- Majjhima Nikāya 87
Piyajātikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Piyajātikasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp cô độc).
SC 2Lúc bấy giờ con một của một gia chủ, khả ái, đáng thương, bị mệnh chung. Sau khi nó chết, người cha không còn muốn làm việc, không còn muốn ăn uống, luôn luôn đi đến nghĩa địa, người ấy than khóc: “Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?” Rồi người gia chủ ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với người gia chủ đang ngồi một bên
SC 3—Này Gia chủ, có phải Ông có các căn để an trú tự tâm ông, có phải các căn của Ông đổi khác?
SC 4—Bạch Thế Tôn, sao các căn của con có thể không đổi khác được? Bạch Thế Tôn, đứa con một khả ái, đáng thương của con đã mệnh chung. Sau khi nó chết, con không còn muốn làm việc, con không còn muốn ăn uống, con luôn luôn đi đến nghĩa địa và than khóc: “Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?”
SC 5—Sự thật là như vậy, này Gia chủ, vì rằng, này Gia chủ, sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.
SC 6—Nhưng đối với ai, bạch Thế Tôn, sự tình sẽ như vậy: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái?” Vì rằng, bạch Thế Tôn, hỷ lạc (anandasomanassa) do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.
SC 7Rồi người gia chủ, không hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, chống báng lại, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 8Lúc bấy giờ, một số người đánh bạc đang chơi đổ nhứt lục không xa Thế Tôn bao nhiêu. Người gia chủ kia, đi đến những người đánh bạc ấy, sau khi đến nói với những người ấy như sau
SC 9—Này Quý vị, ở đây tôi đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến, đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên. Này Quý vị, Sa-môn Gotama nói với tôi đang ngồi một bên
SC 10: “Này Gia chủ, có phải Ông có các căn để an trú tự tâm ông. Có phải các căn của Ông đổi khác?” Này Quý vị, được nghe nói vậy tôi nói với Sa-môn Gotama
SC 11: “Bạch Thế Tôn, sao các căn của con có thể không đổi khác được? Bạch Thế Tôn, đứa con một khả ái, đáng thương của con đã mệnh chung. Sau khi nó chết, con không còn muốn làm việc, con không còn muốn ăn uống, con luôn luôn đi đến nghĩa địa và than khóc: “Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?”
SC 12:: “Sự thật là như vậy, này Gia chủ. Vì rằng, này Gia chủ, sầu, bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái
”SC 13. “Nhưng đối với ai, bạch Thế Tôn, sự tình sẽ như vậy! “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, hỷ lạc do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Này Quý vị, không hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, ta chống báng lại, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 14—Sự thật là như vậy, này Gia Chủ! Sự thật là như vậy, này Gia chủ! Này Gia chủ, hỷ lạc do ái sanh, hiện hữu từ nơi ái.
SC 15Rồi người gia chủ suy nghĩ: “Có sự đồng ý giữa ta và những người đánh bạc”, rồi bỏ đi.
SC 16Và cuộc đối thoại ấy dần dần được truyền đi và truyền đến trong nội cung. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala cho gọi hoàng hậu Mallikā
SC 17—Này Mallikā, đây là lời Sa-môn Gotama nói với các người ấy: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”.
SC 18—Tâu Ðại vương, nếu Thế Tôn đã dạy như vậy, thì sự việc là như vậy.
SC 19—Ðiều gì Sa-môn Gotama nói, Mallikā này cũng nói theo. Vì Mallikā quá hoan hỷ với Sa-môn Gotama. Vì vị Ðạo sư nói gì cho đệ tử, và đệ tử quá hoan hỷ với vị Ðạo sư nên nói: “Sự thật là vậy, thưa Ðạo sư! Sự thật là như vậy, thưa Ðạo sư”. Cũng vậy, này Mallikā, điều gì Sa-môn Gotama nói, Hoàng hậu quá hoan hỷ với Sa-môn Gotama nên đã nói: “Nếu Thế Tôn đã nói như vậy thời sự việc là vậy”. Hãy đi đi, Mallikā, hãy đi đi!
SC 20Rồi hoàng hậu Mallikā cho gọi Bà-la-môn Nalijangha và nói
SC 21—Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi có ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú, và thưa: “Bạch Thế Tôn, hoàng hậu Mallikā cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú không, và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã nói như sau: Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Và nếu Thế Tôn trả lời Ông như thế nào, hãy khéo nắm giữ và nói lại với ta. Vì các Như Lai không nói phản lại sự thật.
SC 22—Thưa vâng, tâu Hoàng hậu.
