- Majjhima Nikāya 85
Bodhirājakumārasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Bodhirājakumārasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhagga, tại Sunsumaragira, rừng Bhesakāla, vườn Lộc Uyển.
SC 2Lúc bấy giờ, vương tử Bodhi (Bồ-đề) có một ngôi lâu đài tên Kokanada dựng lên không bao lâu và chưa được một Sa-môn, một Bà-la-môn hay một hạng người nào ở cả. Rồi vương tử Bodhi gọi thanh niên Sanjikaputta và nói
SC 3—Này Sanjikaputta, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi Thế Tôn có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú, và thưa: “Bạch Thế Tôn, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú, và bạch như sau: Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của vương tử Bodhi, ngày mai dùng cơm cùng với chúng Tỷ-kheo”.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 4Thanh niên Sanjikaputta vâng đáp vương tử Bodhi, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm. Và sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Thanh niên Sanjikaputta đang ngồi một bên và bạch Thế Tôn
SC 5—Thưa Tôn giả Gotama, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú và thưa như sau: “Mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của vương tử Bodhi, ngày mai dùng cơm cùng với chúng Tỷ-kheo”.
SC 6Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi thanh niên Sanjikaputta, sau khi biết được Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến vương tử Bodhi, sau khi đến, thưa với vương tử Bodhi
SC 7—Chúng tôi đã nhân danh Tôn giả, bạch lên Thế Tôn Gotama như sau: “Thưa Tôn giả Gotama, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú, và thưa như sau: “Mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của vương tử Bodhi, ngày mai dùng cơm cùng với chúng Tỷ-kheo”. Và Sa-môn Gotama đã nhận lời.
SC 8Rồi vương tử Bodhi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xá của mình cho sửa soạn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, và cho trải vải trắng lâu đài Kokanada cho đến tầm cấp thấp nhất (pacchima), rồi gọi thanh niên Sanjikaputta
SC 9—Này Thanh niên Sanjikaputta, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, hãy báo giờ cho Thế Tôn được biết: “Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, cơm đã sẵn sàng”.
SC 10Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xá của vương tử Bodhi. Lúc bấy giờ, vương tử Bodhi chờ đón Thế Tôn đến, đang đứng ở cửa ngoài. Vương tử Bodhi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, sau khi thấy, liền tiến đến đón, đảnh lễ Thế Tôn, đi đầu hướng dẫn đến lâu đài Kokanada. Rồi Thế Tôn đứng sát vào tầm cấp thấp nhất. Vương tử Bodhi bạch Thế Tôn
SC 11—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
SC 12Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng. Lần thứ hai, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn
SC 13—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để cho con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
SC 14Lần thứ hai, Thế Tôn im lặng. Lần thứ ba, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn
SC 15—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để cho con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
SC 16Rồi Thế Tôn nhìn Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda thưa với vương tử Bodhi
SC 17—Thưa vương tử, hãy cho cuộn lại tấm vải, Thế Tôn không có đi bộ trên vải, Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém.
SC 18Rồi vương tử Bodhi cho cuộn lại tấm vải, cho sửa soạn các chỗ ngồi tại tầng trên lầu Kokanada. Rồi Thế Tôn bước lên lâu đài Kokanada, và ngồi trên ghế đã soạn sẵn với chúng Tỷ-kheo. Rồi vương tử Bodhi tự tay mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu và làm cho thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Vương tử Bodhi, khi Thế Tôn ăn xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một ghế thấp và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn
SC 19—Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: “Lạc được chứng đắc không phải do lạc, lạc được chứng đắc do khổ”.
SC 20—Này Vương tử, trước khi giác ngộ, thành bậc Chánh Ðẳng Giác, khi còn là vị Bồ Tát, Ta nghĩ như sau: “Lạc được chứng đắc không phải do lạc, lạc được chứng đắc do khổ.
SC 21Và Ta, này Vương tử, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 22Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alāra Kālāma ở, khi đến xong liền thưa với Alāra Kālāma: “Hiền giả Kālāma, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này”. Này Vương tử, được nghe nói vậy, Alāra Kālāma nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này Vương tử, và không bao lâu Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Vương tử, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
SC 23Này Vương tử, Ta suy nghĩ như sau: “Alāra Kālāma tuyên bố pháp này không phải chỉ vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú”. Chắc chắn Alāra Kālāma biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú”. Này Vương tử, rồi Ta đi đến chỗ Alāra Kālāma ở, sau khi đến Ta nói với Alāra Kālāma: “Hiền giả Kālāma, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?” Này Vương tử, được nói vậy, Alāra Kālāma tuyên bố về Vô sở hữu xứ.
SC 24Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ: “Không phải chỉ có Alāra Kālāma có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alāra Kālāma tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú”.
SC 25Rồi này Vương tử, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này Vương tử, Ta đi đến chỗ Alāra Kālāma ở, sau khi đến, Ta nói với Alāra Kālāma: “Này Hiền giả Kālāma, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” —“ Vâng, Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”.:” Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”.:” Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!”
SC 26Như vậy, này Vương tử, Alāra Kālāma là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Vương tử, rồi Ta tự suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ”. Như vậy, này Vương tử, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
SC 27Rồi này Vương tử, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này. Ðược nói vậy, này Vương tử, Uddaka Ramaputta nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này Vương tử, Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Vương tử, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí, và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
SC 28Này Vương tử, Ta suy nghĩ như sau: “Rama tuyên bố pháp này không phải vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú”. Chắc chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú”. Này Vương tử, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?” Này Vương tử được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
SC 29Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ: “Không phải chỉ có Rama mới có lòng tin. Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú”.
SC 30Rồi này Vương tử, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này Vương tử, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” —“ Vâng Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”.:” Này Hiền giả, tôi cũng đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy.” Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!”
SC 31Như vậy, này Vương tử, Uddaka Ramaputta là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Như vậy, này Vương tử, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
SC 32Này Vương tử, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này Vương tử, rồi Ta tự nghĩ: “Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn”. Và này Vương tử, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: “Thật là vừa đủ để tinh tấn”.
SC 33Nhưng này Vương tử, có ba ví dụ khởi lên nơi Ta, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe: Này Vương tử, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống và đặt trong nước. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra”. Này Vương tử, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống đặt trong nước ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa thì có thể nhen lửa, khiến lửa nóng hiện ra được không?
SC 34—Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì cành cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống lại bị ngâm trong nước, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.
SC 35—Cũng vậy, này Vương tử, những Sa-môn hay những Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những gì đối với chúng thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt, nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác, và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Vương tử, đó là ví dụ thứ nhất, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.
SC 36Này Vương tử, rồi một ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Vương tử, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra”. Này Vương tử, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến hơi nóng hiện ra được không?
SC 37—Thưa không, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống, dầu được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.
SC 38—Cũng vậy, này Vương tử, những Sa-môn hay Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôm ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt. Nếu những Tôn giả Sa-môn, hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Vương tử, đó là ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.
SC 39Này Vương tử, rồi một ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Vương tử, ví như có một khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, lửa nóng sẽ hiện ra”. Này Vương tử, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến nơi nóng hiện ra được không?
SC 40—Thưa được, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc cây ấy khô, không nhựa, lại được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô.
SC 41—Cũng vậy, này Vương tử, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khác vọng, dục nhiệt não, về nội tâm được khéo đoạn trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị này cũng có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Vương tử, đó là ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.
SC 42Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Ta hãy nghiến răng, dán chặt lên lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm!” Này Vương tử, rồi Ta nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta. Này Vương tử, như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục và đánh bại người ấy. Này Vương tử, khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta, này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.
SC 43Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi. Này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thì một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Vương tử, ví như tiếng kinh khủng phát ra từ ống thổi bệ đang thổi của người thợ rèn. Cũng vậy, này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thời một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị kích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.
SC 44Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai. Này Vương tử, khi Ta nín thở vô thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Vương tử, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc, cũng vậy này Vương tử, khi ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.
SC 45Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu, một cách kinh khủng. Này Vương tử, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh; cũng vậy, này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu một cách kinh khủng. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.
SC 46Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Vương tử, ví như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dẫu cho niệm được an trú, không dao động nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.
SC 47Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Vương tử, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm cánh tay một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai thì có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú, không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.
SC 48Lại nữa, này Vương tử, chư Thiên thấy vậy nói như sau: “Sa-môn Gotama đã chết rồi”. Một số chư Thiên nói như sau: “Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng Sa-môn Gotama sắp sửa chết”. Một số chư Thiên nói như sau: “Sa-môn Gotama chưa chết. Sa-môn Gotama, cũng không phải sắp chết. Sa-môn Gotama là bậc A-la-hán, đời sống của một A-la-hán là như vậy”.
SC 49Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy hoàn toàn tuyệt thực”. Rồi này Vương tử, chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Này Thiện hữu, Hiền giả chớ có hoàn toàn tuyệt thực. Này Thiện hữu, nếu Hiền giả có hoàn toàn tuyệt thực, chúng tôi sẽ đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Hiền giả, và nhờ vậy Hiền giả vẫn sống”. Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu Ta hoàn toàn tuyệt thực và chư Thiên này đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Ta và nhờ vậy Ta vẫn sống, thời như vậy Ta tự dối Ta”. Này Vương tử, Ta bác bỏ chư Thiên ấy và nói: “Như vậy là đủ”.
SC 50Này Vương tử, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: “Ta hãy giảm thiểu tối đa ăn uống, ăn ít từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ”. Và này Vương tử, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống, ăn từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những gọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà; vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh; vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu; vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Vương tử, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ da bụng”, thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Vương tử, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Vương tử, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện” thì Ta ngã qu? Úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Vương tử, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Vương tử, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.
SC 51Lại nữa, này Vương tử, có người thấy vậy nói như sau: “Sa-môn Gotama có da đen”. Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama, da không đen, Sa-môn Gotama có da màu xám”. Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama da không đen, da không xám.” Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama da không đen, da không xám, Sa-môn Gotama có da màu vàng sẫm”. Cho đến mức độ như vậy, này Vương tử, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại, vì Ta ăn quá ít.
SC 52Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Thuở xưa có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Về tương lai, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng không thể có gì hơn nữa. Trong hiện tại, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Nhưng Ta, với sự khổ hạnh khốc liệt như thế này, vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?”
SC 53Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”. Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: “Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?” Và này Vương tử, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: “Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ”.
SC 54Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện?” Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Ta không sợ lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện”.’
SC 55Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ: “Nay thật không dễ gì chứng đạt lạc thọ ấy, với thân thể ốm yếu kinh khủng như thế này. Ta hãy ăn thô thực, ăn cơm chua”. Rồi này Vương tử, Ta ăn thô thực, ăn cơm chua. Này Vương tử, lúc bấy giờ, năm Tỷ-kheo đang hầu hạ Ta suy nghĩ: “Khi nào Sa-môn Gotama chứng pháp, vị ấy sẽ nói cho chúng ta biết”. Này Vương tử, khi thấy Ta ăn thô thực, ăn cơm chua, các vị ấy chán ghét Ta, bỏ đi và nói: “Sa-môn Gotama nay sống đầy đủ vật chất, từ bỏ tinh tấn, trở lui đời sống sung túc”.
SC 56Và này Vương tử, sau khi ăn thô thực và được sức lực trở lại, Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Vương tử, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 57Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Vương tử, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 58Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Vương tử, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 59Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Vương tử, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 60Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này”. Như vậy, Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Vương tử, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được trong đêm canh một, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 61Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những vị này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Vương tử, đó là minh thứ hai Ta đã chứng được trong đêm canh giữa, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 62Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta biết như thật: “Ðây là Khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát” Ta đã biết: “Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”. Này Vương tử, đó là minh thứ ba mà Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần.
SC 63Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!” Này Vương tử, rồi những kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta:
SC 64Sao Ta nói Chánh pháp,
Ðược chứng ngộ khó khăn?
Những ai còn tham sân,
Khó chứng ngộ pháp này.SC 65Ði ngược dòng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được pháp này.
SC 66Rồi này Vương tử, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.
SC 67Này Vương tử, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: “Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp”. Rồi này Vương tử, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này Vương tử, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. Nếu được nghe, những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp”. Này Vương tử, Phạm thiện Sahampati nói như vậy. Sau khi nói vậy, lại nói thêm như sau:
SC 68Xưa tại Magadha,
Hiện ra pháp bất tịnh,
Pháp do tâm cấu uế,
Do suy tư tác thành.
Hãy mở tung mở rộng,
Cánh cửa bất tử này.
Hãy để họ nghe Pháp,
Bậc Thanh tịnh Chứng Ngộ.SC 69Như đứng trên tảng đá,
Trên đỉnh núi tột cao
Có người đứng nhìn xuống,
Ðám chúng sanh quây quần.
Cũng vậy, ôi Thiện Tuệ,
Bậc Biến Nhãn cùng khắp,
Leo lên ngôi lâu đài,
Xây dựng bằng Chánh pháp
Bậc Thoát Ly sầu muộn,
Nhìn xuống đám quần sanh,
Bị sầu khổ áp bức,
Bị sanh già chi phối,SC 70Ðứng lên vị Anh Hùng,
Bậc Chiến Thắng chiến trường.
Vị trưởng đoàn lữ khách,
Bậc Thoát Ly nợ nần.
Hãy đi khắp thế giới,
Bậc Thế Tôn Chánh Giác!
Hãy thuyết vi diệu pháp,
Người nghe sẽ thâm hiểu!
SC 71Này Vương tử, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này Vương tử, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này Vương tử, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này Vương tử, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:
SC 72Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của mình.
Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
(Ôi Phạm thiên)
SC 73Này Vương tử, rồi Phạm thiên Sahampati tự nghĩ: “Ta đã tạo cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp”, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
SC 74Này Vương tử, rồi Ta tự suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên, ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Này Vương tử, rồi Ta tự nghĩ: “Nay có Alāra Kālāma là bậc trí thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Alāra Kālāma, vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này”. Này Vương tử, rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Bạch Thế Tôn, Alāra Kālāma đã mệnh chung bảy ngày rồi”. Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: “Alāra Kālāma đã mệnh chung bảy ngày rồi”. Này Vương tử, Ta nghĩ: “Thật là một thiệt hại lớn cho Alāra Kālāma: Nếu nghe pháp này, Alāra Kālāma sẽ mau thâm hiểu”.
SC 75Rồi này Vương tử, Ta lại nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Rồi này Vương tử, Ta lại nghĩ: “Nay có Uddaka Ramaputta là bậc tri thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Uddaka Ramaputta. Vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này.” Rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Bạch Thế Tôn Uddaka Ramaputta đã mệnh chung ngày hôm qua”. Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: “Uddaka Ramaputta đã mệnh chung hôm qua”. Này Vương tử, Ta nghĩ: “Thật là một thiệt hại lớn cho Uddaka Ramaputta. Nếu nghe pháp này, Uddaka Ramaputta sẽ mau thâm hiểu”.
SC 76Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Rồi này Vương tử, Ta lại nghĩ: “Nhóm năm Tỷ-kheo này đã hầu hạ Ta khi Ta còn nỗ lực tinh cần, nhóm ấy thật giúp ích nhiều. Vậy ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho nhóm năm Tỷ-kheo!” Rồi này Vương tử, Ta lại nghĩ: “Nay nhóm năm Tỷ-kheo ở tại đâu?” Này Vương tử, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy nhóm năm Tỷ-kheo hiện ở Bārāṇāsī (Ba la nại), tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này Vương tử, sau khi ở tại Uruvela lâu cho đến khi mãn ý, Ta lên đường đi đến Bārāṇāsī.
SC 77Này Vương tử, một tà mạng ngoại đạo tên là Upaka, đã thấy Ta khi Ta còn đi trên con đường giữa Gaya và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, vị ấy nói với Ta:
SC 78“—Các căn của Hiền giả thật sáng suốt. Da sắc của Hiền giả thật thanh tịnh, thật thanh khiết. Này Hiền giả, vì mục đích gì, Hiền giả xuất gia? Ai là bậc Ðạo Sư của Hiền giả? Hiền giả hoan hỷ thọ trì pháp của ai?”
SC 79Này Vương tử, khi nghe nói vậy, Ta nói với tà mạng đạo Upaka bài kệ như sau:
SC 80“—Ta, bậc Thắng tất cả,
Ta, bậc Nhất thiết Trí.
Hết thảy pháp, không nhiễm,
Hết thảy pháp, xả ly.
Ta sống chân giải thoát,
Ðoạn tận mọi khát ái.
Như vậy Ta tự giác,
Còn phải y chỉ ai?SC 81Ta không có Ðạo Sư,
Bậc như Ta không có.
Giữa thế giới Nhơn, Thiên,
Không có ai bằng Ta.
Bậc Ứng Cúng trên đời,
Bậc Ðạo Sư vô thượng.
Tự mình Chánh Ðẳng Giác,
Ta an tịnh, thanh thoát.SC 82Ðể chuyển bánh xe Pháp.
Ta đến thành Kāsi.
Gióng lên trống bất tử,
Trong thế giới mù lòa.”SC 83“—Như Hiền giả đã tự xưng, Hiền giả xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận. ”
SC 84“—Như Ta, bậc Thắng giả,
Những ai chứng lậu tận,
Ác pháp, Ta nhiếp phục,
Do vậy, Ta vô địch”.
(Này Upaka)
SC 85Này Vương tử, sau khi được nói vậy, tà mạng ngoại đạo Upaka nói với Ta:
SC 86“—Này Hiền giả, mong rằng sự việc là vậy”.
SC 87Nói xong, Upaka lắc đầu rồi đi theo một ngã khác.
SC 88Này Vương tử, rồi Ta tuần tự đi đến Bārāṇāsī, Isipatana, vườn Lộc Uyển, đi đến chỗ nhóm năm Tỷ-kheo ở. Này Vương tử, nhóm năm Tỷ-kheo khi thấy Ta từ xa đi đến, đã cùng nhau thỏa thuận như sau: “Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đang đi đến; vị này sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh cần, đã trở lui đời sống đầy đủ vật chất. Chúng ta chớ có đảnh lễ, chớ có đứng dậy, chớ có lấy y bát. Hãy đặt một chỗ ngồi, và nếu vị ấy muốn, vị ấy sẽ ngồi”. Này Vương tử, nhưng khi Ta đi đến gần, năm Tỷ-kheo ấy không thể giữ đúng điều đã thỏa thuận với nhau. Có người đến đón Ta và cầm lấy y bát, có người sắp đặt chỗ ngồi, có người đem nước rửa chân đến. Nhưng các vị ấy gọi Ta bằng tên với danh từ Hiền giả (Āvuso).
