- Majjhima Nikāya 77
Mahāsakuludāyisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāsakuludāyisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
SC 2Lúc bấy giờ, có rất nhiều vị du sĩ, có thời danh, có danh tiếng trú ở Moranivapa (Khổng Tước Lâm), tu viện các du sĩ, như Anugara, Varadhara, và du sĩ Sakuludayi cùng với các vị du sĩ thời danh, danh tiếng khác.
SC 3Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Rājagaha để khất thực. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Rājagaha. Ta hãy đến Moranivapa, tu viện các du sĩ, đi đến gặp du sĩ Sakuludayi”. Rồi Thế Tôn đi đến Moranivapa, tu viện các du sĩ.
SC 4Lúc bấy giờ du sĩ Sakuludayi đang ngồi cùng với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng, bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như vương luận, tặc luận, đại thần luận, binh luận, bố úy luận, chiến đấu luận, thực luận, ẩm luận, y luận, sàng luận, hoa man luận, hương liệu luận, thân tộc luận, xa thừa luận, thôn luận, trấn luận, thị luận, quốc độ luận, phụ nữ luận, anh hùng luận, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, tạp thoại luận, thế giới luận, hải dương luận, hiện hữu, vô hiện hữu luận. Du sĩ Sakuludayi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình
SC 5—Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay Sa-môn Gotama đang đến, vị Tôn giả ấy ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh, nếu biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây.
SC 6Các du sĩ ấy đều im lặng. Rồi Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludayi. Du sĩ Sakuludayi bạch Thế Tôn
SC 7—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến! Bạch Thế Tôn, thiện lai, Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Thế Tôn hãy ngồi! Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
SC 8Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sakuludayi lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludayi đang ngồi một bên
SC 9—Này Udāyi, nay các vị họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn?
SC 10—Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên vấn đề chúng tôi đang hội họp bàn luận. Về sau Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì! Bạch Thế Tôn, trong những ngày trước, nhiều ngày trước nữa, khi các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều ngoại đạo sai khác, ngồi lại và tập họp tại luận nghị đường, đối thoại này được khởi lên: “Thật lợi ích thay cho dân chúng Anga và Magadha, thật tốt đẹp thay cho dân chúng Anga và Magadha khi được những vị Sa-môn, Bà-la-môn nay là những vị lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, những vị sư trưởng đồ chúng, những vị thời danh, những Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, đã đến Rājagaha để an cư trong mùa mưa! Ngài Purāna Kassapa (Bất-lan Ca-diếp) này là bậc lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, đã đến Rājagaha để an cư trong mùa mưa. Ngài Makkhali Gosāla này … Ngài Ajita Kesakambali … Ngài Pakudha Kaccāyana … Ngài Saniaya Bellaṭṭhiputta … Ngài Nigaṇṭha Nātaputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị này đã đến Rājagaha để an cư trong mùa mưa. Sa-môn Gotama này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị này đã đến Rājagaha để an cư trong mùa mưa. Trong những bậc Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này, những bậc lãnh đạo hội chúng, những bậc lãnh đạo đồ chúng, những bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, những bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị nào được các đệ tử cung kính tôn trọng, kính lễ, cúng dường? Và các đệ tử sau khi cung kính tôn trọng đã sống nương tựa như thế nào?”
SC 11Ở đây, có một số người đã nói như sau: “Vị Purāna Kassapa này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị ấy không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử, sau khi cung kính tôn trọng đã không sống nương tựa Purāna Kassapa. Thuở xưa, Purāna Kassapa thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người; ở đấy, một đệ tử của Purāna Kassapa nói lớn tiếng như sau: “Chư Tôn giả, chớ có hỏi Purāna Kassapa về ý nghĩa này. Vị ấy không biết ý nghĩa này, chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Chúng tôi sẽ trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn giả”. Thuở xưa, Purāna Kassapa dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe theo: “Chư tôn giả, hãy nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy không hỏi Chư Tôn giả. Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho những vị ấy”. Nhiều đệ tử của Purāna Kassapa, sau khi kích bác Purāna Kassapa, bỏ đi và nói: “Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và luật này. Làm sao Ông có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta theo chánh hạnh. Ðiều ta nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Chủ trương của Ông đã bị lật ngược, câu hỏi của Ông đã bị bài bác. Ông đã bị thuyết bại. Hãy đến giải vây lời nói ấy, nếu có thể được, gắng thoát khỏi lối bí”. Như vậy, Purāna Kassapa không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và sau khi không cung kính tôn trọng, các đệ tử đã không sống nương tựa Purāna Kassapa. Trái lại, Purāna Kassapa đã bị mạ lị với những lời mắng nhiếc vì hành động của mình.
SC 12Có một số người đã nói như sau: “Vị Makkhali Gosāla này … Vị Ajita Kesakambali … Vị Pukudha Kaccāyana … Vị Sanjaya Bellaṭṭhiputta … Vị Nigaṇṭha Nātaputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng. Vị ấy không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử sau khi cung kính, tôn trọng đã không sống nương tựa Nigaṇṭha Nātaputta. Thuở xưa, Nigaṇṭha Nātaputta thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta lớn tiếng nói như sau: “Chư Tôn giả, chớ có hỏi Nigaṇṭha Nātaputta về ý nghĩa này. Vị ấy không biết ý nghĩa này. Chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Chúng tôi trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn giả”. Thuở xưa Nigaṇṭha Nātaputta dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe theo: “Chư Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy không hỏi chư Tôn giả. Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho những vị ấy”. Nhiều đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta, sau khi kích bác Nigaṇṭha Nātaputta, bỏ đi và nói: “Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và luật này. Làm sao Ông có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta theo chánh hạnh. Ðiều ta nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng. Ðiều đáng nói trước Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Chủ trương của Ông đã bị lật ngược. Câu nói của Ông đã bị bài bác. Ông đã bị thất bại. Hãy đến giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát khỏi lối bí”. Như vậy, Nigaṇṭha Nātaputta không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và sau khi không cung kính tôn trọng, các đệ tử đã không sống nương tựa Nigaṇṭha Nātaputta. Trái lại Nigaṇṭha Nātaputta đã bị mạ lị với những lời mắng nhiếc vì hành động của mình.
SC 13Có một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng. Và vị này được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử sau khi cung kính tôn trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama. Thuở xưa, Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Sa-môn Gotama ho (thành tiếng). Một vị đồng Phạm hạnh dùng đầu gối đập (nhẹ) vào người ấy và nói: “Tôn giả hãy lặng tiếng! Tôn giả chớ có làm ồn! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đang thuyết pháp”. Trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng; nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta đã được nghe”. Ví như có người tại ngã tư đường, đang bóp vắt một bánh mật ong nhỏ trong sạch, và đại chúng đang sống nhiệt tình kỳ vọng. Cũng vậy, trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta sẽ được nghe”. Các đệ tử của Sa-môn Gotama sau khi cãi lộn với các vị đồng Phạm hạnh từ bỏ tu học, trở lại hoàn tục, các vị ấy vẫn tán thán bậc Ðạo sư, tán thán Pháp, tán thán Tăng, tự quở trách mình, không quở trách người khác: “Chính chúng ta thật bất hạnh, chính chúng ta thật thiếu phước, dầu chúng ta xuất gia trong Pháp và Lluật được khéo giảng như vậy mà không thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh cho đến trọn đời”. Họ trở thành những người giữ vườn, hay những người cư sĩ và sống thọ trì năm giới”. Như vậy Sa-môn Gotama được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và các đệ tử sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama.
SC 14—Này Udāyi, Ông thấy nơi ta có bao nhiêu pháp mà do các pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính tôn trọng, sống nương tựa vào Ta?
SC 15—Bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn có năm pháp mà do năm pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn. Thế nào là năm? Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ nhất, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
SC 16Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn là pháp thứ hai con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
SC 17Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ ba, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
SC 18Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ tư, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
SC 19Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Chính pháp này bạch Thế Tôn, là pháp thứ năm, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
SC 20Chính năm pháp này, bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn. Do năm pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng sống nương tựa vào Thế Tôn.
SC 21:: “Sa-môn Gotama ăn ít và tán thán hạnh ăn ít”; này Udāyi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, có những đệ tử của Ta chỉ ăn với một bát (kosa), chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây veluva, chỉ ăn với nửa trái cây veluva, và này Udāyi. Còn Ta, có khi Ta ăn hơn một bình bát này, có khi Ta ăn nhiều hơn như vậy nữa. “Sa-môn Gotama ăn ít và tán thán hạnh ăn ít”; này Udāyi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi tôn trọng, cung kính, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, những đệ tử ấy của Ta, sống nương tựa vào Ta chỉ ăn với một bát, chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây veluva, chỉ ăn với nửa trái cây veluva; những vị ấy vì pháp hạnh này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không tôn trọng, cung kính, không sống nương tựa vào Ta.
SC 22“Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào”; này Udāyi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, có những đệ tử của Ta sống mặc phấn tảo y, mặc thô y. Những vị ấy lượm từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từng đống rác, hay từ tiệm phố, và sau khi làm thành áo sanghati (tăng-già-lê), họ mang loại áo ấy. Còn Ta, này Udāyi, có khi Ta mặc vải y của cư sĩ cúng dường, các chỗ sờn mỏng được bện chắc lại với dây tơ cây bí trắng. “Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào”; này Udāyi, nếu vì vậy các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi tôn trọng, cung kính, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, những vị đệ tử ấy của Ta, sống mặc phấn tảo y, mặc thô y. Những vị ấy lượm từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từ đống rác, hay từ tiệm phố, và sau khi làm thành áo sanghati, họ mang loại áo ấy; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.
SC 23“Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào”, nếu vì vậy, này Udāyi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, có những đệ tử của Ta chỉ ăn những món ăn nhận trong bình bát khất thực, chỉ đi khất thực từng nhà một (không bỏ sót nhà nào); tự thỏa mãn với những món ăn mảy mún, khi đi vào trong nhà, dầu được mời ngồi, cũng không chấp nhận. Còn Ta, này Udāyi, đôi khi Ta nhận ăn những chỗ được mời, nhận ăn các thứ gạo, cháo trong ấy các hạt đen được vứt bỏ, các loại canh, các loại trợ vị. “Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào”; này Udāyi, nếu vì vậy, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, những vị đệ tử ấy của Ta, chỉ ăn những món ăn nhận trong bình bát khất thực, chỉ đi khất thực từng nhà một, tự thỏa mãn với những món ăn mảy mún, khi đi vào trong nhà, dầu được mời ngồi cũng không chấp nhận; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.
SC 24“Sa-môn Gotama sống biết đủ và bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào”; nếu vì vậy, này Udāyi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, có những đệ tử của Ta sống dưới gốc cây, sống ở ngoài trời. Những vị ấy trong tám tháng không sống dưới mái che nào. Còn ta, này Udāyi, có đôi khi Ta sống dưới những ngôi lầu có gác nhọn, có tô vôi trong và ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín. “Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào” và nếu vì vậy, này Udāyi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, các vị đệ tử ấy của Ta, sống dưới gốc cây, sống ở ngoài trời, trong tám tháng không sống dưới mái che nào; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.
SC 25“Sa-môn Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly”; này Udāyi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, có những đệ tử của Ta sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào trong rừng núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy, và nửa tháng một lần mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn. Còn Ta, này Udāyi, đôi khi ta sống đoanh vây xung quanh bởi các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Cư sĩ nam, Cư sĩ nữ, Quốc vương, Ðại thần, Ngoại đạo, đệ tử các ngoại đạo. “Sa-môn Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly”; và nếu vì vậy, này Udāyi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udāyi, các vị đệ tử ấy của Ta, sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào trong núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy và nửa tháng một lần, mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn; những vị đệ tử ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.
SC 26Như vậy, này Udāyi, các đệ tử của Ta do năm pháp này không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.
SC 27Này Udāyi, lại có năm pháp khác, do năm pháp này, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta. Thế nào là năm?
SC 28Ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới: “Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng”. Này Udāyi, chính đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới, nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng”, đây là pháp thứ nhất, này Udāyi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
SC 29Lại nữa, này Udāyi, các đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu. Khi nói: “Ta biết”, nghĩa là Sa-môn Gotama có biết. Khi nói: “Ta thấy”, nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn Gotama thuyết pháp có nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực (Sappatihariyam), không phải không có thần thông lực. Này Udāyi, chính đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu và nghĩ rằng: “Khi nói: “Ta biết”, nghĩa là Sa-môn Gotama có biết: Khi nói: “Ta thấy”, nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn thuyết pháp với nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực, không phải không có thần thông lực”. Ðây là pháp thứ hai, này Udāyi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
SC 30Lại nữa, này Udāyi, đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng trí tuệ và sự kiện này không thể xảy ra khi họ nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama là vị có trí tuệ và thành tựu tuệ uẩn tối thượng. (Tuy vậy) Ngài không thấy trước một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá sau khi khéo léo nạn phá với Chánh pháp”. Này Udāyi, Ông nghĩ thế nào? Các đệ tử của Ta, sau khi biết như vậy, thấy như vậy, có thể làm gián đoạn một cuộc đàm thoại đang diễn tiến nửa chừng không?
