- Majjhima Nikāya 80
Vekhanasasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Vekhanasasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tịnh xá ông Anathapinka (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Rồi du sĩ Vekhanassa đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên. Ðứng một bên, du sĩ Vekhanassa thốt lên lời cảm hứng sau đây trước mặt Thế Tôn
SC 3—Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng.
SC 4—Nhưng này Kaccāna, sao Ông lại nói như sau: “Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng”?
SC 5—Tôn giả Gotama, sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn, hay thù thắng hơn, sắc này là tối thượng.
SC 6—Nhưng này Kaccāna, sắc ấy là sắc gì mà không có sắc khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn?
SC 7—Tôn giả Gotama, sắc nào không có sắc khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn, sắc ấy là tối thượng.
SC 8—Này Kaccāna, lời giải thích của Ông chỉ dài như vậy, Ông phải giải thích rộng rãi thêm. Nếu Ông nói: “Tôn giả Gotama, sắc nào không có sắc khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn, sắc ấy là tối thượng”, thời Ông không chỉ rõ sắc ấy. Này Kaccāna, ví như có người nói: “Tôi yêu và luyến ái một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp mà bạn yêu và luyến ái ấy, Bạn có biết là người giai cấp nào; là Sát-đế-lị, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp bạn yêu và luyến ái ấy, bạn có biết tên gì, họ gì, lớn người, thấp người hay bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, thị trấn nào hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải bạn yêu và luyến ái một người bạn không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Kaccāna, Ông nghĩ thế nào? Sự tình là như vậy, thời lời nói của người có phải là không có hiệu năng không?
SC 9—Bạch Tôn giả Gotama, sự tình là như vậy, thời lời nói của người ấy thật sự là không có hiệu năng.
SC 10—Cũng vậy, này Kaccāna, khi Ông nói: “Tôn giả Gotama, khi sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn, hay thù thắng hơn, sắc ấy là tối thượng”, thời Ông không chỉ rõ sắc ấy.
SC 11—Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài được đặt trên một tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên, chói lên, bừng sáng lên. Với sắc như vây, tự ngã là không có bệnh, sau khi chết.
SC 12—Này Kaccāna, Ông nghĩ thế nào? Một hòn lưu ly bảo châu đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên, chói lên, bừng sáng lên, hay con sâu đom đóm trong đêm tối mịt mù, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 13—Thưa Tôn giả Gotama, con sâu đom đóm trong đêm đen tối mịt mù này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 14—Này Kaccāna, Ông nghĩ thế nào? Con sâu đom đóm trong đêm đen tối mù hay ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 15—Thưa Tôn giả Gotama, ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, quang sắc ngọn đèn dầu này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 16—Này Kaccāna, Ông nghĩ thế nào? Ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, hay là một đống lửa lớn trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 17—Thưa Tôn giả Gotama, đống lửa lớn trong đêm đen tối mù, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 18—Này Kaccāna, Ông nghĩ thế nào? Ðống lửa lớn trong đêm đen tối mù hay ngôi sao mai trong sáng không mây vào lúc bình minh, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 19—Thưa Tôn giả Gotama, ngôi sao trong sáng không mây vào lúc bình minh, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 20—Này Kaccāna, Ông nghĩ thế nào? Ngôi (sao Thái Bạch) sao mai trong bầu trời trong sáng, không mây, trong lúc bình minh hay là mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời trong sáng, không mây vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố-tát) vào ngày Rằm. Giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 21—Thưa Tôn giả Gotama, mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng, không mây, vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố-tát) vào ngày Rằm, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 22—Này Kaccāna, Ông nghĩ thế nào? Mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng không mây, vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố-tát) vào ngày Rằm, hay là mặt trời trong lúc đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng không mây, vào lúc giữa trưa, trong tháng cuối mùa mưa về mùa thu, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 23—Thưa Tôn giả Gotama, mặt trời trong lúc đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng không mây, vào lúc giữa trưa, trong tháng cuối mùa mưa về mùa thu, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 24—Này Kaccāna, hơn tất cả quang sắc ấy có rất nhiều, rất nhiều chư Thiên, mà ánh sáng của những mặt trăng, mặt trời này không thể chiếu sáng. Ta biết những chư Thiên ấy và Ta không nói: “Không có một quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn quang sắc ấy”. Còn Ông, này Kaccāna, Ông lại nói: “Quang sắc này thấp kém hơn, yếu đuối hơn quang sắc con sâu đom đóm, quang sắc ấy là tối thắng”, và Ông không chỉ rõ quang sắc ấy.