SC 89Này Vương tử khi ta nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
SC 90“—Này các Tỷ-kheo, chớ có gọi Ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú.”
SC 91Này Vương tử, khi nghe nói vậy, nhóm năm Tỷ-kheo nói Ta:
SC 92“—Hiền giả Gotama, với nếp sống này, với đạo tu này, với khổ hạnh này, Hiền giả đã không chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến, thù thắng xứng đáng bậc Thánh, thì này làm sao Hiền giả, với nếp sống sung túc, với sự từ bỏ tinh cần, với sự trở lui đời sống vật chất đầy đủ, lại có thể chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”
SC 93Này Vương tử, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
SC 94“—Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, không trở lui đời sống vật chất đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú.”
SC 95Này Vương tử, lại lần thứ hai, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:
SC 96“—Hiền giả Gotama, với nếp sống này … tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”
SC 97Này Vương tử, lại lần thứ hai Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
SC 98“—Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc … các Ông sẽ an trú.”
SC 99Này Vương tử, lại lần thứ ba, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:
SC 100“—Hiền giả Gotama, với nếp sống này … tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”
SC 101Này Vương tử, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
SC 102“—Này các Tỷ-kheo, từ trước đến nay, các Ông có chấp nhận là Ta chưa bao giờ nói như vậy chăng?”
SC 103“—Bạch Thế Tôn chưa bao giờ như vậy. ”
SC 104“—Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tư chứng, tự đạt được ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú”.
SC 105Sáu người sống, với các đồ ăn mà hai Tỳ Kheo này khất thực đem về. Như vậy, này Vương tử, chúng năm vị Tỷ-kheo được Ta giáo giới như vậy, giáo huấn như vậy, không bao lâu chứng được với thượng trí ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà con cháu các lương gia xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến.
SC 106Khi được nói vậy, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn
SC 107—Ðộ bao lâu, bạch Thế Tôn, một vị Tỷ-kheo chấp nhận Như Lai là vị lãnh đạo, chứng được mục đích tối cao … và an trú.
SC 108—Này Vương tử, ở đây, Ta sẽ hỏi Vương tử. Tùy theo Vương tử có thể kham nhẫn, Vương tử hãy trả lời. Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Vương tử có thiện xảo trong nghề cưỡi voi và trong kỹ thuật dùng câu móc không?
SC 109—Thưa vâng, bạch Thế Tôn, con thiện xảo trong nghề cưỡi voi và kỹ thuật dùng câu móc.
SC 110—Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Ở đây có người đến và nói: “Vương tử Bodhi biết kỹ thuật cưỡi voi và dùng câu móc. Tôi sẽ học kỹ thuật cưỡi voi và dùng câu móc với Vương tử”. Nếu người ấy không có lòng tin, thời những gì lòng tin có thể đạt được, người ấy không thể đạt được. Nếu người ấy nhiều bệnh, thời những gì ít bệnh có thể đạt được, người ấy không thể đạt được. Nếu người ấy gian trá, xảo trá, thời những gì không gian trá, không xảo trá có thể đạt được, người ấy không đạt được. Nếu người ấy biếng nhác, thời những gì tinh tấn, cần mẫn có thể đạt được, người ấy không đạt được. Nếu người ấy có liệt tuệ, thời những gì trí tuệ có thể đạt được, người ấy không đạt được. Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Người ấy có thể học kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc với Vương tử không?
SC 111—Bạch Thế Tôn, người ấy, dầu thành tựu chỉ một đức tánh, người ấy cũng không có thể học kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc với con; huống chi (nếu người ấy thành tựu) cả năm đức tánh!
SC 112—Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Ở đây, có người đến và nói: “Vương tử Bodhi biết kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc. Tôi sẽ học kỹ thuật cưỡi voi và dùng câu móc với Vương tử”. Nếu người ấy có lòng tin, thời những gì lòng tin có thể đạt được, người ấy đạt được. Nếu người ấy ít bệnh, thời những gì ít bệnh có thể đạt được, người ấy đạt được. Nếu người ấy không gian trá, không xảo trá, thời những gì không gian trá, không xảo trá có thể đạt được, người ấy đạt được. Nếu người ấy tinh tấn, cần mẫn, thời những gì tinh tấn, cần mẫn có thể đạt được, người ấy đạt được. Nếu người ấy có trí tuệ, thời những gì trí tuệ có thể đạt được, người ấy đạt được. Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Người ấy có thể học kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc với Vương tử không?
SC 113—Bạch Thế Tôn, người ấy, dầu cho thành tựu chỉ một đức tánh, cũng có thể học kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc với con; huống chi (nếu người ấy thành tựu) cả năm đức tánh.
SC 114—Cũng vậy, này Vương tử, có năm tinh tấn chi này. Thế nào là năm? Ở đây, này Vương tử, vị Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai. Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
SC 115Vị ấy ít bệnh, ít não, với bộ tiêu hóa được điều hòa, không quá lạnh, không quá nóng, trung bình, hợp với tinh tấn.
SC 116Vị ấy không gian trá, xảo trá, tự mình xử sự như chơn đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị có trí hay đối với các vị đồng Phạm hạnh.
SC 117Vị ấy sống tinh cần, tinh tấn từ bỏ các bất thiện pháp, làm cho khởi lên các thiện pháp, kiên cố, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp.
SC 118Vị ấy có trí tuệ thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt (của các pháp), với sự thể nhập bậc Thánh đưa đến sự chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này Vương Tử, như vậy là năm tinh cần chi.
SC 119Này Vương tử, vị Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này, chấp nhận Như Lai là bậc lãnh đạo, sau khi đã tự chứng tri với thượng trí ngay trong hiện tại vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và vị ấy có thể chứng ngộ, chứng đạt và an trú trong bảy năm.
SC 120Này Vương tử, đừng nói chi bảy năm, một vị Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này … và an trú sáu năm … năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm. Này Vương tử, đừng nói chi một năm, một Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này … và an trú bảy tháng. Này Vương tử, đừng nói chi bảy tháng, một Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này … và an trú ngay trong sáu tháng … trong năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, nửa tháng. Này Vương tử, đừng nói chi nửa tháng, một Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này … và an trú trong bảy đêm ngày. Này Vương tử, đừng nói chi bảy đêm ngày, Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này sáu đêm ngày … năm đêm ngày, bốn đêm ngày, ba đêm ngày, hai đêm ngày, một đêm ngày.
SC 121Này Vương tử, đừng nói chi một đêm ngày, một Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này, chấp nhận Như Lai là bậc lãnh đạo, nếu được giảng dạy buổi chiều thời chứng được sự thù thắng buổi sáng, nếu được giảng dạy buổi sáng, thời sẽ chứng được sự thù thắng buổi chiều.
SC 122Khi được nghe nói vậy, Vương tử Bodhi bạch Thế Tôn
SC 123—Ôi, thật là Phật! Ôi, thật là Pháp! Ôi, thật là khéo thuyết pháp thay! Nếu được giảng dạy buổi chiều thời chứng được sự thù thắng buổi sáng, nếu được giảng dạy buổi sáng thời chứng được sự thù thắng buổi chiều.
SC 124Khi nghe nói vậy, thanh niên Sanjikaputta thưa với Vương tử Bodhi
SC 125—Như vậy, Tôn giả Bodhi này đã nói: “Ôi, thật là Phật! Ôi, thật là Pháp! Ôi, thật là khéo thuyết pháp thay! ” Nhưng Vương tử không nói thêm: “Tôi quy y Tôn giả Gotama này, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng”.
SC 126—Này Sanjikaputta, chớ có nói như vậy! Này Sanjikaputta, chớ có nói như vậy! Này Sanjikaputta, mặt trước mặt đối diện với mẫu thân của ta, ta tự nghe như sau: “Một thời, này Sanjikaputta, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại tu viện Ghosita. Mẫu thân ta đang mang thai, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, mẫu thân ta bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đứa con này của con, dù là con trai hay con gái, cũng xin quy y với Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận nó làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, nó trọn đời quy ngưỡng”. Lại một thời, này Sanjikaputta, Thế Tôn trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhesakāla, vườn Lộc Uyển. Rồi người vú của ta, ẳm ta bên hông, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, người vú của ta bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vương tử Bodhi nay xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận vương tử này làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, xin trọn đời quy ngưỡng”. Và nay, này Sanjikaputta, lần thứ ba ta quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. “Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Bodhirājakumāra
Tena kho pana samayena bodhissa rājakumārassa kokanado nāma pāsādo acirakārito hoti anajjhāvuṭṭho samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena.
Atha kho bodhi rājakumāro sañjikāputtaṁ māṇavaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, samma sañjikāputta, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vanda, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha: ‘bodhi, bhante, rājakumāro bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti. Evañca vadehi: ‘adhivāsetu kira, bhante, bhagavā bodhissa rājakumārassa svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho sañjikāputto māṇavo bodhissa rājakumārassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sañjikāputto māṇavo bhagavantaṁ etadavoca: “bodhi kho rājakumāro bhoto gotamassa pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati. Evañca vadeti: ‘adhivāsetu kira bhavaṁ gotamo bodhissa rājakumārassa svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho sañjikāputto māṇavo bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā yena bodhi rājakumāro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bodhiṁ rājakumāraṁ etadavoca: “avocumha bhoto vacanena taṁ bhavantaṁ gotamaṁ: ‘bodhi kho rājakumāro bhoto gotamassa pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati. Evañca vadeti—adhivāsetu kira bhavaṁ gotamo bodhissa rājakumārassa svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’ti. Adhivuṭṭhañca pana samaṇena gotamenā”ti.
Now at that time a new stilt longhouse named Pink Lotus had recently been constructed for Prince Bodhi. It had not yet been occupied by an ascetic or brahmin or any human at all.
Then Prince Bodhi addressed the student Sañjikāputta, “Please, dear Sañjikāputta, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Ask him if he is healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. And then ask him whether he would accept tomorrow’s meal from me together with the mendicant Saṅgha.”
“Yes, worthy sir,” Sañjikāputta replied. He did as Prince Bodhi asked, and the Buddha consented with silence.
Then, knowing that the Buddha had consented, Sañjikāputta rose from his seat, went to Prince Bodhi, and said, “I gave your message to the worthy Gotama, and he accepted.”
324. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở xứ Bhagga, tại Susumāragira, trong vườn Bhesakaḷā, khu rừng dành cho nai. Lúc bấy giờ, cung điện tên là Kokanada của vương tử Bodhi vừa mới được xây xong, chưa có Sa-môn, Bà-la-môn, hay bất cứ người nào ở. Khi ấy, vương tử Bodhi gọi thanh niên Sañjikāputta và nói: ‘Này bạn Sañjikāputta, hãy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và sống thoải mái không: ‘Bạch Thế Tôn, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và sống thoải mái không.’ Và hãy thưa như vầy: ‘Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của vương tử Bodhi vào ngày mai.’ ‘Vâng, thưa ngài,’ thanh niên Sañjikāputta vâng lời vương tử Bodhi, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã trao đổi lời chào hỏi thân mật với Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân mật và đáng ghi nhớ, anh ta ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, thanh niên Sañjikāputta bạch với Thế Tôn: ‘Thưa Tôn giả Gotama, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Gotama, và hỏi thăm ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và sống thoải mái không. Và vương tử có lời thưa như vầy: ‘Mong Tôn giả Gotama cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của vương tử Bodhi vào ngày mai.’ Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Khi ấy, thanh niên Sañjikāputta, biết được Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ vương tử Bodhi; sau khi đến, thưa với vương tử Bodhi: ‘Con đã nhân danh ngài thưa với Tôn giả Gotama rằng: ‘Thưa Tôn giả Gotama, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Gotama, và hỏi thăm ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và sống thoải mái không. Và vương tử có lời thưa như vầy: ‘Mong Tôn giả Gotama cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của vương tử Bodhi vào ngày mai.’ Và Sa-môn Gotama đã nhận lời.’
Atha kho bodhi rājakumāro tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā, kokanadañca pāsādaṁ odātehi dussehi santharāpetvā yāva pacchimasopānakaḷevarā, sañjikāputtaṁ māṇavaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, samma sañjikāputta, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā bhagavato kālaṁ ārocehi: ‘kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan’”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho sañjikāputto māṇavo bodhissa rājakumārassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato kālaṁ ārocesi: “kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena bodhissa rājakumārassa nivesanaṁ tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena bodhi rājakumāro bahidvārakoṭṭhake ṭhito hoti bhagavantaṁ āgamayamāno. Addasā kho bodhi rājakumāro bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna paccuggantvā bhagavantaṁ abhivādetvā purakkhatvā yena kokanado pāsādo tenupasaṅkami. Atha kho bhagavā pacchimaṁ sopānakaḷevaraṁ nissāya aṭṭhāsi.
Atha kho bodhi rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “abhiruhatu, bhante, bhagavā dussāni, abhiruhatu sugato dussāni; yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Evaṁ vutte, bhagavā tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho bodhi rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “abhiruhatu, bhante, bhagavā dussāni, abhiruhatu sugato dussāni; yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
And when the night had passed Prince Bodhi had delicious fresh and cooked foods prepared in his own home. He also had the Pink Lotus longhouse spread with white cloth down to the last step of the staircase. Then he said to Sañjikāputta, “Please, dear Sañjikāputta, go to the Buddha, and announce the time, saying, ‘Sir, it’s time. The meal is ready.’”
“Yes, worthy sir,” Sañjikāputta replied, and he did as he was asked.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to Prince Bodhi’s home.
Now at that time Prince Bodhi was standing outside the gates waiting for the Buddha. Seeing the Buddha coming off in the distance, he went out to greet him. After bowing and inviting the Buddha to go first, he approached the Pink Lotus longhouse. But the Buddha stopped by the last step of the staircase.
Then Prince Bodhi said to him, “Sir, let the Blessed One ascend on the cloth! Let the Holy One ascend on the cloth! It will be for my lasting welfare and happiness.” But when he said this, the Buddha kept silent.
For a second time … and a third time, Prince Bodhi said to him, “Sir, let the Blessed One ascend on the cloth! Let the Holy One ascend on the cloth! It will be for my lasting welfare and happiness.”
325. Khi ấy, sau khi đêm ấy đã qua, vương tử Bodhi cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, tại tư dinh của mình, và cho trải vải trắng khắp cung điện Kokanada cho đến bậc thang cuối cùng. Rồi vương tử gọi thanh niên Sañjikāputta và nói: ‘Này bạn Sañjikāputta, hãy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, hãy báo thời gian cho Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’ ‘Vâng, thưa ngài,’ thanh niên Sañjikāputta vâng lời vương tử Bodhi, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã báo thời gian cho Thế Tôn: ‘Thưa Tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’ Khi ấy, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi đến tư dinh của vương tử Bodhi. Lúc bấy giờ, vương tử Bodhi đang đứng ở cổng ngoài, chờ đợi Thế Tôn. Vương tử Bodhi thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy vậy, vương tử đi ra đón, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đi trước dẫn đường đến cung điện Kokanada. Khi ấy, Thế Tôn dừng lại, đứng dựa vào bậc thang cuối cùng. Rồi vương tử Bodhi bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy bước lên những tấm vải này. Bạch Thiện Thệ, xin hãy bước lên những tấm vải này. Việc này sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho con.’ Khi được thưa như vậy, Thế Tôn im lặng. Lần thứ hai cũng vậy… Lần thứ ba, vương tử Bodhi lại bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy bước lên những tấm vải này. Bạch Thiện Thệ, xin hãy bước lên những tấm vải này. Việc này sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho con.’
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ apalokesi. Atha kho āyasmā ānando bodhiṁ rājakumāraṁ etadavoca: “saṁharatu, rājakumāra, dussāni; na bhagavā celapaṭikaṁ akkamissati. Pacchimaṁ janataṁ tathāgato anukampatī”ti.
Atha kho bodhi rājakumāro dussāni saṁharāpetvā uparikokanadapāsāde āsanāni paññapesi. Atha kho bhagavā kokanadaṁ pāsādaṁ abhiruhitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Atha kho bodhi rājakumāro buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Atha kho bodhi rājakumāro bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho bodhi rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “mayhaṁ kho, bhante, evaṁ hoti: ‘na kho sukhena sukhaṁ adhigantabbaṁ, dukkhena kho sukhaṁ adhigantabban’”ti.
Then the Buddha glanced at Venerable Ānanda. So Ānanda said to Prince Bodhi, “Fold up the cloth, Prince. The Buddha will not step upon white cloth. The Realized One has sympathy for future generations.”
So Prince Bodhi had the cloth folded up and the seats spread out upstairs in the longhouse. Then the Buddha ascended the longhouse and sat on the seats spread out together with the Saṅgha of mendicants.
Then Prince Bodhi served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Prince Bodhi took a low seat, sat to one side, and said to him, “Sir, this is what I think: ‘Pleasure is not gained through pleasure; pleasure is gained through pain.’”
326. Khi ấy, Thế Tôn nhìn Tôn giả Ānanda. Rồi Tôn giả Ānanda thưa với vương tử Bodhi: ‘Thưa vương tử, xin hãy dọn dẹp những tấm vải này. Thế Tôn sẽ không bước lên tấm thảm vải. Như Lai có lòng thương tưởng đến thế hệ tương lai.’ Khi ấy, vương tử Bodhi cho dọn dẹp những tấm vải và cho sắp đặt chỗ ngồi trên lầu của cung điện Kokanada. Rồi Thế Tôn cùng với Tăng chúng đi lên cung điện Kokanada và ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Khi ấy, vương tử Bodhi đã tự tay phục vụ Tăng chúng, với Đức Phật dẫn đầu, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các vị hài lòng và từ chối nhận thêm. Khi Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, vương tử Bodhi lấy một chiếc ghế thấp và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vương tử Bodhi bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, con có ý nghĩ như vầy: ‘Hạnh phúc không thể đạt được bằng hạnh phúc; hạnh phúc chỉ có thể đạt được bằng khổ đau.’’
“Mayhampi kho, rājakumāra, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi: ‘na kho sukhena sukhaṁ adhigantabbaṁ, dukkhena kho sukhaṁ adhigantabban’ti.
