- Majjhima Nikāya 81
Ghaṭikārasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Ghaṭikārasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn đi du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.
SC 2Rồi Thế Tôn bước xuống bên lề đường, đến tại một địa điểm rồi mỉm cười. Tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười. Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ānanda đắp y về phía một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười.
SC 4—Thuở xưa này Ānanda, tại địa điểm này là một thị trấn tên là Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sống ở đây, dựa vào thị trấn Vebhalinga. Ở đây, này Ānanda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ānanda. Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
SC 5Rồi Tôn giả Ānanda gấp tư y sanghati (tăng-già-lê), trải ra rồi bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, thỉnh Thế Tôn ngồi xuống. Chính tại địa điểm này, hai bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sẽ sử dụng.
SC 7Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 8—Thuở xưa, này Ānanda, tại địa điểm này là thị trấn tên Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã sống dựa vào thị trấn Vebhalinga. Chính tại đây, này Ānanda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
SC 9Này Ānanda, chính tại thị trấn Vebhalinga, có người thợ làm đồ gốm tên là Ghatikara, người này là người đàn tín của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vị đàn tín đệ nhất. Thanh niên Jotipala là người bạn chí thân của thợ gốm Ghatikara. Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 10“—Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 11Khi nghe nói vậy, này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 12“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 13Lần thứ hai, này Ānanda … Lần thứ ba, này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 14“—Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 15Lần thứ ba này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 16“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 17“—Vậy này bạn Jotipala, hãy cầm đồ gãi lưng và bột tắm, chúng ta hãy đi đến sông để tắm”.
“—Thưa bạn, vâng”.
SC 18Này Ānanda, thanh niên Jotipala vâng đáp thợ gốm Ghatikara như vậy.
SC 19Thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala lấy đồ gãi lưng và bột tắm, đi đến sông để tắm. Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 20“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 21Khi nghe nói vậy, này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 22“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 23Lần thứ hai, này Ānanda, … lần thứ ba này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 24“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 25Lần thứ ba, này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 26“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 27Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nắm lấy thanh niên Jotipala ở nơi cổ tay áo và nói:
SC 28“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 29Rồi này Ānanda, sau khi gỡ thoát cổ áo, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 30“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến vị Sa-môn đầu trọc ấy để làm gì?
SC 31Rồi thợ gốm Ghatikara nắm lấy tóc vừa mới tắm xong của thanh niên Jotipala và nói:
SC 32“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala chúng ta hãy đi, chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
SC 33Rồi này Ānanda, thanh niên Jotipala suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu! Thật là hy hữu! Thợ gốm Ghatikara tuy sanh thuộc hạ cấp, lại dám nghĩ có thể nắm lấy tóc của ta, dầu ta vừa mới gội đầu, chắc việc này không phải là tầm thường”, rồi nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 34“—Này bạn Ghatikara, có thật sự là cần thiết không?”
SC 35“—Này bạn Jotipala, thật sự là cần thiết. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
SC 36“—Vậy bạn Ghatikara, hãy thả (tay) ra. Chúng ta sẽ đi”.
SC 37Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala cùng đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, thợ gốm Ghatikara đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Còn thanh niên Jotipala thời nói lên những lời cháo đón hỏi thăm với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, này Ānanda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 38“—Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn thuyết pháp cho bạn con”.
SC 39Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với pháp thoại khích lệ làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala. Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, phấn khởi, hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 40Rồi này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 41“—Này bạn Ghatikara, khi nghe pháp này, vì sao bạn không xuất gia?”
SC 42“—Này bạn Jotipala, bạn không biết tôi sao? Tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa”.
SC 43“—Vậy này bạn Ghatikara, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
SC 44Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ānanda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 45“—Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn xuất gia cho bạn con”.
SC 46Và này Ānanda, thanh niên Jotipala được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cho xuất gia, cho thọ đại giới. Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi thanh niên Jotipala xuất gia chưa bao lâu, sau nửa tháng, sau khi ở tại Vebhalinga lâu cho đến khi thấy tự thỏa mãn, liền du hành đi đến Bārāṇāsī. Ngài tuần tự du hành và đến tại Bārāṇāsī (Ba-la-nại). Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chành Ðẳng Giác trú tại Bārāṇāsī, ở Isipatana, vườn Lộc Uyển.
SC 47Này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi được nghe như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến Bārāṇāsī, trú tại Bārāṇāsī, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này Ānanda, Kiki, vua nước Kasi cho thắng các cỗ xe tối thù thắng, sau khi tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng với các cỗ xe thù thắng đi ra khỏi thành Bārāṇāsī với đại uy vệ của nhà vua để yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Vua đi xe cho đến chỗ nào còn đi được xe, rồi xuống xe đi bộ, đi đến chỗ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vua ngồi xuống một bên. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Kiki, vua xứ Kasi, đang ngồi một bên. Rồi Kiki, vua xứ Kasi, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 48“—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời con mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”.
SC 49Và này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác im lặng nhận lời. Rồi này Ānanda, sau khi được biết Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nhận lời, Kiki, vua xứ Kasi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 50Và này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xứ của mình, cho bày biện các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cơm vàng khô, các loại cari, các hột đen được gạn bỏ, và các món ăn gia vị, rồi báo thời giờ cho Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được biết:
SC 51“—Bạch Thế Tôn giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
SC 52Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi tự tay thân hầu và làm cho thỏa mãn chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, khi Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã ăn xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 53“—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con an cư mùa mưa tại Bārāṇāsī; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
SC 54“—Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư mùa mưa rồi.”
SC 55Lần thứ hai, này Ānanda, … Lần thứ ba, này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 56“—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con, an cư mùa mưa tại Bārāṇāsī; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
SC 57“—Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư trong mùa mưa rồi”.
SC 58Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, suy nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Bārāṇāsī”, vì vậy cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 59“—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có người đàn tín hộ trì hơn con?”
SC 60“—Ðại vương, có một thị trấn tên là Vebhalinga. Tại đấy có thợ gốm tên là Ghatikara. Người ấy là đàn tín hộ trì của Ta, một đàn tín hộ trì tối thượng. Ðại vương, Ðại vương có nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Bārāṇāsī”, do vậy, Ðại vương cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Nhưng thợ gốm Ghatikara không có như vậy, và không sợ như vậy. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara thành tựu lòng tin bất thối chuyển đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, thành tựu các giới được bậc Thánh ái lạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, có giới hạnh, theo thiện pháp. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ ngọc và vàng, không có vàng và bạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có tự tay đào đất hay đào với cái cuốc. Vị này vui lòng làm thành ghè bát với đất lấy từ bờ đê bị sập xuống hay do chuột và chó đào lên, và nói như sau: “Ở đây, nếu ai muốn, hãy bỏ vào từng nhúm các loại gạo có vỏ, từng nhúm các loại đậu que (mugga), từng nhúm các loại đậu hột (kalaya), và có thể lấy cái gì mình muốn”. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn từ chỗ ấy, không phải trở lui đời này nữa.
