- Majjhima Nikāya 7
Vatthasutta
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Bản dịch
Vatthasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.:” Bạch Thế Tôn”, các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác—hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía—vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác—hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.
SC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.
SC 4Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghĩ rằng: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm” và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm; nghĩ rằng: “Sân là cấu uế của tâm”, và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn … hận … hư ngụy … não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống … ngoan cố … cấp tháo … mạn … quá mạn … kiêu; nghĩ rằng: “Phóng dật là cấu uế của tâm” thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm.
SC 5Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo biết được: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm”, tham dục, tà tham cấu uế của tâm được diệt trừ, … sân … phẫn … hận … hư ngụy … não hại … tật đố … xan tham … man trá … khi cuống … ngoan cố … cấp tháo … mạn … quá mạn … kiêu; khi nào Tỷ-kheo biết được: “Phóng dật là cấu uế của tâm”, phóng dật, cấu uế của tâm được diệt trừ, Tỷ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
SC 6Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu.
SC 7Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
SC 8Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly. Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 9Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 10Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Tăng”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an, thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 11Vị ấy tự nghĩ: “Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 12Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy—nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy—nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy.
SC 13Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 14Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … (như trên) … với tâm câu hữu với hỷ … (như trên) … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
SC 15Vị ấy biết: “Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng”.
SC 16Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm.
SC 17Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja bạch Thế Tôn
SC 18—Tôn giả Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm rửa không?
SC 19—Này Bà-la-môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có làm được lợi ích gì?
SC 20—Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng giải thoát. Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng đem lại công đức. Và nhiều người đã gội sạch các ác nghiệp trong sông Bahuka.
SC 21Rồi Thế Tôn nói lên những bài kệ sau đây cho Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja:
SC 22Trong sông Bàhukà
Tại Adhikakkà,
Tại cả sông Gayà
Và Sundarikà,
Tại Sarassatì
Và tại Payàna,
Tại Bàhumatì,
Kẻ ngu dầu thường tắm,
Ác nghiệp không rửa sạch.SC 23Sông Sundarikà
Có thể làm được gì?
Payàga làm gì?
Cả sông Bàhukà?
Không thể rửa nghiệp đen
Của kẻ ác gây tội.SC 24Ðối kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày tốt,
Với kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày lành,SC 25Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu thiện hạnh.
Này vị Bà-la-môn,
Chỉ nên tắm ở đây,
Khiến mọi loài chúng sanh,
Ðược sống trong an ổn.
Nếu không nói dối trá,
Nếu không hại chúng sanh,
Không lấy của không cho,
Có lòng tín, không tham,
Ði Gayà làm gì,
Gayà một giếng nước?
SC 26Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja bạch Thế Tôn
SC 27—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng. Mong con được xuất gia với Tôn giả Gotama! Mong con được thọ đại giới!
SC 28Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Trong thời gian ngắn sau khi thọ đại giới, Tôn giả Bhāradvāja sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần và không bao lâu sau khi tự thân chứng ngộ với thượng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại, vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã thắng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Như vậy, Tôn giả Bhāradvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
70. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu.” – “Bạch Thế Tôn,” các tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ saṅkiliṭṭhaṁ malaggahitaṁ; tamenaṁ rajako yasmiṁ yasmiṁ raṅgajāte upasaṁhareyya—yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya durattavaṇṇamevassa aparisuddhavaṇṇamevassa. Taṁ kissa hetu? Aparisuddhattā, bhikkhave, vatthassa.
Evameva kho, bhikkhave, citte saṅkiliṭṭhe, duggati pāṭikaṅkhā. Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ parisuddhaṁ pariyodātaṁ; tamenaṁ rajako yasmiṁ yasmiṁ raṅgajāte upasaṁhareyya—yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya—surattavaṇṇamevassa parisuddhavaṇṇamevassa. Taṁ kissa hetu? Parisuddhattā, bhikkhave, vatthassa.
Evameva kho, bhikkhave, citte asaṅkiliṭṭhe, sugati pāṭikaṅkhā.
“Suppose, mendicants, there was a cloth that was dirty and soiled. No matter what dye the dyer applied—whether blue or yellow or red or magenta—it would look poorly dyed and impure in color. Why is that? Because of the impurity of the cloth.
