- Majjhima Nikāya 78
Samaṇamuṇḍikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Samaṇamuṇḍikasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ Viên), tại tinh xá Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika, trú ở tinh xá của Mallikā tại Ekasalaka, có hàng cây tinduka bao quanh, được xây dựng để tranh luận cùng với đại chúng du sĩ khoảng ba trăm vị.
SC 3Rồi thợ mộc Pancakanga vào buổi sáng sớm, đi ra khỏi Sāvatthi để yết kiến Thế Tôn. Thợ mộc Pancakanga suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang an tịnh Thiền tọa; cũng không phải thời để yết kiến các vị Tỷ-kheo đang tu dưỡng tâm ý, các vị Tỷ-kheo đang an tịnh Thiền tọa. Ta hãy đi đến tinh xá của Mallikā, tại Ekasalaka, có hàng cây tinduka bao quanh, được xây dựng để tranh luận, đi đến du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika”. Rồi thợ mộc Pancakanga đi đến tinh xá của Mallikā, tại Ekasalaka, có hàng cây tinduka bao quanh, được xây dựng để tranh luận.
SC 4Lúc bấy giờ du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika đang ngồi với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng, bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như vương luận, tặc luận, đại thần luận, binh luận, bố uý luận, chiến đấu luận, thực luận, ẩm luận, y luận, sàng luận, hoa man luận, hương liệu luận, thân tộc luận, xa thừa luận, thôn luận, trấn luận, thị luận, quốc độ luận, phụ nữ luận, anh hùng luận, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, tạp thoại luận, thế giới luận, hải dương luận, hiện hữu, vô biên hữu luận. Du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika thấy thợ mộc Pancakanga từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình
SC 5—Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay thợ mộc Pancakanga, đệ tử của Sa-môn Gotama đang đến. Khi nào các đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Sa-môn Gotama trú ở Sāvatthi, thời thợ mộc Pancakanga là một trong những vị ấy. Các vị Tôn giả ấy ưa mến an tịnh, được tu tập về an tịnh, tán thán an tịnh, nếu biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây.
SC 6Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Thợ mộc Pancakanga đi đến du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Du sĩ Uggahamana nói với thợ mộc Pancakanga đang ngồi một bên
SC 7—Này Thợ mộc, ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Thế nào là bốn? Ở đây, này Thợ mộc, không làm ác nghiệp về thân, không nói lời ác, không tư duy ác tư duy, không sinh sống (bằng) nếp sống ác. Này Thợ mộc, ta chủ trương rằng một người nào thành tựu bốn pháp này, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
SC 8Rồi thợ mộc Pancakanga không hoan hỷ, không kích bác lời nói của du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika; không hoan hỷ, không kích bác, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi, với ý nghĩ: “Từ Thế Tôn, ta sẽ biết ý nghĩa lời nói này”. Rồi thợ mộc Pancakanga đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thợ mộc Pancakanga thưa lại với Thế Tôn tất cả câu chuyện giữa mình với du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với thợ mộc Pancakanga
SC 9—Nếu sự tình là như vậy thời một đứa con nít còn bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn, thành đạt tối thượng, là bậc vô năng thắng đúng như lời du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika. Này Thợ mộc, đối với đứa con nít nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là thân”, từ đâu nó có thể làm ác nghiệp về thân, trừ ra chỉ biết quơ tay quơ chân? Này Thợ mộc, đối với đứa con nít, nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là lời nói”, từ đâu nó có thể làm ác nghiệp về lời nói, trừ ra chỉ biết khóc? Này Thợ mộc, đối với đứa con nít, nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là tư duy”, từ đâu nó có thể tư duy ác tư duy, trừ ra chỉ biết bập bẹ? Này Thợ mộc, đối với đứa con nít, nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là nghề sinh sống”, từ đâu nó có thể sinh sống bằng nếp sống ác, trừ ra chỉ biết bú sữa mẹ? Nếu sự tình là vậy này Thợ mộc, thời một đứa con nít còn bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa, sẽ được thiện cụ thúc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng, đúng như lời du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika.
SC 10Này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp, người ấy sẽ không được thiện cụ túc, thiện tối thắng, không là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng, và như vậy để xác chứng đứa con nít bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa này. Thế nào là bốn? Ở đây, này Thợ mộc, không làm ác nghiệp về thân, không nói lời ác ngữ, không tư duy ác tư duy, không sinh sống (bằng) nếp sống ác. Này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp này, người ấy sẽ không được thiện cụ túc, thiện tối thắng, không là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
SC 11Này thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu mười pháp, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Ta nói rằng, những pháp này, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện giới, Ta nói rằng, này Thợ mộc, những bất thiện giới cần phải được người ấy hiểu là từ đây sanh (Itosamutthana). Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện giới được diệt trừ không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những pháp này cần phải được người ấy hiểu là những thiện giới. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những thiện giới cần phải được người ấy hiểu là từ đây sanh. Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây, cần phải được người ấy hiểu là những thiện giới được diệt trừ không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện giới. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những (pháp) này cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện tư duy. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện tư duy từ nơi đây sanh. Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây, cần phải được người ấy hiểu các bất thiện tư duy được diệt trừ không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện tư duy. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những pháp này cần phải được người ấy hiểu là những thiện tư duy. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là những thiện tư duy từ nơi đây sanh. Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây, cần phải được người ấy hiểu là các thiện tư duy được trừ diệt không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện tư duy.
SC 12Và này Thợ mộc, thế nào là bất thiện giới? Thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất thiện, nếp sống ác. Những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là bất thiện giới.