SC 61“Một thời, này Ðại vương, Ta ở tại thị trấn Vabhalinga. Rồi này Ðại vương, Ta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến cha mẹ của thợ gốm Ghatikara, sau khi đến nói với cha mẹ thợ gốm Ghatikara như sau:
SC 62“—Người thợ làm đồ gốm đi đâu?”
SC 63“—Bạch Thế Tôn, người đàn tín hộ trì cho Thế Tôn đã đi khỏi và có dặn như sau: Hãy lấy cháo từ nơi nồi, hãy lấy đồ ăn từ nơi chảo mà dùng”.
SC 64“Rồi Ta, này Ðại vương, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi. Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến, nói với cha mẹ như sau:
SC 65“—Ai đã lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi?”
SC 66“—Này con, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi”.
SC 67“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”. Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần (không rời khỏi) cha mẹ (người thợ gốm).
SC 68“Một thời, này Ðại Vương. Ta trú ở thị trấn Vebhalinga, lúc bấy giờ, các cốc bị mưa dột, rồi Ta, này Ðại vương, gọi các Tỷ-kheo:
SC 69“—Hãy đi, này các Tỷ-kheo, và xem tại nhà của thợ gốm Ghatikara có cỏ hay không?
SC 70“Khi được nghe nói vậy, này Ðại vương, các Tỷ-kheo bạch với Ta:
SC 71“—Bạch Thế Tôn, tại nhà của thợ gốm Ghatikara không có cỏ, nhưng nhà người ấy có mái cỏ”.
SC 72“—Này các Tỷ-kheo, hãy đi và rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara.
SC 73“Rồi này Ðại vương, các Tỷ-kheo ấy rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara. Này Ðại vương, cha mẹ thợ gốm Ghatikara nói với các Tỷ-kheo ấy:
SC 74“—Quý vị là ai lại rút cỏ ngôi nhà?”
SC 75“—Này Ðại tỷ, ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột”.
SC 76“—Hãy lấy đi, chư Hiền giả! Hãy lấy đi, chư Hiền giả!”
SC 77“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến thưa với cha mẹ như sau:
SC 78“—Những ai đã rút cỏ khỏi ngôi nhà?”
SC 79“—Này Con, các Tỷ-kheo có nói: Ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột”.
SC 80“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”.
SC 81“Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần, (không rời khỏi) cha mẹ thợ gốm. Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà đứng lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Và như vậy, này Ðại vương, là người thợ gốm Ghatikara.
SC 82“—Lợi ích thay, bạch Thế Tôn, cho thợ gốm Ghatikara; thật khéo lợi ích thay, bạch Thế Tôn cho thợ gốm Ghatikara, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng!”
SC 83Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, cho người đưa đến thợ gốm Ghatikara, khoảng năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn. Rồi này Ānanda, những người nhà vua cử đi đến thợ gốm Ghatikara và nói:
SC 84“—Này Tôn giả, năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn này, do Kiki, vua xứ Kasi, gởi đến cho Tôn giả, mong Tôn giả hãy nhận lấy”.
SC 85“—Nhà vua rất nhiều phận sự, rất nhiều việc cần phải làm. Thật là vừa đủ cho tôi, được nhà vua nghĩ đến như thế này”.
SC 86—Này Ānanda, rất có thể Ông suy nghĩ như sau: “Lúc bây giờ, thanh niên Jotipala có thể là một người khác”. Nhưng này Ānanda, chớ có nghĩ như vậy. Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipala.
SC 87Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Ghaṭikāra
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi: “ko nu kho hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya? Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
Atha kho āyasmā ānando ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya? Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imasmiṁ padese vegaḷiṅgaṁ nāma gāmanigamo ahosi iddho ceva phīto ca bahujano ākiṇṇamanusso. Vegaḷiṅgaṁ kho, ānanda, gāmanigamaṁ kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho upanissāya vihāsi. Idha sudaṁ, ānanda, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa ārāmo ahosi. Idha sudaṁ, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nisinnako bhikkhusaṅghaṁ ovadatī”ti.
Then Venerable Ānanda thought, “What is the cause, what is the reason why the Buddha smiled? Realized Ones do not smile for no reason.”
So Ānanda arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and said, “What is the cause, what is the reason why the Buddha smiled? Realized Ones do not smile for no reason.”
“Once upon a time, Ānanda, there was a market town in this spot named Vebhaliṅga. It was successful and prosperous, populous and full of people. And Kassapa, a blessed one, a perfected one, a fully awakened Buddha, lived supported by Vebhaliṅga. It was here, in fact, that he had his monastery, where he advised the mendicant Saṅgha while seated.”
282. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ-khưu. Bấy giờ, Thế Tôn đi lệch ra khỏi con đường và tại một nơi nào đó, Ngài mỉm cười. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda khởi lên ý nghĩ này: “Do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn mỉm cười? Các đấng Như Lai không mỉm cười vô cớ.” Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đắp y lệch vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn mỉm cười? Các đấng Như Lai không mỉm cười vô cớ.” – “Này Ānanda, thuở xưa, tại nơi này, có một thị trấn tên là Vegaḷiṅga, thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người người tấp nập. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã trú ngụ nương vào thị trấn Vegaḷiṅga. Này Ānanda, tại nơi đây, đã từng có một ngôi tịnh xá của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Ānanda, tại nơi đây, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã ngồi và giáo huấn chúng Tỳ-khưu.” Bấy giờ, Tôn giả Ānanda trải tấm y tăng-già-lê gấp tư và bạch với Thế Tôn rằng: “Nếu vậy, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy ngồi xuống đây. Mảnh đất này sẽ là nơi đã được hai vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sử dụng.” Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được trải sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda:
Atha kho āyasmā ānando catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapetvā bhagavantaṁ etadavoca: “tena hi, bhante, bhagavā nisīdatu ettha. Ayaṁ bhūmipadeso dvīhi arahantehi sammāsambuddhehi paribhutto bhavissatī”ti. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imasmiṁ padese vegaḷiṅgaṁ nāma gāmanigamo ahosi iddho ceva phīto ca bahujano ākiṇṇamanusso. Vegaḷiṅgaṁ kho, ānanda, gāmanigamaṁ kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho upanissāya vihāsi. Idha sudaṁ, ānanda, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa ārāmo ahosi. Idha sudaṁ, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nisinnako bhikkhusaṅghaṁ ovadati.
