- Majjhima Nikāya 83
Maghadevasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Maghadevasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Mithila (Di-tát-la), tại rừng Makhadevamba.
SC 2Rồi Thế Tôn mỉm cười khi đến tại một địa điểm. Tôn giả Ānanda liền suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không có lý do khiến Thế Tôn mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ānanda, đắp y phía một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do khiến Thế Tôn mỉm cười.
SC 4—Thuở xưa, này Ānanda, vị vua chính nước Mithila này tên là Makhadeva, là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị Ðại vương thực hành Chánh pháp, giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8. Rồi này Ānanda, vua Makhadeva sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, bảo người thợ cạo tóc:
SC 5“—Này Thợ cạo tóc, khi nào Ông thấy trên đầu ta, có mọc tóc bạc, hãy báo cho ta biết”.
SC 6“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 7Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Makhadeva. Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người thợ cạo tóc thấy trên đầu vua Makhadeva có sanh tóc bạc, thấy vậy liền tâu vua Makhadeva:
SC 8“—Các Thiên sứ đã hiện ra cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
SC 9“—Vậy này Thợ cạo tóc, hãy khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, và đặt chúng trên bàn tay của ta”.
SC 10“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 11Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Makhadeva, sau khi khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, đặt chúng trên bàn tay của vua Makhadeva. Rồi này Ānanda, vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, liền cho gọi hoàng tử con đầu và nói:
SC 12“—Này Hoàng tử thân yêu, các Thiên sứ đã hiện ra cho ta, tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu. Ta đã hưởng thọ các dục lạc thế gian, nay đã đến thời đi tìm kiếm các thiên lạc. Hãy đến đây, này Hoàng tử thân yêu, hãy trị vì quốc độ này. Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và này Hoàng tử thân yêu, khi nào con thấy tóc bạc mọc ra trên đầu, thời hãy cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao lại quốc gia cho hoàng tử con đầu, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì, con chớ thành người tối hậu sau ta. Này Hoàng tử thân yêu, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Hoàng tử thân yêu, ta nói với con: “Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta”.
SC 13Rồi này Ānanda, vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như là một ân tứ, sau khi khéo giao quốc gia cho hoàng tử con đầu, chính tại rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, vua Makhadeva đã xuất gia.
SC 14Vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 15Với tâm thấm nhuần lòng bi … với tâm thấm nhuần lòng hỷ, … an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 16Nhưng này Ānanda, vua Makhadeva, tám vạn bốn ngàn năm, đã chơi trò chơi của hoàng tử, tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như một phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Vị này, sau khi tụ tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 17Rồi này Ānanda, con vua Makhadeva, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người thợ cạo tóc:
SC 18“—Này thợ cạo tóc, khi nào Ông thấy trên đầu Ta có mọc tóc bạc, hãy báo cho ta biết”.
SC 19“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 20Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp con vua Makhadeva. Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người thợ cạo tóc thấy trên đầu con vua Makhadeva có sanh tóc bạc, thấy vậy liền tâu với con vua Makhadeva:
SC 21“—Các Thiên sứ đã hiện ra cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
SC 22“—Vậy này thợ cạo tóc, hãy khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, và đặt chúng trên bàn tay của ta”.
SC 23“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 24Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp con vua Makhadeva, sau khi khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, đặt chúng trên bàn tay của con vua Makhadeva. Rồi này Ānanda, con vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, liền cho gọi vị hoàng tử con đầu và nói:
SC 25“—Này Hoàng tử thân yêu, các Thiên sứ đã hiện ra cho ta, tóc bạc đã thấy sanh ra trên đầu. Ta đã hưởng thọ dục lạc thế gian, nay đã đến thời đi tìm kiếm các thiên lạc. Hãy đến đây, này Hoàng tử thân yêu, hãy trị vì quốc độ này. Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và nay, này Hoàng tử thân yêu, khi nào con thấy tóc bạc mọc ra trên đầu, thời hãy cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao lại quốc gia này cho vị hoàng tử con đầu, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập. Con phải tiếp tục duy trì, chớ thành người tối hậu sau ta. Này Hoàng tử thân yêu, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Hoàng tử thân yêu, ta nói với con: “Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta”.
SC 26Rồi này Ānanda, con vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao quốc gia cho vị hoàng tử con đầu, chính tại rừng xoài này, con vua Makhadeva, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm thấm nhuần lòng bi … Với tâm thấm nhuần lòng hỷ … an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Nhưng này Ānanda, con vua Makhadeva tám vạn bốn ngàn năm, đã chơi trò chơi của hoàng tử; tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như một phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài này, con vua Makhadeva sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Vị này, sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 27Rồi này Ānanda, các tử tôn của vua Makhadeva truyền nối tiếp tục vua ấy, sau tám vạn bốn ngàn năm làm vương tộc (Khattiya), chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các vị ấy biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ và an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm thấm nhuần lòng bi … Với tâm thấm nhuần lòng hỷ … … an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, những vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy tám vạn bốn ngàn năm đã chơi trò chơi của hoàng tử, tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như một phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Các vị ấy, sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 28Nemi là vị cuối cùng của các vị vua ấy, là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị đại vương thực hành Chánh pháp giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8.
SC 29Thuở xưa, này Ānanda, khi chư Thiên ở Tāvatiṁsa (Tam thập tam thiên) ngồi hội họp với nhau tại giảng đường Thiện Pháp (Sudhamma), cuộc đối thoại sau đây được khởi lên: “Thật hạnh phúc thay cho dân chúng Videha, thật tốt đẹp thay cho dân chúng Videha, được vua Nemi là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị Ðại vương thực hành Chánh pháp giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8”.
SC 30Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba:
SC 31“—Chư Khanh, chư Khanh có muốn yết kiến vua Nemi không?”.
SC 32“—Thưa Thiên chủ, chúng tôi muốn yết kiến vua Nemi”.
