- Majjhima Nikāya 79
Cūḷasakuludāyisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷasakuludāyisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá). Veluvana (Trúc Lâm), ở Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
SC 2Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludayi ở tại Moranivapa (Khổng Tước Lâm), một tinh xá du sĩ, cùng với đại chúng du sĩ.
SC 3Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm bát vào Vương Xá để khất thực. Thế Tôn khởi lên ý nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Vương Xá, Ta hãy đi đến tinh xá du sĩ Khổng Tước Lâm, đến du sĩ Sakuludayi”.
SC 4Rồi Thế Tôn đi đến tinh xá du sĩ Khổng Tước Lâm. Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludayi đang ngồi với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm, như bàn về vua, bàn về ăn trộm, bàn về Ðại thần, bàn về binh, bàn về sợ hãi, bàn về chiến đấu, bàn về đồ ăn, bàn về đồ uống, bàn về y phục, bàn về giường nằm, bàn về vòng hoa, bàn về hương liệu, bàn về bà con, bàn về xe cộ, bàn về làng, bàn về thị trấn, bàn về quốc độ, bàn về phụ nữ, bàn về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, bàn việc tạp nhạp, bàn về thế giới, bàn về biển cả, bàn về hiện hữu và không hiện hữu. Du sĩ Sakuludayi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình
SC 5—Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay Sa-môn Gotama này đang đến. Sa-môn Gotama ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh. Nếu biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây.
SC 6Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludayi. Du sĩ Sakuludayi bạch Thế Tôn
SC 7—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến! Bạch Thế Tôn, thiện lai Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Thế Tôn hãy ngồi! Ðây là chỗ đã soạn sẵn.
SC 8Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sakuludayi lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludayi đang ngồi một bên
SC 9—Này Udāyi, nay các vị hội họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các vị gián đoạn?
SC 10—Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên vấn đề chúng con đang hội họp bàn luận. Về sau Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì. Bạch Thế Tôn, khi con không ở gần chúng này, thời chúng này ngồi nói nhiều câu chuyện phù phiếm. Và bạch Thế Tôn, khi con ở gần chúng này, thời chúng này ngồi nhìn thẳng mặt con và nghĩ: “Sa-môn Udāyi thuyết pháp gì, chúng ta sẽ nghe”. Bạch Thế Tôn, khi nào Thế Tôn đến với chúng này thời con và chúng này, ngồi nhìn thẳng mặt Thế Tôn và nghĩ: “Thế Tôn thuyết pháp gì, chúng ta sẽ nghe”.
SC 11—Vậy này Udāyi, hãy nói lên ở đây vấn đề gì, để Ta có thể nói chuyện.
SC 12—Thuở xưa, bạch Thế Tôn, rất xa xưa, bậc biết tất cả, thấy tất cả tự nhận mình có tri kiến không dư thừa: “Khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ và khi ta thức, tri kiến được tồn tại liên tục thường hằng”. Vị ấy khi được con hỏi câu hỏi về quá khứ, liền tránh né với một câu hỏi khác, trả lời ra ngoài đề, và tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn. Do vậy, bạch Thế Tôn, con khởi lên niệm hoan hỷ đối với Thế Tôn: “Thật sự Thế Tôn, thật sự bậc Thiện Thệ là bậc thiện xảo về những pháp này”.
SC 13—Này Udāyi, vị nào là bậc biết tất cả, thấy tất cả và tự nhận mình có tri kiến không dư thừa: “Khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ, khi ta thức, tri kiến được tồn tại, liên tục thường hằng”? Vị ấy là ai mà khi được Ông hỏi câu hỏi về quá khứ liền tránh né với một câu hỏi khác, trả lời ra ngoài đề, và tỏ lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn?
SC 14—Bạch Thế Tôn, vị ấy là Nigaṇṭha Nātaputta.
SC 15—Này Udāyi, vị nào nhớ đến các đời sống quá khứ sai biệt như một đời, hai đời … nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Hoặc là vị ấy hỏi Ta câu hỏi về quá khứ, hay là Ta hỏi vị ấy câu hỏi về quá khứ. Hoặc là vị ấy làm tâm Ta thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về quá khứ; hay là Ta làm tâm vị ấy thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về quá khứ. Này Udāyi, vị nào với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân thấy sự sống và chết của chúng sanh, vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Hoặc là vị ấy hỏi Ta câu hỏi về tương lai, hay là Ta hỏi vị ấy câu hỏi về tương lai. Hoặc là vị ấy làm tâm Ta thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về tương lai, hay là Ta làm tâm vị ấy thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về tương lai. Và thôi, này Udāyi, hãy dừng lại ở quá khứ, hãy dừng lại ở tương lai! Ta sẽ thuyết pháp cho Ông: Cái này có mặt thì cái đây có mặt; do cái này sanh, cái đây sanh. Cái này không có mặt thì cái đây không có mặt; do cái này diệt, cái đây diệt”.
SC 16—Bạch Thế Tôn, cho đến trong phạm vi kinh nghiệm với tự ngã này (Attabhava), con còn không có thể nhớ đến các nét đại cương và các chi tiết, từ đâu con có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời … con có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, với các nét đại cương và các chi tiết như Thế Tôn? Bạch Thế Tôn, nay con còn không thấy được con phiêu phong quỷ (pamsapisacaka) từ đâu, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân con có thể tuệ tri rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, như Thế Tôn? Do vậy, bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn nói với con như sau: “Này Udāyi, hãy dừng lại ở quá khứ, hãy dừng lại ở tương lai. Ta sẽ thuyết pháp cho Ông: “Cái này có mặt thì cái đây có mặt; do cái này sanh, cái đây sanh. Cái này không có mặt thì cái đây không có mặt; do cái này diệt, cái đây diệt”, thời con lại càng không nhận rõ bội phần. Tuy vậy, bạch Thế Tôn, con có thể làm tâm Thế Tôn thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về bậc Ðạo sư của mình.
SC 17—Này Udāyi, bậc Ðạo sư của Ông dạy những gì?
SC 18—Bạch Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng con dạy chúng con rằng: “Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng”.
SC 19—Này Udāyi, khi bậc Ðạo sư của Ông dạy Ông rằng: “Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng”, thời sắc tối thượng ấy là sắc gì?
SC 20—Bạch Thế Tôn, khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn, hay thù thắng hơn, thời sắc ấy là sắc tối thượng.
SC 21—Này Udāyi, sắc ấy là sắc gì, khi sắc ấy không có một sắc nào khác cao thượng hơn, hay thù thắng hơn?
SC 22—Bạch Thế Tôn, khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn, hay thù thắng hơn, thời sắc ấy là sắc tối thượng.
SC 23—Này Udāyi, lời giải thích của Ông chỉ dài như vậy, Ông phải giải thích rộng rãi thêm. Nếu Ông nói: “Bạch Thế Tôn, khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn, sắc ấy là sắc tối thượng thời Ông không chỉ rõ sắc ấy. Này Udāyi, như có người nói: “Tôi yêu và luyến ái một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này Bạn, cô gái đẹp mà bạn yêu và luyến ái ấy, bạn có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lị, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp bạn yêu và luyến ái ấy, bạn có biết tên gì, họ gì, lớn người, thấp người, hay người bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, thị trấn nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải bạn đã yêu và đã luyến ái một người bạn không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. —Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Sự tình là như vậy thời lời nói của người ấy có phải là không hiệu năng không?
SC 24—Bạch Thế Tôn, sự tình là như vậy thời lời nói của người ấy thật sự là không hiệu năng.
SC 25—Cũng vậy, này Udāyi, khi Ông nói: “Bạch Thế Tôn khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn, thời sắc ấy là sắc tối thượng”, thời Ông không chỉ rõ sắc ấy.
SC 26—Bạch Thế Tôn, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên, chói lên, bừng sáng lên; với sắc như vậy, tự ngã là không bệnh, sau khi chết.
SC 27—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Một hòn lưu ly bảo châu nào, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên, chói lên, bừng sáng lên; hay con sâu đom đóm trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn, và thù thắng hơn?
