- Majjhima Nikāya 84
Madhurasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Madhurasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Tôn giả Mahākaccāna (Ðại Ca-chiên-diên) trú ở Madhura, tại rừng Gunda.
SC 2Vua Madhura Avantiputta được nghe như sau: “Sa-môn Mahākaccāna trú ở Madhura, tại rừng Gunda. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về Tôn giả Kaccāna: “Tôn giả là bậc Hiền giả, bậc Trí giả, thông minh, đa văn, nói năng lưu loát, nhà biện tài lão luyện, bậc trưởng thượng, bậc A-la-hán. Thật tốt lành thay được yết kiến một vị A-la-hán như vậy”.
SC 3Rồi vua Madhura Avantiputta cho thắng nhiều cỗ xe thù thắng, leo lên một cỗ xe thù thắng và đi ra khỏi Madhura với uy vệ của bậc đại vương để yết kiến Tôn giả Mahākaccāna. Vua đi xe cho đến chỗ còn có thể đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Mahākaccāna, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Madhura Avantiputta thưa với Tôn giả Mahākaccāna
SC 4—Thưa Tôn giả Kaccāna, các vị Bà-la-môn đã nói như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng, các chủng tánh khác là hạ liệt; chỉ có Bà-la-môn là bạch chủng, các chủng tánh khác là hắc chủng; chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các chủng tánh phi Bà-la-môn không như vậy; các Bà-la-môn là con Phạm thiên. Các Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Phạm thiên, tạo tác bởi Phạm thiên, thừa tự Phạm thiên. Ở đây, Tôn giả Kaccāna đã nói gì?
SC 5—Thưa Ðại vương, đây chỉ là một âm thanh ở đời (câu nói): “Chỉ có Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng, chủng tánh khác là hạ liệt; chỉ có Bà-la-môn là bạch chủng, các chủng tánh khác là hắc chủng; chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các chủng tánh phi Bà-la-môn không như vậy. Các Bà-la-môn là con Phạm thiên. Các Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên sanh ra từ miệng, sanh ra từ Phạm thiên, tạo tác bởi Phạm thiên, thừa tự Phạm thiên”. Ðây chỉ là một pháp môn, với pháp môn này cần được hiểu như là một âm thanh ở đời. (Câu nói): “Chỉ có Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng, các chủng tánh khác là hạ liệt … thừa tự Phạm thiên”.
SC 6Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có người Khattiya (Sát-đế-lị) sống sung túc với tài sản, ngũ cốc, vàng hay bạc, người ấy có thể có một người Khattiya khác là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái; hay người ấy có thể có một vị Bà-la-môn, hay người ấy có thể có một vị Vessa (Tỳ-xá, Phệ-xá) hay người ấy có thể có một Sudda (Thủ-đà) là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái?
SC 7—Thưa Tôn giả Kaccāna, nếu có người Khattiya sống sung túc với tài sản, ngũ cốc, vàng hay bạc, người ấy có thể có một người Khattiya khác là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái; người ấy cũng có thể có một người Bà-la-môn, hay người ấy có thể có một Vessa, hay người ấy có thể có một người Sudda là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái.
SC 8—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một Bà-la-môn sống sung túc với tài sản, ngũ cốc, vàng hay bạc, người ấy có thể có một người Bà-la-môn khác là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái; hay người ấy có thể có một vị Khattiya, hay người ấy có thể có một vị Vessa, hay người ấy có thể có một người Sudda là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái?
SC 9—Thưa Tôn giả Kaccāna, nếu có người Bà-la-môn sống sung túc với tài sản, ngũ cốc, vàng hay bạc, người ấy có thể có một người Bà-la-môn khác là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái; hay người ấy có thể có một vị Khattiya, hay người ấy có thể có một vị Vessa, hay người ấy có thể có một vị Sudda là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái.
SC 10—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một Vessa sống sung túc với tài sản, ngũ cốc, vàng hay bạc, người ấy có thể có một người Vessa khác là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng người, lời nói kính ái; hay người ấy có thể có một Khattiya hay người ấy có thể có một Bà-la-môn, hay người ấy có thể có một Sudda là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái?
SC 11—Thưa Tôn giả Kaccāna, nếu có người Vessa sống sung túc với tài sản, ngũ cốc, vàng hay bạc; người ấy có thể có một người Vessa khác là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái; hay người ấy có thể có một người Khattiya, hay người ấy có thể có một người Bà-la-môn, hay người ấy có thể có một người Sudda là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái.
SC 12—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có người Sudda sống sung túc với tài sản, ngũ cốc, vàng hay bạc, người ấy có thể có một người Sudda khác, là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái; hay người ấy có thể có một Khattiya, hay người ấy có thể có một người Bà-la-môn, hay người ấy có thể có một người Vessa là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái?
SC 13—Thưa Tôn giả Kaccāna, nếu có người Sudda sống sung túc với tài sản, ngũ cốc, vàng hay bạc, người ấy có thể có một người Sudda khác là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái; hay người ấy có thể có một Khattiya, hay người ấy có thể có một Bà-la-môn, hay người ấy có thể có một người Vessa là người hầu hạ trung thành, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái.
SC 14—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu sự tình là như vậy, thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng, hay không đồng đẳng? Và ở đây Ðại vương có ý nghĩ như thế nào?
SC 15—Thật vậy, thưa Tôn giả Kaccāna, nếu sự tình là như vậy thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng. Ở đây, tôi không thấy có sự sai biệt gì.
SC 16—Do pháp môn này, thưa Ðại vương, vấn đề này cần phải được hiểu như âm thanh ở trên đời (câu nói): “Chỉ có Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng, các chủng tánh khác là hạ liệt … thừa tự Phạm thiên. Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, có người Khattiya sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong dâm dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận, tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy có sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không, hay không phải thác sanh? Hay ở đây Ðại vương nghĩ thế nào?
SC 17—Người Khattiya, thưa Tôn giả Kaccāna, sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong dâm dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận, tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ở đây, đối với tôi là vậy, và như vậy là điều tôi đã nghe từ các vị A-la-hán.
