- Majjhima Nikāya 73
Mahāvacchasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāvacchasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), Veluvàna (Trúc Lâm), nơi Kalandakanivape (chỗ nuôi dưỡng sóc).
SC 2Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Vacchagotta thưa với Thế Tôn
SC 3—Ðã lâu rồi tôi mới được hầu chuyện với Tôn giả Gotama. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama giảng cho tôi một cách vắn tắt các thiện và bất thiện pháp.
SC 4—Này Vaccha, Ta có thể giảng cho Ông một cách vắn tắt các thiện và bất thiện pháp. Này Vaccha, Ta có thể giảng cho Ông, một cách rộng rãi các thiện và bất thiện pháp. Nhưng này Vaccha, Ta sẽ giảng cho Ông một cách vắn tắt, các thiện và bất thiện pháp. Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 5Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 6—Tham, này Vaccha, là bất thiện, vô tham là thiện. Sân, này Vaccha, là bất thiện, vô sân là thiện. Si, này Vaccha, là bất thiện, vô si là thiện. Như vậy, này Vaccha, ba pháp là bất thiện, ba pháp là thiện. Sát sanh, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ sát sanh là thiện. Lấy của không cho, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện. Tà hạnh trong các dục, này Vaccha là bất thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện. Vọng ngữ, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ vọng ngữ là thiện. Nói hai lưỡi, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện. Nói ác khẩu, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ nói ác khẩu là thiện. Nói lời phù phiếm, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ nói lời phù phiếm là thiện. Xan tham, này Vaccha, là bất thiện, không xan tham là thiện. Sân, này Vaccha, là bất thiện, không sân là thiện. Tà kiến, này Vaccha, là bất thiện, chánh kiến là thiện. Như vậy, này Vaccha, mười pháp là bất thiện, mười pháp là thiện.
SC 7Này Vaccha, khi ái được một Tỷ-kheo đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, không được tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai, Tỷ-kheo ấy là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát.
SC 8—Mong sự việc là vậy về Tôn giả Gotama. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Tỷ-kheo là đệ tử đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?
SC 9—Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỷ-kheo đệ tử của Ta đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
SC 10—Mong sự việc là như vậy đối với Tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Tỷ-kheo-ni là đệ tử đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?
SC 11—Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỷ-kheo-ni, đệ tử của Ta, đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
SC 12—Mong sự việc là như vậy đối với tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo-ni. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Nam cư sĩ là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh, sau khi đã đoạn trừ năm hạ phân kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không phải trở lại đời này nữa?
SC 13—Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Nam cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh, sau khi đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không phải trở lại đời này nữa.
SC 14—Mong sự việc là như vậy đối với Tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo-ni. Mong sự việc là như vậy đối với Nam cư sĩ, sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Nam cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng (tuy), hưởng thụ vật dục nhưng xây dựng Thánh giáo (Sasanakaro), chấp nhận giáo huấn, đã độ nghi đoạn hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Ðạo sư?
SC 15—Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Nam cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục, nhưng xây dựng Thánh giáo, chấp nhận giáo huấn, đã độ nghi đoạn hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Ðạo sư.
SC 16—Mong sự việc là như vậy đối với Tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo-ni. Mong sự việc là như vậy đối với Nam cư sĩ, sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh. Mong sự việc là như vậy đối với Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ dục lạc. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Nữ cư sĩ, là bậc đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không trở lại đời này nữa?
SC 17—Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Nữ cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không trở lại đời này nữa.
SC 18—Mong sự việc là như vậy đối với Tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo-ni. Mong sự việc là như vậy đối với các Nam cư sĩ, sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh. Mong sự việc là như vậy đối với các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc. Mong sự việc là như vậy đối với các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có Nữ cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục, nhưng xây dựng Thánh giáo, chấp nhận giáo huấn, đã độ nghi đoạn hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Ðạo sư?
SC 19—Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm mà nhiều hơn thế nữa là những Nữ cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục, nhưng xây dựng Thánh giáo, chấp nhận giáo huấn, đã độ nghi đoạn hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Ðạo sư.
SC 20—Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, nhưng các Tỷ-kheo không được thành mãn, như vậy Phạm hạnh này đã không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này và các Tỷ-kheo cũng được thành mãn; như vậy Phạm hạnh này đã được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni không thành mãn; như vậy Phạm hành này không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh không thành mãn; như vậy Phạm hạnh này đã không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, các Tỷ-kheo cũng đã thành mãn, các Tỷ-kheo-ni cũng đã thành mãn, các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh cũng đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này đã được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo ni đã thành mãn, các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo phạm hạnh đã thành mãn nhưng các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục không thành mãn; như vậy phạm hạnh này không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục đã thành mãn; nhưng các Nữ cư sĩ, sống tại gia, mặc áo trắng, sống theo Phạm hạnh không thành mãn; như vậy Phạm hạnh này không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các vật dục đã thành mãn, và các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này được đầy đủ về phương diện này. Này Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Ty kheo ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục đã thành mãn, và các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn; nhưng các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục không thành mãn; như vậy Phạm hạnh này đã không đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục đã thành mãn, và các nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các vật dục đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này được đầy đủ về phương diện này.
SC 21Thưa Tôn giả Gotama, ví như con sông Hằng (Ganga) hướng về biển cả, chảy về biển cả, xuôi dòng về biển cả, liền đứng lại khi xúc chạm với biển cả; cũng vậy hội chúng này của Tôn giả Gotama, gồm có cư sĩ và xuất gia, hướng về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn, xuôi dòng về Niết-bàn, đứng lại khi xúc chạm với Niết-bàn.
SC 22Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.
SC 23—Này Vaccha, ai trước kia thuộc ngoại đạo muốn xuất gia trong Pháp và Luật này, muốn thọ đại giới, người ấy phải sống bốn tháng biệt trú. Sau bốn tháng, (nếu) các Tỷ-kheo hoan hỷ, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để trở thành Tỷ-kheo. Nhưng ở đây, Ta biết sự sai biệt về tâm tánh chúng sanh.