In the same way, when the mind is corrupt, a bad destiny is to be expected. Suppose there was a cloth that was pure and clean. No matter what dye the dyer applied—whether blue or yellow or red or magenta—it would look well dyed and pure in color. Why is that? Because of the purity of the cloth.
In the same way, when the mind isn’t corrupt, a good destiny is to be expected.
Này các tỳ khưu, ví như một tấm vải bị dơ bẩn, dính đầy cấu uế; người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào bất cứ loại thuốc nhuộm nào – dù là màu xanh, màu vàng, màu đỏ, hay màu hồng – nó sẽ trở thành màu nhuộm xấu, màu không trong sạch. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, là do tấm vải không trong sạch. Cũng vậy, này các tỳ khưu, khi tâm bị ô nhiễm, ác thú được chờ đợi. Này các tỳ khưu, ví như một tấm vải trong sạch, tinh khiết; người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào bất cứ loại thuốc nhuộm nào – dù là màu xanh, màu vàng, màu đỏ, hay màu hồng – nó sẽ trở thành màu nhuộm đẹp, màu trong sạch. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, là do tấm vải trong sạch. Cũng vậy, này các tỳ khưu, khi tâm không bị ô nhiễm, thiện thú được chờ đợi.
Katame ca, bhikkhave, cittassa upakkilesā? Abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso, byāpādo cittassa upakkileso, kodho cittassa upakkileso, upanāho cittassa upakkileso, makkho cittassa upakkileso, paḷāso cittassa upakkileso, issā cittassa upakkileso, macchariyaṁ cittassa upakkileso, māyā cittassa upakkileso, sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso, thambho cittassa upakkileso, sārambho cittassa upakkileso, māno cittassa upakkileso, atimāno cittassa upakkileso, mado cittassa upakkileso, pamādo cittassa upakkileso.
And what are the corruptions of the mind? Covetousness and immoral greed, ill will, anger, acrimony, disdain, contempt, jealousy, stinginess, deceit, deviousness, obstinacy, aggression, conceit, arrogance, vanity, and negligence are corruptions of the mind.
71. Và này các tỳ khưu, những gì là các tùy phiền não của tâm? Tham lam và tà tham là tùy phiền não của tâm, sân hận là tùy phiền não của tâm, phẫn nộ là tùy phiền não của tâm, oán hận là tùy phiền não của tâm, gièm pha là tùy phiền não của tâm, tranh cạnh là tùy phiền não của tâm, tật đố là tùy phiền não của tâm, bỏn xẻn là tùy phiền não của tâm, xảo trá là tùy phiền não của tâm, lừa lọc là tùy phiền não của tâm, ngoan cố là tùy phiền não của tâm, hiếu thắng là tùy phiền não của tâm, ngã mạn là tùy phiền não của tâm, quá mạn là tùy phiền não của tâm, kiêu căng là tùy phiền não của tâm, phóng dật là tùy phiền não của tâm.
Sa kho so, bhikkhave, bhikkhu ‘abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijjhāvisamalobhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘byāpādo cittassa upakkileso’ti—iti viditvā byāpādaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘kodho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā kodhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘upanāho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā upanāhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘makkho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā makkhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘paḷāso cittassa upakkileso’ti—iti viditvā paḷāsaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘issā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā issaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘macchariyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā macchariyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘māyā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā māyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā sāṭheyyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘thambho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā thambhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘sārambho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā sārambhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘māno cittassa upakkileso’ti—iti viditvā mānaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘atimāno cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atimānaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘mado cittassa upakkileso’ti—iti viditvā madaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati; ‘pamādo cittassa upakkileso’ti—iti viditvā pamādaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno ‘abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso pahīno hoti, ‘byāpādo cittassa upakkileso’ti—
A mendicant who understands that covetousness and immoral greed are corruptions of the mind gives them up. A mendicant who understands that ill will … negligence is a corruption of the mind gives it up.