Then Ānanda spread out his outer robe folded in four and said to the Buddha, “Well then, sir, may the Blessed One sit here! Then this piece of land will have been occupied by two perfected ones, fully awakened Buddhas.” The Buddha sat down on the seat spread out. When he was seated he said to Venerable Ānanda:
“Once upon a time, Ānanda, there was a market town in this spot named Vebhaliṅga. It was successful and prosperous, populous and full of people. And Kassapa, a blessed one, a perfected one, a fully awakened Buddha, lived supported by Vebhaliṅga. It was here, in fact, that he had his monastery, where he advised the mendicant Saṅgha while seated.
“Này Ānanda, thuở xưa, tại địa phương này có một thị trấn tên là Vegaḷiṅga, thịnh vượng, phồn vinh, đông dân cư, người người chen chúc. Này Ānanda, đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã trú ngụ nương vào thị trấn Vegaḷiṅga. Này Ānanda, chính tại nơi đây đã từng là ngôi tịnh xá của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Ānanda, chính tại nơi đây, đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trong khi đang ngồi, đã giáo huấn chúng Tỳ khưu.”
Vegaḷiṅge kho, ānanda, gāmanigame ghaṭikāro nāma kumbhakāro kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Ghaṭikārassa kho, ānanda, kumbhakārassa jotipālo nāma māṇavo sahāyo ahosi piyasahāyo. Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ āmantesi: ‘āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma. Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca: ‘alaṁ, samma ghaṭikāra. Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Dutiyampi kho, ānanda …pe… tatiyampi kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ etadavoca: ‘āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma. Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Tatiyampi kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca: ‘alaṁ, samma ghaṭikāra. Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
‘Tena hi, samma jotipāla, sottisināniṁ ādāya nadiṁ gamissāma sināyitun’ti.
‘Evaṁ, sammā’ti kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikārassa kumbhakārassa paccassosi. Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo sottisināniṁ ādāya nadiṁ agamaṁsu sināyituṁ.
The Buddha Kassapa had as chief supporter in Vebhaliṅga a potter named Ghaṭīkāra. Ghaṭīkāra had a dear friend named Jotipāla, a student. Then Ghaṭīkāra addressed Jotipāla, ‘Come, dear Jotipāla, let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I deem it holy to see that Blessed One.’
When he said this, Jotipāla said to him, ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that shaveling, that fake ascetic?’
For a second time … and a third time, Ghaṭīkāra addressed Jotipāla, ‘Come, dear Jotipāla, let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I deem it holy to see that Blessed One.’
For a third time, Jotipāla said to him, ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that shaveling, that fake ascetic?’
‘Well then, dear Jotipāla, let’s take some bathing cleanser and go to the river to bathe.’
‘Yes, dear,’ replied Jotipāla. So that’s what they did.
283. Này Ānanda, tại thị trấn Vegaḷiṅga có người thợ gốm tên là Ghaṭikāra, là người thị giả, là vị thượng thủ thị giả của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra có một người bạn, một người bạn thân thiết, là thanh niên tên Jotipāla. Khi ấy, này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra đã gọi thanh niên Jotipāla: ‘Này bạn Jotipāla, chúng ta hãy đi đến yết kiến đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vì rằng, đối với tôi, việc yết kiến đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được xem là điều tốt lành.’ Khi được nói như vậy, này Ānanda, thanh niên Jotipāla đã nói với người thợ gốm Ghaṭikāra điều này: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra. Có ích gì khi thấy gã sa-môn trọc đầu ấy chứ?’ Lần thứ hai, này Ānanda… Lần thứ ba, này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra đã nói với thanh niên Jotipāla điều này: ‘Này bạn Jotipāla, chúng ta hãy đi đến yết kiến đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vì rằng, đối với tôi, việc yết kiến đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được xem là điều tốt lành.’ Lần thứ ba, này Ānanda, thanh niên Jotipāla đã nói với người thợ gốm Ghaṭikāra điều này: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra. Có ích gì khi thấy gã sa-môn trọc đầu ấy chứ?’ ‘Vậy thì, này bạn Jotipāla, chúng ta hãy lấy bột tắm rồi đi ra sông để tắm.’ ‘Được lắm, bạn ơi,’ này Ānanda, thanh niên Jotipāla đã vâng lời người thợ gốm Ghaṭikāra. Khi ấy, này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra và thanh niên Jotipāla đã lấy bột tắm rồi đi ra sông để tắm.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ āmantesi: ‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo. Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma. Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca: ‘alaṁ, samma ghaṭikāra. Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Dutiyampi kho, ānanda …pe… tatiyampi kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ etadavoca: ‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo. Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma. Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Tatiyampi kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca: ‘alaṁ, samma ghaṭikāra. Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ ovaṭṭikāyaṁ parāmasitvā etadavoca: ‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo. Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma. Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Atha kho, ānanda, jotipālo māṇavo ovaṭṭikaṁ vinivaṭṭetvā ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca: ‘alaṁ, samma ghaṭikāra. Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ sīsaṁnhātaṁ kesesu parāmasitvā etadavoca: ‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo. Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma. Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Atha kho, ānanda, jotipālassa māṇavassa etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Yatra hi nāmāyaṁ ghaṭikāro kumbhakāro ittarajacco samāno amhākaṁ sīsaṁnhātānaṁ kesesu parāmasitabbaṁ maññissati; na vatidaṁ kira orakaṁ maññe bhavissatī’ti; ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca: ‘yāvatādohipi, samma ghaṭikārā’ti?
‘Yāvatādohipi, samma jotipāla. Tathā hi pana me sādhusammataṁ tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
‘Tena hi, samma ghaṭikāra, muñca; gamissāmā’ti.
Then Ghaṭīkāra addressed Jotipāla, ‘Dear Jotipāla, the Buddha Kassapa’s monastery is not far away. Let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I deem it holy to see that Blessed One.’
When he said this, Jotipāla said to him, ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that shaveling, that fake ascetic?’
For a second time … and a third time, Ghaṭīkāra addressed Jotipāla, ‘Dear Jotipāla, the Buddha Kassapa’s monastery is not far away. Let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I deem it holy to see that Blessed One.’
For a third time, Jotipāla said to him, ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that shaveling, that fake ascetic?’
Then Ghaṭīkāra grabbed Jotipāla by the skirt-hem and said, ‘Dear Jotipāla, the Buddha Kassapa’s monastery is not far away. Let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I deem it holy to see that Blessed One.’
So Jotipāla undid his skirt-hem and said to Ghaṭīkāra, ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that shaveling, that fake ascetic?’
Then Ghaṭīkāra grabbed Jotipāla by the hair of his freshly-washed head and said, ‘Dear Jotipāla, the Buddha Kassapa’s monastery is not far away. Let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I deem it holy to see that Blessed One.’
Then Jotipāla thought, ‘Oh lord, how incredible, how amazing, how this potter Ghaṭīkāra, though of lowly birth, should presume to grab me by the hair of my freshly-washed head! This must be no ordinary matter.’ He said to Ghaṭīkāra, ‘You’d even milk it to this extent, dear Ghaṭīkāra?’