SC 33Lúc bấy giờ, vua Nemi trong ngày rằm lễ Bố-Tát (Uposatha), đã gội đầu, giữ trai giới đang ngồi trên lầu cung điện. Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka, như nhà lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thiên chủ biến mất giữa chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, và hiện ra trước mặt vua Nemi. Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka nói với vua Nemi:
SC 34“—Tâu Ðại vương, thật hạnh phúc thay cho Ðại vương, thật tốt lành thay cho Ðại vương! Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba đang ngồi tại giảng đường Thiện Pháp tán thán Ðại vương và nói: “Thật hạnh phúc thay cho dân chúng Videha … và ngày mồng 8”. Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba muốn yết kiến Ðại vương. Tâu Ðại vương, tôi sẽ gởi cho Ðại vương một cỗ xe có ngàn ngựa kéo, Ðại vương hãy cưỡi thiên xa ấy, chớ có sợ hãi! ”
SC 35Này Ānanda, vua Nemi im lặng nhận lời. Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka, sau khi biết được vua Nemi đã nhận lời, như nhà lực sĩ … liền biến mất và hiện ra giữa chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba.
SC 36Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka gọi người đánh xe Mātali và nói:
SC 37“—Này Mātali, sau khi thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo hãy đi đến vua Nemi và nói: “Tâu Ðại vương, đây là cỗ xe có ngàn ngựa kéo do Thiên chủ Sakka gửi đến cho Ðại vương. Ðại vương hãy cưỡi thiên xa, chớ có sợ hãi! ”.
SC 38“—Thưa vâng, Tôn giả”.
SC 39Người đánh xe Mātali vâng đáp Thiên chủ Sakka, cho thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo, đi đến vua Nemi và thưa:
SC 40“—Tâu Ðại vương, đây là cỗ xe có ngàn ngựa kéo do Thiên chủ Sakka gửi đến cho Ðại vương. Ðại vương hãy cưỡi thiên xa, chớ có sợ hãi! Và tâu Ðại vương, con sẽ dẫn Ðại vương đi đường nào? Con đường do đó các nghiệp ác đưa đến sự cảm thọ quả báo các nghiệp ác hay con đường do đó các thiện nghiệp đưa đến sự cảm thọ quả báo các thiện nghiệp”.
SC 41“—Hãy đưa Ta đi, cả hai con đường”.
SC 42Và này Ānanda, người đánh xe Mātali đưa vua Nemi đến giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp). Này Ānanda, Thiên chủ Sakka thấy vua Nemi đường xa đi đến, sau khi thấy vậy, liền nói với vua Nemi:
SC 43“—Hãy đến, tâu Ðại vương; thiện lai, tâu Ðại vương. Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba ngồi ở giảng đường Sudhamma, tán thán Ðại vương như sau: “Thật là hạnh phúc … và ngày mồng 8”. Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba muốn yết kiến Ðại vương. Tâu Ðại vương, hãy hoan lạc với thiên uy lực giữa chư Thiên”.
SC 44“—Thôi vừa rồi, Tôn giả. Hãy đưa tôi về Mithila, tại đấy tôi sẽ sống theo Chánh pháp giữa các vị Bà-la-môn, gia chủ, và giữa các thị dân và thôn dân và thọ trì trai giới vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8”.
SC 45Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe Mātali:
SC 46“—Này Mātali, sau khi thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo, hãy đưa vua Nemi về tại Mithila”.
SC 47“—Thưa vâng, Tôn giả”.
SC 48Này Ānanda, người đánh xe Mātali vâng đáp Thiên chủ Sakka, thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo, và đưa vua Nemi về Mithila.
SC 49Ở đây, này Ānanda, vua Nemi sống như pháp giữa các Bà-la-môn, gia chủ và giữa thị dân và thôn dân, thọ trì trai giới vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8.
SC 50Và này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm; vua Nemi gọi người thợ cạo tóc:
SC 51“—Này Thợ cạo tóc, khi nào Ông thấy trên đầu ta có mọc tóc bạc, hãy báo cho ta biết”.
SC 52“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 53Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Nemi. Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người thợ cạo tóc thấy trên đầu vua Nemi có mọc tóc bạc, thấy vậy liền tâu với vua Nemi:
SC 54“—Các Thiên sứ đã hiện cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
SC 55“—Vậy này Thợ cạo tóc, hãy khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, và đặt chúng trên bàn tay của ta”.
SC 56“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 57Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Nemi, sau khi khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, đặt chúng trên bàn tay vua Nemi. Rồi này Ānanda, vua Nemi, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, liền cho gọi vị hoàng tử con đầu và nói:
SC 58“—Này Hoàng tử thân yêu, các Thiên sứ đã hiện ra cho ta, tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu. Ta đã hưởng thọ các dục lạc thế gian, nay đã đến thời đi tìm kiếm các thiên lạc. Hãy đến đây, Hoàng tử thân yêu, hãy trị vì quốc độ này. Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và này Hoàng tử thân yêu, khi nào con thấy tóc bạc mọc ra trên đầu, thời hãy cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao lại quốc gia cho vị hoàng tử con đầu, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì, con chớ thành người tối hậu sau ta. Này Hoàng tử thân yêu, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Này Hoàng tử thân yêu, ta nói với con: “Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta”.
SC 59Rồi này Ānanda, vua Nemi, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như là một ân tứ, sau khi khéo giao quốc gia cho vị Hoàng tử con đầu, chính tại rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm thấm nhuần lòng bi … … Với tâm thấm nhuần lòng hỷ … … an trú biến mãn mọt phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Nhưng này Ānanda, vua Nemi, tám vạn bốn ngàn năm, đã chơi trò chơi của hoàng tử; tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Vị này, sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 60Nhưng này Ānanda, người con của vua Nemi tên là Kalarajanaka. Vị này không xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị này đã cắt đứt truyền thống tốt đẹp ấy. Vị này là người tối hậu của các vị ấy. Này Ānanda, rất có thể Ông nghĩ như sau: “Trong thời ấy, vua Makhadeva, vị đã thiết lập truyền thống tốt đẹp ấy là một vị khác”. Nhưng này Ānanda, chớ có hiểu như vậy. Trong thời ấy, ta là Makhadeva. Ta đã thiết lập truyền thống tốt đẹp ấy. Dân chúng đến sau cho rằng truyền thống tốt đẹp ấy được Ta thiết lập. Nhưng này Ānanda, truyền thống tốt đẹp ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn và này Ānanda, nay thế nào là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này Ānanda, đây là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
SC 61Này Ānanda, về vấn đề này, Ta nói như sau: “Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta”. Này Ānanda, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Ānanda, Ta nói với Ông: “Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, các Ông hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta”.