SC 28—Bạch Thế Tôn, con sâu đom đóm trong đêm đen tối mù, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 29—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Con sâu đom đóm trong đêm đen tối mù hay là ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 30—Bạch Thế Tôn, ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, quang sắc (ngọn đèn dầu) này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 31—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, hay là một đống lửa lớn trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 32—Bạch Thế Tôn, đống lửa lớn trong đêm đen tối mù, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 33—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Ðống lửa lớn trong đêm đen tối mù, hay ngôi sao mai trong một bầu trời trong sáng không mây vào lúc bình minh, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 34—Bạch Thế Tôn, ngôi sao mai trong một bầu trời trong sáng không mây vào lúc bình minh, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 35—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Ngôi (sao Thái Bạch) sao mai trong bầu trời trong sáng không mây, trong lúc bình minh, hay là mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời trong sáng không mây vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố-tát) vào ngày Rằm, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 36—Bạch Thế Tôn, mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng không mây, vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố tát) vào ngày Rằm, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
SC 37—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng không mây, vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố-tát) vào ngày Rằm, hay là mặt trời trong lúc đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng, không mây, vào lúc giữa trưa, trong tháng cuối mùa mưa về mùa thu, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
SC 38—Bạch Thế Tôn, mặt trời trong lúc đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng không mây, vào lúc giữa trưa, trong tháng cuối mùa mưa về mùa thu, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 39—Này Udāyi, hơn tất cả những quang sắc ấy có nhiều, rất nhiều chư Thiên, mà ánh sáng của những mặt trăng mặt trời này không thể chiếu sáng. Ta biết những chư Thiên ấy. Và Ta không nói: “Không có một quang sắc nào khác vi diệu hơn và thù thắng hơn quang sắc ấy. Còn Ông, này Udāyi, Ông lại nói: “Quang sắc này, thấp kém hơn, yếu đuối hơn quang sắc con sâu đom đóm, quang sắc ấy là tối thắng”. Và Ông không chỉ rõ quang sắc ấy.
SC 40—Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện. Thiện Thệ đã cắt đứt câu chuyện.
SC 41—Này Udāyi, sao Ông lại nói: “Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện. Thiện thệ đã cắt đứt câu chuyện”?
SC 42—Bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư của chúng con dạy như sau: “Quang sắc này là tối thượng, quang sắc này là tối thượng”. Nhưng bạch Thế Tôn, các bậc Ðạo sư của chúng con khi bị Thế Tôn đối nạn, cật nạn, vấn nạn, (tự tỏ là) trống không, hư vọng, thất bại.
SC 43—Nhưng này Udāyi, có một thế giới nhứt hướng lạc không? Có đạo lộ hợp lý nào đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc?
SC 44—Bạch Thế Tôn, các bậc Ðạo sư của chúng con có dạy như sau: “Có một thế giới nhứt hướng lạc. Có đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc”.
SC 45—Này Udāyi, đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc là gì?
SC 46—Ở đây, bạch Thế Tôn, có người đoạn trừ sát sanh, từ bỏ sát sanh, đoạn trừ lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, đoạn trừ tà dâm, từ bỏ tà dâm, đoạn trừ nói láo, từ bỏ nói láo, hay sống sau khi thọ trì một loại khổ hạnh. Bạch Thế Tôn, đó là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
SC 47—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ sát sanh, từ bỏ sát sanh, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc hay cả lạc cả khổ?
SC 48—Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
SC 49—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, trong khi ấy, tự ngã là nhứt hướng lạc hay cả lạc cả khổ?
SC 50—Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
SC 51—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ tà dâm, từ bỏ tà dâm, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc, hay cả lạc cả khổ?
SC 52—Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
SC 53—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ nói láo, từ bỏ nói láo, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc, hay cả lạc cả khổ?
SC 54—Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
SC 55—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi sống thọ trì một loại khổ hạnh, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc, hay cả lạc cả khổ?
SC 56—Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
SC 57—Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Như vậy đạo lộ để chứng đắc một thế giới nhứt hướng lạc, đạo lộ ấy cả lạc cả khổ xen lẫn?
SC 58—Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện, Thiện Thệ đã cắt đứt câu chuyện.
SC 59—Này Udāyi, sao Ông lại nói như vầy: “Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện, Thiện Thệ đã cắt đứt câu chuyện”?
SC 60—Bạch Thế Tôn, các bậc Ðạo sư của chúng con có dạy như sau: “Có một thế giới nhứt hướng lạc, có một đạo lộ hợp lý để chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc”. Nhưng các bậc Ðạo sư của chúng con khi bị Thế Tôn đối nạn, cật nạn, vấn nạn, (tự tỏ là) trống không, hư vọng, thất bại. Nhưng bạch Thế Tôn, có một thế giới nhứt hướng lạc không? Có một đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc một thế giới nhứt hướng lạc không?
SC 61—Này Udāyi, có một thế giới nhứt hướng lạc; có một đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
SC 62—Bạch Thế Tôn, thế nào là đạo lộ hợp lý ấy đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc?
SC 63—Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo ly dục … chứng đắc và trú Thiền thứ nhất; sau khi diệt tầm và tứ … chứng đắc và trú Thiền thứ hai … chứng đắc và trú Thiền thứ ba. Như vậy, này Udāyi, là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
SC 64—Bạch Thế Tôn, đạo lộ ấy không phải là đạo lộ đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc. Chứng đắc như vậy, bạch Thế Tôn (phải chăng) là thế giới nhứt hướng lạc?
SC 65—Này Udāyi, chứng đắc như vậy chưa phải là thế giới nhứt hướng lạc. Ðạo lộ ấy chỉ là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
SC 66Khi được nói vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludayi lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng như sau
SC 67—Ở đây, chúng tôi đã được nghe từ các vị Ðạo sư. Ở đây, chúng tôi đã được nghe từ các vị Ðạo sư. Chúng tôi không được biết gì hơn như vậy nữa.
SC 68Rồi du sĩ Sakuludayi sau khi làm cho các vị du sĩ ấy lặng tiếng xuống, liền bạch Thế Tôn
SC 69—Phải đến mức như thế nào, mới là chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc?
SC 70—Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo đoạn trừ lạc … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư; có bao nhiêu chư Thiên được sanh vào thế giới nhứt hướng lạc, Tỷ-kheo cùng đứng với các chư Thiên ấy, cùng nói chuyện, cùng đàm luận. Cho đến mức độ như vậy, này Udāyi, mới là chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
SC 71—Bạch Thế Tôn, có phải chỉ vì nhân duyên chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc mà các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn?
SC 72—Này Udāyi, không phải chỉ vì nhân duyên chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc mà các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta. Này Udāyi, có những pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn. Vì nhơn duyên chứng đắc các pháp ấy, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
SC 73—Bạch Thế Tôn, thế nào là những pháp cao thượng hơn, thù thắng hơn, vì nhơn duyên chứng đắc các pháp ấy, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn?
SC 74—Ở đây, này Udāyi, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 75Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 76Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.
SC 77Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 78Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 79Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
SC 80Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
SC 81Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
SC 82Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
SC 83Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 84Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ. Ðây là pháp, này Udāyi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
SC 85Lại nữa, này Udāyi, vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ðây là pháp, này Udāyi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta
SC 86Lại nữa, này Udāyi, vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Ðây là pháp, này Udāyi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
SC 87Lại nữa, này Udāyi, vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Ðây là pháp, này Udāyi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
SC 88Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng không cấu uế, với các phiền não được đoạn trừ, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ nhiều đời ở quá khứ, như một đời, hai đời … nhớ đến nhiều đời sống ở quá khứ, với các nét đại cương và các chi tiết. Ðây là pháp, này Udāyi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhơn duyên chứng đắc pháp ấy, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
SC 89Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, với các phiền não được đoạn trừ, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy rõ sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Ðây là pháp, này Udāyi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhơn duyên chứng đắc pháp này, vị Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
SC 90Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, với các phiền não được đoạn trừ, dễ sử dụng, nhu nhuyến, vững chắc, bất động như vậy, vị Tỷ-kheo hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy như thật biết: “Ðây là Khổ” … “Ðây là Khổ tập” … “Ðây là Khổ diệt” … “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”. Vị ấy như thật biết: “Ðâu là những lậu hoặc” … “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc” … “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”. Vị ấy như thật biết: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
SC 91Nhờ hiểu biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân được giải thoát như vậy, vị ấy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”. Ðây là pháp, này Udāyi, cao thượng hơn, thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
SC 92Ðây là những pháp, này Udāyi, cao thượng hơn, thù thắng hơn, do nhơn duyên chứng đắc những pháp này, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
SC 93Khi nghe nói vậy, du sĩ Sakuludayi bạch Thế Tôn
SC 94—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con xuất gia, dưới sự chỉ dẫn Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con thọ đại giới.
