- Majjhima Nikāya 76
Sandakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sandakasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tu viện Ghosita (Cù-sư-la).
SC 2Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka trú ở hang Pilakka với đại chúng du sĩ, khoảng độ năm trăm du sĩ. Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, và nói với các Tỷ-kheo
SC 3—Chư Hiền, chúng ta hãy đi đến Devakatasobbha để xem hang.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 4Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda. Rồi Tôn giả Ānanda với một số đông Tỷ-kheo đi đến Devakatasobbha. Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka ngồi với đại chúng du sĩ đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về đồ mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương, câu chuyện về hiện hữu và không hiện hữu. Du sĩ Sandaka thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình
SC 5—Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay đệ tử của Sa-môn Gotama, Sa-môn Ānanda đang đến. Khi nào các đệ tử của Sa-môn Gotama trú ở Kosambi, thời Sa-môn Ānanda này là một vị trong những vị ấy. Các Tôn giả ấy ưa mến trầm lặng, tu tập trong trầm lặng, tán thán trầm lặng, nếu biết chúng này trầm lặng, có thể ghé tại đây.
SC 6Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Tôn giả Ānanda đến chỗ du sĩ Sandaka. Du sĩ Sandaka thưa với Tôn giả Ānanda
SC 7—Hãy đến, Tôn giả Ānanda! Thiện lai, Tôn giả Ānanda! Ðã lâu Tôn giả Ānanda mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Tôn giả Ānanda hãy ngồi, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
SC 8Tôn giả Ānanda ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sandaka lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda nói với du sĩ Sandaka đang ngồi một bên
SC 9—Này Sandaka, nay các vị hội họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn?
SC 10—Tôn giả Ānanda, hãy gác một bên vấn đề chúng tôi đang hội họp bàn luận. Lát nữa Tôn giả Ānanda nghe lại cũng không khó khăn gì. Lành thay, nếu được Tôn giả Ānanda thuyết cho pháp thoại vị Ðạo sư của mình.
SC 11—Vậy này Sandaka, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 12Du sĩ Sandaka vâng đáp Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda nói như sau
SC 13—Này Sandaka, bốn pháp phi phạm hạnh trú này, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và bốn pháp bất an phạm hạnh cũng được tuyên bố. Ở đây, người có trí không thể tự mình sống Phạm hạnh và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 14—Tôn giả Ānanda, bốn pháp phi phạm hạnh trú do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống Phạm hạnh, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện; bốn pháp phi phạm hạnh trú ấy là gì?
SC 15—Ở đây, này Sandaka, có vị Ðạo sư có thuyết lý như sau, có quan điểm như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, sau khi đã tự mình giác ngộ với thắng trí tuyên bố về đời này và đời sau. Con người này do bốn đại họp thành, khi mệnh chung, địa đại quy nhập địa giới, thủy đại quy nhập thủy giới, hỏa đại quy nhập hỏa giới, phong đại quy nhập phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người, gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi, đến chỗ hỏa táng và thốt ra những lời kể lể, đặc tánh của người chết. Các xương thành màu xám như chim bồ câu, và những vật cúng dường trở thành tro bụi. Chỉ có người ngu mới tán dương bố thí, lời nói của họ trống không, giả dối, vô ích khi họ chấp thuyết “có sự hiện hữu (Atthikavada)”. Kẻ ngu cũng như người trí, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết”.
SC 16Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này, thuyết lý như vầy, quan điểm như vầy: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh …, không còn tồn tại sau khi chết”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Cả hai chúng ta, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị đoạn diệt, tiêu thất, sẽ không hiện hữu sau khi chết”. Thật sự là quá độ hạnh lõa thể, trọc đầu, tinh tấn ngồi chõ hỏ, nhổ lông tóc của vị Tôn sư này; trong khi ta sống trong gia đình được con cái bao bọc đoanh vây, thọ dụng chiên-đàn Kasi, mang dùng vòng hoa, hương liệu phấn sáp, hưởng thọ vàng bạc, và trong đời sau ta sẽ đồng đẳng với vị Tôn sư này về chỗ thọ sanh. Như vậy, ta biết gì, thấy gì mà ta sẽ sống Phạm hạnh dưới vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 17Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ nhất, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 18Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư có thuyết lý như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp đoạt, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất này, làm thành một đống thịt, thành một chồng thịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, gây ra tội ác. Nếu đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy có tội ác, gây ra tội ác. Nếu đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy có phước báo, tạo nên phước báo. Bố thí, tự điều phục, tự chế ngự, nói thật không có công đức, không tạo nên công đức”.
SC 19Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này, có thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự làm, khiến người làm, …, không tạo nên công đức”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống; nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Hành động của cả hai chúng ta không tạo ra tội ác”. Thật sự là quá độ … mà ta sẽ sống Phạm hạnh dưới vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 20Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ hai, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã tuyên bố và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 21Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị Ðạo sư có thuyết lý như vậy, có quan điểm như vầy: “Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình sẽ bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh, không nhân không duyên, các loài hữu tình sẽ được thanh tịnh. Không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả chúng sanh, tất cả sanh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Họ bị dắt dẫn chi phối bởi định mệnh, bởi sự trùng hợp, bởi tự tánh. Họ hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu sanh loại”.
SC 22Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này có thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: “Không có nhân, không có duyên, … Họ hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu sanh loại”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Cả hai chúng tôi, không có nhân, không có duyên sẽ được thanh tịnh”. Thật sự là quá độ … mà ta sẽ sống theo hạnh ấy dưới vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 23Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ ba, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 24Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư có thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: “Có bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đảnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm hại nhau. Chúng không thể ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Thế nào là bảy? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc, và thứ bảy là mạn. Bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm hại nhau. Chúng không thể ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây, không có người giết hại hoặc người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết, khi có một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi. Có tất cả là 14 trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thêm 60 một trăm và 6 một trăm. Có 5 một trăm loại nghiệp và có 5 nghiệp (theo 5 căn), lại có 3 nghiệp (về thân, khẩu, ý), lại có toàn nghiệp (thân và khẩu), bán nghiệp (ý), có 62 đạo, 62 trung kiếp, 6 giai cấp, 8 nhân địa; 4900 sanh nghiệp, 4900 kẻ du hành, 4900 chỗ ở của loài Nāga, 2000 căn, 3000 cảnh địa ngục, 36 trần giới, 7 tưởng thai, 7 vô tưởng thai, 7 tiết thai (sanh từ đốt, hay ly hệ thai) 7 loài Thiên, 7 loài Người, 7 loài Quỷ, 7 hồ nước, 7 pavutas (núi hay hồ nhỏ), 7000 pavutas, 700 papatas (vực thẳm), 7 mộng, 700 mộng có 8.400.000 đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người trí, sau khi lưu chuyển, luân hồi, sẽ trừ tận khổ đau. Không có lời nguyện: “Với giới này, với giới cấm này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã được thuần thục, bởi những nhẫn thọ liên tục không thể đo lường, khổ và lạc với những vật đo lường, trong luân hồi không có tăng giảm, không có cao thấp. Ví như cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến một mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người trí, sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ chấm dứt khổ đau”.
SC 25Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Có bảy thân này … sẽ chấm dứt khổ đau”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Cả hai chúng tôi, sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ chấm dứt khổ đau”. Thật sự là quá độ hạnh lõa thể, trọc đầu, tinh tấn ngồi chõ hỏ, nhổ lông tóc của vị Tôn sư này, trong khi ta sống trong gia đình, được con cái bao bọc đoanh vây, thọ dụng chiên-đàn Kasi, mang dùng vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, hưởng thọ vàng bạc, và trong đời sau ta sẽ đồng đẳng với vị Tôn sư này về chỗ thọ sanh. Như vậy ta biết gì, ta thấy gì mà ta sẽ sống theo hạnh ấy với vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly theo hạnh ấy và bỏ đi.
SC 26Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ tư, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 27Này Sandaka, bốn phi phạm hạnh trú này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây, người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện.
SC 28—Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Bốn phi phạm hạnh trú này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố là phi phạm hạnh trú, và ở đây, người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện. Tôn giả Ānanda, thế nào là bốn pháp bất an phạm hạnh được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện?
SC 29Ở đây, này Sandaka, có bậc Ðạo sư nhứt thiết tri, nhứt thiết kiến, tự xem đã chứng được tri kiến hoàn toàn: “Khi ta đi, ta đứng, ta ngủ và ta thức, tri, kiến được an trú ở trong ta, liên tục, không gián đoạn”. Vị ấy đi vào một nhà trống, không nhận được đồ ăn khất thực, và con chó cắn vị ấy, vị ấy gặp voi dữ, gặp người dữ, gặp bò dữ, và vị ấy hỏi tên và họ một người đàn bà, một người đàn ông, và hỏi tên những con đường của làng, của trị trấn. Vị ấy được hỏi: “Sao như thế này?”, và trả lời: “Ta phải vào một nhà trống, do vậy ta đã vào; ta phải không nhận được đồ ăn khất thực, do vậy ta đã không nhận được đồ ăn khất thực. Có người phải bị chó cắn, do vậy ta đã bị chó cắn. Có người phải gặp voi dữ, do vậy ta đã gặp; phải gặp ngựa dữ, do vậy ta đã gặp, phải gặp bò dữ, do vậy ta đã gặp. Có người phải hỏi tên và họ một người đàn bà, một người đàn ông, do vậy ta đã hỏi. Có người phải hỏi tên những con đường của làng, của thị trấn, do vậy ta đã hỏi”.
SC 30Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này là nhất thiết tri, nhứt thiết kiến …, do vậy ta đã hỏi”. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an”, nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 31Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ nhất, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 32Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chân thật, vị này thuyết pháp theo truyền thuyết, theo tương truyền và truyền thống, theo uy tín Thánh tạng. Này Sandaka, nếu vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chân thật, vị ấy có phần khéo nhớ, có phần không khéo nhớ, khi thì như thế này, khi thì như thế khác.