SC 18—Lành thay! Lành thay, thưa Ðại vương! Lành thay Ðại vương! Ở đây, đối với Ðại vương là vậy, và lành thay như vậy là điều Ðại vương đã được nghe từ các vị A-la-hán. Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, có người Bà-la-môn; ở đây, có người Vessa; ở đây, có người Sudda sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong dâm dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận, tà kiến sau khi thân hoại mạng chung, có sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không, hay không phải thác sanh? Hay ở đây, Ðại vương nghĩ thế nào?
SC 19—Người Sudda, thưa Tôn giả Kaccāna, sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời ác ngữ, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận, tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ở đây, đối với tôi là vậy, và như vậy là điều tôi đã nghe từ các vị A-la-hán.
SC 20—Lành thay, lành thay, thưa Ðại vương! Lành thay, Ðại vương! Ở đây, đối với Ðại vương là vậy, và lành thay như vậy là điều Ðại vương đã được nghe từ các vị A-la-hán. Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu sự tình là như vậy, thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng, hay không đồng đẳng? Và ở đây, Ðại vương có ý nghĩ như thế nào?
SC 21—Thật vậy, thưa Tôn giả Kaccāna, nếu sự tình là như vậy thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng. Ở đây, tôi không thấy có sự sai biệt gì.
SC 22—Do pháp môn này, thưa Ðại vương, vấn đề này cần phải được hiểu như âm thanh ở trên đời, (câu nói): “Chỉ có Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng, các chủng tánh khác là hạ liệt … thừa tự Phạm thiên. Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, có người Khattiya từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham dục, từ bỏ sân hận, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy có thể sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này không, hay không thể thác sanh? Hay ở đây, Ðại vương nghĩ thế nào?
SC 23—Người Khattiya, thưa Tôn giả Kaccāna, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham dục, từ bỏ sân hận, theo chánh kiến, sau khi thân hoại mang chung, người ấy có thể sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ở đây, đối với tôi là vậy và như vậy là điều tôi đã nghe từ các vị A-la-hán.
SC 24—Lành thay, lành thay, thưa Ðại vương! Lành thay, Ðại vương. Ở đây, đối với Ðại vương là vậy, và lành thay như vậy là điều Ðại vương đã được nghe từ các vị A-la-hán. Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, nếu có vị Bà-la-môn, ở đây nếu có vị Vessa, ở đây nếu có vị Sudda từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham dục, từ bỏ sân hận, theo chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy có thể sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này hay không, hay không thể thác sanh? Hay ở đây, Ðại vương nghĩ thế nào?
SC 25—Người Sudda, thưa Tôn giả Kaccāna, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham dục, từ bỏ sân hận, theo chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy có thể sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ở đây, đối với tôi là vậy; và như vậy là điều tôi đã nghe từ các vị A-la-hán.
SC 26—Lành thay, lành thay, thưa Ðại vương! Lành thay, Ðại vương! Ở đây, đối với Ðại vương là vậy, và lành thay như vậy là điều Ðại vương đã được nghe từ các vị A-la-hán. Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu sự tình là như vậy, thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng hay không đồng đẳng? Và ở đây, Ðại vương có ý nghĩ thế nào?
SC 27—Thật vậy thưa Tôn giả Kaccāna, nếu sự tình là như vậy, thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng. Ở đây, tôi không thấy có sự sai biệt gì.
SC 28—Do pháp môn này, thưa Ðại vương, vấn đề này cần phải được hiểu như âm thanh ở trên đời, (câu nói): “Chỉ có Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng, các chủng tánh khác là hạ liệt … là thừa tự Phạm thiên. Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, vị Khattiya đột nhập nhà cửa, cướp giật đồ đạc, hành động như kẻ cướp, phục kích các đường lớn hay tư thông vợ người. Và nếu có người bắt người ấy và dẫn người ấy đến trước mặt Ðại vương và thưa: “Tâu Ðại vương, đây là kẻ ăn trộm đã làm hại đến Ðại vương. Nếu Ðại vương muốn, hãy hình phạt nó”. Hay Ðại vương đối xử người ấy như thế nào?
SC 29—Thưa Tôn giả Kaccāna, chúng tôi sẽ chém giết người ấy, hay chúng tôi sẽ tra tấn người ấy, chúng tôi sẽ tẩn xuất người ấy hay chúng tôi sẽ áp dụng hình phạt tùy theo tội trạng. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả Kaccāna, danh xưng Khattiya mà xưa kia người ấy được gọi đã biến mất. Nay người ấy chỉ được gọi là tên ăn trộm.
SC 30—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, người Bà-la-môn; ở đây, người Vessa; ở đây, người Sudda đột nhập nhà cửa, hay cướp giật đồ đạc, hay hành động kẻ cướp, hay phục kích các đường lớn, hay tư thông vợ người. Và nếu có người bắt người ấy, dẫn người ấy đến trước mặt Ðại vương và thưa: “Tâu Ðại vương, đây là kẻ ăn trộm đã làm hại đến Ðại vương. Nếu Ðại vương muốn, hãy hình phạt nó”. Hay Ðại vương đối xử với nó như thế nào?
SC 31—Thưa Tôn giả Kaccāna, chúng tôi sẽ chém giết người ấy hay chúng tôi sẽ tra tấn người ấy, hay chúng tôi sẽ tẩn xuất người ấy, hay chúng tôi sẽ áp dụng hình phạt tùy theo tội trạng. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả Kaccāna, danh xưng Sudda mà xưa kia người ấy được gọi đã biến mất. Nay người ấy chỉ được gọi là tên ăn trộm.
SC 32—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu sự tình là như vậy, thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng hay không đồng đẳng? Và ở đây, Ðại vương có ý nghĩ gì?
SC 33—Thật vậy, thưa Tôn giả Kaccāna, nếu sự tình là như vậy, thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng. Ở đây, tôi không thấy có sự sai biệt gì.