SC 62Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Maghadeva
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi: “ko nu kho hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya? Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
Atha kho āyasmā ānando ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya? Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imissāyeva mithilāyaṁ rājā ahosi maghadevo nāma dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā; dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca; uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassa.
Atha kho, ānanda, rājā maghadevo bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena kappakaṁ āmantesi: ‘yadā me, samma kappaka, passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha me āroceyyāsī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa paccassosi.
Addasā kho, ānanda, kappako bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena rañño maghadevassa sirasmiṁ palitāni jātāni. Disvāna rājānaṁ maghadevaṁ etadavoca: ‘pātubhūtā kho devassa devadūtā, dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti.
‘Tena hi, samma kappaka, tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā mama añjalismiṁ patiṭṭhāpehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa paṭissutvā tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā rañño maghadevassa añjalismiṁ patiṭṭhāpesi.
Then Venerable Ānanda thought, “What is the cause, what is the reason why the Buddha smiled? Realized Ones do not smile for no reason.”
So Ānanda arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and said, “What is the cause, what is the reason why the Buddha smiled? Realized Ones do not smile for no reason.”
“Once upon a time, Ānanda, right here in Mithilā there was a just and principled king named Maghadeva, a great king who stood by his duty. He justly treated brahmins and householders, and people of town and country. And he observed the sabbath on the fourteenth, fifteenth, and eighth of the fortnight.
Then, after many years, many hundred years, many thousand years had passed, King Maghadeva addressed his barber, ‘My dear barber, when you see grey hairs growing on my head, please tell me.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied the barber.
When many thousand years had passed, the barber saw grey hairs growing on the king’s head. He said to the king, ‘The messengers of the gods have shown themselves to you. Grey hairs can be seen growing on your head.’
‘Well then, my dear barber, carefully pull them out with tweezers and place them in my cupped hands.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied the barber, and he did as the king said.
308. Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Mithilā, trong vườn xoài Maghadeva. Khi ấy, Thế Tôn ở một nơi nào đó, đã mỉm cười. Khi ấy, Tôn giả Ānanda khởi lên ý nghĩ: ‘Do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn mỉm cười? Các đấng Như Lai không mỉm cười vô cớ.’ Khi ấy, Tôn giả Ānanda đắp y một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch rằng: ‘Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn mỉm cười? Các đấng Như Lai không mỉm cười vô cớ.’ ‘Này Ānanda, thuở xưa, tại chính thành Mithilā này, có một vị vua tên là Maghadeva, là người sống đúng Chánh pháp, một vị pháp vương, an trú trong Chánh pháp, một vị đại vương; ngài thực hành Chánh pháp đối với các vị Bà-la-môn, gia chủ, ở các thị trấn và các miền quê; và ngài thực hành lễ Uposatha vào các ngày mười bốn, rằm, và mùng tám của mỗi nửa tháng. Khi ấy, này Ānanda, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, vua Maghadeva gọi người thợ cạo và nói: ‘Này khanh thợ cạo, khi nào khanh thấy tóc bạc mọc trên đầu ta, hãy báo cho ta biết.’ ‘Thưa tâu bệ hạ,’ này Ānanda, người thợ cạo đã vâng lời vua Maghadeva. Này Ānanda, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, người thợ cạo đã thấy tóc bạc mọc trên đầu vua Maghadeva. Sau khi thấy, ông bạch với vua Maghadeva rằng: ‘Tâu bệ hạ, các thiên sứ đã xuất hiện, tóc bạc đã được thấy mọc trên đầu bệ hạ.’ ‘Vậy thì, này khanh thợ cạo, hãy dùng nhíp nhổ những sợi tóc bạc ấy một cách cẩn thận và đặt chúng vào lòng bàn tay ta.’ ‘Thưa tâu bệ hạ,’ này Ānanda, người thợ cạo vâng lời vua Maghadeva, đã dùng nhíp nhổ những sợi tóc bạc ấy một cách cẩn thận và đặt chúng vào lòng bàn tay vua Maghadeva.
Atha kho, ānanda, rājā maghadevo kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca: ‘pātubhūtā kho me, tāta kumāra, devadūtā; dissanti sirasmiṁ palitāni jātāni; bhuttā kho pana me mānusakā kāmā; samayo dibbe kāme pariyesituṁ. Ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ rajjaṁ paṭipajja. Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi.
Tena hi, tāta kumāra, yadā tvampi passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyāsi. Yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosi. Yasmiṁ kho, tāta kumāra, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti. Taṁ tāhaṁ, tāta kumāra, evaṁ vadāmi—yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosī’ti.
Atha kho, ānanda, rājā maghadevo kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji. So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi. Karuṇāsahagatena cetasā … muditāsahagatena cetasā … upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
The king gave the barber a prize village, then summoned the crown prince and said, ‘Dear prince, the messengers of the gods have shown themselves to me. Grey hairs can be seen growing on my head. I have enjoyed human pleasures. Now it is time to seek heavenly pleasures. Come, dear prince, rule the realm. I shall shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
For dear prince, you too will one day see grey hairs growing on your head. When this happens, after giving a prize village to the barber and carefully instructing the crown prince in kingship, you should shave off your hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. Keep up this good practice that I have founded. Do not be my final man. When a pair of men are living, the one who breaks such good practice is their final man. Therefore I say to you, “Keep up this good practice that I have founded. Do not be my final man.”’
