- Majjhima Nikāya 82
Raṭṭhapālasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Raṭṭhapālasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn du hành ở giữa dân chúng Kuru, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, và đi đến một thị trấn của dân chúng Kuru tên là Thullakotthita.
SC 2Các Bà-la-môn, gia chủ ở Thullakotthita được nghe như sau: “Sa-môn Gotama là Thích tử, Tôn giả xuất gia từ dòng họ Sakya, du hành giữa dân chúng Kuru nay đã đến Thullakotthita với đại chúng Tỷ-kheo. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được nói lên về Tôn giả Gotama: “Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài với thắng trí tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên bố sự chứng ngộ ấy cho người khác. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, và giới thiệu đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch”. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy”.
SC 3Rồi các Bà-la-môn, gia chủ ở Thullakotthita đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, một số người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, và sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Một số người chấp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên. Một số người yên lặng ngồi xuống một bên.
SC 4Rồi Thế Tôn với pháp thoại khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị Bà-la-môn, gia chủ ở Thullakotthita đang ngồi một bên.
SC 5Lúc bấy giờ, một thiện nam tử tên là Raṭṭḥapāla, con trai một gia đình thượng tộc ở chính tại Thullakotthita ấy, đang ngồi trong hội chúng này. Rồi thiện nam tử Raṭṭḥapāla suy nghĩ như sau: “Như ta được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
SC 6Rồi các Bà-la-môn, gia chủ ở Thullakotthita, sau khi được Thế Tôn với pháp thoại khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 7Thiện nam tử Raṭṭḥapāla, sau khi các Bà-la-môn, gia chủ ra đi không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, thiện nam tử Raṭṭḥapāla bạch Thế Tôn
SC 8—Bạch Thế Tôn, như con được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Con muốn, bạch Thế Tôn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, cho con thọ đại giới.
SC 9—- Nhưng này Raṭṭḥapāla, Ông có được cha mẹ bằng lòng cho Ông xuất gia chưa?
SC 10—Bạch Thế Tôn, con chưa được cha mẹ bằng lòng cho con xuất gia.
SC 11—Này Raṭṭḥapāla, Như Lai không có cho ai xuất gia nếu không được cha mẹ người ấy bằng lòng.
SC 12—Như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ làm những gì cần thiết để cha mẹ bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 13Rồi thiện nam tử Raṭṭḥapāla từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi, đi đến cha mẹ, sau khi đến liền thưa với cha mẹ
SC 14—Thưa Mẹ và Cha, như con được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia đình thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Con muốn cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Hãy bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 15Khi được nghe nói vậy, cha mẹ Thiên nam tử Raṭṭḥapāla nói với thiện nam tử Raṭṭḥapāla
SC 16—Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con là đứa con độc nhất của mẹ cha, khả ái, dễ thương, được sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con không biết gì về đau khổ. Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, hãy đến ăn, hãy uống và hãy ăn chơi. Ăn, uống, ăn chơi, con có thể thụ hưởng các ái dục và sung sướng làm các phước đức. Chúng ta không bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu con có chết, chúng ta còn không muốn không có mặt con, huống nay con còn sống, chúng ta lại bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!
SC 17Lần thứ hai … Lần thứ ba, thiện nam tử Raṭṭḥapāla thưa với mẹ cha
SC 18—Thưa Mẹ và Cha, như con được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia thật không dễ gì thực hành Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Con muốn cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Hãy bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 19Lần thứ ba, cha mẹ thiện nam tử Raṭṭḥapāla nói với thiện nam tử Raṭṭḥapāla
SC 20—Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con là đứa con độc nhất của mẹ cha, khả ái, dễ thương, được sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con không biết gì về đau khổ. Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, hãy đến ăn, hãy sống và hãy vui chơi. Ăn, uống, vui chơi, con có thể thụ hưởng các ái dục và sung sướng làm các phước đức. Chúng ta không bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu con có chết, chúng ta còn không muốn không có mặt con, huống nay con còn sống, chúng ta lại bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!
SC 21Rồi thiện nam tử Raṭṭḥapāla không được cha mẹ cho xuất gia, liền ngay tại chỗ ấy nằm xuống trên đất trần và nói
SC 22—Ta sẽ chết ở đây, hay được xuất gia.
SC 23Rồi cha mẹ thiện nam tử Raṭṭḥapāla nói với thiện nam tử Raṭṭḥapāla
SC 24—Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con là đứa con độc nhất của cha mẹ, khả ái, dễ thương, được sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con không biết gì về đau khổ. Hãy đứng dậy, này con thân yêu Raṭṭḥapāla, hãy ăn, hãy uống, hãy vui chơi. Ăn, uống, vui chơi, con có thể thụ hưởng các ái dục và sung sướng làm các phước đức. Chúng ta không bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu con có chết, chúng ta còn không muốn không có mặt con, huống nay con còn sống, chúng ta lại bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!
SC 25Khi được nghe nói vậy, thiện nam tử Raṭṭḥapāla giữ im lặng. Lần thứ hai … Lần thứ ba, cha mẹ thiện nam tử Raṭṭḥapāla nói với thiện nam tử Raṭṭḥapāla
SC 26—Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con là đứa con độc nhất của cha mẹ, khả ái, dễ thương, sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con không biết gì về đau khổ. Hãy đứng dậy, này con thân yêu Raṭṭḥapāla, hãy ăn, hãy uống, hãy vui chơi. Ăn, uống, vui chơi, con có thể thụ hưởng cái ái dục và sung sướng làm các phước đức. Chúng ta không bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu con có chết, chúng ta còn không muốn không có mặt con, huống nay con còn sống, chúng Ta lại bằng lòng cho con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!
SC 27Lần thứ ba, thiện nam tử Raṭṭḥapāla giữ im lặng.
SC 28Rồi cha mẹ thiện nam tử Raṭṭḥapāla liền đi đến các thân hữu của thiện nam tử Raṭṭḥapāla, và nói
SC 29—Này các Thân hữu, thiện nam tử Raṭṭḥapāla nằm trên đất trần và nói: “Ở đây, ta sẽ chết, hay được xuất gia”. Này các con thân mến, hãy đi đến thiện nam tử Raṭṭḥapāla, sau khi đến hãy nói với thiện nam tử Raṭṭḥapāla: “Này bạn Raṭṭḥapāla, bạn là con độc nhất của cha mẹ bạn, khả ái, dễ thương, được sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này bạn Raṭṭḥapāla, bạn không biết gì về đau khổ. Hãy đứng dậy, bạn Raṭṭḥapāla, hãy ăn, hãy uống, hãy vui chơi. Ăn, uống, vui chơi, bạn có thể thụ hưởng các ái dục và sung sướng làm phước đức, cha mẹ bạn không bằng lòng cho bạn được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu bạn có chết đi, cha mẹ bạn còn không muốn không có mặt bạn, huống nay bạn còn sống, cha mẹ bạn lại bằng lòng cho bạn được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!”
SC 30Rồi những người bạn của thiện nam tử Raṭṭḥapāla vâng theo lời cha mẹ của thiện nam tử Raṭṭḥapāla, đi đến chỗ thiện nam tử Raṭṭḥapāla, sau khi đến liền nói
SC 31—Này bạn Raṭṭḥapāla, bạn là con độc nhất của cha mẹ bạn, khả ái, dễ thương, được sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này bạn Raṭṭḥapāla, bạn không biết gì về đau khổ. Hãy đứng dậy, bạn Raṭṭḥapāla, hãy ăn, hãy uống, hãy vui chơi. Ăn, uống, vui chơi, bạn có thể thụ hưởng các ái dục và sung sướng làm các phước đức. Cha mẹ bạn không bằng lòng cho phép bạn được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu bạn có chết đi, cha mẹ bạn còn không muốn không có mặt bạn, huống nay bạn còn sống, cha mẹ bạn lại bằng lòng cho bạn được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!
SC 32Khi được nghe nói vậy, thiện nam tử Raṭṭḥapāla giữ im lặng. Lần thứ hai … Lần thứ ba, những người bạn của thiện nam tử Raṭṭḥapāla, nói với thiện nam tử Raṭṭḥapāla
SC 33—Này bạn Raṭṭḥapāla, bạn là con độc nhất của cha mẹ bạn, khả ái, dễ thương, được sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này bạn Raṭṭḥapāla, bạn không biết gì về đau khổ. Hãy đứng dậy, bạn Raṭṭḥapāla, hãy ăn, hãy uống, hãy vui chơi. Ăn uống, vui chơi, bạn có thể thụ hưởng các ái dục, và sung sướng làm các phước đức. Cha mẹ bạn không bằng lòng cho phép bạn được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu bạn chết đi, cha mẹ bạn còn không muốn không có mặt bạn, huống nay bạn còn sống, cha mẹ bạn lại bằng lòng cho phép bạn được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!
SC 34Lần thứ ba, thiện nam tử Raṭṭḥapāla giữ im lặng.
SC 35Rồi các thân hữu của thiện nam tử Raṭṭḥapāla đi đến cha mẹ thiện nam tử Raṭṭḥapāla, sau khi đến liền thưa
SC 36—Thưa Mẹ và Cha, thiện nam tử Raṭṭḥapāla đang nằm xuống trên đất trần kia và nói: “Ở đây, ta sẽ chết, hay được xuất gia”. Nếu Cha Mẹ không bằng lòng cho thiện nam tử Raṭṭḥapāla xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời Raṭṭḥapāla sẽ chết ở tại chỗ ấy. Còn nếu Cha Mẹ bằng lòng cho thiện nam tử Raṭṭḥapāla xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời Cha Mẹ có thể thấy Raṭṭḥapāla sau khi xuất gia. Nếu thiện nam tử Raṭṭḥapāla không cảm thấy hoan hỷ trong khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời Raṭṭḥapāla không còn con đường nào đi khác hơn. Raṭṭḥapāla sẽ trở lại ở đây. Hãy bằng lòng cho phép thiện nam tử Raṭṭḥapāla xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 37—Này các con thân mến, chúng ta bằng lòng cho phép thiện nam tử Raṭṭḥapāla xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sau khi xuất gia, cần phải về thăm cha mẹ.
SC 38Rồi những thân hữu của thiện nam tử Raṭṭḥapāla, đi đến thiện nam tử Raṭṭḥapāla, sau khi đến, liền nói
SC 39—Này bạn Raṭṭḥapāla, bạn là con độc nhất của cha mẹ bạn, khả ái, dễ thương, sống trong an lạc, được nuôi dưỡng trong an lạc. Này bạn Raṭṭḥapāla, bạn không biết gì về đau khổ. Hãy đứng dậy, ăn, uống, và vui chơi. Ăn, uống, vui chơi, bạn có thể thụ hưởng các ái dục, và sung sướng làm các phước đức. Cha mẹ bạn đã bằng lòng cho phép được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và sau khi xuất gia, cần phải về thăm cha mẹ.
SC 40Rồi thiện nam tử Raṭṭḥapāla, sau khi đứng dậy, sau khi lấy lại sức lực, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thiện nam tử Raṭṭḥapāla bạch Thế Tôn
SC 41—Bạch Thế Tôn, con đã được mẹ cha bằng lòng cho phép con được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế Tôn hãy xuất gia cho con.
SC 42Và thiện nam tử Raṭṭḥapāla được xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn và được thọ đại giới.
SC 43Rồi Thế Tôn, sau khi Tôn giả Raṭṭḥapāla thọ đại giới không bao lâu, nửa tháng sau khi thọ đại giới, sau khi ở tại Thullakotthita cho đến khi thỏa mãn, liền khởi hành đi đến Sāvatthi, tuần tự du hành và đến Sāvatthi. Ở đấy, Thế Tôn trú tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của Anāthapiṇḍika.
SC 44Rồi Tôn giả Raṭṭḥapāla sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh tấn, không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến, tức là tự chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn phải trở lui ở đời này nữa”. Tôn giả Raṭṭḥapāla trở thành một vị A-la-hán nữa.
SC 45Rồi Tôn giả Raṭṭḥapāla đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Raṭṭḥapāla bạch Thế Tôn
SC 46—Bạch Thế Tôn, con muốn đi thăm cha mẹ, nếu Thế Tôn cho phép con.
SC 47Thế Tôn với tâm của mình tìm hiểu tâm tư Tôn giả Raṭṭḥapāla. Khi Thế Tôn được biết thiện nam tử Raṭṭḥapāla không thể từ bỏ tu học, trở lại hoàn tục, liền nói với Tôn giả Raṭṭḥapāla
SC 48—Này Raṭṭḥapāla, nay Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
SC 49Rồi Tôn giả Raṭṭḥapāla từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Thế Tôn, sau khi thâu xếp chỗ ở, cầm y bát và khởi hành đi đến Thullakotthita, tuần tự du hành và đến Thullakotthita. Ở đấy, Tôn giả Raṭṭḥapāla trú tại vườn Lộc Uyển của vua Koravya. Rồi tôn giả Raṭṭḥapāla vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào Thullakotthita để khất thực. Tôn giả đi khất thực từng nhà một ở Thullakotthita và đến tại nhà người cha mình.
SC 50Lúc bấy giờ người cha của Tôn giả Raṭṭḥapāla đang chải tóc ở giữa gian phòng có cửa. Người cha của Tôn giả Raṭṭḥapāla thấy Tôn giả Raṭṭḥapāla từ xa đi đến, và nói.
SC 51—Chính vì những Sa-môn đầu trọc này mà đứa con độc nhất của chúng ta, khả ái, dễ thương đã xuất gia.
SC 52Và Tôn giả Raṭṭḥapāla từ ngôi nhà của cha mình, không được bố thí, không nhận được lời từ chối, chỉ nhận được lời sĩ nhục.
SC 53Lúc bấy giờ, người nữ tỳ thân gia của Tôn giả Raṭṭḥapāla muốn quăng đổ cháo ngày hôm qua. Tôn giả Raṭṭḥapāla nói với người nữ tỳ ấy
SC 54—Này Chị, nếu cần phải quăng đổ cháo này, hãy đổ vào bát của tôi ở đây.
SC 55Rồi người nữ tỳ, trong khi đổ cháo ngày hôm qua ấy vào bát của Tôn giả Raṭṭḥapāla, nhận diện được tướng tay, chân và giọng nói của Tôn giả. Người nữ tỳ liền đi đến người mẹ của Tôn giả Raṭṭḥapāla, sau khi đến nói với người mẹ của Tôn giả Raṭṭḥapāla
SC 56—Thưa tôn mẫu, tôn mẫu có biết chăng, cậu ấm (ayyaputta) Raṭṭḥapāla đã trở về.
SC 57—Nếu ngươi nói đúng sự thật, ngươi sẽ được thoát khỏi phận nô tỳ.
SC 58Rồi mẹ Tôn giả Raṭṭḥapāla đi đến cha Tôn giả Raṭṭḥapāla và nói
SC 59—Thưa gia chủ, gia chủ có biết chăng, thiện nam tử Raṭṭḥapāla đã trở về.
SC 60Lúc bấy giờ, Tôn giả Raṭṭḥapāla đang ăn cháo ngày hôm qua ấy, ngồi dựa vào một bức tường. Rồi người cha đến tại chỗ của Tôn giả Raṭṭḥapāla, sau khi đến liền nói với Tôn giả Raṭṭḥapāla
SC 61—Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, có phải con đang ăn cháo ngày hôm qua? Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con phải vào nhà của con.