SC 31—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 32—Này Udāyi, Ta không chờ đợi sự giáo giới từ nơi những đệ tử của Ta. Trái lại, chính những đệ tử của Ta chờ đợi sự giáo giới từ nơi Ta. Do vậy, này Udāyi, sự kiện này không thể xảy ra khi các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng trí tuệ và suy nghĩ: “Sa-môn Gotama là bậc có trí tuệ và thành tựu tuệ uẩn tối thắng. (Tuy vậy) Ngài không thấy (trước) một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá, sau khi khéo léo nạn phá với chánh pháp”. Ðây là pháp thứ ba, này Udāyi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
SC 33Lại nữa, này Udāyi, những đệ tử của Ta bị đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối, đến Ta và hỏi về khổ Thánh đế. Ðược hỏi về Khổ Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Họ hỏi Ta về Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Ðây là pháp thứ tư, này Udāyi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
(1. Tứ Niệm xứ)
SC 34Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Bốn Niệm xứ. Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời, quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời. Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(2. Tứ Chánh cần)
SC 35Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Bốn Chánh cần. Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được trừ diệt, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm … Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(3. Tứ Thần túc)
SC 36Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Bốn Thần túc. Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo tu tập thần túc, câu hữu với dục Thiền định tinh cần hành … tinh tấn Thiền định … tâm Thiền định tinh cần hành, tu tập thần túc, câu hữu với tư duy Thiền định tinh cần hành. Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(4. Ngũ căn)
SC 37Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Năm Căn. Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo tu tập tín căn hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ, tu tập tinh tấn căn … tu tập niệm căn … tu tập định căn … tu tập tuệ căn, hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(5. Ngũ lực)
SC 38Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Năm Lực. Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo tu tập tín lực, hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ, tu tập tinh tấn lực … tu tập niệm lực … tu tập định lực … tu tập tuệ lực, hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(6. Thất Giác chi)
SC 39Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Bảy Giác chi. Ở đây, này các Udāyi, vị Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ diệt, hướng đến xả, tu tập trạch pháp giác chi … tu tập tinh tấn giác chi … tu tập hỷ giác chi … tu tập khinh an giác chi … tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ diệt, hướng đến xả. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(7. Bát Chánh đạo)
SC 40Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Thánh đạo Tám ngành. Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, tu tập chánh tư duy, tu tập chánh ngữ, tu tập chánh nghiệp, tu tập chánh mạng, tu tập chánh tinh tấn, tu tập chánh niệm, tu tập chánh định. Và ở đây, này Udāyi, các vị đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(8. Tám Giải thoát)
SC 41Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Tám Giải thoát. “Tự mình có sắc, thấy các sắc”, đó là giải thoát thứ nhất. “Quán tưởng nội sắc, thấy các ngoại sắc”, đó là giải thoát thứ hai. “Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy”, đó là giải thoát thứ ba. Vượt hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng đối ngại, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư “Hư không là vô biên”, chứng và trú “Không vô biên xứ”, đó là giải thoát thứ tư. Vượt hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư “Thức là vô biên”, chứng và trú “Thức vô biên xứ”, đó là giải thoát thứ năm. Vượt hoàn toàn “Thức vô biên xứ”, với suy tư “không có vật gì”, chứng và trú “Vô sở hữu xứ”, đó là giải thoát thứ sáu. Vượt hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy. Vượt hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(9. Tám Thắng xứ)
SC 42Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Tám Thắng xứ. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng. “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh … như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh … như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta thấy, ta biết”, đó là thắng xứ thứ năm. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng … như bông Kaṇikāra màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng … như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc màu đỏ, ánh sáng đỏ … như bông Bandhujīvaka màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ … như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng … như sao mai Osadhi màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng … như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(10. Mười Biến xứ)
SC 43Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Mười Biến xứ. Một vị biết được đất biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được nước biến xứ … Một vị biết được lửa biến … Một vị biết được gió biến … Một vị biết được xanh biến … Một vị biết được vàng biến … Một vị biết được đỏ biến … Một vị biết được trắng biến … Một vị biết được hư không biến … Một vị biết được thức biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(11. Bốn Thiền-na)
SC 44Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Bốn Thiền. Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Vị Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này Udāyi, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt, cũng vậy, này Udāyi, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
SC 45Lại nữa, này Udāyi, vị Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Này Udāyi, ví như một hồ nước, nước từ trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần; cũng vậy, này Udāyi, vị Tỷ-kheo thấm nhuần; tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
SC 46Lại nữa, này Udāyi, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ và các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và an trú vào Thiền thứ ba. Vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Này Udāyi, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng; những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần; cũng vậy, này Udāyi, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
SC 47Lại nữa, này Udāyi, vị Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Này Udāyi, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu; cũng vậy, này Udāyi, vị Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(12. Tuệ tri)
SC 48Lại nữa, này Udāyi. Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tuệ tri như sau: “Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc. Ví như, này Udāyi, một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi dây được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, hay màu vàng nhạt. Một người có mắt cầm hòn ngọc ấy trên tay sẽ thấy: “Hòn lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi dây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt”. Cũng vậy, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này biết được như sau: “Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(13. Thân do ý)
SC 49Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào. Ví như, này Udāyi, một người rút một cây lau ra ngoài vỏ, người ấy nghĩ: “Ðây là vỏ, đây là cây lau, vỏ khác, cây lau khác, và cây lau từ vỏ rút ra”. Ví như, này Udāyi, một người rút thanh kiếm từ bao kiếm. Người ấy nghĩ: “Ðây là thanh kiếm, đây là bao kiếm; thanh kiếm khác, bao kiếm khác; và thanh kiếm từ nơi bao kiếm rút ra. Ví như, này Udāyi, một người lột xác một con rắn. Người ấy nghĩ: “Ðây là con rắn, đây là xác rắn; con rắn khác, xác rắn khác; và con rắn từ nơi xác rắn được lột ra”. Cũng vậy, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(14. Thần túc thông)
SC 50Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Ví như, này Udāyi, một người thợ gốm khéo tay, hay đệ tử người thợ gốm, với đất sét khéo nhồi nhuyễn, có thể làm các loại đồ gốm tùy theo sở thích. Ví như, này Udāyi, một người thợ ngà khéo tay, hay đệ tử người thợ ngà, với ngà khéo đẽo khéo dũa, có thể làm các loại đồ ngà tùy theo sở thích. Ví như, này Udāyi, người thợ vàng khéo tay, hay đệ tử người thợ vàng, với vàng khéo tinh nhuyễn có thể làm các loại đồ vàng tùy theo sở thích; cũng vậy, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trong nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(15. Thiên nhĩ thông)
SC 51Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần. Ví như, này Udāyi, một người đang đi qua đường, nghe tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng loa, tiếng xập xỏa và tiếng kiểng. Người ấy nghĩ: “Ðây là tiếng trống lớn, đây là tiếng trống nhỏ, đây là tiếng loa, tiếng xập xỏa, tiếng kiểng. Cũng vậy, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta, y cứ con đường tu hành này, với thiên nhĩ, thanh tịnh, siêu nhân, có thể nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(16. Tha tâm thông)
SC 52Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình được biết như sau: “Tâm tham biết là tâm tham; tâm không tham, biết là tâm không tham. Tâm sân, biết là tâm sân; tâm không sân, biết là tâm không sân. Tâm si, biết là tâm si; tâm không si, biết là tâm không si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú; tâm không chuyên chú, biết là tâm không chuyên chú. Tâm đại hành, biết là tâm đại hành; tâm không đại hành, biết là tâm không đại hành. Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định, biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định, biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát, biết là tâm không giải thoát”. Ví như, này Udāyi, một người đàn bà, một người đàn ông, một thiếu niên trẻ hay một thanh niên ưa trang sức, nhìn mặt của mình trong tấm gương trong sạch sáng suốt, hay một chậu nước trong; nếu mặt có tỳ vết, liền biết mặt có tỳ vết; nếu mặt không có tỳ vết, liền biết mặt không có tỳ vết. Cũng vậy, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta, y cứ con đường tu hành này, sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình được biết như sau: “Tâm tham, biết là tâm tham; tâm không tham biết là tâm không tham. Tâm sân, biết là tâm sân; tâm không sân, biết là tâm không sân. Tâm si biết là tâm si; tâm không si biết là tâm không si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú; tâm không chuyên chú; biết là tâm không chuyên chú. Tâm đại hành, biết là tâm đại hành; tâm không đại hành, biết là tâm không đại hành. Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định, biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định, biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát; biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát, biết là tâm không giải thoát”. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(17. Túc mạng thông)
SC 53Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy các vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với nét đại cương và các chi tiết. Ví như, này Udāyi, một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình. Người ấy nghĩ: “Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta”. Cũng vậy, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời … Như vậy các vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(18. Thiên nhãn thông)
SC 54Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Những vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh nào làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, các vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Những vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Ví như, này Udāyi, một tòa lầu có thượng đài giữa ngã tư đường, một người có mắt đứng trên ấy, sẽ thấy những người đi vào nhà, đi từ nhà ra, đi qua lại trên đường, ngồi ở giữa ngã tư hay trên đài thượng. Người ấy nghĩ: “Những người này đi vào nhà, những người này đi từ nhà ra, những người này đi qua lại trên đường, những người này ngồi giữa ngã tư hay trên đài thượng”. Cũng vậy, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Những vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh … đều do hạnh nghiệp của họ. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(19. Lậu tận thông)
SC 55Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ví như, này Udāyi, tại dãy núi lớn có một hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt đứng trên bờ sông thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại, hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: “Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ”. Cũng vậy, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Và ở đây, này Udāyi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
SC 56Này Udāyi, đây là pháp thứ năm, do pháp này các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
SC 57Này Udāyi, do năm pháp này, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
SC 58Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Du sĩ Sakuludayi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hie6.u đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Đại Sakuludāyi
Tena kho pana samayena sambahulā abhiññātā abhiññātā paribbājakā moranivāpe paribbājakārāme paṭivasanti, seyyathidaṁ—annabhāro varadharo sakuludāyī ca paribbājako aññe ca abhiññātā abhiññātā paribbājakā.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi. Atha kho bhagavato etadahosi: “atippago kho tāva rājagahe piṇḍāya carituṁ. Yannūnāhaṁ yena moranivāpo paribbājakārāmo yena sakuludāyī paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho bhagavā yena moranivāpo paribbājakārāmo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena sakuludāyī paribbājako mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā, seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Addasā kho sakuludāyī paribbājako bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpeti: “appasaddā bhonto hontu; mā bhonto saddamakattha. Ayaṁ samaṇo gotamo āgacchati; appasaddakāmo kho pana so āyasmā appasaddassa vaṇṇavādī. Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti. Atha kho te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho bhagavā yena sakuludāyī paribbājako tenupasaṅkami. Atha kho sakuludāyī paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “etu kho, bhante, bhagavā. Svāgataṁ, bhante, bhagavato. Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya. Nisīdatu, bhante, bhagavā; idamāsanaṁ paññattan”ti. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Sakuludāyīpi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sakuludāyiṁ paribbājakaṁ bhagavā etadavoca:
Now at that time several very well-known wanderers were residing in their monastery in the peacocks’ feeding ground. They included Annabhāra, Varadhara, Sakuludāyī, and other very well-known wanderers.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Rājagaha. Why don’t I visit the wanderer Sakuludāyī at the monastery for the wanderers in the peacocks’ feeding ground?”
So the Buddha went to the monastery for the wanderers.
Now at that time, Sakuludāyī was sitting together with a large assembly of wanderers making an uproar, a colossal racket. They engaged in all kinds of low talk, such as talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place.
Sakuludāyī saw the Buddha coming off in the distance, and hushed his own assembly, “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. Here comes the ascetic Gotama. The venerable likes quiet and praises quiet. Hopefully if he sees that our assembly is quiet he’ll see fit to approach.” Then those wanderers fell silent.
Then the Buddha approached Sakuludāyī, who said to him, “Let the Blessed One come, sir! Welcome to the Blessed One, sir! It’s been a long time since you took the opportunity to come here. Please, sir, sit down, this seat is ready.” The Buddha sat down on the seat spread out, while Sakuludāyī took a low seat and sat to one side.
The Buddha said to him,
237. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, có nhiều du sĩ ngoại đạo nổi tiếng, rất nổi tiếng, đang cư ngụ tại tu viện của các du sĩ ngoại đạo, nơi nuôi dưỡng các con công, như là Annabhāra, Varadhara, du sĩ Sakuludāyī, và các du sĩ ngoại đạo nổi tiếng, rất nổi tiếng khác. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Bấy giờ, Thế Tôn suy nghĩ thế này: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Rājagaha. Ta hãy đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo, nơi nuôi dưỡng các con công, đến chỗ du sĩ Sakuludāyī.” Rồi Thế Tôn đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo, nơi nuôi dưỡng các con công. Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludāyī đang ngồi cùng với một hội chúng du sĩ ngoại đạo đông đảo, đang nói chuyện ồn ào, với tiếng la lớn, tiếng huyên náo, nói đủ thứ chuyện vô ích, như là: chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện kinh sợ, chuyện chiến tranh, chuyện ăn, chuyện uống, chuyện y phục, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện xứ sở, chuyện phụ nữ, chuyện anh hùng, chuyện đường phố, chuyện bến nước, chuyện người đã khuất, chuyện tạp nhạp, chuyện thế gian, chuyện biển cả, chuyện thịnh suy, v.v... Du sĩ Sakuludāyī thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy vậy, ông ra hiệu cho hội chúng của mình: “Quý vị hãy im lặng. Quý vị đừng làm ồn. Sa-môn Gotama đang đến. Vị tôn giả ấy thích sự im lặng, tán thán sự im lặng. Có lẽ khi biết hội chúng im lặng, ngài sẽ nghĩ rằng nên đến gần.” Bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo ấy đều im lặng. Rồi Thế Tôn đi đến chỗ du sĩ Sakuludāyī. Bấy giờ, du sĩ Sakuludāyī bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy đến. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã khéo đến. Bạch Thế Tôn, đã lâu lắm rồi Thế Tôn mới có dịp đến đây. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy ngồi. Chỗ ngồi này đã được dọn sẵn.” Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã dọn sẵn. Du sĩ Sakuludāyī cũng lấy một chỗ ngồi thấp hơn, rồi ngồi xuống một bên. Khi du sĩ Sakuludāyī đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói với ông như sau:
“Tiṭṭhatesā, bhante, kathā yāya mayaṁ etarahi kathāya sannisinnā. Nesā, bhante, kathā bhagavato dullabhā bhavissati pacchāpi savanāya.
Purimāni, bhante, divasāni purimatarāni nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ kutūhalasālāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi: ‘lābhā vata, bho, aṅgamagadhānaṁ, suladdhalābhā vata, bho, aṅgamagadhānaṁ. Tatrime samaṇabrāhmaṇā saṅghino gaṇino gaṇācariyā ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā bahujanassa rājagahaṁ vassāvāsaṁ osaṭā. Ayampi kho pūraṇo kassapo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa; sopi rājagahaṁ vassāvāsaṁ osaṭo. Ayampi kho makkhali gosālo …pe… ajito kesakambalo … pakudho kaccāyano … sañjayo belaṭṭhaputto … nigaṇṭho nāṭaputto saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa; sopi rājagahaṁ vassāvāsaṁ osaṭo. Ayampi kho samaṇo gotamo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa; sopi rājagahaṁ vassāvāsaṁ osaṭo. Ko nu kho imesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saṅghīnaṁ gaṇīnaṁ gaṇācariyānaṁ ñātānaṁ yasassinaṁ titthakarānaṁ sādhusammatānaṁ bahujanassa sāvakānaṁ sakkato garukato mānito pūjito, kañca pana sāvakā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharantī’ti?
“Sir, leave aside what we were sitting talking about just now. It won’t be hard for you to hear about that later.
Sir, a few days ago several ascetics and brahmins who follow various other religions were sitting together at the debating hall, and this discussion came up among them: ‘The people of Aṅga and Magadha are so fortunate, so very fortunate! For there are these ascetics and brahmins who lead an order and a community, and tutor a community. They’re well-known and famous religious founders, deemed holy by many people. And they have come down for the rainy season residence at Rājagaha. They include Pūraṇa Kassapa, the bamboo-staffed ascetic Gosāla, Ajita of the hair blanket, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhiputta, and the Jain ascetic of the Ñātika clan. This ascetic Gotama also leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. And he too has come down for the rains residence at Rājagaha. Which of these ascetics and brahmins is honored, respected, revered, and venerated by their disciples? And how do their disciples, honoring and respecting them, remain loyal?’