‘I even milk it to this extent, dear Jotipāla. For that is how holy I deem it to see that Blessed One.’
‘Well then, dear Ghaṭīkāra, release me, we shall go.’
284. Khi ấy, này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra đã gọi thanh niên Jotipāla: ‘Này bạn Jotipāla, ngôi tịnh xá của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, ở không xa đây. Này bạn Jotipāla, chúng ta hãy đi đến yết kiến đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vì rằng, đối với tôi, việc yết kiến đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được xem là điều tốt lành.’ Khi được nói như vậy, này Ānanda, thanh niên Jotipāla đã nói với người thợ gốm Ghaṭikāra điều này: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra. Có ích gì khi thấy gã sa-môn trọc đầu ấy chứ?’ Lần thứ hai, này Ānanda… Lần thứ ba, này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra đã nói với thanh niên Jotipāla điều này: ‘Này bạn Jotipāla, ngôi tịnh xá của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, ở không xa đây. Này bạn Jotipāla, chúng ta hãy đi đến yết kiến đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vì rằng, đối với tôi, việc yết kiến đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được xem là điều tốt lành.’ Lần thứ ba, này Ānanda, thanh niên Jotipāla đã nói với người thợ gốm Ghaṭikāra điều này: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra. Có ích gì khi thấy gã sa-môn trọc đầu ấy chứ?’ Khi ấy, này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra, sau khi nắm lấy vạt khố của thanh niên Jotipāla, đã nói điều này: ‘Này bạn Jotipāla, ngôi tịnh xá của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, ở không xa đây. Này bạn Jotipāla, chúng ta hãy đi đến yết kiến đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vì rằng, đối với tôi, việc yết kiến đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được xem là điều tốt lành.’ Khi ấy, này Ānanda, thanh niên Jotipāla, sau khi cởi vạt khố ra, đã nói với người thợ gốm Ghaṭikāra điều này: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra. Có ích gì khi thấy gã sa-môn trọc đầu ấy chứ?’ Khi ấy, này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra, sau khi nắm lấy tóc của thanh niên Jotipāla vừa mới gội đầu xong, đã nói điều này: ‘Này bạn Jotipāla, ngôi tịnh xá của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, ở không xa đây. Này bạn Jotipāla, chúng ta hãy đi đến yết kiến đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vì rằng, đối với tôi, việc yết kiến đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được xem là điều tốt lành.’ Khi ấy, này Ānanda, thanh niên Jotipāla đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật kỳ diệu thay, hỡi các bạn! Thật hy hữu thay, hỡi các bạn! Do đâu mà người thợ gốm Ghaṭikāra này, vốn thuộc giai cấp thấp kém, lại nghĩ rằng có thể nắm lấy tóc của chúng ta, những người vừa mới gội đầu xong; chắc chắn việc này không phải là tầm thường.’ Rồi nói với người thợ gốm Ghaṭikāra điều này: ‘Bạn Ghaṭikāra, đến mức độ này sao?’ ‘Đến mức độ này đó, bạn Jotipāla. Vì quả thật, đối với tôi, việc yết kiến đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được xem là điều tốt lành.’ ‘Vậy thì, bạn Ghaṭikāra, hãy buông ra; chúng ta sẽ đi.’
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo yena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā ghaṭikāro kumbhakāro kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Jotipālo pana māṇavo kassapena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘ayaṁ me, bhante, jotipālo māṇavo sahāyo piyasahāyo. Imassa bhagavā dhammaṁ desetū’ti. Atha kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho ghaṭikārañca kumbhakāraṁ jotipālañca māṇavaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo kassapena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Then Ghaṭīkāra the potter and Jotipāla the student went to the Buddha Kassapa. Ghaṭīkāra bowed and sat down to one side, but Jotipāla exchanged greetings with the Buddha and sat down to one side.
Ghaṭīkāra said to the Buddha Kassapa, ‘Sir, this is the student Jotipāla, my dear friend. Please teach him the Dhamma.’ Then the Buddha Kassapa educated, encouraged, fired up, and inspired Ghaṭīkāra and Jotipāla with a Dhamma talk. Then they got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha Kassapa, keeping him on their right, before leaving.
285. “Này Ānanda, khi ấy, người thợ gốm Ghaṭikāra và thanh niên Jotipāla đã đi đến nơi đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang ngự; sau khi đến, người thợ gốm Ghaṭikāra đã đảnh lễ đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Còn thanh niên Jotipāla đã cùng với đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời chào mừng, thăm hỏi đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Này Ānanda, sau khi ngồi xuống một bên, người thợ gốm Ghaṭikāra đã bạch với đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rằng: ‘Bạch ngài, thanh niên Jotipāla này là bạn của con, là người bạn thân thiết. Xin đức Thế Tôn hãy thuyết Pháp cho vị ấy.’ Khi ấy, này Ānanda, đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ người thợ gốm Ghaṭikāra và thanh niên Jotipāla. Khi ấy, này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra và thanh niên Jotipāla, sau khi được đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng pháp thoại, đã tán thán, tùy hỷ lời dạy của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đi nhiễu quanh theo hướng bên phải rồi ra về.”
Atha kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca: ‘imaṁ nu tvaṁ, samma ghaṭikāra, dhammaṁ suṇanto atha ca pana agārasmā anagāriyaṁ na pabbajissasī’ti?
‘Nanu maṁ, samma jotipāla, jānāsi, andhe jiṇṇe mātāpitaro posemī’ti?
‘Tena hi, samma ghaṭikāra, ahaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmī’ti.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo yena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘ayaṁ me, bhante, jotipālo māṇavo sahāyo piyasahāyo. Imaṁ bhagavā pabbājetū’ti. Alattha kho, ānanda, jotipālo māṇavo kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Then Jotipāla said to Ghatīkāra, ‘Dear Ghaṭīkāra, you have heard this teaching, so why don’t you go forth from the lay life to homelessness?’
‘Don’t you know, dear Jotipāla, that I provide for my blind old parents?’
‘Well then, dear Ghaṭīkāra, I shall go forth from the lay life to homelessness.’
Then Ghaṭīkāra and Jotipāla went to the Buddha Kassapa, bowed and sat down to one side. Ghaṭīkāra said to the Buddha Kassapa, ‘Sir, this is the student Jotipāla, my dear friend. Please give him the going forth.’ And Jotipāla the student received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence.