SC 24—Bạch Thế Tôn, nếu những ai trước kia thuộc ngoại đạo, muốn xuất gia trong Pháp và Luật này, muốn thọ đại giới phải sống bốn tháng biệt trú. Sau bốn tháng, (nếu) các Tỷ-kheo hoan hỷ, có thể cho (những vị ấy) xuất gia, cho thọ đại giới để trở thành Tỷ-kheo, con sẽ sống biệt trú bốn năm. Sau bốn năm, nếu các Tỷ-kheo hoan hỷ, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành Tỷ-kheo.
SC 25Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới, không lâu sau khi thọ đại giới, nửa tháng sau khi thọ đại giới, Tôn giả Vacchagotta đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Vacchagotta bạch Thế Tôn
SC 26—Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ trí hữu học, minh hữu học có thể chứng đạt, con đã chứng đạt. Mong Thế Tôn dạy cho con pháp (khác) cao hơn.
SC 27—Vậy này Vaccha, hãy tu tập hai pháp cao hơn này, chỉ và quán. Này Vaccha, hai pháp này được tu tập cao hơn, chỉ và quán, sẽ đưa đến sự thể nhập vào một số giới sai biệt.
SC 28Này Vaccha, nếu Ông muốn như sau: “Ta muốn chứng được các loại thần thông: ta có thể một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; ta có thể hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; Ta có thể độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; ta có thể đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ta có thể ngồi kiết già đi trên hư không như con chim, với bàn tay ta có thể chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, oai thần như vậy; ta có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên” thì Ông sẽ đạt được cái gì có thể chứng ngộ ở tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.
SC 29Này Vaccha, nếu Ông muốn như sau: “Với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, ta có thể nghe được hai loại tiếng, loài Trời và loài Người, xa hay gần”, thì Ông sẽ đạt được những gì có thể chứng ngộ ở tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.
SC 30Này Vaccha, nếu Ông Muốn như sau: “Mong rằng ta có thể biết được tâm của các chúng sanh khác, của các người khác với tâm của ta; tâm có tham, ta có thể biết được là tâm có tham, hay tâm vô tham, ta có thể biết được là tâm vô tham; hay tâm có sân, ta có thể biết được là tâm có sân; hay tâm vô sân, ta có thể biết được là tâm vô sân; hay tâm có si, ta có thể biết được là tâm có si; hay tâm vô si, ta có thể biết được là tâm vô si; hay tâm chuyên chú, ta có thể biết được là tâm chuyên chú; hay tâm tán loạn, ta có thể biết được là tâm tán loạn; hay tâm đại hành, ta có thể biết được là tâm đại hành; hay tâm không phải đại hành; ta có thể biết được là tâm không phải đại hành; hay tâm chưa vô thượng, ta có thể biết là tâm chưa vô thượng; hay tâm vô thượng, ta có thể biết là tâm vô thượng; hay định tâm, ta có thể biết là định tâm; hay không phải định tâm, ta có thể biết là không phải định tâm; hay giải thoát tâm, ta có thể biết là giải thoát tâm; hay không phải giải thoát tâm, ta có thể biết là không phải giải thoát tâm”, thì Ông sẽ đạt được những gì có thể chứng ngộ tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.
SC 31Này Vaccha, Ông có thể muốn như sau: “Ta có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, trăm đời, hai trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây. Như vậy, ta có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết”, Ông sẽ đạt được những gì có thể chứng ngộ tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.
SC 32Này Vaccha, Ông có thể muốn như sau: “Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, ta có thể thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta có thể biết rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm các thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, ta có thể thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta có thể biết chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ”, Ông sẽ đạt được những gì có thể chứng ngộ tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.
SC 33Này Vaccha, Ông có thể muốn như sau: “Với sự đoạn trừ các lậu hoặc, mong rằng ta có thể với thượng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”, Ông sẽ chứng đạt những gì có thể chứng ngộ tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.
SC 34Rồi Tôn giả Vaccha hoan hỷ, tùy hỷ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi từ biệt.
SC 35Rồi Tôn giả Vacchagotta độc trú viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, vì mục đích này Thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, hướng đến Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời khác nữa; Tôn giả Vacchagotta đã trở thành một vị A-la-hán khác nữa.
SC 36Sau một thời gian, một số đông Tỷ-kheo đi đến yết kiến Thế Tôn. Tôn giả Vacchagotta thấy các Tỷ-kheo từ đàng xa đi đến, sau khi thấy liền đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến nói với các Tỷ-kheo ấy như sau
SC 37—Chư Tôn giả đang đi đâu?
SC 38—Thưa Hiền giả, chúng tôi đi đến yết kiến Thế Tôn.
SC 39—Vậy chư Tôn giả hãy nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vacchagotta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và nói như sau: “Thế Tôn đã được con hầu hạ, Thiện Thệ đã được con hầu hạ”.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 40Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vacchagotta. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 41—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Vacchagotta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch như sau: “Thế Tôn đã được con hầu hạ, Thiện Thệ đã được con hầu hạ”.
SC 42—Này các Tỷ-kheo, Ta đã được biết tâm của Tỷ-kheo Vacchagotta với tâm của Ta như sau: “Tỷ-kheo Vacchagotta là bậc tam minh, có đại thần lực, có đại uy lực”. Các chư Thiên cũng báo với Ta ý nghĩa ấy: “Tỷ-kheo Vacchagotta là bậc tam minh, có đại thần lực, có đại uy lực”.
SC 43Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 16–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Đại Vaccha
Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “dīgharattāhaṁ bhotā gotamena sahakathī. Sādhu me bhavaṁ gotamo saṅkhittena kusalākusalaṁ desetū”ti.
“Saṅkhittenapi kho te ahaṁ, vaccha, kusalākusalaṁ deseyyaṁ, vitthārenapi kho te ahaṁ, vaccha, kusalākusalaṁ deseyyaṁ; api ca te ahaṁ, vaccha, saṅkhittena kusalākusalaṁ desessāmi. Taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho vacchagotto paribbājako bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
Then the wanderer Vacchagotta went up to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha, “For a long time I have had discussions with the worthy Gotama. Please teach me in brief what is skillful and what is unskillful.”