SC 62—Thưa gia chủ, chỗ nào là nhà của chúng tôi, những người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình? Chúng tôi là những người không gia đình, thưa gia chủ! Chúng tôi có đến nhà của gia chủ, thưa gia chủ, nhưng tại đấy, chúng tôi không nhận được bố thí, không nhận được lời từ chối, chỉ nhận được lời sỉ nhục.
SC 63—Hãy đi vào nhà, này con thân yêu Raṭṭḥapāla.
SC 64—Thưa gia chủ, thôi vừa rồi! Hôm nay tôi đã ăn xong.
SC 65—Vậy này con thân yêu Raṭṭḥapāla, hãy nhận lời mời ngày mai đến dùng cơm.
SC 66Tôn giả Raṭṭḥapāla im lặng nhận lời. Rồi người cha của Tôn giả Raṭṭḥapāla, sau khi được biết Tôn giả Raṭṭḥapāla đã nhận lời liền về đến nhà của mình, cho chất vàng nén và tiền vàng thành một đống lớn, lấy màn che lại, và cho gọi các người vợ cũ của Tôn giả Raṭṭḥapāla
SC 67—Này các con dâu, hãy tự trang điểm với những trang điểm mà xưa kia các con được thiện nam tử Raṭṭḥapāla ái lạc và ưa thích.
SC 68Rồi người cha của Tôn giả Raṭṭḥapāla, sau khi đêm ấy đã mãn, sau khi cho sửa soạn trong nhà của mình, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, liền báo giờ cho Tôn giả Raṭṭḥapāla
SC 69—Ðã đến giờ, này con thân yêu Raṭṭḥapāla, cơm đã sẵn sàng.
SC 70Rồi Tôn giả Raṭṭḥapāla vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến ngồi nhà của người cha mình, sau khi đến ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi người cha của Tôn giả Raṭṭḥapāla cho trình bày ra đống vàng nén và tiền vàng và nói với Tôn giả Raṭṭḥapāla
SC 71—Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, đây là tiền tài của mẹ, kia là tiền tài của cha, kia là tiền tài của tổ tiên. Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, con có thể thụ hưởng tài vật và làm các phước đức. Này con thân yêu Raṭṭḥapāla, hãy từ bỏ tu học, hoàn tục thụ hưởng các tài vật và làm các phước đức.
SC 72—Thưa gia chủ, nếu gia chủ làm theo lời nói của tôi, sau khi chồng chất đống vàng nén và tiền vàng này vào trong các xe, sau khi cho chở và hạ xuống giữa sông Hằng, hãy đổ đống vàng này vào giữa dòng sông. Vì sao vậy? Này gia chủ, vì do nhân duyên này, mà sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên cho gia chủ.
SC 73Rồi những người vợ cũ của Tôn giả Raṭṭḥapāla ôm mỗi chân (Tôn giả) và nói
SC 74—Thưa phu quân (ayyaputtaka) vì thiên nữ nào mà phu quân sống phạm hạnh?
SC 75—Các bà chị, không phải vì thiên nữ nào mà chúng tôi sống phạm hạnh.
SC 76—Phu quân Raṭṭḥapāla đối với chúng ta gọi chúng ta là bà chị.
SC 77Nói lên như vậy, (các người vợ cũ) liền ngã xuống đất, bất tỉnh.
SC 78Rồi Tôn giả Raṭṭḥapāla nói với phụ thân
SC 79—Thưa gia chủ, nếu gia chủ muốn bố thí đồ ăn thời hãy bố thí đi, chớ có phiền nhiễu chúng tôi.
SC 80—Hãy ăn, này con thân yêu Raṭṭḥapāla, cơm đã sẵn sàng.
SC 81Rồi người cha của Tôn giả Raṭṭḥapāla tự tay thân mời và làm cho thỏa mãn Tôn giả Raṭṭḥapāla với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
SC 82Rồi Tôn giả Raṭṭḥapāla sau khi ăn xong, tay đã rời khỏi bát, đứng dậy và nói bài kệ sau đây:
SC 83Hãy nhìn hình bóng trang sức này,
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Nhưng không gì kiên cố, thường trú.SC 84Hãy nhìn dung mạo trang sức này,
Với các châu báu, với vòng tai,
Một bộ xương được da bao phủ,
Ðược y phục làm cho sáng chói.SC 85Chân được sơn với son với sáp,
Mặt được thoa với phấn, với bột,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.SC 86Tóc được uốn bảy vòng, bảy lớp,
Mắt được xoa với thuốc, với son,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.SC 87Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ,
Là uế thân được điểm thời trang,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.SC 88Người thợ săn đặt bày lưới sập,
Loài nai khôn chẳng chạm bén chân,
Ăn lúa xong, chúng ta lên đường,
Mặc cho kẻ bắt nai than khóc.
SC 89Tôn giả Raṭṭḥapāla đọc bài kệ xong đứng dậy, liền đi đến vườn Lộc Uyển của vua Koravya, sau khi đến liền ngồi xuống nghỉ trưa dưới một gốc cây.
SC 90Rồi vua Koravya nói với người thợ săn
SC 91—Này thợ Săn, hãy dọn dẹp đất vườn ở Lộc Uyển, ta muốn đi thăm viếng cảnh đẹp.
SC 92—Thưa vâng, Ðại vương.
SC 93Người thợ săn vâng đáp vua Koravya, trong khi dọn dẹp vườn Nai, thấy Tôn giả Raṭṭḥapāla đang ngồi dưới gốc cây để nghỉ trưa. Sau khi thấy vậy, người ấy liền đến vua Koravya, sau khi đến liền tâu vua Koravya
SC 94—Tâu Ðại vương, vườn Nai đã được dọn dẹp. Và ở đấy có thiện nam tử tên là Raṭṭḥapāla là con một thế gia ở Thullakotthita mà Ðại vương thường hay tán thán, vị ấy đang ngồi dưới một gốc cây để nghỉ trưa.
SC 95—Này Thợ săn, hôm nay thế là vừa đủ về vườn cảnh. Nay chúng ta muốn cung kính cúng dường Tôn giả Raṭṭḥapāla.
SC 96Rồi vua Koravya, sau khi nói: “Ở đây, hãy đem bố thí tất cả món ăn đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm”, ra lệnh cho thắng nhiều cỗ xe thù thắng, leo lên một cỗ xe thù thắng, liền cùng với các cỗ xe đi ra khỏi Thullakotthita để yết kiến Tôn giả Raṭṭḥapāla với đại uy phong của bậc đế vương. Sau khi cỡi xe cho đến chỗ đất còn có thể cỡi xe được, Ngài xuống xe, đi bộ, cùng với hàng tùy tùng vương hầu, đến chỗ của Tôn giả Raṭṭḥapāla, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Raṭṭḥapāla, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên. Ðứng một bên, vua Koravya bạch Tôn giả Raṭṭḥapāla
SC 97—Ở đây xin mời Tôn giả Raṭṭḥapāla ngồi xuống trên nệm voi.
SC 98—Thôi vừa rồi, Ðại vương! Ðại vương hãy ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi.
SC 99Rồi vua Koravya ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, vua Koravya bạch Tôn giả Raṭṭḥapāla
SC 100—Bạch Tôn giả Raṭṭḥapāla, có bốn sự suy vong này. Chính do thành tựu bốn sự suy vong này mà ở đây, có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn? Lão suy vong, bệnh suy vong, tài sản suy vong, thân tộc suy vong.
SC 101Này Tôn giả Raṭṭḥapāla, thế nào là lão suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla có người niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung. Vị ấy suy tư như sau: “Nay ta đã già, niên cao lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung. Thật không dễ gì cho ta thâu được các tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm tăng trưởng các tài vật đã thâu hoạch. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Vị này, do thành tựu lão suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla được gọi là lão suy vong. Nhưng Tôn giả Raṭṭḥapāla nay còn trẻ, niên thiếu, còn thanh niên, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong sơ kỳ tuổi đời; Tôn giả Raṭṭḥapāla đâu có lão suy vong? Vậy Tôn giả Raṭṭḥapāla đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
SC 102Và thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, thế nào là bệnh suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, có người bị bệnh, khổ đau, mang trọng bệnh. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị bệnh, khổ đau, mang trọng bệnh, thật không dễ gì cho ta thâu được các tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm tăng trưởng các tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Vị này do thành tựu bệnh suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, được gọi là bệnh suy vong. Nhưng Tôn giả Raṭṭḥapāla nay ít bệnh, ít não, tiêu hóa được điều hòa, không quá lạnh, không quá nóng; Tôn giả Raṭṭḥapāla đâu có bệnh suy vong? Tôn giả Raṭṭḥapāla đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
SC 103Và thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, thế nào là tài sản suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla có người giàu sang, tiền của nhiều, tài vật nhiều, và những tài vật của vị ấy dần dần đi đến chỗ suy vong. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta trước đây giàu sang, tiền của nhiều, tài sản nhiều. Những tài vật ấy của ta dần dần đã đi đến suy vong. Thật không dễ gì cho ta thâu được những tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm cho tăng trưởng những tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Vị này do thành tựu tài suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla được gọi là tài suy vong. Nhưng Tôn giả Raṭṭḥapāla chính tại Thullakotthita này, là con của một lương gia đệ nhất; Tôn giả Raṭṭḥapāla đâu có tài sản suy vong? Tôn giả Raṭṭḥapāla đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
SC 104Và này Tôn giả Raṭṭḥapāla, thế nào là thân tộc suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla có người có nhiều thân hữu quen biết, bà con huyết thống, những thân hữu quyến thuộc của người ấy dần dần đi đến chỗ suy vong. Người ấy suy tư như sau: “Trước kia, ta có nhiều người thân hữu quen biết, bà con huyết thống. Những thân hữu quyến thuộc ấy của ta dần dần đi đến chỗ suy vong. Thật không dễ gì cho ta thâu được những tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm cho tăng trưởng những tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Vị này do thành tựu thân tộc suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Như vậy, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, được gọi là thân tộc suy vong. Nhưng Tôn giả Raṭṭḥapāla ở chính tại Thullakotthita này, có nhiều thân hữu quen biết, bà con huyết thống, Tôn giả Raṭṭḥapāla đâu có thân tộc suy vong? Vậy Tôn giả Raṭṭḥapāla đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
SC 105Thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, đây là bốn loại suy vong, do thành tựu bốn loại suy vong này mà ở đây, có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; Tôn giả Raṭṭḥapāla đâu có những loại ấy? Vậy Tôn giả đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
SC 106—Thưa Ðại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?
SC 107“Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt”, thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 108“Thế giới là vô hộ, vô chủ”, thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 109“Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả”, thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 110“Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái”, thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 111Thưa Ðại vương, đây là bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 112—Tôn giả Raṭṭḥapāla đã nói: “Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt,” ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla?
SC 113—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Khi Ngài 20 tuổi, hay 25 tuổi, Ngài có thiện nghệ về voi, thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc?
SC 114—Thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, khi tôi được 20 hay 25 tuổi, tôi thiện nghệ về voi, tôi thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh, và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, tôi cảm thấy có thần lực và xem không ai có thể bằng tôi về sức mạnh.
SC 115—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nay Ðại vương vẫn còn bắp vế mạnh, cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ đánh giặc như vậy không?
SC 116—Không như vậy, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, nay tôi đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung, gần 80 tuổi thọ. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, tôi nghĩ: “Ở đây, ta sẽ bước chân”, nhưng tôi lại bước chân tại chỗ khác.
SC 117—Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt”, và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 118—Thật vi diệu thay, Tôn Giả Raṭṭḥapāla! Thật hy hữu thay, Tôn giả Raṭṭḥapāla! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: “Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt”. Thật vậy, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt.
SC 119Nhưng thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, ở vương quốc này, có đội quân voi, cũng có đội quân ngựa, cũng có đội quân xa, cũng có đội quân bộ, nếu chúng tôi gặp nguy khốn thời các đội quân bảo vệ chúng tôi. Tôn giả Raṭṭḥapāla đã nói: “Thế giới là vô hộ, vô chủ”, ý nghĩa của lời nói này, cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla?
SC 120—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có mắc chứng bệnh kinh niên nào không?
SC 121—Thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, tôi có bệnh phong kinh niên. Nhiều khi, thân hữu quen biết, bà con huyết thống đứng xung quanh tôi và nói: “Nay vua Koravya sẽ mệnh chung, nay vua Koravya sẽ mệnh chung”.
SC 122—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có thể nói chăng, với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của Ðại vương: “Mong rằng Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi! Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này, để tôi có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn”; hay là Ðại vương chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình?
SC 123—Thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, tôi không có thể nói với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của tôi: “Mong rằng các Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi. Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này để có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn”; và tôi chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình”.
SC 124—Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Thế giới là vô hộ, vô chủ”, và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 125—Thật vi diệu thay, Tôn giả Raṭṭḥapāla! Thật hy hữu thay, Tôn giả Raṭṭḥapāla! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: “Thế giới là vô hộ, vô chủ”. Thật vậy, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, thế giới là vô hộ, vô chủ.
SC 126Nhưng thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, ở vương quốc này có rất nhiều vàng nén và tiền vàng dưới đất và trên mặt đất”. Tôn giả Raṭṭḥapāla đã nói: “Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả”. Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla?
SC 127—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Dầu cho nay Ðại vương sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng, Ðại vương có thể nói được như sau: “Chính như vậy, tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng này”; hay là người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn Ðại vương sẽ phải đi theo nghiệp của mình?
SC 128—Thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, dầu cho nay tôi sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng. Tôi không có thể nói được như sau: “Chính như vậy tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng này”. Chính người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn tôi phải đi theo nghiệp của tôi.
SC 129—Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả”. Và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 130—Thật vi diệu thay, Tôn giả Raṭṭḥapāla! Thật hy hữu thay, Tôn giả Raṭṭḥapāla! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: “Thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả”. Thật vậy, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả.
SC 131Tôn giả Raṭṭḥapāla đã nói: “Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái”. Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla?
SC 132—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Có phải Ðại vương trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh?
SC 133—Thưa vâng, Tôn giả Raṭṭḥapāla. Tôi trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh.
SC 134—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có người đáng tin cậy, chánh trực đến với Ðại vương từ phương Ðông, và sau khi đến tâu với Ðại Vương: “Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng? Tôi từ phương Ðông lại. Ở đấy, tôi có thấy một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi, tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương, hãy đi chinh phục!” Ðại vương sẽ hành động như thế nào?
SC 135—Thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.
SC 136—Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây có người đến với Ðại vương từ phương Tây … từ phương Bắc … từ phương Nam … từ bờ biển bên kia, người ấy đáng tin cậy, chánh trực, tâu với Ðại vương: “Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng? Tôi từ bờ biển bên kia lại. Ở đây, tôi thấy có một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi. Tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương, hãy đi chinh phục”. Ðại vương sẽ hành động như thế nào?
SC 137—Thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.
SC 138—Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, ” và tôi sau khi biết, sau khi thấy, sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 139—Thật vi diệu thay, Tôn giả Raṭṭḥapāla! Thật hy hữu thay, Tôn giả Raṭṭḥapāla! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: “Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái”. Thật vậy, thưa Tôn giả Raṭṭḥapāla, thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
SC 140Tôn giả Raṭṭḥapāla đã giảng như vậy, sau khi giảng như vậy xong, lại nói thêm như sau:
SC 141Ta thấy người giàu sang ở đời,
Có của vì si không bố thí.