SC 23Bà-la-môn Nalijangha vâng đáp hoàng hậu Mallikā, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, Và sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Nalijangha Bạch Thế Tôn
SC 24—Thưa Tôn giả Gotama, hoàng hậu Mallikā cúi đầu đảnh lễ chân Sa-môn Gotama, hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã nói như sau: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”?
SC 25—Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Này Bà-la-môn, sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.
SC 26Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này, cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Sāvatthi này, bà mẹ của một người đàn bà mệnh chung. Từ khi bà ta mệnh chung, người đàn bà này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác và nói: “Người có thấy mẹ tôi đâu không? Người có thấy mẹ tôi đâu không?”
SC 27Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này, cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Sāvatthi này, người cha của một người đàn bà mệnh chung…, người anh mệnh chung…, người chị mệnh chung…, người con trai mệnh chung…, người con gái mệnh chung…, người chồng mệnh chung. Từ khi người chồng mệnh chung, người đàn bà này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác và nói: “Người có thấy chồng tôi đâu không? Người có thấy chồng tôi đâu không?”
SC 28Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Sāvatthi này, người mẹ của một người đàn ông mệnh chung. Từ khi bà ta mệnh chung, người đàn ông này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác và nói: “Người có thấy mẹ tôi đâu không? Người có thấy mẹ tôi đâu không?”
SC 29Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Sāvatthi này, người cha của một người đàn ông mệnh chung…, người anh mệnh chung…, người chị mệnh chung…, người con trai mệnh chung…, người con gái mệnh chung…, người vợ mệnh chung. Từ khi người vợ mệnh chung, người đàn ông này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác, và nói: “Người có thấy vợ tôi đâu không? Người có thấy vợ tôi đâu không?”
SC 30Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa chính tại thành Sāvatthi này, một người đàn bà đi về thăm gia đình bà con. Những người bà con ấy của người đàn bà muốn dùng sức mạnh bắt người đàn bà ấy phải xa chồng và muốn gả cho một người đàn ông khác. Người đàn bà ấy không chịu. Rồi người đàn bà ấy nói với chồng mình: “Này Hiền phu, những người bà con này muốn dùng sức mạnh bắt tôi phải xa anh và muốn gả cho một người đàn ông khác. Nhưng tôi không muốn như vậy”. Rồi người ấy chặt người đàn bà ấy làm hai, rồi tự vận, nghĩ rằng: “Hai chúng ta sẽ gặp nhau trong đời sau”. Này Bà-la-môn, do pháp môn này cần phải được hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.
SC 31Rồi Bà-la-môn Nalijangha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến hoàng hậu Mallikā, sau khi đến, kể lại cho hoàng hậu Mallikā toàn thể cuộc đàm thoại với Thế Tôn.
SC 32Rồi hoàng hậu Mallikā đi đến vua Pasenadi nước Kosala, và thưa
SC 33—Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có thương công chúa Vajiri của thiếp không?
SC 34—Phải, này Mallikā, ta thương công chúa Vajiri.
SC 35—Tâu đại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho công chúa Vajiri của Ðại vương. Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
SC 36—Này Mallikā, nếu có sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho công chúa Vajiri của ta, thì sẽ có một sự thay đổi đến đời sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta, sầu, bi, khổ, ưu, não?
SC 37—Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nữ Sát-đế-lị Vāsabha, Ðại vương có thương yêu không?
SC 38—Này Mallikā, ta có thương yêu nữ Sát-đế-lị Vāsabha.
SC 39—Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho nữ Sát-đế-lị Vāsabha, Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
SC 40—Này Mallikā, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho nữ Sát-đế-lị Vāsabha, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho đời sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu não?
SC 41—Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Tướng quân Vidudabha, Ðại vương có thương quý không?
SC 42—Này Mallikā, ta có thương quý tướng quân Vidudabha.
SC 43—Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho tướng quân Vidudabha, Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
SC 44—Này Mallikā, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho tướng quân Vidudabha thì sẽ có sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta, sầu, bi, khổ, ưu não?
SC 45—Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có yêu thương thiếp không?
SC 46—Phải, này Mallikā, ta có thương yêu Hoàng hậu.
SC 47—Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho thiếp, Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
SC 48—Này Mallikā, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho Hoàng hậu, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?
SC 49—Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có yêu thương dân chúng Kasi và Kosala không?
SC 50—Phải, này Mallikā, ta thương yêu dân chúng Kasi và Kosala. Này Mallikā, nhờ sức mạnh của họ, chúng ta mới có được gỗ chiên-đàn từ nước Kasi và dùng các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp.