“Vaccha, I can teach you what is skillful and what is unskillful in brief or in detail. Still, let me do so in brief. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” Vaccha replied. The Buddha said this:
193. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, du sĩ Vacchagotta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng Thế Tôn trao đổi lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta bạch với Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, đã lâu rồi con mới được đàm đạo với Tôn giả Gotama. Lành thay, mong Tôn giả Gotama hãy thuyết giảng cho con về thiện và bất thiện một cách tóm tắt.” “Này Vaccha, Ta có thể thuyết giảng cho ông về thiện và bất thiện một cách tóm tắt, và Ta cũng có thể thuyết giảng cho ông về thiện và bất thiện một cách chi tiết. Tuy nhiên, này Vaccha, Ta sẽ thuyết giảng cho ông về thiện và bất thiện một cách tóm tắt. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, thưa Tôn giả,” du sĩ Vacchagotta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Lobho kho, vaccha, akusalaṁ, alobho kusalaṁ; doso kho, vaccha, akusalaṁ, adoso kusalaṁ; moho kho, vaccha, akusalaṁ, amoho kusalaṁ. Iti kho, vaccha, ime tayo dhammā akusalā, tayo dhammā kusalā.
“Greed is unskillful, contentment is skillful. Hate is unskillful, love is skillful. Delusion is unskillful, understanding is skillful. So there are these three unskillful things and three that are skillful.
194. “Này Vaccha, tham là bất thiện, vô tham là thiện. Sân là bất thiện, vô sân là thiện. Si là bất thiện, vô si là thiện. Này Vaccha, như vậy, ba pháp này là bất thiện, ba pháp này là thiện.
Pāṇātipāto kho, vaccha, akusalaṁ, pāṇātipātā veramaṇī kusalaṁ; adinnādānaṁ kho, vaccha, akusalaṁ, adinnādānā veramaṇī kusalaṁ; kāmesumicchācāro kho, vaccha, akusalaṁ, kāmesumicchācārā veramaṇī kusalaṁ; musāvādo kho, vaccha, akusalaṁ, musāvādā veramaṇī kusalaṁ; pisuṇā vācā kho, vaccha, akusalaṁ, pisuṇāya vācāya veramaṇī kusalaṁ; pharusā vācā kho, vaccha, akusalaṁ, pharusāya vācāya veramaṇī kusalaṁ; samphappalāpo kho, vaccha, akusalaṁ, samphappalāpā veramaṇī kusalaṁ; abhijjhā kho, vaccha, akusalaṁ, anabhijjhā kusalaṁ; byāpādo kho, vaccha, akusalaṁ, abyāpādo kusalaṁ; micchādiṭṭhi kho, vaccha, akusalaṁ sammādiṭṭhi kusalaṁ. Iti kho, vaccha, ime dasa dhammā akusalā, dasa dhammā kusalā.
Killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; covetousness, ill will, and wrong view: these things are unskillful. Refraining from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; refraining from speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical; contentment, good will, and right view: these things are skillful. So there are these ten unskillful things and ten that are skillful.
“Này Vaccha, sát sanh là bất thiện, từ bỏ sát sanh là thiện. Lấy của không cho là bất thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện. Tà dâm trong các dục là bất thiện, từ bỏ tà dâm trong các dục là thiện. Nói dối là bất thiện, từ bỏ nói dối là thiện. Nói lời đâm thọc là bất thiện, từ bỏ nói lời đâm thọc là thiện. Nói lời thô ác là bất thiện, từ bỏ nói lời thô ác là thiện. Nói lời phù phiếm là bất thiện, từ bỏ nói lời phù phiếm là thiện. Tham lam là bất thiện, không tham lam là thiện. Sân hận là bất thiện, không sân hận là thiện. Tà kiến là bất thiện, chánh kiến là thiện. Này Vaccha, như vậy, mười pháp này là bất thiện, mười pháp này là thiện.
Yato kho, vaccha, bhikkhuno taṇhā pahīnā hoti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā, so hoti bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto”ti.
When a mendicant has given up craving so it is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future, that mendicant is perfected. They’ve ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment.”
“Này Vaccha, khi nào vị Tỳ khưu đã đoạn tận tham ái, cắt đứt gốc rễ, làm cho như thân cây thốt nốt không đầu, làm cho không thể hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai, vị Tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán, đã tận trừ các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận các kiết sử trói buộc vào sự hiện hữu, đã giải thoát nhờ chánh trí.”
“Tiṭṭhatu bhavaṁ gotamo. Atthi pana te bhoto gotamassa ekabhikkhupi sāvako yo āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti?
“Na kho, vaccha, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova ye bhikkhū mama sāvakā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
“Leaving aside the worthy Gotama, is there even a single monk disciple of Worthy Gotama who has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and lives having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements?”
“There are not just one hundred such monks who are my disciples, Vaccha, or two or three or four or five hundred, but many more than that.”
195. “Hãy khoan đã, Tôn giả Gotama. Có vị đệ tử Tỳ khưu nào của Tôn giả Gotama, dù chỉ một người, đã do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc không?” “Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa những vị Tỳ khưu đệ tử của Ta đã do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc.”
“Tiṭṭhatu bhavaṁ gotamo, tiṭṭhantu bhikkhū. Atthi pana bhoto gotamassa ekā bhikkhunīpi sāvikā yā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti?
“Na kho, vaccha, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova yā bhikkhuniyo mama sāvikā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
“Leaving aside the worthy Gotama and the monks, is there even a single nun disciple of Worthy Gotama who has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and lives having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements?”
“There are not just one hundred such nuns who are my disciples, Vaccha, or two or three or four or five hundred, but many more than that.”
“Thưa Tôn giả Gotama, xin hãy khoan nói đến ngài, xin hãy khoan nói đến các tỳ-khưu. Có vị tỳ-khưu-ni đệ tử nào của Tôn giả Gotama, do đoạn tận các lậu hoặc, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu không?” “Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa các vị tỳ-khưu-ni đệ tử của ta, do đoạn tận các lậu hoặc, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu.”
“Tiṭṭhatu bhavaṁ gotamo, tiṭṭhantu bhikkhū, tiṭṭhantu bhikkhuniyo. Atthi pana bhoto gotamassa ekupāsakopi sāvako gihī odātavasano brahmacārī yo pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā”ti?
“Na kho, vaccha, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova ye upāsakā mama sāvakā gihī odātavasanā brahmacārino pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā”ti.