SC 33Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư: “Vị Tôn sư này y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chơn thật, vị này thuyết pháp theo truyền thuyết, theo tương truyền và truyền thống, theo uy tín Thánh tạng. Nếu vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chơn thật, vị ấy có phần khéo nhớ, có phần không khéo nhớ, khi thì như thế này, khi thì như thế khác. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an”, nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 34Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ hai, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 35Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận. Do sự đả phá của lý luận và y cứ theo suy luận, vị này thuyết pháp theo nguyên tắc tự mình sáng tác. Này Sandaka, nếu vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận, vị ấy có phần khéo lý luận, có phần không khéo lý luận, khi thì như thế này, khi thì như thế khác.
SC 36Ở đây, này Sandaka, người có trí suy nghĩ: “Vị Tôn sư này là nhà lý luận, là nhà suy luận. Do sự đả phá của lý luận và y cứ theo suy luận, vị này thuyết pháp theo nguyên tắc tự mình sáng tác. Nếu vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận, vị ấy có phần khéo lý luận, có phần không khéo lý luận, khi thì như thế này, khi thì như thế khác. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an” nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 37Này Sandaka đây là bất an phạm hạnh thứ ba, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện.
SC 38Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư là người đần độn, là người ngu si. Vì đần độn ngu si, khi được hỏi về vấn đề này, vấn đề khác, vị ấy dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Theo tôi không phải như vậy, theo tôi không phải như kia, theo tôi không khác như thế, theo tôi không phải như thế, theo tôi không không phải như thế”.
SC 39Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư: “Vị Tôn sư này là người đần độn, là người ngu si …, theo tôi không phải như thế”. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an”, nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 40Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ tư, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 41Này Sandaka, bốn bất an phạm hạnh này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp và chí thiện.
SC 42—Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Bốn pháp bất an phạm hạnh này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố là bất an phạm hạnh, và ở đây người trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện. Thưa Tôn giả Ānanda, vị Ðạo sư ấy dạy những gì, tuyên bố những gì, mà ở đây, người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống, có thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện?
SC 43—Ở đây, này Sandaka, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 44Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 45Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.
SC 46Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 47Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 48Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo y và bình bát. Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
SC 49Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
SC 50Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
SC 51Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
SC 52Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 53Sau khi trừ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Này Sandaka, nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư, thời ở đây người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống có thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 54Lại nữa, này Sandaka, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Nhị thiền … chứng đạt và an trú Tam thiền … chứng đạt và an trú Tứ thiền. Này Sandaka, nếu một đệ tử chiếm được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một Ðạo sư … thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 55Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy, hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời … như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Sandaka, nếu một đệ tử chiếm được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư … thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 56Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh … đều do hạnh nghiệp của họ. Này Sandaka nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư … thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 57Với tâm định tĩnh thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy như thật biết: “Ðây là Khổ” … vị ấy như thật biết: “Ðây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt”.
SC 58Vị ấy do biết vậy, do thấy vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”. Này Sandaka, nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một Ðạo sư nào, thời ở đây người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống có thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 59—Nhưng, thưa Tôn giả Ānanda, một Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị Tỷ-kheo ấy có thể thọ dụng các dục vọng không?
SC 60—Này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không thể vi phạm năm điều: Vị Tỷ-kheo, các lậu đã tận không có thể cố ý sát hại mạng sống chúng sanh; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể lấy của không cho, được gọi là ăn trộm; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hành dâm dục; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể cố ý nói láo; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hưởng thọ các dục đối với các vật được tàng trữ như trước khi còn tại gia. Này Sandaka, một vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không có thể vi phạm năm điều này.
SC 61—Thưa Tôn giả Ānanda, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ và thức, có phải tri kiến vị ấy được an trú một cách liên tục, không gián đoạn: “Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận”?
SC 62—Này Sandaka, tôi sẽ cho Ông một ví dụ, nhờ ví dụ ở đây, một số người có trí sẽ biết ý nghĩa câu nói. Ví như, này Sandaka, một người tay chân bị chặt; khi người ấy đi, đứng, ngủ và thức, tay chân bị chặt một cách liên tục, không gián đoạn, và khi người ấy suy tư về vấn đề này, người ấy biết: “Tay chân của ta bị chặt”. Cũng vậy, này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ và thức, các lậu hoặc được đoạn tận một cách liên tục, không gián đoạn, và khi vị ấy suy tư về vấn đề này, vị ấy biết: “Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận”.
SC 63—Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, có bao nhiêu vị lãnh đạo tối thắng trong Pháp và Luật này?
SC 64—Này Sandaka, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm, mà còn nhiều vị lãnh đạo tối thắng hơn nữa trong Pháp và Luật này.
SC 65—Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Không có sự tự tán thán pháp của mình, không có sự hủy báng pháp của người khác, nhưng cả hai sự thuyết pháp với các hành trì (ayatane) và rất nhiều vị lãnh đạo tối thắng như vậy đã được thấy (ở đây). Còn các tà mạn ngoại đạo này là những đứa con của người mẹ không con, họ tự tán thán, khen mình chê người, và họ chỉ có ba vị lãnh đạo tối thắng, tức là Nanda Vaccha, Kisā Sankicca và Makkhali Gosāla.
SC 66Rồi du sĩ Sandaka nói với đồ chúng của mình
SC 67—Chư Tôn giả, hãy đi và sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama, tuy rằng nay không có dễ gì cho chúng ta từ bỏ quyền lợi, tôn kính và danh tiếng.
SC 68Như vậy, du sĩ Sandaka đã đưa đồ chúng của mình sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 17–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Sandaka
Tena kho pana samayena sandako paribbājako pilakkhaguhāyaṁ paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ pañcamattehi paribbājakasatehi.
Atha kho āyasmā ānando sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi: “āyāmāvuso, yena devakatasobbho tenupasaṅkamissāma guhādassanāyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ. Atha kho āyasmā ānando sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena devakatasobbho tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena sandako paribbājako mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā, seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Addasā kho sandako paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpesi: “appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha; ayaṁ samaṇassa gotamassa sāvako āgacchati samaṇo ānando. Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā kosambiyaṁ paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro samaṇo ānando. Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino; appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti. Atha kho te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Now at that time the wanderer Sandaka was residing at the cave of the wavy leaf fig tree together with a large assembly of around five hundred wanderers.
Then in the late afternoon, Venerable Ānanda came out of retreat and addressed the mendicants: “Come, reverends, let’s go to the Devakata Pool to see the cave.”
“Yes, reverend,” they replied. Then Ānanda together with several mendicants went to the Devakata Pool.
Now at that time, Sandaka and the large assembly of wanderers were sitting together making an uproar, a colossal racket. They engaged in all kinds of low talk, such as talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place.
Sandaka saw Ānanda coming off in the distance, and hushed his own assembly, “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. The ascetic Ānanda, a disciple of the ascetic Gotama, is coming. He is included among the disciples of the ascetic Gotama, who is residing near Kosambī. Such venerables like the quiet, are educated to be quiet, and praise the quiet. Hopefully if he sees that our assembly is quiet he’ll see fit to approach.” Then those wanderers fell silent.
223. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Kosambī, trong tu viện Ghosita. Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka trú tại hang Pilakkha cùng với đại chúng du sĩ, khoảng năm trăm vị. Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, gọi các Tỳ-khưu: “Này chư hiền, chúng ta hãy đi đến hồ Devakata để xem hang động.” “Thưa vâng, hiền giả.” Các Tỳ-khưu ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda. Rồi Tôn giả Ānanda cùng với nhiều Tỳ-khưu đi đến hồ Devakata. Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka đang ngồi cùng với đại chúng du sĩ, một hội chúng đang nói chuyện ồn ào, lớn tiếng, huyên náo, với nhiều loại hý luận, tức là: chuyện vua, chuyện trộm, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện sợ hãi, chuyện chiến tranh, chuyện ăn, chuyện uống, chuyện y phục, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương thơm, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện xứ sở, chuyện phụ nữ, chuyện anh hùng, chuyện đường phố, chuyện bến nước, chuyện người đã khuất, chuyện tạp nhạp, chuyện thế gian, chuyện biển cả, và chuyện thịnh suy. Du sĩ Sandaka thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến. Thấy vậy, ông ra hiệu cho hội chúng của mình: “Quý vị hãy im lặng, quý vị chớ làm ồn. Vị này là Sa-môn Ānanda, đệ tử của Sa-môn Gotama, đang đi đến. Trong số các đệ tử của Sa-môn Gotama đang trú tại Kosambī, vị này là một trong số đó. Các Tôn giả ấy ưa thích sự im lặng, được huấn luyện trong sự im lặng, tán thán sự im lặng. Có lẽ khi thấy hội chúng im lặng, vị ấy sẽ nghĩ rằng nên đến gần.” Rồi các du sĩ ấy im lặng.
Atha kho āyasmā ānando yena sandako paribbājako tenupasaṅkami. Atha kho sandako paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “etu kho bhavaṁ ānando, svāgataṁ bhoto ānandassa. Cirassaṁ kho bhavaṁ ānando imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya. Nisīdatu bhavaṁ ānando, idamāsanaṁ paññattan”ti. Nisīdi kho āyasmā ānando paññatte āsane. Sandakopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sandakaṁ paribbājakaṁ āyasmā ānando etadavoca: “kāya nuttha, sandaka, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Tiṭṭhatesā, bho ānanda, kathā yāya mayaṁ etarahi kathāya sannisinnā. Nesā bhoto ānandassa kathā dullabhā bhavissati pacchāpi savanāya. Sādhu vata bhavantaṁyeva ānandaṁ paṭibhātu sake ācariyake dhammīkathā”ti.
“Tena hi, sandaka, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho sandako paribbājako āyasmato ānandassa paccassosi. Āyasmā ānando etadavoca:
“cattārome, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena abrahmacariyavāsā akkhātā cattāri ca anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni, yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Katame pana te, bho ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro abrahmacariyavāsā akkhātā, yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti?