Vì tham, họ tích tụ tài vật,
Và chạy theo dục vọng càng nhiều.SC 142Dùng bạo lực, chinh phục quả đất,
Vua trị vì cho đến hải biên,
Không thỏa mãn bờ biển bên này,
Và chạy theo bờ biển bên kia.SC 143Vua cùng rất nhiều loại người khác,
Ái chưa ly, mạng chung đã đến,
Bị thiếu thốn, không bỏ thân họ,
Không thỏa mãn lòng dục ở đời.SC 144Quyến thuộc tán loạn, khóc người ấy:
“Than ôi, người ấy không bất tử! ”.
Mạng thân người ấy vải bao phủ,
Họ đốt lửa làm lễ hỏa thiêu.SC 145Bị thọc với cây, người ấy cháy,
Ðộc mảnh vải, bỏ tiền của lại.
Ở đây, quyến thuộc cùng thân hữu,
Không nơi nương tựa cho kẻ chết.SC 146Kẻ thừa tự, nhận mang tài sản,
Riêng con người, theo nghiệp phải đi,
Tiền của đâu có theo người chết,
Cả vợ con, tài sản, quốc độ.SC 147Tài sản không mua được trường thọ,
Phú quý không tránh được già suy,
Kẻ trí nói đời này thật ngắn,
Thật vô thường, biến đổi luôn luôn.SC 148Kẻ giàu, kẻ nghèo đều cảm xúc,
Người ngu, kẻ trí đồng cảm thọ,
Kẻ ngu bị ngu đánh nằm ngã,
Bậc trí cảm xúc, không run sợ.SC 149Do vậy, trí tuệ thắng tài vật,
Nhờ trí, ở đây được viên thành.
Không thành mãn trong hữu, phi hữu,
Kẻ ngu tạo tác các ác nghiệp.SC 150Nhập thai thác sanh thế giới khác,
Người ấy luân hồi, tiếp tục sanh,
Kẻ thiểu trí chắc hẳn phải là
Nhập thai và sanh thế giới khác.SC 151Như kẻ trộm bị bắt khi trộm,
Ác tánh hại mình do tự nghiệp,
Chúng sanh cũng vậy chết đời khác,
Ác tánh hại mình, do tự lực.SC 152Dục vọng nhiều loại, ngọt, khả ái,
Nhiễu loạn tâm dưới nhiều hình thức,
Thấy hoạn nạn trong dục trưởng dưỡng,
Nên tôi xuất gia, tâu Ðại vương!SC 153Như quả từ đây, người bị rụng,
Cả già lẫn trẻ, khi thân hoại,
Do thấy chính vậy, tôi xuất gia,
Hạnh Sa-môn phải là tối thắng,Thưa Ðại vương!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Raṭṭhapāla
Assosuṁ kho thullakoṭṭhikā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kurūsu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ thullakoṭṭhikaṁ anuppatto. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho thullakoṭṭhikā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho thullakoṭṭhike brāhmaṇagahapatike bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
The brahmins and householders of Thullakoṭṭhika heard:
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Thullakoṭṭhika, together with a large Saṅgha of mendicants. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. It’s good to see such perfected ones.”
Then the brahmins and householders of Thullakoṭṭhika went up to the Buddha. Before sitting down to one side, some bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent. When they were seated, the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk.
293. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn đang du hành ở xứ Kuru cùng với đại chúng Tỳ khưu, ngài đã đi đến một thị trấn của người Kuru tên là Thullakoṭṭhika. Các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika đã nghe rằng: ‘Này quý vị, nghe nói Sa-môn Gotama, là Thích tử, đã xuất gia từ dòng họ Sakya, đang du hành ở xứ Kuru cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đến Thullakoṭṭhika. Tiếng lành đồn xa về Tôn giả Gotama ấy được truyền đi như sau: “Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Ngài, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài trời và loài người. Ngài thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; ngài trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Thật tốt lành thay, được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.’ Khi ấy, các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, một số vị đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số vị cùng với Thế Tôn nói lên lời chào hỏi, sau khi trao đổi những lời nói đáng ghi nhớ, thân hữu rồi ngồi xuống một bên; một số vị chắp tay về hướng Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số vị xưng tên và dòng họ ở gần Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số vị giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika đang ngồi một bên bằng một bài pháp thoại.
Tena kho pana samayena raṭṭhapālo nāma kulaputto tasmiṁyeva thullakoṭṭhike aggakulassa putto tissaṁ parisāyaṁ nisinno hoti. Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa etadahosi: “yathā yathā khvāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan”ti.
Atha kho thullakoṭṭhikā brāhmaṇagahapatikā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho raṭṭhapālo kulaputto acirapakkantesu thullakoṭṭhikesu brāhmaṇagahapatikesu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho raṭṭhapālo kulaputto bhagavantaṁ etadavoca: “yathā yathāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Icchāmahaṁ, bhante, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadaṁ. Pabbājetu maṁ bhagavā”ti.
“Anuññātosi pana tvaṁ, raṭṭhapāla, mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
“Na khohaṁ, bhante, anuññāto mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
“Na kho, raṭṭhapāla, tathāgatā ananuññātaṁ mātāpitūhi puttaṁ pabbājentī”ti.
“Svāhaṁ, bhante, tathā karissāmi yathā maṁ mātāpitaro anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Now at that time a gentleman named Raṭṭhapāla, the son of the leading clan in Thullakoṭṭhika, was sitting in the assembly. He thought, “As I understand the Buddha’s teaching, it’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from lay life to homelessness?”
Then, having approved and agreed with what the Buddha said, the brahmins and householders of Thullakoṭṭhika got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving.
Soon after they left, Raṭṭhapāla went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, as I understand the Buddha’s teaching, it’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. I wish to shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence? May the Buddha please give me the going forth!”
“But, Raṭṭhapāla, do you have your parents’ permission?”
“No, sir.”
“Raṭṭhapāla, Buddhas don’t give the going forth to the child of parents who haven’t given their permission.”
“I’ll make sure, sir, to get my parents’ permission.”
294. Vào lúc bấy giờ, có một thiện gia nam tử tên là Raṭṭhapāla, là con trai của một gia đình hàng đầu ở chính tại Thullakoṭṭhika, đang ngồi trong hội chúng ấy. Khi ấy, thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Theo như ta hiểu được giáo pháp do Thế Tôn thuyết giảng, thật không dễ dàng cho người sống tại gia để thực hành đời sống phạm hạnh này một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như vỏ ốc được mài giũa. Ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.’ Khi ấy, sau khi các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika đã được Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, họ đã hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh bên phải rồi rời đi. Sau khi các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika rời đi không bao lâu, thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, thiện gia nam tử Raṭṭhapāla bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, theo như con hiểu được giáo pháp do Thế Tôn thuyết giảng, thật không dễ dàng cho người sống tại gia để thực hành đời sống phạm hạnh này một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như vỏ ốc được mài giũa. Bạch Thế Tôn, con muốn cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. Bạch Thế Tôn, mong rằng con được xuất gia, được thọ cụ túc giới ở nơi Thế Tôn. Xin Thế Tôn hãy cho con xuất gia.’ – ‘Này Raṭṭhapāla, ông đã được cha mẹ cho phép từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình chưa?’ – ‘Bạch Thế Tôn, con chưa được cha mẹ cho phép từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.’ – ‘Này Raṭṭhapāla, các đấng Như Lai không cho xuất gia người con trai chưa được cha mẹ cho phép.’ – ‘Bạch Thế Tôn, con sẽ làm thế nào để cha mẹ cho phép con từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.’
Atha kho raṭṭhapālo kulaputto uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca: “ammatātā, yathā yathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Icchāmahaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Anujānātha maṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Evaṁ vutte, raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ: “tvaṁ khosi, tāta raṭṭhapāla, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato. Na tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi. (…) Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma. Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
Dutiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto …pe… tatiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto mātāpitaro etadavoca: “ammatātā, yathā yathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Icchāmahaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Anujānātha maṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Tatiyampi kho raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ: “tvaṁ khosi, tāta raṭṭhapāla, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato. Na tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma. Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
Then Raṭṭhapāla rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha. Then he went to his parents and said, “Mum and dad, as I understand the Buddha’s teachings, it’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. I wish to shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. Please give me permission to go forth.”
When he said this, Raṭṭhapāla’s parents said to him, “But, dear Raṭṭhapāla, you’re our only child. You’re dear to us and we love you. You’re pampered and raised in comfort. You know nothing of suffering. Even when you die we will lose you against our wishes. So how can we allow you to go forth while you’re still alive?”
For a second time … For a third time, Raṭṭhapāla asked his parents for permission, but got the same reply.
295. Bấy giờ, thiện nam tử Raṭṭhapāla từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ và đi nhiễu quanh bên phải Thế Tôn, rồi đi đến chỗ cha mẹ; sau khi đến, bèn thưa với cha mẹ rằng: – ‘Thưa cha mẹ, theo như con hiểu được giáo pháp đã được Thế Tôn thuyết giảng, thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành phạm hạnh này một cách trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh, trong trắng như vỏ ốc được mài bóng. Con mong muốn được cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Xin cha mẹ cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Khi được nói như vậy, cha mẹ của thiện nam tử Raṭṭhapāla đã nói với thiện nam tử Raṭṭhapāla rằng: – ‘Này con Raṭṭhapāla, con là người con trai duy nhất của cha mẹ, là người thân yêu, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong tiện nghi. Này con Raṭṭhapāla, con không biết đến bất cứ sự khổ nào. Ngay cả khi con chết, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con. Huống nữa là khi con còn sống, làm sao cha mẹ có thể cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình?’ Lần thứ hai, thiện nam tử Raṭṭhapāla... Lần thứ ba, thiện nam tử Raṭṭhapāla thưa với cha mẹ rằng: – ‘Thưa cha mẹ, theo như con hiểu được giáo pháp đã được Thế Tôn thuyết giảng, thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành phạm hạnh này một cách trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh, trong trắng như vỏ ốc được mài bóng. Con mong muốn được cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Xin cha mẹ cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Lần thứ ba, cha mẹ của thiện nam tử Raṭṭhapāla đã nói với thiện nam tử Raṭṭhapāla rằng: – ‘Này con Raṭṭhapāla, con là người con trai duy nhất của cha mẹ, là người thân yêu, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong tiện nghi. Này con Raṭṭhapāla, con không biết đến bất cứ sự khổ nào. Ngay cả khi con chết, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con. Huống nữa là khi con còn sống, làm sao cha mẹ có thể cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình?’
Atha kho raṭṭhapālo kulaputto: “na maṁ mātāpitaro anujānanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti tattheva anantarahitāya bhūmiyā nipajji: “idheva me maraṇaṁ bhavissati pabbajjā vā”ti. Atha kho raṭṭhapālo kulaputto ekampi bhattaṁ na bhuñji, dvepi bhattāni na bhuñji, tīṇipi bhattāni na bhuñji, cattāripi bhattāni na bhuñji, pañcapi bhattāni na bhuñji, chapi bhattāni na bhuñji, sattapi bhattāni na bhuñji.
Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ: “tvaṁ khosi, tāta raṭṭhapāla, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato. Na tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, kassaci, dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma. Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Uṭṭhehi, tāta raṭṭhapāla, bhuñja ca piva ca paricārehi ca; bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu. Na taṁ mayaṁ anujānāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma. Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
Evaṁ vutte, raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ …pe… dutiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi. Tatiyampi kho raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ: “tvaṁ khosi, tāta raṭṭhapāla, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato. Na tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma, kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Uṭṭhehi, tāta raṭṭhapāla, bhuñja ca piva ca paricārehi ca; bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu. Na taṁ mayaṁ anujānāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma. Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
Tatiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi.
Then Raṭṭhapāla thought, “My parents don’t allow me to go forth.” He laid down right there on the bare ground, saying, “I’ll either die right here or go forth.” And he refused to eat, up to the seventh meal.
Then Raṭṭhapāla’s parents said to him, “Dear Raṭṭhapāla, you’re our only child. You’re dear to us and we love you. You’re pampered and raised in comfort. You know nothing of suffering. When you die we will lose you against our wishes. So how can we allow you to go forth from lay life to homelessness while you’re still living? Get up, Raṭṭhapāla! Eat, drink, and amuse yourself. While enjoying sensual pleasures, delight in making merit. We don’t allow you to go forth. When you die we will lose you against our wishes. So how can we allow you to go forth while you’re still alive?”
When they said this, Raṭṭhapāla kept silent.
For a second time, and a third time, Raṭṭhapāla’s parents made the same request.
And for a third time, Raṭṭhapāla kept silent. Raṭṭhapāla’s parents then went to see his friends. They told them of the situation and asked for their help.
296. Bấy giờ, thiện nam tử Raṭṭhapāla nghĩ rằng: ‘Cha mẹ không cho phép ta từ bỏ gia đình, sống không gia đình,’ rồi nằm xuống ngay tại đó, trên nền đất không trải gì, (với quyết tâm): ‘Ngay tại đây, ta sẽ chết hoặc sẽ được xuất gia.’ Bấy giờ, thiện nam tử Raṭṭhapāla không ăn một bữa, cũng không ăn hai bữa, cũng không ăn ba bữa, cũng không ăn bốn bữa, cũng không ăn năm bữa, cũng không ăn sáu bữa, cũng không ăn bảy bữa. Bấy giờ, cha mẹ của thiện nam tử Raṭṭhapāla đã nói với thiện nam tử Raṭṭhapāla rằng: – ‘Này con Raṭṭhapāla, con là người con trai duy nhất của cha mẹ, là người thân yêu, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong tiện nghi. Này con Raṭṭhapāla, con không biết đến bất cứ sự khổ nào. Ngay cả khi con chết, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con. Huống nữa là khi con còn sống, làm sao cha mẹ có thể cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này con Raṭṭhapāla, hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy vui hưởng đi! Vừa ăn, vừa uống, vừa vui hưởng, vừa thụ hưởng các dục lạc, vừa làm các công đức, con hãy hoan hỷ. Cha mẹ không cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ngay cả khi con chết, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con. Huống nữa là khi con còn sống, làm sao cha mẹ có thể cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình?’ Khi được nói như vậy, thiện nam tử Raṭṭhapāla vẫn giữ im lặng. Lần thứ hai, cha mẹ của thiện nam tử Raṭṭhapāla đã nói với thiện nam tử Raṭṭhapāla... Lần thứ hai, thiện nam tử Raṭṭhapāla vẫn giữ im lặng. Lần thứ ba, cha mẹ của thiện nam tử Raṭṭhapāla đã nói với thiện nam tử Raṭṭhapāla rằng: – ‘Này con Raṭṭhapāla, con là người con trai duy nhất của cha mẹ, là người thân yêu, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong tiện nghi. Này con Raṭṭhapāla, con không biết đến bất cứ sự khổ nào. Ngay cả khi con chết, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con, huống nữa là khi con còn sống, làm sao cha mẹ có thể cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này con Raṭṭhapāla, hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy vui hưởng đi! Vừa ăn, vừa uống, vừa vui hưởng, vừa thụ hưởng các dục lạc, vừa làm các công đức, con hãy hoan hỷ. Cha mẹ không cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ngay cả khi con chết, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con. Huống nữa là khi con còn sống, làm sao cha mẹ có thể cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình?’ Lần thứ ba, thiện nam tử Raṭṭhapāla vẫn giữ im lặng.
Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā yena raṭṭhapālo kulaputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ: “tvaṁ khosi, samma raṭṭhapāla, mātāpitūnaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato. Na tvaṁ, samma raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi te mātāpitaro akāmakā vinā bhavissanti. Kiṁ pana te taṁ jīvantaṁ anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Uṭṭhehi, samma raṭṭhapāla, bhuñja ca piva ca paricārehi ca; bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu. Na taṁ mātāpitaro anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Maraṇenapi te mātāpitaro akāmakā vinā bhavissanti. Kiṁ pana te taṁ jīvantaṁ anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
Evaṁ vutte, raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho … tatiyampi kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ: “tvaṁ khosi, samma raṭṭhapāla, mātāpitūnaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato, na tvaṁ, samma raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi, maraṇenapi te mātāpitaro akāmakā vinā bhavissanti. Kiṁ pana te taṁ jīvantaṁ anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya? Uṭṭhehi, samma raṭṭhapāla, bhuñja ca piva ca paricārehi ca, bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu. Na taṁ mātāpitaro anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, maraṇenapi te mātāpitaro akāmakā vinā bhavissanti. Kiṁ pana te taṁ jīvantaṁ anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti? Tatiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi.
Then Raṭṭhapāla’s friends went to him and said, “Our dear Raṭṭhapāla, you are your parents’ only child. You’re dear to them and they love you. You’re pampered and raised in comfort. You know nothing of suffering. When you die your parents will lose you against their wishes. So how can they allow you to go forth while you’re still alive? Get up, Raṭṭhapāla! Eat, drink, and amuse yourself. While enjoying sensual pleasures, delight in making merit. Your parents will not allow you to go forth. Even when you die your parents will lose you against their wishes. So how can they allow you to go forth while you’re still alive?”
When they said this, Raṭṭhapāla kept silent.
For a second time … For a third time, Raṭṭhapāla’s friends made the same request. And for a third time, Raṭṭhapāla kept silent.
297. Bấy giờ, các người bạn của thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đi đến chỗ thiện gia nam tử Raṭṭhapāla; sau khi đến, họ nói với thiện gia nam tử Raṭṭhapāla điều này: ‘Này bạn Raṭṭhapāla, bạn là con một của cha mẹ, được yêu thương, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong sung sướng. Này bạn Raṭṭhapāla, bạn không biết đến bất cứ khổ đau nào. Ngay cả khi bạn chết đi, cha mẹ bạn cũng sẽ phải xa lìa bạn một cách không mong muốn. Huống nữa là khi bạn còn sống, làm sao họ có thể cho phép bạn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia được chứ? Này bạn Raṭṭhapāla, hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy vui hưởng đi; trong khi ăn, uống, vui hưởng, thụ hưởng các dục lạc, làm các công đức, bạn hãy hoan hỷ. Cha mẹ bạn sẽ không cho phép bạn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia đâu. Ngay cả khi bạn chết đi, cha mẹ bạn cũng sẽ phải xa lìa bạn một cách không mong muốn. Huống nữa là khi bạn còn sống, làm sao họ có thể cho phép bạn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia được chứ?’ Khi được nói như vậy, thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đã giữ im lặng. Lần thứ hai cũng vậy… Lần thứ ba, các người bạn của thiện gia nam tử Raṭṭhapāla lại nói với thiện gia nam tử Raṭṭhapāla điều này: ‘Này bạn Raṭṭhapāla, bạn là con một của cha mẹ, được yêu thương, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong sung sướng, này bạn Raṭṭhapāla, bạn không biết đến bất cứ khổ đau nào, ngay cả khi bạn chết đi, cha mẹ bạn cũng sẽ phải xa lìa bạn một cách không mong muốn. Huống nữa là khi bạn còn sống, làm sao họ có thể cho phép bạn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia được chứ? Này bạn Raṭṭhapāla, hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy vui hưởng đi; trong khi ăn, uống, vui hưởng, thụ hưởng các dục lạc, làm các công đức, bạn hãy hoan hỷ. Cha mẹ bạn sẽ không cho phép bạn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia đâu, ngay cả khi bạn chết đi, cha mẹ bạn cũng sẽ phải xa lìa bạn một cách không mong muốn. Huống nữa là khi bạn còn sống, làm sao họ có thể cho phép bạn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia được chứ?’ Lần thứ ba, thiện gia nam tử Raṭṭhapāla cũng giữ im lặng.
Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā yena raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro etadavocuṁ: “ammatātā, eso raṭṭhapālo kulaputto tattheva anantarahitāya bhūmiyā nipanno: ‘idheva me maraṇaṁ bhavissati pabbajjā vā’ti. Sace tumhe raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ nānujānissatha agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, tattheva maraṇaṁ āgamissati. Sace pana tumhe raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ anujānissatha agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, pabbajitampi naṁ dakkhissatha. Sace raṭṭhapālo kulaputto nābhiramissati agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, kā tassa aññā gati bhavissati? Idheva paccāgamissati. Anujānātha raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
“Anujānāma, tātā, raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Pabbajitena ca pana mātāpitaro uddassetabbā”ti.
Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā yena raṭṭhapālo kulaputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ: “uṭṭhehi, samma raṭṭhapāla, anuññātosi mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Pabbajitena ca pana te mātāpitaro uddassetabbā”ti.
Then Raṭṭhapāla’s friends went to his parents and said, “Mum and dad, Raṭṭhapāla is lying there on the bare ground saying: ‘I’ll either die right here or go forth.’ If you don’t allow him to go forth, he’ll die there. But if you do allow him to go forth, you’ll see him again afterwards. And if he doesn’t enjoy the renunciate life, where else will he have to go? He’ll come right back here. Please give Raṭṭhapāla permission to go forth.”
“Then, dears, we give Raṭṭhapāla permission to go forth. But once gone forth he must visit his parents.”
Then Raṭṭhapāla’s friends went to him and said, “Get up, Raṭṭhapāla! Your parents have given you permission to go forth from lay life to homelessness. But once gone forth you must visit your parents.”
298. Bấy giờ, các người bạn của thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đi đến chỗ cha mẹ của thiện gia nam tử Raṭṭhapāla; sau khi đến, họ nói với cha mẹ của thiện gia nam tử Raṭṭhapāla điều này: ‘Thưa mẹ, thưa cha, thiện gia nam tử Raṭṭhapāla này đang nằm trên nền đất trống không trải gì, với ý nghĩ: “Ngay tại đây, ta sẽ chết hoặc sẽ được xuất gia.” Nếu hai vị không cho phép thiện gia nam tử Raṭṭhapāla từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, thì cậu ấy sẽ chết ngay tại đó. Còn nếu hai vị cho phép thiện gia nam tử Raṭṭhapāla từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, thì hai vị vẫn sẽ được gặp lại cậu ấy khi đã xuất gia. Nếu thiện gia nam tử Raṭṭhapāla không hoan hỷ với việc từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, thì cậu ấy còn có nơi nào khác để đi? Cậu ấy sẽ trở về lại chính nơi đây. Xin hai vị hãy cho phép thiện gia nam tử Raṭṭhapāla từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’ (Cha mẹ đáp): ‘Này các con, chúng ta cho phép thiện gia nam tử Raṭṭhapāla từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia. Nhưng sau khi xuất gia, phải đến thăm cha mẹ.’ Bấy giờ, các người bạn của thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đi đến chỗ thiện gia nam tử Raṭṭhapāla; sau khi đến, họ nói với thiện gia nam tử Raṭṭhapāla điều này: ‘Này bạn Raṭṭhapāla, hãy đứng dậy, bạn đã được cha mẹ cho phép từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia. Nhưng sau khi xuất gia, bạn phải đến thăm cha mẹ.’
Atha kho raṭṭhapālo kulaputto uṭṭhahitvā balaṁ gāhetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho raṭṭhapālo kulaputto bhagavantaṁ etadavoca: “anuññāto ahaṁ, bhante, mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Pabbājetu maṁ bhagavā”ti.
Alattha kho raṭṭhapālo kulaputto bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Atha kho bhagavā acirūpasampanne āyasmante raṭṭhapāle aḍḍhamāsupasampanne thullakoṭṭhike yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro kho panāyasmā raṭṭhapālo arahataṁ ahosi.
Raṭṭhapāla got up and regained his strength. He went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, I have my parents’ permission to go forth from the lay life to homelessness. May the Buddha please give me the going forth.”
And Raṭṭhapāla received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after Venerable Raṭṭhapāla’s ordination, a fortnight later, the Buddha—having stayed in Thullakoṭṭhika as long as he pleased—set out for Sāvatthī. Traveling stage by stage, he arrived at Sāvatthī, where he stayed in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then Venerable Raṭṭhapāla, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Raṭṭhapāla became one of the perfected.
299. Bấy giờ, thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đứng dậy, lấy lại sức, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, thiện gia nam tử Raṭṭhapāla bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, con đã được cha mẹ cho phép từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia. Xin Thế Tôn cho con được xuất gia.’ Thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đã được xuất gia, đã được cụ túc giới trong sự hiện diện của Thế Tôn. Bấy giờ, sau khi Tôn giả Raṭṭhapāla thọ cụ túc giới chưa bao lâu, khoảng nửa tháng, Thế Tôn, sau khi ở Thullakoṭṭhika tùy theo ý muốn, đã lên đường du hành đến Sāvatthī. Du hành tuần tự, Ngài đã đến Sāvatthī. Tại đó, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, tu viện của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Raṭṭhapāla, sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu sau, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ và đạt được ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh — vì mục đích ấy mà các thiện gia nam tử chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Và Tôn giả Raṭṭhapāla đã trở thành một trong các vị A-la-hán.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā raṭṭhapālo bhagavantaṁ etadavoca: “icchāmahaṁ, bhante, mātāpitaro uddassetuṁ, sace maṁ bhagavā anujānātī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmato raṭṭhapālassa cetasā ceto paricca manasākāsi. Yathā bhagavā aññāsi: “abhabbo kho raṭṭhapālo kulaputto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattitun”ti, atha kho bhagavā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca: “yassadāni tvaṁ, raṭṭhapāla, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena thullakoṭṭhikaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena thullakoṭṭhiko tadavasari. Tatra sudaṁ āyasmā raṭṭhapālo thullakoṭṭhike viharati rañño korabyassa migacīre. Atha kho āyasmā raṭṭhapālo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya thullakoṭṭhikaṁ piṇḍāya pāvisi. Thullakoṭṭhike sapadānaṁ piṇḍāya caramāno yena sakapitu nivesanaṁ tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena āyasmato raṭṭhapālassa pitā majjhimāya dvārasālāya ullikhāpeti. Addasā kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna etadavoca:
“imehi muṇḍakehi samaṇakehi amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo pabbājito”ti. Atha kho āyasmā raṭṭhapālo sakapitu nivesane neva dānaṁ alattha na paccakkhānaṁ; aññadatthu akkosameva alattha.
Tena kho pana samayena āyasmato raṭṭhapālassa ñātidāsī ābhidosikaṁ kummāsaṁ chaḍḍetukāmā hoti. Atha kho āyasmā raṭṭhapālo taṁ ñātidāsiṁ etadavoca: “sacetaṁ, bhagini, chaḍḍanīyadhammaṁ, idha me patte ākirā”ti. Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa ñātidāsī taṁ ābhidosikaṁ kummāsaṁ āyasmato raṭṭhapālassa patte ākirantī hatthānañca pādānañca sarassa ca nimittaṁ aggahesi.
Then he went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, I would like to visit my parents, if the Buddha allows it.”
Then the Buddha focused on encompassing Raṭṭhapāla’s mind. When he knew that it was impossible for Raṭṭhapāla to resign the training and return to a lesser life, he said, “Please, Raṭṭhapāla, go at your convenience.”
And then Raṭṭhapāla rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he set his lodgings in order and, taking his bowl and robe, set out for Thullakoṭṭhika. Traveling stage by stage, he arrived at Thullakoṭṭhika, where he stayed in King Koravya’s deer range. Then Raṭṭhapāla robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Thullakoṭṭhika for alms. Wandering indiscriminately for almsfood, he approached his own father’s house.
Now at that time Raṭṭhapāla’s father was having his hair dressed in the hall of the middle gate. He saw Raṭṭhapāla coming off in the distance and said,
“Our dear and beloved only son was made to go forth by these shavelings, these fake ascetics!” And at his own father’s home Raṭṭhapāla received neither alms nor a polite refusal, but only abuse.
Now at that time a family bondservant wanted to throw away the previous night’s porridge. So Raṭṭhapāla said to her, “If that’s to be thrown away, sister, pour it here in my bowl.” As she was pouring the porridge into his bowl, she recognized the features of his hands, feet, and voice.
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Raṭṭhapāla bạch với Thế Tôn điều này: – ‘Bạch Thế Tôn, con muốn đi thăm cha mẹ, nếu Thế Tôn cho phép con.’ Bấy giờ, Thế Tôn đã dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của Tôn giả Raṭṭhapāla. Thế Tôn đã biết như sau: – ‘Thiện gia nam tử Raṭṭhapāla này không có khả năng từ bỏ giới luật để quay về đời sống thấp hèn.’ Sau đó, Thế Tôn nói với Tôn giả Raṭṭhapāla điều này: – ‘Này Raṭṭhapāla, ngươi hãy xem xét thời điểm thích hợp cho việc ấy.’ Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, dọn dẹp sàng tọa, rồi cầm lấy y bát và lên đường du hành đến Thullakoṭṭhika. Trong khi du hành tuần tự, ngài đã đến Thullakoṭṭhika. Tại đó, Tôn giả Raṭṭhapāla trú ở Migacīra, khu vườn của vua Korabya, tại Thullakoṭṭhika. Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla, vào buổi sáng, đã đắp y, cầm lấy y bát, rồi đi vào Thullakoṭṭhika để khất thực. Trong khi đi khất thực theo thứ tự ở Thullakoṭṭhika, ngài đã đi đến nhà của cha mình. Vào lúc ấy, cha của Tôn giả Raṭṭhapāla đang cho người cạo râu ở gian sảnh cổng giữa. Cha của Tôn giả Raṭṭhapāla đã nhìn thấy Tôn giả Raṭṭhapāla đang đi đến từ xa. Sau khi thấy, ông đã nói điều này: – ‘Bởi những Sa-môn đầu trọc này mà đứa con trai duy nhất, thân yêu và quý mến của chúng ta đã được cho xuất gia.’ Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla ở nhà của cha mình đã không nhận được vật thực cúng dường, cũng không nhận được lời từ chối; trái lại, chỉ nhận được lời mắng nhiếc. Vào lúc ấy, một nữ tỳ là quyến thuộc của Tôn giả Raṭṭhapāla đang muốn vứt bỏ cháo lúa mạch đã ôi thiu. Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla nói với nữ tỳ quyến thuộc ấy điều này: – ‘Này chị, nếu thứ này là vật phải vứt bỏ, hãy đổ vào bát của tôi ở đây.’ Rồi nữ tỳ quyến thuộc của Tôn giả Raṭṭhapāla, trong khi đổ cháo lúa mạch ôi thiu ấy vào bát của Tôn giả Raṭṭhapāla, đã ghi nhận dấu hiệu của tay, chân, và giọng nói.