SC 95Khi được nghe nói vậy, chúng du sĩ của Sakuludayi nói với du sĩ Sakuludayi
SC 96—Tôn giả Udāyi, chớ có sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama. Tôn giả Udāyi, đã là bậc Ðạo sư, nay chớ có sống làm đệ tử. Như một ghè nước tốt, nay bị thủng lỗ bị chảy nước; hành động của Tôn giả Udāyi cũng sẽ như vậy. Tôn giả Udāyi, chớ có sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama! Tôn giả Udāyi đã là bậc Ðạo sư, nay chớ có sống làm đệ tử.
SC 97Như vậy, chính chúng du sĩ của Sakuludayi đã làm một chướng ngại pháp cho du sĩ Sakuludayi sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Tiểu Sakuludāyi
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi. Atha kho bhagavato etadahosi: “atippago kho tāva rājagahe piṇḍāya carituṁ. Yannūnāhaṁ yena moranivāpo paribbājakārāmo yena sakuludāyī paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti. Atha kho bhagavā yena moranivāpo paribbājakārāmo tenupasaṅkami.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Rājagaha. Why don’t I visit the wanderer Sakuludāyī at the monastery for the wanderers in the peacocks’ feeding ground?” Then the Buddha went to the monastery for the wanderers.
269. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong khu rừng Veḷuvana, tại nơi nuôi dưỡng các con sóc. Và vào lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludāyī đang cư ngụ tại tu viện của các du sĩ ở Moranivāpa cùng với đại chúng du sĩ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Rồi Thế Tôn suy nghĩ thế này: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Rājagaha. Ta hãy đi đến tu viện của các du sĩ ở Moranivāpa, đến chỗ du sĩ Sakuludāyī thì sao nhỉ?’. Rồi Thế Tôn đi đến tu viện của các du sĩ ở Moranivāpa.
Tena kho pana samayena sakuludāyī paribbājako mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā, seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Addasā kho sakuludāyī paribbājako bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpesi: “appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha. Ayaṁ samaṇo gotamo āgacchati; appasaddakāmo kho pana so āyasmā appasaddassa vaṇṇavādī. Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti. Atha kho te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Now at that time, Sakuludāyī was sitting together with a large assembly of wanderers making an uproar, a colossal racket. They engaged in all kinds of low talk, such as talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place.
Sakuludāyī saw the Buddha coming off in the distance, and hushed his own assembly, “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. Here comes the ascetic Gotama. The venerable likes quiet and praises quiet. Hopefully if he sees that our assembly is quiet he’ll see fit to approach.” Then those wanderers fell silent.
Vào lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludāyī đang ngồi cùng với một hội chúng du sĩ đông đảo, ồn ào, la hét lớn tiếng, đang nói đủ loại chuyện vô ích (bàng sanh thoại), như là: chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện kinh sợ, chuyện chiến tranh, chuyện ăn uống, chuyện y phục, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện xứ sở, chuyện phụ nữ, chuyện anh hùng, chuyện đường phố, chuyện bến nước, chuyện người đã khuất, chuyện tạp nham, chuyện thế gian, chuyện biển cả, chuyện thịnh suy. Du sĩ Sakuludāyī từ xa trông thấy Đức Thế Tôn đang đi đến. Thấy vậy, ông ra hiệu cho hội chúng của mình: ‘Thưa quý vị, xin hãy im lặng! Thưa quý vị, xin đừng làm ồn! Vị Sa-môn Gotama này đang đến; vị tôn giả ấy ưa thích sự im lặng và thường tán thán sự im lặng. Biết đâu, khi biết hội chúng im lặng, ngài sẽ nghĩ rằng nên đến gần.’ Bấy giờ, các du sĩ ấy đã im lặng.
Atha kho bhagavā yena sakuludāyī paribbājako tenupasaṅkami. Atha kho sakuludāyī paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “etu kho, bhante, bhagavā. Svāgataṁ, bhante, bhagavato. Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya. Nisīdatu, bhante, bhagavā; idamāsanaṁ paññattan”ti. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Sakuludāyīpi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sakuludāyiṁ paribbājakaṁ bhagavā etadavoca: “kāya nuttha, udāyi, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Tiṭṭhatesā, bhante, kathā yāya mayaṁ etarahi kathāya sannisinnā. Nesā, bhante, kathā bhagavato dullabhā bhavissati pacchāpi savanāya. Yadāhaṁ, bhante, imaṁ parisaṁ anupasaṅkanto homi athāyaṁ parisā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentī nisinnā hoti; yadā ca kho ahaṁ, bhante, imaṁ parisaṁ upasaṅkanto homi athāyaṁ parisā mamaññeva mukhaṁ ullokentī nisinnā hoti: ‘yaṁ no samaṇo udāyī dhammaṁ bhāsissati taṁ sossāmā’ti; yadā pana, bhante, bhagavā imaṁ parisaṁ upasaṅkanto hoti athāhañceva ayañca parisā bhagavato mukhaṁ ullokentā nisinnā homa: ‘yaṁ no bhagavā dhammaṁ bhāsissati taṁ sossāmā’”ti.
Then the Buddha approached Sakuludāyī, who said to him, “Let the Blessed One come, sir! Welcome to the Blessed One, sir! It’s been a long time since you took the opportunity to come here. Please, sir, sit down, this seat is ready.” The Buddha sat down on the seat spread out, while Sakuludāyī took a low seat and sat to one side. The Buddha said to him, “Udāyī, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
“Sir, leave aside what we were sitting talking about just now. It won’t be hard for you to hear about that later. When I don’t come to the assembly, they sit and engage in all kinds of low talk. But when I have come to the assembly, they sit gazing up at my face alone, thinking, ‘Whatever the ascetic Udāyī teaches, we shall listen to it.’ But when the Buddha has come to the assembly, both myself and the assembly sit gazing up at your face, thinking, ‘Whatever the Buddha teaches, we shall listen to it.’”
270. Bấy giờ, Đức Thế Tôn đi đến chỗ du sĩ Sakuludāyī. Khi ấy, du sĩ Sakuludāyī bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, kính mời Thế Tôn đến. Thiện lai, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, đã lâu lắm rồi Thế Tôn mới có dịp đến đây. Bạch Thế Tôn, xin mời ngài ngồi; chỗ ngồi này đã được soạn sẵn.’ Đức Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Du sĩ Sakuludāyī cũng lấy một chỗ ngồi thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludāyī đang ngồi một bên: ‘Này Udāyi, các ông vừa rồi ngồi bàn luận chuyện gì vậy, và câu chuyện dở dang của các ông là gì?’ ‘Bạch Thế Tôn, xin hãy để yên câu chuyện mà chúng con đang bàn luận. Bạch Thế Tôn, câu chuyện ấy không khó để Thế Tôn nghe được về sau. Bạch Thế Tôn, khi con chưa đến hội chúng này, thì hội chúng này ngồi nói đủ loại chuyện vô ích. Và bạch Thế Tôn, khi con đến hội chúng này, thì hội chúng này chỉ nhìn vào mặt con mà ngồi, (nghĩ rằng): ‘Vị Sa-môn Udāyi sẽ thuyết pháp gì cho chúng ta, chúng ta sẽ nghe pháp ấy.’ Nhưng bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn đến hội chúng này, thì cả con và hội chúng này đều nhìn vào kim diện của Thế Tôn mà ngồi, (nghĩ rằng): ‘Thế Tôn sẽ thuyết pháp gì cho chúng ta, chúng ta sẽ nghe pháp ấy.’
“Tenahudāyi, taṁyevettha paṭibhātu yathā maṁ paṭibhāseyyā”ti.
