- Majjhima Nikāya 69
Goliyānisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Goliyānisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
SC 2Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo Gulissani là vị sống tại rừng núi, hành động thô tháo đã đến giữa Tăng chúng do một vài công vụ. Ở đây, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) nhân vì Tỷ-kheo Gulissani, bảo các Tỷ-kheo
SC 3—Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng phải biết tôn trọng, cung kính các đồng Phạm hạnh. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng không biết tôn trọng, cung kính các đồng Phạm hạnh, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả ấy lại không tôn trọng, cung kính các đồng Phạm hạnh!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng, phải biết tôn trọng, cung kính các đồng Phạm hạnh.
SC 4Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, phải biết khéo léo về chỗ ngồi, nghĩ rằng: “Ta sẽ ngồi, không có chiếm lấy chỗ ngồi các Thượng tọa Tỷ-kheo, không có trục xuất chỗ ngồi của các niên thiếu Tỷ-kheo. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không biết khéo xử về chỗ ngồi, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không biết hành động như pháp!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng phải biết khéo xử về chỗ ngồi.
SC 5Này chư Hiền, Tỷ-kheo, sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên vào làng quá sớm và trở về ban ngày. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chư Tăng, nếu vào làng quá sớm và trở về ban ngày, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại vào làng quá sớm và trở về ban ngày”. Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên vào làng quá sớm, và trở về ban ngày.
SC 6Này chư Hiền, Tỷ-kheo, sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên đi đến các gia đình trước buổi ăn hay sau buổi ăn. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, đi đến các gia đình trước buổi ăn hay sau buổi ăn, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Có phải Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích, lại đi phí thời giờ quá nhiều, và xử sự như vậy đối với chúng Tăng?” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên đi đến các gia đình trước buổi ăn hay sau buổi ăn.
SC 7Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng không nên trạo cử, dao động. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng mà trạo cử, dao động, thời sẽ có người nói về vị ấy như sau: “Có phải Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích, lại trạo cử, dao động quá nhiều và xử sự như vậy đối với chúng Tăng?” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên trạo cử, dao động.
SC 8Này Chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng, không nên nói nhiều lời và nói tạp nhạp. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng, nói nhiều lời và nói tạp nhạp thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại nói nhiều lời và nói tạp nhạp!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên nói nhiều lời và nói tạp nhạp.
SC 9Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng, phải là người dễ nói và là người thiện hữu. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng là người khó nói và là người ác hữu, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại khó nói và là người ác hữu!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, phải là người dễ nói và là người thiện hữu.
SC 10Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thủ hộ các căn. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi không thủ hộ các căn, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không thủ hộ các căn!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thủ hộ các căn.
SC 11Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải tiết độ trong sự ăn uống. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi không có tiết độ trong sự ăn uống, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không có tiết độ trong sự ăn uống!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có tiết độ trong sự ăn uống.
SC 12Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải chú tâm cảnh giác. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi không chú tâm cảnh giác, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không chú tâm cảnh giác!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải chú tâm cảnh giác.
SC 13Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải tinh cần tinh tấn. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi mà biếng nhác, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại biếng nhác!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, cần phải tinh cần tinh tấn.
SC 14Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải chánh niệm tỉnh giác. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi mà thất niệm, thời sẽ có người nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại thất niệm!”. Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, cần phải chánh niệm tỉnh giác.
SC 15Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có Thiền định. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi không có Thiền định, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không có Thiền định!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có Thiền định.
SC 16Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có trí tuệ. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi chỉ có liệt tuệ, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại chỉ có liệt tuệ!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có trí tuệ.
SC 17Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập thắng pháp (abhidhamma), thắng luật (abhivinaya). Này chư Hiền, sẽ có người hỏi Tỷ-kheo sống ở rừng núi về thắng pháp, thắng luật. Nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi được hỏi về thắng pháp, thắng luật mà không thể trả lời được, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này được hỏi về thắng pháp, thắng luật lại không có thể trả lời được!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có thực tập thắng pháp, thắng luật.