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa ñātidāsī yenāyasmato raṭṭhapālassa mātā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato raṭṭhapālassa mātaraṁ etadavoca: “yaggheyye, jāneyyāsi: ‘ayyaputto raṭṭhapālo anuppatto’”ti.
“Sace, je, saccaṁ bhaṇasi, adāsiṁ taṁ karomī”ti.
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa mātā yenāyasmato raṭṭhapālassa pitā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato raṭṭhapālassa pitaraṁ etadavoca: “yagghe, gahapati, jāneyyāsi: ‘raṭṭhapālo kira kulaputto anuppatto’”ti?
Tena kho pana samayena āyasmā raṭṭhapālo taṁ ābhidosikaṁ kummāsaṁ aññataraṁ kuṭṭamūlaṁ nissāya paribhuñjati. Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā yenāyasmā raṭṭhapālo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca: “atthi nāma, tāta raṭṭhapāla, ābhidosikaṁ kummāsaṁ paribhuñjissasi? Nanu, tāta raṭṭhapāla, sakaṁ gehaṁ gantabban”ti?
“Kuto no, gahapati, amhākaṁ gehaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajitānaṁ? Anagārā mayaṁ, gahapati. Agamamha kho te, gahapati, gehaṁ, tattha neva dānaṁ alatthamha na paccakkhānaṁ; aññadatthu akkosameva alatthamhā”ti.
“Ehi, tāta raṭṭhapāla, gharaṁ gamissāmā”ti.
“Alaṁ, gahapati, kataṁ me ajja bhattakiccaṁ”.
“Tena hi, tāta raṭṭhapāla, adhivāsehi svātanāya bhattan”ti. Adhivāsesi kho āyasmā raṭṭhapālo tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā āyasmato raṭṭhapālassa adhivāsanaṁ viditvā yena sakaṁ nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mahantaṁ hiraññasuvaṇṇassa puñjaṁ kārāpetvā kilañjehi paṭicchādetvā āyasmato raṭṭhapālassa purāṇadutiyikā āmantesi: “etha tumhe, vadhuyo, yena alaṅkārena alaṅkatā pubbe raṭṭhapālassa kulaputtassa piyā hotha manāpā tena alaṅkārena alaṅkarothā”ti.
She then went to his mother and said, “Please, madam, you should know this. Master Raṭṭhapāla has arrived.”
“If you speak the truth, wench, I’ll make you a free woman!”
Then Raṭṭhapāla’s mother went to his father and said, “Please householder, you should know this. It seems our son Raṭṭhapāla has arrived.”
Now at that time Raṭṭhapāla was eating last night’s porridge by a wall. Then Raṭṭhapāla’s father went up to him and said, “Dear Raṭṭhapāla! How can you be eating last night’s porridge? Why not go to your own home?”
“Householder, how could those of us who have gone forth from the lay life to homelessness have a house? We are homeless, householder. I came to your house, but there I received neither alms nor a polite refusal, but only abuse.”
“Come, dear Raṭṭhapāla, let’s go to the house.”
“Enough, householder. My meal is finished for today.”
“Well then, dear Raṭṭhapāla, please accept tomorrow’s meal from me.” Raṭṭhapāla consented with silence.
Then, knowing that Raṭṭhapāla had consented, his father went back to his own house. He made a heap of gold, both coined and uncoined, and hid it under mats. Then he addressed Raṭṭhapāla’s former wives, “Please, daughters-in-law, adorn yourselves in the way that our son Raṭṭhapāla found you most adorable.”
300. Rồi nữ tỳ quyến thuộc của Tôn giả Raṭṭhapāla đi đến chỗ mẹ của Tôn giả Raṭṭhapāla; sau khi đến, đã nói với mẹ của Tôn giả Raṭṭhapāla điều này: – ‘Thưa bà chủ, mong bà biết cho: ‘Công tử Raṭṭhapāla đã đến rồi.’’ – ‘Này cô kia, nếu ngươi nói sự thật, ta sẽ cho ngươi được tự do.’ Rồi mẹ của Tôn giả Raṭṭhapāla đi đến chỗ cha của Tôn giả Raṭṭhapāla; sau khi đến, đã nói với cha của Tôn giả Raṭṭhapāla điều này: – ‘Thưa gia chủ, mong ông biết cho: ‘Nghe nói thiện gia nam tử Raṭṭhapāla đã đến rồi.’’ Vào lúc ấy, Tôn giả Raṭṭhapāla đang dùng cháo lúa mạch ôi thiu ấy, trong khi tựa vào chân của một bức tường nào đó. Rồi cha của Tôn giả Raṭṭhapāla đi đến chỗ Tôn giả Raṭṭhapāla; sau khi đến, đã nói với Tôn giả Raṭṭhapāla điều này: – ‘Này con Raṭṭhapāla, có phải con đang dùng cháo lúa mạch ôi thiu không? Này con Raṭṭhapāla, chẳng phải nên đi về nhà của mình sao?’ – ‘Thưa gia chủ, chúng tôi là những người đã xuất gia từ gia đình vào đời sống không gia đình, nhà của chúng tôi ở đâu? Thưa gia chủ, chúng tôi là những người không nhà. Thưa gia chủ, chúng tôi đã đi đến nhà của ông, ở đó đã không nhận được vật thực cúng dường, cũng không nhận được lời từ chối; trái lại, chỉ nhận được lời mắng nhiếc.’ – ‘Này con Raṭṭhapāla, hãy đến đây, chúng ta sẽ đi về nhà.’ – ‘Thôi đủ rồi, thưa gia chủ, phận sự về bữa ăn của tôi hôm nay đã xong.’ – ‘Nếu vậy, này con Raṭṭhapāla, hãy nhận lời cho bữa ăn ngày mai.’ Tôn giả Raṭṭhapāla đã nhận lời bằng cách giữ im lặng. Rồi cha của Tôn giả Raṭṭhapāla, sau khi biết được sự nhận lời của Tôn giả Raṭṭhapāla, đã đi đến nhà của mình; sau khi đến, đã cho làm một đống lớn vàng và bạc, rồi cho lấy chiếu che đậy lại, và gọi các người vợ trước đây của Tôn giả Raṭṭhapāla: – ‘Này các con dâu, các con hãy đến đây. Các con hãy trang điểm bằng loại trang sức mà trước đây, khi được trang điểm như thế, các con đã là người thân yêu, quý mến của thiện gia nam tử Raṭṭhapāla.’
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā āyasmato raṭṭhapālassa kālaṁ ārocesi: “kālo, tāta raṭṭhapāla, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena sakapitu nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā taṁ hiraññasuvaṇṇassa puñjaṁ vivarāpetvā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca: “idaṁ te, tāta raṭṭhapāla, mātu mattikaṁ dhanaṁ, aññaṁ pettikaṁ, aññaṁ pitāmahaṁ. Sakkā, tāta raṭṭhapāla, bhoge ca bhuñjituṁ puññāni ca kātuṁ. Ehi tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu puññāni ca karohī”ti.
“Sace me tvaṁ, gahapati, vacanaṁ kareyyāsi, imaṁ hiraññasuvaṇṇassa puñjaṁ sakaṭe āropetvā nibbāhāpetvā majjhegaṅgāya nadiyā sote opilāpeyyāsi. Taṁ kissa hetu? Ye uppajjissanti hi te, gahapati, tatonidānaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti.
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa purāṇadutiyikā paccekaṁ pādesu gahetvā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavocuṁ: “kīdisā nāma tā, ayyaputta, accharāyo yāsaṁ tvaṁ hetu brahmacariyaṁ carasī”ti?
“Na kho mayaṁ, bhaginī, accharānaṁ hetu brahmacariyaṁ carāmā”ti.
“Bhaginivādena no ayyaputto raṭṭhapālo samudācaratī”ti tā tattheva mucchitā papatiṁsu.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo pitaraṁ etadavoca: “sace, gahapati, bhojanaṁ dātabbaṁ, detha; mā no viheṭhethā”ti.
“Bhuñja, tāta raṭṭhapāla, niṭṭhitaṁ bhattan”ti. Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
And when the night had passed Raṭṭhapāla’s father had delicious fresh and cooked foods prepared in his own home, and announced the time to the Venerable Raṭṭhapāla, saying, “Sir, it’s time. The meal is ready.”
Then Raṭṭhapāla robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to his father’s home, and sat down on the seat spread out. Raṭṭhapāla’s father, revealing the heap of gold, both coined and uncoined, said to him, “Dear Raṭṭhapāla, this is your maternal fortune. There’s another paternal fortune, and an ancestral one. You can both enjoy your wealth and make merit. Come, return to a lesser life, enjoy wealth, and make merit!”
“If you’d follow my advice, householder, you’d have this heap of gold, both coined and uncoined, loaded on a cart and carried away to be dumped in the middle of the Ganges River. Why is that? Because this will bring you nothing but sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.”
Then Raṭṭhapāla’s former wives each clasped his feet and said, “What are they like, master, the nymphs for whom you lead the spiritual life?”
“Sisters, I don’t lead the spiritual life for the sake of nymphs.”
Saying, “Our master Raṭṭhapāla addresses us as sisters!” they fainted right away.
Then Raṭṭhapāla said to his father, “If there is food to be given, householder, please give it. But don’t harass me.”
“Eat, dear Raṭṭhapāla. The meal is ready.” Then Raṭṭhapāla’s father served and satisfied Venerable Raṭṭhapāla with his own hands with delicious fresh and cooked foods.
301. Bấy giờ, sau đêm ấy, thân phụ của Tôn giả Raṭṭhapāla cho dọn sẵn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, tại nhà mình, rồi báo giờ cho Tôn giả Raṭṭhapāla: ‘Này con Raṭṭhapāla, đã đến giờ, cơm đã dọn xong.’ Bấy giờ, Tôn giả Raṭṭhapāla vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi đến nhà của thân phụ mình; sau khi đến, ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Bấy giờ, thân phụ của Tôn giả Raṭṭhapāla cho mở các đống vàng bạc ra rồi nói với Tôn giả Raṭṭhapāla điều này: ‘Này con Raṭṭhapāla, đây là tài sản bên mẹ của con, kia là tài sản bên cha, và kia nữa là tài sản của ông nội. Này con Raṭṭhapāla, con có thể vừa hưởng thụ các tài sản, vừa làm các công đức. Này con Raṭṭhapāla, hãy đến đây, con hãy hoàn tục, vừa hưởng thụ các tài sản, vừa làm các công đức.’ ‘Thưa gia chủ, nếu ông làm theo lời tôi, ông hãy cho chất đống vàng bạc này lên xe, cho chở đi, rồi nhận chìm xuống giữa dòng sông Gaṅgā. Tại sao vậy? Thưa gia chủ, vì chính do nhân duyên ấy mà những sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ phát sinh cho ông.’ Bấy giờ, các người vợ cũ của Tôn giả Raṭṭhapāla, mỗi người ôm lấy chân ngài và nói với Tôn giả Raṭṭhapāla điều này: ‘Thưa công tử, các tiên nữ ấy là hạng người như thế nào, mà vì họ ngài thực hành phạm hạnh?’ ‘Này các chị, chúng tôi không phải vì các tiên nữ mà thực hành phạm hạnh.’ ‘Công tử Raṭṭhapāla gọi chúng ta bằng tiếng ‘chị’!’ – họ liền ngất xỉu và ngã xuống ngay tại chỗ. Bấy giờ, Tôn giả Raṭṭhapāla nói với thân phụ mình điều này: ‘Thưa gia chủ, nếu có vật thực để cúng dường, xin hãy cúng dường; xin đừng làm phiền chúng tôi.’ ‘Xin mời con dùng, này con Raṭṭhapāla, cơm đã dọn xong.’ Bấy giờ, thân phụ của Tôn giả Raṭṭhapāla đã tự tay dâng cúng Tôn giả Raṭṭhapāla các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi ngài hài lòng và từ chối không nhận thêm.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo bhuttāvī onītapattapāṇī ṭhitakova imā gāthā abhāsi:
When he had eaten and washed his hand and bowl, he spoke this verse while standing right there:
302. Bấy giờ, Tôn giả Raṭṭhapāla, sau khi đã dùng bữa, tay đã rời khỏi bát, trong khi đang đứng, đã nói lên những câu kệ này:
“Passa cittīkataṁ bimbaṁ, arukāyaṁ samussitaṁ; Āturaṁ bahusaṅkappaṁ, yassa natthi dhuvaṁ ṭhiti.
“See this fancy puppet, a body built of sores, diseased, obsessed over, in which nothing lasts at all.
‘Hãy nhìn xem hình tượng được tô điểm, một thân đầy thương tích, được dựng lên; bệnh hoạn, được nhiều người suy tưởng, mà không có sự tồn tại thường hằng.
Passa cittīkataṁ rūpaṁ, maṇinā kuṇḍalena ca; Aṭṭhi tacena onaddhaṁ, saha vatthebhi sobhati.
See this fancy figure, with its gems and earrings; it is bones swathed in skin, made pretty by its clothes.
‘Hãy nhìn xem hình thể được tô điểm, với ngọc và hoa tai; xương được bọc bởi da, chỉ đẹp đẽ khi cùng với y phục.’
Alattakakatā pādā, mukhaṁ cuṇṇakamakkhitaṁ; Alaṁ bālassa mohāya, no ca pāragavesino.
Rouged feet and powdered face may be enough to beguile a fool, but not a seeker of the far shore.
‘Đôi chân được tô son, khuôn mặt được thoa phấn; đủ để làm mê muội kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người tìm cầu bờ kia.’
Aṭṭhāpadakatā kesā, nettā añjanamakkhitā; Alaṁ bālassa mohāya, no ca pāragavesino.
Hair in eight braids and eyeshadow may be enough to beguile a fool, but not a seeker of the far shore.
‘Mái tóc được tết tám bím, đôi mắt được kẻ thuốc; đủ để làm mê muội kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người tìm cầu bờ kia.’
Añjanīva navā cittā, pūtikāyo alaṅkato; Alaṁ bālassa mohāya, no ca pāragavesino.
A rotting body all adorned like a freshly painted makeup box may be enough to beguile a fool, but not a seeker of the far shore.
‘Như một hộp thuốc kẻ mắt mới được trang hoàng, thân thể hôi thối này được tô điểm; đủ để làm mê muội kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người tìm cầu bờ kia.’
Odahi migavo pāsaṁ, nāsadā vākaraṁ migo; Bhutvā nivāpaṁ gacchāma, kandante migabandhake”ti.
The hunter laid his snare, but the deer didn’t spring the trap. I’ve eaten the bait and now I go, leaving the trapper to lament.”
‘Người thợ săn đã giăng bẫy, con nai không sa vào lưới; ăn xong phần mồi, chúng ta ra đi, mặc cho những kẻ bẫy nai than khóc.’
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo ṭhitakova imā gāthā bhāsitvā yena rañño korabyassa migacīraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Then Raṭṭhapāla, having spoke this verse while standing, went to King Koravya’s deer range and sat at the root of a tree for the day’s meditation.
Bấy giờ, Tôn giả Raṭṭhapāla, trong khi đang đứng, sau khi nói lên những câu kệ này, đã đi đến vườn Migacīra của vua Korabya; sau khi đến, ngài ngồi xuống nghỉ ban ngày dưới một gốc cây.
