- Majjhima Nikāya 70
Kīṭāgirisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kīṭāgirisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn du hành ở Kasi cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 2—Này các Tỷ-kheo, Ta ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Này các Tỷ-kheo, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, Ta cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Này các Tỷ-kheo, hãy đến và ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Này các Tỷ-kheo, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, các Ông sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú.
SC 3—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 4Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn tiếp tục du hành ở Kasi và đến một thị trấn xứ Kasi tên là Kitagiri. Rồi Thế Tôn ở tại Kitagiri, một thị trấn xứ Kasi. Lúc bấy giờ Tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka đang ở Kitagiri. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến chỗ Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka như sau
SC 5—Chư Hiền, Thế Tôn ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Cả chúng Tỷ-kheo cũng vậy. Do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, các vị ấy cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Chư Hiền, hãy đến và ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Chư Hiền, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, chư Hiền sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú.
SC 6Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka, nói với các Tỷ-kheo ấy
SC 7—Chư Hiền, chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời. Do chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời, chúng tôi cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Sao chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo tương lai? Chúng tôi sẽ ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời.
SC 8Vì các Tỷ-kheo ấy không thể làm cho Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka chấp thuận, nên các vị ấy đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 9—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến chỗ các Tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka, sau khi đến chúng con nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka như sau: “Chư hiền, Thế Tôn ăn, từ bỏ ăn ban đêm … có sức lực và an trú”. Bạch Thế Tôn, được nói vậy. Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka nói với chúng con như sau: “Chư Hiền, chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời … chúng tôi sẽ ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời”. Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka chấp thuận, nên chúng con trình sự việc này lên Thế Tôn.
SC 10Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo
SC 11—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, bảo Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka: “Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả”.
SC 12—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 13Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka
SC 14—Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 15Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka đang ngồi một bên
SC 16—Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, một số đông Tỷ-kheo đến các Ông và nói như sau: “Chư Hiền, Thế Tôn ăn, từ bỏ ăn ban đêm, cả chúng Tỷ-kheo cũng vậy. Do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, các vị ấy cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Chư Hiền, hãy đến và ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Chư Hiền, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, chư Hiền sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú”. Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông nói với các Tỷ-kheo ấy như sau: “Chư Hiền, chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời. Do ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời, chúng tôi cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Sao chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo tương lai? Chúng tôi sẽ ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời”?
SC 17—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 18—Này các Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta dạy như sau: “Một cá nhân cảm thọ bất cứ cảm giác nào, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; đối với người ấy, các pháp bất thiện được đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng”?
SC 19—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 20—Này các Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta dạy như sau: “Ở đây đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt; ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng. Ở đây, đối với một người khi cảm thọ khổ thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt; ở đây, đối với một người, khi cảm thọ khổ thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng. Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt; ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng”?
SC 21—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 22—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt”, có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: “Hãy từ bỏ lạc thọ như vậy”? Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là xứng đáng đối với Ta chăng?
SC 23—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 24—Nhưng này các Tỷ-kheo, vì rằng sự việc này Ta biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt”, do vậy Ta nói: “Hãy từ bỏ lạc thọ như vậy”. Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng”, có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: “Hãy chứng và trú lạc thọ như vậy”? Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là xứng đáng đối với Ta chăng?
SC 25—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 26—Nhưng này các Tỷ-kheo, vì sự việc này Ta biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các thiện pháp được tăng trưởng, các bất thiện pháp bị đoạn diệt”, do vậy Ta nói: “Hãy chứng và trú lạc thọ như vậy”.
SC 27Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người khi cảm giác khổ thọ … khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt”, có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: “Hãy từ bỏ bất khổ bất lạc thọ như vậy”? Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là xứng đáng đối với Ta chăng?
SC 28—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 29—Nhưng này các Tỷ-kheo, vì rằng sự việc này Ta biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt”, do vậy Ta nói: “Hãy từ bỏ bất khổ bất lạc thọ như vậy”. Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng”, có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: “Hãy chứng và trú bất khổ bất lạc thọ như vậy”? Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là xứng đáng đối với Ta chăng?
SC 30—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 31—Nhưng này các Tỷ-kheo, vì rằng sự việc này Ta biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các thiện pháp được tăng trưởng, các bất thiện pháp bị đoạn diệt”, do vậy Ta nói: “Hãy chứng và trú bất khổ bất lạc thọ như vậy”.
SC 32Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng đối với tất cả Tỷ-kheo, có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng đối với tất cả Tỷ-kheo không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt được lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát; này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo như vậy, Ta nói rằng không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Vì sự việc ấy đã được các vị này làm, nhờ không phóng dật. Các vị này không thể trở thành phóng dật.
SC 33Và này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo còn là các bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an ổn khỏi các triền ách; này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo như vậy, Ta nói rằng có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi các bậc Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, các vị ấy (cần phải) tự mình nhờ thượng trí chứng ngộ chứng đạt, và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này, các Thiện gia nam tử chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo này, vì thấy quả này của không phóng dật nên Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.
SC 34Này các Tỷ-kheo có bảy hạng người sống trong đời này. Thế nào là bảy? Bậc câu phần giải thoát, bậc tuệ giải thoát, bậc thân chứng, bậc kiến đáo, bậc tín giải thoát, bậc tùy pháp hành, bậc tùy tín hành.
SC 35Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc câu phần giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân đã chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người câu phần giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói rằng không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Vì sự việc ấy đã được vị này làm, nhờ không phóng dật, vị ấy không có thể trở thành phóng dật.
SC 36Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc tuệ giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này như vậy được gọi là bậc tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Vì sự việc ấy đã được vị này làm, nhờ không phóng dật; vị ấy không có thể trở thành phóng dật.
SC 37Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc thân chứng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi thân chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này như vậy được gọi là bậc thân chứng. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.
SC 38Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc kiến đáo? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi tự thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn; và các pháp do Như Lai tuyên thuyết được vị này thấy một cách hoàn toàn với trí tuệ và thực hành một cách hoàn toàn. Này các Tỷ-kheo, vị này được gọi là kiến đáo. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.
SC 39Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc tín giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo có người, sau khi tự thân chứng đắc các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị này được đoạn trừ một cách hoàn toàn; và lòng tin của vị này đối với Như Lai đã được xác định, phát sanh từ căn để an trú. Này các Tỷ kheo, vị này được gọi là bậc tín giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.