286. “Khi ấy, này Ānanda, thanh niên Jotipāla đã nói với người thợ gốm Ghaṭikāra rằng: ‘Này bạn Ghaṭikāra, bạn đã nghe Pháp này, vậy tại sao bạn lại không từ bỏ gia đình, sống không gia đình, để xuất gia?’ ‘Này bạn Jotipāla, chẳng phải bạn biết rằng tôi đang nuôi dưỡng cha mẹ già yếu, mù lòa hay sao?’ ‘Vậy thì, này bạn Ghaṭikāra, tôi sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, để xuất gia.’ Khi ấy, này Ānanda, người thợ gốm Ghaṭikāra và thanh niên Jotipāla đã đi đến nơi đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang ngự; sau khi đến, họ đã đảnh lễ đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Này Ānanda, sau khi ngồi xuống một bên, người thợ gốm Ghaṭikāra đã bạch với đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rằng: ‘Bạch ngài, thanh niên Jotipāla này là bạn của con, là người bạn thân thiết. Xin đức Thế Tôn hãy cho vị ấy xuất gia.’ Và này Ānanda, thanh niên Jotipāla đã được xuất gia, đã được thọ cụ túc giới dưới sự hiện diện của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”
Atha kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho acirūpasampanne jotipāle māṇave aḍḍhamāsupasampanne vegaḷiṅge yathābhirantaṁ viharitvā yena bārāṇasī tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena bārāṇasī tadavasari. Tatra sudaṁ, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye. Assosi kho, ānanda, kikī kāsirājā: ‘kassapo kira bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bārāṇasiṁ anuppatto bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye’ti. Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi bārāṇasiyā niyyāsi mahaccarājānubhāvena kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya. Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova yena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho, ānanda, kikiṁ kāsirājānaṁ kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’ti. Adhivāsesi kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tuṇhībhāvena.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapassa bhagavato sammāsambuddhassa adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā paṇḍupuṭakassa sālino vigatakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa kālaṁ ārocāpesi: ‘kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan’ti.
Not long after Jotipāla’s ordination, a fortnight later, the Buddha Kassapa—having stayed in Vebhaliṅga as long as he pleased—set out for Varanasi. Traveling stage by stage, he arrived at Varanasi, where he stayed near Varanasi, in the deer park at Isipatana. King Kikī of Kāsi heard that he had arrived. He had the finest carriages harnessed. He then mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out in full royal pomp from Varanasi to see the Buddha Kassapa. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached the Buddha Kassapa on foot. He bowed and sat down to one side. The Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired him with a Dhamma talk.
Then King Kikī said to the Buddha, ‘Sir, would the Buddha together with the mendicant Saṅgha please accept tomorrow’s meal from me?’ The Buddha Kassapa consented with silence.
Then, knowing that the Buddha had consented, King Kikī rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving. And when the night had passed, King Kikī had delicious fresh and cooked foods prepared in his own home—soft saffron rice with the dark grains picked out, served with many soups and sauces. Then he had the Buddha informed of the time, saying, ‘Sir, it’s time. The meal is ready.’
287. “Khi ấy, này Ānanda, đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, sau khi đã an trú tại Vegaḷiṅga tùy theo ý thích, khi thanh niên Jotipāla mới thọ cụ túc giới chưa được bao lâu, khoảng nửa tháng, ngài đã lên đường du hành đến Bārāṇasī. Tuần tự du hành, ngài đã đến Bārāṇasī. Này Ānanda, tại Bārāṇasī, đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã an trú ở Isipatana, tại Migadāya (Vườn Lộc Uyển). Này Ānanda, vua Kikī xứ Kāsī đã nghe tin: ‘Nghe nói đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã đến Bārāṇasī và đang an trú ở Isipatana, tại Migadāya.’ Khi ấy, này Ānanda, vua Kikī xứ Kāsī đã cho thắng những cỗ xe tốt đẹp, rồi lên một cỗ xe tốt đẹp, cùng với những cỗ xe tốt đẹp khác, với uy nghi vương giả vĩ đại, đã đi ra khỏi Bārāṇasī để đến yết kiến đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sau khi đi bằng xe đến hết đoạn đường có thể đi xe, nhà vua đã xuống xe và đi bộ đến nơi đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang ngự; sau khi đến, nhà vua đã đảnh lễ đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Này Ānanda, đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ vua Kikī xứ Kāsī đang ngồi một bên. Khi ấy, này Ānanda, vua Kikī xứ Kāsī, sau khi được đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng pháp thoại, đã bạch với đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rằng: ‘Bạch ngài, mong đức Thế Tôn cùng với Tăng đoàn các vị tỳ-khưu nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.’ Này Ānanda, đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nhận lời bằng cách im lặng. Khi ấy, này Ānanda, vua Kikī xứ Kāsī, biết được sự chấp thuận của đức Thế Tôn Kassapa, bậc Chánh Đẳng Giác, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đi nhiễu quanh theo hướng bên phải rồi ra về. Khi ấy, này Ānanda, vua Kikī xứ Kāsī, sau khi đêm ấy đã qua, đã cho chuẩn bị tại cung điện của mình các món ăn thượng vị, cả món cứng và món mềm, gồm gạo sālī trắng tinh, không có hạt đen, với nhiều món canh và nhiều món phụ, rồi cho người báo thời gian đến đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Bạch ngài, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’”
Atha kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kikissa kāsirañño nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘adhivāsetu me, bhante, bhagavā bārāṇasiyaṁ vassāvāsaṁ; evarūpaṁ saṅghassa upaṭṭhānaṁ bhavissatī’ti.
‘Alaṁ, mahārāja. Adhivuttho me vassāvāso’ti.
Dutiyampi kho, ānanda … tatiyampi kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘adhivāsetu me, bhante, bhagavā bārāṇasiyaṁ vassāvāsaṁ; evarūpaṁ saṅghassa upaṭṭhānaṁ bhavissatī’ti.
‘Alaṁ, mahārāja. Adhivuttho me vassāvāso’ti.
Atha kho, ānanda, kikissa kāsirañño ‘na me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho adhivāseti bārāṇasiyaṁ vassāvāsan’ti ahudeva aññathattaṁ, ahu domanassaṁ. Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘atthi nu kho, bhante, añño koci mayā upaṭṭhākataro’ti?
Then Kassapa Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of King Kikī, where he sat down on the seat spread out together with the Saṅgha of mendicants. Then King Kikī served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods.
When the Buddha Kassapa had eaten and washed his hand and bowl, King Kikī took a low seat and sat to one side. There he said to the Buddha Kassapa, ‘Sir, would the Buddha please accept my invitation to reside in Varanasi for the rainy season? The Saṅgha will be looked after in the same style.’
‘Enough, Great King. I have already accepted an invitation for the rains residence.’
For a second time … and a third time King Kikī said to the Buddha Kassapa, ‘Sir, would the Buddha please accept my invitation to reside in Varanasi for the rainy season? The Saṅgha will be looked after in the same style.’