Then Venerable Ānanda went up to the wanderer Sandaka, who said to him, “Come, worthy Ānanda! Welcome, worthy Ānanda! It’s been a long time since you took the opportunity to come here. Please sit down, here, a seat is ready.” Ānanda sat down on the seat spread out, while Sandaka took a low seat and sat to one side. Ānanda said to Sandaka, “Sandaka, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
“Worthy Ānanda, leave aside what we were sitting talking about just now. It won’t be hard for you to hear about that later. It’d be great if Mister Ānanda himself would give a Dhamma talk explaining his own denomination.”
“Well then, Sandaka, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” replied Sandaka. Venerable Ānanda said this:
“Sandaka, these things have been explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha: four ways that negate the spiritual life, and four kinds of unreliable spiritual life. A sensible person would, to the best of their ability, not practice such spiritual paths, and if they did practice them, they wouldn’t succeed in the system of the skillful teaching.”
“But worthy Ānanda, what are the four ways that negate the spiritual life, and the four kinds of unreliable spiritual life?”
224. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ du sĩ Sandaka. Bấy giờ, du sĩ Sandaka nói với Tôn giả Ānanda rằng: “Mong Tôn giả Ānanda hãy đến. Kính chào Tôn giả Ānanda. Đã lâu lắm rồi Tôn giả Ānanda mới có dịp đến đây. Mong Tôn giả Ānanda hãy ngồi. Chỗ ngồi này đã được soạn sẵn.” Tôn giả Ānanda đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Du sĩ Sandaka cũng lấy một chỗ ngồi thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda nói với du sĩ Sandaka đang ngồi một bên rằng: “Này Sandaka, hiện nay các ông đang ngồi hội họp với câu chuyện gì vậy? Và câu chuyện gì giữa chừng của các ông đã bị gián đoạn?” “Thưa Tôn giả Ānanda, hãy để yên câu chuyện mà chúng tôi đang ngồi hội họp. Câu chuyện ấy sẽ không khó cho Tôn giả Ānanda nghe lại về sau. Lành thay, mong rằng chính Tôn giả Ānanda sẽ khởi lên một bài pháp thoại về giáo lý của bậc Đạo sư của ngài.” “Vậy thì, này Sandaka, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, tôi sẽ nói.” Du sĩ Sandaka đã vâng đáp Tôn giả Ānanda: “Vâng, thưa ngài.” Tôn giả Ānanda đã nói điều này: “Này Sandaka, có bốn nơi không phải là trú xứ cho phạm hạnh này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, và bốn phạm hạnh không an ổn cũng đã được tuyên thuyết, là nơi mà người có trí chắc chắn sẽ không sống đời phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.” “Thưa Tôn giả Ānanda, bốn nơi không phải là trú xứ cho phạm hạnh đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, là nơi mà người có trí chắc chắn sẽ không sống đời phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành, là những gì?”
“Idha, sandaka, ekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi: ‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paroloko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedenti. Cātumahābhūtiko ayaṁ puriso yadā kālaṁ karoti, pathavī pathavīkāyaṁ anupeti anupagacchati, āpo āpokāyaṁ anupeti anupagacchati, tejo tejokāyaṁ anupeti anupagacchati, vāyo vāyokāyaṁ anupeti anupagacchati, ākāsaṁ indriyāni saṅkamanti. Āsandipañcamā purisā mataṁ ādāya gacchanti, yāvāḷāhanā padāni paññāyanti. Kāpotakāni aṭṭhīni bhavanti. Bhassantā āhutiyo; dattupaññattaṁ yadidaṁ dānaṁ. Tesaṁ tucchā musā vilāpo ye keci atthikavādaṁ vadanti. Bāle ca paṇḍite ca kāyassa bhedā ucchijjanti vinassanti na honti paraṁ maraṇā’ti.
“Sandaka, take a certain teacher who has this doctrine and view: ‘There’s no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight. This person is made up of the four principal states. When they die, the earth in their body progresses and proceeds to the substance of earth. The water in their body progresses and proceeds to the substance of water. The fire in their body progresses and proceeds to the substance of fire. The air in their body progresses and proceeds to the substance of air. The faculties are transferred to space. Four men with a bier carry away the corpse. Their footprints show the way to the cremation ground. The bones become bleached. Offerings dedicated to the gods end in ashes. Giving is a doctrine of morons. When anyone affirms a positive teaching it’s just hollow, false nonsense. Both the foolish and the astute are annihilated and destroyed when their body breaks up, and they don’t exist after death.’
225. “Này Sandaka, ở đây, có một vị đạo sư có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Không có (quả của) sự bố thí, không có (quả của) sự cúng dường, không có (quả của) sự tế lễ; không có quả, quả dị thục của các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các chúng sanh hóa sanh; không có ở đời các vị Sa-môn, Bà-la-môn đã đạt đến chánh đạo, đã thực hành chánh đạo, là những vị đã tự mình chứng ngộ với thắng trí về đời này và đời sau rồi tuyên thuyết lại. Con người này được tạo thành từ bốn đại chủng. Khi mạng chung, địa đại đi vào, nhập vào thân địa đại (bên ngoài); thủy đại đi vào, nhập vào thân thủy đại; hỏa đại đi vào, nhập vào thân hỏa đại; phong đại đi vào, nhập vào thân phong đại; các căn đi vào hư không. Những người đàn ông, với chiếc giường là thứ năm, mang xác chết đi. Dấu chân của họ được thấy cho đến tận nghĩa địa. Xương cốt trở nên có màu bồ câu. Các vật tế lễ kết thúc bằng tro bụi. Sự bố thí này là do kẻ ngu chế định. Những ai nói về thuyết tồn tại là những người nói lời trống rỗng, dối trá, và nói sảng. Cả kẻ ngu lẫn người trí, sau khi thân hoại, đều bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết.’”
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paroloko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedenti. Cātumahābhūtiko ayaṁ puriso yadā kālaṁ karoti, pathavī pathavīkāyaṁ anupeti anupagacchati, āpo āpokāyaṁ anupeti anupagacchati, tejo tejokāyaṁ anupeti anupagacchati, vāyo vāyokāyaṁ anupeti anupagacchati, ākāsaṁ indriyāni saṅkamanti. Āsandipañcamā purisā mataṁ ādāya gacchanti, yāvāḷāhanā padāni paññāyanti. Kāpotakāni aṭṭhīni bhavanti. Bhassantā āhutiyo; dattupaññattaṁ yadidaṁ dānaṁ. Tesaṁ tucchā musā vilāpo ye keci atthikavādaṁ vadanti. Bāle ca paṇḍite ca kāyassa bhedā ucchijjanti vinassanti na honti paraṁ maraṇā’ti. Sace imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ. Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubho kāyassa bhedā ucchijjissāma, vinassissāma, na bhavissāma paraṁ maraṇā’ti. Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ. Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi? ‘So abrahmacariyavāso ayan’ti—iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena paṭhamo abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘This teacher has such a doctrine and view. If what that teacher says is true, both I who have not accomplished this and one who has accomplished it have attained exactly the same level. Yet I’m not one who says that both of us are annihilated and destroyed when our body breaks up, and we don’t exist after death. But it’s superfluous for this teacher to go nude, bald, persisting in squatting, tearing out their hair and beard. For I’m living at home with my children, using sandalwood imported from Kāsi, wearing garlands, fragrance, and makeup, and accepting gold and currency. Yet I’ll have exactly the same destiny in the next life as this teacher. What do I know or see that I should lead the spiritual life under this teacher? This negates the spiritual life.’ Realizing this, they leave disappointed.
This is the first way that negates the spiritual life.
“Này Sandaka, ở đây, người có trí suy xét như sau: ‘Vị Tôn Sư này có quan điểm và chủ trương như vầy: ‘Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế tự; không có kết quả của các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các chúng sanh hóa sanh; ở đời không có các vị Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh, thực hành chân chánh, những người đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên bố về đời này và đời sau. Con người này do bốn đại hợp thành; khi mạng chung, địa đại trở về và hòa nhập với địa đại; thủy đại trở về và hòa nhập với thủy đại; hỏa đại trở về và hòa nhập với hỏa đại; phong đại trở về và hòa nhập với phong đại; các căn đi vào hư không. Những người đàn ông, với chiếc giường là thứ năm, mang người chết đi; dấu chân của họ chỉ thấy được cho đến nghĩa địa. Xương cốt trở nên có màu bồ câu. Các vật cúng dường kết thúc bằng tro bụi. Việc bố thí này là do kẻ ngu đặt ra. Lời của những ai chủ trương thuyết tồn tại là trống rỗng, dối trá, là lời than vãn. Cả kẻ ngu lẫn người trí, sau khi thân hoại, đều bị đoạn diệt, tiêu vong, không còn tồn tại sau khi chết.’ Nếu lời của vị Tôn Sư này là sự thật, thì ở đây, đối với tôi, việc không làm lại thành ra đã làm, việc không sống (phạm hạnh) lại thành ra đã sống. Cả hai chúng ta ở đây đều bình đẳng như nhau, đã đạt đến sự đồng đẳng, tức là tôi, người không nói rằng ‘cả hai sau khi thân hoại sẽ bị đoạn diệt, tiêu vong, không còn tồn tại sau khi chết’. Lại nữa, sự lõa thể, cạo đầu, ngồi xổm, nhổ râu tóc của vị Tôn Sư này quả là thừa thãi, trong khi tôi, người đang sống trong cảnh gia đình vợ con chật chội, đang hưởng thụ gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, đang mang vòng hoa, hương thơm, vật thoa xức, đang vui thích với vàng bạc, lại sẽ có cùng một cảnh giới tương lai như vị Tôn Sư này. Vậy thì, tôi biết gì, thấy gì mà phải thực hành phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của vị thầy này? ‘Đây là một cuộc sống không phạm hạnh’ – biết như vậy, vị ấy nhàm chán và từ bỏ phạm hạnh ấy. Này Sandaka, đây là cuộc sống không phạm hạnh thứ nhất đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, nơi mà người có trí chắc chắn sẽ không sống đời phạm hạnh, và nếu có sống, cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.”