SC 40Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tùy pháp hành? Ở đây, này các Tỷ-kheo có người sau khi tự thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, nhưng các lậu hoặc không được đoạn trừ một cách hoàn toàn; và các pháp do Như Lai tuyên thuyết (chỉ) được vị này chấp nhận một cách vừa phải với trí tuệ, dầu cho vị này có những pháp như là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, vị này được gọi là người tùy pháp hành. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.
SC 41Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người tùy tín hành? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi tự thân không chứng đắc có tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, nhưng các lậu hoặc không được đoạn trừ. Nhưng nếu vị này có đủ lòng tin và lòng thương đối với Như Lai, thời vị này sẽ có những pháp như là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, vị này được gọi là người tùy tín hành. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, nhưng vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.
SC 42Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng trí tuệ được hoàn thành lập tức. Nhưng này các Tỷ-kheo, trí tuệ được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ.
SC 43Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trí tuệ được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một vị có lòng tin đi đến gần; sau khi đến gần, vị ấy tỏ sự kính lễ; sau khi tỏ sự kính lễ, vị ấy lóng tai; sau khi lóng tai, vị ấy nghe pháp; sau khi nghe pháp, vị ấy thọ trì pháp; sau khi thọ trì, vị ấy suy tư ý nghĩa các pháp được thọ trì; sau khi suy tư ý nghĩa, các pháp được chấp thuận; sau khi các pháp được chấp thuận, ước muốn sanh khởi; sau khi ước muốn sanh khởi, vị ấy nỗ lực; sau khi nỗ lực, vị ấy cân nhắc; sau khi cân nhắc, vị ấy tinh cần. Do tinh cần, vị ấy tự thân chứng được sự thật tối thượng, và với trí tuệ thể nhập sự thật ấy, vị ấy thấy.
SC 44Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu không có lòng tin ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự đến gần ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có tỏ sự kính lễ ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự lóng tai ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự nghe pháp ấy, thời này Tỷ-kheo, không có sự thọ trì pháp ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự suy tư ý nghĩa ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự chấp thuận pháp ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự ước muốn ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự nỗ lực ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự cân nhắc ấy, thời này các Tỷ-kheo không có sự tinh cần ấy. Này các Tỷ kheo, ở đây, các Ông đã đi vào phi đạo. Này các Tỷ-kheo, ở đây, các Ông đã đi vào tà đạo. Thật là quá xa, này các Tỷ-kheo, các kẻ ngu này đã đi ra ngoài Pháp và Luật này.
SC 45Này các Tỷ-kheo, có sự thuyết trình gồm có bốn phần (Catuppadam = Bốn cú) chính nhờ thuyết trình này người có trí, không bao lâu, nhờ tuệ biết được ý nghĩa. Ta sẽ đọc sự thuyết trình ấy lên cho các Ông, này các Tỷ-kheo, các Ông nhờ Ta mà sẽ hiểu thuyết trình ấy.
SC 46—Bạch Thế Tôn, chúng con là ai có thể biết được Pháp?
SC 47—Này các Tỷ-kheo, cho đến một bậc Ðạo sư sống quá trọng vọng tài vật, là vị thừa tự tài vật, và sống liên hệ với tài vật, thời sự mua may bán đắt này không xảy ra: “Chúng tôi sẽ làm việc này như vậy, và như vậy chúng tôi sẽ không làm việc này như vậy”, huống nữa là Như Lai, này các Tỷ-kheo, là vị sống hoàn toàn không liên hệ với các tài vật. Này các Tỷ-kheo, đối với một đệ tử có lòng tin giáo pháp bậc Ðạo sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, thời tùy pháp (anudhamma) được khởi lên: “Bậc Ðạo sư là Thế Tôn, đệ tử là tôi. Thế Tôn biết, tôi không biết”. Này các Tỷ-kheo, đến với một đệ tử, có lòng tin giáo pháp bậc Ðạo sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, thời giáo pháp bậc Ðạo sư được hưng thịnh, được nhiều sinh lực. Này các Tỷ-kheo, đối với đệ tử có lòng tin giáo pháp bậc Ðạo Sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, thời tùy pháp này được khởi lên: “Dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn lực để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu nhẫn nại, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng”. Này các Tỷ-kheo, đối với một đệ tử có lòng tin giáo pháp bậc Ðạo sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, vị ấy sẽ chứng được một trong hai quả như sau: Chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.
SC 48Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 05–05-2005 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Kīṭāgiri
“ahaṁ kho, bhikkhave, aññatreva rattibhojanā bhuñjāmi. Aññatra kho panāhaṁ, bhikkhave, rattibhojanā bhuñjamāno appābādhatañca sañjānāmi appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Etha, tumhepi, bhikkhave, aññatreva rattibhojanā bhuñjatha. Aññatra kho pana, bhikkhave, tumhepi rattibhojanā bhuñjamānā appābādhatañca sañjānissatha appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañcā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Atha kho bhagavā kāsīsu anupubbena cārikaṁ caramāno yena kīṭāgiri nāma kāsīnaṁ nigamo tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā kīṭāgirismiṁ viharati kāsīnaṁ nigame.
“Mendicants, I abstain from eating at night. Doing so, I find that I’m healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. You too should never eat at night. Doing so, you’ll find that you’re healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.”
“Yes, sir,” they replied.
Then the Buddha, traveling stage by stage in the land of the Kāsis, arrived at a town of the Kāsis named Kīṭāgiri, and stayed there.
174. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn đang du hành ở xứ Kāsi cùng với đại chúng tỳ khưu. Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, ta không ăn vào ban đêm. Này các tỳ khưu, do không ăn vào ban đêm, ta nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống thoải mái. Này các tỳ khưu, các ngươi cũng vậy, hãy không ăn vào ban đêm. Này các tỳ khưu, do không ăn vào ban đêm, các ngươi cũng sẽ nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống thoải mái. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. – các tỳ khưu ấy đã vâng đáp đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn tuần tự du hành ở xứ Kāsi, rồi đi đến thị trấn của người Kāsi tên là Kīṭāgiri. Tại đó, đức Thế Tôn trú ở thị trấn Kīṭāgiri của người Kāsi.