‘Enough, Great King. I have already accepted an invitation for the rains residence.’
Then King Kikī, thinking, ‘The Buddha does not accept my invitation to reside for the rains in Varanasi,’ became sad and upset. Then King Kikī said to the Buddha Kassapa, ‘Sir, do you have another supporter better than me?’
288. Này Ānanda, khi ấy, Thế Tôn Ca-diếp, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, đi đến nơi ở của vua xứ Kāsi tên là Kiki; sau khi đến, ngài cùng với chúng Tỳ-khưu Tăng, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Này Ānanda, khi ấy, vua Kiki xứ Kāsi đã tự tay dâng cúng chúng Tỳ-khưu Tăng với đức Phật là vị đứng đầu các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các vị hài lòng và nói đã đủ. Này Ānanda, khi ấy, vua Kiki xứ Kāsi, sau khi biết Thế Tôn Ca-diếp, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một chỗ ngồi thấp hơn, ngồi xuống một bên. Này Ānanda, sau khi ngồi xuống một bên, vua Kiki xứ Kāsi đã bạch với Thế Tôn Ca-diếp, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lời này: ‘Bạch ngài, xin Thế Tôn hãy chấp nhận an cư mùa mưa tại Bārāṇasī của con; sự cúng dường như thế này sẽ được dành cho chúng Tăng.’ ‘Thôi đi, đại vương. Ta đã chấp nhận an cư mùa mưa rồi.’ Này Ānanda, lần thứ hai... Này Ānanda, lần thứ ba, vua Kiki xứ Kāsi đã bạch với Thế Tôn Ca-diếp, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lời này: ‘Bạch ngài, xin Thế Tôn hãy chấp nhận an cư mùa mưa tại Bārāṇasī của con; sự cúng dường như thế này sẽ được dành cho chúng Tăng.’ ‘Thôi đi, đại vương. Ta đã chấp nhận an cư mùa mưa rồi.’ Này Ānanda, khi ấy, vua Kiki xứ Kāsi nghĩ rằng: ‘Thế Tôn Ca-diếp, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, không chấp nhận an cư mùa mưa của ta tại Bārāṇasī,’ do đó, sự thất vọng đã khởi lên, ưu phiền đã khởi lên. Này Ānanda, khi ấy, vua Kiki xứ Kāsi đã bạch với Thế Tôn Ca-diếp, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lời này: ‘Bạch ngài, có ai khác cúng dường chu đáo hơn con không?’
‘Atthi, mahārāja, vegaḷiṅgaṁ nāma gāmanigamo. Tattha ghaṭikāro nāma kumbhakāro; so me upaṭṭhāko aggupaṭṭhāko. Tuyhaṁ kho pana, mahārāja, na me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho adhivāseti bārāṇasiyaṁ vassāvāsanti attheva aññathattaṁ, atthi domanassaṁ. Tayidaṁ ghaṭikārassa kumbhakārassa natthi ca na ca bhavissati.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro buddhaṁ saraṇaṁ gato, dhammaṁ saraṇaṁ gato, saṅghaṁ saraṇaṁ gato. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro buddhe aveccappasādena samannāgato, dhamme aveccappasādena samannāgato, saṅghe aveccappasādena samannāgato, ariyakantehi sīlehi samannāgato. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro dukkhe nikkaṅkho, dukkhasamudaye nikkaṅkho, dukkhanirodhe nikkaṅkho, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkho. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro ekabhattiko brahmacārī sīlavā kalyāṇadhammo. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro nikkhittamaṇisuvaṇṇo apetajātarūparajato. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pannamusalo na sahatthā pathaviṁ khaṇati. Yaṁ hoti kūlapaluggaṁ vā mūsikukkaro vā taṁ kājena āharitvā bhājanaṁ karitvā evamāha: “ettha yo icchati taṇḍulapaṭibhastāni vā muggapaṭibhastāni vā kaḷāyapaṭibhastāni vā nikkhipitvā yaṁ icchati taṁ haratū”ti. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro andhe jiṇṇe mātāpitaro poseti. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
‘Great king, there is a market town named Vebhaliṅga, where there is a potter named Ghaṭīkāra. He is my chief supporter. Now, Great King, when you thought, “The Buddha does not accept my invitation to reside for the rains in Varanasi,” you became sad and upset. But Ghaṭīkāra doesn’t get upset, nor will he.
Ghaṭīkāra has gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. He doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor. He has experiential confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and possesses the ethics loved by the noble ones. He is free of doubt regarding suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. He eats in one part of the day; he’s chaste, ethical, and of good character. He has set aside gems and gold, and quit using gold and currency. He has put down the shovel and doesn’t dig the earth with his own hands. He takes what has crumbled off by a riverbank or been dug up by mice, and brings it back in a carrier. When he has made a pot, he says, “Anyone may leave bagged sesame, mung beans, or chickpeas here and take what they wish.” He provided for his blind old parents. And since he has ended the five lower fetters, Ghaṭīkāra will be reborn spontaneously and will become extinguished there, not liable to return from that world.
‘Này đại vương, có một làng và thị trấn tên là Vegaḷiṅga. Ở đấy, có người thợ gốm tên là Ghaṭikāra; người ấy là thí chủ của ta, là thí chủ bậc nhất. Này đại vương, còn về phần ngài, vì nghĩ rằng: ‘Thế Tôn Ca-diếp, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, không chấp nhận an cư mùa mưa của ta tại Bārāṇasī,’ nên có sự thất vọng, có sự ưu phiền. Điều đó không có và sẽ không có đối với người thợ gốm Ghaṭikāra. Này đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng. Này đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ dùng các loại rượu men, rượu nấu là cơ sở của sự dễ duôi. Này đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra thành tựu niềm tin bất động vào đức Phật, thành tựu niềm tin bất động vào Chánh Pháp, thành tựu niềm tin bất động vào chúng Tăng, thành tựu các giới được các bậc Thánh yêu mến. Này đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra không còn hoài nghi về Khổ, không còn hoài nghi về Tập khởi của Khổ, không còn hoài nghi về sự Diệt tận của Khổ, không còn hoài nghi về Con Đường đưa đến sự Diệt tận của Khổ. Này đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra ăn một bữa, sống phạm hạnh, có giới đức, có thiện pháp. Này đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra đã từ bỏ ngọc và vàng, đã xa lìa vàng và bạc. Này đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra không tự tay đào đất. Đất nào bị sạt lở bờ sông hoặc do chuột, gà bới lên, người ấy dùng đòn gánh mang về làm đồ gốm rồi nói thế này: ‘Ở đây, ai muốn thì hãy để lại những túi gạo, túi đậu xanh, hoặc túi đậu đen rồi lấy đi những gì mình muốn.’ Này đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra nuôi dưỡng cha mẹ già, mù lòa. Này đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra, do đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, sẽ đạt Bát-niết-bàn tại cõi ấy, có pháp không trở lại từ cõi đời đó.’