SC 13Và này Thợ mộc, những bất thiện giới này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến, cần phải trả lời từ tâm sanh khởi. Thế nào là tâm? Tâm có nhiều loại, đa chủng, sai biệt. Tâm có tham, có sân, có si, từ đây những bất thiện giới sanh khởi.
SC 14Và này Thợ mộc, những bất thiện giới này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, này Thợ mộc, một Tỷ-kheo, sau khi đoạn trừ thân ác hạnh, tu tập thân thiện hạnh; sau khi đoạn trừ khẩu ác hạnh, tu tập khẩu thiện hạnh; sau khi đoạn trừ ý ác hạnh, tu tập ý thiện hạnh; sau khi đoạn trừ nếp sống ác sinh sống với nếp sống chánh. Ở đây, những bất thiện giới ấy được trừ diệt không có tàn dư.
SC 15Thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới? Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm; khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới.
SC 16Và này Thợ mộc, thế nào là thiện giới? Thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, nếp sống thanh tịnh mạng; những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là thiện giới.
SC 17Và này Thợ mộc, những thiện giới này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến, cần phải trả lời là tự tâm sinh khởi. Thế nào là tâm? Tâm có nhiều loại, đa chủng, sai biệt. Tâm không tham, không sân, không si, từ đây những thiện giới sanh khởi.
SC 18Và này Thợ mộc, những thiện giới này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, vị Tỷ-kheo có giới hạnh, và không chấp trước giới (silamayo), và vị này như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ở đây, những thiện giới ấy được trừ diệt, không có dư tàn.
SC 19Thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến trừ diệt các thiện giới? Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm, khiến cho các ác, bất thiện pháp, chưa sanh không được sanh khởi; khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt; khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm, khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện giới.
SC 20Và này Thợ mộc, thế nào là bất thiện tư duy? Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy. Pháp này, này Thợ mộc, được gọi là bất thiện tư duy.
SC 21Và này Thợ mộc, những bất thiện tư duy này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến. Cần phải trả lời là từ tưởng sanh khởi. Thế nào là tưởng? Tưởng có nhiều loại, đa chủng, sai biệt: dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, từ đấy những bất thiện tư duy sanh khởi.
SC 22Và này Thợ mộc, những bất thiện tư duy này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Ở đây, những bất thiện tư duy được trừ diệt, không có dư tàn.
SC 23Và sự thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện tư duy? Ở đây, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các ác, bất thiện pháp chưa sanh không được sanh khởi … khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt; khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm; khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện tư duy.
SC 24Này Thợ mộc, thế nào là thiện tư duy? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy; những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là thiện tư duy.
SC 25Và này Thợ mộc, những thiện tư duy này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến. Cần phải trả lời là từ tưởng sanh khởi. Thế nào là tưởng? Tưởng có nhiều loại, đa chủng, sai biệt: ly dục tưởng, vô sân tưởng, bất hại tưởng, từ đấy sanh khởi là những thiện tư duy.
SC 26Và này Thợ mộc, những thiện tư duy này từ đâu được diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ở đây, những thiện tư duy ấy được trừ diệt không có dư tàn.
SC 27Và sự thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện tư duy? Ở đây, Tỷ-kheo khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các ác, bất thiện pháp chưa sanh không có sanh khởi …; khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt …; khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm, khiến cho các thiện pháp đã sanh, có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện tư duy.
SC 28Và này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu mười pháp này, người ấy được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo thành tựu vô học chánh tri kiến, thành tựu vô học chánh tư duy, thành tựu vô học chánh ngữ, thành tựu vô học chánh mạng, thành tựu vô học chánh tinh tấn, thành tựu vô học chánh niệm, thành tựu vô học chánh định, thành tựu vô học chánh trí, thành tựu vô học chánh giải thoát. Này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu mười pháp này sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
SC 29Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thợ mộc Pancakanga hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Samaṇamuṇḍika
Tena kho pana samayena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto samayappavādake tindukācīre ekasālake mallikāya ārāme paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ pañcamattehi paribbājakasatehi.
Atha kho pañcakaṅgo thapati sāvatthiyā nikkhami divā divassa bhagavantaṁ dassanāya. Atha kho pañcakaṅgassa thapatissa etadahosi: “akālo kho tāva bhagavantaṁ dassanāya; paṭisallīno bhagavā. Manobhāvaniyānampi bhikkhūnaṁ asamayo dassanāya; paṭisallīnā manobhāvaniyā bhikkhū. Yannūnāhaṁ yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo yena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto tenupasaṅkameyyan”ti. Atha kho pañcakaṅgo thapati yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo yena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto tenupasaṅkami.
Now at that time the wanderer Uggāhamāna Samaṇamaṇḍikāputta was residing together with around five hundred wanderers in Mallikā’s single-halled monastery for philosophical debates, hedged by pale-moon ebony trees.
Then the chamberlain Pañcakaṅga left Sāvatthī in the middle of the day to see the Buddha. It occurred to him, “It’s the wrong time to see the Buddha, as he’s in retreat. And it’s the wrong time to see the esteemed mendicants, as they’re in retreat. Why don’t I go to Mallikā’s monastery to visit the wanderer Uggāhamāna?” So that’s what he did.
260. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, du sĩ Uggāhamāna, con của bà Samaṇamuṇḍikā, đang cư ngụ tại công viên của hoàng hậu Mallikā, trong một ngôi nhà một mái có hàng cây Tinduka, nơi dành cho các cuộc tranh luận, cùng với đại chúng du sĩ đông đảo, khoảng năm trăm vị. Khi ấy, người thợ mộc Pañcakaṅga đi ra khỏi Sāvatthī vào giữa trưa để yết kiến Thế Tôn. Rồi người thợ mộc Pañcakaṅga suy nghĩ thế này: ‘Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn; Thế Tôn đang độc cư. Cũng không phải thời để yết kiến các vị Tỳ khưu đang tu tập tâm; các vị Tỳ khưu đang tu tập tâm cũng đang độc cư. Ta hãy đi đến công viên của hoàng hậu Mallikā, nơi có ngôi nhà một mái với hàng cây Tinduka, nơi dành cho các cuộc tranh luận, đến chỗ du sĩ Uggāhamāna, con của bà Samaṇamuṇḍikā thì hơn.’ Sau đó, người thợ mộc Pañcakaṅga đi đến công viên của hoàng hậu Mallikā, nơi có ngôi nhà một mái với hàng cây Tinduka, nơi dành cho các cuộc tranh luận, đến chỗ du sĩ Uggāhamāna, con của bà Samaṇamuṇḍikā.
Tena kho pana samayena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā, seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Now at that time, Uggāhamāna was sitting together with a large assembly of wanderers making an uproar, a colossal racket. They engaged in all kinds of low talk, such as talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place.
Vào lúc ấy, du sĩ Uggāhamāna, con của bà Samaṇamuṇḍikā, đang ngồi cùng với đại chúng du sĩ đông đảo, ồn ào, với tiếng nói lớn, tiếng huyên náo, đang nói nhiều loại chuyện vô ích, như là: chuyện về vua, chuyện về trộm cướp, chuyện về đại thần, chuyện về quân đội, chuyện về sợ hãi, chuyện về chiến tranh, chuyện về đồ ăn, chuyện về thức uống, chuyện về y phục, chuyện về giường nằm, chuyện về vòng hoa, chuyện về hương liệu, chuyện về bà con, chuyện về xe cộ, chuyện về làng, chuyện về thị trấn, chuyện về thành phố, chuyện về xứ sở, chuyện về phụ nữ, chuyện về anh hùng, chuyện về đường phố, chuyện về bến nước, chuyện về người đã khuất, chuyện phiếm, chuyện về thế gian, chuyện về biển cả, chuyện về sự hiện hữu và không hiện hữu, vân vân.
Addasā kho uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto pañcakaṅgaṁ thapatiṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpesi: “appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha; ayaṁ samaṇassa gotamassa sāvako āgacchati pañcakaṅgo thapati. Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā sāvatthiyaṁ paṭivasanti ayaṁ tesaṁ aññataro pañcakaṅgo thapati. Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino; appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti. Atha kho te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Uggāhamāna saw Pañcakaṅga coming off in the distance, and hushed his own assembly, “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. Here comes Pañcakaṅga, a disciple of the ascetic Gotama. He is included among the white-clothed lay disciples of the ascetic Gotama, who is residing in Sāvatthī. Such venerables like the quiet, are educated to be quiet, and praise the quiet. Hopefully if he sees that our assembly is quiet he’ll see fit to approach.” Then those wanderers fell silent.
Du sĩ Uggāhamāna, con trai của Samaṇamuṇḍikā, từ xa đã thấy người thợ mộc Pañcakaṅga đang đi đến. Thấy vậy, ông ta bảo chúng hội của mình: "Này quý vị, hãy giữ im lặng! Này quý vị, đừng làm ồn! Vị đệ tử này của Sa-môn Gotama, người thợ mộc Pañcakaṅga, đang đi đến. Trong số tất cả các vị đệ tử tại gia mặc y trắng của Sa-môn Gotama đang cư ngụ tại Sāvatthī, người thợ mộc Pañcakaṅga này là một trong số họ. Chắc chắn, những vị tôn giả ấy ưa thích sự im lặng, được huấn luyện trong sự im lặng, là những người tán thán sự im lặng. Có lẽ, sau khi biết chúng hội im lặng, vị ấy có thể nghĩ rằng nên đến gần." Khi ấy, các du sĩ ấy đã giữ im lặng.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā uggāhamānena paribbājakena samaṇamuṇḍikāputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho pañcakaṅgaṁ thapatiṁ uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto etadavoca:
“catūhi kho ahaṁ, gahapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ. Katamehi catūhi? Idha, gahapati, na kāyena pāpakammaṁ karoti, na pāpakaṁ vācaṁ bhāsati, na pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappeti, na pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvati—imehi kho ahaṁ, gahapati, catūhi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhan”ti.
Then Pañcakaṅga approached Uggāhamāna, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. Uggāhamāna said to him:
“Householder, when an individual person has four qualities I describe them as an invincible ascetic—accomplished in the skillful, excelling in the skillful, attained to the highest attainment. What four? It’s when they do no bad deeds with their body; speak no bad words; think no bad thoughts; and don’t earn a living by bad livelihood. When an individual possesses these four qualities I describe them as an invincible ascetic.”