SC 34—Do pháp môn này, thưa Ðại vương, vấn đề này cần phải được hiểu như âm thanh ở trên đời, (câu nói): “Chỉ có Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng, các chủng tánh khác là hạ liệt … là thừa tự Phạm thiên”. Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, vị Khattiya, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, chỉ ăn một bữa, sống Phạm hạnh, trì giới luật, trì thiện pháp; Ðại vương đối xử với vị ấy như thế nào?
SC 35—Thưa Tôn giả Kaccāna, tôi sẽ đảnh lễ hay đứng dậy, hay mời chỗ ngồi, hay cúng dường vị ấy bốn loại đồ dùng như y phục, ẩm thực, sàng tọa, y dược trị bệnh, hay chúng tôi sắp đặt sự bảo vệ hộ trì, che chở đúng pháp. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả Kaccāna, danh xưng Sudda mà xưa kia vị ấy được gọi đã biến mất. Nay vị ấy chỉ được gọi là một vị Sa-môn.
SC 36—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, người Bà-la-môn, ở đây người Vessa, ở đây người Sudda sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, trì giới luật, trì thiện pháp; Ðại vương đối xử với vị ấy như thế nào?
SC 37—Thưa Tôn giả Kaccāna, tôi sẽ đảnh lễ, hay đứng dậy, hay mời chỗ ngồi, hay cúng dường vị ấy bốn loại đồ dùng, như y phục, ẩm thực, sàng tọa, y dược trị bệnh, hay chúng tôi sắp đặt sự bảo vệ, hộ trì, che chở đúng pháp. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả Kaccāna, danh xưng Sudda mà xưa kia vị ấy được gọi đã biến mất. Nay vị ấy chỉ được gọi là một vị Sa-môn.
SC 38—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu sự tình là như vậy, thời bốn chủng tánh này là đổng đẳng hay không đồng đẳng? Và Ðại vương, ở đây, Ðại vương có ý nghĩ thế nào?
SC 39—Thật vậy, thưa Tôn giả Kaccāna, nếu sự tình là như vậy, thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng. Ở đây, tôi không thấy có sự sai biệt gì.
SC 40—Do pháp môn này, thưa Ðại vương, vấn đề này cần phải hiểu như âm thanh ở trên đời, (câu nói): “Chỉ có Bà-la-môn là chủng tánh tối thượng, các chủng tánh khác là hạ liệt; chỉ có Bà-la-môn là bạch chủng, các chủng tánh khác là hắc chủng, chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các chủng tánh phi Bà-la-môn không phải như vậy. Các Bà-la-môn là con Phạm thiên. Các Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Phạm thiên, thừa tự Phạm thiên”.
SC 41Khi được nói vậy, vua Madhura Avantiputta thưa với Tôn giả Mahākaccāna
SC 42—Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Kaccāna dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Tôn giả Kaccāna, quy y Pháp, quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Kaccāna nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 43—Thưa Ðại vương, Ðại vương chớ có quy y tôi, Ðại vương hãy quy y Thế Tôn, chính tôi đã quy y Thế Tôn.
SC 44—Thưa Tôn giả Kaccāna, nay bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy trú ở đâu?
SC 45—Bậc Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nay đã nhập Niết-bàn rồi, thưa Ðại vương.
SC 46—Thưa Tôn giả Kaccāna, nếu chúng tôi được nghe Thế Tôn ở xa mười yojana (do tuần), chúng tôi sẽ đi mười yojana để yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Kaccāna, nếu chúng tôi được nghe Thế Tôn ở xa hai mươi yojana, ba mươi yojana, bốn mươi yojana, năm mươi yojana, chúng tôi sẽ đi năm mươi yojana, để yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Kaccāna, vì rằng Thế Tôn đã nhập Niết-bàn rồi, chúng tôi xin quy y Thế Tôn đã nhập Niết-bàn ấy, quy y Pháp, quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Kaccāna nhận con làm Cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Madhurā
Assosi kho rājā mādhuro avantiputto: “samaṇo khalu, bho, kaccāno madhurāyaṁ viharati gundāvane. Taṁ kho pana bhavantaṁ kaccānaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘paṇḍito viyatto medhāvī bahussuto cittakathī kalyāṇapaṭibhāno vuddho ceva arahā ca’. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho rājā mādhuro avantiputto bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi madhurāya niyyāsi mahaccarājānubhāvena āyasmantaṁ mahākaccānaṁ dassanāya. Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākaccānena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā mādhuro avantiputto āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“brāhmaṇā, bho kaccāna, evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti. Idha bhavaṁ kaccāno kimakkhāyī”ti?
“Ghosoyeva kho eso, mahārāja, lokasmiṁ: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti. Tadamināpetaṁ, mahārāja, pariyāyena veditabbaṁ yathā ghosoyeveso lokasmiṁ: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’ti.
King Avantiputta of Madhurā heard, “It seems the ascetic Kaccāna is staying near Madhurā in the Nut Grass Grove. He has this good reputation: ‘He is astute, competent, intelligent, learned, a brilliant speaker, eloquent, mature, a perfected one.’ It’s good to see such perfected ones.”
And then King Avantiputta had the finest carriages harnessed. He mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out in full royal pomp from Madhurā to see Mahākaccāna. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached Mahākaccāna on foot. They exchanged greetings, and when the greetings and polite conversation were over, the king sat down to one side and said to Mahākaccāna:
“Worthy Kaccāna, the brahmins say: ‘Only brahmins are the best class; other classes are inferior. Only brahmins are the light class; other classes are dark. Only brahmins are purified, not others. Only brahmins are the the Divinity’s bosom sons, born from his mouth, born of the Divinity, created by the Divinity, heirs of the Divinity.’ What does the worthy Kaccāna have to say about this?”
“Great king, that’s just hearsay in the world. And here’s a way to understand that it’s just hearsay in the world.