“Leaving aside the worthy Gotama, the monks, and the nuns, is there even a single layman disciple of Worthy Gotama—white-clothed and chaste—who, with the ending of the five lower fetters, is reborn spontaneously, to be extinguished there, not liable to return from that world?”
“There are not just one hundred such chaste laymen who are my disciples, Vaccha, or two or three or four or five hundred, but many more than that.”
“Thưa Tôn giả Gotama, xin hãy khoan nói đến ngài, xin hãy khoan nói đến các tỳ-khưu, xin hãy khoan nói đến các tỳ-khưu-ni. Có vị nam cư sĩ đệ tử nào của Tôn giả Gotama, là người tại gia, mặc áo trắng, sống đời phạm hạnh, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới này nữa không?” “Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa các vị nam cư sĩ đệ tử của ta, là người tại gia, mặc áo trắng, sống đời phạm hạnh, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới này nữa.”
“Tiṭṭhatu bhavaṁ gotamo, tiṭṭhantu bhikkhū, tiṭṭhantu bhikkhuniyo, tiṭṭhantu upāsakā gihī odātavasanā brahmacārino. Atthi pana bhoto gotamassa ekupāsakopi sāvako gihī odātavasano kāmabhogī sāsanakaro ovādappaṭikaro yo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane viharatī”ti?
“Na kho, vaccha, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova ye upāsakā mama sāvakā gihī odātavasanā kāmabhogino sāsanakarā ovādappaṭikarā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane viharantī”ti.
“Leaving aside Worthy Gotama, the monks, the nuns, and the chaste laymen, is there even a single layman disciple of the worthy Gotama—white-clothed, enjoying sensual pleasures, following instructions, and responding to advice—who has gone beyond doubt, got rid of indecision, and lives self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instruction?”
“There are not just one hundred such laymen enjoying sensual pleasures who are my disciples, Vaccha, or two or three or four or five hundred, but many more than that.”
“Thưa Tôn giả Gotama, xin hãy khoan nói đến ngài, xin hãy khoan nói đến các tỳ-khưu, xin hãy khoan nói đến các tỳ-khưu-ni, xin hãy khoan nói đến các vị nam cư sĩ tại gia mặc áo trắng sống đời phạm hạnh. Có vị nam cư sĩ đệ tử nào của Tôn giả Gotama, là người tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc, thực hành giáo huấn, tuân theo lời dạy, đã vượt qua nghi ngờ, đoạn trừ phân vân, đạt đến vô úy, không còn nương tựa vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư không?” “Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa các vị nam cư sĩ đệ tử của ta, là người tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc, thực hành giáo huấn, tuân theo lời dạy, đã vượt qua nghi ngờ, đoạn trừ phân vân, đạt đến vô úy, không còn nương tựa vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư.”
“Tiṭṭhatu bhavaṁ gotamo, tiṭṭhantu bhikkhū, tiṭṭhantu bhikkhuniyo, tiṭṭhantu upāsakā gihī odātavasanā brahmacārino, tiṭṭhantu upāsakā gihī odātavasanā kāmabhogino. Atthi pana bhoto gotamassa ekupāsikāpi sāvikā gihinī odātavasanā brahmacārinī yā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyinī anāvattidhammā tasmā lokā”ti?
“Na kho, vaccha, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova yā upāsikā mama sāvikā gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyiniyo anāvattidhammā tasmā lokā”ti.
“Leaving aside Worthy Gotama, the monks, the nuns, the chaste laymen, and the laymen enjoying sensual pleasures, is there even a single laywoman disciple of Worthy Gotama—white-clothed and chaste—who, with the ending of the five lower fetters, is reborn spontaneously, to be extinguished there, not liable to return from that world?”
“There are not just one hundred such chaste laywomen who are my disciples, Vaccha, or two or three or four or five hundred, but many more than that.”
“Thưa Tôn giả Gotama, xin hãy khoan nói đến ngài, xin hãy khoan nói đến các tỳ-khưu, xin hãy khoan nói đến các tỳ-khưu-ni, xin hãy khoan nói đến các vị nam cư sĩ tại gia mặc áo trắng sống đời phạm hạnh, xin hãy khoan nói đến các vị nam cư sĩ tại gia mặc áo trắng hưởng thụ các dục lạc. Có vị nữ cư sĩ đệ tử nào của Tôn giả Gotama, là người tại gia, mặc áo trắng, sống đời phạm hạnh, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới này nữa không?” “Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa các vị nữ cư sĩ đệ tử của ta, là người tại gia, mặc áo trắng, sống đời phạm hạnh, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới này nữa.”
“Tiṭṭhatu bhavaṁ gotamo, tiṭṭhantu bhikkhū, tiṭṭhantu bhikkhuniyo, tiṭṭhantu upāsakā gihī odātavasanā brahmacārino, tiṭṭhantu upāsakā gihī odātavasanā kāmabhogino, tiṭṭhantu upāsikā gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo. Atthi pana bhoto gotamassa ekupāsikāpi sāvikā gihinī odātavasanā kāmabhoginī sāsanakarā ovādappaṭikarā yā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane viharatī”ti?
“Na kho, vaccha, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova yā upāsikā mama sāvikā gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo sāsanakarā ovādappaṭikarā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane viharantī”ti.
“Leaving aside Worthy Gotama, the monks, the nuns, the chaste laymen, the laymen enjoying sensual pleasures, and the chaste laywomen, is there even a single laywoman disciple of the worthy Gotama—white-clothed, enjoying sensual pleasures, following instructions, and responding to advice—who has gone beyond doubt, got rid of indecision, and lives self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instruction?”
“There are not just one hundred such laywomen enjoying sensual pleasures who are my disciples, Vaccha, or two or three or four or five hundred, but many more than that.”