261. Khi ấy, người thợ mộc Pañcakaṅga đi đến chỗ du sĩ Uggāhamāna, con trai của Samaṇamuṇḍikā; sau khi đến, đã trao đổi lời chào hỏi thân mật với du sĩ Uggāhamāna, con trai của Samaṇamuṇḍikā. Sau khi kết thúc câu chuyện chào hỏi đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Du sĩ Uggāhamāna, con trai của Samaṇamuṇḍikā, đã nói điều này với người thợ mộc Pañcakaṅga đang ngồi một bên: "Này gia chủ, tôi tuyên bố một người thành tựu bốn pháp là người thành tựu thiện pháp, người có thiện pháp tối thượng, người đã đạt đến thành tựu cao nhất, một vị Sa-môn không thể bị tranh cãi. Bốn pháp nào? Ở đây, này gia chủ, vị ấy không làm ác nghiệp bằng thân, không nói lời ác, không khởi lên tư duy ác, không nuôi mạng bằng tà mạng. Này gia chủ, chính với bốn pháp này, tôi tuyên bố một người là người thành tựu thiện pháp, người có thiện pháp tối thượng, người đã đạt đến thành tựu cao nhất, một vị Sa-môn không thể bị tranh cãi."
Atha kho pañcakaṅgo thapati uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa bhāsitaṁ neva abhinandi nappaṭikkosi. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi: “bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmī”ti.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho pañcakaṅgo thapati yāvatako ahosi uggāhamānena paribbājakena samaṇamuṇḍikāputtena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Then Pañcakaṅga neither approved nor rejected the wanderer Uggāhamāna’s statement. He rose from his seat, thinking, “I will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.”
Then he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all that had been discussed.
Khi ấy, người thợ mộc Pañcakaṅga không hoan hỷ cũng không phản đối lời nói của du sĩ Uggāhamāna, con trai của Samaṇamuṇḍikā. Không hoan hỷ, không phản đối, ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi, (nghĩ rằng): "Ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của lời nói này nơi Đức Thế Tôn." Khi ấy, người thợ mộc Pañcakaṅga đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người thợ mộc Pañcakaṅga đã trình bày lại toàn bộ cuộc đối thoại với du sĩ Uggāhamāna, con trai của Samaṇamuṇḍikā, lên Đức Thế Tôn.
Evaṁ vutte, bhagavā pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca: “evaṁ sante kho, thapati, daharo kumāro mando uttānaseyyako sampannakusalo bhavissati paramakusalo uttamapattipatto samaṇo ayojjho, yathā uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa vacanaṁ. Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa kāyotipi na hoti, kuto pana kāyena pāpakammaṁ karissati, aññatra phanditamattā. Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa vācātipi na hoti, kuto pana pāpakaṁ vācaṁ bhāsissati, aññatra roditamattā. Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa saṅkappotipi na hoti, kuto pana pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappissati, aññatra vikūjitamattā. Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa ājīvotipi na hoti, kuto pana pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvissati, aññatra mātuthaññā. Evaṁ sante kho, thapati, daharo kumāro mando uttānaseyyako sampannakusalo bhavissati paramakusalo uttamapattipatto samaṇo ayojjho, yathā uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa vacanaṁ.
When he had spoken, the Buddha said to him, “Chamberlain, if what Uggāhamāna says is true, a little baby boy is an invincible ascetic—accomplished in the skillful, excelling in the skillful, attained to the highest attainment. For a little baby doesn’t even have a concept of ‘a body’, so how could they possibly do a bad deed with their body, aside from just wriggling? And a little baby doesn’t even have a concept of ‘speech’, so how could they possibly speak bad words, aside from just crying? And a little baby doesn’t even have a concept of ‘thought’, so how could they possibly think bad thoughts, aside from just whimpering? And a little baby doesn’t even have a concept of ‘livelihood’, so how could they possibly earn a living by bad livelihood, aside from their mother’s breast? If what Uggāhamāna says is true, a little baby boy is an invincible ascetic—accomplished in the skillful, excelling in the skillful, attained to the highest attainment.
262. Khi được nói như vậy, Đức Thế Tôn đã nói điều này với người thợ mộc Pañcakaṅga: "Này người thợ mộc, nếu vậy thì một đứa trẻ non nớt, ngây thơ, còn nằm ngửa sẽ là người thành tựu thiện pháp, người có thiện pháp tối thượng, người đã đạt đến thành tựu cao nhất, một vị Sa-môn không thể bị tranh cãi, theo như lời của du sĩ Uggāhamāna, con trai của Samaṇamuṇḍikā. Này người thợ mộc, vì rằng một đứa trẻ non nớt, ngây thơ, còn nằm ngửa còn chưa có (ý niệm về) thân, thì làm sao có thể làm ác nghiệp bằng thân, ngoài việc chỉ cựa quậy? Này người thợ mộc, vì rằng một đứa trẻ non nớt, ngây thơ, còn nằm ngửa còn chưa có (ý niệm về) lời nói, thì làm sao có thể nói lời ác, ngoài việc chỉ khóc la? Này người thợ mộc, vì rằng một đứa trẻ non nớt, ngây thơ, còn nằm ngửa còn chưa có (ý niệm về) tư duy, thì làm sao có thể khởi tư duy ác, ngoài việc chỉ rên rỉ? Này người thợ mộc, vì rằng một đứa trẻ non nớt, ngây thơ, còn nằm ngửa còn chưa có (ý niệm về) mạng sống, thì làm sao có thể nuôi tà mạng, ngoài việc bú sữa mẹ? Này người thợ mộc, nếu vậy thì một đứa trẻ non nớt, ngây thơ, còn nằm ngửa sẽ là người thành tựu thiện pháp, người có thiện pháp tối thượng, người đã đạt đến thành tựu cao nhất, một vị Sa-môn không thể bị tranh cãi, theo như lời của du sĩ Uggāhamāna, con trai của Samaṇamuṇḍikā."