SC 51—Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho dân chúng Kasi và Kosala, Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não không?
SC 52—Này Mallikā, nếu có một sự biến dịch đổi khác xảy đến cho dân chúng nước Kasi và Kosala, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu não?
SC 53—Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”.
SC 54—Thật vi diệu thay, này Mallikā! Thật hy hữu thay, này Mallikā! Thế Tôn đã thể nhập nhờ trí tuệ, đã thấy nhờ trí tuệ. Ðến đây, Mallikā, hãy sửa soạn tẩy trần.
SC 55Rồi vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái Thế Tôn và nói lên ba lần lời cảm hứng sau đây: “Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! ”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 18–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Piyajātika
Tena kho pana samayena aññatarassa gahapatissa ekaputtako piyo manāpo kālaṅkato hoti. Tassa kālaṅkiriyāya neva kammantā paṭibhanti na bhattaṁ paṭibhāti. So āḷāhanaṁ gantvā kandati: “kahaṁ, ekaputtaka, kahaṁ, ekaputtakā”ti.
Atha kho so gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca: “na kho te, gahapati, sake citte ṭhitassa indriyāni, atthi te indriyānaṁ aññathattan”ti.
“Kiñhi me, bhante, indriyānaṁ nāññathattaṁ bhavissati; mayhañhi, bhante, ekaputto piyo manāpo kālaṅkato. Tassa kālaṅkiriyāya neva kammantā paṭibhanti, na bhattaṁ paṭibhāti. Sohaṁ āḷāhanaṁ gantvā kandāmi: ‘kahaṁ, ekaputtaka, kahaṁ, ekaputtakā’”ti.
“Evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati. Piyajātikā hi, gahapati, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā”ti.
“Kassa kho nāmetaṁ, bhante, evaṁ bhavissati: ‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti? Piyajātikā hi kho, bhante, ānandasomanassā piyappabhavikā”ti.
Now at that time a certain householder’s dear and beloved only child passed away. After their death he didn’t feel like working or eating. He would go to the cremation ground and wail, “Where are you, my only child? Where are you, my only child?”
Then he went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him, “Your faculties, householder, are those of one who is unstable in their own mind; there is a deterioration in your faculties.”
“And how, sir, could there be no deterioration of my faculties? For my dear and beloved only child has passed away. Since their death I haven’t felt like working or eating. I go to the cremation ground and wail: ‘Where are you, my only child? Where are you, my only child?’”
“That’s so true, householder! That’s so true, householder! For our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.”
“Sir, who on earth could ever think such a thing! For our loved ones are a source of joy and happiness.”
353. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Bấy giờ, có một gia chủ nọ, người con trai duy nhất, thân yêu và quý mến của ông đã qua đời. Do cái chết của người con, ông không còn thiết tha công việc, cũng không muốn ăn uống. Ông đi đến nghĩa địa và khóc than: 'Con trai duy nhất của ta ơi, con ở đâu? Con trai duy nhất của ta ơi, con ở đâu?' Bấy giờ, gia chủ ấy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ đang ngồi một bên rằng: 'Này gia chủ, các căn của ông không giống như của người có tâm trí vững vàng, các căn của ông đã có sự thay đổi.' 'Bạch Thế Tôn, làm sao các căn của con lại không thay đổi được? Bạch Thế Tôn, người con trai duy nhất, thân yêu và quý mến của con đã qua đời. Do cái chết của người con, con không còn thiết tha công việc, cũng không muốn ăn uống. Con đã đi đến nghĩa địa và khóc than: 'Con trai duy nhất của ta ơi, con ở đâu? Con trai duy nhất của ta ơi, con ở đâu?'' 'Đúng vậy, gia chủ, đúng vậy, gia chủ! Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ những gì thân yêu, có nguồn gốc từ những gì thân yêu.' 'Bạch Thế Tôn, ai lại có thể nghĩ rằng: 'Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ những gì thân yêu, có nguồn gốc từ những gì thân yêu'? Bạch Thế Tôn, chính niềm vui và hỷ lạc mới sinh ra từ những gì thân yêu, có nguồn gốc từ những gì thân yêu.' Bấy giờ, gia chủ ấy không hoan hỷ, phản đối lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và bỏ đi.