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi: ‘karoto kārayato chindato chedāpayato pacato pācāpayato socayato socāpayato kilamato kilamāpayato phandato phandāpayato pāṇamatipātayato adinnaṁ ādiyato sandhiṁ chindato nillopaṁ harato ekāgārikaṁ karoto paripanthe tiṭṭhato paradāraṁ gacchato musā bhaṇato karoto na karīyati pāpaṁ. Khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo. Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento chindanto chedāpento pacanto pacāpento, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo. Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento yajanto yajāpento, natthi tatonidānaṁ puññaṁ, natthi puññassa āgamo. Dānena damena saṁyamena saccavajjena natthi puññaṁ, natthi puññassa āgamo’ti.
Furthermore, take a certain teacher who has this doctrine and view: ‘The one who acts does nothing wrong when they punish, mutilate, torture, aggrieve, oppress, intimidate, or when they encourage others to do the same. Nothing bad is done when they kill, steal, break into houses, plunder wealth, steal from isolated buildings, commit highway robbery, commit adultery, and lie. If you were to reduce all the living creatures of this earth to one heap and mass of flesh with a razor-edged chakram, no evil comes of that, and no outcome of evil. If you were to go along the south bank of the Ganges killing, mutilating, and torturing, and encouraging others to do the same, no evil comes of that, and no outcome of evil. If you were to go along the north bank of the Ganges giving and sacrificing and encouraging others to do the same, no merit comes of that, and no outcome of merit. In giving, self-control, restraint, and truthfulness there is no merit or outcome of merit.’
226. “Lại nữa, này Sandaka, ở đây có một vị đạo sư có quan điểm và chủ trương như vầy: ‘Khi một người hành động hay sai người khác hành động, cắt hay sai người khác cắt, nấu nướng hay sai người khác nấu nướng, làm cho sầu muộn hay sai người khác làm cho sầu muộn, làm cho mệt mỏi hay sai người khác làm cho mệt mỏi, làm cho run sợ hay sai người khác làm cho run sợ, sát sanh, lấy của không cho, phá nhà, cướp bóc, chặn đường, ngoại tình, nói dối, thì người ấy không làm điều ác. Dù cho người ấy dùng một bánh xe có vành sắc như dao cạo để biến chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt, một khối thịt duy nhất, thì do nhân duyên đó không có điều ác, không có sự phát sanh của điều ác. Dù cho người ấy đi đến bờ phía nam sông Gaṅgā, vừa đi vừa giết, sai giết, cắt, sai cắt, nấu nướng, sai nấu nướng, thì do nhân duyên đó không có điều ác, không có sự phát sanh của điều ác. Dù cho người ấy đi đến bờ phía bắc sông Gaṅgā, vừa đi vừa bố thí, sai bố thí, cúng dường, sai cúng dường, thì do nhân duyên đó không có công đức, không có sự phát sanh của công đức. Do bố thí, do tự chủ, do chế ngự, do lời nói chân thật, không có công đức, không có sự phát sanh của công đức.’”
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—karoto kārayato chindato chedāpayato pacato pācāpayato socato socāpayato kilamato kilamāpayato phandato phandāpayato pāṇamatipātayato adinnaṁ ādiyato sandhiṁ chindato nillopaṁ harato ekāgārikaṁ karoto paripanthe tiṭṭhato paradāraṁ gacchato musā bhaṇato karoto na karīyati pāpaṁ khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo. Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento chindanto chedāpento pacanto pacāpento, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo. Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento yajanto yajāpento, natthi tatonidānaṁ puññaṁ, natthi puññassa āgamo. Dānena damena saṁyamena saccavajjena natthi puññaṁ, natthi puññassa āgamo’ti. Sace imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ. Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubhinnaṁ kurutaṁ na karīyati pāpan’ti. Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ. Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi? ‘So abrahmacariyavāso ayan’ti iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyo abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘This teacher has such a doctrine and view. If what that teacher says is true, both I who have not accomplished this and one who has accomplished it have attained exactly the same level. Yet I’m not one who says that when both of us act, nothing wrong is done. But it’s superfluous for this teacher to go nude, bald, persisting in squatting, tearing out their hair and beard. For I’m living at home with my children, using sandalwood imported from Kāsi, wearing garlands, fragrance, and makeup, and accepting gold and currency. Yet I’ll have exactly the same destiny in the next life as this teacher. What do I know or see that I should lead the spiritual life under this teacher? This negates the spiritual life.’ Realizing this, they leave disappointed.
This is the second way that negates the spiritual life.
“Này Sandaka, ở đây người có trí suy xét như vầy: ‘Vị đạo sư tôn giả này có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: “Đối với người làm, người sai làm, người chặt, người sai chặt, người hành hạ, người sai hành hạ, người gây sầu muộn, người sai gây sầu muộn, người gây mệt mỏi, người sai gây mệt mỏi, người gây run sợ, người sai gây run sợ, người sát sanh, người lấy của không cho, người khoét vách, người cướp đoạt, người trộm cướp một nhà, người đứng chặn đường, người ngoại tình, người nói dối, thì khi làm, việc ác không được xem là đã làm. Cho dù người nào dùng vòng xe có vành sắc bén như dao cạo biến chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt, một khối thịt duy nhất, thì do nhân duyên ấy không có ác nghiệp, không có sự phát sanh của ác nghiệp. Cho dù đi đến bờ nam sông Gaṅgā, vừa giết, vừa sai giết, vừa chặt, vừa sai chặt, vừa hành hạ, vừa sai hành hạ, thì do nhân duyên ấy không có ác nghiệp, không có sự phát sanh của ác nghiệp. Cho dù đi đến bờ bắc sông Gaṅgā, vừa bố thí, vừa sai bố thí, vừa tế tự, vừa sai tế tự, thì do nhân duyên ấy không có phước báu, không có sự phát sanh của phước báu. Qua việc bố thí, tự điều phục, tự chế ngự, nói lời chân thật, không có phước báu, không có sự phát sanh của phước báu.” Nếu lời nói của vị đạo sư tôn giả này là sự thật, thì ở đây, dù tôi không làm (việc ác) cũng xem như đã làm, dù không thực hành (khổ hạnh) cũng xem như đã thực hành. Ở đây, cả hai chúng ta đều hoàn toàn giống nhau, đã đạt đến trạng thái tương đồng, dầu tôi là người không nói rằng: “Đối với cả hai người đang làm, ác nghiệp không được xem là đã làm.” Hơn nữa, việc thực hành lõa thể, cạo trọc đầu, ngồi chồm hổm, nhổ tóc và râu của vị đạo sư tôn giả này quả là thừa thãi; trong khi tôi là người sống trong gia đình chật chội vì vợ con, hưởng thụ gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, dùng vòng hoa, hương thơm, và vật thoa xức, thọ nhận vàng bạc, lại sẽ có cùng cảnh giới tương lai như vị đạo sư tôn giả này. Vậy tôi, biết gì, thấy gì mà lại thực hành phạm hạnh với vị đạo sư này? “Đây là một nếp sống không phải phạm hạnh.” – sau khi biết như vậy, vị ấy nhàm chán nếp sống phạm hạnh đó và bỏ đi. Này Sandaka, đây chính là nếp sống không phải phạm hạnh thứ hai đã được Thế Tôn, bậc Hiểu biết, bậc Kiến chứng, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, là nơi mà người có trí chắc chắn sẽ không sống đời phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp hợp lý, pháp thiện.’ ”
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi: ‘natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya; ahetū appaccayā sattā saṅkilissanti; natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā; ahetū appaccayā sattā visujjhanti; natthi balaṁ, natthi vīriyaṁ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo; sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedentī’ti.
Furthermore, take a certain teacher who has this doctrine and view: ‘There is no cause or reason for the corruption of sentient beings. Sentient beings are corrupted without cause or reason. There’s no cause or reason for the purification of sentient beings. Sentient beings are purified without cause or reason. There is no power, no energy, no human strength or vigor. All sentient beings, all living creatures, all beings, all souls lack control, power, and energy. Molded by destiny, circumstance, and nature, they experience pleasure and pain in the six classes of rebirth.’
227. “Lại nữa, này Sandaka, ở đây có một vị đạo sư có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Không có nhân, không có duyên cho sự ô nhiễm của chúng sanh; chúng sanh bị ô nhiễm không do nhân, không do duyên. Không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh; chúng sanh được thanh tịnh không do nhân, không do duyên. Không có năng lực, không có tinh tấn, không có sức mạnh của con người, không có sự nỗ lực của con người. Tất cả chúng sanh, tất cả loài có hơi thở, tất cả loài hữu tình, tất cả sinh vật đều bất lực, không có sức mạnh, không có tinh tấn, bị biến đổi bởi định mệnh, sự ngẫu hợp, và bản chất, chỉ cảm thọ khổ và lạc trong sáu loại sanh loại đặc biệt mà thôi.’”
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya, ahetū appaccayā sattā saṅkilissanti. Natthi hetu natthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā, ahetū appaccayā sattā visujjhanti. Natthi balaṁ, natthi vīriyaṁ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo, sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedentī’ti. Sace imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ. Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubho ahetū appaccayā visujjhissāmā’ti. Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ. Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi? ‘So abrahmacariyavāso ayan’ti—iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyo abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘This teacher has such a doctrine and view. If what that teacher says is true, both I who have not accomplished this and one who has accomplished it have attained exactly the same level. Yet I’m not one who says that both of us are purified without cause or reason. But it’s superfluous for this teacher to go nude, bald, persisting in squatting, tearing out their hair and beard. For I’m living at home with my children, using sandalwood imported from Kāsi, wearing garlands, fragrance, and makeup, and accepting gold and currency. Yet I’ll have exactly the same destiny in the next life as this teacher. What do I know or see that I should lead the spiritual life under this teacher? This negates the spiritual life.’ Realizing this, they leave disappointed.