Catūhi kho ahaṁ, thapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi na ceva sampannakusalaṁ na paramakusalaṁ na uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ, api cimaṁ daharaṁ kumāraṁ mandaṁ uttānaseyyakaṁ samadhigayha tiṭṭhati. Katamehi catūhi? Idha, thapati, na kāyena pāpakammaṁ karoti, na pāpakaṁ vācaṁ bhāsati, na pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappeti, na pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvati—imehi kho ahaṁ, thapati, catūhi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi na ceva sampannakusalaṁ na paramakusalaṁ na uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ, api cimaṁ daharaṁ kumāraṁ mandaṁ uttānaseyyakaṁ samadhigayha tiṭṭhati.
When an individual person has four qualities I describe them, not as an invincible ascetic—accomplished in the skillful, excelling in the skillful, attained to the highest attainment—but as having achieved the same level as a little baby. What four? It’s when they do no bad deeds with their body; speak no bad words; think no bad thoughts; and don’t earn a living by bad livelihood. When an individual possesses these four qualities I describe them, not as an invincible ascetic, but as having achieved the same level as a little baby.
263. "Này người thợ mộc, Ta tuyên bố một người thành tựu bốn pháp không phải là người thành tựu thiện pháp, không phải là người có thiện pháp tối thượng, không phải là người đã đạt đến thành tựu cao nhất, không phải là một vị Sa-môn không thể bị tranh cãi, nhưng (hành vi của người ấy) chỉ vượt hơn đứa trẻ non nớt, ngây thơ, còn nằm ngửa. Bốn pháp nào? Ở đây, này người thợ mộc, vị ấy không làm ác nghiệp bằng thân, không nói lời ác, không khởi lên tư duy ác, không nuôi mạng bằng tà mạng. Này người thợ mộc, chính với bốn pháp này, Ta tuyên bố một người không phải là người thành tựu thiện pháp, không phải là người có thiện pháp tối thượng, không phải là người đã đạt đến thành tựu cao nhất, không phải là một vị Sa-môn không thể bị tranh cãi, nhưng (hành vi của người ấy) chỉ vượt hơn đứa trẻ non nớt, ngây thơ, còn nằm ngửa."
Dasahi kho ahaṁ, thapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ.
Ime akusalā sīlā; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Itosamuṭṭhānā akusalā sīlā; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Idha akusalā sīlā aparisesā nirujjhanti; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
When an individual person has ten qualities, chamberlain, I describe them as an invincible ascetic—accomplished in the skillful, excelling in the skillful, attained to the highest attainment.
The following things must be understood, I say. ‘These are unskillful behaviors.’ ‘Unskillful behaviors stem from this.’ ‘Here unskillful behaviors cease without remainder.’
"Này người thợ mộc, Ta tuyên bố một người thành tựu mười pháp là người thành tựu thiện pháp, người có thiện pháp tối thượng, người đã đạt đến thành tựu cao nhất, một vị Sa-môn không thể bị tranh cãi. Đây là những giới bất thiện; này người thợ mộc, Ta nói rằng điều đó cần phải được biết. Các giới bất thiện khởi sinh từ đây; này người thợ mộc, Ta nói rằng điều đó cần phải được biết. Ở đây, các giới bất thiện được đoạn diệt không còn dư tàn; này người thợ mộc, Ta nói rằng điều đó cần phải được biết. Người thực hành như vậy là người thực hành để đoạn diệt các giới bất thiện; này người thợ mộc, Ta nói rằng điều đó cần phải được biết."
Ime kusalā sīlā; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Itosamuṭṭhānā kusalā sīlā; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Idha kusalā sīlā aparisesā nirujjhanti; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Evaṁ paṭipanno kusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
‘These are skillful behaviors.’ ‘Skillful behaviors stem from this.’ ‘Here skillful behaviors cease without remainder.’ ‘Someone practicing like this is practicing for the cessation of skillful behaviors.’
‘Này người thợ mộc, đây là các giới thiện; Ta nói rằng điều ấy cần được biết. Này người thợ mộc, các giới thiện có sự sanh khởi từ đây; Ta nói rằng điều ấy cần được biết. Này người thợ mộc, ở đây các giới thiện được đoạn diệt không còn dư sót; Ta nói rằng điều ấy cần được biết. Này người thợ mộc, người thực hành như vậy là đang thực hành để đoạn diệt các giới thiện; Ta nói rằng điều ấy cần được biết.
Ime akusalā saṅkappā; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Itosamuṭṭhānā akusalā saṅkappā; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Idha akusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Evaṁ paṭipanno akusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
‘These are unskillful thoughts.’ ‘Unskillful thoughts stem from this.’ ‘Here unskillful thoughts cease without remainder.’ ‘Someone practicing like this is practicing for the cessation of unskillful thoughts.’
‘Này người thợ mộc, đây là các tầm bất thiện; Ta nói rằng điều ấy cần được biết. Này người thợ mộc, các tầm bất thiện có sự sanh khởi từ đây; Ta nói rằng điều ấy cần được biết. Này người thợ mộc, ở đây các tầm bất thiện được đoạn diệt không còn dư sót; Ta nói rằng điều ấy cần được biết. Này người thợ mộc, người thực hành như vậy là đang thực hành để đoạn diệt các tầm bất thiện; Ta nói rằng điều ấy cần được biết.
Ime kusalā saṅkappā; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Itosamuṭṭhānā kusalā saṅkappā; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Idha kusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi. Evaṁ paṭipanno kusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti; tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
‘These are skillful thoughts.’ ‘Skillful thoughts stem from this.’ ‘Here skillful thoughts cease without remainder.’ ‘Someone practicing like this is practicing for the cessation of skillful thoughts.’