So kho ahaṁ, rājakumāra, aparena samayena daharova samāno susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā akāmakānaṁ mātāpitūnaṁ assumukhānaṁ rudantānaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁ. So evaṁ pabbajito samāno kiṅkusalagavesī anuttaraṁ santivarapadaṁ pariyesamāno yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavocaṁ: ‘icchāmahaṁ, āvuso kālāma, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun’ti.
Evaṁ vutte, rājakumāra, āḷāro kālāmo maṁ etadavoca: ‘viharatāyasmā, tādiso ayaṁ dhammo yattha viññū puriso nacirasseva sakaṁ ācariyakaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā’ti.
So kho ahaṁ, rājakumāra, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ pariyāpuṇiṁ. So kho ahaṁ, rājakumāra, tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena lapitalāpanamattena ñāṇavādañca vadāmi, theravādañca jānāmi passāmīti ca paṭijānāmi, ahañceva aññe ca. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘na kho āḷāro kālāmo imaṁ dhammaṁ kevalaṁ saddhāmattakena sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedeti; addhā āḷāro kālāmo imaṁ dhammaṁ jānaṁ passaṁ viharatī’ti.
“Prince, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I too thought, ‘Pleasure is not gained through pleasure; pleasure is gained through pain.’
Some time later, while still with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life—though my mother and father wished otherwise, weeping with tearful faces—I shaved off my hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness. Once I had gone forth I set out to discover what is skillful, seeking the supreme state of sublime peace. I approached Āḷāra Kālāma and said to him, ‘Reverend Kālāma, I wish to lead the spiritual life in this teaching and training.’
Āḷāra Kālāma replied, ‘Stay, venerable. This teaching is such that a sensible person can soon realize their own denomination with their own insight and live having achieved it.’
I quickly memorized that teaching. As far as lip-recital and verbal repetition went, I spoke the doctrine of knowledge, the elder doctrine. I claimed to know and see, and so did others. Then it occurred to me, ‘It is not solely by mere faith that Āḷāra Kālāma declares: “I realize this teaching with my own insight, and live having achieved it.” Surely he meditates knowing and seeing this teaching.’
327. Này Vương tử, đối với Ta cũng vậy, trước khi giác ngộ, khi chưa giác ngộ, khi còn là Bồ-tát, ý nghĩ này đã khởi lên: ‘Không thể đạt được hạnh phúc bằng sự sung sướng, mà phải đạt được hạnh phúc bằng sự khổ đau.’ Này Vương tử, sau đó, khi còn trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời kỳ đầu của cuộc đời, Ta đã cạo bỏ râu tóc, khoác y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, trong khi cha mẹ không mong muốn, mặt đẫm lệ, đang khóc lóc. Ta, sau khi xuất gia như vậy, tìm cầu điều thiện, tìm cầu trạng thái an tịnh vô thượng, đã đi đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta đã nói với Āḷāra Kālāma rằng: ‘Thưa hiền giả Kālāma, tôi muốn thực hành phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này.’ Này Vương tử, khi được nói như vậy, Āḷāra Kālāma đã nói với Ta rằng: ‘Xin Tôn giả hãy ở lại. Giáo pháp này là như vậy, nơi mà người có trí không bao lâu sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vào giáo lý của bậc thầy mình.’ Này Vương tử, Ta đã không bao lâu, một cách nhanh chóng, học thuộc lòng giáo pháp ấy. Này Vương tử, Ta chỉ bằng mức độ mấp máy môi, chỉ bằng mức độ lặp lại lời nói, đã tuyên bố lời nói của người có trí, lời nói của bậc trưởng lão, và Ta cùng những người khác đều xác nhận rằng: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Này Vương tử, đối với Ta, ý nghĩ này đã khởi lên: ‘Āḷāra Kālāma không phải chỉ tuyên bố giáo pháp này với niềm tin suông rằng: “Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú,” chắc chắn Āḷāra Kālāma đang an trú, biết và thấy giáo pháp này.’
Atha khvāhaṁ, rājakumāra, yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavocaṁ: ‘kittāvatā no, āvuso kālāma, imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesī’ti? Evaṁ vutte, rājakumāra, āḷāro kālāmo ākiñcaññāyatanaṁ pavedesi.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘na kho āḷārasseva kālāmassa atthi saddhā, mayhampatthi saddhā; na kho āḷārasseva kālāmassa atthi vīriyaṁ …pe… sati … samādhi … paññā, mayhampatthi paññā. Yannūnāhaṁ yaṁ dhammaṁ āḷāro kālāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedeti tassa dhammassa sacchikiriyāya padaheyyan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṁ.
Atha khvāhaṁ, rājakumāra, yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavocaṁ: ‘ettāvatā no, āvuso kālāma, imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesī’ti?
‘Ettāvatā kho ahaṁ, āvuso, imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemī’ti.
‘Ahampi kho, āvuso, ettāvatā imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī’ti.
‘Lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso, ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ passāma. Iti yāhaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi, taṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi. Yaṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi, tamahaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi. Iti yāhaṁ dhammaṁ jānāmi taṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi; yaṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi tamahaṁ dhammaṁ jānāmi. Iti yādiso ahaṁ, tādiso tuvaṁ; yādiso tuvaṁ tādiso ahaṁ. Ehi dāni, āvuso, ubhova santā imaṁ gaṇaṁ pariharāmā’ti. Iti kho, rājakumāra, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno attano antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesi.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘nāyaṁ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva ākiñcaññāyatanūpapattiyā’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, taṁ dhammaṁ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṁ.
So I approached Āḷāra Kālāma and said to him, ‘Reverend Kālāma, to what extent do you say you’ve realized this teaching with your own insight?’ When I said this, he declared the dimension of nothingness.
Then it occurred to me, ‘It’s not just Āḷāra Kālāma who has faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom; I too have these things. Why don’t I make an effort to realize the same teaching that Āḷāra Kālāma says he has realized with his own insight?’ I quickly realized that teaching with my own insight, and lived having achieved it.
So I approached Āḷāra Kālāma and said to him, ‘Reverend Kālāma, is it up to this point that you realized this teaching with your own insight, and declare having achieved it?’
‘I have, reverend.’
‘I too have realized this teaching with my own insight up to this point, and live having achieved it.’
‘We are fortunate, reverend, so very fortunate to see a venerable such as yourself as one of our spiritual companions! So the teaching that I’ve realized with my own insight, and declare having achieved it, you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it. The teaching that you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it, I’ve realized with my own insight, and declare having achieved it. So the teaching that I know, you know, and the teaching you know, I know. I am like you and you are like me. Come now, reverend! We should both lead this community together.’ And that is how my tutor Āḷāra Kālāma placed me, his pupil, on the same position as him, and honored me with high praise.
Then it occurred to me, ‘This teaching doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the dimension of nothingness.’ Realizing that this teaching was inadequate, I left disappointed.
Này Vương tử, khi ấy Ta đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma rằng: ‘Thưa hiền giả Kālāma, đến mức độ nào ngài tuyên bố giáo pháp này, sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú?’ Này Vương tử, khi được nói như vậy, Āḷāra Kālāma đã tuyên bố về Vô Sở Hữu Xứ. Này Vương tử, đối với Ta, ý nghĩ này đã khởi lên: ‘Không phải chỉ Āḷāra Kālāma có niềm tin, Ta cũng có niềm tin; không phải chỉ Āḷāra Kālāma có tinh tấn… có chánh niệm… có định… có trí tuệ, Ta cũng có trí tuệ. Vậy ta nên nỗ lực để chứng ngộ giáo pháp mà Āḷāra Kālāma tuyên bố rằng ngài đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú.’ Này Vương tử, Ta đã không bao lâu, một cách nhanh chóng, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vào giáo pháp ấy. Này Vương tử, khi ấy Ta đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma rằng: ‘Thưa hiền giả Kālāma, có phải chỉ đến mức độ này ngài tuyên bố giáo pháp này, sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú?’ ‘Thưa hiền giả, đến mức độ này tôi tuyên bố giáo pháp này, sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú.’ ‘Thưa hiền giả, tôi cũng đến mức độ này, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vào giáo pháp này.’ ‘Thật là một lợi ích cho chúng tôi, thưa hiền giả, thật là một điều may mắn cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một vị đồng phạm hạnh như Tôn giả. Như vậy, giáo pháp mà tôi tuyên bố, sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú, thì ngài cũng an trú trong giáo pháp ấy, sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến. Giáo pháp mà ngài an trú, sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến, thì tôi cũng tuyên bố giáo pháp ấy, sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến. Như vậy, giáo pháp mà tôi biết, ngài cũng biết; giáo pháp mà ngài biết, tôi cũng biết. Như vậy, tôi như thế nào, ngài cũng như thế ấy; ngài như thế nào, tôi cũng như thế ấy. Nào, hiền giả, bây giờ cả hai chúng ta hãy cùng nhau lãnh đạo hội chúng này.’ Này Vương tử, như vậy đó, Āḷāra Kālāma, là thầy của Ta, đã đặt Ta, người học trò, ngang hàng với chính mình, và đã tôn kính Ta bằng sự tôn kính cao thượng. Này Vương tử, đối với Ta, ý nghĩ này đã khởi lên: ‘Pháp này không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến sự ly tham, không đưa đến sự đoạn diệt, không đưa đến sự an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự tái sanh vào cõi Vô Sở Hữu Xứ.’ Này Vương tử, Ta, không hài lòng với pháp ấy, đã nhàm chán và từ bỏ pháp ấy.
So kho ahaṁ, rājakumāra, kiṅkusalagavesī anuttaraṁ santivarapadaṁ pariyesamāno yena udako rāmaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā udakaṁ rāmaputtaṁ etadavocaṁ: ‘icchāmahaṁ, āvuso, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun’ti.
Evaṁ vutte, rājakumāra, udako rāmaputto maṁ etadavoca: ‘viharatāyasmā, tādiso ayaṁ dhammo yattha viññū puriso nacirasseva sakaṁ ācariyakaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā’ti.
So kho ahaṁ, rājakumāra, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ pariyāpuṇiṁ. So kho ahaṁ, rājakumāra, tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena lapitalāpanamattena ñāṇavādañca vadāmi, theravādañca jānāmi passāmīti ca paṭijānāmi, ahañceva aññe ca.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘na kho rāmo imaṁ dhammaṁ kevalaṁ saddhāmattakena sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesi; addhā rāmo imaṁ dhammaṁ jānaṁ passaṁ vihāsī’ti.
Atha khvāhaṁ, rājakumāra, yena udako rāmaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā udakaṁ rāmaputtaṁ etadavocaṁ: ‘kittāvatā no, āvuso, rāmo imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesī’ti? Evaṁ vutte, rājakumāra, udako rāmaputto nevasaññānāsaññāyatanaṁ pavedesi.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘na kho rāmasseva ahosi saddhā, mayhampatthi saddhā; na kho rāmasseva ahosi vīriyaṁ …pe… sati … samādhi … paññā, mayhampatthi paññā. Yannūnāhaṁ yaṁ dhammaṁ rāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedeti tassa dhammassa sacchikiriyāya padaheyyan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṁ.
Atha khvāhaṁ, rājakumāra, yena udako rāmaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā udakaṁ rāmaputtaṁ etadavocaṁ:
I set out to discover what is skillful, seeking the supreme state of sublime peace. I approached Uddaka son of Rāma and said to him, ‘Reverend, I wish to lead the spiritual life in this teaching and training.’
Uddaka replied, ‘Stay, venerable. This teaching is such that a sensible person can soon realize their own denomination with their own insight and live having achieved it.’
I quickly memorized that teaching. As far as lip-recital and verbal repetition went, I spoke the doctrine of knowledge, the elder doctrine. I claimed to know and see, and so did others.
Then it occurred to me, ‘It is not solely by mere faith that Rāma declared: “I realize this teaching with my own insight, and live having achieved it.” Surely he meditated knowing and seeing this teaching.’
So I approached Uddaka son of Rāma and said to him, ‘Reverend, to what extent did Rāma say he’d realized this teaching with his own insight?’ When I said this, Uddaka son of Rāma declared the dimension of neither perception nor non-perception.
Then it occurred to me, ‘It’s not just Rāma who had faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom; I too have these things. Why don’t I make an effort to realize the same teaching that Rāma said he had realized with his own insight?’ I quickly realized that teaching with my own insight, and lived having achieved it.
So I approached Uddaka son of Rāma and said to him,
328. Này Rājakumāra, Ta, trong khi tìm kiếm điều thiện, trong khi tìm cầu trạng thái an tịnh tối thượng, vô song, đã đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta. Sau khi đến, Ta đã nói với Udaka Rāmaputta rằng: ‘Thưa hiền giả, tôi muốn thực hành đời sống phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này.’ Này Rājakumāra, khi được nói như vậy, Udaka Rāmaputta đã nói với Ta rằng: ‘Tôn giả cứ ở lại. Giáo pháp này là như vậy, nơi mà một người có trí tuệ không bao lâu sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vào giáo lý của bậc thầy mình.’ Này Rājakumāra, Ta đã không bao lâu, một cách nhanh chóng, học thuộc lòng giáo pháp ấy. Này Rājakumāra, chỉ với chừng ấy, chỉ bằng sự mấp máy môi, chỉ bằng lời nói suông, Ta đã tuyên bố lời nói của người có trí tuệ, và Ta đã xác nhận rằng: ‘Ta biết, Ta thấy,’ cả Ta và những người khác. Này Rājakumāra, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Chắc chắn Rāma đã không tuyên bố giáo pháp này chỉ bằng đức tin suông rằng: ‘Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú.’ Chắc chắn Rāma đã an trú, biết và thấy giáo pháp này.’ Rồi, này Rājakumāra, Ta đã đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta. Sau khi đến, Ta đã nói với Udaka Rāmaputta rằng: ‘Thưa hiền giả, Rāma đã tuyên bố giáo pháp này, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú, đến mức độ nào?’ Này Rājakumāra, khi được nói như vậy, Udaka Rāmaputta đã tuyên bố về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này Rājakumāra, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Không phải chỉ Rāma mới có đức tin, Ta cũng có đức tin. Không phải chỉ Rāma mới có tinh tấn... ... chánh niệm... ... chánh định... ... trí tuệ, Ta cũng có trí tuệ. Vậy thì, ta nên nỗ lực để chứng ngộ giáo pháp mà Rāma đã tuyên bố rằng ngài tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú.’ Này Rājakumāra, Ta đã không bao lâu, một cách nhanh chóng, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vào giáo pháp ấy.
‘Ettāvatā kho, āvuso, rāmo imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesī’ti.
‘Ahampi kho, āvuso, ettāvatā imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī’ti.
‘Lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso, ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ passāma. Iti yaṁ dhammaṁ rāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi taṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi. Yaṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi taṁ dhammaṁ rāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi. Iti yaṁ dhammaṁ rāmo abhiññāsi taṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi; yaṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi taṁ dhammaṁ rāmo abhiññāsi. Iti yādiso rāmo ahosi tādiso tuvaṁ, yādiso tuvaṁ tādiso rāmo ahosi. Ehi dāni, āvuso, tuvaṁ imaṁ gaṇaṁ pariharā’ti. Iti kho, rājakumāra, udako rāmaputto sabrahmacārī me samāno ācariyaṭṭhāne maṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesi.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘nāyaṁ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva nevasaññānāsaññāyatanūpapattiyā’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, taṁ dhammaṁ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṁ.
‘He had, reverend.’
‘I too have realized this teaching with my own insight up to this point, and live having achieved it.’
‘We are fortunate, reverend, so very fortunate to see a venerable such as yourself as one of our spiritual companions! So the teaching that Rāma had realized with his own insight, and declared having achieved it, you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it. The teaching that you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it, Rāma had realized with his own insight, and declared having achieved it. So the teaching that Rāma directly knew, you know, and the teaching you know, Rāma directly knew. Rāma was like you and you are like Rāma. Come now, reverend! You should lead this community.’ And that is how my spiritual companion Uddaka son of Rāma placed me in the position of a tutor and honored me with high praise.
Then it occurred to me, ‘This teaching doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the dimension of neither perception nor non-perception.’ Realizing that this teaching was inadequate, I left disappointed.
Rồi, này Rājakumāra, Ta đã đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta. Sau khi đến, Ta đã nói với Udaka Rāmaputta rằng: ‘Thưa hiền giả, có phải Rāma đã tuyên bố giáo pháp này, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến, chỉ đến mức độ này thôi không?’ ‘Thưa hiền giả, đúng vậy, Rāma đã tuyên bố giáo pháp này, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến, chỉ đến mức độ này thôi.’ Ta nói: ‘Thưa hiền giả, tôi cũng tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vào giáo pháp này đến mức độ này.’ ‘Thưa hiền giả, thật là lợi ích cho chúng tôi! Thưa hiền giả, thật là khéo được cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một vị đồng phạm hạnh như tôn giả! Như vậy, giáo pháp mà Rāma đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và tuyên bố, giáo pháp ấy ngài cũng tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú. Giáo pháp mà ngài tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú, giáo pháp ấy Rāma đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và tuyên bố. Như vậy, giáo pháp mà Rāma đã biết, giáo pháp ấy ngài cũng biết; giáo pháp mà ngài biết, giáo pháp ấy Rāma đã biết. Như vậy, Rāma như thế nào, ngài cũng như thế ấy; ngài như thế nào, Rāma cũng như thế ấy. Thôi nào, hiền giả, bây giờ ngài hãy lãnh đạo giáo đoàn này.’ Này Rājakumāra, như vậy đó, Udaka Rāmaputta, là bạn đồng phạm hạnh của Ta, đã đặt Ta vào vị trí của một bậc thầy, và đã cúng dường Ta với sự cúng dường cao quý. Này Rājakumāra, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Giáo pháp này không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến sự ly tham, không đưa đến sự đoạn diệt, không đưa đến sự an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự tái sanh vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.’ Này Rājakumāra, Ta, sau khi không hài lòng với giáo pháp ấy, đã nhàm chán và từ bỏ giáo pháp ấy mà ra đi.