This is the third way that negates the spiritual life.
“Này Sandaka, ở đây, người có trí suy xét như vầy: ‘Vị đạo sư tôn giả này có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: “Không có nhân, không có duyên cho sự ô nhiễm của chúng sanh; chúng sanh bị ô nhiễm không do nhân, không do duyên. Không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh; chúng sanh được thanh tịnh không do nhân, không do duyên. Không có năng lực, không có tinh tấn, không có sức mạnh của con người, không có sự nỗ lực của con người, tất cả chúng sanh, tất cả loài có hơi thở, tất cả loài hữu tình, tất cả sinh vật đều bất lực, không có sức mạnh, không có tinh tấn, bị biến đổi bởi định mệnh, sự ngẫu hợp, và bản chất, chỉ cảm thọ khổ và lạc trong sáu loại sanh loại đặc biệt mà thôi.” Nếu lời nói của vị đạo sư tôn giả này là sự thật, thì ở đây, đối với tôi, việc chưa làm đã được xem là đã làm, đời sống chưa sống đã được xem là đã sống. Ở đây, cả hai chúng ta đều hoàn toàn giống nhau, đã đạt đến trạng thái tương đồng, cả tôi là người không nói rằng: ‘Cả hai chúng ta sẽ được thanh tịnh không do nhân, không do duyên.’ Hơn nữa, việc thực hành lõa thể, cạo trọc đầu, ngồi chồm hổm, nhổ râu tóc của vị đạo sư tôn giả này quả là thừa thãi, trong khi tôi là người sống trong gia đình chật chội con cái, hưởng thụ gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, mang vòng hoa, hương thơm, và vật thoa xức, vui thích với vàng bạc, lại sẽ có cùng một cảnh giới tương lai như vị đạo sư tôn giả này. Vậy tôi, biết gì, thấy gì mà lại thực hành phạm hạnh với vị đạo sư này trong đời sau? ‘Đây là nơi không phải phạm hạnh.’ – sau khi biết như vậy, vị ấy nhàm chán và từ bỏ phạm hạnh ấy. Này Sandaka, đây chính là nơi không phải phạm hạnh thứ ba đã được Thế Tôn, bậc Toàn Giác, A-la-hán, bậc biết, bậc thấy, tuyên thuyết, là nơi mà người có trí chắc chắn sẽ không sống đời phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp hợp lý, pháp thiện.”
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi: ‘sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā, te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā. Katame satta? Pathavīkāyo āpokāyo tejokāyo vāyokāyo sukhe dukkhe jīve sattame—ime sattakāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā. Te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti. Nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā. Tattha natthi hantā vā ghātetā vā sotā vā sāvetā vā viññātā vā viññāpetā vā. Yopi tiṇhena satthena sīsaṁ chindati, na koci kañci jīvitā voropeti. Sattannaṁ tveva kāyānamantarena satthaṁ vivaramanupatati. Cuddasa kho panimāni yonipamukhasatasahassāni saṭṭhi ca satāni cha ca satāni pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni tīṇi ca kammāni, kamme ca aḍḍhakamme ca, dvaṭṭhipaṭipadā, dvaṭṭhantarakappā, chaḷābhijātiyo, aṭṭha purisabhūmiyo, ekūnapaññāsa ājīvakasate, ekūnapaññāsa paribbājakasate, ekūnapaññāsa nāgāvāsasate, vīse indriyasate, tiṁse nirayasate, chattiṁsa rajodhātuyo, satta saññīgabbhā, satta asaññīgabbhā, satta nigaṇṭhigabbhā, satta devā, satta mānusā, satta pesācā, satta sarā, satta pavuṭā, satta papātā, satta papātasatāni, satta supinā, satta supinasatāni, cullāsīti mahākappino satasahassāni, yāni bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissanti. Tattha natthi imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā aparipakkaṁ vā kammaṁ paripācessāmi, paripakkaṁ vā kammaṁ phussa phussa byantiṁ karissāmīti. Hevaṁ natthi doṇamite sukhadukkhe pariyantakate saṁsāre, natthi hāyanavaḍḍhane, natthi ukkaṁsāvakaṁse. Seyyathāpi nāma suttaguḷe khitte nibbeṭhiyamānameva paleti; evameva bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissantī’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā. Te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti. Nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā. Katame satta? Pathavīkāyo āpokāyo tejokāyo vāyokāyo sukhe dukkhe jīve sattame—ime satta kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā. Te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti. Nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā. Tattha natthi hantā vā ghātetā vā sotā vā sāvetā vā viññātā vā viññāpetā vā.
Furthermore, take a certain teacher who has this doctrine and view: ‘There are these seven substances that are not made, not derived, not created, without a creator, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They don’t move or deteriorate or obstruct each other. They’re unable to cause pleasure, pain, or both pleasure and pain to each other. What seven? The substances of earth, water, fire, air; pleasure, pain, and the soul is the seventh. These seven substances are not made, not derived, not created, without a creator, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They don’t move or deteriorate or obstruct each other. They’re unable to cause pleasure, pain, or both pleasure and pain to each other. And here there is no one who kills or who makes others kill; no one who learns or who educates others; no one who understands or who helps others understand. If you chop off someone’s head with a sharp sword, you don’t take anyone’s life. The sword simply passes through the gap between the seven substances. There are 1.4 million main wombs, and 6,000, and 600; 500 deeds, and five, and three; deeds and half-deeds; 62 paths of practice, 62 sub-eons, six classes of rebirth, and eight stages in a person’s life; 4,900 Ājīvaka ascetics, 4,900 wanderers, and 4,900 dragon abodes; 2,000 lordships, 3,000 hells, and 36 realms of dusky sky; seven percipient embryos, seven non-percipient embryos, seven knotless embryos, seven gods, seven mental heavens, seven goblins, seven streams, seven castoff incarnations and 700 castoff incarnations, seven downfalls and 700 downfalls, seven dreams and 700 dreams, and 8.4 million great eons—through all of which the foolish and the astute transmigrate before making an end of suffering. And here there is no such thing as this: “By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice I shall force unripened deeds to bear their fruit, or eliminate old deeds by experiencing their results little by little”—for that cannot be. Pleasure and pain are allotted. Transmigration lasts only for a limited period, so there’s no increase or decrease, no getting better or worse. It’s like how, when you toss a ball of string, it rolls away unraveling. In the same way, after transmigrating the foolish and the astute will make an end of suffering.’
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘This teacher has such a doctrine and view.
228. Này Sandaka, lại nữa, ở đời này có một vị đạo sư có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Bảy thân này không được làm, không được tạo tác, không được hóa sanh, không được sáng tạo, không sanh sản, đứng vững như đỉnh núi, đứng yên như cột trụ. Chúng không chuyển động, không biến đổi, không xâm hại lẫn nhau, không có khả năng gây ra lạc, khổ, hay lạc khổ cho nhau. Bảy thân ấy là gì? Thân đất, thân nước, thân lửa, thân gió, lạc, khổ, và thứ bảy là mạng sống. Bảy thân này không được làm, không được tạo tác, không được hóa sanh, không được sáng tạo, không sanh sản, đứng vững như đỉnh núi, đứng yên như cột trụ. Chúng không chuyển động, không biến đổi, không xâm hại lẫn nhau. Không có khả năng gây ra lạc, khổ, hay lạc khổ cho nhau. Ở đây, không có người giết, không có người sai giết, không có người nghe, không có người làm cho nghe, không có người biết, không có người làm cho biết. Dù cho có người dùng gươm bén chặt đầu, cũng không ai tước đoạt mạng sống của ai cả. Lưỡi gươm chỉ đi vào khoảng trống giữa bảy thân ấy mà thôi. Lại nữa, có một triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn sáu trăm nguồn gốc sanh khởi chính, năm trăm nghiệp, năm nghiệp, ba nghiệp, một nghiệp và nửa nghiệp, sáu mươi hai con đường thực hành, sáu mươi hai trung kiếp, sáu loại sanh loại cao quý, tám giai đoạn của con người, bốn ngàn chín trăm tà mạng, bốn ngàn chín trăm du sĩ, bốn ngàn chín trăm trú xứ của loài rồng, hai ngàn căn, ba ngàn địa ngục, ba mươi sáu trần cấu giới, bảy loại thai tạng có tưởng, bảy loại thai tạng không có tưởng, bảy loại thai tạng từ đốt, bảy loại chư thiên, bảy loại người, bảy loại ngạ quỷ, bảy hồ lớn, bảy mấu lớn, bảy vực thẳm lớn, bảy trăm vực thẳm, bảy giấc mộng lớn, bảy trăm giấc mộng, và tám triệu bốn trăm ngàn đại kiếp; trải qua ngần ấy thời gian, cả kẻ ngu lẫn người trí, sau khi đã luân chuyển, lang thang trong vòng sanh tử, sẽ chấm dứt khổ đau. Trong thời gian ấy, không có chuyện: ‘Ta sẽ nhờ giới này, hay hạnh này, hay khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, làm cho nghiệp chưa chín được chín muồi, hoặc làm cho nghiệp đã chín muồi được tiêu trừ sau khi đã trải qua quả báo của nó’. Không có chuyện như vậy. Lạc và khổ đã được đo lường, vòng sanh tử đã được định giới hạn, không có tăng giảm, không có hơn kém. Ví như một cuộn chỉ được ném đi, nó sẽ lăn ra cho đến hết chiều dài của nó. Cũng vậy, cả kẻ ngu lẫn người trí, sau khi đã luân chuyển, lang thang trong vòng sanh tử, sẽ chấm dứt khổ đau.’
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena catuttho abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
This is the fourth way that negates the spiritual life.