238. “Này Udāyī, vừa rồi các ông ngồi hội họp bàn luận về chuyện gì vậy? Và câu chuyện gì của các ông đã bị bỏ dở?” “Bạch Thế Tôn, xin hãy để qua một bên câu chuyện mà chúng con vừa rồi ngồi hội họp bàn luận. Bạch Thế Tôn, câu chuyện ấy không khó để Thế Tôn nghe lại sau này. Bạch Thế Tôn, trong những ngày trước, những ngày trước nữa, khi các Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều giáo phái khác nhau đang ngồi hội họp, tụ tập trong giảng đường, câu chuyện này đã khởi lên: ‘Thật là may mắn cho dân chúng xứ Aṅga và Magadha! Thật là lợi lộc lớn cho dân chúng xứ Aṅga và Magadha! Vì những Sa-môn, Bà-la-môn này, là những vị có giáo đoàn, có hội chúng, là giáo chủ, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người kính trọng, đã đến Rājagaha để an cư mùa mưa. Vị Pūraṇa Kassapa này cũng có giáo đoàn, có hội chúng, là giáo chủ, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người kính trọng; vị ấy cũng đã đến Rājagaha để an cư mùa mưa. Vị Makkhali Gosāla này cũng vậy... Ajita Kesakambala... Pakudha Kaccāyana... Sañjaya Belaṭṭhaputta... Nigaṇṭha Nāṭaputta cũng có giáo đoàn, có hội chúng, là giáo chủ, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người kính trọng; vị ấy cũng đã đến Rājagaha để an cư mùa mưa. Sa-môn Gotama này cũng có giáo đoàn, có hội chúng, là giáo chủ, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người kính trọng; vị ấy cũng đã đến Rājagaha để an cư mùa mưa. Trong số các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính này, những vị có giáo đoàn, có hội chúng, là giáo chủ, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người kính trọng, vị nào được các đệ tử tôn kính, quý trọng, tôn sùng, cúng dường? Và các đệ tử nương tựa vào vị nào mà sống, sau khi đã tôn kính, quý trọng vị ấy?’”
Tatrekacce evamāhaṁsu: ‘ayaṁ kho pūraṇo kassapo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa; so ca kho sāvakānaṁ na sakkato na garukato na mānito na pūjito, na ca pana pūraṇaṁ kassapaṁ sāvakā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti. Bhūtapubbaṁ pūraṇo kassapo anekasatāya parisāya dhammaṁ deseti. Tatraññataro pūraṇassa kassapassa sāvako saddamakāsi: “mā bhonto pūraṇaṁ kassapaṁ etamatthaṁ pucchittha; neso etaṁ jānāti; mayametaṁ jānāma, amhe etamatthaṁ pucchatha; mayametaṁ bhavantānaṁ byākarissāmā”ti. Bhūtapubbaṁ pūraṇo kassapo bāhā paggayha kandanto na labhati: “appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha. Nete, bhavante, pucchanti, amhe ete pucchanti; mayametesaṁ byākarissāmā”ti. Bahū kho pana pūraṇassa kassapassa sāvakā vādaṁ āropetvā apakkantā: “na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi, kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi? Micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno, sahitaṁ me, asahitaṁ te, purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca, adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ, āropito te vādo, niggahitosi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī”ti. Iti pūraṇo kassapo sāvakānaṁ na sakkato na garukato na mānito na pūjito, na ca pana pūraṇaṁ kassapaṁ sāvakā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti. Akkuṭṭho ca pana pūraṇo kassapo dhammakkosenā’ti.
Some of them said: ‘This Pūraṇa Kassapa leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. But he’s not honored, respected, revered, and venerated by his disciples. And his disciples, not honoring and respecting him, don’t remain loyal to him. Once it so happened that he was teaching an assembly of many hundreds. Then one of his disciples made a noise, “My good fellows, don’t ask Pūraṇa Kassapa about that. He doesn’t know that. I know it. Ask me about it, and I’ll answer you.” Once it so happened that Pūraṇa Kassapa didn’t get his way, though he called out with raised arms, “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. They’re not asking you, they’re asking me! I’ll answer you!” Indeed, many of his disciples have left him after refuting his doctrine: “You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. I stay on topic, you don’t. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!” That’s how Pūraṇa Kassapa is not honored, respected, revered, venerated, and esteemed by his disciples. On the contrary, his disciples, not honoring and respecting him, don’t remain loyal to him. Rather, he’s reviled, and rightly so.’
239. “Trong số ấy, một số người nói như sau: ‘Này, Pūraṇa Kassapa đây là vị có Tăng chúng, có giáo đoàn, là vị giáo chủ, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện nhân; thế nhưng, vị ấy không được các đệ tử cung kính, không được trọng vọng, không được tôn trọng, không được cúng dường; và các đệ tử đã không sống nương tựa, cung kính, trọng vọng Pūraṇa Kassapa. Chuyện đã xảy ra trong quá khứ, Pūraṇa Kassapa đang thuyết pháp cho một hội chúng đông hàng trăm người. Tại đó, một đệ tử của Pūraṇa Kassapa đã gây ra tiếng động: ‘Thưa quý vị, xin đừng hỏi Pūraṇa Kassapa về vấn đề này; vị ấy không biết điều này; chúng tôi biết điều này, hãy hỏi chúng tôi về vấn đề này; chúng tôi sẽ giải thích điều này cho quý vị.’ Chuyện đã xảy ra trong quá khứ, Pūraṇa Kassapa đã giơ hai tay lên khóc lóc mà không thể ngăn được: ‘Thưa quý vị, xin hãy giữ im lặng, thưa quý vị, xin đừng làm ồn. Họ không hỏi quý vị, họ hỏi chúng tôi; chúng tôi sẽ giải thích cho họ.’ Tuy nhiên, nhiều đệ tử của Pūraṇa Kassapa đã rời bỏ sau khi công kích giáo lý của ông rằng: ‘Ông không biết Pháp và Luật này, tôi biết Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông là người thực hành tà đạo, tôi là người thực hành chánh đạo. Lời của tôi hợp lý, lời của ông không hợp lý. Điều đáng nói trước thì ông lại nói sau, điều đáng nói sau thì ông lại nói trước. Điều ông đã dày công tu tập đã bị đảo lộn. Giáo lý của ông đã bị công kích. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi tìm cách giải thoát khỏi sự công kích đi, hoặc hãy gỡ rối nếu ông có thể.’ Như vậy, Pūraṇa Kassapa không được các đệ tử cung kính, không được trọng vọng, không được tôn trọng, không được cúng dường; và các đệ tử đã không sống nương tựa, cung kính, trọng vọng Pūraṇa Kassapa. Và Pūraṇa Kassapa đã bị mắng nhiếc bằng lời mắng nhiếc đúng với sự thật.’”
Ekacce evamāhaṁsu: ‘ayampi kho makkhali gosālo …pe… ajito kesakambalo … pakudho kaccāyano … sañjayo belaṭṭhaputto … nigaṇṭho nāṭaputto saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa; so ca kho sāvakānaṁ na sakkato na garukato na mānito na pūjito, na ca pana nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ sāvakā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti. Bhūtapubbaṁ nigaṇṭho nāṭaputto anekasatāya parisāya dhammaṁ deseti. Tatraññataro nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvako saddamakāsi: “mā bhonto nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etamatthaṁ pucchittha; neso etaṁ jānāti; mayametaṁ jānāma, amhe etamatthaṁ pucchatha; mayametaṁ bhavantānaṁ byākarissāmā”ti. Bhūtapubbaṁ nigaṇṭho nāṭaputto bāhā paggayha kandanto na labhati: “appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha. Nete bhavante pucchanti, amhe ete pucchanti; mayametesaṁ byākarissāmā”ti. Bahū kho pana nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvakā vādaṁ āropetvā apakkantā: “na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi. Kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi? Micchāpaṭipanno tvamasi. Ahamasmi sammāpaṭipanno. Sahitaṁ me asahitaṁ te, purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca, adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ, āropito te vādo, niggahitosi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī”ti. Iti nigaṇṭho nāṭaputto sāvakānaṁ na sakkato na garukato na mānito na pūjito, na ca pana nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ sāvakā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti. Akkuṭṭho ca pana nigaṇṭho nāṭaputto dhammakkosenā’ti.
Others said: ‘This bamboo-staffed ascetic Gosāla … Ajita of the hair blanket … Pakudha Kaccāyana … Sañjaya Belaṭṭhiputta … This Jain ascetic of the Ñātika clan leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. But he’s not honored, respected, revered, and venerated by his disciples. And his disciples, not honoring and respecting him, don’t remain loyal to him. Once it so happened that he was teaching an assembly of many hundreds. Then one of his disciples made a noise, “My good fellows, don’t ask the Jain Ñātika about that. He doesn’t know that. I know it. Ask me about it, and I’ll answer you.” Once it so happened that the Jain Ñātika didn’t get his way, though he called out with raised arms, “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. They’re not asking you, they’re asking me! I’ll answer you!” Indeed, many of his disciples have left him after refuting his doctrine: “You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. I stay on topic, you don’t. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!” That’s how the Jain Ñātika is not honored, respected, revered, and venerated by his disciples. On the contrary, his disciples, not honoring and respecting him, don’t remain loyal to him. Rather, he’s reviled, and rightly so.’
“Một số người nói như sau: ‘Cả Makkhali Gosāla... (vân vân)... cả Ajita Kesakambala... cả Pakudha Kaccāyana... cả Sañjaya Belaṭṭhaputta... cả Nigaṇṭha Nāṭaputta này cũng là vị có Tăng chúng, có giáo đoàn, là vị giáo chủ, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện nhân; thế nhưng, vị ấy không được các đệ tử cung kính, không được trọng vọng, không được tôn trọng, không được cúng dường; và các đệ tử đã không sống nương tựa, cung kính, trọng vọng Nigaṇṭha Nāṭaputta. Chuyện đã xảy ra trong quá khứ, Nigaṇṭha Nāṭaputta đang thuyết pháp cho một hội chúng đông hàng trăm người. Tại đó, một đệ tử của Nigaṇṭha Nāṭaputta đã gây ra tiếng động: ‘Thưa quý vị, xin đừng hỏi Nigaṇṭha Nāṭaputta về vấn đề này; vị ấy không biết điều này; chúng tôi biết điều này, hãy hỏi chúng tôi về vấn đề này; chúng tôi sẽ giải thích điều này cho quý vị.’ Chuyện đã xảy ra trong quá khứ, Nigaṇṭha Nāṭaputta đã giơ hai tay lên khóc lóc mà không thể ngăn được: ‘Thưa quý vị, xin hãy giữ im lặng, thưa quý vị, xin đừng làm ồn. Họ không hỏi quý vị, họ hỏi chúng tôi; chúng tôi sẽ giải thích cho họ.’ Tuy nhiên, nhiều đệ tử của Nigaṇṭha Nāṭaputta đã rời bỏ sau khi công kích giáo lý của ông rằng: ‘Ông không biết Pháp và Luật này, tôi biết Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông là người thực hành tà đạo. Tôi là người thực hành chánh đạo. Lời của tôi hợp lý, lời của ông không hợp lý. Điều đáng nói trước thì ông lại nói sau, điều đáng nói sau thì ông lại nói trước. Điều ông đã dày công tu tập đã bị đảo lộn. Giáo lý của ông đã bị công kích. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi tìm cách giải thoát khỏi sự công kích đi, hoặc hãy gỡ rối nếu ông có thể.’ Như vậy, Nigaṇṭha Nāṭaputta không được các đệ tử cung kính, không được trọng vọng, không được tôn trọng, không được cúng dường; và các đệ tử đã không sống nương tựa, cung kính, trọng vọng Nigaṇṭha Nāṭaputta. Và Nigaṇṭha Nāṭaputta đã bị mắng nhiếc bằng lời mắng nhiếc đúng với sự thật.’”
Ekacce evamāhaṁsu: ‘ayampi kho samaṇo gotamo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa; so ca kho sāvakānaṁ sakkato garukato mānito pūjito, samaṇañca pana gotamaṁ sāvakā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti. Bhūtapubbaṁ samaṇo gotamo anekasatāya parisāya dhammaṁ desesi. Tatraññataro samaṇassa gotamassa sāvako ukkāsi. Tamenāññataro sabrahmacārī jaṇṇukena ghaṭṭesi: “appasaddo āyasmā hotu, māyasmā saddamakāsi, satthā no bhagavā dhammaṁ desesī”ti. Yasmiṁ samaye samaṇo gotamo anekasatāya parisāya dhammaṁ deseti, neva tasmiṁ samaye samaṇassa gotamassa sāvakānaṁ khipitasaddo vā hoti ukkāsitasaddo vā. Tamenaṁ mahājanakāyo paccāsīsamānarūpo paccupaṭṭhito hoti: “yaṁ no bhagavā dhammaṁ bhāsissati taṁ no sossāmā”ti. Seyyathāpi nāma puriso cātummahāpathe khuddamadhuṁ anelakaṁ pīḷeyya. Tamenaṁ mahājanakāyo paccāsīsamānarūpo paccupaṭṭhito assa. Evameva yasmiṁ samaye samaṇo gotamo anekasatāya parisāya dhammaṁ deseti, neva tasmiṁ samaye samaṇassa gotamassa sāvakānaṁ khipitasaddo vā hoti ukkāsitasaddo vā. Tamenaṁ mahājanakāyo paccāsīsamānarūpo paccupaṭṭhito hoti: “yaṁ no bhagavā dhammaṁ bhāsissati taṁ no sossāmā”ti. Yepi samaṇassa gotamassa sāvakā sabrahmacārīhi sampayojetvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattanti tepi satthu ceva vaṇṇavādino honti, dhammassa ca vaṇṇavādino honti, saṅghassa ca vaṇṇavādino honti, attagarahinoyeva honti anaññagarahino, “mayamevamhā alakkhikā mayaṁ appapuññā te mayaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā nāsakkhimhā yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caritun”ti. Te ārāmikabhūtā vā upāsakabhūtā vā pañcasikkhāpade samādāya vattanti. Iti samaṇo gotamo sāvakānaṁ sakkato garukato mānito pūjito, samaṇañca pana gotamaṁ sāvakā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharantī’”ti.