SC 18Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập các pháp tịch tịnh giải thoát (santavimokha), vượt khỏi các sắc pháp, và các vô sắc pháp. Này chư Hiền, sẽ có người hỏi Tỷ-kheo sống ở rừng núi về các pháp tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp, các vô sắc pháp. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi được hỏi về các pháp tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp mà không thể trả lời được, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này được hỏi về các pháp tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp lại không có thể trả lời được!” Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập các pháp tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp.
SC 19Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập các pháp thượng nhân. Này chư Hiền, sẽ có người hỏi Tỷ-kheo về những pháp thượng nhân. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi được hỏi về các pháp thượng nhân mà không thể trả lời được, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này được hỏi về những pháp thượng nhân lại không có thể trả lời được!”. Như vậy sẽ có người nói về vị ấy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập các pháp thượng nhân.
SC 20Khi được nói vậy, Tôn giả Mahamoggallana nói với Tôn giả Sāriputta như sau
SC 21—Hiền giả Sāriputta, các pháp này cần phải được chấp trì và thực tập chỉ bởi Tỷ-kheo sống ở rừng núi hay bởi Tỷ-kheo sống ở gần thôn làng?
SC 22—Hiền giả Moggallāna, các pháp này cần được phải chấp trì và thực tập bởi Tỷ-kheo sống ở rừng núi, huống chi Tỷ-kheo sống gần thôn làng!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 16–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Goliyāni
Tena kho pana samayena goliyāni nāma bhikkhu āraññiko padasamācāro saṅghamajjhe osaṭo hoti kenacideva karaṇīyena. Tatra kho āyasmā sāriputto goliyāniṁ bhikkhuṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
Now at that time a wilderness mendicant of boorish behavior named Gulissāni had come down to the midst of the Saṅgha on some business. There Venerable Sāriputta spoke to the mendicants about Gulissāni:
173. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu tên là Goliyāni, một vị sống trong rừng, có hạnh kiểm kém cỏi, đã đi vào giữa Tăng chúng vì một công việc nào đó. Khi ấy, tôn giả Sāriputta nhân dịp vị tỳ khưu Goliyāni đã gọi các vị tỳ khưu rằng:
“Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena sabrahmacārīsu sagāravena bhavitabbaṁ sappatissena. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto sabrahmacārīsu agāravo hoti appatisso, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena, yo ayamāyasmā sabrahmacārīsu agāravo hoti appatisso’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena sabrahmacārīsu sagāravena bhavitabbaṁ sappatissena.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena āsanakusalena bhavitabbaṁ:
“Reverends, a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should have respect and reverence for his spiritual companions. If he doesn’t, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he has no respect and reverence for his spiritual companions?’ That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should have respect and reverence for his spiritual companions.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should be careful where he sits, thinking:
Này các hiền hữu, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đã đến Tăng chúng, khi đang sống trong Tăng chúng, cần phải có lòng tôn kính và vâng lời đối với các vị đồng phạm hạnh. Này các hiền hữu, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đã đến Tăng chúng, khi đang sống trong Tăng chúng, lại không có lòng tôn kính, không có lòng vâng lời đối với các vị đồng phạm hạnh, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng: ‘Vị tôn giả này không có lòng tôn kính, không có lòng vâng lời đối với các vị đồng phạm hạnh, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả này khi sống một mình trong rừng theo ý muốn?’ – sẽ có những người nói về vị ấy như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đã đến Tăng chúng, khi đang sống trong Tăng chúng, cần phải có lòng tôn kính và vâng lời đối với các vị đồng phạm hạnh.
“Này chư hiền, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cần phải khéo léo về chỗ ngồi với ý nghĩ rằng: ‘Như thế này, ta sẽ ngồi mà không chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão, và sẽ không dùng chỗ ngồi để ngăn cản các vị tỳ khưu mới.’ Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, lại không khéo léo về chỗ ngồi thì vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) rằng: ‘Vị tôn giả này không khéo léo về chỗ ngồi, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả sống trong rừng này với việc sống một mình theo ý muốn trong rừng?’ – vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cần phải khéo léo về chỗ ngồi.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena ābhisamācārikopi dhammo jānitabbo. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto ābhisamācārikampi dhammaṁ na jānāti, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā ābhisamācārikampi dhammaṁ na jānātī’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena ābhisamācārikopi dhammo jānitabbo.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should know even the supplementary regulations. If he doesn’t, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he doesn’t even know the supplementary regulations?’ That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should know even the supplementary regulations.