Tena kho pana samayena assajipunabbasukā nāma bhikkhū kīṭāgirismiṁ āvāsikā honti. Atha kho sambahulā bhikkhū yena assajipunabbasukā bhikkhū tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā assajipunabbasuke bhikkhū etadavocuṁ: “bhagavā kho, āvuso, aññatreva rattibhojanā bhuñjati bhikkhusaṅgho ca. Aññatra kho panāvuso, rattibhojanā bhuñjamānā appābādhatañca sañjānanti appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Etha, tumhepi, āvuso, aññatreva rattibhojanā bhuñjatha. Aññatra kho panāvuso, tumhepi rattibhojanā bhuñjamānā appābādhatañca sañjānissatha appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañcā”ti.
Evaṁ vutte, assajipunabbasukā bhikkhū te bhikkhū etadavocuṁ: “mayaṁ kho, āvuso, sāyañceva bhuñjāma pāto ca divā ca vikāle. Te mayaṁ sāyañceva bhuñjamānā pāto ca divā ca vikāle appābādhatañca sañjānāma appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Te mayaṁ kiṁ sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvissāma? Sāyañceva mayaṁ bhuñjissāma pāto ca divā ca vikāle”ti.
Now at that time the mendicants who followed Assaji and Punabbasuka were residing at Kīṭāgiri. Then several mendicants went up to them and said, “Reverends, the Buddha never eats at night, and neither does the mendicant Saṅgha. Doing so, they find that they’re healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. You too should abstain from eating at night. Doing so, you’ll find that you’re healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.”
When they said this, the mendicants who followed Assaji and Punabbasuka said to them, “Reverends, we eat at dusk, at daybreak, and at the wrong time of day. Doing so, we find that we’re healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. Why should we give up what is apparent in the present to chase after what takes effect over time? We shall eat at dusk, at daybreak, and at the wrong time of day.”
175. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu tên là Assajipunabbasukā là những vị thường trú ở Kīṭāgiri. Khi ấy, một số đông tỳ khưu đi đến chỗ các tỳ khưu Assajipunabbasukā; sau khi đến, họ nói với các tỳ khưu Assajipunabbasukā điều này: – Này chư hiền, đức Thế Tôn và cả chúng tỳ khưu không ăn vào ban đêm. Này chư hiền, do không ăn vào ban đêm, các ngài nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống thoải mái. Này chư hiền, các vị cũng vậy, hãy không ăn vào ban đêm. Này chư hiền, do không ăn vào ban đêm, các vị cũng sẽ nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống thoải mái. Khi được nói như vậy, các tỳ khưu Assajipunabbasukā nói với các tỳ khưu ấy điều này: – Này chư hiền, chúng tôi ăn cả buổi chiều, cả buổi sáng, và cả ban ngày vào giờ phi thời. Do ăn cả buổi chiều, cả buổi sáng, và cả ban ngày vào giờ phi thời, chúng tôi nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống thoải mái. Tại sao chúng tôi lại phải từ bỏ cái lợi ích hiện tại để chạy theo cái lợi ích trong tương lai? Chúng tôi sẽ tiếp tục ăn cả buổi chiều, cả buổi sáng, và cả ban ngày vào giờ phi thời.
Yato kho te bhikkhū nāsakkhiṁsu assajipunabbasuke bhikkhū saññāpetuṁ, atha yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “idha mayaṁ, bhante, yena assajipunabbasukā bhikkhū tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā assajipunabbasuke bhikkhū etadavocumha: ‘bhagavā kho, āvuso, aññatreva rattibhojanā bhuñjati bhikkhusaṅgho ca; aññatra kho panāvuso, rattibhojanā bhuñjamānā appābādhatañca sañjānanti appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Etha, tumhepi, āvuso, aññatreva rattibhojanā bhuñjatha. Aññatra kho panāvuso, tumhepi rattibhojanā bhuñjamānā appābādhatañca sañjānissatha appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañcā’ti. Evaṁ vutte, bhante, assajipunabbasukā bhikkhū amhe etadavocuṁ: ‘mayaṁ kho, āvuso, sāyañceva bhuñjāma pāto ca divā ca vikāle. Te mayaṁ sāyañceva bhuñjamānā pāto ca divā ca vikāle appābādhatañca sañjānāma appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Te mayaṁ kiṁ sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvissāma? Sāyañceva mayaṁ bhuñjissāma pāto ca divā ca vikāle’ti. Yato kho mayaṁ, bhante, nāsakkhimha assajipunabbasuke bhikkhū saññāpetuṁ, atha mayaṁ etamatthaṁ bhagavato ārocemā”ti.
Since those mendicants were unable to persuade the mendicants who were followers of Assaji and Punabbasuka, they approached the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Vì các tỳ khưu ấy không thể thuyết phục được các tỳ khưu Assajipunabbasukā, nên họ đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy bạch với đức Thế Tôn điều này: – Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con đã đi đến chỗ các tỳ khưu Assajipunabbasukā; sau khi đến, chúng con đã nói với các tỳ khưu Assajipunabbasukā điều này: ‘Này chư hiền, đức Thế Tôn và cả chúng tỳ khưu không ăn vào ban đêm; này chư hiền, do không ăn vào ban đêm, các ngài nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống thoải mái. Này chư hiền, các vị cũng vậy, hãy không ăn vào ban đêm. Này chư hiền, do không ăn vào ban đêm, các vị cũng sẽ nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống thoải mái.’ Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, các tỳ khưu Assajipunabbasukā đã nói với chúng con điều này: ‘Này chư hiền, chúng tôi ăn cả buổi chiều, cả buổi sáng, và cả ban ngày vào giờ phi thời. Do ăn cả buổi chiều, cả buổi sáng, và cả ban ngày vào giờ phi thời, chúng tôi nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống thoải mái. Tại sao chúng tôi lại phải từ bỏ cái lợi ích hiện tại để chạy theo cái lợi ích trong tương lai? Chúng tôi sẽ tiếp tục ăn cả buổi chiều, cả buổi sáng, và cả ban ngày vào giờ phi thời.’ Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể thuyết phục được các tỳ khưu Assajipunabbasukā, nên chúng con trình báo việc này lên đức Thế Tôn.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena assajipunabbasuke bhikkhū āmantehi: ‘satthā āyasmante āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yena assajipunabbasukā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā assajipunabbasuke bhikkhū etadavoca: “satthā āyasmante āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho assajipunabbasukā bhikkhū tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho assajipunabbasuke bhikkhū bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira, bhikkhave, sambahulā bhikkhū tumhe upasaṅkamitvā etadavocuṁ: ‘bhagavā kho, āvuso, aññatreva rattibhojanā bhuñjati bhikkhusaṅgho ca. Aññatra kho panāvuso, rattibhojanā bhuñjamānā appābādhatañca sañjānanti appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Etha, tumhepi, āvuso, aññatreva rattibhojanā bhuñjatha. Aññatra kho panāvuso, tumhepi rattibhojanā bhuñjamānā appābādhatañca sañjānissatha appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañcā’ti. Evaṁ vutte, kira, bhikkhave, tumhe te bhikkhū evaṁ avacuttha: ‘mayaṁ kho panāvuso, sāyañceva bhuñjāma pāto ca divā ca vikāle. Te mayaṁ sāyañceva bhuñjamānā pāto ca divā ca vikāle appābādhatañca sañjānāma appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Te mayaṁ kiṁ sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvissāma? Sāyañceva mayaṁ bhuñjissāma pāto ca divā ca vikāle’”ti.