“Thưa Tôn giả Gotama, xin hãy khoan nói đến ngài, xin hãy khoan nói đến các tỳ-khưu, xin hãy khoan nói đến các tỳ-khưu-ni, xin hãy khoan nói đến các vị nam cư sĩ tại gia mặc áo trắng sống đời phạm hạnh, xin hãy khoan nói đến các vị nam cư sĩ tại gia mặc áo trắng hưởng thụ các dục lạc, xin hãy khoan nói đến các vị nữ cư sĩ tại gia mặc áo trắng sống đời phạm hạnh. Có vị nữ cư sĩ đệ tử nào của Tôn giả Gotama, là người tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc, thực hành giáo huấn, tuân theo lời dạy, đã vượt qua nghi ngờ, đoạn trừ phân vân, đạt đến vô úy, không còn nương tựa vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư không?” “Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa các vị nữ cư sĩ đệ tử của ta, là người tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc, thực hành giáo huấn, tuân theo lời dạy, đã vượt qua nghi ngờ, đoạn trừ phân vân, đạt đến vô úy, không còn nương tựa vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư.”
“Sace hi, bho gotama, imaṁ dhammaṁ bhavaṁyeva gotamo ārādhako abhavissa, no ca kho bhikkhū ārādhakā abhavissaṁsu; evamidaṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ abhavissa tenaṅgena. Yasmā ca kho, bho gotama, imaṁ dhammaṁ bhavañceva gotamo ārādhako bhikkhū ca ārādhakā; evamidaṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ tenaṅgena.
“If the worthy Gotama was the only one to succeed in this teaching, not any monks, then this spiritual path would be incomplete in that respect. But because both the worthy Gotama and monks have succeeded in this teaching, this spiritual path is complete in that respect.
196. “Thưa Tôn giả Gotama, nếu pháp này chỉ có Tôn giả Gotama thành tựu được, mà các tỳ-khưu không thành tựu được, thì như vậy phạm hạnh này vẫn còn khiếm khuyết về phương diện ấy. Và thưa Tôn giả Gotama, vì pháp này cả Tôn giả Gotama thành tựu được và các tỳ-khưu cũng thành tựu được, nên như vậy phạm hạnh này được viên mãn về phương diện ấy.”
Sace hi, bho gotama, imaṁ dhammaṁ bhavañceva gotamo ārādhako abhavissa, bhikkhū ca ārādhakā abhavissaṁsu, no ca kho bhikkhuniyo ārādhikā abhavissaṁsu; evamidaṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ abhavissa tenaṅgena. Yasmā ca kho, bho gotama, imaṁ dhammaṁ bhavañceva gotamo ārādhako, bhikkhū ca ārādhakā, bhikkhuniyo ca ārādhikā; evamidaṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ tenaṅgena.
If the worthy Gotama and the monks were the only ones to succeed in this teaching, not any nuns …
“Thưa Tôn giả Gotama, nếu pháp này chỉ có Tôn giả Gotama và các tỳ-khưu thành tựu được, mà các tỳ-khưu-ni không thành tựu được, thì như vậy phạm hạnh này vẫn còn khiếm khuyết về phương diện ấy. Và thưa Tôn giả Gotama, vì pháp này cả Tôn giả Gotama, các tỳ-khưu, và các tỳ-khưu-ni cũng thành tựu được, nên như vậy phạm hạnh này được viên mãn về phương diện ấy.”
“Thưa ngài Gotama, thật vậy, nếu pháp này chỉ có ngài Gotama là người thành tựu, các vị tỳ-khưu là những người thành tựu, các vị tỳ-khưu-ni là những người thành tựu, nhưng các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, sống đời phạm hạnh lại không phải là những người thành tựu; như vậy, về phương diện ấy, đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn. Và thưa ngài Gotama, bởi vì pháp này có ngài Gotama là người thành tựu, các vị tỳ-khưu là những người thành tựu, các vị tỳ-khưu-ni là những người thành tựu, và các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, sống đời phạm hạnh cũng là những người thành tựu; như vậy, về phương diện ấy, đời sống phạm hạnh này được trọn vẹn.”
“Thưa ngài Gotama, thật vậy, nếu pháp này chỉ có ngài Gotama là người thành tựu, các vị tỳ-khưu là những người thành tựu, các vị tỳ-khưu-ni là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, sống đời phạm hạnh là những người thành tựu, nhưng các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, hưởng thụ các dục lạc lại không phải là những người thành tựu; như vậy, về phương diện ấy, đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn. Và thưa ngài Gotama, bởi vì pháp này có ngài Gotama là người thành tựu, các vị tỳ-khưu là những người thành tựu, các vị tỳ-khưu-ni là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, sống đời phạm hạnh là những người thành tựu, và các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, hưởng thụ các dục lạc cũng là những người thành tựu; như vậy, về phương diện ấy, đời sống phạm hạnh này được trọn vẹn.”
“Thưa ngài Gotama, thật vậy, nếu pháp này chỉ có ngài Gotama là người thành tựu, các vị tỳ-khưu là những người thành tựu, các vị tỳ-khưu-ni là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, sống đời phạm hạnh là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, hưởng thụ các dục lạc là những người thành tựu, nhưng các nữ cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, sống đời phạm hạnh lại không phải là những người thành tựu; như vậy, về phương diện ấy, đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn. Và thưa ngài Gotama, bởi vì pháp này có ngài Gotama là người thành tựu, các vị tỳ-khưu là những người thành tựu, các vị tỳ-khưu-ni là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, sống đời phạm hạnh là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, hưởng thụ các dục lạc là những người thành tựu, và các nữ cư sĩ tại gia mặc y phục trắng, sống đời phạm hạnh cũng là những người thành tựu; như vậy, về phương diện ấy, đời sống phạm hạnh này được trọn vẹn.”
Sace hi, bho gotama, imaṁ dhammaṁ bhavañceva gotamo ārādhako abhavissa, bhikkhū ca ārādhakā abhavissaṁsu, bhikkhuniyo ca ārādhikā abhavissaṁsu, upāsakā ca gihī odātavasanā brahmacārino ārādhakā abhavissaṁsu, upāsakā ca gihī odātavasanā kāmabhogino ārādhakā abhavissaṁsu, upāsikā ca gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo ārādhikā abhavissaṁsu, no ca kho upāsikā gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo ārādhikā abhavissaṁsu; evamidaṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ abhavissa tenaṅgena. Yasmā ca kho, bho gotama, imaṁ dhammaṁ bhavañceva gotamo ārādhako, bhikkhū ca ārādhakā, bhikkhuniyo ca ārādhikā, upāsakā ca gihī odātavasanā brahmacārino ārādhakā, upāsakā ca gihī odātavasanā kāmabhogino ārādhakā, upāsikā ca gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo ārādhikā, upāsikā ca gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo ārādhikā; evamidaṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ tenaṅgena.
laywomen enjoying sensual pleasures, then this spiritual path would be incomplete in that respect. But because Worthy Gotama, monks, nuns, chaste laymen, laymen enjoying sensual pleasures, chaste laywomen, and laywomen enjoying sensual pleasures have all succeeded in this teaching, this spiritual path is complete in that respect.