Others said: ‘This ascetic Gotama leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. He’s honored, respected, revered, and venerated by his disciples. And his disciples, honoring and respecting him, remain loyal to him. Once it so happened that he was teaching an assembly of many hundreds. Then one of his disciples cleared their throat. And one of their spiritual companions nudged them with their knee, to indicate, “Hush, venerable, don’t make sound! Our teacher, the Blessed One, is teaching!” While the ascetic Gotama is teaching an assembly of many hundreds, there is no sound of his disciples coughing or clearing their throats. That large crowd is poised expectantly at the ready, thinking, “Whatever the Buddha teaches, we shall listen to it.” It’s like when there’s a person at the crossroads pressing out pure dwarf-bee honey, and a large crowd is poised expectantly at the ready. In the same way, while the ascetic Gotama is teaching an assembly of many hundreds, there is no sound of his disciples coughing or clearing their throats. That large crowd is poised expectantly at the ready, thinking, “Whatever the Buddha teaches, we shall listen to it.” Even when disciples of the ascetic Gotama, having clashed with their spiritual companions, resign the training and return to a lesser life, they speak only praise of the Teacher, the teaching, and the Saṅgha. They blame only themselves, not others: “We were unlucky, we had little merit. For even after going forth in such a well explained teaching and training we weren’t able to practice for life the perfectly full and pure spiritual life.” They become monastery workers or lay followers, and they proceed having undertaken the five precepts. That’s how the ascetic Gotama is honored, respected, revered, and venerated by his disciples. And that’s how his disciples, honoring and respecting him, remain loyal to him.’”
240. Một số người nói như sau: ‘Sa-môn Gotama này có Tăng chúng, có giáo đoàn, là vị đạo sư của giáo đoàn, nổi tiếng, có danh tiếng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện nhân; và vị ấy được các đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường; và các đệ tử sống nương tựa Sa-môn Gotama, sau khi đã cung kính, tôn trọng ngài. Chuyện đã xảy ra trong quá khứ, Sa-môn Gotama thuyết pháp cho một hội chúng hàng trăm người. Ở đó, một vị đệ tử của Sa-môn Gotama ho. Một vị đồng phạm hạnh khác đã dùng đầu gối huých vị ấy và nói: ‘Thưa Tôn giả, hãy im lặng, mong Tôn giả đừng gây ra tiếng động, bậc Đạo sư của chúng ta, Thế Tôn, đang thuyết pháp’. Vào lúc Sa-môn Gotama thuyết pháp cho một hội chúng hàng trăm người, vào lúc ấy không có tiếng hắt hơi hay tiếng ho của các đệ tử Sa-môn Gotama. Đại chúng ấy đứng đó với tâm trạng mong chờ: ‘Pháp nào Thế Tôn sẽ thuyết cho chúng ta, chúng ta sẽ lắng nghe pháp ấy’. Ví như một người vắt mật ong nguyên chất tại ngã tư đường. Đại chúng ấy sẽ đứng đó với tâm trạng mong chờ. Cũng vậy, vào lúc Sa-môn Gotama thuyết pháp cho một hội chúng hàng trăm người, vào lúc ấy không có tiếng hắt hơi hay tiếng ho của các đệ tử Sa-môn Gotama. Đại chúng ấy đứng đó với tâm trạng mong chờ: ‘Pháp nào Thế Tôn sẽ thuyết cho chúng ta, chúng ta sẽ lắng nghe pháp ấy’. Ngay cả những đệ tử của Sa-môn Gotama, sau khi có sự bất hòa với các vị đồng phạm hạnh, đã từ bỏ học pháp và hoàn tục, họ vẫn là những người tán thán bậc Đạo sư, là những người tán thán Pháp, và là những người tán thán Tăng. Họ chỉ tự trách mình mà không chê bai người khác: ‘Chính chúng tôi là những người không may mắn, chúng tôi là những người ít phước đức, chúng tôi đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vậy mà không thể sống đời phạm hạnh trọn vẹn, thanh tịnh cho đến trọn đời’. Họ sống như những người phục vụ trong tu viện hoặc như những cận sự nam, sau khi đã thọ trì năm học giới. Như vậy, Sa-môn Gotama được các đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường; và các đệ tử sống nương tựa Sa-môn Gotama, sau khi đã cung kính, tôn trọng ngài’.
“Kati pana tvaṁ, udāyi, mayi dhamme samanupassasi, yehi mamaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharantī”ti?
“Pañca kho ahaṁ, bhante, bhagavati dhamme samanupassāmi yehi bhagavantaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti. Katame pañca?
Bhagavā hi, bhante, appāhāro, appāhāratāya ca vaṇṇavādī. Yampi, bhante, bhagavā appāhāro, appāhāratāya ca vaṇṇavādī imaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavati paṭhamaṁ dhammaṁ samanupassāmi yena bhagavantaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
“But Udāyī, how many qualities do you see in me, because of which my disciples honor, respect, revere, and venerate me; and honoring and respecting me, they remain loyal to me?”
“Sir, I see five such qualities in the Buddha. What five?
The Buddha eats little and praises eating little. This is the first such quality I see in the Buddha.
241. Này Udāyi, ông thấy nơi ta có bao nhiêu pháp, do những pháp ấy mà các đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường ta, và sống nương tựa ta sau khi đã cung kính, tôn trọng? Bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn có năm pháp, do những pháp ấy mà các đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường Thế Tôn, và sống nương tựa ngài sau khi đã cung kính, tôn trọng. Năm pháp ấy là gì? Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít, và tán thán việc ăn ít. Bạch Thế Tôn, việc Thế Tôn ăn ít và tán thán việc ăn ít, bạch Thế Tôn, con thấy đây là pháp thứ nhất nơi Thế Tôn, do pháp ấy mà các đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường Thế Tôn, và sống nương tựa ngài sau khi đã cung kính, tôn trọng.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā santuṭṭho itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī. Yampi, bhante, bhagavā santuṭṭho itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, imaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavati dutiyaṁ dhammaṁ samanupassāmi yena bhagavantaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
Furthermore, the Buddha is content with any kind of robe, and praises such contentment. This is the second such quality I see in the Buddha.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất kỳ loại y nào, và tán thán sự biết đủ với bất kỳ loại y nào. Bạch Thế Tôn, việc Thế Tôn biết đủ với bất kỳ loại y nào, và tán thán sự biết đủ với bất kỳ loại y nào, bạch Thế Tôn, con thấy đây là pháp thứ hai nơi Thế Tôn, do pháp ấy mà các đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường Thế Tôn, và sống nương tựa ngài sau khi đã cung kính, tôn trọng.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā santuṭṭho itarītarena piṇḍapātena, itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī. Yampi, bhante, bhagavā santuṭṭho itarītarena piṇḍapātena, itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, imaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavati tatiyaṁ dhammaṁ samanupassāmi yena bhagavantaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
Furthermore, the Buddha is content with any kind of almsfood, and praises such contentment. This is the third such quality I see in the Buddha.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất kỳ vật thực khất thực nào, và tán thán sự biết đủ với bất kỳ vật thực khất thực nào. Bạch Thế Tôn, việc Thế Tôn biết đủ với bất kỳ vật thực khất thực nào, và tán thán sự biết đủ với bất kỳ vật thực khất thực nào, bạch Thế Tôn, con thấy đây là pháp thứ ba nơi Thế Tôn, do pháp ấy mà các đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường Thế Tôn, và sống nương tựa ngài sau khi đã cung kính, tôn trọng.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā santuṭṭho itarītarena senāsanena, itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī. Yampi, bhante, bhagavā santuṭṭho itarītarena senāsanena, itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, imaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavati catutthaṁ dhammaṁ samanupassāmi yena bhagavantaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
Furthermore, the Buddha is content with any kind of lodging, and praises such contentment. This is the fourth such quality I see in the Buddha.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất kỳ chỗ ở nào, và tán thán sự biết đủ với bất kỳ chỗ ở nào. Bạch Thế Tôn, việc Thế Tôn biết đủ với bất kỳ chỗ ở nào, và tán thán sự biết đủ với bất kỳ chỗ ở nào, bạch Thế Tôn, con thấy đây là pháp thứ tư nơi Thế Tôn, do pháp ấy mà các đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường Thế Tôn, và sống nương tựa ngài sau khi đã cung kính, tôn trọng.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā pavivitto, pavivekassa ca vaṇṇavādī. Yampi, bhante, bhagavā pavivitto, pavivekassa ca vaṇṇavādī, imaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavati pañcamaṁ dhammaṁ samanupassāmi yena bhagavantaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
Furthermore, the Buddha is secluded, and praises seclusion. This is the fifth such quality I see in the Buddha.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly, và tán thán sự viễn ly. Bạch Thế Tôn, việc Thế Tôn sống viễn ly, và tán thán sự viễn ly, bạch Thế Tôn, con thấy đây là pháp thứ năm nơi Thế Tôn, do pháp ấy mà các đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường Thế Tôn, và sống nương tựa ngài sau khi đã cung kính, tôn trọng.
Ime kho ahaṁ, bhante, bhagavati pañca dhamme samanupassāmi yehi bhagavantaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharantī”ti.
These are the five qualities I see in the Buddha, because of which his disciples honor, respect, revere, and venerate him; and honoring and respecting him, they remain loyal to him.”
“Bạch Thế Tôn, con nhận thấy rõ nơi Thế Tôn có năm pháp này, mà qua đó các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường Thế Tôn; sau khi đã tôn kính và trọng vọng, họ sống nương tựa vào Thế Tôn.”
“‘Appāhāro samaṇo gotamo, appāhāratāya ca vaṇṇavādī’ti, iti ce maṁ, udāyi, sāvakā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ, santi kho pana me, udāyi, sāvakā kosakāhārāpi aḍḍhakosakāhārāpi beluvāhārāpi aḍḍhabeluvāhārāpi. Ahaṁ kho pana, udāyi, appekadā iminā pattena samatittikampi bhuñjāmi bhiyyopi bhuñjāmi. ‘Appāhāro samaṇo gotamo, appāhāratāya ca vaṇṇavādī’ti, iti ce maṁ, udāyi, sāvakā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ, ye te, udāyi, mama sāvakā kosakāhārāpi aḍḍhakosakāhārāpi beluvāhārāpi aḍḍhabeluvāhārāpi na maṁ te iminā dhammena sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ.
“Suppose, Udāyī, my disciples were loyal to me because I eat little. Well, there are disciples of mine who eat a tumbler of food, or half a tumbler; they eat a wood-apple, or half a wood-apple. But sometimes I even eat this bowl full to the brim, or even more. So if it were the case that my disciples are loyal to me because I eat little, then those disciples who eat even less would not be loyal to me.
242. Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú vì nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama ăn ít, và là người tán thán việc ăn ít,’ thì này Udāyi, lại nữa, có những đệ tử của ta chỉ ăn một chén nhỏ, nửa chén nhỏ, một quả beluva, hay nửa quả beluva. Còn ta, này Udāyi, có khi dùng bát này, ăn đến miệng bát, và có khi còn ăn nhiều hơn. Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú vì nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama ăn ít, và là người tán thán việc ăn ít,’ thì này Udāyi, những đệ tử của ta mà chỉ ăn một chén nhỏ, nửa chén nhỏ, một quả beluva, hay nửa quả beluva, họ không nên vì pháp này mà tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú.
‘Santuṭṭho samaṇo gotamo itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī’ti, iti ce maṁ, udāyi, sāvakā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ, santi kho pana me, udāyi, sāvakā paṁsukūlikā lūkhacīvaradharā te susānā vā saṅkārakūṭā vā pāpaṇikā vā nantakāni uccinitvā saṅghāṭiṁ karitvā dhārenti. Ahaṁ kho panudāyi, appekadā gahapaticīvarāni dhāremi daḷhāni satthalūkhāni alābulomasāni. ‘Santuṭṭho samaṇo gotamo itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī’ti, iti ce maṁ, udāyi, sāvakā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ, ye te, udāyi, mama sāvakā paṁsukūlikā lūkhacīvaradharā te susānā vā saṅkārakūṭā vā pāpaṇikā vā nantakāni uccinitvā saṅghāṭiṁ karitvā dhārenti, na maṁ te iminā dhammena sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ.
‘Santuṭṭho samaṇo gotamo itarītarena piṇḍapātena, itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī’ti, iti ce maṁ, udāyi, sāvakā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ, santi kho pana me, udāyi, sāvakā piṇḍapātikā sapadānacārino uñchāsake vate ratā, te antaragharaṁ paviṭṭhā samānā āsanenapi nimantiyamānā na sādiyanti.
Suppose my disciples were loyal to me because I’m content with any kind of robe. Well, there are disciples of mine who have rag robes, wearing shabby robes. They gather scraps from charnel grounds, rubbish dumps, and shops, make them into a patchwork robe and wear it. But sometimes I wear robes offered by householders that are strong, yet next to which bottle-gourd down is coarse. So if it were the case that my disciples are loyal to me because I’m content with any kind of robe, then those disciples who wear rag robes would not be loyal to me.
Suppose my disciples were loyal to me because I’m content with any kind of almsfood. Well, there are disciples of mine who eat only almsfood, wander indiscriminately for almsfood, happy to eat whatever they glean. When they’ve entered an inhabited area, they don’t consent when invited to sit down.
Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú vì nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama tri túc với bất kỳ y phục nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ y phục nào,’ thì này Udāyi, lại nữa, có những đệ tử của ta là người mặc y phấn tảo, mặc y thô xấu. Họ từ nghĩa địa, hoặc đống rác, hoặc từ cửa tiệm, lượm những mảnh giẻ rách, may thành y saṅghāṭi và mặc nó. Còn ta, này Udāyi, có khi ta mặc y do gia chủ cúng dường, loại bền chắc, được cắt bằng dao, mềm mại như lông tơ quả bầu. Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú vì nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama tri túc với bất kỳ y phục nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ y phục nào,’ thì này Udāyi, những đệ tử của ta là người mặc y phấn tảo, mặc y thô xấu, họ từ nghĩa địa, hoặc đống rác, hoặc từ cửa tiệm, lượm những mảnh giẻ rách, may thành y saṅghāṭi và mặc nó, họ không nên vì pháp này mà tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú.
Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú vì nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama tri túc với bất kỳ vật thực khất thực nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ vật thực khất thực nào,’ thì này Udāyi, lại nữa, có những đệ tử của ta là người chỉ ăn đồ khất thực, đi khất thực từng nhà không bỏ sót, ưa thích hạnh lượm lặt. Họ, khi đã vào trong làng, dù được mời ngồi cũng không chấp nhận. Còn ta, này Udāyi, có khi ta dùng bữa theo lời mời, ăn cơm nấu từ gạo sālī đã được lựa bỏ hạt đen, với nhiều món canh, nhiều món đồ ăn. Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú vì nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama tri túc với bất kỳ vật thực khất thực nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ vật thực khất thực nào,’ thì này Udāyi, những đệ tử của ta là người chỉ ăn đồ khất thực, đi khất thực từng nhà không bỏ sót, ưa thích hạnh lượm lặt, họ, khi đã vào trong làng, dù được mời ngồi cũng không chấp nhận, họ không nên vì pháp này mà tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú.