When they have understood these corruptions of the mind for what they are, and have given them up,
72. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy, sau khi biết: ‘Tham lam và tà tham là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ tham lam và tà tham là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Sân hận là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ sân hận là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Phẫn nộ là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ phẫn nộ là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Oán hận là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ oán hận là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Gièm pha là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ gièm pha là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Tranh cạnh là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ tranh cạnh là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Tật đố là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ tật đố là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Bỏn xẻn là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ bỏn xẻn là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Xảo trá là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ xảo trá là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Lừa lọc là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ lừa lọc là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Ngoan cố là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ ngoan cố là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Hiếu thắng là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ hiếu thắng là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Ngã mạn là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ ngã mạn là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Quá mạn là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ quá mạn là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Kiêu căng là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ kiêu căng là tùy phiền não của tâm; sau khi biết: ‘Phóng dật là tùy phiền não của tâm,’ vị ấy từ bỏ phóng dật là tùy phiền não của tâm.
73. “Này các Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu, sau khi biết rằng: ‘Tham lam và tà tham là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là tham lam và tà tham ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Sân hận là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là sân hận ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Phẫn nộ là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là phẫn nộ ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Oán hận là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là oán hận ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Não hại là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là não hại ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Tranh cạnh là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là tranh cạnh ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Tật đố là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là tật đố ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Bỏn xẻn là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là bỏn xẻn ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Xảo trá là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là xảo trá ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Gian dối là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là gian dối ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Ngoan cố là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là ngoan cố ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Hiếu thắng là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là hiếu thắng ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Mạn là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là mạn ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Quá mạn là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là quá mạn ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Kiêu là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là kiêu ấy được đoạn tận; sau khi biết rằng: ‘Dể duôi là cấu uế của tâm’, cấu uế của tâm là dể duôi ấy được đoạn tận.”
dhamme aveccappasādena samannāgato hoti: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti;
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni, aṭṭha purisapuggalā. Esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo, anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti.
They have experiential confidence in the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’
They have experiential confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.’
74. “Vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với đức Phật rằng: ‘Vì lý do này, đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn’; vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Pháp rằng: ‘Pháp đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu’; vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Tăng rằng: ‘Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn là bậc diệu hạnh, Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn là bậc trực hạnh, Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn là bậc như lý hạnh, Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn là bậc chánh hạnh; tức là bốn đôi, tám chúng. Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn này là đáng được cúng dường, đáng được nghênh tiếp, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời’.”
Yathodhi kho panassa cattaṁ hoti vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhaṁ, so ‘buddhe aveccappasādena samannāgatomhī’ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ. Pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati; ‘dhamme …pe… saṅghe aveccappasādena samannāgatomhī’ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ; pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati. ‘Yathodhi kho pana me cattaṁ vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhan’ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ; pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
When a mendicant has discarded, eliminated, released, given up, and relinquished to this extent, thinking, ‘I have experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha,’ they find inspiration in the meaning and the teaching, and find joy connected with the teaching. Thinking: ‘I have discarded, eliminated, released, given up, and relinquished to this extent,’ they find inspiration in the meaning and the teaching, and find joy connected with the teaching. When they’re joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when they’re blissful, the mind becomes immersed in samādhi.
75. “Khi các pháp ấy đã được vị ấy từ bỏ, khạc nhổ, giải thoát, đoạn tận, xả ly theo từng mức độ, vị ấy, khi suy xét rằng: ‘Tôi đã thành tựu niềm tin bất động đối với đức Phật’, liền đắc được nghĩa tín, đắc được pháp tín, đắc được sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Đối với người có hân hoan, hỷ sanh khởi. Đối với người có tâm hoan hỷ, thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm nhận lạc thọ. Đối với người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Khi suy xét rằng: ‘Tôi đã thành tựu niềm tin bất động đối với Pháp... đối với Tăng’, vị ấy liền đắc được nghĩa tín, đắc được pháp tín, đắc được sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Đối với người có hân hoan, hỷ sanh khởi. Đối với người có tâm hoan hỷ, thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm nhận lạc thọ. Đối với người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Khi suy xét rằng: ‘Các pháp đã được tôi từ bỏ, khạc nhổ, giải thoát, đoạn tận, xả ly theo từng mức độ’, vị ấy liền đắc được nghĩa tín, đắc được pháp tín, đắc được sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Đối với người có hân hoan, hỷ sanh khởi. Đối với người có tâm hoan hỷ, thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm nhận lạc thọ. Đối với người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.”