SC 25Này Kaccāna, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc có mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức … các hương do mũi nhận thức … các vị do lưỡi nhận thức … các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Kaccāna, những pháp này là năm dục trưởng dưỡng. Này Kaccāna, lạc và hỷ nào khởi lên, duyên với năm dục trưởng dưỡng này, được gọi là dục lạc. Như vậy, bởi vì có dục, nên có dục lạc; từ nơi dục lạc, dục tối thượng lạc được gọi ở đây là tối thượng.
SC 26Ðược nghe nói vậy, du sĩ Vekhanassa bạch Thế Tôn
SC 27—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Tôn giả Gotama đã khéo nói như sau: “Bởi vì có dục, nên có dục lạc; từ nơi dục lạc, dục tối thượng lạc được gọi ở đây là tối thượng”.
SC 28—Cái này thật khó cho Ông có thể hiểu được, này Kaccāna, về dục, hay dục lạc, hay dục tối thượng lạc. Ông là người thuộc chấp kiến khác, thuộc kham nhẫn khác, thuộc mục đích khác, thuộc tu tập khác, thuộc Ðạo sư khác. Này Kaccāna, nhưng đối với Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, những vị ấy biết: “Dục, dục lạc, hay dục tối thượng lạc”.
SC 29Khi được nghe nói vậy, du sĩ Vekhanassa, phẫn nộ và bất mãn, mắng nhiếc cả Thế Tôn, miệt thị cả Thế Tôn và nói
SC 30—Sa-môn Gotama sẽ bị đọa lạc.
SC 31Và du sĩ Vekhanassa thưa Thế Tôn
SC 32—Nhưng như vậy, ở đây, có một số Sa-môn, Bà-la-môn không biết về quá khứ, không thấy về tương lai, nhưng các vị ấy tự cho: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, từ nay không trở lại đời sống này nữa”. Lời nói như vậy của họ tự chứng tỏ là đáng cười, tự chứng tỏ là nói suông, tự chứng tỏ là trống không, tự chứng tỏ là hư vọng.
SC 33—Này Kaccāna, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không biết về quá khứ, không thấy được tương lai, nhưng tự cho là ta biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui đời này nữa”, lời phủ nhận chỉ trích như vậy về họ là hợp pháp. Nhưng này Kaccāna, hãy bỏ qua quá khứ, hãy bỏ qua tương lai. Hãy đến, người có trí không gian trá, không xảo quyệt, chơn trực và nói như sau: “Ta giảng dạy, ta thuyết pháp”. Nếu thực hành theo điều đã dạy, thời không bao lâu người ấy tự biết mình, tự thấy mình: “Như vậy thật sự là đã giải thoát khỏi sự ràng buộc chánh, tức là sự ràng buộc của vô minh”. Ví như, này Kaccāna, một đứa trẻ, bé nhỏ, yếu ớt, nằm ngửa, bị trói buộc nơi cổ với năm trói buộc, rất có thể làm bằng dây. Sau khi nó lớn lên, sau khi các căn nó thuần thục, nó được giải thoát khỏi các trói buộc ấy, khi không còn trói buộc nữa, nó biết: “Ta được giải thoát”. Cũng vậy, này Kaccāna, hãy đến người có trí không gian trá, không xảo quyệt, chơn trực và nói như sau: “Ta giảng dạy, ta thuyết pháp”. Nếu thực hành theo điều đã dạy, thời không bao lâu người ấy tự biết mình, tự thấy mình: “Như vậy thật sự là đã giải thoát khỏi sự ràng buộc chánh, tức là sự ràng buộc của vô minh”.