And so, after giving a prize village to the barber and carefully instructing the crown prince in kingship, King Maghadeva shaved off his hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness here in this mango grove. He meditated spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, he spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. He meditated spreading a heart full of compassion … rejoicing … equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, he spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
309. Này Ānanda, khi ấy, vua Maghadeva sau khi ban cho người thợ cạo một ngôi làng tốt đẹp, đã cho gọi vị hoàng tử trưởng nam và nói điều này: ‘Này hoàng tử con thân, các thiên sứ đã hiện ra với ta rồi; những sợi tóc bạc đã mọc và được nhìn thấy trên đầu ta; các dục lạc của loài người đã được ta hưởng thụ; đã đến lúc tìm cầu các dục lạc của chư thiên. Này hoàng tử con thân, con hãy đến, hãy cai quản vương quốc này. Còn ta, sau khi cạo bỏ râu tóc, khoác lên y phục màu cà-sa, ta sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này hoàng tử con thân, khi nào con cũng nhìn thấy những sợi tóc bạc đã mọc trên đầu, khi ấy con hãy ban cho người thợ cạo một ngôi làng tốt đẹp, hãy khéo giáo huấn vị hoàng tử trưởng nam về vương quyền, rồi sau khi cạo bỏ râu tóc, khoác lên y phục màu cà-sa, con hãy từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Con hãy tiếp nối thông lệ tốt đẹp này đã được ta thiết lập, mong rằng con đừng là người cuối cùng của dòng dõi ta. Này hoàng tử con thân, trong một thế hệ nào đó, khi một thông lệ tốt đẹp như vậy bị cắt đứt, người ấy trở thành người cuối cùng của dòng dõi họ. Này hoàng tử con thân, ta nói với con điều này: Con hãy tiếp nối thông lệ tốt đẹp này đã được ta thiết lập, mong rằng con đừng là người cuối cùng của dòng dõi ta.’ Này Ānanda, khi ấy, vua Maghadeva sau khi ban cho người thợ cạo một ngôi làng tốt đẹp, đã khéo giáo huấn vị hoàng tử trưởng nam về vương quyền, rồi ngay tại khu vườn xoài Maghadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, khoác lên y phục màu cà-sa, đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như thế ở trên, ở dưới, ở ngang, ở khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, vị ấy an trú, biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như thế ở trên, ở dưới, ở ngang, ở khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân.
Rājā kho panānanda, maghadevo caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷi, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajito brahmacariyamacari. So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
For 84,000 years King Maghadeva played games as a child, for 84,000 years he acted as viceroy, for 84,000 years he ruled the realm, and for 84,000 years he led the spiritual life after going forth here in this mango grove. And having developed the four divine meditations, when his body broke up, after death, he was reborn in a good place, a realm of divinity.
Này Ānanda, và vua Maghadeva đã vui chơi trò trẻ con trong tám mươi bốn ngàn năm, đã làm thái tử trong tám mươi bốn ngàn năm, đã trị vì trong tám mươi bốn ngàn năm, và đã sống đời phạm hạnh trong tám mươi bốn ngàn năm ngay tại khu vườn xoài Maghadeva này sau khi đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy, sau khi đã tu tập bốn phạm trú, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sanh lên cõi Phạm thiên.
Atha kho rañño, ānanda, maghadevassa putto bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena kappakaṁ āmantesi: ‘yadā me, samma kappaka, passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kho āroceyyāsī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa puttassa paccassosi. Addasā kho, ānanda, kappako bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena rañño maghadevassa puttassa sirasmiṁ palitāni jātāni. Disvāna rañño maghadevassa puttaṁ etadavoca: ‘pātubhūtā kho devassa devadūtā; dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti. ‘Tena hi, samma kappaka, tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā mama añjalismiṁ patiṭṭhāpehī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa puttassa paṭissutvā tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā rañño maghadevassa puttassa añjalismiṁ patiṭṭhāpesi.
Then, after many years, many hundred years, many thousand years had passed, King Maghadeva’s son addressed his barber, ‘My dear barber, when you see grey hairs growing on my head, please tell me.’ And all unfolded as in the case of his father.
310. Này Ānanda, khi ấy, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm đã trôi qua, con trai của vua Maghadeva đã gọi người thợ cạo và nói: ‘Này bạn thợ cạo, khi nào bạn nhìn thấy những sợi tóc bạc đã mọc trên đầu ta, khi ấy hãy báo cho ta biết.’ Này Ānanda, người thợ cạo đã vâng lời con trai của vua Maghadeva: ‘Tâu đức vua, xin vâng.’ Này Ānanda, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm đã trôi qua, người thợ cạo đã nhìn thấy những sợi tóc bạc đã mọc trên đầu của con trai vua Maghadeva. Sau khi nhìn thấy, người ấy đã nói điều này với con trai của vua Maghadeva: ‘Tâu đức vua, các thiên sứ đã hiện ra rồi; những sợi tóc bạc đã mọc và được nhìn thấy trên đầu ngài.’ ‘Vậy thì, này bạn thợ cạo, bạn hãy dùng cái nhíp nhổ những sợi tóc bạc ấy một cách cẩn thận rồi đặt vào lòng bàn tay ta.’ Này Ānanda, người thợ cạo đã tuân lệnh con trai của vua Maghadeva: ‘Tâu đức vua, xin vâng,’ rồi đã dùng cái nhíp nhổ những sợi tóc bạc ấy một cách cẩn thận và đặt vào lòng bàn tay của con trai vua Maghadeva.
“Này Ānanda, khi ấy, con trai của đức vua Maghadeva, sau khi ban cho người thợ cạo một ngôi làng tốt nhất, đã cho gọi vị hoàng tử trưởng nam và nói điều này: ‘Này hoàng tử con thân yêu, các thiên sứ đã hiện ra với ta; những sợi tóc bạc đã mọc và được nhìn thấy ở trên đầu; các dục lạc của loài người đã được ta hưởng thụ; đã đến lúc tìm cầu các dục lạc của chư thiên. Này hoàng tử con thân yêu, con hãy đến, hãy cai quản vương quốc này. Còn ta, sau khi cạo bỏ râu tóc, khoác lên y phục màu cà-sa, ta sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vậy thì, này hoàng tử con thân yêu, khi nào con cũng nhìn thấy những sợi tóc bạc mọc ở trên đầu, khi ấy con hãy ban cho người thợ cạo một ngôi làng tốt nhất, hãy khéo giáo huấn vị hoàng tử trưởng nam về việc trị vì, rồi cạo bỏ râu tóc, khoác lên y phục màu cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Con hãy tiếp nối thiện hạnh này đã được ta thiết lập, con chớ có là người cuối cùng của ta. Này hoàng tử con thân yêu, trong dòng dõi của người nào mà thiện hạnh tương tự như vầy bị đoạn tuyệt, người ấy là người cuối cùng của họ. Này hoàng tử con thân yêu, ta nói với con điều này: Con hãy tiếp nối thiện hạnh này đã được ta thiết lập, con chớ có là người cuối cùng của ta.’ Này Ānanda, khi ấy, con trai của đức vua Maghadeva, sau khi ban cho người thợ cạo một ngôi làng tốt nhất, đã khéo giáo huấn vị hoàng tử trưởng nam về việc trị vì, rồi ở tại chính khu vườn xoài Maghadeva này, đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên y phục màu cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế gian với tất cả chúng sanh, với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế gian với tất cả chúng sanh, với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân. Này Ānanda, con trai của đức vua Maghadeva đã vui chơi trò trẻ con trong tám mươi bốn ngàn năm, đã làm phó vương trong tám mươi bốn ngàn năm, đã trị vì trong tám mươi bốn ngàn năm, đã thực hành phạm hạnh sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình ở tại chính khu vườn xoài Maghadeva này trong tám mươi bốn ngàn năm. Vị ấy, sau khi đã tu tập bốn Phạm trú, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sanh lên cõi Phạm thiên.