Tena kho pana samayena sambahulā akkhadhuttā bhagavato avidūre akkhehi dibbanti. Atha kho so gahapati yena te akkhadhuttā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā akkhadhutte etadavoca: “idhāhaṁ, bhonto, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho maṁ, bhonto, samaṇo gotamo etadavoca: ‘na kho te, gahapati, sake citte ṭhitassa indriyāni, atthi te indriyānaṁ aññathattan’ti. Evaṁ vutte, ahaṁ, bhonto, samaṇaṁ gotamaṁ etadavocaṁ: ‘kiñhi me, bhante, indriyānaṁ nāññathattaṁ bhavissati; mayhañhi, bhante, ekaputtako piyo manāpo kālaṅkato. Tassa kālaṅkiriyāya neva kammantā paṭibhanti, na bhattaṁ paṭibhāti. Sohaṁ āḷāhanaṁ gantvā kandāmi—kahaṁ, ekaputtaka, kahaṁ, ekaputtakā’ti. ‘Evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati. Piyajātikā hi, gahapati, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti. ‘Kassa kho nāmetaṁ, bhante, evaṁ bhavissati—piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā? Piyajātikā hi kho, bhante, ānandasomanassā piyappabhavikā’ti. Atha khvāhaṁ, bhonto, samaṇassa gotamassa bhāsitaṁ anabhinanditvā paṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamin”ti.
“Evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati. Piyajātikā hi, gahapati, ānandasomanassā piyappabhavikā”ti.
Atha kho so gahapati “sameti me akkhadhuttehī”ti pakkāmi.
Atha kho idaṁ kathāvatthu anupubbena rājantepuraṁ pāvisi.
Now at that time several gamblers were playing dice not far from the Buddha. That householder approached them and told them what had happened.
“That’s so true, householder! That’s so true, householder! For our loved ones are a source of joy and happiness.”
Thinking, “The gamblers and I are in agreement,” the householder left.
Eventually that topic of discussion reached the royal compound.
354. Bấy giờ, có nhiều người nghiện cờ bạc đang chơi xúc xắc không xa chỗ Thế Tôn. Gia chủ ấy đi đến chỗ những người nghiện cờ bạc; sau khi đến, ông nói với họ: 'Thưa các ông, tôi đã đi đến chỗ Sa-môn Gotama; sau khi đến, tôi đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên. Thưa các ông, Sa-môn Gotama đã nói với tôi, đang ngồi một bên, rằng: 'Này gia chủ, các căn của ông không giống như của người có tâm trí vững vàng, các căn của ông đã có sự thay đổi.' Khi được nói như vậy, thưa các ông, tôi đã nói với Sa-môn Gotama rằng: 'Bạch Thế Tôn, làm sao các căn của con lại không thay đổi được? Bạch Thế Tôn, người con trai duy nhất, thân yêu và quý mến của con đã qua đời. Do cái chết của người con, con không còn thiết tha công việc, cũng không muốn ăn uống. Con đã đi đến nghĩa địa và khóc than: 'Con trai duy nhất của ta ơi, con ở đâu? Con trai duy nhất của ta ơi, con ở đâu?'' 'Đúng vậy, gia chủ, đúng vậy, gia chủ! Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ những gì thân yêu, có nguồn gốc từ những gì thân yêu.' 'Bạch Thế Tôn, ai lại có thể nghĩ rằng: 'Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ những gì thân yêu, có nguồn gốc từ những gì thân yêu'? Bạch Thế Tôn, chính niềm vui và hỷ lạc mới sinh ra từ những gì thân yêu, có nguồn gốc từ những gì thân yêu.' Bấy giờ, thưa các ông, tôi không hoan hỷ, phản đối lời dạy của Sa-môn Gotama, từ chỗ ngồi đứng dậy và bỏ đi.' 'Đúng vậy, gia chủ, đúng vậy, gia chủ! Chính niềm vui và hỷ lạc mới sinh ra từ những gì thân yêu, có nguồn gốc từ những gì thân yêu.' Bấy giờ, gia chủ ấy nghĩ: 'Quan điểm của ta giống với những người nghiện cờ bạc này,' rồi bỏ đi. Và câu chuyện này tuần tự lan truyền vào hoàng cung.
“Sacetaṁ, mahārāja, bhagavatā bhāsitaṁ, evametan”ti.
“Evameva panāyaṁ mallikā yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati taṁ tadevassa abbhanumodati: ‘Sacetaṁ, mahārāja, bhagavatā bhāsitaṁ evametan’ti. Seyyathāpi nāma, yaññadeva ācariyo antevāsissa bhāsati taṁ tadevassa antevāsī abbhanumodati: ‘evametaṁ, ācariya, evametaṁ, ācariyā’ti. Evameva kho tvaṁ, mallike, yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati taṁ tadevassa abbhanumodasi: ‘Sacetaṁ, mahārāja, bhagavatā bhāsitaṁ evametan’ti. Cara pire, mallike, vinassā”ti.