SC 34Khi được nghe nói vậy, du sĩ Vekhanassa bạch Thế Tôn
SC 35—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Xin Thế Tôn nhận con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Vekhanasa
Atha kho vekhanaso paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho vekhanaso paribbājako bhagavato santike udānaṁ udānesi: “ayaṁ paramo vaṇṇo, ayaṁ paramo vaṇṇo”ti.
Then the wanderer Vekhanasa went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he stood to one side, and expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence: “This is the ultimate splendor, this is the ultimate splendor.”
278. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Lúc bấy giờ, du sĩ Vekhanasa đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, ông đã cùng Đức Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, ông đứng sang một bên. Đứng một bên, du sĩ Vekhanasa thốt lên lời cảm hứng trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn: ‘Đây là sắc tướng tối thượng, đây là sắc tướng tối thượng!’
“Kiṁ pana tvaṁ, kaccāna, evaṁ vadesi: ‘ayaṁ paramo vaṇṇo, ayaṁ paramo vaṇṇo’ti? Katamo, kaccāna, so paramo vaṇṇo”ti?
“But Kaccāna, why do you say: ‘This is the ultimate splendor, this is the ultimate splendor.’ What is that ultimate splendor?”
‘Này Kaccāna, tại sao ông lại nói: ‘Đây là sắc tướng tối thượng, đây là sắc tướng tối thượng’? Này Kaccāna, sắc tướng tối thượng đó là gì?’
“Yasmā, bho gotama, vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthi so paramo vaṇṇo”ti.
“Worthy Gotama, the ultimate splendor is the splendor compared to which no other splendor is finer.”
‘Thưa Tôn giả Gotama, sắc tướng mà không có sắc tướng nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn, đó là sắc tướng tối thượng.’
“Katamo pana so, kaccāna, vaṇṇo yasmā vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthī”ti?
“But what is that ultimate splendor compared to which no other splendor is finer?”
‘Vậy, này Kaccāna, sắc tướng mà không có sắc tướng nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn, đó là gì?’
“Yasmā, bho gotama, vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthi so paramo vaṇṇo”ti.
“Worthy Gotama, the ultimate splendor is the splendor compared to which no other splendor is finer.”
‘Thưa Tôn giả Gotama, sắc tướng mà không có sắc tướng nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn, đó là sắc tướng tối thượng.’
“Dīghāpi kho te esā, kaccāna, phareyya: ‘yasmā, bho gotama, vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthi so paramo vaṇṇo’ti vadesi, tañca vaṇṇaṁ na paññapesi.
Seyyathāpi, kaccāna, puriso evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ yā imasmiṁ janapade janapadakalyāṇī, taṁ icchāmi taṁ kāmemī’ti.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ—khattiyī vā brāhmaṇī vā vessī vā suddī vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ evaṁnāmā evaṅgottāti vāti …pe… dīghā vā rassā vā majjhimā vā kāḷī vā sāmā vā maṅguracchavī vāti … amukasmiṁ gāme vā nigame vā nagare vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, taṁ tvaṁ icchasi kāmesī’ti?
Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
“Kaccāna, you could draw this out for a long time. You say, ‘The ultimate splendor is the splendor compared to which no other splendor is finer.’ But you don’t describe that splendor.
Suppose a man was to say, ‘Whoever the finest lady in the land is, it is her that I want, her I desire!’
They’d say to him, ‘My man, that finest lady in the land who you desire—do you know whether she’s an aristocrat, a brahmin, a peasant, or a menial?’
Asked this, he’d say, ‘No.’
They’d say to him, ‘My friend, that finest lady in the land who you desire—do you know her name or clan? Whether she’s tall or short or medium? Whether her skin is black, brown, or dingy? Whether she comes from such-and-such village, town, or city?’
Asked this, he’d say, ‘No.’
They’d say to him, ‘My man, do you desire someone who you’ve never even known or seen?’
Asked this, he’d say, ‘Yes.’