317. Tôi nghe như vầy: Một thời, Tôn giả Mahākaccāna trú tại Madhurā, trong khu rừng Gundā. Vua Mādhura, con của vua Avantī, nghe được rằng: “Thưa các ngài, nghe nói Sa-môn Kaccāna đang trú tại Madhurā, trong khu rừng Gundā. Tiếng đồn tốt đẹp như sau được lan truyền về Tôn giả Kaccāna: ‘Ngài là bậc hiền trí, thông thái, có trí tuệ, đa văn, là một nhà thuyết giảng tài ba, có tài biện luận tốt đẹp, là bậc trưởng lão và cũng là một vị A-la-hán.’ Thật tốt đẹp thay khi được yết kiến những bậc A-la-hán như vậy.” Bấy giờ, vua Mādhura, con của vua Avantī, cho thắng những cỗ xe tốt đẹp, lên một cỗ xe tốt đẹp, cùng với những cỗ xe tốt đẹp khác, với uy nghi của một vị đại vương, rời khỏi Madhurā để đi yết kiến Tôn giả Mahākaccāna. Đi xe cho đến khi hết đường xe chạy, vua xuống xe và đi bộ đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna. Sau khi đến, vua cùng Tôn giả Mahākaccāna chào hỏi thăm viếng. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, vua ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vua Mādhura, con của vua Avantī, bạch với Tôn giả Mahākaccāna rằng: “Thưa Tôn giả Kaccāna, các Bà-la-môn nói như vầy: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng nhất, các giai cấp khác là hạ tiện; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là trong trắng, các giai cấp khác là đen tối; chỉ có các Bà-la-môn mới được thanh tịnh, không phải các người không phải Bà-la-môn; chỉ có các Bà-la-môn là con của Phạm thiên, sanh từ ngực, sanh từ miệng, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo, là những người thừa tự của Phạm thiên.’ Về điều này, Tôn giả Kaccāna nói như thế nào?” “Tâu Đại vương, đây chỉ là một tiếng đồn trong thế gian rằng: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng nhất, các giai cấp khác là hạ tiện; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là trong trắng, các giai cấp khác là đen tối; chỉ có các Bà-la-môn mới được thanh tịnh, không phải các người không phải Bà-la-môn; chỉ có các Bà-la-môn là con của Phạm thiên, sanh từ ngực, sanh từ miệng, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo, là những người thừa tự của Phạm thiên.’ Tâu Đại vương, nên biết qua phương pháp này rằng đây chỉ là một tiếng đồn trong thế gian: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng nhất, các giai cấp khác là hạ tiện... là những người thừa tự của Phạm thiên.’”
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, khattiyassa cepi ijjheyya dhanena vā dhaññena vā rajatena vā jātarūpena vā khattiyopissāssa pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī … brāhmaṇopissāssa … vessopissāssa … suddopissāssa pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī”ti?
“Khattiyassa cepi, bho kaccāna, ijjheyya dhanena vā dhaññena vā rajatena vā jātarūpena vā khattiyopissāssa pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī … brāhmaṇopissāssa … vessopissāssa … suddopissāssa pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
What do you think, Great King? Suppose an aristocrat prospers in money, grain, silver, or gold. Wouldn’t there be aristocrats, brahmins, peasants, and menials who would get up before him and go to bed after him, and be obliging, behaving nicely and speaking politely?”
“There would, worthy Kaccāna.”
“What do you think, Great King?
318. “Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào? Nếu một người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ thành công về tài sản, lúa gạo, bạc hoặc vàng, thì một người Sát-đế-lỵ khác có phải là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, làm theo ý muốn, và nói lời dễ thương đối với người ấy không... một người Bà-la-môn cũng vậy... một người Vệ-xá cũng vậy... một người Thủ-đà-la cũng là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, làm theo ý muốn, và nói lời dễ thương đối với người ấy không?” “Thưa Tôn giả Kaccāna, nếu một người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ thành công về tài sản, lúa gạo, bạc hoặc vàng, thì một người Sát-đế-lỵ khác sẽ là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, làm theo ý muốn, và nói lời dễ thương đối với người ấy... một người Bà-la-môn cũng vậy... một người Vệ-xá cũng vậy... một người Thủ-đà-la cũng sẽ là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, làm theo ý muốn, và nói lời dễ thương đối với người ấy.”
“Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Nếu một người Bà-la-môn được thành tựu về tài sản, lúa gạo, bạc, hay vàng, thì một người Bà-la-môn khác có phải là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy không... một người Phệ-xá... một người Thủ-đà... một người Sát-đế-lỵ có phải là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy không?” “Thưa ngài Kaccāna, nếu một người Bà-la-môn được thành tựu về tài sản, lúa gạo, bạc, hay vàng, thì một người Bà-la-môn khác sẽ là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy... một người Phệ-xá... một người Thủ-đà... một người Sát-đế-lỵ cũng sẽ là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy.”
“Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Nếu một người Phệ-xá được thành tựu về tài sản, lúa gạo, bạc, hay vàng, thì một người Phệ-xá khác có phải là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy không... một người Thủ-đà... một người Sát-đế-lỵ... một người Bà-la-môn có phải là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy không?” “Thưa ngài Kaccāna, nếu một người Phệ-xá được thành tựu về tài sản, lúa gạo, bạc, hay vàng, thì một người Phệ-xá khác sẽ là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy... một người Thủ-đà... một người Sát-đế-lỵ... một người Bà-la-môn cũng sẽ là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy.”
“Suddassa cepi, bho kaccāna, ijjheyya dhanena vā dhaññena vā rajatena vā jātarūpena vā suddopissāssa pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādīti … khattiyopissāssa … brāhmaṇopissāssa … vessopissāssa pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“There would, worthy Kaccāna.”
“What do you think, Great King?
“Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Nếu một người Thủ-đà được thành tựu về tài sản, lúa gạo, bạc, hay vàng, thì một người Thủ-đà khác có phải là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy không... một người Sát-đế-lỵ... một người Bà-la-môn... một người Phệ-xá có phải là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy không?” “Thưa ngài Kaccāna, nếu một người Thủ-đà được thành tựu về tài sản, lúa gạo, bạc, hay vàng, thì một người Thủ-đà khác sẽ là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy... một người Sát-đế-lỵ... một người Bà-la-môn... một người Phệ-xá cũng sẽ là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời ái ngữ đối với vị ấy.”
“Addhā kho, bho kaccāna, evaṁ sante, ime cattāro vaṇṇā samasamā honti.