“Này Sandaka, ở đây, người có trí suy xét như sau: ‘Vị Tôn sư này có quan điểm và chủ trương như vầy: ‘Có bảy thân này không được tạo ra, không được làm cho tạo ra, không được hóa sinh, không được làm cho hóa sinh, không kết quả, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng không lay động, không biến đổi, không làm hại lẫn nhau. Chúng không có khả năng đem lại lạc, khổ, hay cả lạc lẫn khổ cho nhau. Bảy thân ấy là gì? Thân đất, thân nước, thân lửa, thân gió, lạc, khổ, và thứ bảy là mạng sống. Bảy thân này không được tạo ra, không được làm cho tạo ra, không được hóa sinh, không được làm cho hóa sinh, không kết quả, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng không lay động, không biến đổi, không làm hại lẫn nhau. Chúng không có khả năng đem lại lạc, khổ, hay cả lạc lẫn khổ cho nhau. Ở đây, không có người giết, không có người sai giết, không có người nghe, không có người sai nghe, không có người biết, không có người sai biết. Dù có người dùng gươm sắc bén chặt đầu, cũng không ai tước đoạt mạng sống của ai cả. Lưỡi gươm chỉ đi vào khoảng trống giữa bảy thân ấy mà thôi. Lại nữa, có một triệu bốn trăm ngàn sáu ngàn sáu trăm loài chính, năm trăm loại nghiệp, năm nghiệp, ba nghiệp, một nghiệp và nửa nghiệp, sáu mươi hai lối hành trì, sáu mươi hai trung kiếp, sáu loại sanh, tám giai đoạn đời người, bốn ngàn chín trăm cách sinh sống của các tu sĩ lõa thể, bốn ngàn chín trăm loại du sĩ, bốn ngàn chín trăm trú xứ của loài rồng, hai ngàn loại căn, ba ngàn địa ngục, ba mươi sáu cảnh giới bụi trần, bảy loại thai tạng có tưởng, bảy loại thai tạng không tưởng, bảy loại thai tạng không có đốt, bảy loại chư thiên, bảy loại người, bảy loại quỷ tiệpệp, bảy cái hồ, bảy cái gò, bảy cái vực, bảy trăm cái vực, bảy giấc mộng, bảy trăm giấc mộng, và tám triệu bốn trăm ngàn đại kiếp. Kẻ ngu và người trí sau khi đã lang thang, luân hồi trong suốt thời gian ấy, sẽ chấm dứt đau khổ. Ở đây, không có chuyện: ‘Ta sẽ nhờ giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này mà làm cho nghiệp chưa chín được chín muồi, hoặc làm cho nghiệp đã chín muồi tiêu tan đi bằng cách trải nghiệm nó nhiều lần’. Không có chuyện như vậy. Khổ và lạc đã được đo lường bằng đấu, luân hồi đã được định sẵn giới hạn, không có tăng giảm, không có hơn kém. Cũng như cuộn chỉ khi được ném đi, nó sẽ lăn cho đến khi ξε hết chỉ, cũng vậy, kẻ ngu và người trí sau khi đã lang thang, luân hồi, sẽ chấm dứt đau khổ’.’ Nếu lời của vị Tôn sư này là sự thật, thì ở đây, việc ta chưa làm đã được xem là đã làm, đời sống ta chưa sống đã được xem là đã sống. Cả hai chúng ta, người nói và người không nói như vậy, đều hoàn toàn bình đẳng, đã đạt đến trạng thái như nhau. ‘Cả hai chúng ta, sau khi lang thang, luân hồi, sẽ chấm dứt đau khổ’. Thế thì, việc lõa thể, cạo đầu, ngồi chồm hổm, nhổ râu tóc của vị Tôn sư này quả là thừa thãi, trong khi ta sống trong cảnh gia đình vợ con ràng buộc, dùng gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, đeo vòng hoa, thoa hương liệu, vui hưởng vàng bạc, mà trong tương lai cũng sẽ có cùng một cảnh giới như vị Tôn sư này. Vậy ta biết gì, thấy gì mà phải thực hành phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của vị thầy này? Người ấy nhận ra rằng: ‘Đây là một đời sống không phạm hạnh’, và sau khi biết như vậy, người ấy chán ngán và từ bỏ đời sống phạm hạnh ấy. Này Sandaka, đây là đời sống không phạm hạnh thứ tư đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, nơi mà người có trí chắc chắn sẽ không sống đời sống phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.”
Ime kho te, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro abrahmacariyavāsā akkhātā yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
These are the four ways that negate the spiritual life that have been explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. A sensible person would, to the best of their ability, not practice such spiritual paths, and if they did practice them, they wouldn’t succeed in the system of the skillful teaching.”
“Này Sandaka, đây là bốn đời sống không phạm hạnh đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, nơi mà người có trí chắc chắn sẽ không sống đời sống phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.”
“Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda. Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro abrahmacariyavāsāva samānā ‘abrahmacariyavāsā’ti akkhātā yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalanti. Katamāni pana tāni, bho ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāri anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti?
“It’s incredible, worthy Ānanda, it’s amazing, how these four ways that negate the spiritual life have been explained by the Buddha. But worthy Ānanda, what are the four kinds of unreliable spiritual life?”
“Thật vi diệu, thưa Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Ānanda! Thật tuyệt vời thay khi Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã tuyên thuyết bốn đời sống không phạm hạnh này đúng là ‘đời sống không phạm hạnh’, nơi mà người có trí chắc chắn sẽ không sống đời sống phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành. Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, đâu là bốn phạm hạnh không mang lại sự an ủi đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, nơi mà người có trí chắc chắn sẽ không sống đời sống phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành?”
“Idha, sandaka, ekacco satthā sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti: ‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti. So suññampi agāraṁ pavisati, piṇḍampi na labhati, kukkuropi ḍaṁsati, caṇḍenapi hatthinā samāgacchati, caṇḍenapi assena samāgacchati, caṇḍenapi goṇena samāgacchati, itthiyāpi purisassapi nāmampi gottampi pucchati, gāmassapi nigamassapi nāmampi maggampi pucchati. So ‘kimidan’ti puṭṭho samāno ‘suññaṁ me agāraṁ pavisitabbaṁ ahosi’, tena pāvisiṁ; ‘piṇḍampi aladdhabbaṁ ahosi’, tena nālatthaṁ; ‘kukkurena ḍaṁsitabbaṁ ahosi’, tenamhi daṭṭho; ‘caṇḍena hatthinā samāgantabbaṁ ahosi’, tena samāgamiṁ; ‘caṇḍena assena samāgantabbaṁ ahosi’, tena samāgamiṁ; ‘caṇḍena goṇena samāgantabbaṁ ahosi’, tena samāgamiṁ; ‘itthiyāpi purisassapi nāmampi gottampi pucchitabbaṁ ahosi’, tena pucchiṁ; ‘gāmassapi nigamassapi nāmampi maggampi pucchitabbaṁ ahosi’, tena pucchinti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti …pe… ‘gāmassapi nigamassapi nāmampi maggampi pucchitabbaṁ ahosi, tena pucchin’ti. So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena paṭhamaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
“Sandaka, take a certain teacher who claims to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception, thus: ‘Knowledge and vision are constantly and continually present to me, while walking, standing, sleeping, and waking.’ They enter an empty house; they get no almsfood; a dog bites them; they encounter a wild elephant, a wild horse, and a wild cow; they ask the name and clan of a woman or man; they ask the name and path to a village or town. When asked, ‘Why is this?’ they answer: ‘I had to enter an empty house, that’s why I entered it. I had to get no almsfood, that’s why I got none. I had to get bitten by a dog, that’s why I was bitten. I had to encounter a wild elephant, a wild horse, and a wild cow, that’s why I encountered them. I had to ask the name and clan of a woman or man, that’s why I asked. I had to ask the name and path to a village or town, that’s why I asked.’
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘This teacher makes such a claim, but they answer in such a way. This spiritual life is unreliable.’ Realizing this, they leave disappointed.
This is the first kind of unreliable spiritual life.
229. “Này Sandaka, ở đây, có vị đạo sư tự nhận là bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận có tri kiến không dư sót rằng: ‘Dù ta đi, đứng, ngủ, hay thức, tri kiến luôn luôn, liên tục hiện hữu.’ Vị ấy đi vào ngôi nhà trống, không nhận được vật thực, bị chó cắn, gặp phải voi dữ, gặp phải ngựa dữ, gặp phải bò dữ, hỏi tên và họ của người nữ và người nam, hỏi tên và đường đi của làng và thị trấn. Khi được hỏi: ‘Tại sao lại như vậy?’, vị ấy trả lời: ‘Ta phải đi vào ngôi nhà trống, nên ta đã vào; ta phải không nhận được vật thực, nên ta đã không nhận; ta phải bị chó cắn, nên ta đã bị cắn; ta phải gặp voi dữ, nên ta đã gặp; ta phải gặp ngựa dữ, nên ta đã gặp; ta phải gặp bò dữ, nên ta đã gặp; ta phải hỏi tên và họ của người nữ và người nam, nên ta đã hỏi; ta phải hỏi tên và đường đi của làng và thị trấn, nên ta đã hỏi.’ Ở đây, này Sandaka, người có trí suy xét như sau: ‘Vị đạo sư này tự nhận là bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận có tri kiến không dư sót... (lược)... phải hỏi tên và đường đi của làng và thị trấn, nên đã hỏi.’ Người ấy, sau khi biết rằng: ‘Phạm hạnh này không đem lại sự an ổn,’ liền nhàm chán và từ bỏ phạm hạnh ấy. Này Sandaka, đây là phạm hạnh không an ổn thứ nhất đã được Thế Tôn, bậc tri giả, kiến giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, nơi mà người có trí chắc chắn không nên sống đời phạm hạnh, và nếu có sống cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.”