Rañño kho panānanda, maghadevassa puttapaputtakā tassa paramparā caturāsītirājasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁsu. Te mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu. Karuṇāsahagatena cetasā … muditāsahagatena cetasā … upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu. Caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷiṁsu, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresuṁ, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresuṁ, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā brahmacariyamacariṁsu. Te cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpagā ahesuṁ.
Nimi tesaṁ rājā pacchimako ahosi dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā; dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca; uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassa.
And a lineage of 84,000 kings, sons of sons of King Maghadeva, shaved off their hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness here in this mango grove. They meditated spreading a heart full of love … compassion … rejoicing … equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. For 84,000 years they played games as a child, for 84,000 years they acted as viceroy, for 84,000 years they ruled the realm, and for 84,000 years they led the spiritual life after going forth here in this mango grove. And having developed the four divine meditations, when their bodies broke up, after death, they were reborn in a good place, a realm of divinity.
Nimi was the last of those kings, a just and principled king, a great king who stood by his duty. He justly treated brahmins and householders, and people of town and country. And he observed the sabbath on the fourteenth, fifteenth, and eighth of the fortnight.
311. “Này Ānanda, tám mươi bốn ngàn vị vua là con cháu nối tiếp của đức vua Maghadeva, ở tại chính khu vườn xoài Maghadeva này, đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên y phục màu cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế gian với tất cả chúng sanh, với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... Các vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế gian với tất cả chúng sanh, với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân. Họ đã vui chơi trò trẻ con trong tám mươi bốn ngàn năm, đã làm phó vương trong tám mươi bốn ngàn năm, đã trị vì trong tám mươi bốn ngàn năm, đã thực hành phạm hạnh sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình ở tại chính khu vườn xoài Maghadeva này trong tám mươi bốn ngàn năm. Các vị ấy, sau khi đã tu tập bốn Phạm trú, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sanh lên cõi Phạm thiên. Vua Nimi là vị cuối cùng của họ, là người sống đúng theo Chánh Pháp, là vị vua của Chánh Pháp, là vị đại vương an trú trong Chánh Pháp; vị ấy thực hành Chánh Pháp đối với các vị bà-la-môn và gia chủ, cả ở các thị tứ và các miền quê; và vị ấy giữ ngày trai giới vào các ngày mười bốn, mười lăm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sudhammāyaṁ sabhāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi: ‘lābhā vata, bho, videhānaṁ, suladdhaṁ vata, bho, videhānaṁ, yesaṁ nimi rājā dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā; dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca; uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā’ti.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi: ‘iccheyyātha no tumhe, mārisā, nimiṁ rājānaṁ daṭṭhun’ti?
‘Icchāma mayaṁ, mārisa, nimiṁ rājānaṁ daṭṭhun’ti.
Tena kho pana, ānanda, samayena nimi rājā tadahuposathe pannarase sīsaṁnhāto uposathiko uparipāsādavaragato nisinno hoti. Atha kho, ānanda, sakko devānamindo—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito nimissa rañño pamukhe pāturahosi. Atha kho, ānanda, sakko devānamindo nimiṁ rājānaṁ etadavoca: ‘lābhā te, mahārāja, suladdhaṁ te, mahārāja. Devā, mahārāja, tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ kittayamānarūpā sannisinnā: “lābhā vata, bho, videhānaṁ, suladdhaṁ vata, bho, videhānaṁ, yesaṁ nimi rājā dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā; dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca; uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā”ti. Devā te, mahārāja, tāvatiṁsā dassanakāmā. Tassa te ahaṁ, mahārāja, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ pahiṇissāmi; abhiruheyyāsi, mahārāja, dibbaṁ yānaṁ avikampamāno’ti. Adhivāsesi kho, ānanda, nimi rājā tuṇhībhāvena.
Once upon a time, Ānanda, while the gods of the thirty-three were sitting together in the Hall of Clear Right, this discussion came up among them: ‘The people of Videha are so fortunate, so very fortunate to have Nimi as their king. He is a just and principled king, a great king who stands by his duty. He justly treats brahmins and householders, and people of town and country. And he observes the sabbath on the fourteenth, fifteenth, and eighth of the fortnight.’
Then Sakka, lord of gods, addressed the gods of the thirty-three, ‘Good fellows, would you like to see King Nimi?’
‘We would.’
Now at that time it was the fifteenth day sabbath, and King Nimi had bathed his head and was sitting upstairs in the royal longhouse to observe the sabbath. Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, Sakka vanished from the thirty-three gods and reappeared in front of King Nimi. He said to the king, ‘You’re fortunate, Great King, so very fortunate. The gods of the thirty-three were sitting together in the Hall of Clear Right, where they were singing your praises. They would like to see you. I shall send a chariot harnessed with a thousand thoroughbreds for you, Great King. Mount the heavenly chariot, Great King, without wavering!’ King Nimi consented with silence.