“Purimāni, bhante, divasāni purimatarāni sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānamāno ‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti. So mayā pubbantaṁ ārabbha pañhaṁ puṭṭho samāno aññenaññaṁ paṭicari, bahiddhā kathaṁ apanāmesi, kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi. Tassa mayhaṁ, bhante, bhagavantaṁyeva ārabbha sati udapādi: ‘aho nūna bhagavā, aho nūna sugato. Yo imesaṁ dhammānaṁ sukusalo’”ti.
“Ko pana so, udāyi, sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānamāno ‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti, yo tayā pubbantaṁ ārabbha pañhaṁ puṭṭho samāno aññenaññaṁ paṭicari, bahiddhā kathaṁ apanāmesi kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsī”ti?
“Nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto”ti.
“Well then, Udāyī, suggest something for me to talk about.”
“Sir, a few days ago someone was claiming to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception, thus: ‘Knowledge and vision are constantly and continually present to me, while walking, standing, sleeping, and waking.’ When I asked them a question about the first beginning, they dodged the issue, distracted the discussion with irrelevant points, and displayed annoyance, hate, and bitterness. That reminded me of the Buddha: ‘Surely it must be the Blessed One, the Holy One who is so skilled in such matters.’”
“But Udāyī, who was it that made such a claim and behaved in such a way?”
“It was the Jain ascetic of the Ñātika clan, sir.”
271. ‘Vậy thì này Udāyi, chính ông hãy gợi lên vấn đề để ta có thể nói.’ ‘Bạch Thế Tôn, trong những ngày trước, những ngày xa xưa hơn, có người tự xưng là bậc toàn tri, toàn kiến, có tri kiến không dư sót, rằng: ‘Khi ta đi, đứng, ngủ, hay thức, tri kiến luôn luôn, liên tục hiện khởi nơi ta.’ Khi được con hỏi một câu hỏi liên quan đến quá khứ, vị ấy đã trả lời quanh co, lái câu chuyện ra ngoài đề, và đã biểu lộ sự tức giận, sân hận, và bất mãn. Bạch Thế Tôn, khi ấy, niệm tưởng về Thế Tôn đã khởi lên trong con: ‘Ôi, quả thật là Thế Tôn! Ôi, quả thật là Thiện Thệ! Ngài là bậc thiện xảo trong các pháp này.’ ‘Này Udāyi, là ai vậy, người tự xưng là bậc toàn tri, toàn kiến, có tri kiến không dư sót, rằng: ‘Khi ta đi, đứng, ngủ, hay thức, tri kiến luôn luôn, liên tục hiện khởi nơi ta,’ và khi được ông hỏi một câu hỏi liên quan đến quá khứ, đã trả lời quanh co, lái câu chuyện ra ngoài đề, và đã biểu lộ sự tức giận, sân hận, và bất mãn?’ ‘Bạch Thế Tôn, đó là Nigantha Nāṭaputta.’
“Yo kho, udāyi, anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyya, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyya, so vā maṁ pubbantaṁ ārabbha pañhaṁ puccheyya, taṁ vāhaṁ pubbantaṁ ārabbha pañhaṁ puccheyyaṁ; so vā me pubbantaṁ ārabbha pañhassa veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, tassa vāhaṁ pubbantaṁ ārabbha pañhassa veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyyaṁ.
“Udāyī, someone who can recollect their many kinds of past lives, with features and details, might ask me a question about the first beginning, or I might ask them a question about the first beginning. And they might satisfy me with their answer, or I might satisfy them with my answer.
‘Này Udāyi, người nào có thể nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một kiếp, hai kiếp... (v.v)... nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các đặc điểm và chi tiết của chúng, người ấy có thể hỏi ta một câu hỏi liên quan đến quá khứ, hoặc ta có thể hỏi người ấy một câu hỏi liên quan đến quá khứ. Người ấy có thể làm cho tâm ta hài lòng bằng cách trả lời câu hỏi liên quan đến quá khứ, hoặc ta có thể làm cho tâm người ấy hài lòng bằng cách trả lời câu hỏi liên quan đến quá khứ.
Yo kho, udāyi, dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passeyya cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajāneyya, so vā maṁ aparantaṁ ārabbha pañhaṁ puccheyya, taṁ vāhaṁ aparantaṁ ārabbha pañhaṁ puccheyyaṁ; so vā me aparantaṁ ārabbha pañhassa veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, tassa vāhaṁ aparantaṁ ārabbha pañhassa veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyyaṁ.
Someone who, with clairvoyance that is purified and superhuman, understands how sentient beings pass on according to their deeds might ask me a question about the final end, or I might ask them a question about the final end. And they might satisfy me with their answer, or I might satisfy them with my answer.
‘Này Udāyi, người nào với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, có thể thấy các chúng sanh chết đi và tái sanh, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, thiện thú và ác thú, và biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ, người ấy có thể hỏi ta một câu hỏi liên quan đến tương lai, hoặc ta có thể hỏi người ấy một câu hỏi liên quan đến tương lai. Người ấy có thể làm cho tâm ta hài lòng bằng cách trả lời câu hỏi liên quan đến tương lai, hoặc ta có thể làm cho tâm người ấy hài lòng bằng cách trả lời câu hỏi liên quan đến tương lai.
Api ca, udāyi, tiṭṭhatu pubbanto, tiṭṭhatu aparanto. Dhammaṁ te desessāmi—imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati; imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhatī”ti.
Nevertheless, Udāyī, leave aside the first beginning and the final end. I shall teach you the Dhamma: ‘When this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. When this doesn’t exist, that is not; due to the cessation of this, that ceases.’”
‘Hơn nữa, này Udāyi, hãy để quá khứ qua một bên, hãy để tương lai qua một bên. Ta sẽ thuyết Pháp cho ông: Khi cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt.’
“Ahañhi, bhante, yāvatakampi me iminā attabhāvena paccanubhūtaṁ tampi nappahomi sākāraṁ sauddesaṁ anussarituṁ, kuto panāhaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarissāmi, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarissāmi, seyyathāpi bhagavā? Ahañhi, bhante, etarahi paṁsupisācakampi na passāmi, kuto panāhaṁ dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passissāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānissāmi, seyyathāpi bhagavā? Yaṁ pana maṁ, bhante, bhagavā evamāha: ‘api ca, udāyi, tiṭṭhatu pubbanto, tiṭṭhatu aparanto; dhammaṁ te desessāmi—
imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati; imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhatī’ti tañca pana me bhiyyoso mattāya na pakkhāyati. Appeva nāmāhaṁ, bhante, sake ācariyake bhagavato cittaṁ ārādheyyaṁ pañhassa veyyākaraṇenā”ti.
“Well sir, I can’t even recall with features and details what I’ve undergone in this incarnation. How should I possibly recollect my many kinds of past lives with features and details, like the Buddha? For I can’t even see a mud-goblin right now. How should I possibly, with clairvoyance that is purified and superhuman, see sentient beings passing away and being reborn, like the Buddha? But then the Buddha told me, ‘Nevertheless, Udāyī, leave aside the first beginning and the final end. I shall teach you the Dhamma:
“When this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. When this doesn’t exist, this doesn’t come to be; due to the cessation of this, this ceases.”’ But that is even more unclear to me. Perhaps I might satisfy the Buddha by answering a question about my own denomination.”
“Kính bạch Đại đức, chính con, ngay cả những gì đã được kinh nghiệm qua thân này, con cũng không có khả năng nhớ lại với các tướng trạng và chi tiết, huống nữa là con có thể nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, ví như là: một kiếp, hai kiếp... như vậy với các tướng trạng và chi tiết, con sẽ nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, giống như đức Thế Tôn sao? Kính bạch Đại đức, chính con, bây giờ ngay cả một con quỷ đất cũng không thấy, huống nữa là con sẽ thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao thượng, đẹp, xấu, ở thiện thú, ác thú, và sẽ biết các chúng sanh đi theo nghiệp của họ bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt khỏi mắt người thường, giống như đức Thế Tôn sao? Kính bạch Đại đức, điều mà đức Thế Tôn đã nói với con như vầy: ‘Này Udāyi, hãy để quá khứ qua một bên, hãy để vị lai qua một bên; Ta sẽ thuyết pháp cho ngươi: Khi cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh; khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt,’ điều đó đối với con lại càng không hiển lộ. Kính bạch Đại đức, có lẽ con có thể làm hài lòng tâm của đức Thế Tôn bằng cách trả lời câu hỏi trong giáo lý của thầy con.”
