- Majjhima Nikāya 74
Dīghanakhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dīghanakhasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūta (Linh Thứu), trong hang Sūkarakhata.
SC 2Rồi du sĩ ngoại đạo Dìghanakha (Trường Trảo) đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền đứng một bên. Ðứng một bên, du sĩ ngoại đạo Dighanakha nói với Thế Tôn
SC 3—Tôn giả Gotama, tôi có lý thuyết như sau, tôi có tri kiến như sau: “Tất cả đều không làm cho tôi thích thú”.
SC 4—Này Aggivessana, tri kiến: “Tất cả đều không làm cho tôi thích thú”, tri kiến ấy không làm Ông thích thú?
SC 5—Tôn giả Gotama, nếu tri kiến ấy làm tôi thích thú, thời đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy.
SC 6—Này Aggivessana, nếu số đông người ở trong đời đã nói như sau: “Thời đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy”, thời họ không từ bỏ tri kiến ấy, họ chấp thủ một tri kiến khác. Này Aggivessana, nếu thiểu số người ở trong đời đã nói như sau: “Thời đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy”, thời họ sẽ từ bỏ tri kiến ấy và không chấp thủ một tri kiến khác.
SC 7Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú”. Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”. Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ở đây, này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú,” tri kiến này của họ là gần với tham dục, gần với triền phược, gần với hoan lạc, gần với đắm trước, gần với chấp thủ. Ở đây, này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”, tri kiến này của họ là gần với không tham dục, gần với không phiền trược, gần với không hoan lạc, gần với không chấp thủ.
SC 8Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Dighanakha thưa với Thế Tôn
SC 9—Tôn giả Gotama tán dương quan điểm của tôi, Tôn giả Gotama hết sức tán dương quan điểm của tôi.
SC 10—Ở đây, này Aggivessana, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Cái gì trong tri kiến này làm họ thích thú là gần tham dục, gần phiền trược, gần hoan lạc, gần đắm trước, gần chấp thủ. Cái gì trong tri kiến này làm họ không thích thú là gần không tham dục, gần không triền phược, gần không hoan lạc, gần không đắm trước, gần không chấp thủ.
SC 11Ở đây, này Aggivessana, những Sa-môn, Ba la môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm tôi thích thú”. Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: “Nếu ta nói tri kiến này của ta: “Tất cả đều làm tôi thích thú”, và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: “Ðây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”, như vậy là đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”, và Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối; khi nào có chống đối thời có bực mình”. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch, tranh luận, chống đối và bực mình nên từ bỏ tri kiến này, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
SC 12Ở đây, này Aggivessana, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”. Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: “Nếu ta nói tri kiến này của ta: “Tất cả đều làm tôi không thích thú”, và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: “Ðây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”, thì như vậy, ta đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú” và Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối; khi nào có chống đối thời có bực mình”. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch, tranh luận, chống đối và bực mình, nên từ bỏ tri kiến ấy, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
SC 13Ở đây, này Aggivessana, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: “Nếu ta nói tri kiến này của ta: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”, và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: “Ðây là sự thật ngoài ra là hư vọng”, thì như vậy, ta đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú” và Sa-môn hay Bà la-môn này có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”. Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối, khi nào có chống đối thời có bực mình”. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch tranh luận, chống đối và bực mình, nên từ bỏ tri kiến ấy, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
SC 14Nhưng này Aggivessana, thân này có sắc, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phân toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, cần phải được quán sát là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Khi vị ấy quán sát thân này là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã, thời thân, thân dục, thân ái, thân phục tòng được đoạn diệt.
SC 15Này Aggivessana, có ba thọ này; lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác khổ thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ chỉ cảm giác lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác khổ thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chỉ cảm giác khổ thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác khổ thọ, chỉ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
SC 16Này Aggivessana, lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, khổ thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, bất khổ bất lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt.
SC 17Thấy vậy, này Aggivessana, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly lạc thọ, yểm ly khổ thọ, yểm ly bất khổ bất lạc thọ. Do yểm ly, vị ấy không có tham dục. Do không tham dục, vị ấy được giải thoát. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm. Sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”.