‘Santuṭṭho samaṇo gotamo itarītarena senāsanena, itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī’ti, iti ce maṁ, udāyi, sāvakā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ, santi kho pana me, udāyi, sāvakā rukkhamūlikā abbhokāsikā, te aṭṭhamāse channaṁ na upenti. Ahaṁ kho panudāyi, appekadā kūṭāgāresupi viharāmi ullittāvalittesu nivātesu phusitaggaḷesu pihitavātapānesu. ‘Santuṭṭho samaṇo gotamo itarītarena senāsanena, itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī’ti, iti ce maṁ, udāyi, sāvakā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ, ye te, udāyi, mama sāvakā rukkhamūlikā abbhokāsikā te aṭṭhamāse channaṁ na upenti, na maṁ te iminā dhammena sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ.
Suppose my disciples were loyal to me because I’m content with any kind of lodging. Well, there are disciples of mine who stay at the root of a tree, in the open air. For eight months they don’t go under a roof. But sometimes I even stay in bungalows, plastered inside and out, draft-free, with doors fastened and windows shuttered. So if it were the case that my disciples are loyal to me because I’m content with any kind of lodging, then those disciples who stay at the root of a tree would not be loyal to me.
Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú vì nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama tri túc với bất kỳ chỗ ở nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ chỗ ở nào,’ thì này Udāyi, lại nữa, có những đệ tử của ta là người sống ở gốc cây, người sống ngoài trời. Họ trong tám tháng không đến gần nơi có mái che. Còn ta, này Udāyi, có khi ta trú trong những ngôi nhà có nóc nhọn, được trét vữa trong ngoài, kín gió, cửa đóng then cài, cửa sổ che kín. Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú vì nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama tri túc với bất kỳ chỗ ở nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ chỗ ở nào,’ thì này Udāyi, những đệ tử của ta là người sống ở gốc cây, người sống ngoài trời, họ trong tám tháng không đến gần nơi có mái che, họ không nên vì pháp này mà tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta, và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, nương tựa ta mà an trú.
‘Pavivitto samaṇo gotamo, pavivekassa ca vaṇṇavādī’ti, iti ce maṁ, udāyi, sāvakā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ, santi kho pana me, udāyi, sāvakā āraññikā pantasenāsanā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni ajjhogāhetvā viharanti, te anvaddhamāsaṁ saṅghamajjhe osaranti pātimokkhuddesāya. Ahaṁ kho panudāyi, appekadā ākiṇṇo viharāmi bhikkhūhi bhikkhunīhi upāsakehi upāsikāhi raññā rājamahāmattehi titthiyehi titthiyasāvakehi. ‘Pavivitto samaṇo gotamo, pavivekassa ca vaṇṇavādī’ti, iti ce maṁ, udāyi, sāvakā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ. Ye te, udāyi, mama sāvakā āraññakā pantasenāsanā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni ajjhogāhetvā viharanti te anvaddhamāsaṁ saṅghamajjhe osaranti pātimokkhuddesāya, na maṁ te iminā dhammena sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyuṁ.
Suppose my disciples were loyal to me because I’m secluded and I praise seclusion. Well, there are disciples of mine who live in the wilderness, in remote lodgings. Having ventured deep into remote lodgings in the wilderness and the forest, they live there, coming down to the midst of the Saṅgha each fortnight for the recitation of the monastic code. But sometimes I live crowded by monks, nuns, laymen, and laywomen; by rulers and their chief ministers, and monastics of other religions and their disciples. So if it were the case that my disciples are loyal to me because I’m secluded and praise seclusion, then those disciples who live in the wilderness would not be loyal to me.
“Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường Ta, và sau khi tôn kính, trọng vọng, họ sống nương tựa Ta vì lý do này: ‘Sa-môn Gotama sống viễn ly, và tán thán sự viễn ly,’ thì này Udāyi, Ta có những vị đệ tử sống ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, họ sống sau khi đã đi vào các trú xứ xa vắng, trong các khu rừng rậm. Cứ mỗi nửa tháng, họ đi vào giữa Tăng chúng để tụng đọc Pātimokkha. Còn Ta, này Udāyi, đôi khi Ta sống chung đụng với các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, cận sự nam, cận sự nữ, vua chúa, các đại thần, các người ngoại đạo, và các đệ tử của người ngoại đạo. Này Udāyi, nếu các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường Ta, và sau khi tôn kính, trọng vọng, họ sống nương tựa Ta vì lý do này: ‘Sa-môn Gotama sống viễn ly, và tán thán sự viễn ly,’ thì này Udāyi, những vị đệ tử của Ta sống ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, họ sống sau khi đã đi vào các trú xứ xa vắng, trong các khu rừng rậm, và cứ mỗi nửa tháng, họ đi vào giữa Tăng chúng để tụng đọc Pātimokkha, thì họ sẽ không tôn kính, không trọng vọng, không quý mến, không cúng dường Ta, và sẽ không sống nương tựa Ta sau khi đã tôn kính, trọng vọng, vì pháp này.
Iti kho, udāyi, na mamaṁ sāvakā imehi pañcahi dhammehi sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
So, Udāyī, it’s not because of these five qualities that my disciples honor, respect, revere, and venerate me; and honoring and respecting me, they remain loyal to me.
“Như vậy, này Udāyi, các đệ tử của Ta không tôn kính, không trọng vọng, không quý mến, không cúng dường Ta, và không sống nương tựa Ta sau khi đã tôn kính, trọng vọng, vì năm pháp này.
Atthi kho, udāyi, aññe ca pañca dhammā yehi pañcahi dhammehi mamaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti. Katame pañca?
Idhudāyi, mamaṁ sāvakā adhisīle sambhāventi: ‘sīlavā samaṇo gotamo paramena sīlakkhandhena samannāgato’ti. Yampudāyi, mamaṁ sāvakā adhisīle sambhāventi:
There are five other qualities because of which my disciples honor, respect, revere, and venerate me; and honoring and respecting me, they remain loyal to me. What five?
Firstly, my disciples esteem me for the higher ethics: ‘The ascetic Gotama is ethical. He possesses the entire spectrum of ethical conduct to the highest degree.’ Since this is so,
243. “Này Udāyi, có năm pháp khác, do năm pháp này mà các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường Ta, và sau khi tôn kính, trọng vọng, họ sống nương tựa Ta. Năm pháp ấy là gì? Này Udāyi, ở đây, các đệ tử của Ta tán thán Ta về giới đức cao thượng rằng: ‘Sa-môn Gotama có giới hạnh, đã thành tựu uẩn giới tối thượng.’ Này Udāyi, việc các đệ tử của Ta tán thán Ta về giới đức cao thượng rằng: ‘Sa-môn Gotama có giới hạnh, đã thành tựu uẩn giới tối thượng,’ này Udāyi, đây là pháp thứ nhất, do đó các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường Ta, và sau khi tôn kính, trọng vọng, họ sống nương tựa Ta.
Puna caparaṁ, udāyi, mamaṁ sāvakā abhikkante ñāṇadassane sambhāventi: ‘jānaṁyevāha samaṇo gotamo—jānāmīti, passaṁyevāha samaṇo gotamo—passāmīti; abhiññāya samaṇo gotamo dhammaṁ deseti no anabhiññāya; sanidānaṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti no anidānaṁ; sappāṭihāriyaṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti no appāṭihāriyan’ti. Yampudāyi, mamaṁ sāvakā abhikkante ñāṇadassane sambhāventi: ‘jānaṁyevāha samaṇo gotamo—jānāmīti, passaṁyevāha samaṇo gotamo—passāmīti; abhiññāya samaṇo gotamo dhammaṁ deseti no anabhiññāya; sanidānaṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti no anidānaṁ; sappāṭihāriyaṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti no appāṭihāriyan’ti, ayaṁ kho, udāyi, dutiyo dhammo yena mamaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
Furthermore, my disciples esteem me for my excellent knowledge and vision: ‘The ascetic Gotama only claims to know when he does in fact know. He only claims to see when he really does see. He teaches based on direct knowledge, not without direct knowledge. He teaches based on reason, not without reason. He teaches with a demonstrable basis, not without it.’ Since this is so, this is the second quality because of which my disciples are loyal to me.
244. “Lại nữa, này Udāyi, các đệ tử của Ta tán thán Ta về tri kiến thù thắng rằng: ‘Sa-môn Gotama nói: “Ta biết” chỉ khi thực sự biết; Sa-môn Gotama nói: “Ta thấy” chỉ khi thực sự thấy; Sa-môn Gotama thuyết pháp sau khi đã thắng tri, không phải không thắng tri; Sa-môn Gotama thuyết pháp có nguyên nhân, không phải không có nguyên nhân; Sa-môn Gotama thuyết pháp có sự kỳ diệu, không phải không có sự kỳ diệu.’ Này Udāyi, việc các đệ tử của Ta tán thán Ta về tri kiến thù thắng rằng: ‘Sa-môn Gotama nói: “Ta biết” chỉ khi thực sự biết; Sa-môn Gotama nói: “Ta thấy” chỉ khi thực sự thấy; Sa-môn Gotama thuyết pháp sau khi đã thắng tri, không phải không thắng tri; Sa-môn Gotama thuyết pháp có nguyên nhân, không phải không có nguyên nhân; Sa-môn Gotama thuyết pháp có sự kỳ diệu, không phải không có sự kỳ diệu,’ này Udāyi, đây là pháp thứ hai, do đó các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường Ta, và sau khi tôn kính, trọng vọng, họ sống nương tựa Ta.
Puna caparaṁ, udāyi, mamaṁ sāvakā adhipaññāya sambhāventi: ‘paññavā samaṇo gotamo paramena paññākkhandhena samannāgato; taṁ vata anāgataṁ vādapathaṁ na dakkhati, uppannaṁ vā parappavādaṁ na sahadhammena suniggahitaṁ niggaṇhissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati’. Taṁ kiṁ maññasi, udāyi, api nu me sāvakā evaṁ jānantā evaṁ passantā antarantarā kathaṁ opāteyyun”ti?
Furthermore, my disciples esteem me for my higher wisdom: ‘The ascetic Gotama is wise. He possesses the entire spectrum of wisdom to the highest degree. It’s not possible that he would fail to foresee grounds for future criticism, or to legitimately and completely refute the doctrines of others that come up.’ What do you think, Udāyī? Would my disciples, knowing and seeing this, break in and interrupt me?”
245. “Lại nữa, này Udāyi, các đệ tử của Ta tán thán Ta về tuệ đức cao thượng rằng: ‘Sa-môn Gotama có trí tuệ, đã thành tựu uẩn tuệ tối thượng; trường hợp này không xảy ra, rằng Ngài sẽ không thấy được con đường luận thuyết chưa đến, hoặc sẽ không thể khéo nhiếp phục một cách hợp pháp luận thuyết của người khác đã khởi lên.’ Này Udāyi, ngươi nghĩ thế nào? Các đệ tử của Ta, khi biết như vậy, thấy như vậy, liệu có chen vào giữa lời nói chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không có việc ấy.”
“Na kho panāhaṁ, udāyi, sāvakesu anusāsaniṁ paccāsīsāmi; aññadatthu mamayeva sāvakā anusāsaniṁ paccāsīsanti.
“That’s because I don’t expect to be instructed by my disciples. Invariably, my disciples expect instruction from me.
“Này Udāyi, Ta không mong đợi sự giáo huấn từ các đệ tử; trái lại, chính các đệ tử của Ta mong đợi sự giáo huấn từ Ta.
Yampudāyi, mamaṁ sāvakā adhipaññāya sambhāventi: ‘paññavā samaṇo gotamo paramena paññākkhandhena samannāgato; taṁ vata anāgataṁ vādapathaṁ na dakkhati, uppannaṁ vā parappavādaṁ na sahadhammena niggahitaṁ niggaṇhissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati’. Ayaṁ kho, udāyi, tatiyo dhammo yena mamaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
Since this is so, this is the third quality because of which my disciples are loyal to me.
“Này Udāyi, việc các đệ tử của Ta tán thán Ta về tuệ đức cao thượng rằng: ‘Sa-môn Gotama có trí tuệ, đã thành tựu uẩn tuệ tối thượng; trường hợp này không xảy ra, rằng Ngài sẽ không thấy được con đường luận thuyết chưa đến, hoặc sẽ không thể khéo nhiếp phục một cách hợp pháp luận thuyết của người khác đã khởi lên.’ Này Udāyi, đây là pháp thứ ba, do đó các đệ tử tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường Ta, và sau khi tôn kính, trọng vọng, họ sống nương tựa Ta.
Puna caparaṁ, udāyi, mama sāvakā yena dukkhena dukkhotiṇṇā dukkhaparetā te maṁ upasaṅkamitvā dukkhaṁ ariyasaccaṁ pucchanti, tesāhaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ puṭṭho byākaromi, tesāhaṁ cittaṁ ārādhemi pañhassa veyyākaraṇena; te maṁ dukkhasamudayaṁ … dukkhanirodhaṁ … dukkhanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ ariyasaccaṁ pucchanti, tesāhaṁ dukkhanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ ariyasaccaṁ puṭṭho byākaromi, tesāhaṁ cittaṁ ārādhemi pañhassa veyyākaraṇena. Yampudāyi, mama sāvakā yena dukkhena dukkhotiṇṇā dukkhaparetā te maṁ upasaṅkamitvā dukkhaṁ ariyasaccaṁ pucchanti, tesāhaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ puṭṭho byākaromi, tesāhaṁ cittaṁ ārādhemi pañhassa veyyākaraṇena. Te maṁ dukkhasamudayaṁ … dukkhanirodhaṁ … dukkhanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ ariyasaccaṁ pucchanti. Tesāhaṁ dukkhanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ ariyasaccaṁ puṭṭho byākaromi. Tesāhaṁ cittaṁ ārādhemi pañhassa veyyākaraṇena. Ayaṁ kho, udāyi, catuttho dhammo yena mamaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
Furthermore, my disciples come to me and ask how the noble truth of suffering applies to the suffering in which they are swamped and mired. And I provide them with a satisfying answer to their question. They ask how the noble truths of the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering apply to the suffering in which they are swamped and mired. And I provide them with satisfying answers to their questions. Since this is so, this is the fourth quality because of which my disciples are loyal to me.