‘Này Kaccāna, lời nói này của ông thật dài dòng. Ông nói: ‘Thưa Tôn giả Gotama, sắc tướng mà không có sắc tướng nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn, đó là sắc tướng tối thượng,’ nhưng ông lại không chỉ rõ được sắc tướng đó. Này Kaccāna, ví như có người đàn ông nói rằng: ‘Tôi mong muốn, tôi yêu mến người phụ nữ đẹp nhất xứ này.’ Người ta có thể hỏi anh ta: ‘Này anh bạn, người phụ nữ đẹp nhất xứ mà anh mong muốn, yêu mến đó, anh có biết cô ấy thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá hay Thủ-đà-la không?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Không.’ Người ta có thể hỏi anh ta: ‘Này anh bạn, người phụ nữ đẹp nhất xứ mà anh mong muốn, yêu mến đó, anh có biết cô ấy tên gì, dòng họ gì... cao, thấp hay trung bình... da đen, da vàng hay da ngăm... ở làng nào, thị trấn nào hay thành phố nào không?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Không.’ Người ta có thể hỏi anh ta: ‘Này anh bạn, người mà anh không biết, không thấy, anh lại mong muốn, yêu mến sao?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Vâng.’
Taṁ kiṁ maññasi, kaccāna, nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bho gotama, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho tvaṁ, kaccāna, ‘yasmā, bho gotama, vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthi so paramo vaṇṇo’ti vadesi; tañca vaṇṇaṁ na paññapesī”ti.
“Seyyathāpi, bho gotama, maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato paṇḍukambale nikkhitto bhāsate ca tapate ca virocati ca, evaṁ vaṇṇo attā hoti arogo paraṁ maraṇā”ti.
What do you think, Kaccāna? This being so, doesn’t that man’s statement turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, worthy Gotama.”
“In the same way, you say, ‘The ultimate splendor is the splendor compared to which no other splendor is finer.’ But you don’t describe that splendor.”
“Worthy Gotama, suppose there was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked. When placed on a cream rug it would shine and glow and radiate. Such is the splendor of the self that is healthy after death.”
“Này Kaccāna, ông nghĩ thế nào về điều này? Phải chăng khi sự việc là như vậy, lời nói của người đàn ông ấy trở thành lời nói vô căn cứ?” “Thưa Tôn giả Gotama, chắc chắn rồi, khi sự việc là như vậy, lời nói của người đàn ông ấy trở thành lời nói vô căn cứ.” “Này Kaccāna, cũng giống như vậy, ông nói: ‘Thưa Tôn giả Gotama, vì không có sắc tướng nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn sắc tướng ấy, nên đó là sắc tướng tối thượng’, nhưng ông lại không thể trình bày rõ về sắc tướng ấy.” “Thưa Tôn giả Gotama, ví như một viên ngọc lưu ly đẹp, thuần chủng, tám cạnh, được chế tác khéo léo, đặt trên tấm thảm len màu vàng nhạt, nó chiếu sáng, rực rỡ, và chói lọi. Tự ngã có sắc tướng như vậy, sau khi chết, nó không bệnh tật.”
“Taṁ kiṁ maññasi, kaccāna, yo vā maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato paṇḍukambale nikkhitto bhāsate ca tapate ca virocati ca, yo vā rattandhakāratimisāya kimi khajjopanako imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bho gotama, rattandhakāratimisāya kimi khajjopanako, ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“What do you think, Kaccāna? Which of these two has a finer splendor: such a beryl gem, or a firefly in the dark of night?”
“A firefly in the dark of night.”
279. “Này Kaccāna, ông nghĩ thế nào về điều này? Giữa một bên là viên ngọc lưu ly đẹp, thuần chủng, tám cạnh, được chế tác khéo léo, đặt trên tấm thảm len màu vàng nhạt, nó chiếu sáng, rực rỡ, và chói lọi, và một bên là con đom đóm trong đêm tối mịt mù, trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào đẹp hơn và thù thắng hơn?” “Thưa Tôn giả Gotama, con đom đóm trong đêm tối mịt mù, sắc tướng này trong hai sắc tướng là đẹp hơn và thù thắng hơn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, kaccāna, yo vā rattandhakāratimisāya kimi khajjopanako, yo vā rattandhakāratimisāya telappadīpo, imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bho gotama, rattandhakāratimisāya telappadīpo, ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“What do you think, Kaccāna? Which of these two has a finer splendor: a firefly in the dark of night, or an oil lamp in the dark of night?”