Atha kho mallikā devī nāḷijaṅghaṁ brāhmaṇaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, brāhmaṇa, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha: ‘mallikā, bhante, devī bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti; evañca vadehi: ‘bhāsitā nu kho, bhante, bhagavatā esā vācā—piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti. Yathā te bhagavā byākaroti taṁ sādhukaṁ uggahetvā mama āroceyyāsi. Na hi tathāgatā vitathaṁ bhaṇantī”ti.
“Evaṁ, bhotī”ti kho nāḷijaṅgho brāhmaṇo mallikāya deviyā paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho nāḷijaṅgho brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “mallikā, bho gotama, devī bhoto gotamassa pāde sirasā vandati; appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati; evañca vadeti: ‘bhāsitā nu kho, bhante, bhagavatā esā vācā—piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’”ti.
“If that’s what the Buddha said, Great King, then that’s how it is.”
“No matter what the ascetic Gotama says, Mallikā agrees with him: ‘If that’s what the Buddha said, Great King, then that’s how it is.’ You’re just like a pupil who agrees with everything their tutor says. Go away, Mallikā, get out of here!”
Then Queen Mallikā addressed the brahmin Nāḷijaṅgha, “Please, brahmin, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Ask him if he is healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. And then say: ‘Sir, did the Buddha make this statement: “Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress”?’ Remember well how the Buddha answers and tell it to me. For Realized Ones say nothing that is not so.”
“Yes, ma’am,” he replied. He went to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha, “Worthy Gotama, Queen Mallikā bows with her head to your feet. She asks if you are healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. And she asks whether the Buddha made this statement: ‘Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.’”
355. Bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala cho gọi hoàng hậu Mallikā và nói: "Này Mallikā, có phải Sa-môn Gotama đã nói lời này: 'Sầu, bi, khổ, ưu, não sanh từ ái, có ái làm nhân duyên'?" "Tâu Đại vương, nếu lời này được Thế Tôn nói ra, thì đúng là như vậy." "Này Mallikā, cứ hễ Sa-môn Gotama nói điều gì, bà đều tán thán điều ấy." "Tâu Đại vương, nếu lời này được Thế Tôn nói ra, thì đúng là như vậy. Ví như, bất cứ điều gì vị thầy nói với đệ tử, người đệ tử đều tán thán điều ấy: 'Thưa thầy, đúng là như vậy, thưa thầy, đúng là như vậy'." "Này Mallikā, cũng vậy, bất cứ điều gì Sa-môn Gotama nói, bà đều tán thán điều ấy." "Tâu Đại vương, nếu lời này được Thế Tôn nói ra, thì đúng là như vậy." "Này Mallikā, hãy đi đi, hãy cút đi!" Bấy giờ, hoàng hậu Mallikā cho gọi Bà-la-môn Nāḷijaṅgha và nói: "Này Bà-la-môn, hãy đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh tôi, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và an trú thoải mái không: 'Bạch Thế Tôn, hoàng hậu Mallikā cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và an trú thoải mái không.' Và hãy thưa như vầy: 'Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã nói lời này: "Sầu, bi, khổ, ưu, não sanh từ ái, có ái làm nhân duyên"?' Thế Tôn trả lời ông thế nào, hãy ghi nhớ kỹ rồi về báo lại cho tôi. Vì các đấng Như Lai không nói lời sai lạc." "Thưa vâng, tâu hoàng hậu." Bà-la-môn Nāḷijaṅgha vâng lời hoàng hậu Mallikā, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng Thế Tôn nói lên những lời chào mừng hỏi thăm. Sau khi trao đổi những lời chào mừng hỏi thăm thân hữu, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Nāḷijaṅgha bạch với Thế Tôn: "Tôn giả Gotama, hoàng hậu Mallikā cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Gotama; hỏi thăm ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và an trú thoải mái không; và thưa như vầy: 'Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã nói lời này: "Sầu, bi, khổ, ưu, não sanh từ ái, có ái làm nhân duyên"?'"
“Evametaṁ, brāhmaṇa, evametaṁ, brāhmaṇa. Piyajātikā hi, brāhmaṇa, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
Tadamināpetaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā. Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarissā itthiyā mātā kālamakāsi. Sā tassā kālakiriyāya ummattikā khittacittā rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā evamāha: ‘api me mātaraṁ addassatha, api me mātaraṁ addassathā’ti?
Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarissā itthiyā pitā kālamakāsi …
“That’s right, brahmin, that’s right! For our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
And here’s a way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. Once upon a time right here in Sāvatthī a certain woman’s mother passed away. And because of that she went mad and lost her mind. She went from street to street and from square to square saying, ‘Has anyone seen my mother? Has anyone seen my mother?’
And here’s another way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
Once upon a time right here in Sāvatthī a certain woman’s father …
356. "Này Bà-la-môn, đúng là như vậy, này Bà-la-môn, đúng là như vậy! Này Bà-la-môn, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh từ ái, có ái làm nhân duyên. Này Bà-la-môn, qua phương pháp này, cần phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sanh từ ái, có ái làm nhân duyên. Này Bà-la-môn, thuở xưa, tại chính thành Sāvatthī này, có người phụ nữ kia, mẹ của bà ta qua đời. Do cái chết của mẹ, bà ta trở nên điên loạn, tâm trí rối bời, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, và nói như vầy: 'Có ai thấy mẹ tôi không? Có ai thấy mẹ tôi không?' Này Bà-la-môn, qua phương pháp này, cũng cần phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sanh từ ái, có ái làm nhân duyên."
Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
And here’s another way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
"Này Bà-la-môn, thuở xưa, tại chính thành Sāvatthī này, có người phụ nữ kia, cha của bà ta qua đời... anh em trai qua đời... chị em gái qua đời... con trai qua đời... con gái qua đời... chồng qua đời. Do cái chết của chồng, bà ta trở nên điên loạn, tâm trí rối bời, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, và nói như vầy: 'Có ai thấy chồng tôi không? Có ai thấy chồng tôi không?' Này Bà-la-môn, qua phương pháp này, cũng cần phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sanh từ ái, có ái làm nhân duyên."
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarassa purisassa mātā kālamakāsi. So tassā kālakiriyāya ummattako khittacitto rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā evamāha: ‘api me mātaraṁ addassatha, api me mātaraṁ addassathā’ti? Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
Once upon a time right here in Sāvatthī a certain man’s mother …
"Này Bà-la-môn, thuở xưa, tại chính thành Sāvatthī này, có người đàn ông kia, mẹ của ông ta qua đời. Do cái chết của mẹ, ông ta trở nên điên loạn, tâm trí rối bời, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, và nói như vầy: 'Có ai thấy mẹ tôi không? Có ai thấy mẹ tôi không?' Này Bà-la-môn, qua phương pháp này, cũng cần phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sanh từ ái, có ái làm nhân duyên."
Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
And here’s another way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
"Này Bà-la-môn, thuở xưa, tại chính thành Sāvatthī này, có người đàn ông kia, cha của ông ta qua đời... anh em trai qua đời... chị em gái qua đời... con trai qua đời... con gái qua đời... vợ qua đời. Do cái chết của vợ, ông ta trở nên điên loạn, tâm trí rối bời, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, và nói như vầy: 'Có ai thấy vợ tôi không? Có ai thấy vợ tôi không?' Này Bà-la-môn, qua phương pháp này, cũng cần phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sanh từ ái, có ái làm nhân duyên."
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarā itthī ñātikulaṁ agamāsi. Tassā te ñātakā sāmikaṁ acchinditvā aññassa dātukāmā. Sā ca taṁ na icchati. Atha kho sā itthī sāmikaṁ etadavoca: ‘ime, maṁ, ayyaputta, ñātakā tvaṁ acchinditvā aññassa dātukāmā. Ahañca taṁ na icchāmī’ti. Atha kho so puriso taṁ itthiṁ dvidhā chetvā attānaṁ upphālesi: ‘ubho pecca bhavissāmā’ti. Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā”ti.
Once upon a time right here in Sāvatthī a certain woman went to live with her relative’s family. But her relatives wanted to divorce her from her husband and give her to another, who she didn’t want. So she told her husband about this. But he cut her in two and disemboweled himself, thinking, ‘We shall be together after death.’ That’s another way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.”
Này Bà-la-môn, thuở xưa, ngay tại thành Sāvatthī này, có một người phụ nữ đi về nhà bà con của mình. Những người bà con ấy muốn cướp cô ta khỏi người chồng và gả cho một người khác. Nhưng cô ấy không muốn người kia. Bấy giờ, người phụ nữ ấy nói với chồng mình rằng: ‘Thưa công tử, những người bà con này muốn cướp em khỏi chàng và gả cho người khác. Và em thì không muốn người ấy.’ Bấy giờ, người đàn ông ấy đã chém người phụ nữ kia làm hai đoạn, rồi tự mổ bụng mình, (nghĩ rằng): ‘Cả hai chúng ta sẽ được ở bên nhau sau khi chết.’ Này Bà-la-môn, cũng qua phương cách này, nên biết rằng: sầu, bi, khổ, ưu, não sanh ra từ những gì khả ái, có những gì khả ái là nguồn gốc của chúng.