“Kinti pana te, udāyi, sake ācariyake hotī”ti?
“Amhākaṁ, bhante, sake ācariyake evaṁ hoti: ‘ayaṁ paramo vaṇṇo, ayaṁ paramo vaṇṇo’”ti.
“But Udāyī, what is your own denomination?”
“Sir, it’s this: ‘This is the ultimate splendor, this is the ultimate splendor.’”
272. “Này Udāyi, vậy trong giáo lý của thầy ngươi thì như thế nào?” – “Kính bạch Đại đức, trong giáo lý của thầy chúng con thì như vầy: ‘Đây là sắc tướng tối thượng, đây là sắc tướng tối thượng.’”
“Yaṁ pana te etaṁ, udāyi, sake ācariyake evaṁ hoti: ‘ayaṁ paramo vaṇṇo, ayaṁ paramo vaṇṇo’ti, katamo so paramo vaṇṇo”ti?
“Yasmā, bhante, vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthi so paramo vaṇṇo”ti.
“But what is that ultimate splendor?”
“Sir, the ultimate splendor is the splendor compared to which no other splendor is finer.”
“Này Udāyi, điều mà trong giáo lý của thầy ngươi là như vầy: ‘Đây là sắc tướng tối thượng, đây là sắc tướng tối thượng,’ sắc tướng tối thượng đó là gì?” – “Kính bạch Đại đức, sắc tướng mà không có sắc tướng nào khác cao hơn hay thù thắng hơn, đó là sắc tướng tối thượng.”
“Katamo pana so paramo vaṇṇo yasmā vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthī”ti?
“Yasmā, bhante, vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthi so paramo vaṇṇo”ti.
“But what is that ultimate splendor compared to which no other splendor is finer?”
“Sir, the ultimate splendor is the splendor compared to which no other splendor is finer.”
“Vậy sắc tướng tối thượng mà không có sắc tướng nào khác cao hơn hay thù thắng hơn là gì?” – “Kính bạch Đại đức, sắc tướng mà không có sắc tướng nào khác cao hơn hay thù thắng hơn, đó là sắc tướng tối thượng.”
“Dīghāpi kho te esā, udāyi, phareyya: ‘yasmā, bhante, vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthi so paramo vaṇṇo’ti vadesi, tañca vaṇṇaṁ na paññapesi. Seyyathāpi, udāyi, puriso evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ yā imasmiṁ janapade janapadakalyāṇī taṁ icchāmi, taṁ kāmemī’ti. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ—khattiyī vā brāhmaṇī vā vessī vā suddī vā’ti? Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ—evaṁnāmā evaṅgottāti vāti …pe… dīghā vā rassā vā majjhimā vā kāḷī vā sāmā vā maṅguracchavī vāti … amukasmiṁ gāme vā nigame vā nagare vā’ti? Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, taṁ tvaṁ icchasi kāmesī’ti? Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
“Udāyī, you could draw this out for a long time. You say, ‘The ultimate splendor is the splendor compared to which no other splendor is finer.’ But you don’t describe that splendor. Suppose a man was to say, ‘Whoever the finest lady in the land is, it is her that I want, her I desire!’ They’d say to him, ‘My man, that finest lady in the land who you desire—do you know whether she’s an aristocrat, a brahmin, a peasant, or a menial?’ Asked this, he’d say, ‘No.’ They’d say to him, ‘My friend, that finest lady in the land who you desire—do you know her name or clan? Whether she’s tall or short or medium? Whether her skin is black, brown, or dingy? Whether she comes from such-and-such village, town, or city?’ Asked this, he’d say, ‘No.’ They’d say to him, ‘My man, do you desire someone who you’ve never even known or seen?’ Asked this, he’d say, ‘Yes.’
“Này Udāyi, lời nói này của ngươi thật dài dòng: ‘Kính bạch Đại đức, sắc tướng mà không có sắc tướng nào khác cao hơn hay thù thắng hơn, đó là sắc tướng tối thượng,’ ngươi nói vậy, nhưng lại không thể chỉ rõ sắc tướng đó. Này Udāyi, ví như một người đàn ông nói như vầy: ‘Ta muốn, ta khao khát người đẹp nhất xứ này.’ Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh bạn, người đẹp nhất xứ mà anh muốn, anh khao khát, anh có biết cô ấy là dòng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, hay Thủ-đà-la không?’ Được hỏi như vậy, anh ta sẽ trả lời ‘không.’ Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh bạn, người đẹp nhất xứ mà anh muốn, anh khao khát, anh có biết cô ấy tên như vầy, dòng họ như vầy... cao, lùn, hay tầm trung, da đen, da ngăm, hay da màu vàng sậm... ở làng này, thị trấn này, hay thành phố này không?’ Được hỏi như vậy, anh ta sẽ trả lời ‘không.’ Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh bạn, người mà anh không biết, không thấy, anh lại muốn, lại khao khát sao?’ Được hỏi như vậy, anh ta sẽ trả lời ‘đúng vậy.’”
Taṁ kiṁ maññasi, udāyi—nanu evaṁ sante, tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
What do you think, Udāyī? This being so, doesn’t that man’s statement turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, sir.”
“Này Udāyi, ngươi nghĩ sao về điều đó? Khi sự việc là như vậy, lời nói của người đàn ông đó chẳng phải trở thành vô căn cứ sao?” – “Chắc chắn rồi, kính bạch Đại đức, khi sự việc là như vậy, lời nói của người đàn ông đó trở thành vô căn cứ.”
“Evameva kho tvaṁ, udāyi, ‘yasmā, bhante, vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthi so paramo vaṇṇo’ti vadesi, tañca vaṇṇaṁ na paññapesī”ti.
“In the same way, you say, ‘The ultimate splendor is the splendor compared to which no other splendor is finer.’ But you don’t describe that splendor.”
“Cũng vậy, này Udāyi, ngươi nói: ‘Kính bạch Đại đức, sắc tướng mà không có sắc tướng nào khác cao hơn hay thù thắng hơn, đó là sắc tướng tối thượng,’ nhưng ngươi lại không thể chỉ rõ sắc tướng đó.”
“Seyyathāpi, bhante, maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato paṇḍukambale nikkhitto bhāsate ca tapate ca virocati ca, evaṁ vaṇṇo attā hoti arogo paraṁ maraṇā”ti.
“Worthy sir, suppose there was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked. When placed on a cream rug it would shine and glow and radiate. Such is the splendor of the self that is healthy after death.”
“Kính bạch Đại đức, ví như viên ngọc bích lưu ly đẹp, thuần chủng, tám cạnh, được chế tác khéo léo, đặt trên tấm thảm len màu vàng nhạt, nó chiếu sáng, rực rỡ, và lấp lánh. Tự ngã có sắc tướng như vậy, không bệnh tật sau khi chết.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, yo vā maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato paṇḍukambale nikkhitto bhāsate ca tapate ca virocati ca, yo vā rattandhakāratimisāya kimi khajjopanako—imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bhante, rattandhakāratimisāya kimi khajjopanako—ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“What do you think, Udāyī? Which of these two has a finer splendor: such a beryl gem, or a firefly in the dark of night?”
“A firefly in the dark of night, sir.”
273. “Này Udāyi, ngươi nghĩ sao về điều đó? Một là viên ngọc bích lưu ly đẹp, thuần chủng, tám cạnh, được chế tác khéo léo, đặt trên tấm thảm len màu vàng nhạt, nó chiếu sáng, rực rỡ, và lấp lánh; hai là con đom đóm trong đêm tối mịt mù – trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào đẹp hơn và thù thắng hơn?” – “Kính bạch Đại đức, con đom đóm trong đêm tối mịt mù – sắc tướng này trong hai sắc tướng là đẹp hơn và thù thắng hơn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, yo vā rattandhakāratimisāya kimi khajjopanako, yo vā rattandhakāratimisāya telappadīpo—imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bhante, rattandhakāratimisāya telappadīpo—ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“What do you think, Udāyī? Which of these two has a finer splendor: a firefly in the dark of night, or an oil lamp in the dark of night?”