“An oil lamp in the dark of night.”
“Này Kaccāna, ông nghĩ thế nào về điều này? Giữa một bên là con đom đóm trong đêm tối mịt mù, và một bên là ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mù, trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào đẹp hơn và thù thắng hơn?” “Thưa Tôn giả Gotama, ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mù, sắc tướng này trong hai sắc tướng là đẹp hơn và thù thắng hơn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, kaccāna, yo vā rattandhakāratimisāya telappadīpo, yo vā rattandhakāratimisāya mahāaggikkhandho, imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bho gotama, rattandhakāratimisāya mahāaggikkhandho, ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“What do you think, Kaccāna? Which of these two has a finer splendor: an oil lamp in the dark of night, or a great mass of fire in the dark of night?”
“A great mass of fire in the dark of night.”
“Này Kaccāna, ông nghĩ thế nào về điều này? Giữa một bên là ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mù, và một bên là đống lửa lớn trong đêm tối mịt mù, trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào đẹp hơn và thù thắng hơn?” “Thưa Tôn giả Gotama, đống lửa lớn trong đêm tối mịt mù, sắc tướng này trong hai sắc tướng là đẹp hơn và thù thắng hơn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, kaccāna, yo vā rattandhakāratimisāya mahāaggikkhandho, yā vā rattiyā paccūsasamayaṁ viddhe vigatavalāhake deve osadhitārakā, imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bho gotama, rattiyā paccūsasamayaṁ viddhe vigatavalāhake deve osadhitārakā, ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, kaccāna, yā vā rattiyā paccūsasamayaṁ viddhe vigatavalāhake deve osadhitārakā, yo vā tadahuposathe pannarase viddhe vigatavalāhake deve abhido aḍḍharattasamayaṁ cando, imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bho gotama, tadahuposathe pannarase viddhe vigatavalāhake deve abhido aḍḍharattasamayaṁ cando, ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, kaccāna, yo vā tadahuposathe pannarase viddhe vigatavalāhake deve abhido aḍḍharattasamayaṁ cando, yo vā vassānaṁ pacchime māse saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve abhido majjhanhikasamayaṁ sūriyo, imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bho gotama, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve abhido majjhanhikasamayaṁ sūriyo—ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“Ato kho te, kaccāna, bahū hi bahutarā devā ye imesaṁ candimasūriyānaṁ ābhā nānubhonti, tyāhaṁ pajānāmi. Atha ca panāhaṁ na vadāmi: ‘yasmā vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro ca paṇītataro ca natthī’ti. Atha ca pana tvaṁ, kaccāna, ‘yvāyaṁ vaṇṇo kiminā khajjopanakena nihīnataro ca patikiṭṭhataro ca so paramo vaṇṇo’ti vadesi; tañca vaṇṇaṁ na paññapesi.
“What do you think, Kaccāna? Which of these two has a finer splendor: a great mass of fire in the dark of night, or the morning star in the clear and cloudless heavens at the crack of dawn?”
“The morning star in the clear and cloudless heavens at the crack of dawn.”
“What do you think, Kaccāna? Which of these two has a finer splendor: the morning star in the clear and cloudless heavens at the crack of dawn, or the full moon at midnight in the clear and cloudless heavens on the fifteenth day sabbath?”
“The full moon at midnight in the clear and cloudless heavens on the fifteenth day sabbath.”
“What do you think, Kaccāna? Which of these two has a finer splendor: the full moon at midnight in the clear and cloudless heavens on the fifteenth day sabbath, or the sun at midday in the clear and cloudless heavens in the last month of the rainy season, in autumn?”
“The sun at midday in the clear and cloudless heavens in the last month of the rainy season, in autumn.”
“Beyond this, Kaccāna, I know very many gods on whom the luminosity of the sun and moon makes no impression. Nevertheless, I do not say: ‘The splendor compared to which no other splendor is finer.’ But of the splendor inferior to a firefly you say, ‘This is the ultimate splendor.’ And you don’t describe that splendor.