Atha kho rājā korabyo migavaṁ āmantesi: “sodhehi, samma migava, migacīraṁ uyyānabhūmiṁ; gacchāma subhūmiṁ dassanāyā”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho migavo rañño korabyassa paṭissutvā migacīraṁ sodhento addasa āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisinnaṁ. Disvāna yena rājā korabyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ korabyaṁ etadavoca: “suddhaṁ kho te, deva, migacīraṁ. Atthi cettha raṭṭhapālo nāma kulaputto imasmiṁyeva thullakoṭṭhike aggakulassa putto yassa tvaṁ abhiṇhaṁ kittayamāno ahosi, so aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisinno”ti.
“Tena hi, samma migava, alaṁ dānajja uyyānabhūmiyā. Tameva dāni mayaṁ bhavantaṁ raṭṭhapālaṁ payirupāsissāmā”ti.
Atha kho rājā korabyo “yaṁ tattha khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ taṁ sabbaṁ vissajjethā”ti vatvā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi thullakoṭṭhikamhā niyyāsi mahaccarājānubhāvena āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ dassanāya. Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova ussaṭāya ussaṭāya parisāya yenāyasmā raṭṭhapālo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā raṭṭhapālena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rājā korabyo āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca:
“idha bhavaṁ raṭṭhapālo hatthatthare nisīdatū”ti.
“Alaṁ, mahārāja, nisīda tvaṁ; nisinno ahaṁ sake āsane”ti.
Nisīdi rājā korabyo paññatte āsane. Nisajja kho rājā korabyo āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca:
Then King Koravya addressed his gamekeeper, “My good gamekeeper, tidy up the park of the deer range. We will go to see the scenery.”
“Yes, Your Majesty,” replied the gamekeeper. While tidying the deer range he saw Raṭṭhapāla sitting in meditation. Seeing this, he went to the king, and said, “The deer range is tidy, Your Majesty. And the gentleman named Raṭṭhapāla, the son of the leading clan in Thullakoṭṭhika, of whom you have often spoken highly, is meditating there at the root of a tree.”
“Well then, my good gamekeeper, that’s enough of the park for today. Now I shall pay homage to the worthy Raṭṭhapāla.”
And then King Koravya said, “Distribute the fresh and cooked foods that have been prepared there.” He had the finest carriages harnessed. Then he mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out in full royal pomp from Thullakoṭṭhika to see Raṭṭhapāla. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached Raṭṭhapāla on foot, together with a group of eminent officials. They exchanged greetings, and, when the greetings and polite conversation were over, he stood to one side and said to Raṭṭhapāla:
“Here, worthy Raṭṭhapāla, sit on this elephant rug.”
“Enough, Great King, you sit on it. I’m sitting on my own seat.”
So the king sat down on the seat spread out, and said:
303. Bấy giờ, vua Korabya cho gọi người giữ vườn tên Migava: ‘Này bạn Migava, hãy dọn dẹp khu vườn Migacīra; chúng ta sẽ đi đến đó để ngắm cảnh đẹp.’ ‘Tâu Thiên tử, vâng ạ,’ người giữ vườn Migava vâng lời vua Korabya, và trong khi dọn dẹp vườn Migacīra, ông thấy Tôn giả Raṭṭhapāla đang ngồi nghỉ ban ngày dưới một gốc cây. Sau khi thấy vậy, ông đi đến chỗ vua Korabya; sau khi đến, ông tâu với vua Korabya điều này: ‘Tâu Thiên tử, vườn Migacīra của ngài đã được dọn dẹp. Và ở đây có vị thiện gia nam tử tên là Raṭṭhapāla, con trai của một gia đình hàng đầu ngay tại Thullakoṭṭhika này, người mà ngài thường hay tán thán, đang ngồi nghỉ ban ngày dưới một gốc cây.’ ‘Vậy thì, này bạn Migava, hôm nay thôi không đến vườn nữa. Bây giờ chúng ta sẽ đến yết kiến chính Tôn giả Raṭṭhapāla ấy.’ Bấy giờ, vua Korabya nói: ‘Hãy hủy bỏ tất cả các món ăn cứng và mềm đã được chuẩn bị ở đó,’ rồi cho thắng những cỗ xe tốt đẹp nhất, lên một cỗ xe tốt đẹp, và cùng với những cỗ xe tốt đẹp, với đại vương uy, ngài rời khỏi Thullakoṭṭhika để đến yết kiến Tôn giả Raṭṭhapāla. Ngài đi xe cho đến khi hết đường xe đi, rồi xuống xe và đi bộ, cùng với đoàn tùy tùng đông đảo, đến chỗ Tôn giả Raṭṭhapāla; sau khi đến, ngài cùng Tôn giả Raṭṭhapāla chào hỏi thăm viếng. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, ngài đứng một bên. Đứng một bên, vua Korabya nói với Tôn giả Raṭṭhapāla điều này: ‘Xin Tôn giả Raṭṭhapāla hãy ngồi trên tấm thảm lót lưng voi này.’ ‘Thôi đủ rồi, đại vương, xin ngài cứ ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ của tôi rồi.’ Vua Korabya ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, vua Korabya nói với Tôn giả Raṭṭhapāla điều này:
“Cattārimāni, bho raṭṭhapāla, pārijuññāni yehi pārijuññehi samannāgatā idhekacce kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti. Katamāni cattāri? Jarāpārijuññaṁ, byādhipārijuññaṁ, bhogapārijuññaṁ, ñātipārijuññaṁ.
Katamañca, bho raṭṭhapāla, jarāpārijuññaṁ? Idha, bho raṭṭhapāla, ekacco jiṇṇo hoti vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi etarahi jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto. Na kho pana mayā sukaraṁ anadhigataṁ vā bhogaṁ adhigantuṁ adhigataṁ vā bhogaṁ phātiṁ kātuṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So tena jarāpārijuññena samannāgato kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Idaṁ vuccati, bho raṭṭhapāla, jarāpārijuññaṁ. Bhavaṁ kho pana raṭṭhapālo etarahi daharo yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā. Taṁ bhoto raṭṭhapālassa jarāpārijuññaṁ natthi. Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito?
“Worthy Raṭṭhapāla, there are these four kinds of decay. Because of these, some people shave off their hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. What four? Decay due to old age, decay due to sickness, decay of wealth, and decay of relatives.
And what is decay due to old age? It’s when someone is old, elderly, and senior, advanced in years, and has reached the final stage of life. They reflect: ‘I’m now old, elderly, and senior. I’m advanced in years and have reached the final stage of life. It’s not easy for me to acquire more wealth or to increase the wealth I’ve already acquired. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’ So because of that decay due to old age they go forth. This is called decay due to old age. But worthy Raṭṭhapāla is now a youth, young, with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life. You have no decay due to old age. So what did you know or see or hear that made you go forth?
304. “Này Raṭṭhapāla, có bốn sự suy tàn này, do bị những sự suy tàn ấy chi phối, một số người ở đời cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Bốn điều ấy là gì? Sự suy tàn do tuổi già, sự suy tàn do bệnh tật, sự suy tàn do tài sản, sự suy tàn do bà con thân quyến. Và này Raṭṭhapāla, thế nào là sự suy tàn do tuổi già? Này Raṭṭhapāla, ở đây, có người già cả, trưởng lão, bậc lão thành, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều. Vị ấy suy xét như sau: ‘Nay ta đã già cả, trưởng lão, bậc lão thành, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều. Ta không dễ gì có được tài sản chưa có, hay làm cho tài sản đã có được tăng trưởng. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình thì tốt hơn.’ Do bị sự suy tàn do tuổi già ấy chi phối, vị ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Raṭṭhapāla, đây được gọi là sự suy tàn do tuổi già. Còn Tôn giả Raṭṭhapāla nay còn trẻ, thanh niên, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời kỳ đầu của cuộc đời. Tôn giả Raṭṭhapāla không có sự suy tàn do tuổi già ấy. Do biết gì, thấy gì, hay nghe gì mà Tôn giả Raṭṭhapāla đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
Katamañca, bho raṭṭhapāla, byādhipārijuññaṁ? Idha, bho raṭṭhapāla, ekacco ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi etarahi ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. Na kho pana mayā sukaraṁ anadhigataṁ vā bhogaṁ adhigantuṁ adhigataṁ vā bhogaṁ phātiṁ kātuṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So tena byādhipārijuññena samannāgato kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Idaṁ vuccati, bho raṭṭhapāla, byādhipārijuññaṁ. Bhavaṁ kho pana raṭṭhapālo etarahi appābādho appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya. Taṁ bhoto raṭṭhapālassa byādhipārijuññaṁ natthi. Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito?
And what is decay due to sickness? It’s when someone is sick, suffering, gravely ill. They reflect: ‘I’m now sick, suffering, gravely ill. It’s not easy for me to acquire more wealth or to increase the wealth I’ve already acquired. Why don’t I go forth from the lay life to homelessness?’ So because of that decay due to sickness they go forth. This is called decay due to sickness. But worthy Raṭṭhapāla is now rarely ill or unwell. Your stomach digests well, being neither too hot nor too cold. You have no decay due to sickness. So what did you know or see or hear that made you go forth?
“Và này Raṭṭhapāla, thế nào là sự suy tàn do bệnh tật? Này Raṭṭhapāla, ở đây, có người bị bệnh, đau khổ, ốm nặng. Vị ấy suy xét như sau: ‘Nay ta bị bệnh, đau khổ, ốm nặng. Ta không dễ gì có được tài sản chưa có, hay làm cho tài sản đã có được tăng trưởng. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình thì tốt hơn.’ Do bị sự suy tàn do bệnh tật ấy chi phối, vị ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Raṭṭhapāla, đây được gọi là sự suy tàn do bệnh tật. Còn Tôn giả Raṭṭhapāla nay ít bệnh, ít não, có bộ máy tiêu hóa điều hòa, không quá lạnh, không quá nóng. Tôn giả Raṭṭhapāla không có sự suy tàn do bệnh tật ấy. Do biết gì, thấy gì, hay nghe gì mà Tôn giả Raṭṭhapāla đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
Katamañca, bho raṭṭhapāla, bhogapārijuññaṁ? Idha, bho raṭṭhapāla, ekacco aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo. Tassa te bhogā anupubbena parikkhayaṁ gacchanti. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ kho pubbe aḍḍho ahosiṁ mahaddhano mahābhogo. Tassa me te bhogā anupubbena parikkhayaṁ gatā. Na kho pana mayā sukaraṁ anadhigataṁ vā bhogaṁ adhigantuṁ adhigataṁ vā bhogaṁ phātiṁ kātuṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So tena bhogapārijuññena samannāgato kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Idaṁ vuccati, bho raṭṭhapāla, bhogapārijuññaṁ. Bhavaṁ kho pana raṭṭhapālo imasmiṁyeva thullakoṭṭhike aggakulassa putto. Taṁ bhoto raṭṭhapālassa bhogapārijuññaṁ natthi. Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito?
And what is decay of wealth? It’s when someone is rich, affluent, and wealthy. But gradually their wealth dwindles away. They reflect: ‘I used to be rich, affluent, and wealthy. But gradually my wealth has dwindled away. It’s not easy for me to acquire more wealth or to increase the wealth I’ve already acquired. Why don’t I go forth from the lay life to homelessness?’ So because of that decay of wealth they go forth. This is called decay of wealth. But worthy Raṭṭhapāla is the son of the leading clan here in Thullakoṭṭhika. You have no decay of wealth. So what did you know or see or hear that made you go forth?
“Và này Raṭṭhapāla, thế nào là sự suy tàn do tài sản? Này Raṭṭhapāla, ở đây, có người giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản. Các tài sản ấy của vị ấy dần dần đi đến chỗ tiêu tan. Vị ấy suy xét như sau: ‘Trước kia ta giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản. Các tài sản ấy của ta đã dần dần đi đến chỗ tiêu tan. Ta không dễ gì có được tài sản chưa có, hay làm cho tài sản đã có được tăng trưởng. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình thì tốt hơn.’ Do bị sự suy tàn do tài sản ấy chi phối, vị ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Raṭṭhapāla, đây được gọi là sự suy tàn do tài sản. Còn Tôn giả Raṭṭhapāla là con trai của gia đình hàng đầu ngay tại Thullakoṭṭhika này. Tôn giả Raṭṭhapāla không có sự suy tàn do tài sản ấy. Do biết gì, thấy gì, hay nghe gì mà Tôn giả Raṭṭhapāla đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
Katamañca, bho raṭṭhapāla, ñātipārijuññaṁ? Idha, bho raṭṭhapāla, ekaccassa bahū honti mittāmaccā ñātisālohitā. Tassa te ñātakā anupubbena parikkhayaṁ gacchanti. So iti paṭisañcikkhati: ‘mamaṁ kho pubbe bahū ahesuṁ mittāmaccā ñātisālohitā. Tassa me te anupubbena parikkhayaṁ gatā. Na kho pana mayā sukaraṁ anadhigataṁ vā bhogaṁ adhigantuṁ adhigataṁ vā bhogaṁ phātiṁ kātuṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So tena ñātipārijuññena samannāgato kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Idaṁ vuccati, bho raṭṭhapāla, ñātipārijuññaṁ. Bhoto kho pana raṭṭhapālassa imasmiṁyeva thullakoṭṭhike bahū mittāmaccā ñātisālohitā. Taṁ bhoto raṭṭhapālassa ñātipārijuññaṁ natthi. Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito?
And what is decay of relatives? It’s when someone has many friends and colleagues, relatives and kin. But gradually their relatives dwindle away. They reflect: ‘I used to have many friends and colleagues, relatives and kin. But gradually they’ve dwindled away. It’s not easy for me to acquire more wealth or to increase the wealth I’ve already acquired. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’ So because of that decay of relatives they go forth. This is called decay of relatives. But worthy Raṭṭhapāla has many friends and colleagues, relatives and kin right here in Thullakoṭṭhika. You have no decay of relatives. So what did you know or see or hear that made you go forth?
“Và này Raṭṭhapāla, thế nào là sự suy tàn do bà con thân quyến? Này Raṭṭhapāla, ở đây, có người có nhiều bạn bè, thân hữu, bà con huyết thống. Các bà con ấy của vị ấy dần dần đi đến chỗ tiêu tan. Vị ấy suy xét như sau: ‘Trước kia ta có nhiều bạn bè, thân hữu, bà con huyết thống. Các bà con ấy của ta đã dần dần đi đến chỗ tiêu tan. Ta không dễ gì có được tài sản chưa có, hay làm cho tài sản đã có được tăng trưởng. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình thì tốt hơn.’ Do bị sự suy tàn do bà con thân quyến ấy chi phối, vị ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Raṭṭhapāla, đây được gọi là sự suy tàn do bà con thân quyến. Còn Tôn giả Raṭṭhapāla có nhiều bạn bè, thân hữu, bà con huyết thống ngay tại Thullakoṭṭhika này. Tôn giả Raṭṭhapāla không có sự suy tàn do bà con thân quyến ấy. Do biết gì, thấy gì, hay nghe gì mà Tôn giả Raṭṭhapāla đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
Imāni kho, bho raṭṭhapāla, cattāri pārijuññāni, yehi pārijuññehi samannāgatā idhekacce kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti. Tāni bhoto raṭṭhapālassa natthi. Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti?
There are these four kinds of decay. Because of these, some people shave off their hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. Worthy Raṭṭhapāla has none of these. So what did you know or see or hear that made you go forth?”