“An oil lamp in the dark of night, sir.”
“Này Udāyi, ngươi nghĩ sao về điều đó? Một là con đom đóm trong đêm tối mịt mù, hai là ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mù – trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào đẹp hơn và thù thắng hơn?” – “Kính bạch Đại đức, ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mù – sắc tướng này trong hai sắc tướng là đẹp hơn và thù thắng hơn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, yo vā rattandhakāratimisāya telappadīpo, yo vā rattandhakāratimisāya mahāaggikkhandho—imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bhante, rattandhakāratimisāya mahāaggikkhandho—ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“What do you think, Udāyī? Which of these two has a finer splendor: an oil lamp in the dark of night, or a great mass of fire in the dark of night?”
“A great mass of fire in the dark of night, sir.”
“Này Udāyi, ngươi nghĩ sao về điều đó? Một là ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mù, hai là đống lửa lớn trong đêm tối mịt mù – trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào đẹp hơn và thù thắng hơn?” – “Kính bạch Đại đức, đống lửa lớn trong đêm tối mịt mù – sắc tướng này trong hai sắc tướng là đẹp hơn và thù thắng hơn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, yo vā rattandhakāratimisāya mahāaggikkhandho, yā vā rattiyā paccūsasamayaṁ viddhe vigatavalāhake deve osadhitārakā—imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bhante, rattiyā paccūsasamayaṁ viddhe vigatavalāhake deve osadhitārakā—ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“What do you think, Udāyī? Which of these two has a finer splendor: a great mass of fire in the dark of night, or the morning star in the clear and cloudless heavens at the crack of dawn?”
“The morning star in the clear and cloudless heavens at the crack of dawn, sir.”
“Này Udāyi, ông nghĩ thế nào về điều này? Giữa một khối lửa lớn trong đêm tối mịt mùng, và sao mai trên bầu trời quang đãng, không mây vào lúc rạng đông, trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào thù thắng hơn, vi diệu hơn?” “Bạch Thế Tôn, sao mai trên bầu trời quang đãng, không mây vào lúc rạng đông, sắc tướng ấy trong hai sắc tướng này là thù thắng hơn, vi diệu hơn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, yā vā rattiyā paccūsasamayaṁ viddhe vigatavalāhake deve osadhitārakā, yo vā tadahuposathe pannarase viddhe vigatavalāhake deve abhido aḍḍharattasamayaṁ cando—imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bhante, tadahuposathe pannarase viddhe vigatavalāhake deve abhido aḍḍharattasamayaṁ cando—ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“What do you think, Udāyī? Which of these two has a finer splendor: the morning star in the clear and cloudless heavens at the crack of dawn, or the full moon at midnight in the clear and cloudless heavens on the fifteenth day sabbath?”
“The full moon at midnight in the clear and cloudless heavens on the fifteenth day sabbath, sir.”
“Này Udāyi, ông nghĩ thế nào về điều này? Giữa sao mai trên bầu trời quang đãng, không mây vào lúc rạng đông, và mặt trăng vào lúc nửa đêm, trên bầu trời quang đãng, không mây, vào ngày Bố-tát rằm tháng, trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào thù thắng hơn, vi diệu hơn?” “Bạch Thế Tôn, mặt trăng vào lúc nửa đêm, trên bầu trời quang đãng, không mây, vào ngày Bố-tát rằm tháng, sắc tướng ấy trong hai sắc tướng này là thù thắng hơn, vi diệu hơn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, yo vā tadahuposathe pannarase viddhe vigatavalāhake deve abhido aḍḍharattasamayaṁ cando, yo vā vassānaṁ pacchime māse saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve abhido majjhanhikasamayaṁ sūriyo—imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ katamo vaṇṇo abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Yvāyaṁ, bhante, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve abhido majjhanhikasamayaṁ sūriyo—ayaṁ imesaṁ ubhinnaṁ vaṇṇānaṁ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti.
“What do you think, Udāyī? Which of these two has a finer splendor: the full moon at midnight in the clear and cloudless heavens on the fifteenth day sabbath, or the sun at midday in the clear and cloudless heavens in the last month of the rainy season, in autumn?”
“The sun at midday in the clear and cloudless heavens in the last month of the rainy season, in autumn, sir.”
“Này Udāyi, ông nghĩ thế nào về điều này? Giữa mặt trăng vào lúc nửa đêm, trên bầu trời quang đãng, không mây, vào ngày Bố-tát rằm tháng, và mặt trời vào lúc giữa trưa, trên bầu trời quang đãng, không mây, vào tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, trong hai sắc tướng này, sắc tướng nào thù thắng hơn, vi diệu hơn?” “Bạch Thế Tôn, mặt trời vào lúc giữa trưa, trên bầu trời quang đãng, không mây, vào tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, sắc tướng ấy trong hai sắc tướng này là thù thắng hơn, vi diệu hơn.”
“Ato kho te, udāyi, bahū hi bahutarā devā ye imesaṁ candimasūriyānaṁ ābhā nānubhonti, tyāhaṁ pajānāmi. Atha ca panāhaṁ na vadāmi: ‘yasmā vaṇṇā añño vaṇṇo uttaritaro vā paṇītataro vā natthī’ti. Atha ca pana tvaṁ, udāyi, ‘yvāyaṁ vaṇṇo kiminā khajjopanakena nihīnataro ca patikiṭṭhataro ca so paramo vaṇṇo’ti vadesi, tañca vaṇṇaṁ na paññapesī”ti.
“Acchidaṁ bhagavā kathaṁ, acchidaṁ sugato kathan”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, udāyi, evaṁ vadesi: ‘acchidaṁ bhagavā kathaṁ, acchidaṁ sugato kathan’”ti?
“Amhākaṁ, bhante, sake ācariyake evaṁ hoti:
“Beyond this, Udāyī, I know very many gods on whom the luminosity of the sun and moon makes no impression. Nevertheless, I do not say: ‘The splendor compared to which no other splendor is finer.’ But of the splendor inferior to a firefly you say, ‘This is the ultimate splendor.’ And you don’t describe that splendor.”
“The Blessed One has cut short the discussion! The Holy One has cut short the discussion!”
“But Udāyī, why do you say this?”
“Sir, it says this in our own denomination:
“Này Udāyi, ngoài những thứ ấy, có rất nhiều, rất nhiều chư thiên không hưởng được ánh sáng của mặt trăng và mặt trời này, Ta biết họ. Tuy vậy, Ta không nói rằng: ‘Không có sắc tướng nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn sắc tướng này.’ Thế nhưng, này Udāyi, ông lại nói rằng: ‘Sắc tướng này, vốn thấp kém hơn và đáng khinh hơn con đom đóm, là sắc tướng tối thượng,’ và ông cũng không thể mô tả được sắc tướng ấy.” “Lời nói của Thế Tôn thật kỳ diệu! Lời nói của Thiện Thệ thật kỳ diệu!”
“Kiṁ panudāyi, atthi ekantasukho loko, atthi ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti?
“Amhākaṁ, bhante, sake ācariyake evaṁ hoti:
“But Udāyī, is there a world of absolute happiness? And is there a grounded practice for realizing a world of absolute happiness?”
“Sir, it says this in our own denomination:
278. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Lúc bấy giờ, du sĩ Vekhanasa đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, ông đã cùng Đức Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, ông đứng sang một bên. Đứng một bên, du sĩ Vekhanasa thốt lên lời cảm hứng trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn: ‘Đây là sắc tướng tối thượng, đây là sắc tướng tối thượng!’
274. “Này Udāyi, có một thế giới hoàn toàn an lạc không? Có con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc không?” “Bạch Thế Tôn, trong giáo lý của thầy chúng con, có quan điểm như sau: ‘Có một thế giới hoàn toàn an lạc, có con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc.’”
“Katamā pana sā, udāyi, ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti?
“Idha, bhante, ekacco pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti, aññataraṁ vā pana tapoguṇaṁ samādāya vattati. Ayaṁ kho sā, bhante, ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti.