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā anussaviko hoti anussavasacco. So anussavena itihitihaparamparāya piṭakasampadāya dhammaṁ deseti. Anussavikassa kho pana, sandaka, satthuno anussavasaccassa sussutampi hoti dussutampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā anussaviko anussavasacco so anussavena itihitihaparamparāya piṭakasampadāya dhammaṁ deseti. Anussavikassa kho pana satthuno anussavasaccassa sussutampi hoti dussutampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti’. So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Furthermore, take another teacher who is an oral transmitter, who takes oral transmission to be the truth. They teach by oral transmission, by the lineage of testament, by canonical authority. But when a teacher takes oral transmission to be the truth, some of that is well learned, some poorly learned, some true, and some otherwise.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘This teacher takes oral transmission to be the truth. He teaches by oral transmission, by the lineage of testament, by canonical authority. But when a teacher takes oral transmission to be the truth, some of that is well learned, some poorly learned, some true, and some otherwise. This spiritual life is unreliable.’ Realizing this, they leave disappointed.
This is the second kind of unreliable spiritual life.
230. “Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị đạo sư là người theo truyền thống, lấy truyền thống làm chân lý. Vị ấy thuyết pháp dựa vào truyền thống, theo sự truyền tụng từ đời này sang đời khác, theo sự uyên thâm về Tam Tạng. Này Sandaka, đối với vị đạo sư theo truyền thống, lấy truyền thống làm chân lý, những điều được nghe có thể là nghe đúng, cũng có thể là nghe sai; có thể là như vậy, cũng có thể là khác đi. Ở đây, này Sandaka, người có trí suy xét như sau: ‘Vị đạo sư này là người theo truyền thống, lấy truyền thống làm chân lý. Vị ấy thuyết pháp dựa vào truyền thống, theo sự truyền tụng từ đời này sang đời khác, theo sự uyên thâm về Tam Tạng. Đối với vị đạo sư theo truyền thống, lấy truyền thống làm chân lý, những điều được nghe có thể là nghe đúng, cũng có thể là nghe sai; có thể là như vậy, cũng có thể là khác đi.’ Người ấy, sau khi biết rằng: ‘Phạm hạnh này không đem lại sự an ổn,’ liền nhàm chán và từ bỏ phạm hạnh ấy. Này Sandaka, đây là phạm hạnh không an ổn thứ hai đã được Thế Tôn, bậc tri giả, kiến giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, nơi mà người có trí chắc chắn không nên sống đời phạm hạnh, và nếu có sống cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.”
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā takkī hoti vīmaṁsī. So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ dhammaṁ deseti. Takkissa kho pana, sandaka, satthuno vīmaṁsissa sutakkitampi hoti duttakkitampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā takkī vīmaṁsī. So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ dhammaṁ deseti. Takkissa kho pana satthuno vīmaṁsissa sutakkitampi hoti duttakkitampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti’. So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Furthermore, take another teacher who relies on logic and inquiry. They teach what they have worked out by logic, following a line of inquiry, expressing their own perspective. But when a teacher relies on logic and inquiry, some of that is well reasoned, some poorly reasoned, some true, and some otherwise.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘This teacher relies on logic and inquiry. They teach what they have worked out by logic, following a line of inquiry, expressing their own perspective. But when a teacher relies on logic and inquiry, some of that is well reasoned, some poorly reasoned, some true, and some otherwise. This spiritual life is unreliable.’ Realizing this, they leave disappointed.
This is the third kind of unreliable spiritual life.
231. “Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị đạo sư là người lý luận, người suy xét. Vị ấy thuyết pháp dựa trên sự lý luận, theo sự suy xét, do trí tuệ của riêng mình. Này Sandaka, đối với vị đạo sư là người lý luận, người suy xét, sự lý luận có thể là lý luận đúng, cũng có thể là lý luận sai; có thể là như vậy, cũng có thể là khác đi. Ở đây, này Sandaka, người có trí suy xét như sau: ‘Vị đạo sư này là người lý luận, người suy xét. Vị ấy thuyết pháp dựa trên sự lý luận, theo sự suy xét, do trí tuệ của riêng mình. Đối với vị đạo sư là người lý luận, người suy xét, sự lý luận có thể là lý luận đúng, cũng có thể là lý luận sai; có thể là như vậy, cũng có thể là khác đi.’ Người ấy, sau khi biết rằng: ‘Phạm hạnh này không đem lại sự an ổn,’ liền nhàm chán và từ bỏ phạm hạnh ấy. Này Sandaka, đây là phạm hạnh không an ổn thứ ba đã được Thế Tôn, bậc tri giả, kiến giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, nơi mà người có trí chắc chắn không nên sống đời phạm hạnh, và nếu có sống cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.”
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā mando hoti momūho. So mandattā momūhattā tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ: ‘evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā mando momūho. So mandattā momūhattā tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ—evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no’ti. So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena catutthaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Furthermore, take another teacher who is dull and stupid. Because of that, whenever they’re asked a question, they resort to verbal flip-flops and endless flip-flops: ‘I don’t say it’s like this. I don’t say it’s like that. I don’t say it’s otherwise. I don’t say it’s not so. And I don’t deny it’s not so.’
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘This teacher is dull and stupid. Because of that, whenever they’re asked a question, they resort to verbal flip-flops and endless flip-flops: “I don’t say it’s like this. I don’t say it’s like that. I don’t say it’s otherwise. I don’t say it’s not so. And I don’t deny it’s not so.” This spiritual life is unreliable.’ Realizing this, they leave disappointed.
This is the fourth kind of unreliable spiritual life.
232. “Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị đạo sư ngu độn, si mê. Do ngu độn, si mê, khi được hỏi các câu hỏi ở chỗ này chỗ kia, vị ấy dùng lời lẽ thoái thác, ngụy biện như con lươn: ‘Đối với tôi, không phải là như thế này; đối với tôi, không phải là như thế kia; đối với tôi, không phải là khác đi; đối với tôi, không phải là không phải; đối với tôi, cũng không phải là không không phải.’ Ở đây, này Sandaka, người có trí suy xét như sau: ‘Vị đạo sư này ngu độn, si mê. Do ngu độn, si mê, khi được hỏi các câu hỏi ở chỗ này chỗ kia, vị ấy dùng lời lẽ thoái thác, ngụy biện như con lươn: ‘Đối với tôi, không phải là như thế này; đối với tôi, không phải là như thế kia; đối với tôi, không phải là khác đi; đối với tôi, không phải là không phải; đối với tôi, cũng không phải là không không phải.’ Người ấy, sau khi biết rằng: ‘Phạm hạnh này không đem lại sự an ổn,’ liền nhàm chán và từ bỏ phạm hạnh ấy. Này Sandaka, đây là phạm hạnh không an ổn thứ tư đã được Thế Tôn, bậc tri giả, kiến giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, nơi mà người có trí chắc chắn không nên sống đời phạm hạnh, và nếu có sống cũng không thể thành tựu được pháp chân chánh, thiện lành.”
Imāni kho tāni, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāri anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
These are the four kinds of unreliable spiritual life that have been explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. A sensible person would, to the best of their ability, not practice such spiritual paths, and if they did practice them, they wouldn’t complete the system of the skillful teaching.”
Này Sandaka, đây chính là bốn đời sống phạm hạnh không an ổn đã được Thế Tôn, bậc biết, bậc thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, là nơi mà người có trí chắc chắn không nên sống đời sống phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành.
“Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda. Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāri anassāsikāneva brahmacariyāni anassāsikāni brahmacariyānīti akkhātāni yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ. So pana, bho ānanda, satthā kiṁ vādī kiṁ akkhāyī yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“It’s incredible, worthy Ānanda, it’s amazing, how these four kinds of unreliable spiritual life have been explained by the Buddha. But, worthy Ānanda, what would a teacher say and explain so that a sensible person would, to the best of their ability, practice such a spiritual path, and once practicing it, they would complete the system of the skillful teaching?”
Thưa ngài Ānanda, thật vi diệu! Thưa ngài Ānanda, thật hy hữu! Thật vậy, bốn đời sống phạm hạnh không an ổn đã được Thế Tôn, bậc biết, bậc thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết đúng là những đời sống phạm hạnh không an ổn, là nơi mà người có trí chắc chắn không nên sống đời sống phạm hạnh, và nếu có sống thì cũng không thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành. Nhưng thưa ngài Ānanda, vậy vị Đạo Sư ấy thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào, là nơi mà người có trí chắc chắn nên sống đời sống phạm hạnh, và nếu có sống thì có thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành?
“Idha, sandaka, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā …pe… so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
“Sandaka, it’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. … He gives up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, he enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
233. Này Sandaka, ở đây, Như Lai xuất hiện ở thế gian, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn... Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, đã ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Này Sandaka, đối với vị Đạo Sư mà người đệ tử có thể chứng đắc được pháp thù thắng cao thượng như vậy, đó là nơi người có trí chắc chắn nên sống đời sống phạm hạnh, và khi sống thì có thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành.
Puna caparaṁ, sandaka, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant … enters and remains in the second absorption …
Lại nữa, này Sandaka, vị tỳ khưu sau khi làm cho tầm và tứ lắng dịu... chứng và trú Nhị thiền. Này Sandaka, đối với vị Đạo Sư mà người đệ tử có thể chứng đắc được pháp thù thắng cao thượng như vậy, đó là nơi người có trí chắc chắn nên sống đời sống phạm hạnh, và khi sống thì có thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành.
Lại nữa, này Sandaka, vị tỳ khưu do ly hỷ nên trú xả... chứng và trú Tam thiền. Này Sandaka, đối với vị Đạo Sư mà người đệ tử có thể chứng đắc được pháp thù thắng cao thượng như vậy, đó là nơi người có trí chắc chắn nên sống đời sống phạm hạnh, và khi sống thì có thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành.