So kho ahaṁ, rājakumāra, kiṅkusalagavesī anuttaraṁ santivarapadaṁ pariyesamāno, magadhesu anupubbena cārikaṁ caramāno, yena uruvelā senānigamo tadavasariṁ. Tatthaddasaṁ ramaṇīyaṁ bhūmibhāgaṁ, pāsādikañca vanasaṇḍaṁ, nadiñca sandantiṁ setakaṁ supatitthaṁ, ramaṇīyaṁ samantā ca gocaragāmaṁ.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘ramaṇīyo vata bho bhūmibhāgo, pāsādiko ca vanasaṇḍo, nadī ca sandati setakā supatitthā, ramaṇīyā samantā ca gocaragāmo. Alaṁ vatidaṁ kulaputtassa padhānatthikassa padhānāyā’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, tattheva nisīdiṁ: ‘alamidaṁ padhānāyā’ti.
Apissu maṁ, rājakumāra, tisso upamā paṭibhaṁsu anacchariyā pubbe assutapubbā.
I set out to discover what is skillful, seeking the supreme state of sublime peace. Traveling stage by stage in the Magadhan lands, I arrived at the town of Senā in Uruvelā. There I saw a delightful park, a lovely grove with a flowing river that was clean and charming, with smooth banks. And nearby was a village to resort to for alms.
Then it occurred to me, ‘This park is truly delightful, a lovely grove with a flowing river that’s clean and charming, with smooth banks. And nearby there’s a village to resort to for alms. This is good enough for striving for a gentleman wanting to strive.’ So I sat down right there, thinking, ‘This is good enough for striving.’
And then these three similes, which were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past, occurred to me.
329. Này Rājakumāra, Ta, trong khi tìm kiếm điều thiện, trong khi tìm cầu trạng thái an tịnh tối thượng, vô song, trong khi tuần tự du hành qua xứ Magadha, đã đi đến Senānigama ở Uruvelā. Ở đó, Ta thấy một vùng đất khả ái, một khu rừng đẹp đẽ, một dòng sông đang chảy với nước trong, bến nước dễ dàng, đáng yêu, và xung quanh là một ngôi làng để khất thực. Này Rājakumāra, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Thật là khả ái, thưa các bạn, vùng đất này! Thật là đẹp đẽ khu rừng này! Dòng sông đang chảy với nước trong, bến nước dễ dàng, đáng yêu, và xung quanh là một ngôi làng để khất thực. Thật là thích hợp cho một thiện nam tử có ý muốn tinh cần để nỗ lực tinh tấn.’ Này Rājakumāra, Ta đã ngồi xuống ngay tại đó, với ý nghĩ: ‘Nơi này thích hợp cho sự tinh tấn.’ Và rồi, này Rājakumāra, ba ví dụ kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã hiện lên trong Ta.
Seyyathāpi, rājakumāra, allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ udake nikkhittaṁ. Atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṁ ādāya: ‘aggiṁ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, api nu so puriso amuṁ allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ udake nikkhittaṁ uttarāraṇiṁ ādāya abhimanthento aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā”ti?
“No hidaṁ, bhante. Taṁ kissa hetu? Aduñhi, bhante, allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ tañca pana udake nikkhittaṁ, yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, rājakumāra, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi avūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṁ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho so ca ajjhattaṁ na suppahīno hoti, na suppaṭippassaddho. Opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. No cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. Ayaṁ kho maṁ, rājakumāra, paṭhamā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā.
Suppose there was a green, sappy log, and it was lying in water. Then a person comes along with a drill-stick, thinking to light a fire and produce heat. What do you think, Prince? By drilling the stick against that green, sappy log lying in water, could they light a fire and produce heat?”
“No, sir. Why is that? Because it’s a green, sappy log, and it’s lying in the water. That person will eventually get weary and frustrated.”
“In the same way, there are ascetics and brahmins who don’t live withdrawn in body and mind from sensual pleasures. They haven’t internally given up or stilled desire, affection, infatuation, thirst, and passion for sensual pleasures. Regardless of whether or not they suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion, they are incapable of knowledge and vision, of supreme awakening. This was the first example that occurred to me.
“Này vương tử, ví như có khúc củi tươi còn nhựa được ngâm trong nước. Rồi có người đến, lấy cây khoan lửa và nói: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, ta sẽ làm cho hơi nóng hiện ra.’ Này vương tử, ông nghĩ thế nào về điều ấy, người ấy lấy cây khoan lửa cọ xát vào khúc củi tươi còn nhựa đang được ngâm trong nước kia thì có thể tạo ra lửa, có thể làm cho hơi nóng hiện ra không?” “Thưa Tôn giả, không thể được. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, vì khúc củi kia vừa tươi vừa còn nhựa, lại còn được ngâm trong nước. Người ấy chỉ chuốc lấy mệt mỏi và phiền não mà thôi.” “Cũng vậy, này vương tử, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sống không xa lìa các dục về phương diện thân và tâm, và ở nơi họ, đối với các dục, lòng dục, ái dục, mê đắm dục, khát ái dục, nhiệt não dục, những thứ ấy bên trong vẫn chưa được khéo đoạn tận, chưa được khéo lắng dịu. Dầu cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy có phải chịu những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, thô cứng, nhức nhối do sự tinh tấn, họ vẫn không có khả năng đạt đến tri kiến, đến sự giác ngộ vô thượng. Dầu cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy không phải chịu những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, thô cứng, nhức nhối do sự tinh tấn, họ vẫn không có khả năng đạt đến tri kiến, đến sự giác ngộ vô thượng. Này vương tử, ví dụ thứ nhất này, kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong Ta.
Aparāpi kho maṁ, rājakumāra, dutiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā.
Seyyathāpi, rājakumāra, allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ ārakā udakā thale nikkhittaṁ. Atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṁ ādāya: ‘aggiṁ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, api nu so puriso amuṁ allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ ārakā udakā thale nikkhittaṁ uttarāraṇiṁ ādāya abhimanthento aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā”ti?
“No hidaṁ, bhante. Taṁ kissa hetu? Aduñhi, bhante, allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ kiñcāpi ārakā udakā thale nikkhittaṁ, yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, rājakumāra, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi vūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṁ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho so ca ajjhattaṁ na suppahīno hoti, na suppaṭippassaddho. Opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. No cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. Ayaṁ kho maṁ, rājakumāra, dutiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā.
Then a second example occurred to me.
Suppose there was a green, sappy log, and it was lying on dry land far from the water. Then a person comes along with a drill-stick, thinking to light a fire and produce heat. What do you think, Prince? By drilling the stick against that green, sappy log on dry land far from water, could they light a fire and produce heat?”
“No, sir. Why is that? Because it’s still a green, sappy log, despite the fact that it’s lying on dry land far from water. That person will eventually get weary and frustrated.”
“In the same way, there are ascetics and brahmins who live withdrawn in body and mind from sensual pleasures. But they haven’t internally given up or stilled desire, affection, infatuation, thirst, and passion for sensual pleasures. Regardless of whether or not they suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion, they are incapable of knowledge and vision, of supreme awakening. This was the second example that occurred to me.
330. “Lại nữa, này vương tử, ví dụ thứ hai này, kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong Ta. Này vương tử, ví như có khúc củi tươi còn nhựa được đặt trên đất khô, xa nơi có nước. Rồi có người đến, lấy cây khoan lửa và nói: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, ta sẽ làm cho hơi nóng hiện ra.’ Này vương tử, ông nghĩ thế nào về điều ấy, người ấy lấy cây khoan lửa cọ xát vào khúc củi tươi còn nhựa được đặt trên đất khô, xa nơi có nước kia thì có thể tạo ra lửa, có thể làm cho hơi nóng hiện ra không?” “Thưa Tôn giả, không thể được. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, vì khúc củi kia tuy được đặt trên đất khô, xa nơi có nước, nhưng nó vẫn là củi tươi còn nhựa. Người ấy chỉ chuốc lấy mệt mỏi và phiền não mà thôi.” “Cũng vậy, này vương tử, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sống xa lìa các dục về phương diện thân và tâm, nhưng ở nơi họ, đối với các dục, lòng dục, ái dục, mê đắm dục, khát ái dục, nhiệt não dục, những thứ ấy bên trong vẫn chưa được khéo đoạn tận, chưa được khéo lắng dịu. Dầu cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy có phải chịu những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, thô cứng, nhức nhối do sự tinh tấn, họ vẫn không có khả năng đạt đến tri kiến, đến sự giác ngộ vô thượng. Dầu cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy không phải chịu những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, thô cứng, nhức nhối do sự tinh tấn, họ vẫn không có khả năng đạt đến tri kiến, đến sự giác ngộ vô thượng. Này vương tử, ví dụ thứ hai này, kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong Ta.
Aparāpi kho maṁ, rājakumāra, tatiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā.
Seyyathāpi, rājakumāra, sukkhaṁ kaṭṭhaṁ koḷāpaṁ ārakā udakā thale nikkhittaṁ. Atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṁ ādāya: ‘aggiṁ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, api nu so puriso amuṁ sukkhaṁ kaṭṭhaṁ koḷāpaṁ ārakā udakā thale nikkhittaṁ uttarāraṇiṁ ādāya abhimanthento aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā”ti?
“Evaṁ, bhante. Taṁ kissa hetu? Aduñhi, bhante, sukkhaṁ kaṭṭhaṁ koḷāpaṁ, tañca pana ārakā udakā thale nikkhittan”ti.
“Evameva kho, rājakumāra, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi vūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṁ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho so ca ajjhattaṁ suppahīno hoti suppaṭippassaddho. Opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, bhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. No cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, bhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. Ayaṁ kho maṁ, rājakumāra, tatiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā. Imā kho maṁ, rājakumāra, tisso upamā paṭibhaṁsu anacchariyā pubbe assutapubbā.
Then a third example occurred to me.
Suppose there was a dried up, withered log, and it was lying on dry land far from the water. Then a person comes along with a drill-stick, thinking to light a fire and produce heat. What do you think, Prince? By drilling the stick against that dried up, withered log on dry land far from water, could they light a fire and produce heat?”
“Yes, sir. Why is that? Because it’s a dried up, withered log, and it’s lying on dry land far from water.”
“In the same way, there are ascetics and brahmins who live withdrawn in body and mind from sensual pleasures. And they have internally given up and stilled desire, affection, infatuation, thirst, and passion for sensual pleasures. Regardless of whether or not they suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion, they are capable of knowledge and vision, of supreme awakening. This was the third example that occurred to me. These are the three similes, which were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past, that occurred to me.
331. “Lại nữa, này vương tử, ví dụ thứ ba này, kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong Ta. Này vương tử, ví như có khúc củi khô, không còn nhựa, được đặt trên đất khô, xa nơi có nước. Rồi có người đến, lấy cây khoan lửa và nói: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, ta sẽ làm cho hơi nóng hiện ra.’ Này vương tử, ông nghĩ thế nào về điều ấy, người ấy lấy cây khoan lửa cọ xát vào khúc củi khô, không còn nhựa, được đặt trên đất khô, xa nơi có nước kia thì có thể tạo ra lửa, có thể làm cho hơi nóng hiện ra không?” “Thưa Tôn giả, có thể được. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, vì khúc củi kia vừa khô vừa không còn nhựa, lại còn được đặt trên đất khô, xa nơi có nước.” “Cũng vậy, này vương tử, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sống xa lìa các dục về phương diện thân và tâm, và ở nơi họ, đối với các dục, lòng dục, ái dục, mê đắm dục, khát ái dục, nhiệt não dục, những thứ ấy bên trong đã được khéo đoạn tận, đã được khéo lắng dịu. Dầu cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy có phải chịu những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, thô cứng, nhức nhối do sự tinh tấn, họ vẫn có khả năng đạt đến tri kiến, đến sự giác ngộ vô thượng. Dầu cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy không phải chịu những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, thô cứng, nhức nhối do sự tinh tấn, họ vẫn có khả năng đạt đến tri kiến, đến sự giác ngộ vô thượng. Này vương tử, ví dụ thứ ba này, kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong Ta. Này vương tử, ba ví dụ này, kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong Ta.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ dantebhidantamādhāya, jivhāya tāluṁ āhacca, cetasā cittaṁ abhiniggaṇheyyaṁ abhinippīḷeyyaṁ abhisantāpeyyan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, dantebhidantamādhāya, jivhāya tāluṁ āhacca, cetasā cittaṁ abhiniggaṇhāmi abhinippīḷemi abhisantāpemi. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, dantebhidantamādhāya, jivhāya tāluṁ āhacca, cetasā cittaṁ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato kacchehi sedā muccanti. Seyyathāpi, rājakumāra, balavā puriso dubbalataraṁ purisaṁ sīse vā gahetvā khandhe vā gahetvā abhiniggaṇheyya abhinippīḷeyya abhisantāpeyya; evameva kho me, rājakumāra, dantebhidantamādhāya, jivhāya tāluṁ āhacca, cetasā cittaṁ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato kacchehi sedā muccanti. Āraddhaṁ kho pana me, rājakumāra, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho, teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I, with teeth clenched and tongue pressed against the roof of my mouth, squeeze, squash, and scorch mind with mind?’ So that’s what I did, until sweat ran from my armpits. It was like when a strong man grabs a weaker man by the head or throat or shoulder and squeezes, squashes, and crushes them. In the same way, with teeth clenched and tongue pressed against the roof of my mouth, I squeezed, squashed, and crushed mind with mind until sweat ran from my armpits. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving.
332. “Này vương tử, khi ấy ta có ý nghĩ này: ‘Hay là ta nghiến răng, dùng lưỡi ép vào vòm miệng, dùng tâm để chế ngự, đàn áp, nhiếp phục tâm’. Này vương tử, rồi ta nghiến răng, dùng lưỡi ép vào vòm miệng, dùng tâm để chế ngự, đàn áp, nhiếp phục tâm. Này vương tử, trong khi ta nghiến răng, dùng lưỡi ép vào vòm miệng, dùng tâm để chế ngự, đàn áp, nhiếp phục tâm, mồ hôi từ nách ta tuôn chảy. Này vương tử, ví như một người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy đầu hay vai của một người đàn ông yếu hơn mà chế ngự, đàn áp, nhiếp phục; cũng vậy, này vương tử, trong khi ta nghiến răng, dùng lưỡi ép vào vòm miệng, dùng tâm để chế ngự, đàn áp, nhiếp phục tâm, mồ hôi từ nách ta tuôn chảy. Này vương tử, tinh tấn của ta được phát khởi, không thối chuyển; niệm được thiết lập, không quên lãng; nhưng thân của ta, do bị sự tinh cần khổ hạnh ấy làm cho đau đớn, đã trở nên căng thẳng và không được an tịnh.”
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca assāsapassāsesu uparuddhesu kaṇṇasotehi vātānaṁ nikkhamantānaṁ adhimatto saddo hoti. Seyyathāpi nāma kammāragaggariyā dhamamānāya adhimatto saddo hoti; evameva kho me, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca assāsapassāsesu uparuddhesu kaṇṇasotehi vātānaṁ nikkhamantānaṁ adhimatto saddo hoti. Āraddhaṁ kho pana me, rājakumāra, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho, teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I practice the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose. But then winds came out my ears making a loud noise, like the puffing of a blacksmith’s bellows. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving.
333. “Này vương tử, khi ấy ta có ý nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành thiền không hơi thở’. Này vương tử, rồi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng và qua mũi. Này vương tử, trong khi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng và qua mũi, có một tiếng động rất lớn của những luồng gió thoát ra từ hai lỗ tai của ta. Này vương tử, ví như có tiếng động rất lớn từ ống bễ của người thợ rèn đang được thổi; cũng vậy, này vương tử, trong khi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng và qua mũi, có một tiếng động rất lớn của những luồng gió thoát ra từ hai lỗ tai của ta. Này vương tử, tinh tấn của ta được phát khởi, không thối chuyển; niệm được thiết lập, không quên lãng; nhưng thân của ta, do bị sự tinh cần khổ hạnh ấy làm cho đau đớn, đã trở nên căng thẳng và không được an tịnh.”
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā muddhani ūhananti. Seyyathāpi, rājakumāra, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evameva kho me, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā muddhani ūhananti. Āraddhaṁ kho pana me, rājakumāra, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho, teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I keep practicing the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose and ears. But then severe winds ground my head, like a strong man was drilling into my head with a sharp point. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving.
“Này vương tử, khi ấy ta có ý nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành thiền không hơi thở’. Này vương tử, rồi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng, qua mũi và qua tai. Này vương tử, trong khi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng, qua mũi và qua tai, có những luồng gió mạnh đập vào đỉnh đầu ta. Này vương tử, ví như một người đàn ông khỏe mạnh dùng một cái dùi sắc bén để khoan vào đỉnh đầu; cũng vậy, này vương tử, trong khi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng, qua mũi và qua tai, có những luồng gió mạnh đập vào đỉnh đầu ta. Này vương tử, tinh tấn của ta được phát khởi, không thối chuyển; niệm được thiết lập, không quên lãng; nhưng thân của ta, do bị sự tinh cần khổ hạnh ấy làm cho đau đớn, đã trở nên căng thẳng và không được an tịnh.”
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā sīse sīsavedanā honti. Seyyathāpi, rājakumāra, balavā puriso daḷhena varattakkhaṇḍena sīse sīsaveṭhaṁ dadeyya; evameva kho me, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā sīse sīsavedanā honti. Āraddhaṁ kho pana me, rājakumāra, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho, teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I keep practicing the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose and ears. But then I got a severe headache, like a strong man was tightening a strong leather strap around my head. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving.
“Này vương tử, khi ấy ta có ý nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành thiền không hơi thở’. Này vương tử, rồi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng, qua mũi và qua tai. Này vương tử, trong khi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng, qua mũi và qua tai, có những cảm giác đau đớn dữ dội khởi lên trong đầu ta. Này vương tử, ví như một người đàn ông khỏe mạnh dùng một sợi dây da chắc chắn để quấn chặt quanh đầu; cũng vậy, này vương tử, trong khi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng, qua mũi và qua tai, có những cảm giác đau đớn dữ dội khởi lên trong đầu ta. Này vương tử, tinh tấn của ta được phát khởi, không thối chuyển; niệm được thiết lập, không quên lãng; nhưng thân của ta, do bị sự tinh cần khổ hạnh ấy làm cho đau đớn, đã trở nên căng thẳng và không được an tịnh.”