‘Này người thợ mộc, đây là các tầm thiện; Ta nói rằng điều ấy cần được biết. Này người thợ mộc, các tầm thiện có sự sanh khởi từ đây; Ta nói rằng điều ấy cần được biết. Này người thợ mộc, ở đây các tầm thiện được đoạn diệt không còn dư sót; Ta nói rằng điều ấy cần được biết. Này người thợ mộc, người thực hành như vậy là đang thực hành để đoạn diệt các tầm thiện; Ta nói rằng điều ấy cần được biết.
Katame ca, thapati, akusalā sīlā? Akusalaṁ kāyakammaṁ, akusalaṁ vacīkammaṁ, pāpako ājīvo—ime vuccanti, thapati, akusalā sīlā.
And what, chamberlain, are unskillful behaviors? Unskillful deeds by way of body and speech, and bad livelihood. These are called unskillful behaviors.
264. ‘Và này người thợ mộc, thế nào là các giới bất thiện? Thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất thiện, tà mạng – này người thợ mộc, những điều này được gọi là các giới bất thiện.
Ime ca, thapati, akusalā sīlā kiṁsamuṭṭhānā? Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ. ‘Cittasamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ. Katamaṁ cittaṁ? Cittampi hi bahuṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ. Yaṁ cittaṁ sarāgaṁ sadosaṁ samohaṁ, itosamuṭṭhānā akusalā sīlā.
And where do these unskillful behaviors stem from? Where they stem from has been stated. You should say that they stem from the mind. What mind? The mind takes many and diverse forms. But unskillful behaviors stem from a mind that has greed, hate, and delusion.
‘Và này người thợ mộc, các giới bất thiện này có gì là sự sanh khởi? Sự sanh khởi của chúng cũng đã được nói đến. Nên nói rằng: ‘Có tâm là sự sanh khởi.’ Tâm nào? Vì tâm cũng có nhiều, đa dạng, nhiều loại. Tâm nào có tham, có sân, có si; các giới bất thiện có sự sanh khởi từ đây.
Ime ca, thapati, akusalā sīlā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti? Nirodhopi nesaṁ vutto. Idha, thapati, bhikkhu kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti, vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti, manoduccaritaṁ pahāya manosucaritaṁ bhāveti, micchājīvaṁ pahāya sammājīvena jīvitaṁ kappeti—etthete akusalā sīlā aparisesā nirujjhanti.
And where do these unskillful behaviors cease without remainder? Their cessation has also been stated. It’s when a mendicant gives up bad conduct by way of body, speech, and mind, and develops good conduct by way of body, speech, and mind; they give up wrong livelihood and earn a living by right livelihood. This is where these unskillful behaviors cease without remainder.
‘Và này người thợ mộc, các giới bất thiện này được đoạn diệt không còn dư sót ở đâu? Sự đoạn diệt của chúng cũng đã được nói đến. Này người thợ mộc, ở đây vị tỳ khưu sau khi từ bỏ thân ác hạnh liền tu tập thân thiện hạnh, sau khi từ bỏ khẩu ác hạnh liền tu tập khẩu thiện hạnh, sau khi từ bỏ ý ác hạnh liền tu tập ý thiện hạnh, sau khi từ bỏ tà mạng liền sống bằng chánh mạng – chính ở đây, các giới bất thiện ấy được đoạn diệt không còn dư sót.
Kathaṁ paṭipanno, thapati, akusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti? Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Evaṁ paṭipanno kho, thapati, akusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
And how is someone practicing for the cessation of unskillful behaviors? It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities that have arisen are given up. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed. Someone practicing like this is practicing for the cessation of unskillful behaviors.
‘Và này người thợ mộc, người thực hành như thế nào là đang thực hành để đoạn diệt các giới bất thiện? Này người thợ mộc, ở đây vị tỳ khưu khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, duy trì tâm, và nỗ lực để không cho các pháp ác bất thiện chưa sanh được sanh khởi; vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, duy trì tâm, và nỗ lực để từ bỏ các pháp ác bất thiện đã sanh; vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, duy trì tâm, và nỗ lực để làm cho các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi; vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, duy trì tâm, và nỗ lực vì sự duy trì, không quên lãng, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh, sự tu tập, và sự viên mãn của các pháp thiện đã sanh. Này người thợ mộc, quả thật người thực hành như vậy là đang thực hành để đoạn diệt các giới bất thiện.
Katame ca, thapati, kusalā sīlā? Kusalaṁ kāyakammaṁ, kusalaṁ vacīkammaṁ, ājīvaparisuddhampi kho ahaṁ, thapati, sīlasmiṁ vadāmi. Ime vuccanti, thapati, kusalā sīlā.
And what are skillful behaviors? Skillful deeds by way of body and speech, and purified livelihood are included in behavior, I say. These are called skillful behaviors.
265. ‘Và này người thợ mộc, thế nào là các giới thiện? Thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, và này người thợ mộc, Ta cũng nói rằng sự trong sạch về mạng sống là ở trong giới. Này người thợ mộc, những điều này được gọi là các giới thiện.
Ime ca, thapati, kusalā sīlā kiṁsamuṭṭhānā? Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ. ‘Cittasamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ. Katamaṁ cittaṁ? Cittampi hi bahuṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ. Yaṁ cittaṁ vītarāgaṁ vītadosaṁ vītamohaṁ, itosamuṭṭhānā kusalā sīlā.