“Này Raṭṭhapāla, đây là bốn sự suy tàn, do bị những sự suy tàn ấy chi phối, một số người ở đời cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Những sự suy tàn ấy Tôn giả Raṭṭhapāla không có. Do biết gì, thấy gì, hay nghe gì mà Tôn giả Raṭṭhapāla đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình?”
“Atthi kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammuddesā uddiṭṭhā, ye ahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Katame cattāro?
‘Upaniyyati loko addhuvo’ti kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena paṭhamo dhammuddeso uddiṭṭho, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
‘Atāṇo loko anabhissaro’ti kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyo dhammuddeso uddiṭṭho, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
‘Assako loko, sabbaṁ pahāya gamanīyan’ti kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyo dhammuddeso uddiṭṭho, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
‘Ūno loko atitto taṇhādāso’ti kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena catuttho dhammuddeso uddiṭṭho, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Ime kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammuddesā uddiṭṭhā, ye ahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
“Great king, the Blessed One who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha has taught these four summaries of the teaching for recitation. It was after knowing and seeing and hearing these that I went forth from the lay life to homelessness.
What four?
‘The world is unstable and swept away.’ This is the first summary.
‘The world has no shelter and no savior.’ This is the second summary.
‘The world has no owner—you must leave it all behind and pass on.’ This is the third summary.
‘The world is wanting, insatiable, the slave of craving.’ This is the fourth summary.
The Blessed One who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha taught these four summaries of the teaching. It was after knowing and seeing and hearing these that I went forth from the lay life to homelessness.”
305. “Tâu Đại vương, quả thật có bốn pháp yếu lược đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, do biết, do thấy, do nghe những pháp ấy mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. Bốn pháp ấy là gì? ‘Thế gian bị dẫn đi, không bền vững’, tâu Đại vương, đây là pháp yếu lược thứ nhất đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, do biết, do thấy, do nghe pháp ấy mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. ‘Thế gian không nơi nương tựa, không có chủ’, tâu Đại vương, đây là pháp yếu lược thứ hai đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, do biết, do thấy, do nghe pháp ấy mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. ‘Thế gian không sở hữu, phải từ bỏ tất cả mà đi’, tâu Đại vương, đây là pháp yếu lược thứ ba đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, do biết, do thấy, do nghe pháp ấy mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. ‘Thế gian thiếu thốn, không thỏa mãn, là nô lệ của ái dục’, tâu Đại vương, đây là pháp yếu lược thứ tư đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, do biết, do thấy, do nghe pháp ấy mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. Tâu Đại vương, đây chính là bốn pháp yếu lược đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, do biết, do thấy, do nghe những pháp ấy mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình.”
“‘Upaniyyati loko addhuvo’ti—bhavaṁ raṭṭhapālo āha. Imassa, bho raṭṭhapāla, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, tvaṁ vīsativassuddesikopi paṇṇavīsativassuddesikopi hatthismimpi katāvī assasmimpi katāvī rathasmimpi katāvī dhanusmimpi katāvī tharusmimpi katāvī ūrubalī bāhubalī alamatto saṅgāmāvacaro”ti?
“Ahosiṁ ahaṁ, bho raṭṭhapāla, vīsativassuddesikopi paṇṇavīsativassuddesikopi hatthismimpi katāvī assasmimpi katāvī rathasmimpi katāvī dhanusmimpi katāvī tharusmimpi katāvī ūrubalī bāhubalī alamatto saṅgāmāvacaro. Appekadāhaṁ, bho raṭṭhapāla, iddhimāva maññe na attano balena samasamaṁ samanupassāmī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, evameva tvaṁ etarahi ūrubalī bāhubalī alamatto saṅgāmāvacaro”ti?
“No hidaṁ, bho raṭṭhapāla. Etarahi jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto āsītiko me vayo vattati. Appekadāhaṁ, bho raṭṭhapāla, ‘idha pādaṁ karissāmī’ti aññeneva pādaṁ karomī”ti.
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ: ‘upaniyyati loko addhuvo’ti, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
“Acchariyaṁ, bho raṭṭhapāla, abbhutaṁ, bho raṭṭhapāla. Yāva subhāsitañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena: ‘upaniyyati loko addhuvo’ti. Upaniyyati hi, bho raṭṭhapāla, loko addhuvo.
“‘The world is unstable and swept away.’ So the worthy Raṭṭhapāla said. How should I see the meaning of this statement?”
“What do you think, Great King? When you were twenty or twenty-five years of age, were you well-versed at riding elephants, horses, and chariots, and at archery and swordsmanship? Were you strong in thigh and arm, capable, and battle-hardened?”
“I was, worthy Raṭṭhapāla. Sometimes it seems as if I had superpowers then. I don’t see anyone who could have equaled me in strength.”
“What do you think, Great King? These days are you just as strong in thigh and arm, capable, and battle-hardened?”
“No, worthy Raṭṭhapāla. For now I am old, elderly, and senior, I’m advanced in years and have reached the final stage of life. I am eighty years old. Sometimes I intend to step in one place, but my foot goes somewhere else.”
“This is what the Buddha was referring to when he said: ‘The world is unstable and swept away.’”
“It’s incredible, worthy Raṭṭhapāla, it’s amazing, how well said this was by the Buddha. For the world is indeed unstable and swept away.
306. “‘Thế gian bị dẫn đi, không bền vững’, Tôn giả Raṭṭhapāla đã nói như vậy. Tâu Tôn giả Raṭṭhapāla, ý nghĩa của lời nói này nên được hiểu như thế nào?” “Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Khi ngài khoảng hai mươi hoặc hai mươi lăm tuổi, ngài đã thành thạo thuật cưỡi voi, thuật cưỡi ngựa, thuật điều khiển xe, thuật bắn cung, thuật dùng gươm, có sức mạnh ở đùi, sức mạnh ở cánh tay, đầy đủ năng lực, và thiện chiến phải không?” “Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, tôi đã từng như vậy, khi tôi khoảng hai mươi hoặc hai mươi lăm tuổi, tôi đã thành thạo thuật cưỡi voi, thuật cưỡi ngựa, thuật điều khiển xe, thuật bắn cung, thuật dùng gươm, có sức mạnh ở đùi, sức mạnh ở cánh tay, đầy đủ năng lực, và thiện chiến. Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, đôi khi tôi nghĩ mình như có thần thông, tôi không thấy ai có sức mạnh ngang bằng với mình.” “Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Bây giờ ngài có còn như vậy, có sức mạnh ở đùi, sức mạnh ở cánh tay, đầy đủ năng lực, và thiện chiến không?” “Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, không phải vậy. Bây giờ tôi đã già, lớn tuổi, cao niên, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều, tuổi của tôi đã tám mươi. Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, đôi khi tôi nghĩ: ‘Ta sẽ đặt chân ở đây’, nhưng lại đặt chân ở chỗ khác.” “Tâu Đại vương, chính vì nhân duyên này mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: ‘Thế gian bị dẫn đi, không bền vững’. Do biết, do thấy, do nghe pháp ấy mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình.” “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Raṭṭhapāla! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Raṭṭhapāla! Lời nói này của Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã được khéo nói biết bao: ‘Thế gian bị dẫn đi, không bền vững’. Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, quả thật thế gian bị dẫn đi, không bền vững.”
Saṁvijjante kho, bho raṭṭhapāla, imasmiṁ rājakule hatthikāyāpi assakāyāpi rathakāyāpi pattikāyāpi, amhākaṁ āpadāsu pariyodhāya vattissanti. ‘Atāṇo loko anabhissaro’ti—bhavaṁ raṭṭhapālo āha. Imassa pana, bho raṭṭhapāla, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, atthi te koci anusāyiko ābādho”ti?
“Atthi me, bho raṭṭhapāla, anusāyiko ābādho. Appekadā maṁ, bho raṭṭhapāla, mittāmaccā ñātisālohitā parivāretvā ṭhitā honti: ‘idāni rājā korabyo kālaṁ karissati, idāni rājā korabyo kālaṁ karissatī’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, labhasi tvaṁ te mittāmacce ñātisālohite: ‘āyantu me bhonto mittāmaccā ñātisālohitā, sabbeva santā imaṁ vedanaṁ saṁvibhajatha, yathāhaṁ lahukatarikaṁ vedanaṁ vediyeyyan’ti—udāhu tvaṁyeva taṁ vedanaṁ vediyasī”ti?
“Nāhaṁ, bho raṭṭhapāla, labhāmi te mittāmacce ñātisālohite: ‘āyantu me bhonto mittāmaccā ñātisālohitā, sabbeva santā imaṁ vedanaṁ saṁvibhajatha, yathāhaṁ lahukatarikaṁ vedanaṁ vediyeyyan’ti. Atha kho ahameva taṁ vedanaṁ vediyāmī”ti.
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ: ‘atāṇo loko anabhissaro’ti, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
“Acchariyaṁ, bho raṭṭhapāla, abbhutaṁ, bho raṭṭhapāla. Yāva subhāsitaṁ cidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena: ‘atāṇo loko anabhissaro’ti. Atāṇo hi, bho raṭṭhapāla, loko anabhissaro.
In this royal court you can find divisions of elephants, cavalry, chariots, and infantry. They will serve to defend us from any threats. Yet you said: ‘The world has no shelter and no savior.’ How should I see the meaning of this statement?”
“What do you think, Great King? Do you have any chronic ailments?”
“Yes, I do. Sometimes my friends and colleagues, relatives and kin surround me, thinking: ‘Now the king will die! Now the king will die!’”
“What do you think, Great King? Can you get your friends and colleagues, relatives and kin to help: ‘Please, my dear friends and colleagues, relatives and kin, all of you here share my pain so that I may feel less pain.’ Or must you alone feel that pain?”
“I can’t get my friends to share my pain. Rather, I alone must feel it.”
“This is what the Buddha was referring to when he said: ‘The world has no shelter and no savior.’”
“It’s incredible, worthy Raṭṭhapāla, it’s amazing, how well said this was by the Buddha. For the world indeed has no shelter and no savior.
“Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, trong hoàng tộc này có các đội tượng binh, kỵ binh, xa binh, và bộ binh, họ sẽ có mặt để bảo vệ chúng tôi khi gặp hoạn nạn. Tôn giả Raṭṭhapāla đã nói: ‘Thế gian không nơi nương tựa, không có chủ’. Tâu Tôn giả Raṭṭhapāla, ý nghĩa của lời nói này nên được hiểu như thế nào?” “Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Ngài có từng mắc một căn bệnh kinh niên nào không?” “Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, tôi có mắc một căn bệnh kinh niên. Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, đôi khi bạn bè, quan chức, và bà con thân thuộc vây quanh tôi và đứng đó, nghĩ rằng: ‘Bây giờ vua Korabya sẽ qua đời, bây giờ vua Korabya sẽ qua đời.’” “Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Ngài có thể nói với những người bạn bè, quan chức, và bà con thân thuộc ấy rằng: ‘Này các khanh, bạn bè, quan chức, và bà con thân thuộc của ta, hãy đến đây, tất cả các vị hãy cùng nhau chia sẻ cảm thọ này, để ta có thể cảm thấy bớt đau đớn hơn’ được không? Hay là chỉ một mình ngài phải chịu đựng cảm thọ đó?” “Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, tôi không thể nói với những người bạn bè, quan chức, và bà con thân thuộc ấy rằng: ‘Này các khanh, bạn bè, quan chức, và bà con thân thuộc của ta, hãy đến đây, tất cả các vị hãy cùng nhau chia sẻ cảm thọ này, để ta có thể cảm thấy bớt đau đớn hơn’. Mà chính tôi phải chịu đựng cảm thọ đó.” “Tâu Đại vương, chính vì nhân duyên này mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: ‘Thế gian không nơi nương tựa, không có chủ’. Do biết, do thấy, do nghe pháp ấy mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình.” “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Raṭṭhapāla! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Raṭṭhapāla! Lời nói này của Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã được khéo nói biết bao: ‘Thế gian không nơi nương tựa, không có chủ’. Thưa Tôn giả Raṭṭhapāla, quả thật thế gian không nơi nương tựa, không có chủ.”
Saṁvijjati kho, bho raṭṭhapāla, imasmiṁ rājakule pahūtaṁ hiraññasuvaṇṇaṁ bhūmigatañca vehāsagatañca. ‘Assako loko, sabbaṁ pahāya gamanīyan’ti—bhavaṁ raṭṭhapālo āha. Imassa pana, bho raṭṭhapāla, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yathā tvaṁ etarahi pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāresi, lacchasi tvaṁ paratthāpi: ‘evamevāhaṁ imeheva pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāremī’ti, udāhu aññe imaṁ bhogaṁ paṭipajjissanti, tvaṁ pana yathākammaṁ gamissasī”ti?
“Yathāhaṁ, bho raṭṭhapāla, etarahi pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāremi, nāhaṁ lacchāmi paratthāpi: ‘evameva imeheva pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāremī’ti. Atha kho aññe imaṁ bhogaṁ paṭipajjissanti; ahaṁ pana yathākammaṁ gamissāmī”ti.
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ: ‘assako loko, sabbaṁ pahāya gamanīyan’ti, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
“Acchariyaṁ, bho raṭṭhapāla, abbhutaṁ, bho raṭṭhapāla. Yāva subhāsitaṁ cidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena: ‘assako loko, sabbaṁ pahāya gamanīyan’ti. Assako hi, bho raṭṭhapāla, loko sabbaṁ pahāya gamanīyaṁ.
In this royal court you can find abundant gold, both coined and uncoined, stored above and below ground. Yet you said: ‘The world has no owner—you must leave it all behind and pass on.’ How should I see the meaning of this statement?”
“What do you think, Great King? These days you amuse yourself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. But is there any way to ensure that in the next life you will continue to amuse yourself in the same way, supplied and provided with the same five kinds of sensual stimulation? Or will others make use of this property, while you pass on according to your deeds?”
“There’s no way to ensure that I will continue to amuse myself in the same way. Rather, others will take over this property, while I pass on according to my deeds.”
“This is what the Buddha was referring to when he said: ‘The world has no owner—you must leave it all behind and pass on.’”
“It’s incredible, worthy Raṭṭhapāla, it’s amazing, how well said this was by the Buddha. For the world indeed has no owner—you must leave it all behind and pass on.
“Thưa ngài Raṭṭhapāla, trong hoàng tộc này có rất nhiều vàng bạc được chôn dưới đất và cất giữ trên không. Ngài Raṭṭhapāla đã nói: ‘Thế gian không có sở hữu, phải từ bỏ tất cả mà đi.’ Thưa ngài Raṭṭhapāla, ý nghĩa của lời nói này nên được hiểu như thế nào?” “Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào? Giống như hiện nay ngài đang tận hưởng, được cung phụng, được đầy đủ năm dục lạc, liệu ngài có thể có được điều này ở đời sau không: ‘Ta cũng sẽ tận hưởng, được cung phụng, được đầy đủ năm dục lạc này như vậy,’ hay là những người khác sẽ thừa hưởng tài sản này, còn ngài thì sẽ ra đi tùy theo nghiệp của mình?” “Thưa ngài Raṭṭhapāla, giống như hiện nay tôi đang tận hưởng, được cung phụng, được đầy đủ năm dục lạc, tôi sẽ không thể có được điều này ở đời sau: ‘Tôi cũng sẽ tận hưởng, được cung phụng, được đầy đủ năm dục lạc này như vậy.’ Mà thật ra, những người khác sẽ thừa hưởng tài sản này; còn tôi thì sẽ ra đi tùy theo nghiệp của mình.” “Thưa Đại vương, chính vì điều này mà Đức Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Giác, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đã dạy rằng: ‘Thế gian không có sở hữu, phải từ bỏ tất cả mà đi.’ Chính vì biết, thấy, và nghe điều này mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình.” “Thật kỳ diệu, thưa ngài Raṭṭhapāla, thật phi thường, thưa ngài Raṭṭhapāla! Lời dạy này của Đức Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Giác, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thật là khéo nói: ‘Thế gian không có sở hữu, phải từ bỏ tất cả mà đi.’ Thật vậy, thưa ngài Raṭṭhapāla, thế gian không có sở hữu, phải từ bỏ tất cả mà đi.”