SC 18Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỷ-kheo không nói thuận theo một ai, không tranh luận với một ai, chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời, không có chấp thủ (từ ngữ ấy).
SC 19Lúc bấy giờ Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đứng sau lưng Thế Tôn và đang quạt Thế Tôn. Rồi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã thuyết cho chúng ta sự đoạn trừ các pháp ấy nhờ thắng trí. Thiện Thệ đã thuyết cho chúng ta sự tự bỏ các pháp ấy nhờ thắng trí”. Khi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như vậy, tâm (của Tôn giả) được giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
SC 20Còn đối với du sĩ ngoại đạo Dighanakha, pháp nhãn ly trần, vô cấu được khởi lên: “Phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy được đoạn diệt”. Rồi du sĩ ngoại đạo Dighanakha thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư, liền bạch Thế Tôn
SC 21—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 10/99 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Dīghanakha
Atha kho dīghanakho paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho dīghanakho paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “ahañhi, bho gotama, evaṁvādī evaṁdiṭṭhi: ‘sabbaṁ me nakkhamatī’”ti.
“Yāpi kho te esā, aggivessana, diṭṭhi: ‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti, esāpi te diṭṭhi nakkhamatī”ti?
“Esā ce me, bho gotama, diṭṭhi khameyya, taṁpassa tādisameva, taṁpassa tādisamevā”ti.
“Ato kho te, aggivessana, bahū hi bahutarā lokasmiṁ ye evamāhaṁsu: ‘taṁpassa tādisameva, taṁpassa tādisamevā’ti. Te tañceva diṭṭhiṁ nappajahanti aññañca diṭṭhiṁ upādiyanti. Ato kho te, aggivessana, tanū hi tanutarā lokasmiṁ ye evamāhaṁsu: ‘taṁpassa tādisameva, taṁpassa tādisamevā’ti. Te tañceva diṭṭhiṁ pajahanti aññañca diṭṭhiṁ na upādiyanti.
Santaggivessana, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me khamatī’ti; santaggivessana, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti; santaggivessana, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatī’ti. Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me khamatī’ti tesamayaṁ diṭṭhi sārāgāya santike, saññogāya santike, abhinandanāya santike, ajjhosānāya santike, upādānāya santike; tatraggivessana ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti tesamayaṁ diṭṭhi asārāgāya santike, asaññogāya santike, anabhinandanāya santike, anajjhosānāya santike, anupādānāya santike”ti.
Then the wanderer Dīghanakha went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he stood to one side and said to the Buddha, “Worthy Gotama, this is my doctrine and view: ‘Nothing is acceptable to me.’”
“This view of yours, Aggivessana—is that acceptable to you?”
“If I were to accept this view, worthy Gotama, it would make no difference, it would make no difference!”
“Well, Aggivessana, there are many more in the world who say, ‘It would make no difference! It would make no difference!’ But they don’t give up that view, and they grasp another view. And there are a scant few in the world who say, ‘It would make no difference! It would make no difference!’ And they give up that view by not grasping another view.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Everything is acceptable to me.’ There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Nothing is acceptable to me.’ There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Some things are acceptable to me and some things are not.’ Regarding this, the view of the ascetics and brahmins to whom everything is acceptable is close to greed, bondage, approving, attachment, and grasping. The view of the ascetics and brahmins to whom nothing is acceptable is far from greed, bondage, approving, attachment, and grasping.”
201. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa, trong hang Sūkarakhatā. Bấy giờ, du sĩ Dīghanakha đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng Thế Tôn chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, ông đứng một bên. Đứng một bên, du sĩ Dīghanakha bạch với Thế Tôn: 'Thưa Tôn giả Gotama, tôi có chủ trương và quan điểm như sau: 'Tôi không chấp nhận tất cả.' 'Này Aggivessana, quan điểm của ông: 'Tôi không chấp nhận tất cả', ông có chấp nhận quan điểm ấy không?' 'Thưa Tôn giả Gotama, nếu tôi chấp nhận quan điểm này, thì nó cũng sẽ giống như vậy, nó cũng sẽ giống như vậy.' 'Này Aggivessana, trên đời này, có rất nhiều người nói rằng: 'Nó cũng sẽ giống như vậy, nó cũng sẽ giống như vậy.' Họ không từ bỏ quan điểm ấy mà lại chấp thủ một quan điểm khác. Này Aggivessana, trên đời này, có rất ít người nói rằng: 'Nó cũng sẽ giống như vậy, nó cũng sẽ giống như vậy.' Họ từ bỏ quan điểm ấy và không chấp thủ một quan điểm nào khác. Này Aggivessana, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương và quan điểm như sau: 'Tôi chấp nhận tất cả'; Này Aggivessana, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương và quan điểm như sau: 'Tôi không chấp nhận tất cả'; Này Aggivessana, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương và quan điểm như sau: 'Tôi chấp nhận một số, không chấp nhận một số.' Này Aggivessana, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương và quan điểm: 'Tôi chấp nhận tất cả', quan điểm này của họ gần với tham ái, gần với trói buộc, gần với hoan hỷ, gần với thiên chấp, gần với chấp thủ; Này Aggivessana, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương và quan điểm: 'Tôi không chấp nhận tất cả', quan điểm này của họ gần với không tham ái, gần với không trói buộc, gần với không hoan hỷ, gần với không thiên chấp, gần với không chấp thủ.'
Evaṁ vutte, dīghanakho paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “ukkaṁseti me bhavaṁ gotamo diṭṭhigataṁ, samukkaṁseti me bhavaṁ gotamo diṭṭhigatan”ti.
“Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatī’ti. Yā hi tesaṁ khamati sāyaṁ diṭṭhi sārāgāya santike, saññogāya santike, abhinandanāya santike, ajjhosānāya santike, upādānāya santike; yā hi tesaṁ nakkhamati sāyaṁ diṭṭhi asārāgāya santike, asaññogāya santike, anabhinandanāya santike, anajjhosānāya santike, anupādānāya santike.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me khamatī’ti tattha viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘yā kho me ayaṁ diṭṭhi—sabbaṁ me khamatīti, imañce ahaṁ diṭṭhiṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa vohareyyaṁ—idameva saccaṁ moghamaññanti; dvīhi me assa viggaho—yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me nakkhamatīti, yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatīti—imehi assa dvīhi viggaho. Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’. Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati. Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
When he said this, the wanderer Dīghanakha said to the Buddha, “Worthy Gotama commends my conviction! He recommends my conviction!”
“Now, regarding the ascetics and brahmins to whom some things are acceptable and some things are not. Their view of what is acceptable is close to greed, bondage, approving, attachment, and grasping. Their view of what is not acceptable is far from greed, bondage, approving, attachment, and grasping.
When it comes to the view of the ascetics and brahmins to whom everything is acceptable, a sensible person reflects like this: ‘I have the view that everything is acceptable. Suppose I were to obstinately stick to this view and insist, “This is the only truth, anything else is futile.” Then I’d argue with two individuals—an ascetic or brahmin to whom nothing is acceptable, and an ascetic or brahmin to whom some things are acceptable and some things are not. And when there’s arguing, there’s dispute; when there’s dispute there’s distress; and when there’s distress there’s harm.’ So, considering in themselves the potential for argument, dispute, distress, and harm, they give up that view by not grasping another view. That’s how those views are given up and let go.