And where do these skillful behaviors stem from? Where they stem from has been stated. You should say that they stem from the mind. What mind? The mind takes many and diverse forms. But skillful behaviors stem from a mind that is free from greed, hate, and delusion.
‘Và này người thợ mộc, các giới thiện này có gì là sự sanh khởi? Sự sanh khởi của chúng cũng đã được nói đến. Nên nói rằng: ‘Có tâm là sự sanh khởi.’ Tâm nào? Vì tâm cũng có nhiều, đa dạng, nhiều loại. Tâm nào không có tham, không có sân, không có si; các giới thiện có sự sanh khởi từ đây.
Ime ca, thapati, kusalā sīlā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti? Nirodhopi nesaṁ vutto. Idha, thapati, bhikkhu sīlavā hoti no ca sīlamayo, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti; yatthassa te kusalā sīlā aparisesā nirujjhanti.
And where do these skillful behaviors cease without remainder? Their cessation has also been stated. It’s when a mendicant behaves ethically, but they are not determined by ethical behavior. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where these skillful behaviors cease without remainder.
‘Và này người thợ mộc, các giới thiện này được đoạn diệt không còn dư sót ở đâu? Sự đoạn diệt của chúng cũng đã được nói đến. Này người thợ mộc, ở đây vị tỳ khưu là người có giới nhưng không phải là người bị giới chi phối, và vị ấy biết rõ như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát ấy; nơi mà các giới thiện ấy của vị ấy được đoạn diệt không còn dư sót.
Kathaṁ paṭipanno ca, thapati, kusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti? Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya …pe… anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya …pe… uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Evaṁ paṭipanno kho, thapati, kusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
And how is someone practicing for the cessation of skillful behaviors? It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise … so that unskillful qualities are given up … so that skillful qualities arise … so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed. Someone practicing like this is practicing for the cessation of skillful behaviors.
‘Và này người thợ mộc, người thực hành như thế nào là đang thực hành để đoạn diệt các giới thiện? Này người thợ mộc, ở đây vị tỳ khưu khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, duy trì tâm, và nỗ lực để không cho các pháp ác bất thiện chưa sanh được sanh khởi; ... để từ bỏ các pháp ác bất thiện đã sanh; ... để làm cho các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi; ... vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, duy trì tâm, và nỗ lực vì sự duy trì, không quên lãng, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh, sự tu tập, và sự viên mãn của các pháp thiện đã sanh. Này người thợ mộc, quả thật người thực hành như vậy là đang thực hành để đoạn diệt các giới thiện.
Katame ca, thapati, akusalā saṅkappā? Kāmasaṅkappo, byāpādasaṅkappo, vihiṁsāsaṅkappo—ime vuccanti, thapati, akusalā saṅkappā.
And what are unskillful thoughts? Purposes of sensuality, of malice, and of cruelty. These are called unskillful thoughts.
266. ‘Và này người thợ mộc, thế nào là các tầm bất thiện? Tầm về dục, tầm về sân, tầm về hại – này người thợ mộc, những điều này được gọi là các tầm bất thiện.
Ime ca, thapati, akusalā saṅkappā kiṁsamuṭṭhānā? Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ. ‘Saññāsamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ. Katamā saññā? Saññāpi hi bahū anekavidhā nānappakārakā. Kāmasaññā, byāpādasaññā, vihiṁsāsaññā—itosamuṭṭhānā akusalā saṅkappā.
And where do these unskillful thoughts stem from? Where they stem from has been stated. You should say that they stem from perception. What perception? Perception takes many and diverse forms. Perceptions of sensuality, malice, and cruelty—unskillful thoughts stem from this.
‘Và này người thợ mộc, các tầm bất thiện này có gì là sự sanh khởi? Sự sanh khởi của chúng cũng đã được nói đến. Nên nói rằng: ‘Có tưởng là sự sanh khởi.’ Tưởng nào? Vì tưởng cũng có nhiều, đa dạng, nhiều loại. Tưởng về dục, tưởng về sân, tưởng về hại – các tầm bất thiện có sự sanh khởi từ đây.
Ime ca, thapati, akusalā saṅkappā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti? Nirodhopi nesaṁ vutto. Idha, thapati, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; etthete akusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti.
And where do these unskillful thoughts cease without remainder? Their cessation has also been stated. It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is where these unskillful thoughts cease without remainder.
Này người thợ mộc, và những tư duy bất thiện này được đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu? Sự đoạn diệt của chúng cũng đã được nói đến. Này người thợ mộc, ở đây, vị tỳ khưu ly dục... cho đến... chứng và trú thiền thứ nhất; tại nơi đây, những tư duy bất thiện ấy được đoạn diệt không còn dư tàn.
Kathaṁ paṭipanno ca, thapati, akusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti? Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya …pe… anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya …pe… uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Evaṁ paṭipanno kho, thapati, akusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
And how is someone practicing for the cessation of unskillful thoughts? It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise … so that unskillful qualities are given up … so that skillful qualities arise … so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed. Someone practicing like this is practicing for the cessation of unskillful thoughts.
Và này người thợ mộc, thế nào là người thực hành con đường đưa đến sự đoạn diệt các tư duy bất thiện? Này người thợ mộc, ở đây, vị tỳ khưu khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, sách tấn tâm, quyết tâm để các pháp ác bất thiện chưa sanh không sanh khởi; ... để đoạn trừ các pháp ác bất thiện đã sanh...; ... để các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi...; ... để các pháp thiện đã sanh được duy trì, không bị lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, vị ấy khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, sách tấn tâm, quyết tâm. Này người thợ mộc, như vậy là người thực hành con đường đưa đến sự đoạn diệt các tư duy bất thiện.