“Này chư hiền, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cũng cần phải biết đến pháp liên quan đến oai nghi tốt đẹp. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, lại không biết đến pháp liên quan đến oai nghi tốt đẹp thì vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) rằng: ‘Vị tôn giả này không biết đến pháp liên quan đến oai nghi tốt đẹp, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả sống trong rừng này với việc sống một mình theo ý muốn trong rừng?’ – vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cũng cần phải biết đến pháp liên quan đến oai nghi tốt đẹp.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena nātikālena gāmo pavisitabbo nātidivā paṭikkamitabbaṁ. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto atikālena gāmaṁ pavisati atidivā paṭikkamati, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā atikālena gāmaṁ pavisati atidivā paṭikkamatī’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena nātikālena gāmo pavisitabbo, nātidivā paṭikkamitabbaṁ.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t enter the village too early or return too late in the day. If he does so, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he enters the village too early or returns too late in the day?’ That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t enter the village too early or return too late in the day.
“Này chư hiền, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, không nên đi vào làng quá sớm, không nên trở về quá muộn trong ngày. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, lại đi vào làng quá sớm, trở về quá muộn trong ngày thì vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) rằng: ‘Vị tôn giả này đi vào làng quá sớm, trở về quá muộn trong ngày, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả sống trong rừng này với việc sống một mình theo ý muốn trong rừng?’ – vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, không nên đi vào làng quá sớm, không nên trở về quá muộn trong ngày.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena na purebhattaṁ pacchābhattaṁ kulesu cārittaṁ āpajjitabbaṁ. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto purebhattaṁ pacchābhattaṁ kulesu cārittaṁ āpajjati, tassa bhavanti vattāro. ‘Ayaṁ nūnimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena viharato vikālacariyā bahulīkatā, tamenaṁ saṅghagatampi samudācaratī’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena na purebhattaṁ pacchābhattaṁ kulesu cārittaṁ āpajjitabbaṁ.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t have relations with families before or after the meal. If he does so, there’ll be some who say: ‘This wilderness venerable, staying alone and autonomous in the wilderness, must be used to wandering about at the wrong time, since he behaves like this when he’s come to the Saṅgha.’ That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t have relations with families before or after the meal.
“Này chư hiền, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, không nên có việc đi lại đến các gia đình (thí chủ) trước bữa ăn và sau bữa ăn. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, lại có việc đi lại đến các gia đình trước bữa ăn và sau bữa ăn thì vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) rằng: ‘Chắc hẳn việc đi lại phi thời này đã được vị tôn giả sống trong rừng này thực hành nhiều lần trong khi sống một mình theo ý muốn, và điều ấy cũng biểu hiện nơi vị ấy ngay cả khi đã đến Tăng chúng.’ – vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, không nên có việc đi lại đến các gia đình trước bữa ăn và sau bữa ăn.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena anuddhatena bhavitabbaṁ acapalena. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto uddhato hoti capalo, tassa bhavanti vattāro. ‘Idaṁ nūnimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena viharato uddhaccaṁ cāpalyaṁ bahulīkataṁ, tamenaṁ saṅghagatampi samudācaratī’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena anuddhatena bhavitabbaṁ acapalena.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t be restless and fickle. If he is, there’ll be some who say: ‘This wilderness venerable, staying alone and autonomous in the wilderness, must be used to being restless and fickle, since he behaves like this when he’s come to the Saṅgha.’ That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t be restless and fickle.
“Này chư hiền, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cần phải không trạo cử, không lăng xăng. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, lại là người trạo cử, lăng xăng thì vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) rằng: ‘Chắc hẳn sự trạo cử và sự lăng xăng này đã được vị tôn giả sống trong rừng này thực hành nhiều lần trong khi sống một mình theo ý muốn, và điều ấy cũng biểu hiện nơi vị ấy ngay cả khi đã đến Tăng chúng.’ – vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cần phải không trạo cử, không lăng xăng.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena amukharena bhavitabbaṁ avikiṇṇavācena. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto mukharo hoti vikiṇṇavāco, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā mukharo vikiṇṇavāco’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena amukharena bhavitabbaṁ avikiṇṇavācena.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t be scurrilous and loose-tongued. If he is, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s scurrilous and loose-tongued?’ That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t be scurrilous and loose-tongued.