“Certainly, worthy Kaccāna, in this case these four classes are equal.
“Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này có bình đẳng với nhau hay không? Về điều này, ngài có ý kiến thế nào?” “Thưa ngài Kaccāna, chắc chắn rằng nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này là bình đẳng với nhau. Về điều này, tôi không thấy có bất cứ sự khác biệt nào giữa họ.” “Tâu Đại vương, cũng chính qua phương pháp này, cần phải được hiểu rằng lời đồn ở thế gian: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, giai cấp khác là hạ tiện... là những người thừa tự của Phạm Thiên’ chỉ là lời đồn suông mà thôi.”
“Imināpi kho etaṁ, mahārāja, pariyāyena veditabbaṁ yathā ghosoyeveso lokasmiṁ: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’ti.
“And here’s another way to understand that the claims of the brahmins are just hearsay in the world.
“Lành thay, lành thay, tâu Đại vương! Thật tốt lành cho Đại vương khi có ý nghĩ như vậy, và thật tốt lành cho Đại vương khi đã được nghe điều ấy từ các vị A-la-hán. Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này có bình đẳng với nhau hay không? Về điều này, ngài có ý kiến thế nào?” “Thưa ngài Kaccāna, chắc chắn rằng nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này là bình đẳng với nhau. Về điều này, tôi không thấy có bất cứ sự khác biệt nào giữa họ.” “Tâu Đại vương, cũng qua phương pháp này, cần phải được hiểu rằng lời tuyên bố ở thế gian: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, các giai cấp khác là hạ tiện... là những người thừa tự của Phạm Thiên’ chỉ là tiếng vang (lời đồn suông) mà thôi.”
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idhassa khattiyo pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya no vā? Kathaṁ vā te ettha hotī”ti?
“Khattiyopi hi, bho kaccāna, pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya. Evaṁ me ettha hoti, evañca pana me etaṁ arahataṁ sutan”ti.
What do you think, Great King? Take an aristocrat who kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct; uses speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; and is covetous, malicious, and has wrong view. When their body breaks up, after death, would they be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell, or not? Or how do you see this?”
“Such an aristocrat would be reborn in a bad place. That’s what I think, but I’ve also heard it from the perfected ones.”
320. “Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, nếu có người dòng Sát-đế-lỵ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy có được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này hay không? Về điều này, ngài có ý kiến như thế nào?” – “Thưa ngài Kaccāna, nếu người dòng Sát-đế-lỵ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Về điều này, tôi có ý kiến như vậy, và tôi cũng đã được nghe điều này từ các bậc A-la-hán.”
“Sādhu sādhu, mahārāja. Sādhu kho te etaṁ, mahārāja, evaṁ hoti, sādhu ca pana te etaṁ arahataṁ sutaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idhassa brāhmaṇo …pe… idhassa vesso …pe… idhassa suddo pāṇātipātī adinnādāyī …pe… micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya no vā? Kathaṁ vā te ettha hotī”ti?
“Suddopi hi, bho kaccāna, pāṇātipātī adinnādāyī …pe… micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya. Evaṁ me ettha hoti, evañca pana me etaṁ arahataṁ sutan”ti.
“Sādhu sādhu, mahārāja. Sādhu kho te etaṁ, mahārāja, evaṁ hoti, sādhu ca pana te etaṁ arahataṁ sutaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yadi evaṁ sante, ime cattāro vaṇṇā samasamā honti no vā? Kathaṁ vā te ettha hotī”ti?
“Addhā kho, bho kaccāna, evaṁ sante, ime cattāro vaṇṇā samasamā honti. Nesaṁ ettha kiñci nānākaraṇaṁ samanupassāmī”ti.
“Imināpi kho etaṁ, mahārāja, pariyāyena veditabbaṁ yathā ghosoyeveso lokasmiṁ: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idhassa khattiyo pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, pisuṇāya vācāya paṭivirato, pharusāya vācāya paṭivirato, samphappalāpā paṭivirato, anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya no vā? Kathaṁ vā te ettha hotī”ti?
“Good, good, Great King! It’s good that you think so, and it’s good that you’ve heard it from the perfected ones. What do you think, Great King? Take a brahmin … a peasant … a menial who kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct; uses speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; and is covetous, malicious, and has wrong view. When their body breaks up, after death, would they be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell, or not? Or how do you see this?”
“Such a brahmin, peasant, or menial would be reborn in a bad place. That’s what I think, but I’ve also heard it from the perfected ones.”
“Good, good, Great King! It’s good that you think so, and it’s good that you’ve heard it from the perfected ones. What do you think, Great King? If this is so, are the four classes equal or not? Or how do you see this?”
“Certainly, worthy Kaccāna, in this case these four classes are equal. I can’t see any difference between them.”
“And here’s another way to understand that the claims of the brahmins are just hearsay in the world.
What do you think, Great King? Take an aristocrat who doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. When their body breaks up, after death, would they be reborn in a good place, a heavenly realm, or not? Or how do you see this?”
“Lành thay, lành thay, thưa Đại vương! Thật là tốt, thưa Đại vương, khi ngài có ý kiến như vậy, và thật là tốt khi ngài đã được nghe điều này từ các bậc A-la-hán. Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, nếu có người dòng Bà-la-môn, ở đây, nếu có người dòng Phệ-xá, ở đây, nếu có người dòng Thủ-đà-la từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, … có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy có được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này hay không? Về điều này, ngài có ý kiến như thế nào?” – “Thưa ngài Kaccāna, nếu người dòng Thủ-đà-la từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, … có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Về điều này, tôi có ý kiến như vậy, và tôi cũng đã được nghe điều này từ các bậc A-la-hán.”
“Khattiyopi hi, bho kaccāna, pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, pisuṇāya vācāya paṭivirato, pharusāya vācāya paṭivirato, samphappalāpā paṭivirato, anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya. Evaṁ me ettha hoti, evañca pana me etaṁ arahataṁ sutan”ti.