Lại nữa, này Sandaka, vị tỳ khưu do xả lạc... chứng và trú Tứ thiền. Này Sandaka, đối với vị Đạo Sư mà người đệ tử có thể chứng đắc được pháp thù thắng cao thượng như vậy, đó là nơi người có trí chắc chắn nên sống đời sống phạm hạnh, và khi sống thì có thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. … They recollect their many kinds of past lives, with features and details. A sensible person would, to the best of their ability, lead the spiritual life with a teacher under whom they achieve such a high distinction, and, once practicing it, they would complete the system of the skillful teaching.
Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, hướng tâm, dẫn tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời... Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Sandaka, đối với vị Đạo Sư mà người đệ tử có thể chứng đắc được pháp thù thắng cao thượng như vậy, đó là nơi người có trí chắc chắn nên sống đời sống phạm hạnh, và khi sống thì có thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti. Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. … They understand how sentient beings pass on according to their deeds. A sensible person would, to the best of their ability, lead the spiritual life with a teacher under whom they achieve such a high distinction, and, once practicing it, they would complete the system of the skillful teaching.
Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, hướng tâm, dẫn tâm đến Sanh tử minh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy các chúng sanh chết đi và sanh lại, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh... vị ấy biết rõ các chúng sanh đi theo nghiệp của họ. Này Sandaka, đối với vị Đạo Sư mà người đệ tử có thể chứng đắc được pháp thù thắng cao thượng như vậy, đó là nơi người có trí chắc chắn nên sống đời sống phạm hạnh, và khi sống thì có thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ A sensible person would, to the best of their ability, lead the spiritual life with a teacher under whom they achieve such a high distinction, and, once practicing it, they would complete the system of the skillful teaching.”
Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, hướng tâm, dẫn tâm đến Lậu tận minh. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là khổ’, biết như thật: ‘Đây là khổ tập’, biết như thật: ‘Đây là khổ diệt’, biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’, biết như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’, biết như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc’, biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm của vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu. Khi đã giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này Sandaka, đối với vị Đạo Sư mà người đệ tử có thể chứng đắc được pháp thù thắng cao thượng như vậy, đó là nơi người có trí chắc chắn nên sống đời sống phạm hạnh, và khi sống thì có thể thành tựu được pháp đúng đắn, thiện lành.
“Yo pana so, bho ānanda, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññā vimutto paribhuñjeyya so kāme”ti?
“Yo so, sandaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so pañcaṭṭhānāni ajjhācarituṁ. Abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevetuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe agāriyabhūto. Yo so, sandaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so imāni pañcaṭṭhānāni ajjhācaritun”ti.
“But worthy Ānanda, when a mendicant is perfected—with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment—could they still enjoy sensual pleasures?”
“Sandaka, a mendicant who is perfected—with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment—can’t transgress in five respects. A mendicant with defilements ended can’t deliberately take the life of a living creature, take something with the intention to steal, have sex, tell a deliberate lie, or store up goods for their own enjoyment like they used to as a layperson. A mendicant who is perfected can’t transgress in these five respects.”
234. “Thưa ngài Ānanda, còn vị tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận diệt các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm các việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy có thể hưởng thụ các dục không?” “Này Sandaka, vị tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận diệt các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm các việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không có khả năng vi phạm năm điều. Vị tỳ khưu đã tận diệt các lậu hoặc không có khả năng cố ý sát hại sinh mạng, vị tỳ khưu đã tận diệt các lậu hoặc không có khả năng lấy của không cho, được xem là trộm cắp, vị tỳ khưu đã tận diệt các lậu hoặc không có khả năng thực hành dâm pháp, vị tỳ khưu đã tận diệt các lậu hoặc không có khả năng cố ý nói dối, vị tỳ khưu đã tận diệt các lậu hoặc không có khả năng hưởng thụ các dục bằng cách tích trữ, như khi còn là người tại gia trước kia. Này Sandaka, vị tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận diệt các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm các việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không có khả năng vi phạm năm điều này.”
“Yo pana so, bho ānanda, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitaṁ: ‘khīṇā me āsavā’”ti?
“Tena hi, sandaka, upamaṁ te karissāmi; upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti. Seyyathāpi, sandaka, purisassa hatthapādā chinnā; tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ jānāti: ‘chinnā me hatthapādā’ti, udāhu paccavekkhamāno jānāti: ‘chinnā me hatthapādā’”ti?
“Na kho, bho ānanda, so puriso satataṁ samitaṁ jānāti: ‘chinnā me hatthapādā’ti. Api ca kho pana naṁ paccavekkhamāno jānāti: ‘chinnā me hatthapādā’”ti.
“Evameva kho, sandaka, yo so bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ na paccupaṭṭhitaṁ: ‘khīṇā me āsavā’ti; api ca kho pana naṁ paccavekkhamāno jānāti: ‘khīṇā me āsavā’”ti.
“But worthy Ānanda, when a mendicant is perfected, would the knowledge and vision that their defilements are ended be constantly and continually present to them, while walking, standing, sleeping, and waking?”
“Well then, Sandaka, I shall give you a simile. For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said. Suppose there was a person whose hands and feet had been amputated. Would they be aware that their hands and feet had been amputated constantly and continually, while walking, standing, sleeping, and waking? Or would they be aware of it only when they checked it?”
“They wouldn’t be aware of it constantly, only when they checked it.”
“In the same way, when a mendicant is perfected, the knowledge and vision that their defilements are ended is not constantly and continually present to them, while walking, standing, sleeping, and waking. Rather, they are aware of it only when they checked it.”
235. “Thưa ngài Ānanda, còn vị tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận diệt các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm các việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, có phải khi vị ấy đi, đứng, ngủ, hay thức, tri kiến ‘các lậu hoặc của ta đã tận diệt’ luôn luôn, thường trực hiện khởi không?” “Này Sandaka, vậy thì ta sẽ cho ông một ví dụ; vì ở đây, có những người trí hiểu được ý nghĩa của lời nói qua ví dụ. Này Sandaka, ví như một người bị chặt tay chân; có phải khi người ấy đi, đứng, ngủ, hay thức, người ấy luôn luôn, thường trực biết rằng: ‘tay chân của ta đã bị chặt,’ hay là khi suy xét người ấy mới biết: ‘tay chân của ta đã bị chặt’?” “Thưa ngài Ānanda, người ấy không phải luôn luôn, thường trực biết rằng: ‘tay chân của ta đã bị chặt.’ Nhưng khi suy xét, người ấy mới biết: ‘tay chân của ta đã bị chặt.’” “Cũng vậy, này Sandaka, vị tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận diệt các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm các việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ, hay thức, tri kiến ‘các lậu hoạt của ta đã tận diệt’ không phải luôn luôn, thường trực hiện khởi; nhưng khi suy xét, vị ấy mới biết: ‘các lậu hoặc của ta đã tận diệt.’”
“Kīvabahukā pana, bho ānanda, imasmiṁ dhammavinaye niyyātāro”ti?
“Na kho, sandaka, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova ye imasmiṁ dhammavinaye niyyātāro”ti.
“Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda. Na ca nāma sadhammokkaṁsanā bhavissati, na paradhammavambhanā, āyatane ca dhammadesanā tāva bahukā ca niyyātāro paññāyissanti. Ime panājīvakā puttamatāya puttā attānañceva ukkaṁsenti, pare ca vambhenti tayo ceva niyyātāro paññapenti, seyyathidaṁ—nandaṁ vacchaṁ, kisaṁ saṅkiccaṁ, makkhaliṁ gosālan”ti.
Atha kho sandako paribbājako sakaṁ parisaṁ āmantesi: “carantu bhonto samaṇe gotame brahmacariyavāso. Na dāni sukaraṁ amhehi lābhasakkārasiloke pariccajitun”ti. Iti hidaṁ sandako paribbājako sakaṁ parisaṁ uyyojesi bhagavati brahmacariyeti.
“But Reverend Ānanda, in this teaching and training, how many are emancipated?”
“There are not just one hundred who are emancipated, Sandaka, or two or three or four or five hundred, but many more than that in this teaching and training.”
“It’s incredible, worthy Ānanda, it’s amazing! Namely, that there’s no glorifying one’s own teaching and putting down the teaching of others. The Dhamma is taught in its own field, and so many emancipated are recognized. But these Ājīvakas, sons of she whose sons are dead, glorify themselves and put others down. And they only recognize three who have been emancipated: Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, and the bamboo-staffed ascetic Gosāla.”
Then the wanderer Sandaka addressed his own assembly, “Go, good fellows. The spiritual life is lived under the ascetic Gotama. It’s not easy for me to forsake possessions, honor, or popularity now.” And that’s how the wanderer Sandaka sent his own assembly to lead the spiritual life under the Buddha.
236. “Thưa ngài Ānanda, trong Pháp và Luật này, có bao nhiêu vị là người dẫn đường đến giải thoát?” “Này Sandaka, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa là những người dẫn đường đến giải thoát trong Pháp và Luật này.” “Thật vi diệu, thưa ngài Ānanda, thật hy hữu, thưa ngài Ānanda! Không có sự tự tán dương Chánh Pháp, không có sự hủy báng pháp của người khác, và lời thuyết pháp chỉ ở trong phạm vi của nó, thế mà có rất nhiều người dẫn đường đến giải thoát được tuyên bố. Còn những người Ājīvaka này, những đứa con của người mẹ đã mất con, họ vừa tự tán dương mình, vừa hủy báng người khác, và chỉ tuyên bố có ba người dẫn đường đến giải thoát, đó là: Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, và Makkhali Gosāla.” Bấy giờ, du sĩ Sandaka nói với hội chúng của mình: “Này các ngài, hãy đi đến sống đời phạm hạnh nơi Sa-môn Gotama. Còn chúng ta, bây giờ thật không dễ dàng để từ bỏ lợi lộc, cung kính, và danh tiếng.” Như vậy, du sĩ Sandaka đã khuyến khích hội chúng của mình đến với đời sống phạm hạnh nơi Đức Thế Tôn.
Sandakasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Sandaka, kinh thứ sáu, chấm dứt.