Sa kho so, bhikkhave, bhikkhu evaṁsīlo evaṁdhammo evaṁpañño sālīnañcepi piṇḍapātaṁ bhuñjati vicitakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ, nevassa taṁ hoti antarāyāya. Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ saṅkiliṭṭhaṁ malaggahitaṁ acchodakaṁ āgamma parisuddhaṁ hoti pariyodātaṁ, ukkāmukhaṁ vā panāgamma jātarūpaṁ parisuddhaṁ hoti pariyodātaṁ; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁsīlo evaṁdhammo evaṁpañño sālīnañcepi piṇḍapātaṁ bhuñjati vicitakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ, nevassa taṁ hoti antarāyāya.
When a mendicant of such ethics, such qualities, and such wisdom eats boiled fine rice with the dark grains picked out and served with many soups and sauces, that is no obstacle for them. Compare with cloth that is dirty and soiled; it can be made pure and clean by pure water. Or native gold, which can be made pure and bright by a forge. In the same way, when a mendicant of such ethics, such qualities, and such wisdom eats boiled fine rice with the dark grains picked out and served with many soups and sauces, that is no obstacle for them.
76. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có giới như vậy, có pháp như vậy, có tuệ như vậy, dầu cho vị ấy có thọ dụng vật thực khất thực làm bằng gạo Sāli đã được lựa sạch hạt đen, với nhiều món canh và nhiều món đồ ăn, việc ấy cũng không trở thành chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỳ khưu, ví như tấm vải bị dơ bẩn, bám đầy cấu uế, khi được nhúng vào nước trong sạch, nó trở nên thanh tịnh, trong trắng; hoặc ví như vàng, khi được đưa vào miệng lò, nó trở nên thanh tịnh, trong sáng. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có giới như vậy, có pháp như vậy, có tuệ như vậy, dầu cho vị ấy có thọ dụng vật thực khất thực làm bằng gạo Sāli đã được lựa sạch hạt đen, với nhiều món canh và nhiều món đồ ăn, việc ấy cũng không trở thành chướng ngại cho vị ấy.”
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati; karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
They meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They meditate spreading a heart full of compassion to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of compassion to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They meditate spreading a heart full of rejoicing to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of rejoicing to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
77. Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú, biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô lượng, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, vị ấy an trú, biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú, biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô lượng, không hận, không sân.
So ‘atthi idaṁ, atthi hīnaṁ, atthi paṇītaṁ, atthi imassa saññāgatassa uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave: ‘bhikkhu sināto antarena sinānenā’”ti.
They understand: ‘There is this, there is what is worse than this, there is what is better than this, and there is an escape beyond the scope of perception.’
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ This is called a mendicant who is bathed with the inner bathing.”
78. Vị ấy tuệ tri: ‘Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát cao hơn nữa khỏi tưởng đã đạt đến này’. Đối với vị ấy, khi biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc của dục, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc của hữu, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc của vô minh. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ: ‘Đã được giải thoát’. Vị ấy tuệ tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là vị Tỳ khưu đã tắm với sự tắm gội bên trong.
Tena kho pana samayena sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato avidūre nisinno hoti. Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “gacchati pana bhavaṁ gotamo bāhukaṁ nadiṁ sināyitun”ti?
“Kiṁ, brāhmaṇa, bāhukāya nadiyā? Kiṁ bāhukā nadī karissatī”ti?
“Lokkhasammatā hi, bho gotama, bāhukā nadī bahujanassa, puññasammatā hi, bho gotama, bāhukā nadī bahujanassa, bāhukāya pana nadiyā bahujano pāpakammaṁ kataṁ pavāhetī”ti.
Atha kho bhagavā sundarikabhāradvājaṁ brāhmaṇaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
Now at that time the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā was sitting not far from the Buddha. He said to the Buddha, “But does Worthy Gotama go to the Bāhukā River to bathe?”
“Brahmin, why go to the Bāhukā River? What can the Bāhukā River do?”
“Many people deem that the Bāhukā River leads to a heavenly world and bestows merit. And many people rinse off their bad deeds in the Bāhukā River.”