“Này chư hiền, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cần phải không lắm lời, không nói lời bừa bãi. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, lại là người lắm lời, nói lời bừa bãi thì vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) rằng: ‘Vị tôn giả này lắm lời, nói lời bừa bãi, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả sống trong rừng này với việc sống một mình theo ý muốn trong rừng?’ – vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cần phải không lắm lời, không nói lời bừa bãi.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena suvacena bhavitabbaṁ kalyāṇamittena. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto dubbaco hoti pāpamitto, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā dubbaco pāpamitto’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena suvacena bhavitabbaṁ kalyāṇamittena.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should be easy to admonish, with good friends. If he’s hard to admonish, with bad friends, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s hard to admonish, with bad friends?’ That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should be easy to admonish, with good friends.
“Này chư hiền, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cần phải là người dễ dạy, có bạn lành. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, lại là người khó dạy, có bạn ác thì vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) rằng: ‘Vị tôn giả này khó dạy, có bạn ác, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả sống trong rừng này với việc sống một mình theo ý muốn trong rừng?’ – vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng, khi đến Tăng chúng, trong khi trú ở trong Tăng chúng, cần phải là người dễ dạy, có bạn lành.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā indriyesu guttadvārena bhavitabbaṁ. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu indriyesu aguttadvāro hoti, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā indriyesu aguttadvāro’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā indriyesu guttadvārena bhavitabbaṁ.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā bhojane mattaññunā bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should guard the sense doors. If he doesn’t, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he doesn’t guard the sense doors?’ That’s why a wilderness monk should guard the sense doors.
A wilderness monk should eat in moderation.
“Này chư hiền, vị tỳ khưu sống trong rừng cần phải có các căn được phòng hộ. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng có các căn không được phòng hộ thì vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) rằng: ‘Vị tôn giả này có các căn không được phòng hộ, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả sống trong rừng này với việc sống một mình theo ý muốn trong rừng?’ – vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng cần phải có các căn được phòng hộ.
“Này chư hiền, vị tỳ khưu sống trong rừng cần phải biết tiết độ trong ăn uống. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu sống trong rừng không biết tiết độ trong ăn uống thì vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) rằng: ‘Vị tôn giả này không biết tiết độ trong ăn uống, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả sống trong rừng này với việc sống một mình theo ý muốn trong rừng?’ – vị ấy sẽ có những người nói (chê trách) như vậy. Do đó, vị tỳ khưu sống trong rừng cần phải biết tiết độ trong ăn uống.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā jāgariyaṁ anuyuttena bhavitabbaṁ. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu jāgariyaṁ ananuyutto hoti, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā jāgariyaṁ ananuyutto’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā jāgariyaṁ anuyuttena bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should be committed to wakefulness. If he isn’t, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s not committed to wakefulness?’ That’s why a wilderness monk should be committed to wakefulness.
Này chư hiền, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người chuyên tâm vào sự tỉnh thức. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trú ở rừng không chuyên tâm vào sự tỉnh thức, vị ấy sẽ có những người nói rằng: ‘Vị tôn giả này không chuyên tâm vào sự tỉnh thức, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả trú ở rừng này, sống một mình trong rừng theo ý riêng của mình?’ – vị ấy sẽ có những người nói như vậy. Do đó, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người chuyên tâm vào sự tỉnh thức.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā āraddhavīriyena bhavitabbaṁ. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu kusīto hoti, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā kusīto’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā āraddhavīriyena bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should be energetic. If he isn’t, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s not energetic?’ That’s why a wilderness monk should be energetic.