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ vegaḷiṅge nāma gāmanigame viharāmi. Atha khvāhaṁ, mahārāja, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro etadavocaṁ: “handa ko nu kho ayaṁ bhaggavo gato”ti?
“Nikkhanto kho te, bhante, upaṭṭhāko antokumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjā”ti. Atha khvāhaṁ, mahārāja, kumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca: “ko kumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
“Kassapo, tāta, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho kumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi: “lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti. Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
This one time, Great King, I was staying near the market town of Vebhaliṅga. Then I robed up in the morning and, taking my bowl and robe, went to the home of Ghaṭīkāra’s parents, where I said to them, “Excuse me, where has Bhaggava gone?”
“Your supporter has gone out, sir. But take rice from the pot and sauce from the pan and eat.” So that’s what I did. And after eating I rose from my seat and left.
Then Ghaṭīkāra went up to his parents and said, “Who took rice from the pot and sauce from the pan, ate it, and left?”
“It was the Buddha Kassapa, my dear.”
Then Ghaṭīkāra thought, “I’m so fortunate, so very fortunate, in that the Buddha Kassapa trusts me so much!” Then joy and happiness did not leave him for a fortnight, or his parents for a week.
289. ‘Tâu Đại vương, một thời tôi trú tại một thị trấn tên là Vegaḷiṅga. Rồi, tâu Đại vương, vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang theo y bát, tôi đã đi đến chỗ cha mẹ của người thợ gốm Ghaṭikāra; sau khi đến, tôi đã nói lời này với cha mẹ của người thợ gốm Ghaṭikāra: ‘Này, người thuộc dòng họ Bhaggava này đã đi đâu?’ – ‘Thưa ngài, người thị giả của ngài đã đi ra ngoài. Xin ngài hãy lấy cơm từ trong nồi và lấy canh từ trong chảo rồi dùng.’ Rồi, tâu Đại vương, sau khi lấy cơm từ nồi, lấy canh từ chảo, dùng xong, tôi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi. Rồi, tâu Đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra đã đi đến chỗ cha mẹ; sau khi đến, đã nói lời này với cha mẹ: ‘Ai đã lấy cơm từ nồi, lấy canh từ chảo, dùng xong, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi?’ – ‘Này con, đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã lấy cơm từ nồi, lấy canh từ chảo, dùng xong, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.’ Rồi, tâu Đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật là lợi ích cho ta! Thật là khéo được cho ta! Khi mà đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lại thân thiết với ta đến như vậy.’ Rồi, tâu Đại vương, hỷ lạc đã không rời bỏ người thợ gốm Ghaṭikāra trong nửa tháng, và cha mẹ của ông trong bảy ngày.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ tattheva vegaḷiṅge nāma gāmanigame viharāmi. Atha khvāhaṁ, mahārāja, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro etadavocaṁ: “handa ko nu kho ayaṁ bhaggavo gato”ti?
“Nikkhanto kho te, bhante, upaṭṭhāko anto kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjā”ti. Atha khvāhaṁ, mahārāja, kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca: “ko kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
“Kassapo, tāta, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi: “lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti. Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
Another time, Great King, I was staying near that same market town of Vebhaliṅga. Then I robed up in the morning and, taking my bowl and robe, went to the home of Ghaṭīkāra’s parents, where I said to them, “Excuse me, where has Bhaggava gone?”
“Your supporter has gone out, sir. But take porridge from the pot and sauce from the pan and eat.” So that’s what I did. And after eating I rose from my seat and left.
Then Ghaṭīkāra went up to his parents and said, “Who took porridge from the pot and sauce from the pan, ate it, and left?”
“It was the Buddha Kassapa, my dear.”
Then Ghaṭīkāra thought, “I’m so fortunate, so very fortunate, to be trusted so much by the Buddha Kassapa!” Then joy and happiness did not leave him for a fortnight, or his parents for a week.
290. ‘Tâu Đại vương, một thời tôi trú tại chính thị trấn tên là Vegaḷiṅga ấy. Rồi, tâu Đại vương, vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang theo y bát, tôi đã đi đến chỗ cha mẹ của người thợ gốm Ghaṭikāra; sau khi đến, tôi đã nói lời này với cha mẹ của người thợ gốm Ghaṭikāra: ‘Này, người thuộc dòng họ Bhaggava này đã đi đâu?’ – ‘Thưa ngài, người thị giả của ngài đã đi ra ngoài. Xin ngài hãy lấy bánh bột lúa mạch từ trong giỏ và lấy canh từ trong chảo rồi dùng.’ Rồi, tâu Đại vương, sau khi lấy bánh bột lúa mạch từ giỏ, lấy canh từ chảo, dùng xong, tôi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi. Rồi, tâu Đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra đã đi đến chỗ cha mẹ; sau khi đến, đã nói lời này với cha mẹ: ‘Ai đã lấy bánh bột lúa mạch từ giỏ, lấy canh từ chảo, dùng xong, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi?’ – ‘Này con, đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã lấy bánh bột lúa mạch từ giỏ, lấy canh từ chảo, dùng xong, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.’ Rồi, tâu Đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật là lợi ích cho ta! Thật là khéo được cho ta! Khi mà đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lại thân thiết với ta đến như vậy.’ Rồi, tâu Đại vương, hỷ lạc đã không rời bỏ người thợ gốm Ghaṭikāra trong nửa tháng, và cha mẹ của ông trong bảy ngày.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ tattheva vegaḷiṅge nāma gāmanigame viharāmi. Tena kho pana samayena kuṭi ovassati. Atha khvāhaṁ, mahārāja, bhikkhū āmantesiṁ:
“gacchatha, bhikkhave, ghaṭikārassa kumbhakārassa nivesane tiṇaṁ jānāthā”ti.
Evaṁ vutte, mahārāja, te bhikkhū maṁ etadavocuṁ: “natthi kho, bhante, ghaṭikārassa kumbhakārassa nivesane tiṇaṁ, atthi ca khvāssa āvesane tiṇacchadanan”ti.
“Gacchatha, bhikkhave, ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ uttiṇaṁ karothā”ti. Atha kho te, mahārāja, bhikkhū ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ uttiṇamakaṁsu.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro te bhikkhū etadavocuṁ: “ke āvesanaṁ uttiṇaṁ karontī”ti?
“Bhikkhū, bhagini, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa kuṭi ovassatī”ti.
“Haratha, bhante, haratha, bhadramukhā”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca: “ke āvesanaṁ uttiṇamakaṁsū”ti?