“Sādhu sādhu, mahārāja. Sādhu kho te etaṁ, mahārāja, evaṁ hoti, sādhu ca pana te etaṁ arahataṁ sutaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idhassa brāhmaṇo, idhassa vesso, idhassa suddo pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato …pe… sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya no vā? Kathaṁ vā te ettha hotī”ti?
“Suddopi hi, bho kaccāna, pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato …pe… sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya. Evaṁ me ettha hoti, evañca pana me etaṁ arahataṁ sutan”ti.
“Such an aristocrat would be reborn in a good place. That’s what I think, but I’ve also heard it from the perfected ones.”
“Good, good, Great King! It’s good that you think so, and it’s good that you’ve heard it from the perfected ones. What do you think, Great King? Take a brahmin, peasant, or menial who doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. When their body breaks up, after death, would they be reborn in a good place, a heavenly realm, or not? Or how do you see this?”
“Such a brahmin, peasant, or menial would be reborn in a good place. That’s what I think, but I’ve also heard it from the perfected ones.”
321. “Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, nếu có người dòng Sát-đế-lỵ khoét vách, hoặc cướp đoạt, hoặc cướp nhà, hoặc chặn đường, hoặc đi đến vợ người khác, và nếu các thuộc hạ của ngài bắt được người ấy rồi trình lên ngài rằng: ‘Tâu Thiên tử, đây là tên trộm, kẻ làm điều ác. Xin ngài hãy tùy ý trừng phạt y.’ Ngài sẽ xử lý người ấy như thế nào?” – “Thưa ngài Kaccāna, chúng tôi sẽ cho xử tử, hoặc cho thiêu sống, hoặc cho trục xuất, hoặc xử lý tùy theo trường hợp. Tại sao vậy? Thưa ngài Kaccāna, bởi vì danh xưng ‘Sát-đế-lỵ’ mà người ấy đã có trước đây đã biến mất; người ấy chỉ còn được kể là tên trộm mà thôi.”
“Sādhu sādhu, mahārāja. Sādhu kho te etaṁ, mahārāja, evaṁ hoti, sādhu ca pana te etaṁ arahataṁ sutaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yadi evaṁ sante, ime cattāro vaṇṇā samasamā honti no vā? Kathaṁ vā te ettha hotī”ti?
“Addhā kho, bho kaccāna, evaṁ sante, ime cattāro vaṇṇā samasamā honti. Nesaṁ ettha kiñci nānākaraṇaṁ samanupassāmī”ti.
“Imināpi kho etaṁ, mahārāja, pariyāyena veditabbaṁ yathā ghosoyeveso lokasmiṁ: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha khattiyo sandhiṁ vā chindeyya, nillopaṁ vā hareyya, ekāgārikaṁ vā kareyya, paripanthe vā tiṭṭheyya, paradāraṁ vā gaccheyya, tañce te purisā gahetvā dasseyyuṁ: ‘ayaṁ te, deva, coro āgucārī. Imassa yaṁ icchasi taṁ daṇḍaṁ paṇehī’ti. Kinti naṁ kareyyāsī”ti?
“Ghāteyyāma vā, bho kaccāna, jāpeyyāma vā pabbājeyyāma vā yathāpaccayaṁ vā kareyyāma. Taṁ kissa hetu? Yā hissa, bho kaccāna, pubbe ‘khattiyo’ti samaññā sāssa antarahitā; corotveva saṅkhyaṁ gacchatī”ti.
“Good, good, Great King! It’s good that you think so, and it’s good that you’ve heard it from the perfected ones. What do you think, Great King? If this is so, are the four classes equal or not? Or how do you see this?”
“Certainly, worthy Kaccāna, in this case these four classes are equal. I can’t see any difference between them.”
“And here’s another way to understand that the claims of the brahmins are just hearsay in the world.
What do you think, Great King? Take an aristocrat who breaks into houses, plunders wealth, steals from isolated buildings, commits highway robbery, and commits adultery. Suppose your men arrest him and present him to you, saying: ‘Your Majesty, this man is a bandit, a criminal. Punish him as you will.’ What would you do to him?”
“I would have him executed, fined, or banished, or dealt with as befits the crime. Why is that? Because he’s lost his former status as an aristocrat, and is just reckoned as a bandit.”
“Lành thay, lành thay, thưa Đại vương! Thật là tốt, thưa Đại vương, khi ngài có ý kiến như vậy, và thật là tốt khi ngài đã được nghe điều này từ các bậc A-la-hán. Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này có ngang bằng nhau hay không? Về điều này, ngài có ý kiến như thế nào?” – “Chắc chắn là vậy, thưa ngài Kaccāna, nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này là ngang bằng nhau. Về điều này, tôi không thấy có bất cứ sự khác biệt nào giữa họ.” – “Thưa Đại vương, cũng qua phương pháp này, cần phải được hiểu rằng: ‘Chỉ có dòng Bà-la-môn là giai cấp cao thượng, các giai cấp khác là hạ tiện, … là những người thừa tự của Phạm thiên’ chỉ là tiếng đồn ở thế gian.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha brāhmaṇo, idha vesso, idha suddo sandhiṁ vā chindeyya, nillopaṁ vā hareyya, ekāgārikaṁ vā kareyya, paripanthe vā tiṭṭheyya, paradāraṁ vā gaccheyya, tañce te purisā gahetvā dasseyyuṁ: ‘ayaṁ te, deva, coro āgucārī. Imassa yaṁ icchasi taṁ daṇḍaṁ paṇehī’ti. Kinti naṁ kareyyāsī”ti?
“Ghāteyyāma vā, bho kaccāna, jāpeyyāma vā pabbājeyyāma vā yathāpaccayaṁ vā kareyyāma. Taṁ kissa hetu? Yā hissa, bho kaccāna, pubbe ‘suddo’ti samaññā sāssa antarahitā; corotveva saṅkhyaṁ gacchatī”ti.
“What do you think, Great King? Take a brahmin, peasant, or menial who breaks into houses, plunders wealth, steals from isolated buildings, commits highway robbery, and commits adultery. Suppose your men arrest him and present him to you, saying: ‘Your Majesty, this man is a bandit, a criminal. Punish him as you will.’ What would you do to him?”