Này chư hiền, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người có tinh tấn đã được khởi xướng. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trú ở rừng là người lười biếng, vị ấy sẽ có những người nói rằng: ‘Vị tôn giả này là người lười biếng, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả trú ở rừng này, sống một mình trong rừng theo ý riêng của mình?’ – vị ấy sẽ có những người nói như vậy. Do đó, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người có tinh tấn đã được khởi xướng.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā upaṭṭhitassatinā bhavitabbaṁ. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu muṭṭhassatī hoti, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā muṭṭhassatī’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā upaṭṭhitassatinā bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should be mindful. If he isn’t, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s not mindful?’ That’s why a wilderness monk should be mindful.
Này chư hiền, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người có niệm được an trú. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trú ở rừng là người thất niệm, vị ấy sẽ có những người nói rằng: ‘Vị tôn giả này là người thất niệm, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả trú ở rừng này, sống một mình trong rừng theo ý riêng của mình?’ – vị ấy sẽ có những người nói như vậy. Do đó, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người có niệm được an trú.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā samāhitena bhavitabbaṁ. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu asamāhito hoti, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā asamāhito’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā samāhitena bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should have immersion. If he doesn’t, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he doesn’t have immersion?’ That’s why a wilderness monk should have immersion.
Này chư hiền, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người có định tĩnh. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trú ở rừng là người không có định tĩnh, vị ấy sẽ có những người nói rằng: ‘Vị tôn giả này là người không có định tĩnh, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả trú ở rừng này, sống một mình trong rừng theo ý riêng của mình?’ – vị ấy sẽ có những người nói như vậy. Do đó, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người có định tĩnh.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā paññavatā bhavitabbaṁ. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu duppañño hoti, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā duppañño’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā paññavatā bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should be wise. If he isn’t, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s not wise?’ That’s why a wilderness monk should be wise.
Này chư hiền, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người có trí tuệ. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trú ở rừng là người có trí tuệ yếu kém, vị ấy sẽ có những người nói rằng: ‘Vị tôn giả này là người có trí tuệ yếu kém, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả trú ở rừng này, sống một mình trong rừng theo ý riêng của mình?’ – vị ấy sẽ có những người nói như vậy. Do đó, vị tỳ khưu trú ở rừng nên là người có trí tuệ.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā abhidhamme abhivinaye yogo karaṇīyo. Santāvuso, āraññikaṁ bhikkhuṁ abhidhamme abhivinaye pañhaṁ pucchitāro. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu abhidhamme abhivinaye pañhaṁ puṭṭho na sampāyati, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā abhidhamme abhivinaye pañhaṁ puṭṭho na sampāyatī’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā abhidhamme abhivinaye yogo karaṇīyo.
A wilderness monk should make an effort in regards to the teaching and training. There are those who will question a wilderness monk about the teaching and training. If he is stumped, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he is stumped by a question about the teaching and training?’ That’s why a wilderness monk should make an effort to learn the teaching and training.
Này chư hiền, vị tỳ khưu trú ở rừng nên thực hành sự chuyên tâm về Thắng Pháp và Thắng Luật. Này chư hiền, có những người hỏi vị tỳ khưu trú ở rừng câu hỏi về Thắng Pháp và Thắng Luật. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trú ở rừng, khi được hỏi câu hỏi về Thắng Pháp và Thắng Luật, không thể trả lời, vị ấy sẽ có những người nói rằng: ‘Vị tôn giả này, khi được hỏi câu hỏi về Thắng Pháp và Thắng Luật, không thể trả lời, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả trú ở rừng này, sống một mình trong rừng theo ý riêng của mình?’ – vị ấy sẽ có những người nói như vậy. Do đó, vị tỳ khưu trú ở rừng nên thực hành sự chuyên tâm về Thắng Pháp và Thắng Luật.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha yogo karaṇīyo. Santāvuso, āraññikaṁ bhikkhuṁ ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha pañhaṁ pucchitāro. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha pañhaṁ puṭṭho na sampāyati, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha pañhaṁ puṭṭho na sampāyatī’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha yogo karaṇīyo.
A wilderness monk should practice meditation to realize the peaceful liberations that are formless, transcending form. There are those who will question a wilderness monk about the formless liberations. If he is stumped, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he is stumped by a question about the formless liberations?’ That’s why a wilderness monk should practice meditation to realize the peaceful liberations that are formless, transcending form.