Atha kho nāḷijaṅgho brāhmaṇo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā yena mallikā devī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā yāvatako ahosi bhagavatā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ mallikāya deviyā ārocesi. Atha kho mallikā devī yena rājā pasenadi kosalo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ etadavoca: “Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, piyā te vajirī kumārī”ti?
“Evaṁ, mallike, piyā me vajirī kumārī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, vajiriyā te kumāriyā vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Vajiriyā me, mallike, kumāriyā vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ: ‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti.
Then Nāḷijaṅgha the brahmin, having approved and agreed with what the Buddha said, rose from his seat, went to Queen Mallikā, and told her of all they had discussed. Then Queen Mallikā approached King Pasenadi and said to him, “What do you think, Great King? Do you love Princess Vajirī?”
“Indeed I do, Mallikā.”
“What do you think, Great King? If she were to decay and perish, would sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress arise in you?”
“If she were to decay and perish, my life would fall apart. How could sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress not arise in me?”
“This is what the Buddha was referring to when he said: ‘Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.’
357. Bấy giờ, Bà-la-môn Nāḷijaṅgha, sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ hoàng hậu Mallikā; sau khi đến, ông đã thuật lại toàn bộ cuộc đối thoại với Thế Tôn cho hoàng hậu Mallikā. Bấy giờ, hoàng hậu Mallikā đi đến chỗ vua Pasenadi nước Kosala; sau khi đến, bà nói với vua Pasenadi nước Kosala điều này: ‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, công chúa Vajirī có phải là người ngài yêu quý không?’ ‘Thưa Mallikā, đúng vậy, công chúa Vajirī là người ta yêu quý.’ ‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, do sự biến đổi và đổi khác của công chúa Vajirī, sầu, bi, khổ, ưu, não có thể khởi sanh nơi ngài không?’ ‘Thưa Mallikā, do sự biến đổi và đổi khác của công chúa Vajirī, ngay cả mạng sống của ta cũng có thể đổi khác, huống nữa là sầu, bi, khổ, ưu, não lại không khởi sanh hay sao?’ ‘Tâu Đại vương, chính vì lý do này mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã dạy rằng: “Sầu, bi, khổ, ưu, não sanh ra từ những gì khả ái, có những gì khả ái là nguồn gốc của chúng.”’
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, piyā te vāsabhā khattiyā”ti? “Evaṁ, mallike, piyā me vāsabhā khattiyā”ti. “Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, vāsabhāya te khattiyāya vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “Vāsabhāya me, mallike, khattiyāya vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ: ‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, piyo te viṭaṭūbho senāpatī”ti?
What do you think, Great King? Do you love Queen Vāsabhā? …
Do you love your son, General Viḍūḍabha? …
‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, công nương Vāsabhakhattiyā có phải là người ngài yêu quý không?’ ‘Thưa Mallikā, đúng vậy, công nương Vāsabhakhattiyā là người ta yêu quý.’ ‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, do sự biến đổi và đổi khác của công nương Vāsabhakhattiyā, sầu, bi, khổ, ưu, não có thể khởi sanh nơi ngài không?’ ‘Thưa Mallikā, do sự biến đổi và đổi khác của công nương Vāsabhakhattiyā, ngay cả mạng sống của ta cũng có thể đổi khác, huống nữa là sầu, bi, khổ, ưu, não lại không khởi sanh hay sao?’ ‘Tâu Đại vương, chính vì lý do này mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã dạy rằng: “Sầu, bi, khổ, ưu, não sanh ra từ những gì khả ái, có những gì khả ái là nguồn gốc của chúng.”’
‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, tướng quân Viṭaṭūbha có phải là người ngài yêu quý không?’ ‘Thưa Mallikā, đúng vậy, tướng quân Viṭaṭūbha là người ta yêu quý.’ ‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, do sự biến đổi và đổi khác của tướng quân Viṭaṭūbha, sầu, bi, khổ, ưu, não có thể khởi sanh nơi ngài không?’ ‘Thưa Mallikā, do sự biến đổi và đổi khác của tướng quân Viṭaṭūbha, ngay cả mạng sống của ta cũng có thể đổi khác, huống nữa là sầu, bi, khổ, ưu, não lại không khởi sanh hay sao?’ ‘Tâu Đại vương, chính vì lý do này mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã dạy rằng: “Sầu, bi, khổ, ưu, não sanh ra từ những gì khả ái, có những gì khả ái là nguồn gốc của chúng.”’