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti. Seyyathāpi, rājakumāra, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṁ parikanteyya; evameva kho me, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā, vātā kucchiṁ parikantanti. Āraddhaṁ kho pana me, rājakumāra, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho, teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I keep practicing the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose and ears. But then severe winds carved up my belly, like a deft butcher or their apprentice was slicing my belly open with a sharp meat cleaver. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving.
“Này vương tử, khi ấy ta có ý nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành thiền không hơi thở’. Này vương tử, rồi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng, qua mũi và qua tai. Này vương tử, trong khi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng, qua mũi và qua tai, có những luồng gió mạnh cắt xuyên qua bụng ta. Này vương tử, ví như một người đồ tể lành nghề hoặc đệ tử của người đồ tể dùng con dao mổ bò sắc bén để cắt xuyên qua bụng; cũng vậy, này vương tử, trong khi ta ngăn chặn hơi thở ra, hơi thở vào qua miệng, qua mũi và qua tai, có những luồng gió mạnh cắt xuyên qua bụng ta. Này vương tử, tinh tấn của ta được phát khởi, không thối chuyển; niệm được thiết lập, không quên lãng; nhưng thân của ta, do bị sự tinh cần khổ hạnh ấy làm cho đau đớn, đã trở nên căng thẳng và không được an tịnh.”
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimatto kāyasmiṁ ḍāho hoti. Seyyathāpi, rājakumāra, dve balavanto purisā dubbalataraṁ purisaṁ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṁ samparitāpeyyuṁ; evameva kho me, rājakumāra, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimatto kāyasmiṁ ḍāho hoti. Āraddhaṁ kho pana me, rājakumāra, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho, teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I keep practicing the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose and ears. But then there was a severe burning in my body, like two strong men grabbing a weaker man by the arms to burn and scorch him on a pit of glowing coals. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving.
Này vương tử, Ta có ý nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành thiền không-hơi-thở.’ Này vương tử, Ta bèn ngăn chặn hơi thở ra hơi thở vào từ miệng, từ mũi, và từ tai. Này vương tử, khi Ta ngăn chặn hơi thở ra hơi thở vào từ miệng, từ mũi, và từ tai, có một sự nóng cháy mãnh liệt khởi lên trong thân Ta. Này vương tử, ví như hai người đàn ông lực lưỡng nắm lấy hai cánh tay của một người đàn ông yếu hơn rồi hơ nóng, nung đốt trên hố than hừng; cũng vậy, này vương tử, khi Ta ngăn chặn hơi thở ra hơi thở vào từ miệng, từ mũi, và từ tai, có một sự nóng cháy mãnh liệt khởi lên trong thân Ta. Này vương tử, tinh tấn của Ta được khởi lên, không thối chuyển; niệm được thiết lập, không quên lãng; nhưng thân Ta bị kích động, không được an tịnh, vì bị sự khổ đau do tinh cần ấy áp đảo.
Apissu maṁ, rājakumāra, devatā disvā evamāhaṁsu: ‘kālaṅkato samaṇo gotamo’ti. Ekaccā devatā evamāhaṁsu: ‘na kālaṅkato samaṇo gotamo, api ca kālaṁ karotī’ti. Ekaccā devatā evamāhaṁsu: ‘na kālaṅkato samaṇo gotamo, nāpi kālaṁ karoti. Arahaṁ samaṇo gotamo. Vihāro tveva so arahato evarūpo hotī’ti.
Then some deities saw me and said, ‘The ascetic Gotama is dead.’ Others said, ‘He’s not dead, but he’s dying.’ Others said, ‘He’s not dead or dying. The ascetic Gotama is a perfected one, for that is how the perfected ones live.’
Này vương tử, lại nữa, có chư thiên thấy Ta rồi nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama đã chết.’ Một số chư thiên khác nói: ‘Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng đang chết.’ Một số chư thiên khác lại nói: ‘Sa-môn Gotama chưa chết, cũng không đang chết. Sa-môn Gotama là bậc A-la-hán. Sự an trú của bậc A-la-hán là như vậy.’
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ sabbaso āhārupacchedāya paṭipajjeyyan’ti. Atha kho maṁ, rājakumāra, devatā upasaṅkamitvā etadavocuṁ: ‘mā kho tvaṁ, mārisa, sabbaso āhārupacchedāya paṭipajji. Sace kho tvaṁ, mārisa, sabbaso āhārupacchedāya paṭipajjissasi, tassa te mayaṁ dibbaṁ ojaṁ lomakūpehi ajjhohāressāma, tāya tvaṁ yāpessasī’ti. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘ahañceva kho pana sabbaso ajajjitaṁ paṭijāneyyaṁ. Imā ca me devatā dibbaṁ ojaṁ lomakūpehi ajjhohāreyyuṁ, tāya cāhaṁ yāpeyyaṁ, taṁ mamassa musā’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, tā devatā paccācikkhāmi. ‘Halan’ti vadāmi.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I practice completely cutting off food?’ But deities came to me and said, ‘Good fellow, don’t practice totally cutting off food. If you do, we’ll infuse heavenly nectar into your pores and you will live on that.’ Then it occurred to me, ‘If I claim to be completely fasting while these deities are infusing heavenly nectar in my pores, that would be a lie on my part.’ So I refused those deities, saying, ‘There’s no need.’
334. Này vương tử, Ta có ý nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành tuyệt thực hoàn toàn.’ Rồi, này vương tử, chư thiên đến gần Ta và nói điều này: ‘Thưa hiền giả, xin ngài chớ thực hành tuyệt thực hoàn toàn. Nếu, thưa hiền giả, ngài thực hành tuyệt thực hoàn toàn, chúng tôi sẽ truyền vật thực cõi trời qua các lỗ chân lông cho ngài, và với vật thực ấy, ngài sẽ sống được.’ Này vương tử, Ta có ý nghĩ này: ‘Nếu ta tuyên bố là hoàn toàn không ăn, mà các vị chư thiên này lại truyền vật thực cõi trời qua các lỗ chân lông cho ta, và ta sống được nhờ vật thực ấy, thì điều đó đối với ta sẽ là một sự nói dối.’ Này vương tử, Ta bèn từ chối các vị chư thiên ấy, Ta nói: ‘Thôi đủ rồi’.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ thokaṁ thokaṁ āhāraṁ āhāreyyaṁ pasataṁ pasataṁ, yadi vā muggayūsaṁ yadi vā kulatthayūsaṁ yadi vā kaḷāyayūsaṁ yadi vā hareṇukayūsan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, thokaṁ thokaṁ āhāraṁ āhāresiṁ pasataṁ pasataṁ, yadi vā muggayūsaṁ yadi vā kulatthayūsaṁ yadi vā kaḷāyayūsaṁ yadi vā hareṇukayūsaṁ. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, thokaṁ thokaṁ āhāraṁ āhārayato pasataṁ pasataṁ, yadi vā muggayūsaṁ yadi vā kulatthayūsaṁ yadi vā kaḷāyayūsaṁ yadi vā hareṇukayūsaṁ, adhimattakasimānaṁ patto kāyo hoti. Seyyathāpi nāma āsītikapabbāni vā kāḷapabbāni vā; evamevassu me aṅgapaccaṅgāni bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma oṭṭhapadaṁ; evamevassu me ānisadaṁ hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma vaṭṭanāvaḷī; evamevassu me piṭṭhikaṇṭako uṇṇatāvanato hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma jarasālāya gopānasiyo oluggaviluggā bhavanti; evamevassu me phāsuḷiyo oluggaviluggā bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma gambhīre udapāne udakatārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti; evamevassu me akkhikūpesu akkhitārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma tittakālābu āmakacchinno vātātapena samphuṭito hoti sammilāto; evamevassu me sīsacchavi samphuṭitā hoti sammilātā tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, rājakumāra, ‘udaracchaviṁ parimasissāmī’ti piṭṭhikaṇṭakaṁyeva pariggaṇhāmi, ‘piṭṭhikaṇṭakaṁ parimasissāmī’ti udaracchaviṁyeva pariggaṇhāmi. Yāvassu me, rājakumāra, udaracchavi piṭṭhikaṇṭakaṁ allīnā hoti tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, rājakumāra, ‘vaccaṁ vā muttaṁ vā karissāmī’ti tattheva avakujjo papatāmi tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, rājakumāra, imameva kāyaṁ assāsento pāṇinā gattāni anumajjāmi. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, pāṇinā gattāni anumajjato pūtimūlāni lomāni kāyasmā papatanti tāyevappāhāratāya.
Apissu maṁ, rājakumāra, manussā disvā evamāhaṁsu: ‘kāḷo samaṇo gotamo’ti, ekacce manussā evamāhaṁsu: ‘na kāḷo samaṇo gotamo, sāmo samaṇo gotamo’ti. Ekacce manussā evamāhaṁsu: ‘na kāḷo samaṇo gotamo, napi sāmo, maṅguracchavi samaṇo gotamo’ti. Yāvassu me, rājakumāra, tāva parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto upahato hoti tāyevappāhāratāya.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I just take a little bit of food each time, a handful of broth made from mung beans, horse gram, chickpeas, or green gram?’ So that’s what I did, until my body became severely emaciated. Due to eating so little, my major and minor limbs became like the joints of an eighty-year-old or a dying man, my bottom became like a camel’s hoof, my vertebrae stuck out like beads on a string, and my ribs were as gaunt as the broken-down rafters on an old barn. Due to eating so little, the gleam of my eyes sank deep in their sockets, like the gleam of water sunk deep down a well. Due to eating so little, my scalp shriveled and withered like a green bitter-gourd in the wind and sun. Due to eating so little, the skin of my belly stuck to my backbone, so that when I tried to rub the skin of my belly I grabbed my backbone, and when I tried to rub my backbone I rubbed the skin of my belly. Due to eating so little, when I tried to urinate or defecate I fell face down right there. Due to eating so little, when I tried to relieve my body by rubbing my limbs with my hands, the hair, rotted at its roots, fell out.
Then some people saw me and said, ‘The ascetic Gotama is black.’ Some said, ‘He’s not black, he’s brown.’ Some said, ‘He’s neither black nor brown. The ascetic Gotama has dingy skin.’ That’s how far the pure, bright complexion of my skin had been ruined by taking so little food.
Này vương tử, Ta có ý nghĩ này: ‘Hay là ta ăn từng chút một, từng vốc nhỏ, hoặc là nước canh đậu xanh, hoặc là nước canh đậu ngựa, hoặc là nước canh đậu gà, hoặc là nước canh đậu Hà Lan.’ Này vương tử, Ta bèn ăn từng chút một, từng vốc nhỏ, hoặc là nước canh đậu xanh, hoặc là nước canh đậu ngựa, hoặc là nước canh đậu gà, hoặc là nước canh đậu Hà Lan. Này vương tử, do Ta ăn từng chút một, từng vốc nhỏ, hoặc là nước canh đậu xanh, hoặc là nước canh đậu ngựa, hoặc là nước canh đậu gà, hoặc là nước canh đậu Hà Lan, thân thể Ta trở nên gầy mòn cùng cực. Do ăn quá ít, các chi phần lớn nhỏ của Ta trở nên giống như những đốt của dây leo asītika hay dây leo kāḷa. Do ăn quá ít, xương cùng của Ta trở nên giống như dấu chân lạc đà. Do ăn quá ít, xương sống của Ta lồi lõm như một chuỗi hạt. Do ăn quá ít, xương sườn của Ta xiêu vẹo như những kèo nhà của một ngôi nhà cũ kỹ. Do ăn quá ít, con ngươi trong hốc mắt của Ta trông sâu thẳm và chìm khuất, như những vì sao phản chiếu trong một cái giếng sâu. Do ăn quá ít, da đầu của Ta trở nên teo tóp, héo hon, như quả bầu đắng còn non bị cắt rồi phơi gió phơi nắng. Này vương tử, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ da bụng,’ thì lại nắm phải xương sống. Khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ xương sống,’ thì lại nắm phải da bụng. Này vương tử, do ăn quá ít, da bụng của Ta đã dính sát vào xương sống. Này vương tử, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ đi đại tiện hoặc tiểu tiện,’ thì Ta ngã sấp mặt xuống ngay tại chỗ, do ăn quá ít. Này vương tử, để làm cho thân này dễ chịu, Ta dùng tay xoa bóp chân tay. Này vương tử, khi Ta dùng tay xoa bóp chân tay, lông tóc có gốc rễ bị thối rữa rụng khỏi thân, do ăn quá ít. Lại nữa, này vương tử, người ta thấy Ta rồi nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama có màu đen.’ Một số người nói: ‘Sa-môn Gotama không đen, Sa-môn Gotama có màu xanh xám.’ Một số người khác nói: ‘Sa-môn Gotama không đen, cũng không xanh xám, Sa-môn Gotama có màu da cá trê.’ Này vương tử, do ăn quá ít, màu da trong sáng, thanh khiết của Ta đã bị hư hoại đến mức như vậy.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘ye kho keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayiṁsu, etāvaparamaṁ nayito bhiyyo. Yepi hi keci anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayissanti, etāvaparamaṁ nayito bhiyyo. Yepi hi keci etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, etāvaparamaṁ nayito bhiyyo. Na kho panāhaṁ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya adhigacchāmi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ; siyā nu kho añño maggo bodhāyā’ti.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘abhijānāmi kho panāhaṁ pitu sakkassa kammante sītāya jambucchāyāya nisinno vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharitā; siyā nu kho eso maggo bodhāyā’ti. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, satānusāri viññāṇaṁ ahosi: ‘eseva maggo bodhāyā’ti.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘kiṁ nu kho ahaṁ tassa sukhassa bhāyāmi yaṁ taṁ sukhaṁ aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehī’ti? Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘na kho ahaṁ tassa sukhassa bhāyāmi yaṁ taṁ sukhaṁ aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehī’ti.
Then it occurred to me, ‘Whatever ascetics and brahmins have experienced painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion—whether in the past, future, or present—this is as far as it goes, no-one has done more than this. But I have not achieved any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones by this severe, grueling work. Could there be another path to awakening?’
Then it occurred to me, ‘I recall sitting in the cool shade of a black plum tree while my father the Sakyan was off working. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. Could that be the path to awakening?’ Stemming from that memory came the understanding: ‘<em>That</em> is the path to awakening!’
Then it occurred to me, ‘Why am I afraid of that pleasure, for it has nothing to do with sensual pleasures or unskillful qualities?’ Then it occurred to me, ‘I’m not afraid of that pleasure, for it has nothing to do with sensual pleasures or unskillful qualities.’
335. “Này hoàng tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã từng cảm nhận những cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, nhức nhối do nỗ lực tinh tấn, thì cũng chỉ đến mức độ này là cùng, không hơn thế nữa. Bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ cảm nhận những cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, nhức nhối do nỗ lực tinh tấn, thì cũng chỉ đến mức độ này là cùng, không hơn thế nữa. Và bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại đang cảm nhận những cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, nhức nhối do nỗ lực tinh tấn, thì cũng chỉ đến mức độ này là cùng, không hơn thế nữa. Nhưng với pháp khổ hạnh khốc liệt này, Ta vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh; liệu có con đường nào khác để đi đến giác ngộ chăng?’ Này hoàng tử, Ta lại khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Ta nhớ lại, khi phụ vương dòng Thích-ca đang làm lễ, Ta ngồi dưới bóng mát của cây trâm, đã ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Liệu đây có phải là con đường đi đến giác ngộ chăng?’ Này hoàng tử, khi ấy tuệ giác của Ta thuận theo chánh niệm đã khởi lên rằng: ‘Đây chính là con đường đi đến giác ngộ.’ Này hoàng tử, Ta lại khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Tại sao Ta lại sợ hãi sự an lạc ấy, một sự an lạc không liên quan đến các dục, không liên quan đến các pháp bất thiện?’ Này hoàng tử, Ta lại khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Ta không sợ hãi sự an lạc ấy, một sự an lạc không liên quan đến các dục, không liên quan đến các pháp bất thiện.’”
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘na kho taṁ sukaraṁ sukhaṁ adhigantuṁ evaṁ adhimattakasimānaṁ pattakāyena. Yannūnāhaṁ oḷārikaṁ āhāraṁ āhāreyyaṁ odanakummāsan’ti. So kho ahaṁ, rājakumāra, oḷārikaṁ āhāraṁ āhāresiṁ odanakummāsaṁ. Tena kho pana maṁ, rājakumāra, samayena pañcavaggiyā bhikkhū paccupaṭṭhitā honti: ‘yaṁ kho samaṇo gotamo dhammaṁ adhigamissati taṁ no ārocessatī’ti. Yato kho ahaṁ, rājakumāra, oḷārikaṁ āhāraṁ āhāresiṁ odanakummāsaṁ, atha me te pañcavaggiyā bhikkhū nibbijja pakkamiṁsu: ‘bāhulliko samaṇo gotamo padhānavibbhanto, āvatto bāhullāyā’ti.
Then it occurred to me, ‘I can’t achieve that pleasure with a body so severely emaciated. Why don’t I eat some solid food, some rice and porridge?’ So I ate some solid food. Now at that time the group of five mendicants were attending on me, thinking, ‘The ascetic Gotama will tell us of any truth that he realizes.’ But when I ate some solid food, they left disappointed in me, saying, ‘The ascetic Gotama has become indulgent; he has strayed from the struggle and returned to indulgence.’
“Này hoàng tử, Ta lại khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Không dễ gì chứng được sự an lạc ấy với thân thể gầy mòn quá mức như thế này. Hay là Ta nên dùng lại vật thực thô, là cơm và cháo.’ Và này hoàng tử, Ta đã dùng lại vật thực thô, là cơm và cháo. Này hoàng tử, lúc bấy giờ có năm vị Tỳ-kheo đang hầu hạ Ta, với ý nghĩ rằng: ‘Bất cứ pháp nào Sa-môn Gotama chứng được, ngài sẽ nói cho chúng ta biết.’ Này hoàng tử, khi Ta dùng lại vật thực thô, là cơm và cháo, thì năm vị Tỳ-kheo ấy thất vọng và rời bỏ Ta, nói rằng: ‘Sa-môn Gotama đã trở nên sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về đời sống hưởng thụ.’”