Này chư hiền, vị tỳ khưu trú ở rừng nên thực hành sự chuyên tâm ở nơi những pháp giải thoát tịch tịnh, là các pháp vô sắc, vượt qua các sắc. Này chư hiền, có những người hỏi vị tỳ khưu trú ở rừng câu hỏi về những pháp giải thoát tịch tịnh, là các pháp vô sắc, vượt qua các sắc. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trú ở rừng, khi được hỏi câu hỏi về những pháp giải thoát tịch tịnh, là các pháp vô sắc, vượt qua các sắc, không thể trả lời, vị ấy sẽ có những người nói rằng: ‘Vị tôn giả này, khi được hỏi câu hỏi về những pháp giải thoát tịch tịnh, là các pháp vô sắc, vượt qua các sắc, không thể trả lời, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả trú ở rừng này, sống một mình trong rừng theo ý riêng của mình?’ – vị ấy sẽ có những người nói như vậy. Do đó, vị tỳ khưu trú ở rừng nên thực hành sự chuyên tâm ở nơi những pháp giải thoát tịch tịnh, là các pháp vô sắc, vượt qua các sắc.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā uttari manussadhamme yogo karaṇīyo. Santāvuso, āraññikaṁ bhikkhuṁ uttari manussadhamme pañhaṁ pucchitāro. Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu uttari manussadhamme pañhaṁ puṭṭho na sampāyati, tassa bhavanti vattāro. ‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā yassatthāya pabbajito tamatthaṁ na jānātī’ti—tassa bhavanti vattāro. Tasmā āraññikena bhikkhunā uttari manussadhamme yogo karaṇīyo”ti.
A wilderness monk should practice meditation to realize the superhuman state. There are those who will question a wilderness monk about the superhuman state. If he is stumped, there’ll be some who say: ‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he doesn’t know the goal for which he went forth?’ That’s why a wilderness monk should practice meditation to realize the superhuman state.”
Này chư hiền, vị tỳ khưu trú ở rừng nên thực hành sự chuyên tâm về pháp thượng nhân. Này chư hiền, có những người hỏi vị tỳ khưu trú ở rừng câu hỏi về pháp thượng nhân. Này chư hiền, nếu vị tỳ khưu trú ở rừng, khi được hỏi câu hỏi về pháp thượng nhân, không thể trả lời, vị ấy sẽ có những người nói rằng: ‘Vị tôn giả này không biết mục đích mà vì đó đã xuất gia, vậy thì có ích lợi gì cho vị tôn giả trú ở rừng này, sống một mình trong rừng theo ý riêng của mình?’ – vị ấy sẽ có những người nói như vậy. Do đó, vị tỳ khưu trú ở rừng nên thực hành sự chuyên tâm về pháp thượng nhân.
Evaṁ vutte, āyasmā mahāmoggallāno āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “āraññikeneva nu kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā ime dhammā samādāya vattitabbā udāhu gāmantavihārināpī”ti?
“Āraññikenāpi kho, āvuso moggallāna, bhikkhunā ime dhammā samādāya vattitabbā pageva gāmantavihārinā”ti.
When Venerable Sāriputta said this, Venerable Mahāmoggallāna said to him, “Reverend Sāriputta, should these things be undertaken and followed only by wilderness monks, or by those who live within a village as well?”
“Reverend Moggallāna, these things should be undertaken and followed by wilderness monks, and still more by those who live within a village.”
Khi được nói như vậy, tôn giả Mahāmoggallāna đã nói điều này với tôn giả Sāriputta: ‘Này hiền giả Sāriputta, có phải chỉ vị tỳ khưu trú ở rừng nên thọ trì và thực hành các pháp này, hay cả vị tỳ khưu trú ở gần làng cũng vậy?’ ‘Này hiền giả Moggallāna, vị tỳ khưu trú ở rừng nên thọ trì và thực hành các pháp này, huống nữa là vị tỳ khưu trú ở gần làng.’
Goliyānisuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Goliyāni, kinh thứ chín, đã kết thúc.