‘Ūno loko atitto taṇhādāso’ti—bhavaṁ raṭṭhapālo āha. Imassa, bho raṭṭhapāla, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, phītaṁ kuruṁ ajjhāvasasī”ti?
“Evaṁ, bho raṭṭhapāla, phītaṁ kuruṁ ajjhāvasāmī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha puriso āgaccheyya puratthimāya disāya saddhāyiko paccayiko. So taṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya: ‘yagghe, mahārāja, jāneyyāsi, ahaṁ āgacchāmi puratthimāya disāya? Tatthaddasaṁ mahantaṁ janapadaṁ iddhañceva phītañca bahujanaṁ ākiṇṇamanussaṁ. Bahū tattha hatthikāyā assakāyā rathakāyā pattikāyā; bahu tattha dhanadhaññaṁ; bahu tattha hiraññasuvaṇṇaṁ akatañceva katañca; bahu tattha itthipariggaho. Sakkā ca tāvatakeneva balamattena abhivijinituṁ. Abhivijina, mahārājā’ti, kinti naṁ kareyyāsī”ti?
“Tampi mayaṁ, bho raṭṭhapāla, abhivijiya ajjhāvaseyyāmā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha puriso āgaccheyya pacchimāya disāya … uttarāya disāya … dakkhiṇāya disāya … parasamuddato saddhāyiko paccayiko. So taṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya: ‘yagghe, mahārāja, jāneyyāsi, ahaṁ āgacchāmi parasamuddato? Tatthaddasaṁ mahantaṁ janapadaṁ iddhañceva phītañca bahujanaṁ ākiṇṇamanussaṁ. Bahū tattha hatthikāyā assakāyā rathakāyā pattikāyā; bahu tattha dhanadhaññaṁ; bahu tattha hiraññasuvaṇṇaṁ akatañceva katañca; bahu tattha itthipariggaho. Sakkā ca tāvatakeneva balamattena abhivijinituṁ. Abhivijina, mahārājā’ti, kinti naṁ kareyyāsī”ti?
“Tampi mayaṁ, bho raṭṭhapāla, abhivijiya ajjhāvaseyyāmā”ti.
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ: ‘ūno loko atitto taṇhādāso’ti, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
“Acchariyaṁ, bho raṭṭhapāla, abbhutaṁ, bho raṭṭhapāla. Yāva subhāsitañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena: ‘ūno loko atitto taṇhādāso’ti. Ūno hi, bho raṭṭhapāla, loko atitto taṇhādāso”ti.
You also said this: ‘The world is wanting, insatiable, the slave of craving.’ How should I see the meaning of this statement?”
“What do you think, Great King? Do you reign over the prosperous land of Kuru?”
“Indeed I do.”
“What do you think, Great King? Suppose a trustworthy and dependable man were to come from the east. He’d approach you and say: ‘Please, Great King, you should know this. I come from the east. There I saw a large country that is successful and prosperous, populous and full of people. They have many divisions of elephants, cavalry, chariots, and infantry. And there’s plenty of money and grain, plenty of gold, coined and uncoined, worked and unworked, and plenty of women for the taking. With your current forces you can conquer it. Conquer it, Great King!’ What would you do?”
“I would conquer it and reign over it.”
“What do you think, Great King? Suppose a trustworthy and dependable man were to come from the west, north, south, or from over the ocean. He’d approach you and say the same thing. What would you do?”
“I would conquer it and reign over it.”
“This is what the Buddha was referring to when he said: ‘The world is wanting, insatiable, the slave of craving.’ And it was after knowing and seeing and hearing this that I went forth from the lay life to homelessness.”
“It’s incredible, worthy Raṭṭhapāla, it’s amazing, how well said this was by the Buddha. For the world is indeed wanting, insatiable, the slave of craving.”
“Ngài Raṭṭhapāla đã nói: ‘Thế gian luôn thiếu thốn, không bao giờ thỏa mãn, là nô lệ của ái dục.’ Thưa ngài Raṭṭhapāla, ý nghĩa của lời nói này nên được hiểu như thế nào?” “Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào, ngài đang cai trị xứ Kuru thịnh vượng phải không?” “Vâng, thưa ngài Raṭṭhapāla, tôi đang cai trị xứ Kuru thịnh vượng.” “Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào, giả sử có một người đáng tin cậy, đáng tín nhiệm từ phương đông đến. Người ấy đến gặp ngài và nói rằng: ‘Xin Đại vương hãy biết cho, tôi từ phương đông đến. Ở đó, tôi đã thấy một xứ sở rộng lớn, giàu có, thịnh vượng, đông dân, người ở chen chúc. Ở đó có nhiều đội tượng binh, kỵ binh, xa binh, và bộ binh; ở đó có nhiều của cải và ngũ cốc; ở đó có nhiều vàng bạc, cả đã chế tác và chưa chế tác; ở đó có nhiều phụ nữ để thu phục. Và có thể chinh phục được chỉ với một lực lượng quân đội vừa phải. Xin Đại vương hãy chinh phục nó!’ Ngài sẽ làm gì?” “Thưa ngài Raṭṭhapāla, chúng tôi cũng sẽ chinh phục và cai trị xứ sở đó.” “Thưa Đại vương, ngài nghĩ thế nào, giả sử có một người đáng tin cậy, đáng tín nhiệm từ phương tây đến... từ phương bắc... từ phương nam... từ bên kia bờ đại dương. Người ấy đến gặp ngài và nói rằng: ‘Xin Đại vương hãy biết cho, tôi từ bên kia bờ đại dương đến. Ở đó, tôi đã thấy một xứ sở rộng lớn, giàu có, thịnh vượng, đông dân, người ở chen chúc. Ở đó có nhiều đội tượng binh, kỵ binh, xa binh, và bộ binh; ở đó có nhiều của cải và ngũ cốc; ở đó có nhiều vàng bạc, cả đã chế tác và chưa chế tác; ở đó có nhiều phụ nữ để thu phục. Và có thể chinh phục được chỉ với một lực lượng quân đội vừa phải. Xin Đại vương hãy chinh phục nó!’ Ngài sẽ làm gì?” “Thưa ngài Raṭṭhapāla, chúng tôi cũng sẽ chinh phục và cai trị xứ sở đó.” “Thưa Đại vương, chính vì điều này mà Đức Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Giác, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đã dạy rằng: ‘Thế gian luôn thiếu thốn, không bao giờ thỏa mãn, là nô lệ của ái dục.’ Chính vì biết, thấy, và nghe điều này mà tôi đã từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình.” “Thật kỳ diệu, thưa ngài Raṭṭhapāla, thật phi thường, thưa ngài Raṭṭhapāla! Lời dạy này của Đức Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Giác, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thật là khéo nói: ‘Thế gian luôn thiếu thốn, không bao giờ thỏa mãn, là nô lệ của ái dục.’ Thật vậy, thưa ngài Raṭṭhapāla, thế gian luôn thiếu thốn, không bao giờ thỏa mãn, là nô lệ của ái dục.”
Idamavoca āyasmā raṭṭhapālo. Idaṁ vatvā athāparaṁ etadavoca:
That is what Venerable Raṭṭhapāla said. Then he went on to say:
Tôn giả Raṭṭhapāla đã nói điều này. Sau khi nói điều này, ngài lại nói thêm những lời sau:
“Passāmi loke sadhane manusse,
“I see rich humans in the world who,
307. “Tôi thấy trong đời những người có của,
Khi được tài sản, vì si mê không bố thí; Tham lam, họ chỉ lo tích trữ của cải, Và lại càng khao khát thêm các dục lạc.
Rājā pasayhā pathaviṁ vijitvā, Sasāgarantaṁ mahimāvasanto; Oraṁ samuddassa atittarūpo, Pāraṁ samuddassapi patthayetha.
A king who conquered the earth by force, ruling the land from sea to sea, unsatisfied with the near shore of the ocean, would still yearn for the further shore.
“Vị vua dùng vũ lực chinh phục trái đất, Cai trị cõi đất đến tận bờ đại dương; Không thỏa mãn với bờ bên này của biển, Lại còn mong muốn cả bờ bên kia.
Rājā ca aññe ca bahū manussā, Avītataṇhā maraṇaṁ upenti; Ūnāva hutvāna jahanti dehaṁ, Kāmehi lokamhi na hatthi titti.
Not just the king, but others too, reach death not rid of craving. They leave the body still wanting, for in this world sensual pleasures never satisfy.
“Cả vua và nhiều người khác, Chết đi mà lòng tham chưa dứt; Vẫn còn thiếu thốn, họ từ bỏ thân xác, Trong đời, không có sự thỏa mãn với các dục lạc.
Kandanti naṁ ñātī pakiriya kese, Ahovatā no amarāti cāhu; Vatthena naṁ pārutaṁ nīharitvā, Citaṁ samādāya tatoḍahanti.
Relatives lament, their hair disheveled, saying ‘Ah! Alas! They’re not immortal!’ They take out the body wrapped in a shroud, heap up a pyre, and burn it there.
“Thân quyến khóc than, xõa tóc rũ rượi, Họ nói: ‘Ôi, giá như người thân của chúng ta bất tử!’; Họ khiêng người được quấn trong tấm vải, Đem đặt lên giàn hỏa rồi thiêu.
So ḍayhati sūlehi tujjamāno, Ekena vatthena pahāya bhoge; Na mīyamānassa bhavanti tāṇā, Ñātīdha mittā atha vā sahāyā.
It’s poked with stakes while being burnt, in just a single cloth, all wealth gone. Relatives, friends, and companions can’t help you when you’re dying.
“Bị thiêu đốt, bị xiên bởi những cây cọc, Người ấy từ bỏ tài sản, chỉ với một tấm vải; Đối với người đang chết, không có nơi nương tựa, Dù là thân quyến, bạn bè, hay đồng hữu.
Dāyādakā tassa dhanaṁ haranti, Satto pana gacchati yena kammaṁ; Na mīyamānaṁ dhanamanveti kiñci, Puttā ca dārā ca dhanañca raṭṭhaṁ.
Heirs take your riches, while beings fare on according to their deeds. Riches don’t follow you when you die; nor do children, wife, wealth, nor kingdom.
“Những người thừa kế lấy đi tài sản của người ấy, Còn chúng sanh thì đi theo nghiệp của mình; Không có của cải nào đi theo người chết, Không con cái, không vợ chồng, không tài sản, không vương quốc.”
Na dīghamāyuṁ labhate dhanena, Na cāpi vittena jaraṁ vihanti; Appaṁ hidaṁ jīvitamāhu dhīrā, Asassataṁ vippariṇāmadhammaṁ.
Longevity isn’t gained by riches, nor does wealth banish old age; for the attentive say this life is short, it’s perishable and not eternal.
‘Không thể dùng của cải để được sống lâu, cũng không thể dùng tài sản để xua đuổi tuổi già; các bậc trí nói rằng mạng sống này ngắn ngủi, không thường hằng, có bản chất biến hoại.
Aḍḍhā daliddā ca phusanti phassaṁ, Bālo ca dhīro ca tatheva phuṭṭho; Bālo ca bālyā vadhitova seti, Dhīro ca na vedhati phassaphuṭṭho.
The rich and the poor feel its touch; the fool and the attentive one feel it too. But the fool lies stricken by their own folly, while the attentive don’t tremble at the touch.
‘Người giàu và người nghèo đều cảm nhận sự xúc chạm, kẻ ngu và người trí cũng bị xúc chạm như vậy; kẻ ngu do sự ngu si mà nằm xuống run rẩy, còn người trí dù bị sự xúc chạm chạm đến cũng không run rẩy.
Tasmā hi paññāva dhanena seyyo, Yāya vosānamidhādhigacchati; Abyositattā hi bhavābhavesu, Pāpāni kammāni karonti mohā.
Therefore wisdom’s much better than wealth, since by wisdom <j>you reach consummation in this life. But if because of delusion <j>you don’t reach consummation, you’ll do evil deeds in life after life.
‘Vì thế, trí tuệ thù thắng hơn của cải, nhờ trí tuệ ấy mà người ta đạt được sự chấm dứt ở đây; vì chưa hoàn tất nên do si mê, họ làm các nghiệp ác trong các cõi hữu.
Upeti gabbhañca parañca lokaṁ, Saṁsāramāpajja paramparāya; Tassappapañño abhisaddahanto, Upeti gabbhañca parañca lokaṁ.
One who enters a womb and the world beyond, will transmigrate from one life to the next. While someone of little wisdom, <j>placing faith in them, also enters a womb and the world beyond.
‘Kẻ ấy đi vào thai mẹ và thế giới bên kia, trôi lăn trong vòng luân hồi từ đời này sang đời khác; người ít trí tuệ tin tưởng (lời của kẻ ấy) nên cũng đi vào thai mẹ và thế giới bên kia.
Coro yathā sandhimukhe gahito, Sakammunā haññati pāpadhammo; Evaṁ pajā pecca paramhi loke, Sakammunā haññati pāpadhammo.
As a bandit caught in a window is punished for his own bad deeds; so after departing, in the world beyond, people are punished for their own bad deeds.
‘Như kẻ trộm có ác pháp bị bắt quả tang khi đang khoét vách, bị hành hạ bởi chính hành vi của mình; cũng vậy, chúng sanh có ác pháp, sau khi chết, ở thế giới bên kia, bị hành hạ bởi chính hành vi của mình.
Kāmāhi citrā madhurā manoramā, Virūparūpena mathenti cittaṁ; Ādīnavaṁ kāmaguṇesu disvā, Tasmā ahaṁ pabbajitomhi rāja.
Sensual pleasures are diverse, sweet, delightful; appearing in disguise they disturb the mind. Seeing danger in sensual stimulations, I went forth, O King.
‘Tâu đại vương, các dục thì đa dạng, ngọt ngào, và làm vui ý, chúng khuấy đảo tâm trí bằng nhiều hình thức khác nhau; vì thấy sự nguy hại trong các dục trưởng dưỡng, do đó con đã xuất gia.
Dumapphalāneva patanti māṇavā, Daharā ca vuḍḍhā ca sarīrabhedā; Etampi disvā pabbajitomhi rāja, Apaṇṇakaṁ sāmaññameva seyyo”ti.
As fruit falls from a tree, so the sons of Manu fall, young and old, when the body breaks up. Seeing this, too, I went forth, O King; it’s a sure bet that the ascetic life is better.”
‘Tâu đại vương, chúng sanh rơi rụng như những trái cây, cả người trẻ lẫn người già, khi thân hoại mạng chung; thấy cả điều này, con đã xuất gia, tâu đại vương, đời sống sa-môn chắc chắn là thù thắng hơn’.
Raṭṭhapālasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Raṭṭhapāla, bài kinh thứ hai, chấm dứt.