“I would have him executed, fined, or banished, or dealt with as befits the crime. Why is that? Because he’s lost his former status as a brahmin, peasant, or menial, and is just reckoned as a bandit.”
“Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, nếu có người dòng Bà-la-môn, ở đây, nếu có người dòng Phệ-xá, ở đây, nếu có người dòng Thủ-đà-la khoét vách, hoặc cướp đoạt, hoặc cướp nhà, hoặc chặn đường, hoặc đi đến vợ người khác, và nếu các thuộc hạ của ngài bắt được người ấy rồi trình lên ngài rằng: ‘Tâu Thiên tử, đây là tên trộm, kẻ làm điều ác. Xin ngài hãy tùy ý trừng phạt y.’ Ngài sẽ xử lý người ấy như thế nào?” – “Thưa ngài Kaccāna, chúng tôi sẽ cho xử tử, hoặc cho thiêu sống, hoặc cho trục xuất, hoặc xử lý tùy theo trường hợp. Tại sao vậy? Thưa ngài Kaccāna, bởi vì danh xưng ‘Thủ-đà-la’ mà người ấy đã có trước đây đã biến mất; người ấy chỉ còn được kể là tên trộm mà thôi.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yadi evaṁ sante, ime cattāro vaṇṇā samasamā honti no vā? Kathaṁ vā te ettha hotī”ti?
“Addhā kho, bho kaccāna, evaṁ sante, ime cattāro vaṇṇā samasamā honti. Nesaṁ ettha kiñci nānākaraṇaṁ samanupassāmī”ti.
“Imināpi kho etaṁ, mahārāja, pariyāyena veditabbaṁ yathā ghosoyeveso lokasmiṁ: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
“What do you think, Great King? If this is so, are the four classes equal or not? Or how do you see this?”
“Certainly, worthy Kaccāna, in this case these four classes are equal. I can’t see any difference between them.”
“And here’s another way to understand that the claims of the brahmins are just hearsay in the world.
“Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này có ngang bằng nhau hay không? Về điều này, ngài có ý kiến như thế nào?” – “Chắc chắn là vậy, thưa ngài Kaccāna, nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này là ngang bằng nhau. Về điều này, tôi không thấy có bất cứ sự khác biệt nào giữa họ.” – “Thưa Đại vương, cũng qua phương pháp này, cần phải được hiểu rằng: ‘Chỉ có dòng Bà-la-môn là giai cấp cao thượng, các giai cấp khác là hạ tiện, … là những người thừa tự của Phạm thiên’ chỉ là tiếng đồn ở thế gian.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha khattiyo kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito assa virato pāṇātipātā, virato adinnādānā, virato musāvādā, rattūparato, ekabhattiko, brahmacārī, sīlavā, kalyāṇadhammo. Kinti naṁ kareyyāsī”ti?
“Abhivādeyyāma vā, bho kaccāna, paccuṭṭheyyāma vā āsanena vā nimanteyyāma abhinimanteyyāma vā naṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi dhammikaṁ vā assa rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidaheyyāma. Taṁ kissa hetu?
What do you think, Great King? Take an aristocrat who shaves off their hair and beard, dresses in ocher robes, and goes forth from the lay life to homelessness. They abstain from killing living creatures, stealing, and lying. They abstain from eating at night, eat in one part of the day, and are chaste, ethical, and of good character. How would you treat them?”
“I would bow to them, rise in their presence, or offer them a seat. I’d invite them to accept robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. And I’d organize their lawful guarding and protection. Why is that?
322. “Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, nếu có người dòng Sát-đế-lỵ cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, không ăn ban đêm, ăn một bữa, sống phạm hạnh, có giới đức, có thiện pháp. Ngài sẽ đối xử với người ấy như thế nào?” – “Thưa ngài Kaccāna, chúng tôi sẽ đảnh lễ, hoặc đứng dậy chào đón, hoặc mời ngồi, hoặc cung thỉnh người ấy với y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, và chúng tôi sẽ sắp đặt việc bảo vệ, che chở, hộ trì đúng theo chánh pháp cho người ấy. Tại sao vậy? Thưa ngài Kaccāna, bởi vì danh xưng ‘Sát-đế-lỵ’ mà người ấy đã có trước đây đã biến mất; người ấy chỉ còn được kể là vị sa-môn mà thôi.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha brāhmaṇo, idha vesso, idha suddo kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito assa virato pāṇātipātā, virato adinnādānā virato musāvādā, rattūparato, ekabhattiko, brahmacārī, sīlavā, kalyāṇadhammo. Kinti naṁ kareyyāsī”ti?
“Abhivādeyyāma vā, bho kaccāna, paccuṭṭheyyāma vā āsanena vā nimanteyyāma abhinimanteyyāma vā naṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi dhammikaṁ vā assa rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidaheyyāma. Taṁ kissa hetu? Yā hissa, bho kaccāna, pubbe ‘suddo’ti samaññā sāssa antarahitā; samaṇotveva saṅkhyaṁ gacchatī”ti.
“What do you think, Great King? Take a brahmin, peasant, or menial who shaves off their hair and beard, dresses in ocher robes, and goes forth from the lay life to homelessness. They abstain from killing living creatures, stealing, and lying. They abstain from eating at night, eat in one part of the day, and are chaste, ethical, and of good character. How would you treat them?”
“I would bow to them, rise in their presence, or offer them a seat. I’d invite them to accept robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. And I’d organize their lawful guarding and protection. Why is that? Because they’ve lost their former status as a brahmin, peasant, or menial, and are just reckoned as an ascetic.”
“Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, một người Bà-la-môn, ở đây, một người Vessa, ở đây, một người Sudda, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói dối, từ bỏ ăn vào ban đêm, ăn một bữa, sống phạm hạnh, có giới đức, có thiện pháp. Ngài sẽ đối xử với vị ấy như thế nào?” “Thưa ngài Kaccāna, chúng tôi sẽ đảnh lễ, hoặc đứng dậy chào đón, hoặc mời ngồi, hoặc mời nhận y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng cần thiết, hoặc chúng tôi sẽ sắp đặt sự bảo vệ, che chở, hộ trì đúng pháp cho vị ấy. Vì cớ sao? Thưa ngài Kaccāna, vì danh xưng ‘Sudda’ trước kia của vị ấy đã biến mất; vị ấy được kể là một vị sa-môn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yadi evaṁ sante, ime cattāro vaṇṇā samasamā honti no vā? Kathaṁ vā te ettha hotī”ti?