202. Khi được nói như vậy, du sĩ Dīghanakha bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Tôn giả Gotama tán dương quan điểm của con, Tôn giả Gotama ca ngợi quan điểm của con.’ Này Aggivessana, trong số các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Có một số điều tôi chấp nhận, có một số điều tôi không chấp nhận.’ Quan điểm nào mà họ chấp nhận, quan điểm ấy gần với tham ái, gần với trói buộc, gần với hoan hỷ, gần với thiên chấp, gần với thủ trước; quan điểm nào mà họ không chấp nhận, quan điểm ấy gần với ly tham, gần với không trói buộc, gần với không hoan hỷ, gần với không thiên chấp, gần với không thủ trước. Này Aggivessana, trong số các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Tất cả mọi điều tôi đều chấp nhận,’ ở đây người có trí suy xét như sau: ‘Quan điểm này của ta là: “Tất cả mọi điều tôi đều chấp nhận.” Nếu ta nắm giữ quan điểm này một cách mạnh mẽ, cố chấp, khăng khăng và tuyên bố: “Chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm,” thì ta sẽ có sự tranh cãi với hai hạng người: vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Tất cả mọi điều tôi đều không chấp nhận,” và vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Có một số điều tôi chấp nhận, có một số điều tôi không chấp nhận.” Ta sẽ có sự tranh cãi với hai hạng người này. Khi có tranh cãi thì có tranh luận, khi có tranh luận thì có phiền não, khi có phiền não thì có khổ tâm.’ Vị ấy, khi thấy rõ sự tranh cãi, tranh luận, phiền não, và khổ tâm nơi chính mình, liền từ bỏ quan điểm ấy và cũng không chấp thủ quan điểm nào khác. Như vậy là sự đoạn trừ các quan điểm ấy, như vậy là sự từ bỏ các quan điểm ấy.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti tattha viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘yā kho me ayaṁ diṭṭhi—sabbaṁ me nakkhamatīti, imañce ahaṁ diṭṭhiṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa vohareyyaṁ—idameva saccaṁ moghamaññanti; dvīhi me assa viggaho—yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me khamatīti, yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—ekaccaṁ me khamati ekaccaṁ me nakkhamatīti—imehi assa dvīhi viggaho. Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’. Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati. Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
When it comes to the view of the ascetics and brahmins to whom nothing is acceptable, a sensible person reflects like this: ‘I have the view that nothing is acceptable. Suppose I were to obstinately stick to this view and insist, “This is the only truth, anything else is futile.” Then I’d argue with two individuals—an ascetic or brahmin to whom everything is acceptable, and an ascetic or brahmin to whom some things are acceptable and some things are not. And when there’s arguing, there’s dispute; when there’s dispute there’s distress; and when there’s distress there’s harm.’ So, considering in themselves the potential for argument, dispute, distress, and harm, they give up that view by not grasping another view. That’s how those views are given up and let go.
203. Này Aggivessana, trong số các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Tất cả mọi điều tôi đều không chấp nhận,’ ở đây người có trí suy xét như sau: ‘Quan điểm này của ta là: “Tất cả mọi điều tôi đều không chấp nhận.” Nếu ta nắm giữ quan điểm này một cách mạnh mẽ, cố chấp, khăng khăng và tuyên bố: “Chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm,” thì ta sẽ có sự tranh cãi với hai hạng người: vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Tất cả mọi điều tôi đều chấp nhận,” và vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Có một số điều tôi chấp nhận, có một số điều tôi không chấp nhận.” Ta sẽ có sự tranh cãi với hai hạng người này. Khi có tranh cãi thì có tranh luận, khi có tranh luận thì có phiền não, khi có phiền não thì có khổ tâm.’ Vị ấy, khi thấy rõ sự tranh cãi, tranh luận, phiền não, và khổ tâm nơi chính mình, liền từ bỏ quan điểm ấy và cũng không chấp thủ quan điểm nào khác. Như vậy là sự đoạn trừ các quan điểm ấy, như vậy là sự từ bỏ các quan điểm ấy.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatī’ti tattha viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘yā kho me ayaṁ diṭṭhi—ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatīti, imañce ahaṁ diṭṭhiṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa vohareyyaṁ—idameva saccaṁ moghamaññanti; dvīhi me assa viggaho—yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me khamatīti, yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me nakkhamatīti—imehi assa dvīhi viggaho. Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’. Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati. Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
When it comes to the view of the ascetics and brahmins to whom some things are acceptable and some things are not, a sensible person reflects like this: ‘I have the view that some things are acceptable and some things are not. Suppose I were to obstinately stick to this view and insist, “This is the only truth, anything else is futile.” Then I’d argue with two individuals—an ascetic or brahmin to whom everything is acceptable, and an ascetic or brahmin to whom nothing is acceptable. And when there’s arguing, there’s dispute; when there’s dispute there’s distress; and when there’s distress there’s harm.’ So, considering in themselves the potential for argument, dispute, distress, and harm, they give up that view by not grasping another view. That’s how those views are given up and let go.