“Thưa ngài Gotama, nếu pháp này chỉ có ngài Gotama là người thành tựu, các vị Tỳ-kheo là những người thành tựu, các vị Tỳ-kheo-ni là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y trắng sống đời phạm hạnh là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y trắng hưởng thụ các dục là những người thành tựu, các nữ cư sĩ tại gia mặc y trắng sống đời phạm hạnh là những người thành tựu, nhưng các nữ cư sĩ tại gia mặc y trắng hưởng thụ các dục lại không phải là những người thành tựu; như vậy, bởi lý do ấy, đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn. Và thưa ngài Gotama, vì rằng pháp này có ngài Gotama là người thành tựu, các vị Tỳ-kheo là những người thành tựu, các vị Tỳ-kheo-ni là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y trắng sống đời phạm hạnh là những người thành tựu, các nam cư sĩ tại gia mặc y trắng hưởng thụ các dục là những người thành tựu, các nữ cư sĩ tại gia mặc y trắng sống đời phạm hạnh là những người thành tựu, và các nữ cư sĩ tại gia mặc y trắng hưởng thụ các dục cũng là những người thành tựu; như vậy, bởi lý do ấy, đời sống phạm hạnh này được viên mãn.”
Seyyathāpi, bho gotama, gaṅgā nadī samuddaninnā samuddapoṇā samuddapabbhārā samuddaṁ āhacca tiṭṭhati, evamevāyaṁ bhoto gotamassa parisā sagahaṭṭhapabbajitā nibbānaninnā nibbānapoṇā nibbānapabbhārā nibbānaṁ āhacca tiṭṭhati.
Abhikkantaṁ, bho gotama …pe… esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṁ bhoto gotamassa santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Yo kho, vaccha, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ, so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya; api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ, ākaṅkhantā upasampadaṁ cattāro māse parivasanti, catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya; ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi. Catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti. Alattha kho vacchagotto paribbājako bhagavato santike pabbajjaṁ alattha upasampadaṁ.
Just as the Ganges River slants, slopes, and inclines toward the ocean, and keeps pressing into the ocean, in the same way Worthy Gotama’s assembly—with both laypeople and renunciates—slants, slopes, and inclines toward extinguishment, and keeps pressing upon extinguishment.
Excellent, worthy Gotama! … I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. May I receive the going forth, the ordination in the worthy Gotama’s presence?”
“Vaccha, if someone formerly ordained in another sect wishes to take the going forth, the ordination in this teaching and training, they must spend four months on probation. When four months have passed, if the mendicants are satisfied, they’ll give the going forth, the ordination into monkhood. However, I recognize individual differences in this matter.”
“Sir, if four months probation are required in such a case, I’ll spend four years on probation. When four years have passed, if the mendicants are satisfied, let them give me the going forth, the ordination into monkhood.” And the wanderer Vaccha received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence.
197. “Thưa ngài Gotama, ví như sông Gaṅgā xuôi về biển cả, hướng về biển cả, chảy về biển cả, và chỉ dừng lại khi đã đến biển cả, cũng vậy, hội chúng này của ngài Gotama, gồm cả tại gia và xuất gia, đều xuôi về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn, và chỉ dừng lại khi đã đến Niết-bàn. Thật vi diệu, thưa ngài Gotama... Con xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp, và quy y chúng Tăng. Mong rằng con được xuất gia dưới sự hiện diện của ngài Gotama, mong rằng con được thọ cụ túc giới.” “Này Vaccha, người nào trước đây là ngoại đạo, nay mong muốn được xuất gia, mong muốn được thọ cụ túc giới trong Pháp và Luật này, người ấy phải trải qua bốn tháng biệt trú. Sau khi bốn tháng trôi qua, nếu các vị tỳ-khưu hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới để trở thành tỳ-khưu. Tuy nhiên, ở đây ta biết có sự khác biệt giữa các cá nhân.” “Bạch Thế Tôn, nếu những người trước đây là ngoại đạo, trong Pháp và Luật này mong muốn được xuất gia, mong muốn được thọ cụ túc giới, phải trải qua bốn tháng biệt trú, và sau khi bốn tháng trôi qua, nếu các vị tỳ-khưu hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới để trở thành tỳ-khưu; thì con sẽ xin biệt trú trong bốn năm. Sau khi bốn năm trôi qua, nếu các vị tỳ-khưu hài lòng, xin hãy cho con xuất gia, cho con thọ cụ túc giới để trở thành tỳ-khưu.” Du sĩ Vacchagotta đã được xuất gia dưới sự hiện diện của Thế Tôn, đã được thọ cụ túc giới.
Acirūpasampanno kho panāyasmā vacchagotto addhamāsūpasampanno yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā vacchagotto bhagavantaṁ etadavoca: “yāvatakaṁ, bhante, sekhena ñāṇena sekhāya vijjāya pattabbaṁ, anuppattaṁ taṁ mayā; uttari ca me bhagavā dhammaṁ desetū”ti.
“Tena hi tvaṁ, vaccha, dve dhamme uttari bhāvehi—samathañca vipassanañca. Ime kho te, vaccha, dve dhammā uttari bhāvitā—samatho ca vipassanā ca—anekadhātupaṭivedhāya saṁvattissanti.
So tvaṁ, vaccha, yāvadeva ākaṅkhissasi:
Not long after his ordination, a fortnight later, Venerable Vacchagotta went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, I’ve reached as far as possible with the knowledge and understanding of a trainee. Please teach me further.”
“Well then, Vaccha, further develop two things: serenity and discernment. When you have further developed these two things, they’ll lead to the penetration of many elements.