“Evaṁ, bhante”.
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell the mendicants who follow Assaji and Punabbasuka that the Teacher summons them.”
“Yes, sir,” that monk replied. He went to those mendicants and said, “Venerables, the Teacher summons you.”
“Yes, reverend,” those mendicants replied. They went to the Buddha, bowed, and sat down to one side.
The Buddha said to them, “Is it really true, mendicants, that several mendicants went to you and said: ‘Reverends, the Buddha never eats at night, and neither does the mendicant Saṅgha. Doing so, they find that they’re healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. You too should never eat at night. Doing so, you’ll find that you’re healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.’ When they said this, did you really say to them: ‘Reverends, we eat at dusk, at daybreak, and at the wrong time of day. Doing so, we find that we’re healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. Why should we give up what is apparent in the present to chase after what takes effect over time? We shall eat at dusk, at daybreak, and at the wrong time of day.’”
“Yes, sir.”
176. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi một vị tỳ-khưu và bảo rằng: – ‘Này tỳ-khưu, ngươi hãy đi, nhân danh ta, hãy gọi các tỳ-khưu Assaji và Punabbasu và nói rằng: ‘Bậc Đạo Sư gọi các hiền giả.’’ – ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn.’ Vị tỳ-khưu ấy vâng lời đức Thế Tôn, đi đến chỗ các tỳ-khưu Assaji và Punabbasu đang ở; sau khi đến, vị ấy nói với các tỳ-khưu Assaji và Punabbasu rằng: – ‘Bậc Đạo Sư gọi các hiền giả.’ – ‘Thưa vâng, hiền hữu.’ Các tỳ-khưu Assaji và Punabbasu vâng lời vị tỳ-khưu ấy, đi đến chỗ đức Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi các tỳ-khưu Assaji và Punabbasu đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn nói với họ điều này: – ‘Này các tỳ-khưu, có thật chăng, nhiều vị tỳ-khưu đã đến gặp các ngươi và nói điều này: – ‘Thưa các hiền hữu, đức Thế Tôn và chúng Tăng không dùng bữa vào ban đêm. Thưa các hiền hữu, do không dùng bữa vào ban đêm, các vị ấy nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống an lạc. Này các hiền hữu, các vị cũng hãy đến, đừng dùng bữa vào ban đêm. Thưa các hiền hữu, do không dùng bữa vào ban đêm, các vị cũng sẽ nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống an lạc.’ Khi được nói như vậy, này các tỳ-khưu, có thật chăng các ngươi đã nói với các vị tỳ-khưu ấy như sau: – ‘Thưa các hiền hữu, chúng tôi dùng bữa vào buổi chiều, buổi sáng, và cả ban ngày vào giờ phi thời. Do chúng tôi dùng bữa vào buổi chiều, buổi sáng, và cả ban ngày vào giờ phi thời, chúng tôi nhận thấy mình ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và sống an lạc. Tại sao chúng tôi lại phải từ bỏ cái hiện tại để chạy theo cái tương lai? Chúng tôi sẽ dùng bữa vào buổi chiều, buổi sáng, và cả ban ngày vào giờ phi thời.’ – ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn.’
“Kiṁ nu me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tassa akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhantī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanu me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha idhekaccassa yaṁ evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyanti, idha panekaccassa evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, idhekaccassa evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyanti, idha panekaccassa evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, idhekaccassa evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyanti, idha panekaccassa evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Mendicants, have you ever known me to teach the Dhamma like this: no matter what this individual experiences—pleasurable, painful, or neutral—their unskillful qualities decline and their skillful qualities grow?”
“No, sir.”
“Haven’t you known me to teach the Dhamma like this: ‘When someone feels this kind of pleasant feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline. But when someone feels that kind of pleasant feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow. When someone feels this kind of painful feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline. But when someone feels that kind of painful feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow. When someone feels this kind of neutral feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline. But when someone feels that kind of neutral feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow’?”
“Yes, sir.”
177. – ‘Này các tỳ-khưu, các ngươi có biết Ta đã thuyết giảng giáo pháp như vầy chăng: ‘Bất cứ cảm thọ nào mà người này cảm nhận, dù là lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, thì các pháp bất thiện của người ấy đều suy giảm và các pháp thiện đều tăng trưởng’?’ – ‘Thưa không, bạch Thế Tôn.’ – ‘Này các tỳ-khưu, chẳng phải các ngươi biết Ta đã thuyết giảng giáo pháp như vầy sao: ‘Ở đây, có người khi cảm nhận một loại lạc thọ như vậy, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm. Lại nữa, ở đây, có người khi cảm nhận một loại lạc thọ như vậy, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng. Ở đây, có người khi cảm nhận một loại khổ thọ như vậy, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm. Lại nữa, ở đây, có người khi cảm nhận một loại khổ thọ như vậy, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng. Ở đây, có người khi cảm nhận một loại bất khổ bất lạc thọ như vậy, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm. Lại nữa, ở đây, có người khi cảm nhận một loại bất khổ bất lạc thọ như vậy, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng’?’ – ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn.’