246. Lại nữa, này Udāyi, các đệ tử của ta, khi bị khổ não nào xâm nhập, bị khổ não nào áp bức, họ đến gần ta và hỏi về Khổ Thánh đế. Ta, khi được hỏi về Khổ Thánh đế, đã trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ được hoan hỷ bằng việc giải đáp câu hỏi. Họ hỏi ta về Tập Thánh đế ... Diệt Thánh đế ... Đạo Thánh đế đưa đến sự diệt khổ. Ta, khi được hỏi về Đạo Thánh đế đưa đến sự diệt khổ, đã trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ được hoan hỷ bằng việc giải đáp câu hỏi. Này Udāyi, việc các đệ tử của ta, khi bị khổ não nào xâm nhập, bị khổ não nào áp bức, họ đến gần ta và hỏi về Khổ Thánh đế; ta, khi được hỏi về Khổ Thánh đế, đã trả lời cho họ; ta làm cho tâm của họ được hoan hỷ bằng việc giải đáp câu hỏi; họ hỏi ta về Tập Thánh đế ... Diệt Thánh đế ... Đạo Thánh đế đưa đến sự diệt khổ; ta, khi được hỏi về Đạo Thánh đế đưa đến sự diệt khổ, đã trả lời cho họ; ta làm cho tâm của họ được hoan hỷ bằng việc giải đáp câu hỏi. Này Udāyi, đây chính là pháp thứ tư, nhờ đó các đệ tử của ta tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường ta; sau khi tôn kính, trọng vọng, họ nương tựa và an trú.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā cattāro satipaṭṭhāne bhāventi. Idhudāyi, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu vedanānupassī viharati … citte cittānupassī viharati … dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the four kinds of mindfulness meditation. It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
247. Lại nữa, này Udāyi, ta đã thuyết giảng con đường thực hành cho các đệ tử, và các đệ tử của ta, sau khi thực hành theo đó, đã tu tập bốn niệm xứ. Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi dẹp bỏ tham và ưu ở đời; trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi dẹp bỏ tham và ưu ở đời. Và ở đây, nhiều đệ tử của ta an trú, đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā cattāro sammappadhāne bhāventi. Idhudāyi, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti, vāyamati, vīriyaṁ ārabhati, cittaṁ paggaṇhāti, padahati; uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti, vāyamati, vīriyaṁ ārabhati, cittaṁ paggaṇhāti, padahati; anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti, vāyamati, vīriyaṁ ārabhati, cittaṁ paggaṇhāti, padahati; uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti, vāyamati, vīriyaṁ ārabhati, cittaṁ paggaṇhāti, padahati. Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the four right efforts. It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities that have arisen are given up. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed. And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
Lại nữa, này Udāyi, ta đã thuyết giảng con đường thực hành cho các đệ tử, và các đệ tử của ta, sau khi thực hành theo đó, đã tu tập bốn chánh cần. Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, cố gắng, tinh tấn, sách tấn tâm, nỗ lực; đối với các pháp ác, bất thiện đã sanh, khởi lên ý muốn để đoạn trừ, cố gắng, tinh tấn, sách tấn tâm, nỗ lực; đối với các pháp thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn cho sanh khởi, cố gắng, tinh tấn, sách tấn tâm, nỗ lực; đối với các pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn để duy trì, không quên lãng, tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn tâm, nỗ lực. Và ở đây, nhiều đệ tử của ta an trú, đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā cattāro iddhipāde bhāventi. Idhudāyi, bhikkhu chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīriyasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīmaṁsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti. Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the four bases of psychic power. It’s when a mendicant develops the basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to energy, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to mental development, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to inquiry, and active effort. And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
Lại nữa, này Udāyi, ta đã thuyết giảng con đường thực hành cho các đệ tử, và các đệ tử của ta, sau khi thực hành theo đó, đã tu tập bốn như ý túc. Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu tu tập như ý túc có đầy đủ dục định và tinh cần hành; tu tập như ý túc có đầy đủ cần định và tinh cần hành; tu tập như ý túc có đầy đủ tâm định và tinh cần hành; tu tập như ý túc có đầy đủ quán định và tinh cần hành. Và ở đây, nhiều đệ tử của ta an trú, đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā pañcindriyāni bhāventi. Idhudāyi, bhikkhu saddhindriyaṁ bhāveti upasamagāmiṁ sambodhagāmiṁ; vīriyindriyaṁ bhāveti …pe… satindriyaṁ bhāveti … samādhindriyaṁ bhāveti … paññindriyaṁ bhāveti upasamagāmiṁ sambodhagāmiṁ. Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the five faculties. It’s when a mendicant develops the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom, which lead to peace and awakening. And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
Lại nữa, này Udāyi, ta đã thuyết giảng con đường thực hành cho các đệ tử, và các đệ tử của ta, sau khi thực hành theo đó, đã tu tập năm căn. Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu tu tập tín căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ; tu tập tấn căn...; tu tập niệm căn...; tu tập định căn...; tu tập tuệ căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Và ở đây, nhiều đệ tử của ta an trú, đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā pañca balāni bhāventi. Idhudāyi, bhikkhu saddhābalaṁ bhāveti upasamagāmiṁ sambodhagāmiṁ; vīriyabalaṁ bhāveti …pe… satibalaṁ bhāveti … samādhibalaṁ bhāveti … paññābalaṁ bhāveti upasamagāmiṁ sambodhagāmiṁ. Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the five powers. It’s when a mendicant develops the powers of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom, which lead to peace and awakening. And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
Lại nữa, này Udāyi, ta đã thuyết giảng con đường thực hành cho các đệ tử, và các đệ tử của ta, sau khi thực hành theo đó, đã tu tập năm lực. Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu tu tập tín lực, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ; tu tập tấn lực...; tu tập niệm lực...; tu tập định lực...; tu tập tuệ lực, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Và ở đây, nhiều đệ tử của ta an trú, đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā sattabojjhaṅge bhāventi. Idhudāyi, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ; dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe… vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti … pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti … passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the seven awakening factors. It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
Lại nữa, này Udāyi, ta đã thuyết giảng con đường thực hành cho các đệ tử, và các đệ tử của ta, sau khi thực hành theo đó, đã tu tập bảy giác chi. Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào sự diệt, hướng đến sự xả ly; tu tập trạch pháp giác chi...; tu tập tinh tấn giác chi...; tu tập hỷ giác chi...; tu tập khinh an giác chi...; tu tập định giác chi...; tu tập xả giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào sự diệt, hướng đến sự xả ly. Và ở đây, nhiều đệ tử của ta an trú, đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāventi. Idhudāyi, bhikkhu sammādiṭṭhiṁ bhāveti, sammāsaṅkappaṁ bhāveti, sammāvācaṁ bhāveti, sammākammantaṁ bhāveti, sammāājīvaṁ bhāveti, sammāvāyāmaṁ bhāveti, sammāsatiṁ bhāveti, sammāsamādhiṁ bhāveti. Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the noble eightfold path. It’s when a mendicant develops right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
Này Udāyi, lại nữa, pháp hành đã được ta thuyết giảng cho các vị đệ tử, và các vị đệ tử của ta khi thực hành theo pháp ấy đã tu tập Thánh đạo Tám ngành. Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu tu tập chánh kiến, tu tập chánh tư duy, tu tập chánh ngữ, tu tập chánh nghiệp, tu tập chánh mạng, tu tập chánh tinh tấn, tu tập chánh niệm, tu tập chánh định. Và trong pháp hành ấy, nhiều vị đệ tử của ta đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí và an trú.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā aṭṭha vimokkhe bhāventi.
Rūpī rūpāni passati, ayaṁ paṭhamo vimokkho;
ajjhattaṁ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passati, ayaṁ dutiyo vimokkho;
subhanteva adhimutto hoti, ayaṁ tatiyo vimokkho;
sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ catuttho vimokkho;
sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ pañcamo vimokkho;
sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ chaṭṭho vimokkho;
sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ sattamo vimokkho;
sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, ayaṁ aṭṭhamo vimokkho.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the eight liberations.
Having physical form, they see forms. This is the first liberation.
Not perceiving form internally, they see forms externally. This is the second liberation.
They’re focused only on beauty. This is the third liberation.
Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. This is the fourth liberation.
Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. This is the fifth liberation.
Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. This is the sixth liberation.
Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. This is the seventh liberation.
Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling. This is the eighth liberation.
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
248. Này Udāyi, lại nữa, pháp hành đã được ta thuyết giảng cho các vị đệ tử, và các vị đệ tử của ta khi thực hành theo pháp ấy đã tu tập tám giải thoát. (1) Có sắc, thấy các sắc, đây là giải thoát thứ nhất. (2) Bên trong không có tưởng về sắc, thấy các sắc bên ngoài, đây là giải thoát thứ hai. (3) Chỉ chuyên chú vào tịnh, đây là giải thoát thứ ba. (4) Vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, với ý niệm ‘hư không là vô biên,’ vị ấy đạt đến và an trú Không Vô Biên Xứ, đây là giải thoát thứ tư. (5) Vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên,’ vị ấy đạt đến và an trú Thức Vô Biên Xứ, đây là giải thoát thứ năm. (6) Vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả,’ vị ấy đạt đến và an trú Vô Sở Hữu Xứ, đây là giải thoát thứ sáu. (7) Vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy đạt đến và an trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, đây là giải thoát thứ bảy. (8) Vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy đạt đến và an trú Diệt Thọ Tưởng Định, đây là giải thoát thứ tám. Và trong pháp hành ấy, nhiều vị đệ tử của ta đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí và an trú.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā aṭṭha abhibhāyatanāni bhāventi.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi, passāmī’ti evaṁ saññī hoti. Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the eight dimensions of mastery.
Perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the first dimension of mastery.
249. Này Udāyi, lại nữa, pháp hành đã được ta thuyết giảng cho các vị đệ tử, và các vị đệ tử của ta khi thực hành theo pháp ấy đã tu tập tám thắng xứ. (1) Một người có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ nhất.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi, passāmī’ti evaṁ saññī hoti. Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the second dimension of mastery.
(2) Một người có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, không có giới hạn, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ hai.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi, passāmī’ti evaṁ saññī hoti. Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the third dimension of mastery.
(3) Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ ba.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi, passāmī’ti evaṁ saññī hoti. Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the fourth dimension of mastery.
(4) Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, không có giới hạn, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tư.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni. Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi, passāmī’ti evaṁ saññī hoti. Idaṁ pañcamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, blue, with blue color and blue appearance. They’re like a flax flower that’s blue, with blue color and blue appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, blue, with blue color and blue appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally, blue, with blue color and blue appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the fifth dimension of mastery.
(5) Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu xanh, có sắc xanh, có hình tướng xanh, có ánh sáng xanh. Ví như hoa lanh màu xanh, có sắc xanh, có hình tướng xanh, có ánh sáng xanh; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, màu xanh, có sắc xanh, có hình tướng xanh, có ánh sáng xanh; cũng vậy, một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu xanh, có sắc xanh, có hình tướng xanh, có ánh sáng xanh. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ năm.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni. Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi, passāmī’ti evaṁ saññī hoti. Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are yellow, with yellow color and yellow appearance. They’re like a champak flower that’s yellow, with yellow color and yellow appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, yellow, with yellow color and yellow appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally that are yellow, with yellow color and yellow appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the sixth dimension of mastery.
(6) Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu vàng, có sắc vàng, có hình tướng vàng, có ánh sáng vàng. Ví như hoa kaṇikāra màu vàng, có sắc vàng, có hình tướng vàng, có ánh sáng vàng; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, màu vàng, có sắc vàng, có hình tướng vàng, có ánh sáng vàng; cũng vậy, một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu vàng, có sắc vàng, có hình tướng vàng, có ánh sáng vàng. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ sáu.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni. Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi, passāmī’ti evaṁ saññī hoti. Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are red, with red color and red appearance. They’re like a scarlet mallow flower that’s red, with red color and red appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, red, with red color and red appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally that are red, with red color and red appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the seventh dimension of mastery.
(7) Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu đỏ, có sắc đỏ, có hình tướng đỏ, có ánh sáng đỏ. Ví như hoa bandhujīvaka màu đỏ, có sắc đỏ, có hình tướng đỏ, có ánh sáng đỏ; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, màu đỏ, có sắc đỏ, có hình tướng đỏ, có ánh sáng đỏ; cũng vậy, một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu đỏ, có sắc đỏ, có hình tướng đỏ, có ánh sáng đỏ. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ bảy.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni. Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi, passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are white, with white color and white appearance. They’re like the morning star that’s white, with white color and white appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, white, with white color and white appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally that are white, with white color and white appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the eighth dimension of mastery.
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
Một người có tưởng về vô sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới có màu trắng, sắc tướng trắng, hình tướng trắng, ánh sáng trắng. Ví như sao mai có màu trắng, sắc tướng trắng, hình tướng trắng, ánh sáng trắng; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī được chà láng cả hai mặt, có màu trắng, sắc tướng trắng, hình tướng trắng, ánh sáng trắng; cũng vậy, một người có tưởng về vô sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới có màu trắng, sắc tướng trắng, hình tướng trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chinh phục các sắc ấy, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tám. Và ở đây, nhiều vị đệ tử của ta đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí và đang an trú.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā dasa kasiṇāyatanāni bhāventi.
Pathavīkasiṇameko sañjānāti uddhamadho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ;
āpokasiṇameko sañjānāti …pe… tejokasiṇameko sañjānāti … vāyokasiṇameko sañjānāti … nīlakasiṇameko sañjānāti … pītakasiṇameko sañjānāti … lohitakasiṇameko sañjānāti … odātakasiṇameko sañjānāti … ākāsakasiṇameko sañjānāti … viññāṇakasiṇameko sañjānāti uddhamadho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the ten universal dimensions of meditation.
Someone perceives the meditation on universal earth above, below, across, undivided and limitless.
They perceive the meditation on universal water … the meditation on universal fire … the meditation on universal air … the meditation on universal blue … the meditation on universal yellow … the meditation on universal red … the meditation on universal white … the meditation on universal space … the meditation on universal consciousness above, below, across, undivided and limitless.
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
250. Lại nữa, này Udāyi, con đường thực hành đã được ta tuyên thuyết cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của ta tu tập mười biến xứ. Một người nhận thức biến xứ đất: trên, dưới, ngang, không hai, vô lượng; một người nhận thức biến xứ nước... (như trên)... một người nhận thức biến xứ lửa... một người nhận thức biến xứ gió... một người nhận thức biến xứ xanh... một người nhận thức biến xứ vàng... một người nhận thức biến xứ đỏ... một người nhận thức biến xứ trắng... một người nhận thức biến xứ hư không... một người nhận thức biến xứ thức: trên, dưới, ngang, không hai, vô lượng. Và ở đây, nhiều vị đệ tử của ta đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí và đang an trú.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā cattāri jhānāni bhāventi.
Idhudāyi, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, udāyi, dakkho nhāpako vā nhāpakantevāsī vā kaṁsathāle nhānīyacuṇṇāni ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ sanneyya, sāyaṁ nhānīyapiṇḍi snehānugatā snehaparetā santarabāhirā phuṭā snehena na ca pagghariṇī; evameva kho, udāyi, bhikkhu imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the four absorptions.
It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. They drench, steep, fill, and spread themselves with rapture and bliss born of seclusion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of seclusion. It’s like when a deft bathroom attendant or their apprentice pours bath powder into a bronze dish, sprinkling it little by little with water. They knead it until the ball of bath powder is soaked and saturated with moisture, spread through inside and out; yet no moisture oozes out. In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with rapture and bliss born of seclusion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of seclusion.