As far as you want, you will be capable of realizing these things, since each and every one is within range:
Khi ấy, Tôn giả Vacchagotta, người mới thọ cụ túc giới không lâu, mới thọ cụ túc giới được nửa tháng, đã đi đến nơi Thế Tôn ngự; sau khi đến, ngài đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Vacchagotta bạch với Thế Tôn rằng: – Bạch Thế Tôn, những gì cần phải được chứng đạt bằng trí của bậc hữu học, bằng minh của bậc hữu học, con đã chứng đạt được điều ấy rồi. Xin Thế Tôn hãy thuyết giảng cho con pháp cao hơn nữa. – Này Vaccha, nếu vậy, ngươi hãy tu tập thêm hai pháp nữa, đó là chỉ và quán. Này Vaccha, khi hai pháp này, tức là chỉ và quán, được ngươi tu tập thêm, chúng sẽ đưa đến sự liễu tri nhiều loại giới.
198. Này Vaccha, trong chừng mực nào ngươi mong muốn: ‘Ta có thể kinh nghiệm được nhiều loại thần thông: từ một thân hiện thành nhiều thân, từ nhiều thân hiện thành một thân; có thể hiện hình, tàng hình; đi xuyên tường, xuyên thành, xuyên núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; có thể trồi lên lặn xuống trong đất như ở trong nước; có thể đi trên nước không chìm, như đi trên đất liền; có thể ngồi kiết-già đi trong hư không như loài chim có cánh; có thể với bàn tay chạm đến, vuốt ve mặt trăng và mặt trời, dù chúng có đại thần lực, đại oai đức như vậy; có thể dùng thân để điều khiển quyền lực cho đến cõi Phạm thiên,’ thì ngươi sẽ đạt đến khả năng chứng ngộ ngay tại những cảnh giới ấy, khi có xứ của niệm.
So tvaṁ, vaccha, yāvadeva ākaṅkhissasi: ‘dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇeyyaṁ—dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike cā’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇissasi, sati satiāyatane.
Whenever you want, you will be capable of realizing these things, since each and every one is within range: ‘With clairaudience that is purified and superhuman, may I hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far.’
Này Vaccha, trong chừng mực nào ngươi mong muốn: ‘Với thiên nhĩ giới, thanh tịnh, siêu nhân, ta có thể nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần,’ thì ngươi sẽ đạt đến khả năng chứng ngộ ngay tại những cảnh giới ấy, khi có xứ của niệm.
So tvaṁ, vaccha, yāvadeva ākaṅkhissasi: ‘parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajāneyyaṁ—sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ; sadosaṁ vā cittaṁ sadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vītadosaṁ vā cittaṁ vītadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ; samohaṁ vā cittaṁ samohaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vītamohaṁ vā cittaṁ vītamohaṁ cittanti pajāneyyaṁ; saṅkhittaṁ vā cittaṁ saṅkhittaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vikkhittaṁ vā cittaṁ vikkhittaṁ cittanti pajāneyyaṁ; mahaggataṁ vā cittaṁ mahaggataṁ cittanti pajāneyyaṁ, amahaggataṁ vā cittaṁ amahaggataṁ cittanti pajāneyyaṁ; sauttaraṁ vā cittaṁ sauttaraṁ cittanti pajāneyyaṁ, anuttaraṁ vā cittaṁ anuttaraṁ cittanti pajāneyyaṁ; samāhitaṁ vā cittaṁ samāhitaṁ cittanti pajāneyyaṁ, asamāhitaṁ vā cittaṁ asamāhitaṁ cittanti pajāneyyaṁ; vimuttaṁ vā cittaṁ vimuttaṁ cittanti pajāneyyaṁ, avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajāneyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇissasi, sati satiāyatane.
As far as you want, you will be capable of realizing these things, since each and every one is within range: ‘May I understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with my mind. May I understand mind with greed as “mind with greed”, and mind without greed as “mind without greed”; mind with hate as “mind with hate”, and mind without hate as “mind without hate”; mind with delusion as “mind with delusion”, and mind without delusion as “mind without delusion”; constricted mind as “constricted mind”, and scattered mind as “scattered mind”; expansive mind as “expansive mind”, and unexpansive mind as “unexpansive mind”; mind that is not supreme as “mind that is not supreme”, and mind that is supreme as “mind that is supreme”; mind immersed in samādhi as “mind immersed in samādhi”, and mind not immersed in samādhi as “mind not immersed in samādhi”; freed mind as “freed mind”, and unfreed mind as “unfreed mind”.’
Này Vaccha, trong chừng mực nào ngươi mong muốn: ‘Ta có thể với tâm của mình, biết rõ tâm của các chúng sanh khác, của các người khác: tâm có tham, biết là ‘tâm có tham’; tâm không tham, biết là ‘tâm không tham’; tâm có sân, biết là ‘tâm có sân’; tâm không sân, biết là ‘tâm không sân’; tâm có si, biết là ‘tâm có si’; tâm không si, biết là ‘tâm không si’; tâm co rút, biết là ‘tâm co rút’; tâm tán loạn, biết là ‘tâm tán loạn’; tâm đại hành, biết là ‘tâm đại hành’; tâm không đại hành, biết là ‘tâm không đại hành’; tâm hữu thượng, biết là ‘tâm hữu thượng’; tâm vô thượng, biết là ‘tâm vô thượng’; tâm có định, biết là ‘tâm có định’; tâm không định, biết là ‘tâm không định’; tâm giải thoát, biết là ‘tâm giải thoát’; tâm không giải thoát, biết là ‘tâm không giải thoát’,’ thì ngươi sẽ đạt đến khả năng chứng ngộ ngay tại những cảnh giới ấy, khi có xứ của niệm.
So tvaṁ, vaccha, yāvadeva ākaṅkhissasi: ‘anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyaṁ, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi; anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe—amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapannoti; iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇissasi, sati satiāyatane.
As far as you want, you will be capable of realizing these things, since each and every one is within range: ‘May I recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. May I remember: “There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.” May I recollect my many past lives, with features and details.’
