaṁ kappeyya, hatthiratanampi mayaṁ āyasmato ānandassa dadeyyāma. Sace, bhante, āyasmato ānandassa assaratanaṁ kappeyya, assaratanampi mayaṁ āyasmato ānandassa dadeyyāma. Sace, bhante, āyasmato ānandassa gāmavaraṁ kappeyya, gāmavarampi mayaṁ āyasmato ānandassa dadeyyāma. Api ca, bhante, mayampetaṁ jānāma: ‘netaṁ āyasmato ānandassa kappatī’ti. Ayaṁ me, bhante, bāhitikā raññā māgadhena ajātasattunā vedehiputtena vatthanāḷiyā pakkhipitvā pahitā soḷasasamā āyāmena, aṭṭhasamā vitthārena. Taṁ, bhante, āyasmā ānando paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
“Alaṁ, mahārāja, paripuṇṇaṁ me ticīvaran”ti.
“It’s incredible, sir, it’s amazing! How well this was said by Venerable Ānanda! I’m delighted and satisfied with what you’ve expressed so well. So much so that if an elephant-treasure was suitable for you, I would give you one. If a horse-treasure was suitable for you, I would give you one. If a prize village was suitable for you, I would give you one. But, sir, I know that these things are not suitable for you. This foreign cloth was sent to me by King Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha, packed in a parasol case. It’s exactly sixteen measures long and eight wide. May Venerable Ānanda please accept it out of sympathy.”
“Enough, Great King. My three robes are complete.”
362. “Bạch ngài, thật hy hữu! Bạch ngài, thật vi diệu! Bạch ngài, lời nói này của tôn giả Ānanda quả là thiện thuyết! Bạch ngài, chúng con nhờ lời thiện thuyết này của tôn giả Ānanda mà được hoan hỷ, tín thành. Bạch ngài, chúng con nhờ lời thiện thuyết này của tôn giả Ānanda mà được hoan hỷ, tín thành như vậy. Bạch ngài, nếu báu vật voi là thích hợp cho tôn giả Ānanda, chúng con sẽ dâng tặng báu vật voi cho tôn giả Ānanda. Bạch ngài, nếu báu vật ngựa là thích hợp cho tôn giả Ānanda, chúng con sẽ dâng tặng báu vật ngựa cho tôn giả Ānanda. Bạch ngài, nếu ngôi làng thượng hạng là thích hợp cho tôn giả Ānanda, chúng con sẽ dâng tặng ngôi làng thượng hạng cho tôn giả Ānanda. Hơn nữa, bạch ngài, chúng con biết điều này: ‘Điều này không thích hợp cho tôn giả Ānanda’. Bạch ngài, đây là tấm vải bāhitikā của con, do vua Ajātasattu của xứ Māgadha, con của bà Vedehi, cho người bỏ vào trong ống đựng vải và gửi đến, dài mười sáu (cánh tay), rộng tám (cánh tay). Bạch ngài, mong tôn giả Ānanda vì lòng bi mẫn mà nhận lấy.” – “Thôi đủ rồi, đại vương, ba y của tôi đã đầy đủ.”
“Ayaṁ, bhante, aciravatī nadī diṭṭhā āyasmatā ceva ānandena amhehi ca. Yadā uparipabbate mahāmegho abhippavuṭṭho hoti, athāyaṁ aciravatī nadī ubhato kūlāni saṁvissandantī gacchati; evameva kho, bhante, āyasmā ānando imāya bāhitikāya attano ticīvaraṁ karissati. Yaṁ panāyasmato ānandassa purāṇaṁ ticīvaraṁ taṁ sabrahmacārīhi saṁvibhajissati. Evāyaṁ amhākaṁ dakkhiṇā saṁvissandantī maññe gamissati. Paṭiggaṇhātu, bhante, āyasmā ānando bāhitikan”ti.
Paṭiggahesi kho āyasmā ānando bāhitikaṁ.
“Sir, we have both seen this Aciravatī River when it has rained heavily in the mountains, and the river overflows both its banks. In the same way, Venerable Ānanda can make a set of three robes for himself from this foreign cloth, and you can share your old robes with your fellow monks. In this way my religious donation will come to overflow, it seems to me. Please accept the foreign cloth.”
So Ānanda accepted it.
“Bạch ngài, con sông Aciravatī này đã được tôn giả Ānanda và chúng con nhìn thấy. Khi trên thượng nguồn có mưa lớn, con sông Aciravatī này chảy tràn cả hai bờ; cũng vậy, bạch ngài, tôn giả Ānanda sẽ tự mình làm ba y từ tấm vải bāhitikā này. Còn bộ ba y cũ của tôn giả Ānanda, ngài sẽ chia cho các vị đồng phạm hạnh. Như vậy, con nghĩ rằng lễ vật cúng dường này của chúng con sẽ được lan tỏa. Bạch ngài, mong tôn giả Ānanda hãy nhận lấy tấm vải bāhitikā.” Tôn giả Ānanda đã nhận lấy tấm vải bāhitikā.
Atha kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “handa ca dāni mayaṁ, bhante ānanda, gacchāma; bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, mahārāja, kālaṁ maññasī”ti. Atha kho rājā pasenadi kosalo āyasmato ānandassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Then King Pasenadi said to him, “Well, now, sir, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, Great King, go at your convenience.” Then King Pasenadi approved and agreed with what Ānanda said. He rose from his seat, bowed, and respectfully circled Ānanda, keeping him on his right, before leaving.
Rồi vua Pasenadi của xứ Kosala nói với tôn giả Ānanda điều này: “Bạch ngài Ānanda, bây giờ chúng con xin đi; chúng con có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm.” – “Thưa đại vương, ngài biết bây giờ là thời điểm thích hợp.” Rồi vua Pasenadi của xứ Kosala, sau khi hoan hỷ, tán thán lời nói của tôn giả Ānanda, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tôn giả Ānanda, đi nhiễu quanh theo hướng bên phải rồi ra về.
Atha kho āyasmā ānando acirapakkantassa rañño pasenadissa kosalassa yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando yāvatako ahosi raññā pasenadinā kosalena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi. Tañca bāhitikaṁ bhagavato pādāsi.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“lābhā, bhikkhave, rañño pasenadissa kosalassa, suladdhalābhā, bhikkhave, rañño pasenadissa kosalassa; yaṁ rājā pasenadi kosalo labhati ānandaṁ dassanāya, labhati payirupāsanāyā”ti.
Soon after he left, Ānanda went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. He presented the cloth to the Buddha.
Then the Buddha said to the mendicants,
“Mendicants, King Pasenadi is lucky, so very lucky, to get to see Ānanda and pay homage to him.”
363. Rồi tôn giả Ānanda, không lâu sau khi vua Pasenadi của xứ Kosala ra về, đã đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Ānanda đã trình bày lại với đức Thế Tôn toàn bộ cuộc đối thoại với vua Pasenadi của xứ Kosala. Và ngài đã dâng tấm vải bāhitikā lên đức Thế Tôn. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, thật là một lợi lộc cho vua Pasenadi của xứ Kosala, thật là một lợi lộc lớn lao cho vua Pasenadi của xứ Kosala, khi vua Pasenadi của xứ Kosala được gặp gỡ Ānanda, được thân cận Ānanda.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Các vị tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của đức Thế Tôn.
Bāhitikasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Bāhitika, kinh thứ tám, đã chấm dứt.