“Well, what is that grounded practice for realizing a world of absolute happiness?”
“Sir, it’s when someone gives up killing living creatures, stealing, sexual misconduct, and lying. And they proceed having undertaken some kind of mortification. This is the grounded practice for realizing a world of absolute happiness.”
“Này Udāyi, con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc ấy là gì?” “Bạch Thế Tôn, ở đây, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh; từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho; từ bỏ tà hạnh trong các dục, tránh xa tà hạnh trong các dục; từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối; hoặc là thực hành theo một khổ hạnh nào đó. Bạch Thế Tôn, đây chính là con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, yasmiṁ samaye pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti, ekantasukhī vā tasmiṁ samaye attā hoti sukhadukkhī vā”ti?
“Sukhadukkhī, bhante”.
“What do you think, Udāyī? On an occasion when someone refrains from killing living creatures, is their self absolutely happy at that time, or does it have both pleasure and pain?”
“It has both pleasure and pain.”
“Này Udāyi, ông nghĩ thế nào về điều này? Vào lúc một người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, lúc ấy tự ngã của người ấy là hoàn toàn an lạc hay là có cả an lạc và đau khổ?” “Bạch Thế Tôn, có cả an lạc và đau khổ.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, yasmiṁ samaye adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti, ekantasukhī vā tasmiṁ samaye attā hoti sukhadukkhī vā”ti? “Sukhadukkhī, bhante”.
“What do you think, Udāyī? On an occasion when someone refrains from stealing …
“Này Udāyi, ông nghĩ thế nào về điều này? Vào lúc một người từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, lúc ấy tự ngã của người ấy là hoàn toàn an lạc hay là có cả an lạc và đau khổ?” “Bạch Thế Tôn, có cả an lạc và đau khổ.”
“Này Udāyi, ông nghĩ thế nào về điều này? Vào lúc một người từ bỏ tà hạnh trong các dục, tránh xa tà hạnh trong các dục, lúc ấy tự ngã của người ấy là hoàn toàn an lạc hay là có cả an lạc và đau khổ?” “Bạch Thế Tôn, có cả an lạc và đau khổ.”
“Sukhadukkhī, bhante”.
“It has both pleasure and pain.”
“Này Udāyi, ông nghĩ thế nào về điều này? Vào lúc một người từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, lúc ấy tự ngã của người ấy là hoàn toàn an lạc hay là có cả an lạc và đau khổ?” “Bạch Thế Tôn, có cả an lạc và đau khổ.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, yasmiṁ samaye aññataraṁ tapoguṇaṁ samādāya vattati, ekantasukhī vā tasmiṁ samaye attā hoti sukhadukkhī vā”ti?
“Sukhadukkhī, bhante”.
“What do you think, Udāyī? On an occasion when someone proceeds having undertaken some kind of mortification, is their self absolutely happy at that time, or does it have both pleasure and pain?”
“It has both pleasure and pain.”
“Này Udāyi, ông nghĩ thế nào về điều này? Vào lúc một người thực hành theo một khổ hạnh nào đó, lúc ấy tự ngã của người ấy là hoàn toàn an lạc hay là có cả an lạc và đau khổ?” “Bạch Thế Tôn, có cả an lạc và đau khổ.”
“Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, api nu kho vokiṇṇasukhadukkhaṁ paṭipadaṁ āgamma ekantasukhassa lokassa sacchikiriyā hotī”ti?
“Acchidaṁ bhagavā kathaṁ, acchidaṁ sugato kathan”ti.
“What do you think, Udāyī? Is an absolutely happy world realized by relying on a practice of mixed pleasure and pain?”
“The Blessed One has cut short the discussion! The Holy One has cut short the discussion!”
“Này Udāyi, ông nghĩ thế nào về điều này? Nương vào con đường thực hành có lẫn lộn cả an lạc và đau khổ, liệu có thể chứng ngộ được thế giới hoàn toàn an lạc không?” “Lời nói của Thế Tôn thật kỳ diệu! Lời nói của Thiện Thệ thật kỳ diệu!”
“Kiṁ pana tvaṁ, udāyi, vadesi: ‘acchidaṁ bhagavā kathaṁ, acchidaṁ sugato kathan’”ti?
“Amhākaṁ, bhante, sake ācariyake evaṁ hoti: ‘atthi ekantasukho loko, atthi ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā’ti. Te mayaṁ, bhante, bhagavatā sake ācariyake samanuyuñjiyamānā samanuggāhiyamānā samanubhāsiyamānā rittā tucchā aparaddhā”ti.
“But Udāyī, why do you say this?”
“Sir, it says this in our own denomination: ‘There is a world of absolute happiness. And there is a grounded practice for realizing a world of absolute happiness.’ But when pursued, pressed, and grilled on our own denomination, we turned out to be vacuous, hollow, and mistaken.
Bạch Thế Tôn, trong giáo lý của thầy chúng con, có quan điểm như sau: ‘Có một thế giới hoàn toàn an lạc, và có con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc ấy.’ Bạch Thế Tôn, khi chúng con được Thế Tôn gạn hỏi, thẩm tra, chất vấn về giáo lý của thầy chúng con, thì (giáo lý ấy) đã trở nên trống rỗng, rỗng tuếch, và sai lầm.
“Kiṁ pana, bhante, atthi ekantasukho loko, atthi ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti?
“Atthi kho, udāyi, ekantasukho loko, atthi ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti.
But sir, is there a world of absolute happiness? And is there a grounded practice for realizing a world of absolute happiness?”
“There is a world of absolute happiness, Udāyī. And there is a grounded practice for realizing a world of absolute happiness.”
275. Bạch Thế Tôn, vậy có thế giới hoàn toàn an lạc không, có con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc ấy không? — Này Udāyi, thật vậy, có thế giới hoàn toàn an lạc, và có con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc ấy.
“Katamā pana sā, bhante, ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti?
“Idhudāyi, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati—ayaṁ kho sā, udāyi, ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti.
“Na kho sā, bhante, ākāravatī paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya, sacchikato hissa, bhante, ettāvatā ekantasukho loko hotī”ti.
“Well sir, what is that grounded practice for realizing a world of absolute happiness?”
“It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption. With the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption. This is the grounded practice for realizing a world of absolute happiness.”
“Sir, that’s not the grounded practice for realizing a world of absolute happiness. At that point an absolutely happy world has already been realized.”
Bạch Thế Tôn, thế nào là con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc ấy? — Này Udāyi, ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục... (v.v.)... chứng và trú Sơ thiền; do làm cho lắng dịu tầm và tứ... chứng và trú Nhị thiền; do ly hỷ... chứng và trú Tam thiền. Này Udāyi, đây chính là con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc ấy.
“Na khvāssa, udāyi, ettāvatā ekantasukho loko sacchikato hoti; ākāravatī tveva sā paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti.
“No, Udāyī, at that point an absolutely happy world has not been realized. This is the grounded practice for realizing a world of absolute happiness.”
Bạch Thế Tôn, đó không phải là con đường thực hành để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc, bạch Thế Tôn, vì với chừng ấy, vị ấy đã chứng ngộ được thế giới hoàn toàn an lạc rồi. — Này Udāyi, với chừng ấy, vị ấy chưa chứng ngộ được thế giới hoàn toàn an lạc đâu; đó chỉ là con đường thực hành có cơ sở để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc mà thôi.
Evaṁ vutte, sakuludāyissa paribbājakassa parisā unnādinī uccāsaddamahāsaddā ahosi: “ettha mayaṁ anassāma sācariyakā, ettha mayaṁ anassāma sācariyakā. Na mayaṁ ito bhiyyo uttaritaraṁ pajānāmā”ti.
When he said this, Sakuludāyī’s assembly made an uproar, a colossal racket, “In that case, we are lost, together with our denomination! We are lost, together with our denomination! We know nothing higher than this!”
Khi được nói như vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludāyī đã trở nên ồn ào, la ó, và huyên náo: ‘Ở đây, chúng ta cùng với thầy của mình đã bị thất bại! Ở đây, chúng ta cùng với thầy của mình đã bị thất bại! Chúng ta không biết gì cao siêu hơn thế này nữa!’