“Này Kaccāna, ông nghĩ thế nào về điều này? Giữa một bên là đống lửa lớn trong đêm tối mịt mù, và một bên là sao mai trên bầu trời trong sáng, không mây, vào lúc rạng đông, trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào đẹp hơn và thù thắng hơn?” “Thưa Tôn giả Gotama, sao mai trên bầu trời trong sáng, không mây, vào lúc rạng đông, sắc tướng này trong hai sắc tướng là đẹp hơn và thù thắng hơn.” “Này Kaccāna, ông nghĩ thế nào về điều này? Giữa một bên là sao mai trên bầu trời trong sáng, không mây, vào lúc rạng đông, và một bên là mặt trăng vào lúc nửa đêm, không bị che khuất, trên bầu trời trong sáng, không mây, vào ngày trai giới rằm, trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào đẹp hơn và thù thắng hơn?” “Thưa Tôn giả Gotama, mặt trăng vào lúc nửa đêm, không bị che khuất, trên bầu trời trong sáng, không mây, vào ngày trai giới rằm, sắc tướng này trong hai sắc tướng là đẹp hơn và thù thắng hơn.” “Này Kaccāna, ông nghĩ thế nào về điều này? Giữa một bên là mặt trăng vào lúc nửa đêm, không bị che khuất, trên bầu trời trong sáng, không mây, vào ngày trai giới rằm, và một bên là mặt trời vào lúc giữa trưa, không bị che khuất, trên bầu trời trong sáng, không mây, vào mùa thu, tháng cuối của mùa mưa, trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào đẹp hơn và thù thắng hơn?” “Thưa Tôn giả Gotama, mặt trời vào lúc giữa trưa, không bị che khuất, trên bầu trời trong sáng, không mây, vào mùa thu, tháng cuối của mùa mưa – sắc tướng này trong hai sắc tướng là đẹp hơn và thù thắng hơn.” “Này Kaccāna, có rất nhiều, rất nhiều chư thiên không hưởng ánh sáng của mặt trăng và mặt trời này, Ta biết họ. Tuy nhiên, Ta không nói rằng: ‘Không có sắc tướng nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn sắc tướng ấy’. Thế nhưng, này Kaccāna, ông lại nói rằng sắc tướng thấp kém hơn và thua sút hơn cả con đom đóm lại là sắc tướng tối thượng; và ông không thể trình bày rõ về sắc tướng ấy.”
Pañca kho ime, kaccāna, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, kaccāna, pañca kāmaguṇā.
Yaṁ kho, kaccāna, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ. Iti kāmehi kāmasukhaṁ, kāmasukhā kāmaggasukhaṁ tattha aggamakkhāyatī”ti.
Kaccāna, there are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation.
The pleasure and happiness that arises from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure. ‘From the senses comes sensual pleasure. Beyond sensual pleasure is the pleasure that surmounts the sensual, which is said to be the best of these.’”
280. “Này Kaccāna, có năm dục trưởng dưỡng này. Năm là những gì? Các sắc được nhận biết bởi mắt, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, có hình tướng đáng mến, liên hệ đến dục, đáng tham đắm; các tiếng được nhận biết bởi tai...; các mùi được nhận biết bởi mũi...; các vị được nhận biết bởi lưỡi...; các vật xúc chạm được nhận biết bởi thân, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, có hình tướng đáng mến, liên hệ đến dục, đáng tham đắm – này Kaccāna, đây là năm dục trưởng dưỡng. Này Kaccāna, lạc và hỷ nào sanh khởi do duyên năm dục trưởng dưỡng này, đây được gọi là dục lạc. Như vậy, từ các dục có dục lạc; vượt trên dục lạc có dục lạc tối thượng, và đó được gọi là tối thượng.”
Evaṁ vutte, vekhanaso paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yāva subhāsitañcidaṁ bhotā gotamena: ‘kāmehi kāmasukhaṁ, kāmasukhā kāmaggasukhaṁ tattha aggamakkhāyatī’ti. ‘Kāmehi, bho gotama, kāmasukhaṁ, kāmasukhā kāmaggasukhaṁ, tattha aggamakkhāyatī’”ti
“dujjānaṁ kho etaṁ, kaccāna, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrayogena aññatrācariyakena—kāmā vā kāmasukhaṁ vā kāmaggasukhaṁ vā. Ye kho te, kaccāna, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā te kho etaṁ jāneyyuṁ—kāmā vā kāmasukhaṁ vā kāmaggasukhaṁ vā”ti.