312. “Này Ānanda, thuở xưa, trong lúc chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba đang ngồi hội họp tại pháp đường Sudhammā, câu chuyện này đã được khởi lên: ‘Chư vị ơi, thật là một điều lợi ích cho dân xứ Videha! Chư vị ơi, thật là một điều may mắn cho dân xứ Videha, khi họ có vua Nimi là vị vua công chính, một vị pháp vương, một vị đại vương an trú trong Chánh pháp; ngài thực hành Chánh pháp đối với các vị Bà-la-môn, gia chủ, cả ở các thị trấn và các miền quê; và ngài thọ trì ngày trai giới vào các ngày mười bốn, rằm, và mồng tám của mỗi nửa tháng.’ Bấy giờ, này Ānanda, Sakka, vua của chư thiên, đã nói với chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba: ‘Này các hiền hữu, quý vị có muốn diện kiến vua Nimi không?’ ‘Thưa hiền hữu, chúng tôi muốn diện kiến vua Nimi.’ Này Ānanda, vào lúc ấy, trong ngày trai giới rằm, vua Nimi đã gội đầu, đang thọ trì ngày trai giới và ngự trên lầu cao của cung điện. Bấy giờ, này Ānanda, Sakka, vua của chư thiên, cũng như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ngài biến mất khỏi cõi trời Ba Mươi Ba và hiện ra trước mặt vua Nimi. Bấy giờ, này Ānanda, Sakka, vua của chư thiên, đã nói với vua Nimi điều này: ‘Thưa Đại vương, thật là một điều lợi ích cho ngài, thưa Đại vương, thật là một điều may mắn cho ngài. Thưa Đại vương, chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba đang ngồi hội họp tại pháp đường Sudhammā và tán thán rằng: “Chư vị ơi, thật là một điều lợi ích cho dân xứ Videha! Chư vị ơi, thật là một điều may mắn cho dân xứ Videha, khi họ có vua Nimi là vị vua công chính, một vị pháp vương, một vị đại vương an trú trong Chánh pháp; ngài thực hành Chánh pháp đối với các vị Bà-la-môn, gia chủ, cả ở các thị trấn và các miền quê; và ngài thọ trì ngày trai giới vào các ngày mười bốn, rằm, và mồng tám của mỗi nửa tháng.” Thưa Đại vương, chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba mong muốn được diện kiến ngài. Vì vậy, thưa Đại vương, tôi sẽ gửi đến cho ngài một cỗ xe ngựa thuần chủng được thắng một ngàn con; xin Đại vương hãy không do dự mà ngự lên cỗ xe thần thánh này.’ Này Ānanda, vua Nimi đã im lặng chấp thuận.”
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo nimissa rañño adhivāsanaṁ viditvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—nimissa rañño pamukhe antarahito devesu tāvatiṁsesu pāturahosi.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo mātaliṁ saṅgāhakaṁ āmantesi: ‘ehi tvaṁ, samma mātali, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadehi—ayaṁ te, mahārāja, sahassayutto ājaññaratho sakkena devānamindena pesito; abhiruheyyāsi, mahārāja, dibbaṁ yānaṁ avikampamāno’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, ānanda, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ upasaṅkamitvā etadavoca: ‘ayaṁ te, mahārāja, sahassayutto ājaññaratho sakkena devānamindena pesito; abhiruha, mahārāja, dibbaṁ yānaṁ avikampamāno. Api ca, mahārāja, katamena taṁ nemi, yena vā pāpakammā pāpakānaṁ kammānaṁ vipākaṁ paṭisaṁvedenti, yena vā kalyāṇakammā kalyāṇakammānaṁ vipākaṁ paṭisaṁvedentī’ti?
‘Ubhayeneva maṁ, mātali, nehī’ti.
Sampavesesi kho, ānanda, mātali, saṅgāhako nimiṁ rājānaṁ sudhammaṁ sabhaṁ. Addasā kho, ānanda, sakko devānamindo nimiṁ rājānaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna nimiṁ rājānaṁ etadavoca: ‘ehi kho, mahārāja. Svāgataṁ, mahārāja. Devā te dassanakāmā, mahārāja, tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ kittayamānarūpā sannisinnā: “lābhā vata, bho, videhānaṁ, suladdhaṁ vata, bho, videhānaṁ, yesaṁ nimi rājā dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā; dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca; uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā”ti. Devā te, mahārāja, tāvatiṁsā dassanakāmā. Abhirama, mahārāja, devesu devānubhāvenā’ti.
‘Alaṁ, mārisa, tattheva maṁ mithilaṁ paṭinetu. Tathāhaṁ dhammaṁ carissāmi brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca; uposathañca upavasāmi cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā’ti.
Then, knowing that the king had consented, as easily as a strong person would extend or contract their arm, Sakka vanished from King Nimi and reappeared among the gods of the thirty-three.
Then Sakka, lord of gods, addressed his chariot handler Mātali, ‘Come, dear Mātali, harness the chariot with a thousand thoroughbreds. Then go to King Nimi and say, “Great king, this chariot has been sent for you by Sakka, lord of gods. Mount the heavenly chariot, Great King, without wavering!”’
‘Yes, lord,’ replied Mātali. He did as Sakka asked, and said to the king, ‘Great king, this chariot has been sent for you by Sakka, lord of gods. Mount the heavenly chariot, Great King, without wavering! But which way should we go—the way of those who experience the result of bad deeds, or the way of those who experience the result of good deeds?’
‘Take me both ways, Mātali.’
Mātali brought King Nimi to the Hall of Clear Right. Sakka saw King Nimi coming off in the distance, and said to him: ‘Come, Great King! Welcome, Great King! The gods of the thirty-three who wanted to see you were sitting together in the Hall of Clear Right, where they were singing your praises. The gods of the thirty-three would like to see you. Enjoy heavenly glory among the gods!’
‘Enough, good fellow. Send me back to Mithilā right away. That way I shall justly treat brahmins and householders, and people of town and country. And I shall observe the sabbath on the fourteenth, fifteenth, and eighth of the fortnight.’