Then the Buddha addressed Bhāradvāja of Sundarikā in verse:
79. Vào lúc ấy, Bà la môn Sundarikabhāradvāja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà la môn Sundarikabhāradvāja bạch với Thế Tôn: ‘Tôn giả Gotama có đi đến sông Bāhukā để tắm không?’ ‘Này Bà la môn, sông Bāhukā để làm gì? Sông Bāhukā có thể làm được gì?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, sông Bāhukā được nhiều người xem là nơi thanh tẩy, thưa Tôn giả Gotama, sông Bāhukā được nhiều người xem là nơi tạo phước, và nhiều người trôi rửa các ác nghiệp đã làm ở sông Bāhukā.’ Bấy giờ, Thế Tôn nói với Bà la môn Sundarikabhāradvāja bằng những câu kệ:
“Bāhukaṁ adhikakkañca, gayaṁ sundarikaṁ mapi; Sarassatiṁ payāgañca, atho bāhumatiṁ nadiṁ; Niccampi bālo pakkhando, kaṇhakammo na sujjhati.
Kiṁ sundarikā karissati,
“The Bāhukā and the Adhikakkā, at Gayā and the Sundarikā too, Sarasvatī and Payāga, and the Bāhumatī River: a fool can constantly plunge into them but it won’t purify their dark deeds.
What can the Sundarikā do?
Sông Bāhukā, Adhikakka, Gayā, và Sundarikā; Sông Sarassatī và Payāga, cùng với sông Bāhumatī; Kẻ ngu có nghiệp đen tối, dù thường xuyên tắm gội, cũng không thể thanh tịnh.
Sông Sundarikā có thể làm gì, Payāga và sông Bāhukā có thể làm gì? Chúng không thể gột sạch người có hận thù, kẻ đã làm điều ác, người có ác nghiệp.
Suddhassa ve sadā phaggu, Suddhassuposatho sadā; Suddhassa sucikammassa, Sadā sampajjate vataṁ; Idheva sināhi brāhmaṇa, Sabbabhūtesu karohi khemataṁ.
For the pure in heart it’s always the spring festival or the sabbath. For the pure in heart and clean of deed, their vows will always be fulfilled. It’s here alone that you should bathe, brahmin, making yourself a sanctuary for all creatures.
Với người thanh tịnh, ngày nào cũng là ngày tốt, với người thanh tịnh, ngày nào cũng là ngày Bố-tát. Với người thanh tịnh, có nghiệp trong sạch, giới hạnh luôn được viên mãn. Này Bà la môn, hãy tắm tại đây, hãy tạo sự an ổn cho mọi chúng sanh.
Sace musā na bhaṇasi, sace pāṇaṁ na hiṁsasi; Sace adinnaṁ nādiyasi, saddahāno amaccharī; Kiṁ kāhasi gayaṁ gantvā, udapānopi te gayā”ti.
And if you speak no lies, nor harm any living creature, nor steal anything not given, and you’re faithful and not stingy: what’s the point of going to Gayā? For any well may be your Gayā!”
Nếu ông không nói dối, nếu ông không hại chúng sanh; Nếu ông không lấy của không cho, có lòng tin và không keo kiệt; Ông đến Gayā để làm gì? Cái giếng nước cũng là Gayā của ông.
Evaṁ vutte, sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya—cakkhumanto rūpāni dakkhantīti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṁ bhoto gotamassa santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Alattha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Acirūpasampanno kho panāyasmā bhāradvājo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro kho panāyasmā bhāradvājo arahataṁ ahosīti.
When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. May I receive the going forth, the ordination in the worthy Gotama’s presence?”
And the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Bhāradvāja, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
80. Khi được nói như vậy, Bà la môn Sundarikabhāradvāja bạch với Thế Tôn: ‘Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Ví như, thưa Tôn giả Gotama, người ta lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và Tỳ khưu Tăng. Mong con được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Tôn giả Gotama, mong con được thọ cụ túc giới’. Bà la môn Sundarikabhāradvāja đã được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, đã được thọ cụ túc giới. Không lâu sau khi thọ cụ túc giới, Tôn giả Bhāradvāja, sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện gia nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong các vị A-la-hán.
Vatthasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Vattha, kinh thứ bảy, kết thúc.