When he said this, Vekhanasa said to the Buddha, “It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing! How well said this was by the worthy Gotama! ‘From the senses comes sensual pleasure. Beyond sensual pleasure is the pleasure that surmounts the sensual, which is said to be the best of these.’ Worthy Gotama, from the senses comes sensual pleasure. Beyond sensual pleasure is the pleasure that surmounts the sensual, which is said to be the best of these.”
“Kaccāna, since you have a different view, creed, and belief, and another discipline and denomination, it’s hard for you to understand the senses, sensual pleasure, and the pleasure that surmounts the sensual. There are mendicants who are perfected, who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment. They can understand the senses, sensual pleasure, and the pleasure that surmounts the sensual.”
Khi được nói vậy, du sĩ Vekhanasa bạch với Thế Tôn rằng: “Thật hy hữu, thưa Tôn giả Gotama, thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Lời này đã được Tôn giả Gotama khéo nói thay: ‘Có dục lạc từ các dục, có lạc tối thượng của dục vượt trên dục lạc, và ở đó (lạc tối thượng) được gọi là cao tột.’ (Thưa Tôn giả Gotama, có dục lạc từ các dục, có lạc tối thượng của dục vượt trên dục lạc, và ở đó (lạc tối thượng) được gọi là cao tột.)” – “Này Kaccāna, thật khó cho ông, một người có quan điểm khác, có sự chấp nhận khác, có sở thích khác, có sự thực hành khác, có vị thầy khác, để biết được các dục, hay dục lạc, hay lạc tối thượng của dục. Này Kaccāna, những vị Tỳ-khưu nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, chính các vị ấy mới có thể biết được các dục, hay dục lạc, hay lạc tối thượng của dục.”
Evaṁ vutte, vekhanaso paribbājako kupito anattamano bhagavantaṁyeva khuṁsento bhagavantaṁyeva vambhento bhagavantaṁyeva vadamāno: “samaṇo gotamo pāpito bhavissatī”ti bhagavantaṁ etadavoca: “evameva panidhekacce samaṇabrāhmaṇā ajānantā pubbantaṁ, apassantā aparantaṁ atha ca pana ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti—pajānāmā’ti—paṭijānanti. Tesamidaṁ bhāsitaṁ hassakaṁyeva sampajjati, nāmakaṁyeva sampajjati, rittakaṁyeva sampajjati, tucchakaṁyeva sampajjatī”ti.
“Ye kho te, kaccāna, samaṇabrāhmaṇā ajānantā pubbantaṁ, apassantā aparantaṁ, ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti—pajānāmā’ti—paṭijānanti; tesaṁ soyeva sahadhammiko niggaho hoti. Api ca, kaccāna, tiṭṭhatu pubbanto, tiṭṭhatu aparanto. Etu viññū puriso asaṭho amāyāvī ujujātiko, ahamanusāsāmi ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno nacirasseva sāmaññeva ñassati sāmaṁ dakkhiti—evaṁ kira sammā bandhanā vippamokkho hoti, yadidaṁ avijjā bandhanā. Seyyathāpi, kaccāna, daharo kumāro mando uttānaseyyako kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddho assa suttabandhanehi; tassa vuddhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya tāni bandhanāni mucceyyuṁ; so mokkhomhīti kho jāneyya no ca bandhanaṁ.
Evameva kho, kaccāna, etu viññū puriso asaṭho amāyāvī ujujātiko, ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi; yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno nacirasseva sāmaññeva ñassati, sāmaṁ dakkhiti: ‘evaṁ kira sammā bandhanā vippamokkho hoti, yadidaṁ avijjā bandhanā’”ti.
When he said this, Vekhanasa became angry and upset. He even attacked and badmouthed the Buddha himself, saying, “The ascetic Gotama will be worsted!” He said to the Buddha, “This is exactly what happens with some ascetics and brahmins. Not knowing the first beginning or seeing the final end, they nevertheless claim: ‘We understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’ Their statement turns out to be a joke—mere words, vacuous and hollow.”