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, piyā te ahan”ti?
“Evaṁ, mallike, piyā mesi tvan”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, mayhaṁ te vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Tuyhañhi me, mallike, vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ: ‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti.
Do you love me?”
“Indeed I do love you, Mallikā.”
“What do you think, Great King? If I were to decay and perish, would sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress arise in you?”
“If you were to decay and perish, my life would fall apart. How could sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress not arise in me?”
“This is what the Buddha was referring to when he said: ‘Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.’
‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, thiếp có phải là người ngài yêu quý không?’ ‘Thưa Mallikā, đúng vậy, nàng là người ta yêu quý.’ ‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, do sự biến đổi và đổi khác của thiếp, sầu, bi, khổ, ưu, não có thể khởi sanh nơi ngài không?’ ‘Thưa Mallikā, do sự biến đổi và đổi khác của nàng, ngay cả mạng sống của ta cũng có thể đổi khác, huống nữa là sầu, bi, khổ, ưu, não lại không khởi sanh hay sao?’ ‘Tâu Đại vương, chính vì lý do này mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã dạy rằng: “Sầu, bi, khổ, ưu, não sanh ra từ những gì khả ái, có những gì khả ái là nguồn gốc của chúng.”’
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, piyā te kāsikosalā”ti?
“Evaṁ, mallike, piyā me kāsikosalā. Kāsikosalānaṁ, mallike, ānubhāvena kāsikacandanaṁ paccanubhoma, mālāgandhavilepanaṁ dhāremā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, kāsikosalānaṁ te vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Kāsikosalānañhi, mallike, vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ: ‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’”ti.
What do you think, Great King? Do you love the realms of Kāsi and Kosala?”
“Indeed I do, Mallikā. It’s due to the bounty of Kāsi and Kosala that we use sandalwood imported from Kāsi and wear garlands, fragrance, and makeup.”
“What do you think, Great King? If these realms were to decay and perish, would sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress arise in you?”
“If they were to decay and perish, my life would fall apart. How could sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress not arise in me?”
“This is what the Buddha was referring to when he said: ‘Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.’”
‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, hai xứ Kāsi và Kosala có phải là những gì ngài yêu quý không?’ ‘Thưa Mallikā, đúng vậy, hai xứ Kāsi và Kosala là những gì ta yêu quý. Thưa Mallikā, nhờ vào uy lực của hai xứ Kāsi và Kosala mà chúng ta được hưởng dụng gỗ chiên-đàn từ xứ Kāsi, và mang dùng vòng hoa, hương thơm, và vật thoa.’ ‘Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, do sự biến đổi và đổi khác của hai xứ Kāsi và Kosala, sầu, bi, khổ, ưu, não có thể khởi sanh nơi ngài không?’ ‘Thưa Mallikā, do sự biến đổi và đổi khác của hai xứ Kāsi và Kosala, ngay cả mạng sống của ta cũng có thể đổi khác, huống nữa là sầu, bi, khổ, ưu, não lại không khởi sanh hay sao?’ ‘Tâu Đại vương, chính vì lý do này mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã dạy rằng: “Sầu, bi, khổ, ưu, não sanh ra từ những gì khả ái, có những gì khả ái là nguồn gốc của chúng.”’
“Acchariyaṁ, mallike, abbhutaṁ, mallike. Yāvañca so bhagavā paññāya ativijjha maññe passati. Ehi, mallike, ācamehī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ udānaṁ udānesi:
“Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassā”ti.
“It’s incredible, Mallikā, it’s amazing, how far the Buddha sees with penetrating wisdom, it seems to me. Come, Mallikā, rinse my hands.”
Then King Pasenadi rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and expressed this heartfelt sentiment three times:
“Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!”
“Thật kỳ diệu thay, tâu hoàng hậu Mallikā! Thật hy hữu thay, tâu hoàng hậu Mallikā! Đức Thế Tôn quả thật đã thấu suốt và thấy rõ bằng trí tuệ. Này hoàng hậu Mallikā, hãy lại đây, hãy dâng nước súc miệng.” Bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Đức Thế Tôn và thốt lên lời cảm hứng ba lần: “Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác!”
Piyajātikasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Ưa Thích Sanh, phẩm thứ bảy, đã chấm dứt.