“Addhā kho, bho kaccāna, evaṁ sante, ime cattāro vaṇṇā samasamā honti. Nesaṁ ettha kiñci nānākaraṇaṁ samanupassāmī”ti.
“Imināpi kho etaṁ, mahārāja, pariyāyena veditabbaṁ yathā ghosoyeveso lokasmiṁ: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’”ti.
“What do you think, Great King? If this is so, are the four classes equal or not? Or how do you see this?”
“Certainly, worthy Kaccāna, in this case these four classes are equal. I can’t see any difference between them.”
“This is another way to understand that this is just hearsay in the world: ‘Only brahmins are the best class; other classes are inferior. Only brahmins are the light class; other classes are dark. Only brahmins are purified, not others. Only brahmins are the Divinity’s bosom sons, born from his mouth, born of the Divinity, created by the Divinity, heirs of the Divinity.’”
“Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này có bình đẳng với nhau hay không? Về điểm này, ngài nghĩ thế nào?” “Thưa ngài Kaccāna, chắc chắn rằng, nếu sự việc là như vậy, bốn giai cấp này là bình đẳng với nhau. Về điểm này, tôi không thấy có bất kỳ sự khác biệt nào giữa họ.” “Tâu Đại vương, cũng qua phương diện này, nên biết rằng đây chỉ là lời đồn đại ở thế gian: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, các giai cấp khác là hạ tiện; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp khác là ô uế; chỉ có người Bà-la-môn mới được thanh tịnh, không phải người Bà-la-môn thì không; chỉ có người Bà-la-môn mới là con của Phạm thiên, sinh từ ngực, sinh từ miệng, do Phạm thiên sinh ra, do Phạm thiên tạo ra, là những người thừa tự của Phạm thiên.’”
Evaṁ vutte, rājā mādhuro avantiputto āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho kaccāna, abhikkantaṁ, bho kaccāna. Seyyathāpi, bho kaccāna, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā kaccānena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ kaccānaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ kaccāno dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Mā kho maṁ tvaṁ, mahārāja, saraṇaṁ agamāsi. Tameva tvaṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gaccha yamahaṁ saraṇaṁ gato”ti.
“Kahaṁ pana, bho kaccāna, etarahi so bhagavā viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti?
“Parinibbuto kho, mahārāja, etarahi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho”ti.
“Sacepi mayaṁ, bho kaccāna, suṇeyyāma taṁ bhagavantaṁ dasasu yojanesu, dasapi mayaṁ yojanāni gaccheyyāma taṁ bhagavantaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ. Sacepi mayaṁ, bho kaccāna, suṇeyyāma taṁ bhagavantaṁ vīsatiyā yojanesu, tiṁsāya yojanesu, cattārīsāya yojanesu, paññāsāya yojanesu, paññāsampi mayaṁ yojanāni gaccheyyāma taṁ bhagavantaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ. Yojanasate cepi mayaṁ bho kaccāna, suṇeyyāma taṁ bhagavantaṁ, yojanasatampi mayaṁ gaccheyyāma taṁ bhagavantaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ. Yato ca, bho kaccāna, parinibbuto so bhagavā, parinibbutampi mayaṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ kaccāno dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, King Avantiputta of Madhurā said to Mahākaccāna, “Excellent, worthy Kaccāna! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the worthy Kaccāna has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Kaccāna, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Kaccāna remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
“Great king, don’t go for refuge to me. You should go for refuge to that same Blessed One to whom I have gone for refuge.”
“But where is that Blessed One at present, the perfected one, the fully awakened Buddha?”
“Great king, the Buddha has already become fully quenched.”
“Worthy Kaccāna, if I heard that the Buddha was within ten leagues, or twenty, or even up to a hundred leagues away, I’d go a hundred leagues to see him. But since the Buddha has become fully quenched, I go for refuge to that fully quenched Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Kaccāna remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
323. Khi được nói như vậy, vua Mādhura, con của vua xứ Avanti, bạch với ngài Đại Kaccāna rằng: “Thật vi diệu, thưa ngài Kaccāna! Thật vi diệu, thưa ngài Kaccāna! Thưa ngài Kaccāna, cũng giống như người ta lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hoặc đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được ngài Kaccāna tuyên thuyết bằng nhiều phương diện. Con xin quy y ngài Kaccāna, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Mong ngài Kaccāna hãy ghi nhận con là một người cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.” “Tâu Đại vương, xin ngài đừng quy y tôi. Ngài hãy quy y chính Đức Thế Tôn mà tôi đã quy y.” “Thưa ngài Kaccāna, hiện nay Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy đang ở đâu?” “Tâu Đại vương, hiện nay Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy đã nhập Vô dư Niết-bàn.” “Thưa ngài Kaccāna, nếu chúng con nghe rằng Đức Thế Tôn đang ở cách đây mười do-tuần, chúng con cũng sẽ đi mười do-tuần để diện kiến Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Thưa ngài Kaccāna, nếu chúng con nghe rằng Đức Thế Tôn đang ở cách đây hai mươi do-tuần, ba mươi do-tuần, bốn mươi do-tuần, năm mươi do-tuần, chúng con cũng sẽ đi năm mươi do-tuần để diện kiến Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Thưa ngài Kaccāna, nếu chúng con nghe rằng Đức Thế Tôn đang ở cách đây một trăm do-tuần, chúng con cũng sẽ đi một trăm do-tuần để diện kiến Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Và vì, thưa ngài Kaccāna, Đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn, nên chúng con xin quy y Đức Thế Tôn dù Ngài đã nhập Niết-bàn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Mong ngài Kaccāna hãy ghi nhận con là một người cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Madhurasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Madhurā, kinh thứ tư, kết thúc.