313. “Bấy giờ, này Ānanda, Sakka, vua của chư thiên, biết được sự chấp thuận của vua Nimi, cũng như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ngài biến mất khỏi trước mặt vua Nimi và hiện ra giữa chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba. Bấy giờ, này Ānanda, Sakka, vua của chư thiên, đã gọi người đánh xe Mātali: ‘Này hiền hữu Mātali, hãy đến đây, hãy thắng cỗ xe ngựa thuần chủng một ngàn con, đến gặp vua Nimi và nói như sau: “Thưa Đại vương, cỗ xe ngựa thuần chủng một ngàn con này đã được Sakka, vua của chư thiên, gửi đến cho ngài; xin Đại vương hãy không do dự mà ngự lên cỗ xe thần thánh này.”’ ‘Xin vâng, thưa ngài,’ này Ānanda, người đánh xe Mātali đã vâng lời Sakka, vua của chư thiên, rồi thắng cỗ xe ngựa thuần chủng một ngàn con, đến gặp vua Nimi và nói điều này: ‘Thưa Đại vương, cỗ xe ngựa thuần chủng một ngàn con này đã được Sakka, vua của chư thiên, gửi đến cho ngài; xin Đại vương hãy không do dự mà ngự lên cỗ xe thần thánh này. Hơn nữa, thưa Đại vương, tôi nên đưa ngài đi theo con đường nào, con đường mà những người làm điều ác phải gánh chịu quả báo của các ác nghiệp, hay con đường mà những người làm điều thiện được hưởng quả báo của các thiện nghiệp?’ ‘Này Mātali, hãy đưa ta đi bằng cả hai con đường.’ Này Ānanda, người đánh xe Mātali đã đưa vua Nimi vào pháp đường Sudhammā. Này Ānanda, Sakka, vua của chư thiên, đã thấy vua Nimi từ xa đang đến. Sau khi thấy, ngài đã nói với vua Nimi điều này: ‘Xin mời Đại vương đến. Hoan nghênh Đại vương. Thưa Đại vương, chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba mong muốn được diện kiến ngài, họ đang ngồi hội họp tại pháp đường Sudhammā và tán thán rằng: “Chư vị ơi, thật là một điều lợi ích cho dân xứ Videha! Chư vị ơi, thật là một điều may mắn cho dân xứ Videha, khi họ có vua Nimi là vị vua công chính, một vị pháp vương, một vị đại vương an trú trong Chánh pháp; ngài thực hành Chánh pháp đối với các vị Bà-la-môn, gia chủ, cả ở các thị trấn và các miền quê; và ngài thọ trì ngày trai giới vào các ngày mười bốn, rằm, và mồng tám của mỗi nửa tháng.” Thưa Đại vương, chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba mong muốn được diện kiến ngài. Thưa Đại vương, xin hãy hoan hỷ với oai lực của chư thiên giữa chư thiên.’ ‘Thôi đủ rồi, thưa hiền hữu, xin hãy đưa tôi trở về lại Mithilā. Ở đó, tôi sẽ thực hành Chánh pháp đối với các vị Bà-la-môn, gia chủ, cả ở các thị trấn và các miền quê; và tôi sẽ thọ trì ngày trai giới vào các ngày mười bốn, rằm, và mồng tám của mỗi nửa tháng.’”
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo mātaliṁ saṅgāhakaṁ āmantesi: ‘ehi tvaṁ, samma mātali, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ tattheva mithilaṁ paṭinehī’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, ānanda, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ tattheva mithilaṁ paṭinesi. Tatra sudaṁ, ānanda, nimi rājā dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca, uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassāti.
Atha kho, ānanda, nimi rājā bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena kappakaṁ āmantesi: ‘yadā me, samma kappaka, passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha me āroceyyāsī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako nimissa rañño paccassosi. Addasā kho, ānanda, kappako bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena nimissa rañño sirasmiṁ palitāni jātāni. Disvāna nimiṁ rājānaṁ etadavoca: ‘pātubhūtā kho devassa devadūtā; dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti. ‘Tena hi, samma kappaka, tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā mama añjalismiṁ patiṭṭhāpehī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako nimissa rañño paṭissutvā tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā nimissa rañño añjalismiṁ patiṭṭhāpesi. Atha kho, ānanda, nimi rājā kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca: ‘pātubhūtā kho me, tāta kumāra, devadūtā; dissanti sirasmiṁ palitāni jātāni; bhuttā kho pana me mānusakā kāmā; samayo dibbe kāme pariyesituṁ. Ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ rajjaṁ paṭipajja. Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi. Tena hi, tāta kumāra, yadā tvampi passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyāsi. Yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosi. Yasmiṁ kho, tāta kumāra, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti. Taṁ tāhaṁ, tāta kumāra, evaṁ vadāmi: “yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosī”’ti.
Then Sakka, lord of gods, addressed his chariot handler Mātali, ‘Come, dear Mātali, harness the chariot with a thousand thoroughbreds and send King Nimi back to Mithilā right away.’
‘Yes, lord,’ replied Mātali, and did as Sakka asked. And there King Nimi justly treated his people, and observed the sabbath.
Then, after many years, many hundred years, many thousand years had passed, King Nimi addressed his barber, ‘My dear barber, when you see grey hairs growing on my head, please tell me.’ And all unfolded as before.
314. Này Ānanda, khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, gọi người đánh xe Mātali và nói: ‘Này bạn Mātali, hãy đến đây, thắng cỗ xe ngàn ngựa thuần chủng và đưa vua Nimi trở về chính thành Mithilā.’ Này Ānanda, người đánh xe Mātali vâng lời Sakka, vua của chư thiên, rằng: ‘Xin vâng, thưa ngài,’ rồi thắng cỗ xe ngàn ngựa thuần chủng và đưa vua Nimi trở về chính thành Mithilā. Này Ānanda, ở đó, vua Nimi thực hành Chánh pháp đối với các vị Bà-la-môn, gia chủ, dân chúng ở thị trấn và ở thôn quê, và thực hành ngày trai giới vào các ngày mười bốn, mười lăm, và ngày mùng tám của mỗi nửa tháng. Này Ānanda, khi ấy, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, vua Nimi gọi người thợ cạo và nói: ‘Này bạn thợ cạo, khi nào bạn thấy tóc bạc mọc trên đầu ta, hãy báo cho ta biết.’ Này Ānanda, người thợ cạo vâng lời vua Nimi: ‘Xin vâng, tâu Đại vương.’ Này Ānanda, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, người thợ cạo thấy tóc bạc mọc trên đầu vua Nimi. Thấy vậy, ông ta nói với vua Nimi rằng: ‘Tâu Đại vương, sứ giả của chư thiên đã xuất hiện; tóc bạc đã được thấy mọc trên đầu ngài.’ ‘Vậy thì, này bạn thợ cạo, hãy dùng nhíp nhổ những sợi tóc bạc ấy một cách cẩn thận và đặt chúng vào lòng bàn tay ta.’ Này Ānanda, người thợ cạo vâng lời vua Nimi: ‘Xin vâng, tâu Đại vương,’ rồi dùng nhíp nhổ những sợi tóc bạc ấy một cách cẩn thận và đặt chúng vào lòng bàn tay của vua Nimi. Này Ānanda, khi ấy, vua Nimi ban cho người thợ cạo một ngôi làng tốt nhất, rồi cho gọi vị hoàng tử trưởng nam đến và nói rằng: ‘Này con trai, sứ giả của chư thiên đã xuất hiện với ta; tóc bạc đã được thấy mọc trên đầu ta. Ta đã hưởng thụ các dục lạc của loài người; đã đến lúc tìm cầu các dục lạc của chư thiên. Này con trai, con hãy đến đây, hãy cai trị vương quốc này. Còn ta, ta sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Vậy thì, này con trai, khi nào con cũng thấy tóc bạc mọc trên đầu, khi ấy con hãy ban cho người thợ cạo một ngôi làng tốt nhất, rồi hãy khéo giáo huấn vị hoàng tử trưởng nam về việc trị vì, sau đó hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Con hãy tiếp nối truyền thống tốt đẹp này do ta đã thiết lập. Con đừng trở thành người cuối cùng của dòng dõi ta. Này con trai, trong dòng dõi của một người, khi một truyền thống tốt đẹp như vậy bị cắt đứt, người đó trở thành người cuối cùng của dòng dõi ấy. Vì vậy, này con trai, ta nói với con điều này: ‘Con hãy tiếp nối truyền thống tốt đẹp này do ta đã thiết lập. Con đừng trở thành người cuối cùng của dòng dõi ta.’’