Atha kho sakuludāyī paribbājako te paribbājake appasadde katvā bhagavantaṁ etadavoca: “kittāvatā panāssa, bhante, ekantasukho loko sacchikato hotī”ti?
“Idhudāyi, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ … upasampajja viharati. Yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā tāhi devatāhi saddhiṁ santiṭṭhati sallapati sākacchaṁ samāpajjati. Ettāvatā khvāssa, udāyi, ekantasukho loko sacchikato hotī”ti.
Then Sakuludāyī, having quieted those wanderers, said to the Buddha, “Well sir, at what point is an absolutely happy world realized?”
“It’s when, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption. There are deities who have been reborn in a absolutely happy world. That mendicant associates with them, converses, and engages in discussion. It’s at this point that a absolutely happy world has been realized.”
Rồi du sĩ Sakuludāyī, sau khi yêu cầu các du sĩ ấy giữ im lặng, đã bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, với mức độ nào thì vị ấy chứng ngộ được thế giới hoàn toàn an lạc?’ — Này Udāyi, ở đây, vị Tỷ-kheo do đoạn lạc... (v.v.)... chứng và trú Tứ thiền. Vị ấy cùng đứng, cùng nói chuyện, cùng tham gia thảo luận với các vị chư thiên đã được sanh vào thế giới hoàn toàn an lạc. Này Udāyi, với chừng ấy, vị ấy đã chứng ngộ được thế giới hoàn toàn an lạc.
“Etassa nūna, bhante, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāhetu bhikkhū bhagavati brahmacariyaṁ carantī”ti?
“Na kho, udāyi, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti. Atthi kho, udāyi, aññeva dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca, yesaṁ sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ carantī”ti.
“Surely the mendicants must lead the spiritual life under the Buddha for the sake of realizing this absolutely happy world?”
“No, Udāyī, the mendicants don’t lead the spiritual life under me for the sake of realizing this absolutely happy world. There are other things that are finer, for the sake of which the mendicants lead the spiritual life under me.”
276. Bạch Thế Tôn, chắc chắn là vì mục đích chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc này mà các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn phải không? — Này Udāyi, không phải vì mục đích chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc này mà các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta. Này Udāyi, có những pháp khác, cao thượng hơn và vi diệu hơn, vì mục đích chứng ngộ các pháp ấy mà các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta.
“Katame pana te, bhante, dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca yesaṁ sacchikiriyāhetu bhikkhū bhagavati brahmacariyaṁ carantī”ti?
“Idhudāyi, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā …pe…
so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, udāyi, dhammo uttaritaro ca paṇītataro ca yassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti.
“But what are those finer things?”
“It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. …
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption. This is one of the finer things for the sake of which the mendicants lead the spiritual life under me.
Bạch Thế Tôn, những pháp nào là cao thượng hơn và vi diệu hơn, mà vì mục đích chứng ngộ các pháp ấy, các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn? — Này Udāyi, ở đây, Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác... (v.v.)... Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, đã ly dục... (v.v.)... chứng và trú Sơ thiền. Này Udāyi, đây cũng là một pháp cao thượng hơn và vi diệu hơn, mà vì mục đích chứng ngộ pháp ấy, các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta.
Puna caparaṁ, udāyi, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā … dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, udāyi, dhammo uttaritaro ca paṇītataro ca yassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption … third absorption … fourth absorption. This too is one of the finer things.
Lại nữa, này Udāyi, vị Tỷ-kheo do làm cho lắng dịu tầm và tứ... (v.v.)... chứng và trú Nhị thiền... Tam thiền... Tứ thiền. Này Udāyi, đây cũng là một pháp cao thượng hơn và vi diệu hơn, mà vì mục đích chứng ngộ pháp ấy, các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Ayampi kho, udāyi, dhammo uttaritaro ca paṇītataro ca yassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They recollect their many kinds of past lives, with features and details. This too is one of the finer things.
Với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời... (v.v.)... như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. Này Udāyi, đây cũng là một pháp cao thượng hơn và vi diệu hơn, mà vì mục đích chứng ngộ pháp ấy, các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti. Ayampi kho, udāyi, dhammo uttaritaro ca paṇītataro ca yassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds. This too is one of the finer things.
Với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến Sanh tử minh. Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh chết đi, sanh lại, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, may mắn, bất hạnh... (v.v.)... vị ấy biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Này Udāyi, đây cũng là một pháp cao thượng hơn và vi diệu hơn, mà vì mục đích chứng ngộ pháp ấy, các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti … ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti … ‘ayaṁ āsavanirodho’ti … ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Ayampi kho, udāyi, dhammo uttaritaro ca paṇītataro ca yassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti. Ime kho, udāyi, dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca yesaṁ sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ carantī”ti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ This too is one of the finer things. These are the finer things for the sake of which the mendicants lead the spiritual life under me.”
Vị ấy, khi tâm được định tĩnh như vậy, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ’. Tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ tập’... Tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ diệt’... Tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Tuệ tri như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’... Tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc’... Tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Đối với vị ấy, khi biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, khởi lên trí tuệ biết rằng: ‘Đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này Udāyi, đây cũng là pháp cao thượng hơn, vi diệu hơn, vì để chứng ngộ pháp này mà các tỳ khưu sống đời phạm hạnh nơi Ta. Này Udāyi, đây chính là những pháp cao thượng hơn, vi diệu hơn, vì để chứng ngộ những pháp này mà các tỳ khưu sống đời phạm hạnh nơi Ta.
Evaṁ vutte, sakuludāyī paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
When he had spoken, Sakuludāyī said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
277. Khi được nói như vậy, du sĩ Sakuludāyī bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, cũng giống như người lật ngửa vật bị úp, phơi bày vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy được các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Đức Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Bạch Thế Tôn, mong rằng con được xuất gia dưới sự hiện diện của Đức Thế Tôn, mong rằng con được thọ cụ túc giới.’
Evaṁ vutte, sakuludāyissa paribbājakassa parisā sakuludāyiṁ paribbājakaṁ etadavocuṁ: “mā bhavaṁ, udāyi, samaṇe gotame brahmacariyaṁ cari; mā bhavaṁ, udāyi, ācariyo hutvā antevāsīvāsaṁ vasi. Seyyathāpi nāma udakamaṇiko hutvā udañcaniko assa, evaṁ sampadamidaṁ bhoto udāyissa bhavissati. Mā bhavaṁ, udāyi, samaṇe gotame brahmacariyaṁ cari; mā bhavaṁ, udāyi, ācariyo hutvā antevāsīvāsaṁ vasī”ti. Iti hidaṁ sakuludāyissa paribbājakassa parisā sakuludāyiṁ paribbājakaṁ antarāyamakāsi bhagavati brahmacariyeti.
When he said this, Sakuludāyī’s assembly said to him, “Worthy Udāyī, don’t lead the spiritual life under the ascetic Gotama. You have been a tutor; don’t live as a pupil. You’ll end up like a water jar that turns into a water ladle. Worthy Udāyī, don’t lead the spiritual life under the ascetic Gotama. You have been a tutor; don’t live as a pupil.” And that’s how the wanderer Sakuludāyī’s own assembly prevented him from leading the spiritual life under the Buddha.
Khi được nói như vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludāyī nói với du sĩ Sakuludāyī rằng: ‘Thưa ngài Udāyi, xin ngài đừng thực hành phạm hạnh nơi Sa-môn Gotama. Thưa ngài Udāyi, xin ngài đang là một vị thầy mà đừng sống đời sống của một người đệ tử. Ví như một cái chum nước lớn lại trở thành một cái gàu múc nước, sự việc này đối với ngài Udāyī cũng sẽ như vậy. Thưa ngài Udāyi, xin ngài đừng thực hành phạm hạnh nơi Sa-môn Gotama. Thưa ngài Udāyi, xin ngài đang là một vị thầy mà đừng sống đời sống của một người đệ tử.’ Như vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludāyī đã gây trở ngại cho du sĩ Sakuludāyī trong việc thực hành phạm hạnh nơi Đức Thế Tôn.
Cūḷasakuludāyisuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Tiểu Sakuludāyi, phẩm thứ chín, kết thúc.