251. Lại nữa, này Udāyi, con đường thực hành đã được ta tuyên thuyết cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của ta tu tập bốn thiền. Ở đây, này Udāyi, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không có một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Ví như, này Udāyi, một người thợ tắm hay đệ tử của người thợ tắm khéo léo, sau khi rắc bột tắm vào trong một cái thau đồng, nhồi đi nhồi lại với nước, cho đến khi cục bột tắm ấy được thấm ướt, tẩm nhuần, thấm khắp trong ngoài bởi chất ẩm, nhưng không chảy nhỏ giọt; cũng vậy, này Udāyi, vị tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không có một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Puna caparaṁ, udāyi, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, udāyi, udakarahado gambhīro ubbhidodako. Tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na pacchimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṁ, devo ca na kālena kālaṁ sammā dhāraṁ anuppaveccheyya; atha kho tamhāva udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṁ sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya paripphareyya, nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena vārinā apphuṭaṁ assa. Evameva kho, udāyi, bhikkhu imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. They drench, steep, fill, and spread themselves with rapture and bliss born of immersion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of immersion. It’s like a deep lake fed by spring water. There’s no inlet to the east, west, north, or south, and the heavens would not properly bestow showers from time to time. But the stream of cool water welling up in the lake drenches, steeps, fills, and spreads throughout the lake. There’s no part of the lake that’s not spread through with cool water. In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with rapture and bliss born of immersion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of immersion.
Lại nữa, này Udāyi, vị tỳ khưu sau khi làm lắng dịu tầm và tứ... (v.v.)... chứng và trú thiền thứ hai. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không có một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Ví như, này Udāyi, có một hồ nước sâu, nước từ nguồn dâng lên. Hồ ấy không có cửa nước vào ở phía đông, không có cửa nước vào ở phía tây, không có cửa nước vào ở phía bắc, không có cửa nước vào ở phía nam, và trời cũng không thỉnh thoảng mưa xuống đúng lúc. Rồi một dòng nước mát từ chính hồ nước ấy trào lên, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy chính hồ nước ấy với nước mát, không có một chỗ nào trong toàn bộ hồ nước không được nước mát thấm nhuần. Cũng vậy, này Udāyi, vị tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không có một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
Puna caparaṁ, udāyi, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, udāyi, uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni anto nimuggaposīni, tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā abhisannāni parisannāni paripūrāni paripphuṭāni, nāssa kiñci sabbāvataṁ, uppalānaṁ vā padumānaṁ vā puṇḍarīkānaṁ vā sītena vārinā apphuṭaṁ assa; evameva kho, udāyi, bhikkhu imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption. They meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ They drench, steep, fill, and spread themselves with bliss free of rapture. There’s no part of the body that’s not spread with bliss free of rapture. It’s like a pool with blue water lilies, or pink or white lotuses. Some of them sprout and grow in the water without rising above it, thriving underwater. From the tip to the root they’re drenched, steeped, filled, and soaked with cool water. There’s no part of them that’s not soaked with cool water. In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with bliss free of rapture. There’s no part of the body that’s not spread with bliss free of rapture.
Lại nữa, này Udāyi, vị tỳ khưu do ly hỷ... (v.v.)... chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc không có hỷ, không có một chỗ nào trên toàn thân không được lạc không có hỷ ấy thấm nhuần. Ví như, này Udāyi, trong một hồ sen xanh, hoặc hồ sen hồng, hoặc hồ sen trắng, có những bông sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Chúng từ ngọn cho đến gốc được thấm nhuần, tẩm ướt, sung mãn, tràn đầy bởi nước mát, không có một chỗ nào trên toàn bộ các bông sen xanh, sen hồng, hay sen trắng ấy không được nước mát thấm nhuần. Cũng vậy, này Udāyi, vị tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc không có hỷ, không có một chỗ nào trên toàn thân không được lạc không có hỷ ấy thấm nhuần.
Puna caparaṁ, udāyi, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, udāyi, puriso odātena vatthena sasīsaṁ pārupitvā nisinno assa, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa odātena vatthena apphuṭaṁ assa; evameva kho, udāyi, bhikkhu imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti. Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption. It is without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. They sit spreading their body through with pure bright mind. There’s no part of the body that’s not spread with pure bright mind. It’s like someone sitting wrapped from head to foot with white cloth. There’s no part of the body that’s not spread over with white cloth. In the same way, they sit spreading their body through with pure bright mind. There’s no part of the body that’s not spread with pure bright mind. And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
“Lại nữa, này Udāyi, tỳ khưu sau khi từ bỏ lạc, từ bỏ khổ, do ưu và hỷ đã chấm dứt từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy ngồi thấm nhuần toàn thân này với tâm thuần tịnh, trong sáng; không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được tâm thuần tịnh, trong sáng ấy thấm nhuần. Ví như, này Udāyi, một người ngồi trùm kín từ đầu bằng một tấm vải trắng, không có một chỗ nào trên toàn thân của người ấy mà không được tấm vải trắng ấy bao trùm; cũng vậy, này Udāyi, vị tỳ khưu ngồi thấm nhuần toàn thân này với tâm thuần tịnh, trong sáng; không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được tâm thuần tịnh, trong sáng ấy thấm nhuần. Và ở đó, nhiều đệ tử của Ta trú, đã đạt đến sự viên mãn cứu cánh của thắng trí.”
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā evaṁ pajānanti: ‘ayaṁ kho me kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo; idañca pana me viññāṇaṁ ettha sitaṁ ettha paṭibaddhaṁ’. Seyyathāpi, udāyi, maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato accho vippasanno sabbākārasampanno; tatridaṁ suttaṁ āvutaṁ nīlaṁ vā pītaṁ vā lohitaṁ vā odātaṁ vā paṇḍusuttaṁ vā. Tamenaṁ cakkhumā puriso hatthe karitvā paccavekkheyya: ‘ayaṁ kho maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato accho vippasanno sabbākārasampanno; tatridaṁ suttaṁ āvutaṁ nīlaṁ vā pītaṁ vā lohitaṁ vā odātaṁ vā paṇḍusuttaṁ vā’ti.
Evameva kho, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā evaṁ pajānanti: ‘ayaṁ kho me kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo; idañca pana me viññāṇaṁ ettha sitaṁ ettha paṭibaddhan’ti.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to understand this: ‘This body of mine is formed. It’s made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction. And this consciousness of mine is attached to it, tied to it.’ Suppose there was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked, transparent and clear, endowed with all good qualities. And it was strung with a thread of blue, yellow, red, white, or golden brown. And a person with clear eyes were to take it in their hand and examine it: ‘This beryl gem is naturally lustrous, eight-faceted, well-worked, transparent and clear, endowed with all good qualities. And it’s strung with a thread of blue, yellow, red, white, or golden brown.’
In the same way, I have explained to my disciples a practice that they use to understand this: ‘This body of mine is formed. It’s made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction. And this consciousness of mine is attached to it, tied to it.’
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
252. Lại nữa, này Udāyi, con đường thực hành đã được ta tuyên thuyết cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của ta biết rõ như sau: ‘Thân này của ta có sắc, do bốn đại tạo thành, do cha mẹ sanh, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, có bản chất vô thường, cần phải xoa bóp, chà rửa, bị tan rã, bị hoại diệt; và thức này của ta nương tựa vào đây, bị trói buộc vào đây.’ Ví như, này Udāyi, có một viên ngọc bích lưu ly đẹp đẽ, thuần chủng, tám cạnh, được gia công khéo léo, trong suốt, cực kỳ trong sáng, đầy đủ mọi phương diện; bên trong nó có một sợi chỉ được xỏ qua, hoặc màu xanh, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ, hoặc màu trắng, hoặc màu vàng nhạt. Một người có mắt sáng, cầm nó trong tay và quán xét: ‘Đây là viên ngọc bích lưu ly đẹp đẽ, thuần chủng, tám cạnh, được gia công khéo léo, trong suốt, cực kỳ trong sáng, đầy đủ mọi phương diện; và đây là sợi chỉ được xỏ qua bên trong nó, hoặc màu xanh, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ, hoặc màu trắng, hoặc màu vàng nhạt.’ Cũng vậy, này Udāyi, con đường thực hành đã được ta tuyên thuyết cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của ta biết rõ như sau: ‘Thân này của ta có sắc, do bốn đại tạo thành, do cha mẹ sanh, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, có bản chất vô thường, cần phải xoa bóp, chà rửa, bị tan rã, bị hoại diệt; và thức này của ta nương tựa vào đây, bị trói buộc vào đây.’ Và ở đây, nhiều vị đệ tử của ta trú, đã đạt đến sự viên mãn và sự hoàn hảo của thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā imamhā kāyā aññaṁ kāyaṁ abhinimminanti rūpiṁ manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ. Seyyathāpi, udāyi, puriso muñjamhā īsikaṁ pabbāheyya; tassa evamassa: ‘ayaṁ muñjo, ayaṁ īsikā; añño muñjo, aññā īsikā; muñjamhā tveva īsikā pabbāḷhā’ti. Seyyathā vā panudāyi, puriso asiṁ kosiyā pabbāheyya; tassa evamassa: ‘ayaṁ asi, ayaṁ kosi; añño asi aññā kosi; kosiyā tveva asi pabbāḷho’ti. Seyyathā vā, panudāyi, puriso ahiṁ karaṇḍā uddhareyya; tassa evamassa: ‘ayaṁ ahi, ayaṁ karaṇḍo; añño ahi, añño karaṇḍo; karaṇḍā tveva ahi ubbhato’ti. Evameva kho, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā imamhā kāyā aññaṁ kāyaṁ abhinimminanti rūpiṁ manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to create from this body another body—formed, mind-made, whole in its major and minor limbs, not deficient in any faculty. Suppose a person was to draw a reed out from its sheath. They’d think: ‘This is the reed, this is the sheath. The reed and the sheath are different things. The reed has been drawn out from the sheath.’ Or suppose a person was to draw a sword out from its scabbard. They’d think: ‘This is the sword, this is the scabbard. The sword and the scabbard are different things. The sword has been drawn out from the scabbard.’ Or suppose a person was to draw a snake out from its slough. They’d think: ‘This is the snake, this is the slough. The snake and the slough are different things. The snake has been drawn out from the slough.’ In the same way, I have explained to my disciples a practice that they use to create from this body another body—formed, mind-made, whole in its major and minor limbs, not deficient in any faculty.
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
253. Lại nữa, này Udāyi, con đường thực hành đã được ta tuyên thuyết cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của ta từ thân này hóa sanh ra một thân khác, có sắc, do ý tạo thành, có đủ tất cả các chi phần lớn nhỏ, không thiếu căn. Ví như, này Udāyi, một người rút cọng lau ra khỏi vỏ của nó. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Đây là vỏ, đây là cọng lau; vỏ là một đằng, cọng lau là một nẻo; cọng lau đã được rút ra từ vỏ.’ Hoặc ví như, này Udāyi, một người rút gươm ra khỏi vỏ. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Đây là gươm, đây là vỏ; gươm là một đằng, vỏ là một nẻo; gươm đã được rút ra từ vỏ.’ Hoặc ví như, này Udāyi, một người lôi con rắn ra khỏi giỏ. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Đây là con rắn, đây là cái giỏ; con rắn là một đằng, cái giỏ là một nẻo; con rắn đã được lôi ra từ cái giỏ.’ Cũng vậy, này Udāyi, con đường thực hành đã được ta tuyên thuyết cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của ta từ thân này hóa sanh ra một thân khác, có sắc, do ý tạo thành, có đủ tất cả các chi phần lớn nhỏ, không thiếu căn. Và ở đây, nhiều vị đệ tử của ta trú, đã đạt đến sự viên mãn và sự hoàn hảo của thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhonti—ekopi hutvā bahudhā honti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamānā gacchanti, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karonti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchanti, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamanti, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasanti parimajjanti, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattenti. Seyyathāpi, udāyi, dakkho kumbhakāro vā kumbhakārantevāsī vā suparikammakatāya mattikāya yaṁ yadeva bhājanavikatiṁ ākaṅkheyya taṁ tadeva kareyya abhinipphādeyya; seyyathā vā panudāyi, dakkho dantakāro vā dantakārantevāsī vā suparikammakatasmiṁ dantasmiṁ yaṁ yadeva dantavikatiṁ ākaṅkheyya taṁ tadeva kareyya abhinipphādeyya; seyyathā vā panudāyi, dakkho suvaṇṇakāro vā suvaṇṇakārantevāsī vā suparikammakatasmiṁ suvaṇṇasmiṁ yaṁ yadeva suvaṇṇavikatiṁ ākaṅkheyya taṁ tadeva kareyya abhinipphādeyya. Evameva kho, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhonti—ekopi hutvā bahudhā honti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamānā gacchanti, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karonti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchanti, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamanti, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasanti parimajjanti, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattenti.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to wield the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful. They control the body as far as the realm of divinity. Suppose a deft potter or their apprentice had some well-prepared clay. They could produce any kind of pot that they like. Or suppose a deft ivory-carver or their apprentice had some well-prepared ivory. They could produce any kind of ivory item that they like. Or suppose a deft goldsmith or their apprentice had some well-prepared gold. They could produce any kind of gold item that they like. In the same way, I have explained to my disciples a practice that they use to wield the many kinds of psychic power …
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
254. Này Udāyi, lại nữa, con đường thực hành đã được Như Lai tuyên thuyết cho các vị đệ tử, các vị đệ tử của Như Lai đã thực hành theo con đường ấy, chứng nghiệm được nhiều loại thần thông: từ một thân hiện ra nhiều thân, từ nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, tàng hình; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; độn thổ và trồi lên khỏi mặt đất, như ở trong nước; đi trên mặt nước không chìm, như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trong hư không, như con chim có cánh; với bàn tay, chạm và xoa mặt trăng và mặt trời, những vật có đại thần lực, có đại uy lực như vậy; dùng thân thể để tác động quyền năng cho đến cõi Phạm Thiên. Này Udāyi, ví như người thợ gốm thiện xảo hoặc đệ tử của người thợ gốm, từ đất sét đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, muốn làm loại đồ gốm nào thì làm được và hoàn thành được loại đồ gốm ấy; hoặc này Udāyi, ví như người thợ ngà thiện xảo hoặc đệ tử của người thợ ngà, từ ngà voi đã được gia công kỹ lưỡng, muốn làm loại đồ ngà nào thì làm được và hoàn thành được loại đồ ngà ấy; hoặc này Udāyi, ví như người thợ vàng thiện xảo hoặc đệ tử của người thợ vàng, từ vàng đã được gia công kỹ lưỡng, muốn làm loại đồ vàng nào thì làm được và hoàn thành được loại đồ vàng ấy. Cũng vậy, này Udāyi, con đường thực hành đã được Như Lai tuyên thuyết cho các vị đệ tử, các vị đệ tử của Như Lai đã thực hành theo con đường ấy, chứng nghiệm được nhiều loại thần thông: từ một thân hiện ra nhiều thân, từ nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, tàng hình; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; độn thổ và trồi lên khỏi mặt đất, như ở trong nước; đi trên mặt nước không chìm, như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trong hư không, như con chim có cánh; với bàn tay, chạm và xoa mặt trăng và mặt trời, những vật có đại thần lực, có đại uy lực như vậy; dùng thân thể để tác động quyền năng cho đến cõi Phạm Thiên. Và trong đó, nhiều vị đệ tử của Như Lai đã an trú, đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của các thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇanti—dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca. Seyyathāpi, udāyi, balavā saṅkhadhamo appakasireneva cātuddisā viññāpeyya; evameva kho, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇanti—dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use so that, with clairaudience that is purified and superhuman, they hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far. Suppose there was a powerful horn blower. They’d easily make themselves heard in the four quarters. In the same way, I have explained to my disciples a practice that they use so that, with clairaudience that is purified and superhuman, they hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far.