Này Vaccha, trong chừng mực nào ngươi mong muốn: ‘Ta có thể nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, cụ thể là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp thành, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành hoại. Ở nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, cảm thọ khổ lạc như thế, tuổi thọ như thế. Ta, sau khi chết ở đó, đã sanh ra ở nơi kia. Ở đó, ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, cảm thọ khổ lạc như thế, tuổi thọ như thế. Ta, sau khi chết ở đó, đã sanh ra ở đây. Như vậy, ta có thể nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết,’ thì ngươi sẽ đạt đến khả năng chứng ngộ ngay tại những cảnh giới ấy, khi có xứ của niệm.
So tvaṁ, vaccha, yāvadeva ākaṅkhissasi: ‘dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passeyyaṁ cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajāneyyaṁ—ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannāti; iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passeyyaṁ cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajāneyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇissasi, sati satiāyatane.
Whenever you want, you will be capable of realizing these things, since each and every one is within range: ‘With clairvoyance that is purified and superhuman, may I see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place—and understand how sentient beings pass on according to their deeds: “These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.” And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, may I see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. And may I understand how sentient beings pass on according to their deeds.’
Này Vaccha, trong chừng mực nào ngươi mong muốn: ‘Với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân, ta có thể thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; ta có thể biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: Này các bạn, những chúng sanh này đã thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ các nghiệp theo tà kiến. Họ, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn này các bạn, những chúng sanh này đã thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ các nghiệp theo chánh kiến. Họ, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào thiện thú, thiên giới. Như vậy, với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân, ta có thể thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; ta có thể biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ,’ thì ngươi sẽ đạt đến khả năng chứng ngộ ngay tại những cảnh giới ấy, khi có xứ của niệm.
So tvaṁ, vaccha, yāvadeva ākaṅkhissasi: ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇissasi, sati satiāyatane”ti.
As far as you want, you will be capable of realizing these things, since each and every one is within range: ‘May I realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.’”
Này Vaccha, ngươi mong muốn rằng: 'Do đoạn tận các lậu hoặc, ta sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong hiện tại', thì ngươi sẽ đạt đến khả năng chứng ngộ ngay tại những nơi ấy, khi có xứ sở của niệm.
Atha kho āyasmā vacchagotto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho āyasmā vacchagotto eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro kho panāyasmā vacchagotto arahataṁ ahosi.
And then Venerable Vacchagotta approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Then Vacchagotta, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Vacchagotta became one of the perfected.
199. Rồi Tôn giả Vacchagotta, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải rồi ra đi. Sau đó, Tôn giả Vacchagotta sống một mình, nơi vắng vẻ, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu sau, mục đích mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là cứu cánh Phạm hạnh vô thượng, ngài đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại. Ngài biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'. Và Tôn giả Vacchagotta đã trở thành một trong các vị A-la-hán.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavantaṁ dassanāya gacchanti. Addasā kho āyasmā vacchagotto te bhikkhū dūratova āgacchante. Disvāna yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca: “handa kahaṁ pana tumhe āyasmanto gacchathā”ti?
“Bhagavantaṁ kho mayaṁ, āvuso, dassanāya gacchāmā”ti.
“Tenahāyasmanto mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandatha, evañca vadetha: ‘vacchagotto, bhante, bhikkhu bhagavato pāde sirasā vandati, evañca vadeti—pariciṇṇo me bhagavā, pariciṇṇo me sugato’”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato vacchagottassa paccassosuṁ. Atha kho te bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “āyasmā, bhante, vacchagotto bhagavato pāde sirasā vandati, evañca vadeti: ‘pariciṇṇo me bhagavā, pariciṇṇo me sugato’”ti.
“Pubbeva me, bhikkhave, vacchagotto bhikkhu cetasā ceto paricca vidito: ‘tevijjo vacchagotto bhikkhu mahiddhiko mahānubhāvo’ti. Devatāpi me etamatthaṁ ārocesuṁ: ‘tevijjo, bhante, vacchagotto bhikkhu mahiddhiko mahānubhāvo’”ti.
Now at that time several mendicants were going to see the Buddha. Vacchagotta saw them coming off in the distance, went up to them, and said, “Hello venerables, where are you going?”
“Reverend, we are going to see the Buddha.”
“Well then, reverends, in my name please bow with your head to the Buddha’s feet and say: ‘Sir, the mendicant Vacchagotta bows with his head to your feet and says, “I have served the Blessed One! I have served the Holy One!”’”
“Yes, reverend,” they replied. Then those mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, the mendicant Vacchagotta bows with his head to your feet and says: ‘I have served the Blessed One! I have served the Holy One!’”
“I’ve already encompassed Vacchagotta’s mind and understood that he has the three knowledges, and is very mighty and powerful. And deities also told me about this.”
200. Lúc bấy giờ, có nhiều Tỳ khưu đi đến để yết kiến Thế Tôn. Tôn giả Vacchagotta thấy các Tỳ khưu ấy từ xa đi lại. Thấy vậy, ngài đi đến chỗ các Tỳ khưu ấy; sau khi đến, ngài nói với các Tỳ khưu ấy rằng: 'Này các Tôn giả, các ngài đi đâu vậy?' 'Thưa hiền giả, chúng tôi đi đến để yết kiến Thế Tôn.' 'Nếu vậy, thưa các Tôn giả, xin các ngài nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa rằng: 'Bạch Thế Tôn, Tỳ khưu Vacchagotta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa rằng: Con đã được Thế Tôn chăm sóc, con đã được Thiện Thệ chăm sóc.' 'Vâng, thưa hiền giả.' Các Tỳ khưu ấy đã vâng lời Tôn giả Vacchagotta. Rồi các Tỳ khưu ấy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Tôn giả Vacchagotta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa rằng: 'Con đã được Thế Tôn chăm sóc, con đã được Thiện Thệ chăm sóc.' 'Này các Tỳ khưu, từ trước Ta đã dùng tâm của Ta mà biết rõ tâm của Tỳ khưu Vacchagotta rằng: 'Tỳ khưu Vacchagotta là bậc Tam minh, có đại thần lực, có đại oai đức.' Chư Thiên cũng đã báo cho Ta biết việc này: 'Bạch Thế Tôn, Tỳ khưu Vacchagotta là bậc Tam minh, có đại thần lực, có đại oai đức.'
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Mahāvacchasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Đại Vaccha, kinh thứ ba, kết thúc.