204. Này Aggivessana, trong số các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Có một số điều tôi chấp nhận, có một số điều tôi không chấp nhận,’ ở đây người có trí suy xét như sau: ‘Quan điểm này của ta là: “Có một số điều tôi chấp nhận, có một số điều tôi không chấp nhận.” Nếu ta nắm giữ quan điểm này một cách mạnh mẽ, cố chấp, khăng khăng và tuyên bố: “Chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm,” thì ta sẽ có sự tranh cãi với hai hạng người: vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Tất cả mọi điều tôi đều chấp nhận,” và vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Tất cả mọi điều tôi đều không chấp nhận.” Ta sẽ có sự tranh cãi với hai hạng người này. Khi có tranh cãi thì có tranh luận, khi có tranh luận thì có phiền não, khi có phiền não thì có khổ tâm.’ Vị ấy, khi thấy rõ sự tranh cãi, tranh luận, phiền não, và khổ tâm nơi chính mình, liền từ bỏ quan điểm ấy và cũng không chấp thủ quan điểm nào khác. Như vậy là sự đoạn trừ các quan điểm ấy, như vậy là sự từ bỏ các quan điểm ấy.
Ayaṁ kho panaggivessana, kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo, aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassitabbo. Tassimaṁ kāyaṁ aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassato yo kāyasmiṁ kāyachando kāyasneho kāyanvayatā sā pahīyati.
Aggivessana, this body is formed. It’s made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction. You should see it as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. Doing so, you’ll give up desire, affection, and subservience to the body.
205. Lại nữa, này Aggivessana, thân này có sắc, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bản chất vô thường, cần phải xoa bóp, chà rửa, bị tan rã, bị hoại diệt, cần được quán xét là vô thường, là khổ, là bệnh, là khối u, là mũi tên, là tai họa, là chứng bệnh, là cái khác, là cái hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Đối với người quán xét thân này là vô thường, là khổ, là bệnh, là khối u, là mũi tên, là tai họa, là chứng bệnh, là cái khác, là cái hoại diệt, là trống không, là vô ngã, thì dục tham đối với thân, ái luyến đối với thân, sự phụ thuộc vào thân nơi vị ấy được đoạn trừ.
Tisso kho imā, aggivessana, vedanā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. Yasmiṁ, aggivessana, samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, na adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti; sukhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti. Yasmiṁ, aggivessana, samaye dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, na adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti; dukkhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti. Yasmiṁ, aggivessana, samaye adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, na dukkhaṁ vedanaṁ vedeti; adukkhamasukhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
Sukhāpi kho, aggivessana, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā; dukkhāpi kho, aggivessana, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā; adukkhamasukhāpi kho, aggivessana, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā.
Evaṁ passaṁ, aggivessana, sutavā ariyasāvako sukhāyapi vedanāya nibbindati, dukkhāyapi vedanāya nibbindati, adukkhamasukhāyapi vedanāya nibbindati; nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ, vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Evaṁ vimuttacitto kho, aggivessana, bhikkhu na kenaci saṁvadati, na kenaci vivadati, yañca loke vuttaṁ tena voharati, aparāmasan”ti.
There are these three feelings: pleasant, painful, and neutral. At a time when you feel a pleasant feeling, you don’t feel a painful or neutral feeling; you only feel a pleasant feeling. At a time when you feel a painful feeling, you don’t feel a pleasant or neutral feeling; you only feel a painful feeling. At a time when you feel a neutral feeling, you don’t feel a pleasant or painful feeling; you only feel a neutral feeling.
Pleasant, painful, and neutral feelings are impermanent, conditioned, dependently originated, liable to end, vanish, fade away, and cease.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with pleasant, painful, and neutral feelings. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
A mendicant whose mind is freed like this doesn’t side with anyone or dispute with anyone. They use the language of the world to communicate without getting stuck on it.”