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
255. Này Udāyi, lại nữa, con đường thực hành đã được Như Lai tuyên thuyết cho các vị đệ tử, các vị đệ tử của Như Lai đã thực hành theo con đường ấy, với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu việt cõi người, nghe được cả hai loại âm thanh — của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần. Này Udāyi, ví như người thổi tù và có sức mạnh, không khó khăn gì có thể làm cho âm thanh vang khắp bốn phương; cũng vậy, này Udāyi, con đường thực hành đã được Như Lai tuyên thuyết cho các vị đệ tử, các vị đệ tử của Như Lai đã thực hành theo con đường ấy, với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu việt cõi người, nghe được cả hai loại âm thanh — của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần. Và trong đó, nhiều vị đệ tử của Như Lai đã an trú, đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của các thắng trí.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānanti—sarāgaṁ vā cittaṁ ‘sarāgaṁ cittan’ti pajānanti, vītarāgaṁ vā cittaṁ ‘vītarāgaṁ cittan’ti pajānanti; sadosaṁ vā cittaṁ ‘sadosaṁ cittan’ti pajānanti, vītadosaṁ vā cittaṁ ‘vītadosaṁ cittan’ti pajānanti; samohaṁ vā cittaṁ ‘samohaṁ cittan’ti pajānanti, vītamohaṁ vā cittaṁ ‘vītamohaṁ cittan’ti pajānanti; saṅkhittaṁ vā cittaṁ ‘saṅkhittaṁ cittan’ti pajānanti, vikkhittaṁ vā cittaṁ ‘vikkhittaṁ cittan’ti pajānanti; mahaggataṁ vā cittaṁ ‘mahaggataṁ cittan’ti pajānanti, amahaggataṁ vā cittaṁ ‘amahaggataṁ cittan’ti pajānanti; sauttaraṁ vā cittaṁ ‘sauttaraṁ cittan’ti pajānanti, anuttaraṁ vā cittaṁ ‘anuttaraṁ cittan’ti pajānanti; samāhitaṁ vā cittaṁ ‘samāhitaṁ cittan’ti pajānanti, asamāhitaṁ vā cittaṁ ‘asamāhitaṁ cittan’ti pajānanti; vimuttaṁ vā cittaṁ ‘vimuttaṁ cittan’ti pajānanti, avimuttaṁ vā cittaṁ ‘avimuttaṁ cittan’ti pajānanti. Seyyathāpi, udāyi, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udakapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno sakaṇikaṁ vā ‘sakaṇikan’ti jāneyya, akaṇikaṁ vā ‘akaṇikan’ti jāneyya; evameva kho, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānanti—sarāgaṁ vā cittaṁ ‘sarāgaṁ cittan’ti pajānanti, vītarāgaṁ vā cittaṁ …pe… sadosaṁ vā cittaṁ … vītadosaṁ vā cittaṁ … samohaṁ vā cittaṁ … vītamohaṁ vā cittaṁ … saṅkhittaṁ vā cittaṁ … vikkhittaṁ vā cittaṁ … mahaggataṁ vā cittaṁ … amahaggataṁ vā cittaṁ … sauttaraṁ vā cittaṁ … anuttaraṁ vā cittaṁ … samāhitaṁ vā cittaṁ … asamāhitaṁ vā cittaṁ … vimuttaṁ vā cittaṁ … avimuttaṁ vā cittaṁ ‘avimuttaṁ cittan’ti pajānanti.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with their own mind. They understand mind with greed as ‘mind with greed’, and mind without greed as ‘mind without greed’; mind with hate as ‘mind with hate’, and mind without hate as ‘mind without hate’; mind with delusion as ‘mind with delusion’, and mind without delusion as ‘mind without delusion’; constricted mind as ‘constricted mind’, and scattered mind as ‘scattered mind’; expansive mind as ‘expansive mind’, and unexpansive mind as ‘unexpansive mind’; mind that is not supreme as ‘mind that is not supreme’, and mind that is supreme as ‘mind that is supreme’; mind immersed in samādhi as ‘mind immersed in samādhi’, and mind not immersed in samādhi as ‘mind not immersed in samādhi’; freed mind as ‘freed mind’, and unfreed mind as ‘unfreed mind’. Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and they check their own reflection in a clean bright mirror or a clear bowl of water. If they had a spot they’d know ‘I have a spot’, and if they had no spots they’d know ‘I have no spots’. In the same way, I have explained to my disciples a practice that they use to understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with their own mind …
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
256. “Này Udāyi, lại nữa, con đường thực hành đã được Như Lai tuyên thuyết cho các vị đệ tử, các vị đệ tử của Như Lai đã thực hành theo con đường ấy, với tâm của mình bao trùm tâm của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác, rồi biết rõ: Tâm có tham, biết là ‘tâm có tham’; tâm không tham, biết là ‘tâm không tham’; tâm có sân, biết là ‘tâm có sân’; tâm không sân, biết là ‘tâm không sân’; tâm có si, biết là ‘tâm có si’; tâm không si, biết là ‘tâm không si’; tâm co rút, biết là ‘tâm co rút’; tâm phân tán, biết là ‘tâm phân tán’; tâm quảng đại, biết là ‘tâm quảng đại’; tâm không quảng đại, biết là ‘tâm không quảng đại’; tâm hữu thượng, biết là ‘tâm hữu thượng’; tâm vô thượng, biết là ‘tâm vô thượng’; tâm có định, biết là ‘tâm có định’; tâm không định, biết là ‘tâm không định’; tâm giải thoát, biết là ‘tâm giải thoát’; tâm không giải thoát, biết là ‘tâm không giải thoát’. Này Udāyi, ví như người phụ nữ hay người đàn ông, trẻ trung, thanh xuân, thích trang điểm, khi soi bóng mặt của mình trong tấm gương trong sạch, sáng loáng, hoặc trong bát nước trong vắt, nếu có tỳ vết thì biết là ‘có tỳ vết’, nếu không có tỳ vết thì biết là ‘không có tỳ vết’; này Udāyi, cũng vậy, con đường thực hành đã được Như Lai tuyên thuyết cho các vị đệ tử, các vị đệ tử của Như Lai đã thực hành theo con đường ấy, với tâm của mình bao trùm tâm của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác, rồi biết rõ: Tâm có tham, biết là ‘tâm có tham’; tâm không tham ... (như trên) ... tâm có sân ... tâm không sân ... tâm có si ... tâm không si ... tâm co rút ... tâm phân tán ... tâm quảng đại ... tâm không quảng đại ... tâm hữu thượng ... tâm vô thượng ... tâm có định ... tâm không định ... tâm giải thoát ... tâm không giải thoát, biết là ‘tâm không giải thoát’. Và này, trong pháp ấy, nhiều vị đệ tử của Như Lai đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí và an trú.”
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussaranti, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi, anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathāpi, udāyi, puriso sakamhā gāmā aññaṁ gāmaṁ gaccheyya, tamhāpi gāmā aññaṁ gāmaṁ gaccheyya; so tamhā gāmā sakaṁyeva gāmaṁ paccāgaccheyya; tassa evamassa: ‘ahaṁ kho sakamhā gāmā aññaṁ gāmaṁ agacchiṁ, tatra evaṁ aṭṭhāsiṁ evaṁ nisīdiṁ evaṁ abhāsiṁ evaṁ tuṇhī ahosiṁ; tamhāpi gāmā amuṁ gāmaṁ agacchiṁ, tatrāpi evaṁ aṭṭhāsiṁ evaṁ nisīdiṁ evaṁ abhāsiṁ evaṁ tuṇhī ahosiṁ, somhi tamhā gāmā sakaṁyeva gāmaṁ paccāgato’ti. Evameva kho, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussaranti, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussaranti.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to recollect the many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details. Suppose a person was to leave their home village and go to another village. From that village they’d go to yet another village. And from that village they’d return to their home village. They’d think: ‘I went from my home village to another village. There I stood like this, sat like that, spoke like this, or kept silent like that. From that village I went to yet another village. There too I stood like this, sat like that, spoke like this, or kept silent like that. And from that village I returned to my home village.’ In the same way, I have explained to my disciples a practice that they use to recollect the many kinds of past lives.
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
257. “Này Udāyi, lại nữa, con đường thực hành đã được Như Lai tuyên thuyết cho các vị đệ tử, các vị đệ tử của Như Lai đã thực hành theo con đường ấy, nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp hoại và thành. ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, đã trải qua khổ lạc như thế này, có tuổi thọ giới hạn như thế này. Sau khi chết ở nơi ấy, ta đã sanh vào nơi kia. Ở nơi đó, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, đã trải qua khổ lạc như thế này, có tuổi thọ giới hạn như thế này. Sau khi chết ở nơi ấy, ta đã được sanh vào nơi đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các khía cạnh và các chi tiết. Này Udāyi, ví như một người đi từ làng của mình đến một ngôi làng khác, rồi từ ngôi làng ấy lại đi đến một ngôi làng khác nữa. Sau đó, từ ngôi làng ấy, người ấy quay trở về chính ngôi làng của mình. Người ấy có thể nghĩ rằng: ‘Ta đã đi từ làng của mình đến ngôi làng kia. Ở đó, ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã im lặng như thế này. Từ ngôi làng ấy, ta lại đi đến ngôi làng nọ. Ở đó, ta cũng đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã im lặng như thế này. Ta, người ấy, từ ngôi làng đó đã quay trở về chính ngôi làng của mình.’ Này Udāyi, cũng vậy, con đường thực hành đã được Như Lai tuyên thuyết cho các vị đệ tử, các vị đệ tử của Như Lai đã thực hành theo con đường ấy, nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là: một đời ... (như trên) ... Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các khía cạnh và các chi tiết. Và này, trong pháp ấy, nhiều vị đệ tử của Như Lai đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí và an trú.”
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passanti cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānanti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passanti cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānanti. Seyyathāpi, udāyi, dve agārā sadvārā. Tatra cakkhumā puriso majjhe ṭhito passeyya manusse gehaṁ pavisantepi nikkhamantepi anucaṅkamantepi anuvicarantepi; evameva kho, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passanti cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānanti …pe…
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use so that, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds. Suppose there were two houses with doors. A person with clear eyes standing in between them would see humans entering and leaving a house and wandering to and fro. In the same way, I have explained to my disciples a practice that they use so that, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn …
258. Lại nữa, này Udāyi, Ta đã tuyên thuyết pháp hành cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của Ta, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, đẹp đẽ, xấu xí, thiện thú, ác thú; họ biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ tà kiến và hành động theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ chánh kiến và hành động theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, họ thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, đẹp đẽ, xấu xí, thiện thú, ác thú; họ biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Này Udāyi, ví như có hai ngôi nhà có cửa đối diện nhau. Ở đấy, một người có mắt đứng giữa có thể thấy những người đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi tới đi lui, đi qua đi lại. Cũng vậy, này Udāyi, Ta đã tuyên thuyết pháp hành cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của Ta, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, đẹp đẽ, xấu xí, thiện thú, ác thú; họ biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ... và trong pháp này, nhiều đệ tử của Ta đã đạt đến sự toàn hảo, cứu cánh của thắng trí và an trú trong đó.
tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti. Seyyathāpi, udāyi, pabbatasaṅkhepe udakarahado accho vippasanno anāvilo, tattha cakkhumā puriso tīre ṭhito passeyya sippisambukampi sakkharakaṭhalampi macchagumbampi carantampi tiṭṭhantampi. Tassa evamassa: ‘ayaṁ kho udakarahado accho vippasanno anāvilo, tatrime sippisambukāpi sakkharakaṭhalāpi macchagumbāpi carantipi tiṭṭhantipī’ti.
Evameva kho, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Tatra ca pana me sāvakā bahū abhiññāvosānapāramippattā viharanti.
Ayaṁ kho, udāyi, pañcamo dhammo yena mama sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti.
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. Suppose that in a mountain glen there was a lake that was transparent, clear, and unclouded. A person with clear eyes standing on the bank would see the clams and mussels, pebbles and gravel, and schools of fish swimming about or staying still. They’d think: ‘This lake is transparent, clear, and unclouded. And here are the clams and mussels, pebbles and gravel, and schools of fish swimming about or staying still.’
In the same way, I have explained to my disciples a practice that they use to realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
And many of my disciples meditate on that having attained perfection and consummation of insight.
This is the fifth quality because of which my disciples are loyal to me.
259. Lại nữa, này Udāyi, Ta đã tuyên thuyết pháp hành cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của Ta, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu. Này Udāyi, ví như trên đỉnh núi có một hồ nước trong, trong vắt, không bị khuấy động. Ở đấy, một người có mắt đứng trên bờ có thể thấy cả vỏ sò, vỏ ốc, sỏi đá, và đàn cá đang bơi lội hay đứng yên. Người ấy có thể nghĩ rằng: ‘Hồ nước này thật trong, trong vắt, không bị khuấy động. Trong đó có những vỏ sò, vỏ ốc, sỏi đá, và đàn cá này đang bơi lội hay đứng yên.’ Cũng vậy, này Udāyi, Ta đã tuyên thuyết pháp hành cho các đệ tử, và khi thực hành theo đó, các đệ tử của Ta, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu. Và trong pháp này, nhiều đệ tử của Ta đã đạt đến sự toàn hảo, cứu cánh của thắng trí và an trú trong đó. Này Udāyi, đây là pháp thứ năm, do pháp này mà các đệ tử của Ta tôn kính, cung kính, quý trọng, đảnh lễ Ta; và sau khi tôn kính, cung kính, họ sống nương tựa vào Ta.
Ime kho, udāyi, pañca dhammā yehi mamaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharantī”ti.
These are the five qualities because of which my disciples honor, respect, revere, and venerate me; and honoring and respecting me, they remain loyal to me.”
Này Udāyi, đây là năm pháp, do những pháp này mà các đệ tử của Ta tôn kính, cung kính, quý trọng, đảnh lễ Ta; và sau khi tôn kính, cung kính, họ sống nương tựa vào Ta.
Idamavoca bhagavā. Attamano sakuludāyī paribbājako bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the wanderer Sakuludāyī approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Du sĩ Sakuludāyī hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Mahāsakuludāyisuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Đại Sakuludāyi, thứ bảy, chấm dứt.