“Sādhu, bhikkhave. Mayā cetaṁ, bhikkhave, aññātaṁ abhavissa adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyantī’ti, evāhaṁ ajānanto ‘evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ pajahathā’ti vadeyyaṁ; api nu me etaṁ, bhikkhave, patirūpaṁ abhavissā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yasmā ca kho etaṁ, bhikkhave, mayā ñātaṁ diṭṭhaṁ viditaṁ sacchikataṁ phassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyantī’ti, tasmāhaṁ ‘evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ pajahathā’ti vadāmi. Mayā cetaṁ, bhikkhave, aññātaṁ abhavissa adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evāhaṁ ajānanto ‘evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ upasampajja viharathā’ti vadeyyaṁ; api nu me etaṁ, bhikkhave, patirūpaṁ abhavissā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yasmā ca kho etaṁ, bhikkhave, mayā ñātaṁ diṭṭhaṁ viditaṁ sacchikataṁ phassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, tasmāhaṁ ‘evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ upasampajja viharathā’ti vadāmi.
“Good, mendicants! Now, suppose I hadn’t known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels this kind of pleasant feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline.’ Not knowing this, would it be appropriate for me to say: ‘You should give up this kind of pleasant feeling’?”
“No, sir.”
“But I have known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels this kind of pleasant feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline.’ Since this is so, that’s why I say: ‘You should give up this kind of pleasant feeling.’ Now, suppose I hadn’t known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels that kind of pleasant feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow.’ Not knowing this, would it be appropriate for me to say: ‘You should enter and remain in that kind of pleasant feeling’?”
“No, sir.”
“But I have known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels that kind of pleasant feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow.’ Since this is so, that’s why I say: ‘You should enter and remain in that kind of pleasant feeling.’
178. – ‘Lành thay, này các tỳ-khưu! Này các tỳ-khưu, nếu Ta đã không biết, không thấy, không hiểu rõ, không chứng ngộ, không tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm nhận một loại lạc thọ như vậy, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm,’ thì khi không biết như vậy, Ta có nên nói rằng: ‘Hãy từ bỏ loại lạc thọ như vậy’ chăng? Này các tỳ-khưu, điều đó có thích hợp với Ta không?’ – ‘Thưa không, bạch Thế Tôn.’ – ‘Này các tỳ-khưu, chính vì Ta đã biết, đã thấy, đã hiểu rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm nhận một loại lạc thọ như vậy, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm,’ nên Ta mới nói rằng: ‘Hãy từ bỏ loại lạc thọ như vậy.’ Này các tỳ-khưu, nếu Ta đã không biết, không thấy, không hiểu rõ, không chứng ngộ, không tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm nhận một loại lạc thọ như vậy, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng,’ thì khi không biết như vậy, Ta có nên nói rằng: ‘Hãy thành tựu và an trú trong loại lạc thọ như vậy’ chăng? Này các tỳ-khưu, điều đó có thích hợp với Ta không?’ – ‘Thưa không, bạch Thế Tôn.’ – ‘Này các tỳ-khưu, chính vì Ta đã biết, đã thấy, đã hiểu rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm nhận một loại lạc thọ như vậy, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng,’ nên Ta mới nói rằng: ‘Hãy thành tựu và an trú trong loại lạc thọ như vậy.’
Mayā cetaṁ, bhikkhave, aññātaṁ abhavissa adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyantī’ti, evāhaṁ ajānanto ‘evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ pajahathā’ti vadeyyaṁ; api nu me etaṁ, bhikkhave, patirūpaṁ abhavissā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yasmā ca kho etaṁ, bhikkhave, mayā ñātaṁ diṭṭhaṁ viditaṁ sacchikataṁ phassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyantī’ti, tasmāhaṁ ‘evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ pajahathā’ti vadāmi. Mayā cetaṁ, bhikkhave, aññātaṁ abhavissa adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evāhaṁ ajānanto ‘evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ upasampajja viharathā’ti vadeyyaṁ; api nu me etaṁ, bhikkhave, patirūpaṁ abhavissā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yasmā ca kho etaṁ, bhikkhave, mayā ñātaṁ diṭṭhaṁ viditaṁ sacchikataṁ phassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, tasmāhaṁ ‘evarūpaṁ dukkhaṁ vedanaṁ upasampajja viharathā’ti vadāmi.
Now, suppose I hadn’t known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels this kind of painful feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline.’ Not knowing this, would it be appropriate for me to say: ‘You should give up this kind of painful feeling’?”
“No, sir.”
“But I have known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels this kind of painful feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline.’ Since this is so, that’s why I say: ‘You should give up this kind of painful feeling.’ Now, suppose I hadn’t known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels that kind of painful feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow.’ Not knowing this, would it be appropriate for me to say: ‘You should enter and remain in that kind of painful feeling’?”
“No, sir.”
“But I have known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels that kind of painful feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow.’ Since this is so, that’s why I say: ‘You should enter and remain in that kind of painful feeling.’
179. Này các Tỳ khưu, nếu Ta không biết, không thấy, không rõ, không chứng ngộ, không tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm thọ loại khổ thọ như thế này thì các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm’, thì Ta, trong khi không biết, có nói rằng: ‘Hãy từ bỏ loại khổ thọ như thế này’ không? Này các Tỳ khưu, việc ấy có thích hợp với Ta không?” “Bạch Thế Tôn, việc ấy không thích hợp.” “Và này các Tỳ khưu, chính vì Ta đã biết, đã thấy, đã rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm thọ loại khổ thọ như thế này thì các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm’, nên Ta mới nói: ‘Hãy từ bỏ loại khổ thọ như thế này’. Này các Tỳ khưu, nếu Ta không biết, không thấy, không rõ, không chứng ngộ, không tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm thọ loại khổ thọ như thế này thì các pháp bất thiện bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng’, thì Ta, trong khi không biết, có nói rằng: ‘Hãy thành tựu và an trú trong loại khổ thọ như thế này’ không? Này các Tỳ khưu, việc ấy có thích hợp với Ta không?” “Bạch Thế Tôn, việc ấy không thích hợp.” “Và này các Tỳ khưu, chính vì Ta đã biết, đã thấy, đã rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm thọ loại khổ thọ như thế này thì các pháp bất thiện bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng’, nên Ta mới nói: ‘Hãy thành tựu và an trú trong loại khổ thọ như thế này’.”