“Này Aggivessana, có ba loại cảm thọ này: lạc thọ, khổ thọ, và thọ không khổ không lạc. Này Aggivessana, vào lúc cảm nhận lạc thọ, khi ấy vị ấy không cảm nhận khổ thọ, không cảm nhận thọ không khổ không lạc; vào lúc ấy, vị ấy chỉ cảm nhận lạc thọ. Này Aggivessana, vào lúc cảm nhận khổ thọ, khi ấy vị ấy không cảm nhận lạc thọ, không cảm nhận thọ không khổ không lạc; vào lúc ấy, vị ấy chỉ cảm nhận khổ thọ. Này Aggivessana, vào lúc cảm nhận thọ không khổ không lạc, khi ấy vị ấy không cảm nhận lạc thọ, không cảm nhận khổ thọ; vào lúc ấy, vị ấy chỉ cảm nhận thọ không khổ không lạc. Này Aggivessana, lạc thọ cũng là vô thường, là pháp hữu vi, do duyên sanh, có bản chất hủy hoại, có bản chất tiêu vong, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt. Này Aggivessana, khổ thọ cũng là vô thường, là pháp hữu vi, do duyên sanh, có bản chất hủy hoại, có bản chất tiêu vong, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt. Này Aggivessana, thọ không khổ không lạc cũng là vô thường, là pháp hữu vi, do duyên sanh, có bản chất hủy hoại, có bản chất tiêu vong, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt. Này Aggivessana, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều y nhàm chán đối với lạc thọ, y nhàm chán đối với khổ thọ, y nhàm chán đối với thọ không khổ không lạc. Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Nơi (tâm) đã được giải thoát, khởi lên trí tuệ rằng: ‘(Ta) đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Này Aggivessana, vị tỳ khưu có tâm giải thoát như vậy không tranh luận với bất cứ ai, không tranh cãi với bất cứ ai, và vị ấy sử dụng những gì được nói trong thế gian, nhưng không chấp thủ.”
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno. Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi: “tesaṁ tesaṁ kira no bhagavā dhammānaṁ abhiññā pahānamāha, tesaṁ tesaṁ kira no sugato dhammānaṁ abhiññā paṭinissaggamāhā”ti. Iti hidaṁ āyasmato sāriputtassa paṭisañcikkhato anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci.
Dīghanakhassa pana paribbājakassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti. Atha kho dīghanakho paribbājako diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evameva kho bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Now at that time Venerable Sāriputta was standing behind the Buddha fanning him. Then he thought, “It seems the Buddha speaks of giving up and letting go of all these things through direct knowledge.” Reflecting like this, Venerable Sāriputta’s mind was freed from the defilements by not grasping.
And the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in the wanderer Dīghanakha: “Everything that is liable to arise is liable to cease.” Then Dīghanakha saw, attained, understood, and fathomed the Dhamma. He went beyond doubt, got rid of indecision, and became self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instructions. He said to the Buddha:
“Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
206. Vào lúc ấy, Tôn giả Sāriputta đang đứng hầu quạt phía sau lưng của đức Thế Tôn. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Quả thật, đức Thế Tôn của chúng ta, sau khi đã thắng tri các pháp ấy, đã thuyết giảng về sự từ bỏ; quả thật, đức Thiện Thệ của chúng ta, sau khi đã thắng tri các pháp ấy, đã thuyết giảng về sự xả ly.’ Trong khi Tôn giả Sāriputta đang suy xét như vậy, tâm của ngài được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Còn đối với du sĩ Dīghanakha, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã sanh khởi: ‘Bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái đó đều có bản chất đoạn diệt.’ Khi ấy, du sĩ Dīghanakha, người đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã hiểu rõ Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết do dự, đã đạt đến sự vô úy, không còn nương tựa vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, đã bạch với đức Thế Tôn lời này: ‘Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng giống như người ta lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối với ý nghĩ: ‘Những ai có mắt sẽ thấy được các sắc,’ cũng vậy, Pháp đã được Tôn giả Gotama tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y Tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama hãy ghi nhận con là một người cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’”
Dīghanakhasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Dīghanakha thứ tư đã kết thúc.