Katame ca, thapati, kusalā saṅkappā? Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṁsāsaṅkappo—ime vuccanti, thapati, kusalā saṅkappā.
And what are skillful thoughts? Thoughts of renunciation, good will, and harmlessness. These are called skillful thoughts.
267. Và này người thợ mộc, thế nào là những tư duy thiện? Tư duy về sự xuất ly, tư duy về sự vô sân, tư duy về sự bất hại – này người thợ mộc, những điều này được gọi là các tư duy thiện.
Ime ca, thapati, kusalā saṅkappā kiṁsamuṭṭhānā? Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ. ‘Saññāsamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ. Katamā saññā? Saññāpi hi bahū anekavidhā nānappakārakā. Nekkhammasaññā, abyāpādasaññā, avihiṁsāsaññā—itosamuṭṭhānā kusalā saṅkappā.
And where do these skillful thoughts stem from? Where they stem from has been stated. You should say that they stem from perception. What perception? Perception takes many and diverse forms. Perceptions of renunciation, good will, and harmlessness—skillful thoughts stem from this.
Và này người thợ mộc, những tư duy thiện này do đâu sanh khởi? Sự sanh khởi của chúng cũng đã được nói đến. Phải nói rằng: ‘Do tưởng sanh khởi’. Tưởng là gì? Vì tưởng cũng có nhiều, nhiều loại, nhiều hình thức khác nhau. Tưởng về sự xuất ly, tưởng về sự vô sân, tưởng về sự bất hại – do những tưởng này mà các tư duy thiện sanh khởi.
Ime ca, thapati, kusalā saṅkappā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti? Nirodhopi nesaṁ vutto. Idha, thapati, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; etthete kusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti.
And where do these skillful thoughts cease without remainder? Their cessation has also been stated. It’s when, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This is where these skillful thoughts cease without remainder.
Và này người thợ mộc, những tư duy thiện này được đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu? Sự đoạn diệt của chúng cũng đã được nói đến. Này người thợ mộc, ở đây, vị tỳ khưu, do làm lắng dịu tầm và tứ... cho đến... chứng và trú thiền thứ hai; tại nơi đây, những tư duy thiện ấy được đoạn diệt không còn dư tàn.
Kathaṁ paṭipanno ca, thapati, kusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti? Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya …pe… anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya …pe… uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Evaṁ paṭipanno kho, thapati, kusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
And how is someone practicing for the cessation of skillful thoughts? It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise … so that unskillful qualities are given up … so that skillful qualities arise … so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed. Someone practicing like this is practicing for the cessation of skillful thoughts.
Và này người thợ mộc, thế nào là người thực hành con đường đưa đến sự đoạn diệt các tư duy thiện? Này người thợ mộc, ở đây, vị tỳ khưu khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, sách tấn tâm, quyết tâm để các pháp ác bất thiện chưa sanh không sanh khởi; ... để đoạn trừ các pháp ác bất thiện đã sanh...; ... để các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi...; ... để các pháp thiện đã sanh được duy trì, không bị lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, vị ấy khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, sách tấn tâm, quyết tâm. Này người thợ mộc, như vậy là người thực hành con đường đưa đến sự đoạn diệt các tư duy thiện.
Katamehi cāhaṁ, thapati, dasahi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ? Idha, thapati, bhikkhu asekhāya sammādiṭṭhiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsaṅkappena samannāgato hoti, asekhāya sammāvācāya samannāgato hoti, asekhena sammākammantena samannāgato hoti, asekhena sammāājīvena samannāgato hoti, asekhena sammāvāyāmena samannāgato hoti, asekhāya sammāsatiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsamādhinā samannāgato hoti, asekhena sammāñāṇena samannāgato hoti, asekhāya sammāvimuttiyā samannāgato hoti—imehi kho ahaṁ, thapati, dasahi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhan”ti.
Chamberlain, when an individual person has what ten qualities do I describe them as an invincible ascetic—accomplished in the skillful, excelling in the skillful, attained to the highest attainment? It’s when a mendicant has an adept’s right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom. When an individual possesses these ten qualities, I describe them as an invincible ascetic—accomplished in the skillful, excelling in the skillful, attained to the highest attainment.”
268. Này người thợ mộc, Ta tuyên bố người nam nào thành tựu mười pháp này là người có thiện pháp viên mãn, có thiện pháp tối thượng, đã đạt đến thành tựu tối thượng, là vị sa-môn bất khả chiến bại? Này người thợ mộc, ở đây, vị tỳ khưu thành tựu chánh kiến vô học, thành tựu chánh tư duy vô học, thành tựu chánh ngữ vô học, thành tựu chánh nghiệp vô học, thành tựu chánh mạng vô học, thành tựu chánh tinh tấn vô học, thành tựu chánh niệm vô học, thành tựu chánh định vô học, thành tựu chánh trí vô học, thành tựu chánh giải thoát vô học. Này người thợ mộc, Ta tuyên bố người nam nào thành tựu mười pháp này là người có thiện pháp viên mãn, có thiện pháp tối thượng, đã đạt đến thành tựu tối thượng, là vị sa-môn bất khả chiến bại.
Idamavoca bhagavā. Attamano pañcakaṅgo thapati bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Pañcakaṅga the chamberlain approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Người thợ mộc Pañcakaṅga hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Samaṇamuṇḍikasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Samaṇamuṇḍika, thứ tám, chấm dứt.