So kho ahaṁ, rājakumāra, oḷārikaṁ āhāraṁ āhāretvā balaṁ gahetvā vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā … dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi. Ayaṁ kho me, rājakumāra, rattiyā paṭhame yāme paṭhamā vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno—yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
After eating solid food and gathering my strength, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I entered and remained in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption. When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward recollection of past lives. I recollected many past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. And so I recollected my many kinds of past lives, with features and details. This was the first knowledge, which I achieved in the first watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
336. “Này hoàng tử, sau khi dùng vật thực thô và lấy lại sức lực, Ta ly dục... (v.v.)... chứng và trú thiền thứ nhất. Do làm cho tầm và tứ an tịnh... Ta chứng và trú thiền thứ hai... thiền thứ ba... thiền thứ tư. Với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, Ta hướng tâm đến Túc Mạng Minh. Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời... (v.v.)... Như vậy, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các khía cạnh và chi tiết của chúng. Này hoàng tử, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được trong canh đầu của đêm; vô minh đã được diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã được diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi — như xảy ra cho người sống không phóng dật, nhiệt tâm, và quyết chí.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāmi …pe…
ayaṁ kho me, rājakumāra, rattiyā majjhime yāme dutiyā vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno—yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, I saw sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. I understood how sentient beings pass on according to their deeds.
This was the second knowledge, which I achieved in the middle watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
“Với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, Ta hướng tâm đến trí tuệ về sự sanh tử của chúng sanh. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, Ta thấy các chúng sanh đang chết đi và tái sanh, kẻ hèn người sang, kẻ đẹp người xấu, người may mắn kẻ bất hạnh; Ta hiểu rõ chúng sanh trôi lăn theo nghiệp của mình... (v.v.)... Này hoàng tử, đó là minh thứ hai Ta đã chứng được trong canh giữa của đêm; vô minh đã được diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã được diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi — như xảy ra cho người sống không phóng dật, nhiệt tâm, và quyết chí.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ …pe… ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ.
Tassa me evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccittha, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccittha, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccittha. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ ahosi.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti abbhaññāsiṁ.
Ayaṁ kho me, rājakumāra, rattiyā pacchime yāme tatiyā vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno—yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward knowledge of the ending of defilements. I truly understood: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ I truly understood: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements.’
Knowing and seeing like this, my mind was freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When it was freed, I knew it was freed.
I understood: ‘Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.’
This was the third knowledge, which I achieved in the last watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
“Với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, Ta hướng tâm đến trí tuệ về sự đoạn tận các lậu hoặc. Ta đã như thật tuệ tri: ‘Đây là khổ’... (v.v.)... ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ.’ Ta đã như thật tuệ tri: ‘Đây là các lậu hoặc’... (v.v.)... ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.’ Khi Ta biết và thấy như vậy, tâm Ta được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu. Khi đã giải thoát, trí tuệ khởi lên trong Ta: ‘Ta đã được giải thoát.’ Ta biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Này hoàng tử, đó là minh thứ ba Ta đã chứng được trong canh cuối của đêm; vô minh đã được diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã được diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi — như xảy ra cho người sống không phóng dật, nhiệt tâm, và quyết chí.”
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. Ālayarāmā kho panāyaṁ pajā ālayaratā ālayasammuditā. Ālayarāmāya kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāya duddasaṁ idaṁ ṭhānaṁ yadidaṁ—idappaccayatāpaṭiccasamuppādo. Idampi kho ṭhānaṁ duddasaṁ—yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ. Ahañceva kho pana dhammaṁ deseyyaṁ, pare ca me na ājāneyyuṁ, so mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā’ti. Apissu maṁ, rājakumāra, imā anacchariyā gāthāyo paṭibhaṁsu pubbe assutapubbā:
Then it occurred to me, ‘This principle I have discovered is deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute. But people like clinging, they love it and enjoy it. It’s hard for them to see this topic; that is, specific conditionality, dependent origination. It’s also hard for them to see this topic; that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. And if I were to teach this principle, others might not understand me, which would be wearying and troublesome for me.’ And then these verses, which were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past, occurred to me:
337. “Này vương tử, khi ấy ta đã có ý nghĩ này: ‘Pháp này do ta chứng ngộ thật là sâu xa, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao thượng, vượt ngoài tầm tư duy, vi tế, chỉ bậc trí mới có thể thấu hiểu. Còn chúng sanh này lại vui thích trong ái luyến, đam mê trong ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến. Đối với chúng sanh vui thích, đam mê, hoan hỷ trong ái luyến, thật khó thấy được trạng thái này, tức là Lý Duyên Khởi (Idappaccayatāpaṭiccasamuppāda). Trạng thái này cũng thật khó thấy, tức là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu ta thuyết Pháp, mà những người khác không hiểu được lời ta, điều đó sẽ là sự mệt nhọc cho ta, điều đó sẽ là sự phiền não cho ta.’ Hơn nữa, này vương tử, những câu kệ kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã hiện khởi trong ta:”
‘Kicchena me adhigataṁ, halaṁ dāni pakāsituṁ; Rāgadosaparetehi, nāyaṁ dhammo susambudho.
‘I’ve struggled hard to realize this, there’s no need to reveal it now! Those mired in greed and hate can’t really understand this teaching.
‘Pháp ta khó khăn chứng ngộ được, nay không nên tuyên thuyết làm gì; Bởi những kẻ bị tham và sân chi phối, Pháp này không dễ dàng thấu hiểu.
Paṭisotagāmiṁ nipuṇaṁ, gambhīraṁ duddasaṁ aṇuṁ; Rāgarattā na dakkhanti, tamokhandhena āvuṭā’ti.
It goes against the stream, subtle, deep, obscure, and very fine. Those besotted by greed cannot see, for they’re cloaked in a mass of darkness.’
‘Pháp đi ngược dòng, vi tế, sâu xa, khó thấy, vi diệu; Những kẻ đam mê trong ái dục, bị khối vô minh che lấp, sẽ không thấy được.’
Itiha me, rājakumāra, paṭisañcikkhato appossukkatāya cittaṁ namati no dhammadesanāya.
So, as I reflected like this, my mind inclined to remaining passive, not to teaching the Dhamma.
“Này vương tử, khi ta suy xét như vậy, tâm ta hướng về sự không nhiệt tâm, không hướng về việc thuyết pháp.”
Atha kho, rājakumāra, brahmuno sahampatissa mama cetasā cetoparivitakkamaññāya etadahosi: ‘nassati vata bho loko; vinassati vata bho loko. Yatra hi nāma tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa appossukkatāya cittaṁ namati no dhammadesanāyā’ti.
Atha kho, rājakumāra, brahmā sahampati—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito mama purato pāturahosi. Atha kho, rājakumāra, brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yenāhaṁ tenañjaliṁ paṇāmetvā maṁ etadavoca: ‘desetu, bhante, bhagavā dhammaṁ, desetu sugato dhammaṁ. Santi sattā apparajakkhajātikā assavanatāya dhammassa parihāyanti; bhavissanti dhammassa aññātāro’ti.
Idamavoca, rājakumāra, brahmā sahampati; idaṁ vatvā athāparaṁ etadavoca:
Then the divinity Sahampati, knowing my train of thought, thought, ‘Oh lord! The world will be lost, the world will perish! For the mind of the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, inclines to remaining passive, not to teaching the Dhamma.’
Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, the divinity Sahampati vanished from the realm of divinity and reappeared in front of me. He arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward me, and said, ‘Sir, let the Blessed One teach the Dhamma! Let the Holy One teach the Dhamma! There are beings with little dust in their eyes. They’re in decline because they haven’t heard the teaching. There will be those who understand the teaching!’
That is what the divinity Sahampati said. Then he went on to say:
338. “Khi ấy, này vương tử, Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình, biết được ý nghĩ trong tâm ta, đã có ý nghĩ này: ‘Ôi, thế gian thật sự bị hoại vong! Ôi, thế gian thật sự bị hủy diệt! Vì rằng tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lại hướng về sự không nhiệt tâm, không hướng về việc thuyết pháp.’ Khi ấy, này vương tử, Phạm thiên Sahampati, cũng như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, vị ấy biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt ta. Khi ấy, này vương tử, Phạm thiên Sahampati đắp thượng y vắt qua một bên vai, hướng về phía ta, chắp tay lại và nói với ta lời này: ‘Kính bạch Thế Tôn, xin hãy thuyết Pháp. Kính bạch Thiện Thệ, xin hãy thuyết Pháp. Có những chúng sanh thuộc loại ít bụi trong mắt; vì không được nghe Pháp nên họ bị suy thoái; sẽ có những người hiểu được Pháp.’ Này vương tử, Phạm thiên Sahampati đã nói lời này; sau khi nói lời này, vị ấy lại nói thêm lời này:”
‘Pāturahosi magadhesu pubbe, Dhammo asuddho samalehi cintito; Apāpuretaṁ amatassa dvāraṁ, Suṇantu dhammaṁ vimalenānubuddhaṁ.
‘Among the Magadhans there appeared in the past an impure teaching thought up by the stained. Fling open the door to freedom from death! Let them hear the teaching <j>the immaculate one discovered.
‘Trước đây ở xứ Ma-kiệt-đà, đã xuất hiện pháp không thanh tịnh, được suy tư bởi những người còn ô uế. Xin hãy mở cánh cửa bất tử này, xin hãy để họ nghe Pháp đã được bậc Vô Cấu giác ngộ.
Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, Yathāpi passe janataṁ samantato; Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedha, Pāsādamāruyha samantacakkhu.
Standing high on a rocky mountain, you can see the people all around. In just the same way, All-seer, so intelligent, having ascended the Temple of Truth,
‘Như người đứng trên đỉnh núi đá, có thể nhìn thấy mọi người xung quanh; Cũng ví như vậy, hỡi bậc Thiện Tuệ, hỡi bậc có Tuệ nhãn viên mãn, xin hãy lên lầu đài bằng Pháp.
Sokāvatiṇṇaṁ janatamapetasoko, Avekkhassu jātijarābhibhūtaṁ; Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma, Satthavāha aṇaṇa vicara loke; Desassu bhagavā dhammaṁ, Aññātāro bhavissantī’ti.
rid of sorrow, look upon the people swamped with sorrow, <j>overcome by rebirth and old age. Rise, hero! Victor in battle, caravan leader, wander the world free of debt. Let the Blessed One teach the Dhamma! There will be those who understand!’
‘Bậc đã thoát ly sầu muộn, xin hãy nhìn xem chúng sanh đang chìm trong sầu muộn, bị sanh và già chinh phục. Xin hãy đứng lên, hỡi bậc Anh hùng, hỡi bậc đã chiến thắng trận chiến, hỡi bậc Thương chủ, hỡi bậc Vô nợ, xin hãy du hành trong thế gian. Kính bạch Thế Tôn, xin hãy thuyết Pháp, sẽ có những người hiểu được.’
Atha khvāhaṁ, rājakumāra, brahmuno ca ajjhesanaṁ viditvā sattesu ca kāruññataṁ paṭicca buddhacakkhunā lokaṁ volokesiṁ. Addasaṁ kho ahaṁ, rājakumāra, buddhacakkhunā lokaṁ volokento satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvine viharante. Seyyathāpi nāma uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni samodakaṁ ṭhitāni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakā accuggamma ṭhitāni anupalittāni udakena; evameva kho ahaṁ, rājakumāra; buddhacakkhunā lokaṁ volokento addasaṁ satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye, appekacce paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvine viharante. Atha khvāhaṁ, rājakumāra, brahmānaṁ sahampatiṁ gāthāya paccabhāsiṁ:
Then, understanding the Divinity’s invitation, I surveyed the world with the eye of a Buddha, because of my compassion for sentient beings. And I saw sentient beings with little dust in their eyes, and some with much dust in their eyes; with keen faculties and with weak faculties, with good qualities and with bad qualities, easy to teach and hard to teach. And some of them lived seeing the danger in the fault to do with the next world, while others did not. It’s like a pool with blue water lilies, or pink or white lotuses. Some of them sprout and grow in the water without rising above it, thriving underwater. Some of them sprout and grow in the water reaching the water’s surface. And some of them sprout and grow in the water but rise up above the water and stand with no water clinging to them. In the same way, I saw sentient beings with little dust in their eyes, and some with much dust in their eyes. Then I replied in verse to the divinity Sahampati:
339. “Khi ấy, này vương tử, ta biết được lời thỉnh cầu của Phạm thiên và do lòng bi mẫn đối với chúng sanh, đã nhìn khắp thế gian bằng Phật nhãn. Này vương tử, khi nhìn khắp thế gian bằng Phật nhãn, ta đã thấy các chúng sanh ít bụi, nhiều bụi, căn tánh lanh lợi, căn tánh chậm lụt, có tướng trạng tốt, có tướng trạng xấu, dễ dạy, khó dạy, một số sống thấy sự nguy hiểm trong lỗi lầm ở đời sau, một số sống không thấy sự nguy hiểm trong lỗi lầm ở đời sau. Ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hay hồ sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, chưa vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng chìm trong nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, mọc ngang mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm ô nhiễm. Cũng vậy, này vương tử, khi nhìn khắp thế gian bằng Phật nhãn, ta đã thấy các chúng sanh ít bụi, nhiều bụi, căn tánh lanh lợi, căn tánh chậm lụt, có tướng trạng tốt, có tướng trạng xấu, dễ dạy, khó dạy, một số sống thấy sự nguy hiểm trong lỗi lầm ở đời sau, một số sống không thấy sự nguy hiểm trong lỗi lầm ở đời sau. Khi ấy, này vương tử, ta đã trả lời Phạm thiên Sahampati bằng một câu kệ:”
‘Apārutā tesaṁ amatassa dvārā, Ye sotavanto pamuñcantu saddhaṁ; Vihiṁsasaññī paguṇaṁ na bhāsiṁ, Dhammaṁ paṇītaṁ manujesu brahme’ti.
‘Flung open are the doors to freedom from death! Let those with ears to hear commit to faith. Thinking it would be troublesome, Divinity, <j>I did not teach the sophisticated, sublime Dhamma among mankind.’
‘Cánh cửa bất tử đã được mở ra cho họ, những ai có tai nghe, hãy đặt niềm tin. Hỡi Phạm thiên, vì nghĩ rằng sẽ mệt nhọc, ta đã không nói Pháp cao thượng, thuần thục cho loài người.’
Atha kho, rājakumāra, brahmā sahampati ‘katāvakāso khomhi bhagavatā dhammadesanāyā’ti maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Then the divinity Sahampati, knowing that his request for me to teach the Dhamma had been granted, bowed and respectfully circled me, keeping me on his right, before vanishing right there.
340. “Khi ấy, này vương tử, Phạm thiên Sahampati, nghĩ rằng: ‘Ta đã được Thế Tôn cho phép thuyết pháp,’ liền đảnh lễ ta, đi nhiễu bên phải, và biến mất ngay tại chỗ đó.”
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ? Ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti? Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘ayaṁ kho āḷāro kālāmo paṇḍito viyatto medhāvī dīgharattaṁ apparajakkhajātiko. Yannūnāhaṁ āḷārassa kālāmassa paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ; so imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti. Atha kho maṁ, rājakumāra, devatā upasaṅkamitvā etadavoca: ‘sattāhakālaṅkato, bhante, āḷāro kālāmo’ti.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘sattāhakālaṅkato āḷāro kālāmo’ti. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘mahājāniyo kho āḷāro kālāmo. Sace hi so imaṁ dhammaṁ suṇeyya, khippameva ājāneyyā’ti.
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ? Ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti? Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘ayaṁ kho udako rāmaputto paṇḍito viyatto medhāvī dīgharattaṁ apparajakkhajātiko. Yannūnāhaṁ udakassa rāmaputtassa paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ; so imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti. Atha kho maṁ, rājakumāra, devatā upasaṅkamitvā etadavoca: ‘abhidosakālaṅkato, bhante, udako rāmaputto’ti.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘abhidosakālaṅkato udako rāmaputto’ti. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘mahājāniyo kho udako rāmaputto. Sace hi so imaṁ dhammaṁ suṇeyya, khippameva ājāneyyā’ti.
Then it occurred to me, ‘Who should I teach first of all? Who will quickly understand the teaching?’ Then it occurred to me, ‘That Āḷāra Kālāma is astute, competent, intelligent, and has long had little dust in his eyes. Why don’t I teach him first of all? He’ll quickly understand the teaching.’ But a deity came to me and said, ‘Sir, Āḷāra Kālāma passed away seven days ago.’
And knowledge and vision arose in me, ‘Āḷāra Kālāma passed away seven days ago.’ Then it occurred to me, ‘This is a great loss for Āḷāra Kālāma. If he had heard the teaching, he would have understood it quickly.’
Then it occurred to me, ‘Who should I teach first of all? Who will quickly understand the teaching?’ Then it occurred to me, ‘That Uddaka son of Rāma is astute, competent, intelligent, and has long had little dust in his eyes. Why don’t I teach him first of all? He’ll quickly understand the teaching.’ But a deity came to me and said, ‘Sir, Uddaka son of Rāma, passed away just last night.’
And knowledge and vision arose in me, ‘Uddaka son of Rāma, passed away just last night.’ Then it occurred to me, ‘This is a great loss for Uddaka. If he had heard the teaching, he would have understood it quickly.’
Này vương tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Ta nên thuyết Pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ nhanh chóng liễu tri được Pháp này?’ Này vương tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Vị Āḷāra Kālāma này là bậc hiền trí, thông minh, có trí tuệ, từ lâu đã ít bụi trần trong mắt. Ta nên thuyết Pháp cho Āḷāra Kālāma trước tiên; vị ấy sẽ nhanh chóng liễu tri được Pháp này.’ Này vương tử, khi ấy, một vị chư thiên đã đến gần Ta và nói điều này: ‘Bạch Thế Tôn, Āḷāra Kālāma đã mệnh chung được bảy ngày.’ Và tri kiến đã khởi lên nơi Ta: ‘Āḷāra Kālāma đã mệnh chung được bảy ngày.’ Này vương tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Āḷāra Kālāma quả là một tổn thất lớn lao. Nếu vị ấy được nghe Pháp này, hẳn đã nhanh chóng liễu tri.’ Này vương tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Ta nên thuyết Pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ nhanh chóng liễu tri được Pháp này?’ Này vương tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Vị Udaka Rāmaputta này là bậc hiền trí, thông minh, có trí tuệ, từ lâu đã ít bụi trần trong mắt. Ta nên thuyết Pháp cho Udaka Rāmaputta trước tiên; vị ấy sẽ nhanh chóng liễu tri được Pháp này.’ Này vương tử, khi ấy, một vị chư thiên đã đến gần Ta và nói điều này: ‘Bạch Thế Tôn, Udaka Rāmaputta đã mệnh chung đêm qua.’ Và tri kiến đã khởi lên nơi Ta: ‘Udaka Rāmaputta đã mệnh chung đêm qua.’ Này vương tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Udaka Rāmaputta quả là một tổn thất lớn lao. Nếu vị ấy được nghe Pháp này, hẳn đã nhanh chóng liễu tri.’
Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ? Ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti? Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘bahukārā kho me pañcavaggiyā bhikkhū ye maṁ padhānapahitattaṁ upaṭṭhahiṁsu. Yannūnāhaṁ pañcavaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyan’ti. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, etadahosi: ‘kahaṁ nu kho etarahi pañcavaggiyā bhikkhū viharantī’ti. Addasaṁ khvāhaṁ, rājakumāra, dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena pañcavaggiye bhikkhū bārāṇasiyaṁ viharante isipatane migadāye.
Atha khvāhaṁ, rājakumāra, uruvelāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena bārāṇasī tena cārikaṁ pakkamiṁ.
Then it occurred to me, ‘Who should I teach first of all? Who will quickly understand the teaching?’ Then it occurred to me, ‘The group of five mendicants were very helpful to me. They looked after me during my time of resolute striving. Why don’t I teach them first of all?’ Then it occurred to me, ‘Where are the group of five mendicants staying these days?’ With clairvoyance that is purified and superhuman I saw that the group of five mendicants were staying near Varanasi in the deer park at Isipatana.
So, when I had stayed in Uruvelā as long as I pleased, I set out for Varanasi.
341. Này vương tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Ta nên thuyết Pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ nhanh chóng liễu tri được Pháp này?’ Này vương tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Nhóm năm vị tỳ khưu đã giúp đỡ Ta rất nhiều, những vị đã hầu hạ Ta khi Ta đang tinh cần nỗ lực. Ta nên thuyết Pháp cho nhóm năm vị tỳ khưu trước tiên.’ Này vương tử, Ta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Hiện nay nhóm năm vị tỳ khưu đang trú ở đâu?’ Này vương tử, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta đã thấy nhóm năm vị tỳ khưu đang trú tại Isipatana, ở Migadāya (Vườn Lộc Uyển) tại Bārāṇasī (Ba-la-nại). Này vương tử, sau khi trú tại Uruvelā tùy thích, Ta đã lên đường du hành đến Bārāṇasī.
Addasā kho maṁ, rājakumāra, upako ājīvako antarā ca gayaṁ antarā ca bodhiṁ addhānamaggappaṭipannaṁ. Disvāna maṁ etadavoca: ‘vippasannāni kho te, āvuso, indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto. Kaṁsi tvaṁ, āvuso, uddissa pabbajito? Ko vā te satthā? Kassa vā tvaṁ dhammaṁ rocesī’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, rājakumāra, upakaṁ ājīvakaṁ gāthāhi ajjhabhāsiṁ:
While I was traveling along the road between Gayā and Bodhgaya, the Ājīvaka ascetic Upaka saw me and said, ‘Reverend, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright. In whose name have you gone forth, reverend? Who is your Teacher? Whose teaching do you believe in?’
I replied to Upaka in verse:
Này vương tử, lõa thể ngoại đạo Upaka đã thấy Ta đang đi trên đường, giữa Gayā và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, ông ta đã nói với Ta điều này: ‘Này hiền hữu, các căn của ngài thật trong sáng, sắc da của ngài thanh tịnh, trong sạch. Này hiền hữu, ngài xuất gia vì ai? Ai là thầy của ngài? Hay ngài ưa thích pháp của ai?’ Này vương tử, khi được nói như vậy, Ta đã nói với lõa thể ngoại đạo Upaka bằng các bài kệ:
‘Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi, Sabbesu dhammesu anūpalitto; Sabbañjaho taṇhākkhaye vimutto, Sayaṁ abhiññāya kamuddiseyyaṁ.
‘I am the vanquisher of all, the knower of all, unsullied in the midst of all things. I’ve given up all, freed in the ending of craving. Since I know for myself, whose follower should I be?
Ta là bậc chinh phục tất cả, bậc biết tất cả, không bị ô nhiễm trong tất cả các pháp; đã từ bỏ tất cả, đã giải thoát trong sự đoạn tận ái dục. Tự mình thắng tri, ta biết chỉ ai (làm thầy)?
Na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati; Sadevakasmiṁ lokasmiṁ, natthi me paṭipuggalo.
I have no tutor. There is no one like me. In the world with its gods, I have no rival.
Ta không có thầy, không có ai bằng ta; trong thế giới cùng với chư thiên, không có ai đối thủ với ta.
Ahañhi arahā loke, ahaṁ satthā anuttaro; Ekomhi sammāsambuddho, sītibhūtosmi nibbuto.
For in this world, I am the perfected one; I am the supreme Teacher. I alone am fully awakened, cooled, quenched.
Ta là bậc A-la-hán trong đời, Ta là bậc đạo sư vô thượng; Ta là bậc Chánh Đẳng Giác duy nhất, đã trở nên thanh lương, đã tịch tịnh.
Dhammacakkaṁ pavattetuṁ, Gacchāmi kāsinaṁ puraṁ; Andhībhūtasmiṁ lokasmiṁ, Āhañchaṁ amatadundubhin’ti.
I am going to the city of Kāsi to roll forth the Wheel of Dhamma. In this world that is so blind, I’ll beat the drum of freedom from death!’
Để chuyển bánh xe Pháp, Ta đi đến thành của người Kāsī; trong thế giới đã trở nên mù lòa, Ta sẽ đánh trống bất tử.
‘Yathā kho tvaṁ, āvuso, paṭijānāsi arahasi anantajino’ti.
‘According to what you claim, reverend, you ought to be the Infinite Victor.’
Này hiền hữu, theo như ngài tự nhận, ngài xứng đáng là bậc chiến thắng vô tận.
‘Mādisā ve jinā honti, ye pattā āsavakkhayaṁ; Jitā me pāpakā dhammā, tasmāhamupaka jino’ti.
‘The victors are those who, like me, have reached the ending of defilements. I have conquered bad qualities, Upaka—that’s why I’m a victor.’
Những bậc chiến thắng là những người như ta, những vị đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc; ta đã chiến thắng các pháp ác, vì thế, này Upaka, ta là bậc chiến thắng.
Evaṁ vutte, rājakumāra, upako ājīvako ‘hupeyyapāvuso’ti vatvā sīsaṁ okampetvā ummaggaṁ gahetvā pakkāmi.
When I had spoken, Upaka said: ‘If you say so, reverend.’ Shaking his head, he took a wrong turn and left.
Này vương tử, khi được nói như vậy, lõa thể ngoại đạo Upaka nói: ‘Có thể là vậy, hiền hữu,’ rồi lắc đầu, đi theo một ngã rẽ khác và ra đi.
Atha khvāhaṁ, rājakumāra, anupubbena cārikaṁ caramāno yena bārāṇasī isipatanaṁ migadāyo yena pañcavaggiyā bhikkhū tenupasaṅkamiṁ. Addasaṁsu kho maṁ, rājakumāra, pañcavaggiyā bhikkhū dūratova āgacchantaṁ. Disvāna aññamaññaṁ saṇṭhapesuṁ: ‘ayaṁ kho, āvuso, samaṇo gotamo āgacchati bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya. So neva abhivādetabbo, na paccuṭṭhātabbo, nāssa pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ; api ca kho āsanaṁ ṭhapetabbaṁ—sace so ākaṅkhissati nisīdissatī’ti.
Yathā yathā kho ahaṁ, rājakumāra, pañcavaggiye bhikkhū upasaṅkamiṁ tathā tathā pañcavaggiyā bhikkhū nāsakkhiṁsu sakāya katikāya saṇṭhātuṁ. Appekacce maṁ paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahesuṁ. Appekacce āsanaṁ paññapesuṁ. Appekacce pādodakaṁ upaṭṭhapesuṁ. Api ca kho maṁ nāmena ca āvusovādena ca samudācaranti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, rājakumāra, pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṁ: ‘mā, bhikkhave, tathāgataṁ nāmena ca āvusovādena ca samudācaratha; arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho. Odahatha, bhikkhave, sotaṁ. Amatamadhigataṁ ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Evaṁ vutte, rājakumāra, pañcavaggiyā bhikkhū maṁ etadavocuṁ: ‘tāyapi kho tvaṁ, āvuso gotama, iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ; kiṁ pana tvaṁ etarahi bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, rājakumāra, pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṁ: ‘na, bhikkhave, tathāgato bāhulliko na padhānavibbhanto na āvatto bāhullāya. Arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho. Odahatha, bhikkhave, sotaṁ. Amatamadhigataṁ ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Dutiyampi kho, rājakumāra, pañcavaggiyā bhikkhū maṁ etadavocuṁ: ‘tāyapi kho tvaṁ, āvuso gotama, iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ; kiṁ pana tvaṁ etarahi bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan’ti?
Dutiyampi kho ahaṁ, rājakumāra, pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṁ: ‘na, bhikkhave, tathāgato bāhulliko na padhānavibbhanto na āvatto bāhullāya. Arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho. Odahatha, bhikkhave, sotaṁ. Amatamadhigataṁ ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Tatiyampi kho, rājakumāra, pañcavaggiyā bhikkhū maṁ etadavocuṁ: ‘tāyapi kho tvaṁ, āvuso gotama, iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ; kiṁ pana tvaṁ etarahi bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, rājakumāra, pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṁ: ‘abhijānātha me no tumhe, bhikkhave, ito pubbe evarūpaṁ pabhāvitametan’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho. Odahatha, bhikkhave, sotaṁ. Amatamadhigataṁ ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Traveling stage by stage, I arrived at Varanasi, and went to see the group of five mendicants in the deer park at Isipatana. The group of five mendicants saw me coming off in the distance and stopped each other, saying, ‘Here comes the ascetic Gotama. He’s so indulgent; he strayed from the struggle and returned to indulgence. We shouldn’t bow to him or rise for him or receive his bowl and robe. But we can set out a seat; he can sit if he likes.’
Yet as I drew closer, the group of five mendicants were unable to stop themselves per their own agreement. Some came out to greet me and receive my bowl and robe, some spread out a seat, while others set out water for washing my feet. But they still addressed me by name and as ‘reverend’.
So I said to them, ‘Mendicants, don’t address me by name and as “reverend”. The Realized One is Perfected, a fully awakened Buddha. Listen up, mendicants: I have achieved freedom from death! I shall instruct you, I will teach you the Dhamma. By practicing as instructed you will soon realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. You will live having achieved with your own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’
But they said to me, ‘Reverend Gotama, even by that conduct, that practice, that grueling work you did not achieve any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. How could you have achieved such a state now that you’ve become indulgent, strayed from the struggle and fallen into indulgence?’
So I said to them, ‘The Realized One has not become indulgent, strayed from the struggle and fallen into indulgence. The Realized One is Perfected, a fully awakened Buddha. Listen up, mendicants: I have achieved freedom from death! I shall instruct you, I will teach you the Dhamma. By practicing as instructed you will soon realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. You will live having achieved with your own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’
But for a second time they said to me, ‘Reverend Gotama … you’ve fallen into indulgence.’
So for a second time I said to them, ‘The Realized One has not become indulgent …’
But for a third time they said to me, ‘Reverend Gotama … you’ve fallen into indulgence.’
So I said to them, ‘Mendicants, have you ever known me to speak like this before?’
‘No, sir.’
‘The Realized One is Perfected, a fully awakened Buddha. Listen up, mendicants: I have achieved freedom from death! I shall instruct you, I will teach you the Dhamma. By practicing as instructed you will soon realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. You will live having achieved with your own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’
342. ‘‘Này vương tử, rồi Ta, tuần tự du hành, đi đến chỗ các tỳ khưu nhóm năm vị ở, tại Bārāṇasī, ở Isipatana, Migadāya (vườn Lộc Uyển). Này vương tử, các tỳ khưu nhóm năm vị thấy Ta đang đi đến từ xa. Thấy vậy, họ bàn với nhau rằng: ‘Này chư hiền, sa-môn Gotama này đang đi đến, người đã sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về với đời sống sung túc. Vị ấy không đáng được đảnh lễ, không đáng được đứng dậy chào đón, y bát của vị ấy không đáng được nhận lấy; tuy nhiên, một chỗ ngồi nên được soạn sẵn – nếu vị ấy muốn, vị ấy sẽ ngồi.’ Này vương tử, khi Ta càng đến gần các tỳ khưu nhóm năm vị, thì họ càng không thể giữ được giao ước của mình. Một số vị đã ra đón và nhận lấy y bát của Ta. Một số vị đã soạn chỗ ngồi. Một số vị đã đặt sẵn nước rửa chân. Và họ đã gọi Ta bằng tên và bằng từ ‘hiền giả’ (āvuso). Khi được nói như vậy, này vương tử, Ta đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị rằng: ‘Này các tỳ khưu, đừng gọi Như Lai bằng tên và bằng từ ‘hiền giả’. Này các tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe. Bất tử đã được chứng đắc. Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Khi thực hành đúng theo lời giáo huấn, không bao lâu, các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.’ Khi được nói như vậy, này vương tử, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với Ta rằng: ‘Này hiền giả Gotama, với oai nghi ấy, với pháp hành ấy, với khổ hạnh ấy, ngài đã không chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh; huống nữa là bây giờ, khi ngài đã sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về với đời sống sung túc, làm sao ngài có thể chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh?’ Khi được nói như vậy, này vương tử, Ta đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị rằng: ‘Này các tỳ khưu, Như Lai không sống trong sự sung túc, không từ bỏ tinh tấn, không quay về với đời sống sung túc. Này các tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe. Bất tử đã được chứng đắc. Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Khi thực hành đúng theo lời giáo huấn, không bao lâu, các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.’ Này vương tử, lần thứ hai, các tỳ khưu nhóm năm vị lại nói với Ta rằng: ‘Này hiền giả Gotama, với oai nghi ấy, với pháp hành ấy, với khổ hạnh ấy, ngài đã không chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh; huống nữa là bây giờ, khi ngài đã sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về với đời sống sung túc, làm sao ngài có thể chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh?’ Này vương tử, lần thứ hai, Ta lại nói với các tỳ khưu nhóm năm vị rằng: ‘Này các tỳ khưu, Như Lai không sống trong sự sung túc, không từ bỏ tinh tấn, không quay về với đời sống sung túc. Này các tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe. Bất tử đã được chứng đắc. Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Khi thực hành đúng theo lời giáo huấn, không bao lâu, các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.’ Này vương tử, lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm năm vị lại nói với Ta rằng: ‘Này hiền giả Gotama, với oai nghi ấy, với pháp hành ấy, với khổ hạnh ấy, ngài đã không chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh; huống nữa là bây giờ, khi ngài đã sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về với đời sống sung túc, làm sao ngài có thể chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh?’ Khi được nói như vậy, này vương tử, Ta đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị rằng: ‘Này các tỳ khưu, các ngươi có nhớ rằng trước đây Ta đã từng nói những lời như thế này chưa?’ ‘Bạch ngài, quả thật là chưa.’ ‘Này các tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe. Bất tử đã được chứng đắc. Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Khi thực hành đúng theo lời giáo huấn, không bao lâu, các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.’
Asakkhiṁ kho ahaṁ, rājakumāra, pañcavaggiye bhikkhū saññāpetuṁ. Dvepi sudaṁ, rājakumāra, bhikkhū ovadāmi. Tayo bhikkhū piṇḍāya caranti. Yaṁ tayo bhikkhū piṇḍāya caritvā āharanti, tena chabbaggiyā yāpema. Tayopi sudaṁ, rājakumāra, bhikkhū ovadāmi, dve bhikkhū piṇḍāya caranti. Yaṁ dve bhikkhū piṇḍāya caritvā āharanti tena chabbaggiyā yāpema.
I was able to persuade the group of five mendicants. Then sometimes I advised two mendicants, while the other three went for alms. Then those three would feed all six of us with what they brought back. Sometimes I advised three mendicants, while the other two went for alms. Then those two would feed all six of us with what they brought back.
Này vương tử, ta đã có thể làm cho nhóm năm vị tỳ khưu giác ngộ. Này vương tử, ta giáo huấn hai vị tỳ khưu, thì ba vị tỳ khưu đi khất thực. Với vật thực mà ba vị tỳ khưu đi khất thực mang về, sáu người chúng ta sống. Này vương tử, ta giáo huấn ba vị tỳ khưu, thì hai vị tỳ khưu đi khất thực. Với vật thực mà hai vị tỳ khưu đi khất thực mang về, sáu người chúng ta sống.
Atha kho, rājakumāra, pañcavaggiyā bhikkhū mayā evaṁ ovadiyamānā evaṁ anusāsiyamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihariṁsū”ti.
Evaṁ vutte, bodhi rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “kīva cirena nu kho, bhante, bhikkhu tathāgataṁ vināyakaṁ labhamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā”ti?
“Tena hi, rājakumāra, taṁyevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya, tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, kusalo tvaṁ hatthārūḷhe aṅkusagayhe sippe”ti?
“Evaṁ, bhante, kusalo ahaṁ hatthārūḷhe aṅkusagayhe sippe”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, idha puriso āgaccheyya: ‘bodhi rājakumāro hatthārūḷhaṁ aṅkusagayhaṁ sippaṁ jānāti; tassāhaṁ santike hatthārūḷhaṁ aṅkusagayhaṁ sippaṁ sikkhissāmī’ti. So cassa assaddho; yāvatakaṁ saddhena pattabbaṁ taṁ na sampāpuṇeyya. So cassa bahvābādho; yāvatakaṁ appābādhena pattabbaṁ taṁ na sampāpuṇeyya. So cassa saṭho māyāvī; yāvatakaṁ asaṭhena amāyāvinā pattabbaṁ taṁ na sampāpuṇeyya. So cassa kusīto; yāvatakaṁ āraddhavīriyena pattabbaṁ taṁ na sampāpuṇeyya. So cassa duppañño; yāvatakaṁ paññavatā pattabbaṁ taṁ na sampāpuṇeyya. Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, api nu so puriso tava santike hatthārūḷhaṁ aṅkusagayhaṁ sippaṁ sikkheyyā”ti?