Atha kho, ānanda, nimi rājā kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji. So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi. Karuṇāsahagatena cetasā … muditāsahagatena cetasā … upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi. Nimi kho panānanda, rājā caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷi, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajito brahmacariyamacari. So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Nimissa kho panānanda, rañño kaḷārajanako nāma putto ahosi. Na so agārasmā anagāriyaṁ pabbaji. So taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ samucchindi. So tesaṁ antimapuriso ahosi.
And having developed the four divine meditations, when his body broke up, after death, King Nimi was reborn in a good place, a realm of divinity.
But King Nimi had a son named Kaḷāra Janaka. He didn’t go forth from the lay life to homelessness. He broke that good practice. He was their final man.
315. Này Ānanda, khi ấy, vua Nimi ban cho người thợ cạo một ngôi làng tốt nhất, khéo giáo huấn vị hoàng tử trưởng nam về việc trị vì, rồi ngay tại vườn xoài Maghadeva này, ngài cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, ngài an trú biến mãn khắp thế gian, trên, dưới, ngang, khắp nơi, cùng khắp, với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, vị ấy an trú, biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, ngài an trú biến mãn khắp thế gian, trên, dưới, ngang, khắp nơi, cùng khắp, với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, vô biên, không hận, không sân. Này Ānanda, vua Nimi đã vui chơi như một đứa trẻ trong tám mươi bốn ngàn năm, làm phó vương trong tám mươi bốn ngàn năm, trị vì vương quốc trong tám mươi bốn ngàn năm, và đã xuất gia từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình, thực hành phạm hạnh trong tám mươi bốn ngàn năm ngay tại vườn xoài Maghadeva này. Vị ấy, sau khi tu tập bốn phạm trú, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sanh lên cõi Phạm thiên. Này Ānanda, vua Nimi có một người con trai tên là Kaḷārajanaka. Vị này đã không từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Vị ấy đã cắt đứt truyền thống tốt đẹp ấy. Vị ấy là người cuối cùng của dòng dõi đó.
Siyā kho pana te, ānanda, evamassa: ‘añño nūna tena samayena rājā maghadevo ahosi, yena taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitan’ti. Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Ahaṁ tena samayena rājā maghadevo ahosiṁ. Ahaṁ taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihiniṁ, mayā taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ; pacchimā janatā anuppavattesi.
Taṁ kho panānanda, kalyāṇaṁ vattaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva brahmalokūpapattiyā. Idaṁ kho panānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Katamañcānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi. Idaṁ kho, ānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Taṁ vo ahaṁ, ānanda, evaṁ vadāmi: ‘yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyātha, mā kho me tumhe antimapurisā ahuvattha’. Yasmiṁ kho, ānanda, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti. Taṁ vo ahaṁ, ānanda, evaṁ vadāmi: ‘yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyātha, mā kho me tumhe antimapurisā ahuvatthā’”ti.
Ānanda, you might think, ‘Surely King Maghadeva, by whom that good practice was founded, must have been someone else at that time?’ But you should not see it like this. I myself was King Maghadeva at that time. I was the one who founded that good practice, which was kept up by those who came after.
But that good practice doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the realm of divinity. But now I have founded a good practice that does lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.
And what is that good practice? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is the good practice I have now founded that leads to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.
Ānanda, I say to you: ‘You all should keep up this good practice that I have founded. Do not be my final men.’ When a pair of men are living, the one who breaks such good practice is their final man. Ānanda, I say to you: ‘You all should keep up this good practice that I have founded. Do not be my final men.’”
316. “Này Ānanda, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Vào thời ấy, vị vua Maghadeva đã thiết lập truyền thống tốt đẹp ấy chắc hẳn là một người khác.’ Này Ānanda, không nên nhìn nhận như vậy. Vào thời ấy, chính Ta là vua Maghadeva. Ta đã thiết lập truyền thống tốt đẹp ấy; thế hệ sau đã noi theo. Này Ānanda, truyền thống tốt đẹp ấy không đưa đến nhàm chán, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự tái sanh vào cõi Phạm thiên. Này Ānanda, còn truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập hiện nay thì hoàn toàn đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này Ānanda, truyền thống tốt đẹp nào do Ta thiết lập hiện nay hoàn toàn đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Bát Thánh Đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Ānanda, đây là truyền thống tốt đẹp do Ta thiết lập hiện nay, hoàn toàn đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này Ānanda, Ta nói với các ông như vầy: ‘Các ông hãy noi theo truyền thống tốt đẹp này do Ta đã thiết lập, chớ có trở thành những người cuối cùng của Ta.’ Này Ānanda, trong một thế hệ người nào mà truyền thống tốt đẹp như vậy bị đoạn tuyệt, người ấy là người cuối cùng trong số họ. Này Ānanda, Ta nói với các ông như vầy: ‘Các ông hãy noi theo truyền thống tốt đẹp này do Ta đã thiết lập, chớ có trở thành những người cuối cùng của Ta.’”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Maghadevasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Maghadeva, kinh thứ ba, chấm dứt.