“Kaccāna, there are some ascetics and brahmins who, not knowing the first beginning or seeing the final end, nevertheless claim: ‘We understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’ There is a legitimate refutation of them. Nevertheless, Kaccāna, leave aside the first beginning and the final end. Let a sensible person come—neither devious nor deceitful, a person of integrity. I teach and instruct them. Practicing as instructed they will soon know and see for themselves, ‘So this is how to be rightly released from the bond, that is, the bond of ignorance.’ Suppose there was a little baby bound with swaddling up to the neck. As they grow up and their senses mature, they’re accordingly released from those bonds. They’d know ‘I’m released,’ and there would be no more bonds.
In the same way, let a sensible person come—neither devious nor deceitful, a person of integrity. I teach and instruct them. Practicing as instructed they will soon know and see for themselves, ‘So this is how to be rightly released from the bond, that is, the bond of ignorance.’”
281. Khi được nói vậy, du sĩ Vekhanasa tức giận, không hài lòng, muốn chỉ trích Thế Tôn, muốn phỉ báng Thế Tôn, muốn nói xấu Thế Tôn, nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama sẽ bị làm cho bối rối,” bèn bạch với Thế Tôn rằng: “Cũng vậy, ở đời này có một số Sa-môn, Bà-la-môn không biết quá khứ, không thấy tương lai, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, chúng tôi biết rõ như vậy.’ Lời nói này của họ chỉ là trò cười, chỉ là danh suông, chỉ là trống rỗng, chỉ là vô ích.” – “Này Kaccāna, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không biết quá khứ, không thấy tương lai, mà tự nhận rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, chúng tôi biết rõ như vậy,’ thì sự khiển trách đúng pháp đối với họ là như vậy. Hơn nữa, này Kaccāna, hãy để quá khứ qua một bên, hãy để tương lai qua một bên. Hãy đến đây, người có trí, không xảo trá, không gian manh, có bản chất ngay thẳng, Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết pháp. Người thực hành theo như lời đã giáo huấn, không bao lâu sẽ tự mình biết, tự mình thấy rằng: ‘Thật vậy, sự giải thoát khỏi sự trói buộc một cách chân chánh là như thế này, đó là sự trói buộc của vô minh.’ Ví như, này Kaccāna, một đứa trẻ non nớt, yếu ớt, nằm ngửa, bị trói bởi năm sợi dây, với sợi dây thứ năm ở cổ. Do sự lớn lên của nó, do sự chín muồi của các căn, những sợi dây trói ấy sẽ được cởi bỏ. Nó sẽ biết ‘ta đã được giải thoát,’ nhưng không biết về sự trói buộc. Cũng vậy, này Kaccāna, hãy đến đây, người có trí, không xảo trá, không gian manh, có bản chất ngay thẳng, Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết pháp. Người thực hành theo như lời đã giáo huấn, không bao lâu sẽ tự mình biết, tự mình thấy rằng: ‘Thật vậy, sự giải thoát khỏi sự trói buộc một cách chân chánh là như thế này, đó là sự trói buộc của vô minh.’”
Evaṁ vutte, vekhanaso paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he said this, Vekhanasa said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói vậy, du sĩ Vekhanasa bạch với Thế Tôn rằng: “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama… (lược)… Xin Tôn giả Gotama hãy ghi nhận con là một người cận sự nam, kể từ hôm nay cho đến trọn đời đã quy y.”
Vekhanasasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Vekhanasa, kinh thứ mười, kết thúc.
Paribbājakavaggo niṭṭhito tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Du Sĩ, phẩm thứ ba, kết thúc.
Puṇḍarī aggisaha kathināmo, Dīghanakho puna bhāradvājagotto; Sandakaudāyimuṇḍikaputto, Maṇiko tathākaccāno varavaggo.
Puṇḍarīka, Aggivacchagotta, Mahāvacchagotta, Dīghanakha, Māgaṇḍiya, Sandaka, Mahāsakuludāyi, Samaṇamuṇḍika, Cūḷasakuludāyi, và Vekhanasa. Đây là phẩm cao quý.