“Bhikkhū, tāta, kassapassa kira bhagavato arahato sammāsambuddhassa kuṭi ovassatī”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi: “lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti. Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
Atha kho, mahārāja, āvesanaṁ sabbantaṁ temāsaṁ ākāsacchadanaṁ aṭṭhāsi, na devotivassi. Evarūpo ca, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro’ti.
‘Lābhā, bhante, ghaṭikārassa kumbhakārassa, suladdhā, bhante, ghaṭikārassa kumbhakārassa yassa bhagavā evaṁ abhivissattho’ti.
Another time, Great King, I was staying near that same market town of Vebhaliṅga. Now at that time my hut leaked. So I addressed the mendicants,
“Mendicants, go to Ghaṭīkāra’s home and find some grass.”
When I said this, those mendicants said to me, “Sir, there’s no grass there, but his workshop has a grass roof.”
“Then go to the workshop and strip the grass.” So that’s what they did.
Then Ghaṭīkāra’s parents said to those mendicants, “Who’s stripping the grass from the workshop?”
“It’s the mendicants, sister. The Buddha’s hut is leaking.”
“Take it, sirs! Take it, dearest ones!”
Then Ghaṭīkāra went up to his parents and said, “Who stripped the grass from the workshop?”
“It was the mendicants, dear. It seems the Buddha’s hut is leaking.”
Then Ghaṭīkāra thought, “I’m so fortunate, so very fortunate, to be trusted so much by the Buddha Kassapa!” Then joy and happiness did not leave him for a fortnight, or his parents for a week.
Then the workshop remained with the atmosphere for a roof for the whole three months, but the heavens did not rain on it. And that, Great King, is what Ghaṭīkāra the potter is like.’
‘Ghaṭīkāra the potter is fortunate, very fortunate, to be so trusted by the Buddha Kassapa.’
291. ‘Tâu Đại vương, một thời tôi trú tại chính thị trấn tên là Vegaḷiṅga ấy. Và vào lúc bấy giờ, am thất bị dột. Rồi, tâu Đại vương, tôi đã gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, hãy đi và tìm xem có cỏ tranh ở nhà của người thợ gốm Ghaṭikāra không.’ Khi được nói vậy, tâu Đại vương, các Tỳ khưu ấy đã thưa với tôi lời này: ‘Thưa ngài, không có cỏ tranh ở nhà của người thợ gốm Ghaṭikāra, nhưng có mái lợp bằng cỏ tranh ở xưởng làm việc của ông ấy.’ – ‘Này các Tỳ khưu, hãy đi và dỡ mái cỏ tranh ở xưởng làm việc của người thợ gốm Ghaṭikāra.’ Rồi, tâu Đại vương, các Tỳ khưu ấy đã dỡ mái cỏ tranh ở xưởng làm việc của người thợ gốm Ghaṭikāra. Rồi, tâu Đại vương, cha mẹ của người thợ gốm Ghaṭikāra đã nói lời này với các Tỳ khưu ấy: ‘Ai đang dỡ mái cỏ tranh của xưởng làm việc?’ – ‘Này chị, là các vị Tỳ khưu. Am thất của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bị dột.’ – ‘Xin hãy mang đi, thưa các ngài. Xin hãy mang đi, hỡi những người có khuôn mặt hiền thiện.’ Rồi, tâu Đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra đã đi đến chỗ cha mẹ; sau khi đến, đã nói lời này với cha mẹ: ‘Ai đã dỡ mái cỏ tranh của xưởng làm việc?’ – ‘Này con, là các vị Tỳ khưu. Nghe nói am thất của đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bị dột.’ Rồi, tâu Đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật là lợi ích cho ta! Thật là khéo được cho ta! Khi mà đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lại thân thiết với ta đến như vậy.’ Rồi, tâu Đại vương, hỷ lạc đã không rời bỏ người thợ gốm Ghaṭikāra trong nửa tháng, và cha mẹ của ông trong bảy ngày. Rồi, tâu Đại vương, toàn bộ xưởng làm việc ấy đã đứng vững với bầu trời làm mái che suốt ba tháng, trời đã không mưa vào đó. Tâu Đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra là người như vậy đó.’ – ‘Thưa ngài, thật là lợi ích cho người thợ gốm Ghaṭikāra! Thưa ngài, thật là khéo được cho người thợ gốm Ghaṭikāra, khi mà đức Thế Tôn lại thân thiết với ông ấy đến như vậy!’
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā ghaṭikārassa kumbhakārassa pañcamattāni taṇḍulavāhasatāni pāhesi paṇḍupuṭakassa sālino tadupiyañca sūpeyyaṁ. Atha kho te, ānanda, rājapurisā ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ upasaṅkamitvā etadavocuṁ: ‘imāni kho, bhante, pañcamattāni taṇḍulavāhasatāni kikinā kāsirājena pahitāni paṇḍupuṭakassa sālino tadupiyañca sūpeyyaṁ. Tāni, bhante, paṭiggaṇhathā’ti.
‘Rājā kho bahukicco bahukaraṇīyo. Alaṁ me. Raññova hotū’ti.
Siyā kho pana te, ānanda, evamassa: ‘añño nūna tena samayena jotipālo māṇavo ahosī’ti. Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Ahaṁ tena samayena jotipālo māṇavo ahosin”ti.
Then King Kikī sent around five hundred loads of rice, soft saffron rice, and suitable sauce to Ghaṭīkāra. Then one of the king’s men approached Ghaṭīkāra and said, ‘Sir, these five hundred loads of rice, soft saffron rice, and suitable sauce have been sent to you by King Kikī of Kāsi. Please accept them.’
‘The king has many duties, and much to do. I have enough. Let this be for the king himself.’
Ānanda, you might think: ‘Surely the student Jotipāla must have been someone else at that time?’ But you should not see it like this. I myself was the student Jotipāla at that time.”
292. Này Ānanda, khi ấy, vua Kiki xứ Kāsi đã gửi cho người thợ gốm Ghaṭikāra năm trăm xe gạo sālī loại paṇḍupuṭaka và các món ăn kèm thích hợp. Này Ānanda, khi ấy, các người của vua đến gặp người thợ gốm Ghaṭikāra và nói điều này: ‘Thưa ngài, vua Kiki xứ Kāsi đã gửi năm trăm xe gạo sālī loại paṇḍupuṭaka này và các món ăn kèm thích hợp. Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lấy.’ – ‘Nhà vua có nhiều công việc, nhiều phận sự. Thôi đủ rồi cho tôi! Cứ để cho nhà vua dùng vậy.’ Này Ānanda, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Chắc hẳn vào thời ấy, thanh niên Jotipāla là một người khác.’ Này Ānanda, không nên thấy như vậy. Vào thời ấy, chính Ta là thanh niên Jotipāla.
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói lời này. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Ghaṭikārasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Ghaṭikāra, thứ nhất, đã kết thúc.