Mayā cetaṁ, bhikkhave, aññātaṁ abhavissa adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyantī’ti, evāhaṁ ajānanto ‘evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ pajahathā’ti vadeyyaṁ; api nu me etaṁ, bhikkhave, patirūpaṁ abhavissā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yasmā ca kho etaṁ, bhikkhave, mayā ñātaṁ diṭṭhaṁ viditaṁ sacchikataṁ phassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyantī’ti, tasmāhaṁ ‘evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ pajahathā’ti vadāmi. Mayā cetaṁ, bhikkhave, aññātaṁ abhavissa adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evāhaṁ ajānanto ‘evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ upasampajja viharathā’ti vadeyyaṁ; api nu me etaṁ, bhikkhave, patirūpaṁ abhavissā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yasmā ca kho etaṁ, bhikkhave, mayā ñātaṁ diṭṭhaṁ viditaṁ sacchikataṁ phassitaṁ paññāya: ‘idhekaccassa evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, tasmāhaṁ ‘evarūpaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ upasampajja viharathā’ti vadāmi.
Now, suppose I hadn’t known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels this kind of neutral feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline.’ Not knowing this, would it be appropriate for me to say: ‘You should give up this kind of neutral feeling’?”
“No, sir.”
“But I have known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels this kind of neutral feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline.’ Since this is so, that’s why I say: ‘You should give up this kind of neutral feeling.’ Now, suppose I hadn’t known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels that kind of neutral feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow.’ Not knowing this, would it be appropriate for me to say: ‘You should enter and remain in that kind of neutral feeling’?”
“No, sir.”
“But I have known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom: ‘When someone feels that kind of neutral feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow.’ Since this is so, that’s why I say: ‘You should enter and remain in that kind of neutral feeling.’
180. Này các Tỳ khưu, nếu Ta không biết, không thấy, không rõ, không chứng ngộ, không tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm thọ loại thọ không khổ không lạc như thế này thì các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm’, thì Ta, trong khi không biết, có nói rằng: ‘Hãy từ bỏ loại thọ không khổ không lạc như thế này’ không? Này các Tỳ khưu, việc ấy có thích hợp với Ta không?” “Bạch Thế Tôn, việc ấy không thích hợp.” “Và này các Tỳ khưu, chính vì Ta đã biết, đã thấy, đã rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm thọ loại thọ không khổ không lạc như thế này thì các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị suy giảm’, nên Ta mới nói: ‘Hãy từ bỏ loại thọ không khổ không lạc như thế này’. Này các Tỳ khưu, nếu Ta không biết, không thấy, không rõ, không chứng ngộ, không tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm thọ loại thọ không khổ không lạc như thế này thì các pháp bất thiện bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng’, thì Ta, trong khi không biết, có nói rằng: ‘Hãy thành tựu và an trú trong loại thọ không khổ không lạc như thế này’ không? Này các Tỳ khưu, việc ấy có thích hợp với Ta không?” “Bạch Thế Tôn, việc ấy không thích hợp.” “Và này các Tỳ khưu, chính vì Ta đã biết, đã thấy, đã rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, có người khi cảm thọ loại thọ không khổ không lạc như thế này thì các pháp bất thiện bị suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng’, nên Ta mới nói: ‘Hãy thành tựu và an trú trong loại thọ không khổ không lạc như thế này’.”
Nāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi; na panāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ ‘na appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Ye te, bhikkhave, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tathārūpānāhaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ ‘na appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Kataṁ tesaṁ appamādena. Abhabbā te pamajjituṁ.
Ye ca kho te, bhikkhave, bhikkhū sekkhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, tathārūpānāhaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Appeva nāmime āyasmanto anulomikāni senāsanāni paṭisevamānā kalyāṇamitte bhajamānā indriyāni samannānayamānā—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyunti. Imaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, imesaṁ bhikkhūnaṁ appamādaphalaṁ sampassamāno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi.
Mendicants, I don’t say that all these mendicants still have work to do with diligence. Nor do I say that all these mendicants have no work to do with diligence. I say that mendicants don’t have work to do with diligence if they are perfected, with defilements ended, having completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and become rightly freed through enlightenment. Why is that? They’ve done their work with diligence. They’re incapable of being negligent.
I say that mendicants still have work to do with diligence if they are trainees, who haven’t achieved their heart’s desire, but live aspiring to the supreme sanctuary from the yoke. Why is that? Thinking: ‘Hopefully this venerable will frequent appropriate lodgings, associate with good friends, and control their faculties. Then they might realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life, and live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’ Seeing this fruit of diligence for those mendicants, I say that they still have work to do with diligence.
181. Này các Tỳ khưu, Ta không nói rằng tất cả các Tỳ khưu đều phải thực hành với sự không dể duôi. Và này các Tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng tất cả các Tỳ khưu đều không phải thực hành với sự không dể duôi. Này các Tỳ khưu, đối với các vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận trừ các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, đối với các vị Tỳ khưu như vậy, Ta nói rằng: ‘Không cần phải thực hành với sự không dể duôi’. Vì sao vậy? Vì các vị ấy đã hoàn thành việc cần làm với sự không dể duôi. Các vị ấy không thể dể duôi. Còn này các Tỳ khưu, đối với các vị Tỳ khưu là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang nỗ lực hướng đến sự an ổn vô thượng thoát khỏi các ách phược, đối với các vị Tỳ khưu như vậy, Ta nói rằng: ‘Cần phải thực hành với sự không dể duôi’. Vì sao vậy? Có thể rằng các vị tôn giả này, trong khi sử dụng các trú xứ thích hợp, thân cận các thiện hữu, điều phục các căn, sẽ tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục tiêu vô thượng của phạm hạnh — mục đích mà vì nó các thiện gia nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. Này các Tỳ khưu, chính vì thấy được quả vị của sự không dể duôi này cho các vị Tỳ khưu ấy mà Ta nói rằng: ‘Cần phải thực hành với sự không dể duôi’.
Sattime, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame satta? Ubhatobhāgavimutto, paññāvimutto, kāyasakkhi, diṭṭhippatto, saddhāvimutto, dhammānusārī, saddhānusārī.
Mendicants, these seven individuals are found in the world. What seven? One freed both ways, one freed by wisdom, a direct witness, one attained to view, one freed by faith, a follower of teachings, and a follower by faith.
182. Này các Tỳ khưu, có bảy hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Bảy hạng người nào? Vị Câu Phần Giải Thoát, vị Tuệ Giải Thoát, vị Thân Chứng, vị Kiến Đáo, vị Tín Giải Thoát, vị Tùy Pháp Hành, và vị Tùy Tín Hành.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo ubhatobhāgavimutto? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te kāyena phusitvā viharati paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo ubhatobhāgavimutto imassa kho ahaṁ, bhikkhave, bhikkhuno ‘na appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Kataṁ tassa appamādena. Abhabbo so pamajjituṁ.