“Ekamekenāpi, bhante, aṅgena samannāgato so puriso na mama santike hatthārūḷhaṁ aṅkusagayhaṁ sippaṁ sikkheyya, ko pana vādo pañcahaṅgehī”ti.
As the group of five mendicants were being advised and instructed by me like this, they soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. They lived having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.”
When he had spoken, Prince Bodhi said to the Buddha, “Sir, when a mendicant has the Realized One as trainer, how long would it take for them to realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life?”
“Well then, prince, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, prince? Are you skilled in the art of wielding a hooked goad while riding an elephant?”
“Yes, sir.”
“What do you think, prince? Suppose a man were to come along thinking, ‘Prince Bodhi knows the art of wielding a hooked goad while riding an elephant. I’ll train in that art under him.’ If he’s faithless, he wouldn’t achieve what he could with faith. If he’s unhealthy, he wouldn’t achieve what he could with good health. If he’s devious or deceitful, he wouldn’t achieve what he could with honesty and integrity. If he’s lazy, he wouldn’t achieve what he could with energy. If he’s stupid, he wouldn’t achieve what he could with wisdom. What do you think, prince? Could that man still train under you in the art of wielding a hooked goad while riding an elephant?”
“Sir, if he had even a single one of these factors he couldn’t train under me, let alone all five.”
343. Này vương tử, khi được ta giáo huấn như vậy, được ta chỉ dạy như vậy, không bao lâu sau, nhóm năm vị tỳ khưu ấy -- vì mục đích nào mà các thiện gia nam tử chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình, mục đích ấy là sự kết thúc phạm hạnh vô thượng -- ngay trong hiện tại, các vị ấy đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Khi được nói như vậy, vương tử Bodhi bạch với đức Thế Tôn rằng: -- Bạch ngài, một vị tỳ khưu có được đức Như Lai là người huấn luyện, thì trong bao lâu -- vì mục đích nào mà các thiện gia nam tử chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình, mục đích ấy là sự kết thúc phạm hạnh vô thượng -- ngay trong hiện tại, vị ấy có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú? -- Vậy thì, này vương tử, về vấn đề này, ta sẽ hỏi lại vương tử. Hãy trả lời theo như vương tử thấy hợp ý. Này vương tử, vương tử nghĩ thế nào, vương tử có thiện xảo trong nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt không? -- Thưa vâng, bạch ngài, con thiện xảo trong nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt. -- Này vương tử, vương tử nghĩ thế nào, giả sử có một người đến đây, nghĩ rằng: ‘Vương tử Bodhi biết nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt; ta sẽ học nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt từ nơi ngài.’ Người ấy không có đức tin; những gì có thể đạt được bởi người có đức tin, người ấy không thể đạt được. Người ấy nhiều bệnh tật; những gì có thể đạt được bởi người ít bệnh tật, người ấy không thể đạt được. Người ấy xảo trá, gian dối; những gì có thể đạt được bởi người không xảo trá, không gian dối, người ấy không thể đạt được. Người ấy lười biếng; những gì có thể đạt được bởi người tinh tấn, người ấy không thể đạt được. Người ấy trí tuệ kém cỏi; những gì có thể đạt được bởi người có trí tuệ, người ấy không thể đạt được. Này vương tử, vương tử nghĩ thế nào, người ấy có thể học được nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt từ nơi vương tử không? -- Bạch ngài, dù chỉ có một trong các yếu tố ấy, người đó cũng không thể học được nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt từ nơi con, huống hồ là cả năm yếu tố!
“Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, idha puriso āgaccheyya: ‘bodhi rājakumāro hatthārūḷhaṁ aṅkusagayhaṁ sippaṁ jānāti; tassāhaṁ santike hatthārūḷhaṁ aṅkusagayhaṁ sippaṁ sikkhissāmī’ti. So cassa saddho; yāvatakaṁ saddhena pattabbaṁ taṁ sampāpuṇeyya. So cassa appābādho; yāvatakaṁ appābādhena pattabbaṁ taṁ sampāpuṇeyya. So cassa asaṭho amāyāvī; yāvatakaṁ asaṭhena amāyāvinā pattabbaṁ taṁ sampāpuṇeyya. So cassa āraddhavīriyo; yāvatakaṁ āraddhavīriyena pattabbaṁ taṁ sampāpuṇeyya. So cassa paññavā; yāvatakaṁ paññavatā pattabbaṁ taṁ sampāpuṇeyya. Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, api nu so puriso tava santike hatthārūḷhaṁ aṅkusagayhaṁ sippaṁ sikkheyyā”ti?
“Ekamekenāpi, bhante, aṅgena samannāgato so puriso mama santike hatthārūḷhaṁ aṅkusagayhaṁ sippaṁ sikkheyya, ko pana vādo pañcahaṅgehī”ti.
“Evameva kho, rājakumāra, pañcimāni padhāniyaṅgāni. Katamāni pañca? Idha, rājakumāra, bhikkhu saddho hoti; saddahati tathāgatassa bodhiṁ: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti; appābādho hoti appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya; asaṭho hoti amāyāvī yathābhūtaṁ attānaṁ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu; āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu; paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā. Imāni kho, rājakumāra, pañca padhāniyaṅgāni.
“What do you think, prince? Suppose a man were to come along thinking, ‘Prince Bodhi knows the art of wielding a hooked goad while riding an elephant. I’ll train in that art under him.’ If he’s faithful, he’d achieve what he could with faith. If he’s healthy, he’d achieve what he could with good health. If he’s honest and has integrity, he’d achieve what he could with honesty and integrity. If he’s energetic, he’d achieve what he could with energy. If he’s wise, he’d achieve what he could with wisdom. What do you think, prince? Could that man still train under you in the art of wielding a hooked goad while riding an elephant?”
“Sir, if he had even a single one of these factors he could train under me, let alone all five.”
“In the same way, prince, there are these five factors that support meditation. What five? It’s when a noble disciple has faith in the Realized One’s awakening: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ They are rarely ill or unwell. Their stomach digests well, being neither too hot nor too cold, but just right, and fit for meditation. They’re not devious or deceitful. They reveal themselves honestly to the Teacher or sensible spiritual companions. They live with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. They’re wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. These are the five factors that support meditation.
344. Này vương tử, vương tử nghĩ thế nào, giả sử có một người đến đây, nghĩ rằng: ‘Vương tử Bodhi biết nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt; ta sẽ học nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt từ nơi ngài.’ Người ấy có đức tin; những gì có thể đạt được bởi người có đức tin, người ấy có thể đạt được. Người ấy ít bệnh tật; những gì có thể đạt được bởi người ít bệnh tật, người ấy có thể đạt được. Người ấy không xảo trá, không gian dối; những gì có thể đạt được bởi người không xảo trá, không gian dối, người ấy có thể đạt được. Người ấy tinh tấn; những gì có thể đạt được bởi người tinh tấn, người ấy có thể đạt được. Người ấy có trí tuệ; những gì có thể đạt được bởi người có trí tuệ, người ấy có thể đạt được. Này vương tử, vương tử nghĩ thế nào, người ấy có thể học được nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt từ nơi vương tử không? -- Bạch ngài, dù chỉ có một trong các yếu tố ấy, người đó cũng có thể học được nghệ thuật cưỡi voi và điều khiển bằng móc sắt từ nơi con, huống hồ là cả năm yếu tố! -- Cũng vậy, này vương tử, có năm yếu tố của sự tinh cần này. Thế nào là năm? Này vương tử, ở đây, vị tỳ khưu có đức tin; tin vào sự giác ngộ của đức Như Lai rằng: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn’; vị ấy ít bệnh tật, ít phiền não, có hệ tiêu hóa tốt, không quá lạnh, không quá nóng, trung bình, thích hợp cho sự tinh cần; vị ấy không xảo trá, không gian dối, thể hiện bản thân một cách chân thật với bậc Đạo sư hoặc với các vị đồng phạm hạnh thông thái; vị ấy sống tinh tấn để từ bỏ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, có nghị lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện; vị ấy có trí tuệ, được trang bị trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ bậc thánh, có khả năng xuyên thủng, dẫn đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Này vương tử, đây là năm yếu tố của sự tinh cần.
Imehi, rājakumāra, pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgato bhikkhu tathāgataṁ vināyakaṁ labhamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya satta vassāni. Tiṭṭhantu, rājakumāra, satta vassāni. Imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgato bhikkhu tathāgataṁ vināyakaṁ labhamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya chabbassāni … pañca vassāni … cattāri vassāni … tīṇi vassāni … dve vassāni … ekaṁ vassaṁ. Tiṭṭhatu, rājakumāra, ekaṁ vassaṁ. Imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgato bhikkhu tathāgataṁ vināyakaṁ labhamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya satta māsāni. Tiṭṭhantu, rājakumāra, satta māsāni. Imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgato bhikkhu tathāgataṁ vināyakaṁ labhamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya cha māsāni … pañca māsāni … cattāri māsāni … tīṇi māsāni … dve māsāni … ekaṁ māsaṁ … aḍḍhamāsaṁ. Tiṭṭhatu, rājakumāra, aḍḍhamāso. Imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgato bhikkhu tathāgataṁ vināyakaṁ labhamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya satta rattindivāni. Tiṭṭhantu, rājakumāra, satta rattindivāni. Imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgato bhikkhu tathāgataṁ vināyakaṁ labhamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya cha rattindivāni … pañca rattindivāni … cattāri rattindivāni … tīṇi rattindivāni … dve rattindivāni … ekaṁ rattindivaṁ. Tiṭṭhatu, rājakumāra, eko rattindivo. Imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgato bhikkhu tathāgataṁ vināyakaṁ labhamāno sāyamanusiṭṭho pāto visesaṁ adhigamissati, pātamanusiṭṭho sāyaṁ visesaṁ adhigamissatī”ti.
Evaṁ vutte, bodhi rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “aho buddho, aho dhammo, aho dhammassa svākkhātatā. Yatra hi nāma sāyamanusiṭṭho pāto visesaṁ adhigamissati, pātamanusiṭṭho sāyaṁ visesaṁ adhigamissatī”ti.
When a mendicant with these five factors that support meditation has the Realized One as trainer, they could realize the supreme culmination of the spiritual path in seven years. Let alone seven years, they could realize the supreme culmination of the spiritual path in six years, or as little as one year. Let alone one year, when a mendicant with these five factors that support meditation has the Realized One as trainer, they could realize the supreme culmination of the spiritual path in seven months, or as little as one day. Let alone one day, when a mendicant with these five factors that support meditation has the Realized One as trainer, they could be instructed at dusk and achieve distinction at daybreak, or be instructed at daybreak and achieve distinction at dusk.”
When he had spoken, Prince Bodhi said to the Buddha, “Oh, the Buddha! Oh, the teaching! Oh, how well explained is the teaching! For someone could be instructed at dusk and achieve distinction at daybreak, or be instructed at daybreak and achieve distinction at dusk.”
345. “Này vương tử, vị tỳ khưu được thành tựu năm yếu tố tinh tấn này, sau khi có được Như Lai là người huấn luyện, có thể trú sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã thành tựu và đạt đến mục đích vô thượng của phạm hạnh -- là mục đích mà vì nó các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình -- trong vòng bảy năm. Này vương tử, hãy để bảy năm qua một bên. Vị tỳ khưu được thành tựu năm yếu tố tinh tấn này, sau khi có được Như Lai là người huấn luyện, có thể trú sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã thành tựu và đạt đến mục đích vô thượng của phạm hạnh -- là mục đích mà vì nó các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình -- trong vòng sáu năm... năm năm... bốn năm... ba năm... hai năm... một năm. Này vương tử, hãy để một năm qua một bên. Vị tỳ khưu được thành tựu năm yếu tố tinh tấn này, sau khi có được Như Lai là người huấn luyện, có thể trú sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã thành tựu và đạt đến mục đích vô thượng của phạm hạnh -- là mục đích mà vì nó các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình -- trong vòng bảy tháng. Này vương tử, hãy để bảy tháng qua một bên. Vị tỳ khưu được thành tựu năm yếu tố tinh tấn này, sau khi có được Như Lai là người huấn luyện, có thể trú sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã thành tựu và đạt đến mục đích vô thượng của phạm hạnh -- là mục đích mà vì nó các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình -- trong vòng sáu tháng... năm tháng... bốn tháng... ba tháng... hai tháng... một tháng... nửa tháng. Này vương tử, hãy để nửa tháng qua một bên. Vị tỳ khưu được thành tựu năm yếu tố tinh tấn này, sau khi có được Như Lai là người huấn luyện, có thể trú sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã thành tựu và đạt đến mục đích vô thượng của phạm hạnh -- là mục đích mà vì nó các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình -- trong vòng bảy ngày đêm. Này vương tử, hãy để bảy ngày đêm qua một bên. Vị tỳ khưu được thành tựu năm yếu tố tinh tấn này, sau khi có được Như Lai là người huấn luyện, có thể trú sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã thành tựu và đạt đến mục đích vô thượng của phạm hạnh -- là mục đích mà vì nó các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình -- trong vòng sáu ngày đêm... năm ngày đêm... bốn ngày đêm... ba ngày đêm... hai ngày đêm... một ngày đêm. Này vương tử, hãy để một ngày đêm qua một bên. Vị tỳ khưu được thành tựu năm yếu tố tinh tấn này, sau khi có được Như Lai là người huấn luyện, nếu được chỉ dạy vào buổi chiều thì sẽ chứng đắc sự đặc biệt vào buổi sáng, nếu được chỉ dạy vào buổi sáng thì sẽ chứng đắc sự đặc biệt vào buổi chiều.” Khi được nói như vậy, vương tử Bodhi đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Thật vi diệu thay đức Phật! Thật vi diệu thay Giáo Pháp! Thật khéo thuyết giảng thay Giáo Pháp! Vì rằng, người được chỉ dạy vào buổi chiều sẽ chứng đắc sự đặc biệt vào buổi sáng, người được chỉ dạy vào buổi sáng sẽ chứng đắc sự đặc biệt vào buổi chiều!”
Evaṁ vutte, sañjikāputto māṇavo bodhiṁ rājakumāraṁ etadavoca: “evameva panāyaṁ bhavaṁ bodhi: ‘aho buddho, aho dhammo, aho dhammassa svākkhātatā’ti ca vadeti; atha ca pana na taṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchati dhammañca bhikkhusaṅghañcā”ti.
“Mā hevaṁ, samma sañjikāputta, avaca; mā hevaṁ, samma sañjikāputta, avaca. Sammukhā metaṁ, samma sañjikāputta, ayyāya sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ”. “Ekamidaṁ, samma sañjikāputta, samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme. Atha kho me ayyā kucchimatī yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho me ayyā bhagavantaṁ etadavoca: ‘yo me ayaṁ, bhante, kucchigato kumārako vā kumārikā vā so bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchati dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ taṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan’ti.
Ekamidaṁ, samma sañjikāputta, samayaṁ bhagavā idheva bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye. Atha kho maṁ dhāti aṅkena haritvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho maṁ dhāti bhagavantaṁ etadavoca: ‘ayaṁ, bhante, bodhi rājakumāro bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchati dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ taṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan’ti.
Esāhaṁ, samma sañjikāputta, tatiyakampi bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he said this, Sañjikāputta said to Prince Bodhi, “Though the worthy Bodhi speaks like this, you don’t go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.”
“Don’t say that, dear Sañjikāputta, don’t say that! I have heard and learned this in the presence of my lady mother. This one time the Buddha was staying near Kosambī in Ghosita’s monastery. Then my pregnant lady mother went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, ‘Sir, the prince or princess in my womb goes for refuge to the Buddha, the teaching, and the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the Buddha remember them as a lay follower who has gone for refuge for life.’
Another time the Buddha was staying here in the land of the Bhaggas at Crocodile’s Bellow, in the deer park at Bhesakaḷā’s Wood. Then my nursemaid, carrying me on her hip, went to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, ‘Sir, this Prince Bodhi goes for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the Buddha remember him as a lay follower who has gone for refuge for life.’
Now for a third time I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
346. Khi được nói như vậy, thanh niên Sañjikāputta đã nói với vương tử Bodhi điều này: “Thật vậy, ngài Bodhi đây chỉ nói rằng: ‘Thật vi diệu thay đức Phật! Thật vi diệu thay Giáo Pháp! Thật khéo thuyết giảng thay Giáo Pháp!’ thế thôi; tuy nhiên, ngài lại không quy y đức Thế Tôn Gotama ấy, không quy y Giáo Pháp, và không quy y Tăng chúng.” “Này bạn Sañjikāputta, chớ có nói như vậy; này bạn Sañjikāputta, chớ có nói như vậy. Này bạn Sañjikāputta, điều này đã được tôi nghe từ chính mẫu thân, đã được tiếp nhận từ chính mẫu thân. Này bạn Sañjikāputta, vào một thời, đức Thế Tôn trú ở Kosambī, tại tu viện Ghosita. Khi ấy, mẫu thân của tôi đang mang thai đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, mẫu thân của tôi đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, đứa con trai hoặc con gái trong bụng của con đây xin quy y đức Thế Tôn, quy y Giáo Pháp, và quy y Tăng chúng. Xin đức Thế Tôn hãy ghi nhận người ấy là cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’ Này bạn Sañjikāputta, vào một thời, đức Thế Tôn trú ở ngay tại xứ Bhagga này, tại Susumāragira, trong khu rừng Bhesakaḷā, ở vườn nai. Khi ấy, người vú nuôi đã bế tôi trên hông đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Sau khi đã đứng sang một bên, người vú nuôi đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, vương tử Bodhi này xin quy y đức Thế Tôn, quy y Giáo Pháp, và quy y Tăng chúng. Xin đức Thế Tôn hãy ghi nhận người ấy là cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’ Này bạn Sañjikāputta, lần thứ ba này, tôi xin quy y đức Thế Tôn, quy y Giáo Pháp, và quy y Tăng chúng. Xin đức Thế Tôn hãy ghi nhận tôi là cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Bodhirājakumārasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Vương Tử Bodhi, bài kinh thứ năm, đã chấm dứt.