And what individual is freed both ways? It’s an individual who has direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form. And, having seen with wisdom, their defilements have come to an end. This individual is called freed both ways. And I say that this mendicant has no work to do with diligence. Why is that? They’ve done their work with diligence. They’re incapable of being negligent.
Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người Song phần giải thoát? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người sống, thân chứng các pháp giải thoát an tịnh, vô sắc, sau khi đã vượt qua các sắc; và các lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận sau khi thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hạng người Song phần giải thoát. Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu này, Ta không nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’. Vì sao vậy? Vì việc cần làm với sự không dể duôi đã được vị ấy làm xong. Vị ấy không có khả năng dể duôi.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo paññāvimutto? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te na kāyena phusitvā viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo paññāvimutto. Imassapi kho ahaṁ, bhikkhave, bhikkhuno ‘na appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Kataṁ tassa appamādena. Abhabbo so pamajjituṁ.
And what individual is freed by wisdom? It’s an individual who does not have direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form. Nevertheless, having seen with wisdom, their defilements have come to an end. This individual is called freed by wisdom. I say that this mendicant has no work to do with diligence. Why is that? They’ve done their work with diligence. They’re incapable of being negligent.
Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người Tuệ giải thoát? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người không sống, thân chứng các pháp giải thoát an tịnh, vô sắc, sau khi đã vượt qua các sắc; và các lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận sau khi thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hạng người Tuệ giải thoát. Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu này, Ta cũng không nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’. Vì sao vậy? Vì việc cần làm với sự không dể duôi đã được vị ấy làm xong. Vị ấy không có khả năng dể duôi.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo kāyasakkhi? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te kāyena phusitvā viharati, paññāya cassa disvā ekacce āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo kāyasakkhi. Imassa kho ahaṁ, bhikkhave, bhikkhuno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Appeva nāma ayamāyasmā anulomikāni senāsanāni paṭisevamāno kalyāṇamitte bhajamāno indriyāni samannānayamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyāti. Imaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, imassa bhikkhuno appamādaphalaṁ sampassamāno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi.
And what individual is a direct witness? It’s an individual who has direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form. And, having seen with wisdom, some of their defilements have come to an end. This individual is called a direct witness. I say that this mendicant still has work to do with diligence. Why is that? Thinking: ‘Hopefully this venerable will frequent appropriate lodgings, associate with good friends, and control their faculties. Then they might realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life, and live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’ Seeing this fruit of diligence for this mendicant, I say that they still have work to do with diligence.
Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người Thân chứng? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người sống, thân chứng các pháp giải thoát an tịnh, vô sắc, sau khi đã vượt qua các sắc; và một số lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận sau khi thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hạng người Thân chứng. Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu này, Ta nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’. Vì sao vậy? Có lẽ vị tôn giả này, khi sử dụng các trú xứ thích hợp, thân cận bạn lành, làm cho các căn được quân bình, có thể sống, sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, giác ngộ ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của đời sống phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện gia nam tử đã chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình! Này các Tỳ khưu, vì thấy rõ được quả của sự không dể duôi này đối với vị Tỳ khưu ấy, nên Ta nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo diṭṭhippatto? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te na kāyena phusitvā viharati, paññāya cassa disvā ekacce āsavā parikkhīṇā honti, tathāgatappaveditā cassa dhammā paññāya vodiṭṭhā honti vocaritā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo diṭṭhippatto. Imassapi kho ahaṁ, bhikkhave, bhikkhuno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Appeva nāma ayamāyasmā anulomikāni senāsanāni paṭisevamāno kalyāṇamitte bhajamāno indriyāni samannānayamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyāti. Imaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, imassa bhikkhuno appamādaphalaṁ sampassamāno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi.
And what individual is attained to view? It’s an individual who doesn’t have direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form. Nevertheless, having seen with wisdom, some of their defilements have come to an end. And they have clearly seen and clearly contemplated with wisdom the teaching and training proclaimed by the Realized One. This individual is called attained to view. I say that this mendicant also still has work to do with diligence. Why is that? Thinking: ‘Hopefully this venerable will frequent appropriate lodgings, associate with good friends, and control their faculties. Then they might realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life, and live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’ Seeing this fruit of diligence for this mendicant, I say that they still have work to do with diligence.
Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người Kiến đáo? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người không sống, thân chứng các pháp giải thoát an tịnh, vô sắc, sau khi đã vượt qua các sắc; một số lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận sau khi thấy bằng trí tuệ; và các pháp do Như Lai thuyết giảng đã được vị ấy thấy rõ, thực hành thuần thục bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hạng người Kiến đáo. Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu này, Ta cũng nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’. Vì sao vậy? Có lẽ vị tôn giả này, khi sử dụng các trú xứ thích hợp, thân cận bạn lành, làm cho các căn được quân bình, có thể sống, sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, giác ngộ ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của đời sống phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện gia nam tử đã chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình! Này các Tỳ khưu, vì thấy rõ được quả của sự không dể duôi này đối với vị Tỳ khưu ấy, nên Ta nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo saddhāvimutto. Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te na kāyena phusitvā viharati, paññāya cassa disvā ekacce āsavā parikkhīṇā honti, tathāgate cassa saddhā niviṭṭhā hoti mūlajātā patiṭṭhitā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo saddhāvimutto. Imassapi kho ahaṁ, bhikkhave, bhikkhuno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Appeva nāma ayamāyasmā anulomikāni senāsanāni paṭisevamāno kalyāṇamitte bhajamāno indriyāni samannānayamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyāti. Imaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, imassa bhikkhuno appamādaphalaṁ sampassamāno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi.
And what individual is freed by faith? It’s an individual who doesn’t have direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form. Nevertheless, having seen with wisdom, some of their defilements have come to an end. And their faith is settled, rooted, and planted in the Realized One. This individual is called freed by faith. I say that this mendicant also still has work to do with diligence. Why is that? Thinking: ‘Hopefully this venerable will frequent appropriate lodgings, associate with good friends, and control their faculties. Then they might realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life, and live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’ Seeing this fruit of diligence for this mendicant, I say that they still have work to do with diligence.
Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người Tín giải thoát? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người không sống, thân chứng các pháp giải thoát an tịnh, vô sắc, sau khi đã vượt qua các sắc; một số lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận sau khi thấy bằng trí tuệ; và lòng tin của vị ấy đối với Như Lai đã được an trí, bén rễ, vững chắc. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hạng người Tín giải thoát. Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu này, Ta cũng nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’. Vì sao vậy? Có lẽ vị tôn giả này, khi sử dụng các trú xứ thích hợp, thân cận bạn lành, làm cho các căn được quân bình, có thể sống, sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, giác ngộ ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của đời sống phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện gia nam tử đã chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình! Này các Tỳ khưu, vì thấy rõ được quả của sự không dể duôi này đối với vị Tỳ khưu ấy, nên Ta nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo dhammānusārī? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te na kāyena phusitvā viharati, paññāya cassa disvā ekacce āsavā parikkhīṇā honti, tathāgatappaveditā cassa dhammā paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti, api cassa ime dhammā honti, seyyathidaṁ—saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo dhammānusārī. Imassapi kho ahaṁ, bhikkhave, bhikkhuno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Appeva nāma ayamāyasmā anulomikāni senāsanāni paṭisevamāno kalyāṇamitte bhajamāno indriyāni samannānayamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyāti. Imaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, imassa bhikkhuno appamādaphalaṁ sampassamāno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi.
And what individual is a follower of teachings? It’s an individual who doesn’t have direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form. And having seen with wisdom, their defilements have not come to an end. And they accept the teachings proclaimed by the Realized One after deliberating them with a degree of wisdom. And they have the following qualities: the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. This individual is called a follower of teachings. I say that this mendicant also still has work to do with diligence. Why is that? Thinking: ‘Hopefully this venerable will frequent appropriate lodgings, associate with good friends, and control their faculties. Then they might realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life, and live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’ Seeing this fruit of diligence for this mendicant, I say that they still have work to do with diligence.
Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người Tùy pháp hành? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người không sống, thân chứng các pháp giải thoát an tịnh, vô sắc, sau khi đã vượt qua các sắc; một số lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận sau khi thấy bằng trí tuệ; các pháp do Như Lai thuyết giảng được vị ấy chấp nhận sau khi đã suy xét vừa đủ bằng trí tuệ; và vị ấy có các pháp này, tức là: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hạng người Tùy pháp hành. Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu này, Ta cũng nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’. Vì sao vậy? Có lẽ vị tôn giả này, khi sử dụng các trú xứ thích hợp, thân cận bạn lành, làm cho các căn được quân bình, có thể sống, sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, giác ngộ ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của đời sống phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện gia nam tử đã chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình! Này các Tỳ khưu, vì thấy rõ được quả của sự không dể duôi này đối với vị Tỳ khưu ấy, nên Ta nói rằng: ‘Cần phải nỗ lực với sự không dể duôi’.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo saddhānusārī? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te na kāyena phusitvā viharati, paññāya cassa disvā ekacce āsavā parikkhīṇā honti, tathāgate cassa saddhāmattaṁ hoti pemamattaṁ, api cassa ime dhammā honti, seyyathidaṁ—saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo saddhānusārī. Imassapi kho ahaṁ, bhikkhave, bhikkhuno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Appeva nāma ayamāyasmā anulomikāni senāsanāni paṭisevamāno kalyāṇamitte bhajamāno indriyāni samannānayamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyāti. Imaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, imassa bhikkhuno appamādaphalaṁ sampassamāno ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi.
And what individual is a follower by faith? It’s an individual who doesn’t have direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form. And having seen with wisdom, their defilements have not come to an end. And they have a degree of faith and fondness for the Realized One. And they have the following qualities: the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. This individual is called a follower by faith. I say that this mendicant also still has work to do with diligence. Why is that? Thinking: ‘Hopefully this venerable will frequent appropriate lodgings, associate with good friends, and control their faculties. Then they might realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life, and live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’ Seeing this fruit of diligence for this mendicant, I say that they still have work to do with diligence.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là hạng người Tùy tín hành? Này các Tỳ-khưu, ở đây, có hạng người không an trú, chứng xúc bằng thân các pháp giải thoát tịch tịnh, tức là các thiền vô sắc, sau khi đã vượt qua các sắc. Và sau khi thấy bằng trí tuệ, một số lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Đối với Như Lai, vị ấy chỉ có lòng tin, chỉ có lòng mến. Lại nữa, vị ấy có các pháp này, tức là: Tín quyền, Tấn quyền, Niệm quyền, Định quyền, Tuệ quyền. Này các Tỳ-khưu, đây được gọi là hạng người Tùy tín hành. Này các Tỳ-khưu, đối với vị Tỳ-khưu này, Ta cũng nói rằng: ‘Cần phải thực hành với sự không dể duôi’. Vì sao vậy? Mong rằng vị tôn giả này, khi sử dụng các trú xứ thích hợp, thân cận bạn lành, làm cho các căn được quân bình, sẽ có thể, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vào mục đích vô thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình! Này các Tỳ-khưu, vì thấy rõ quả của sự không dể duôi này đối với vị Tỳ-khưu ấy, nên Ta nói: ‘Cần phải thực hành với sự không dể duôi’.
Nāhaṁ, bhikkhave, ādikeneva aññārādhanaṁ vadāmi; api ca, bhikkhave, anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā aññārādhanā hoti.
Kathañca, bhikkhave, anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā aññārādhanā hoti? Idha, bhikkhave, saddhājāto upasaṅkamati, upasaṅkamanto payirupāsati, payirupāsanto sotaṁ odahati, ohitasoto dhammaṁ suṇāti, sutvā dhammaṁ dhāreti, dhatānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati, atthaṁ upaparikkhato dhammā nijjhānaṁ khamanti, dhammanijjhānakkhantiyā sati chando jāyati, chandajāto ussahati, ussāhetvā tuleti, tulayitvā padahati, pahitatto samāno kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca naṁ ativijjha passati.
Sāpi nāma, bhikkhave, saddhā nāhosi; tampi nāma, bhikkhave, upasaṅkamanaṁ nāhosi; sāpi nāma, bhikkhave, payirupāsanā nāhosi; tampi nāma, bhikkhave, sotāvadhānaṁ nāhosi; tampi nāma, bhikkhave, dhammassavanaṁ nāhosi; sāpi nāma, bhikkhave, dhammadhāraṇā nāhosi; sāpi nāma, bhikkhave, atthūpaparikkhā nāhosi; sāpi nāma, bhikkhave, dhammanijjhānakkhanti nāhosi; sopi nāma, bhikkhave, chando nāhosi; sopi nāma, bhikkhave, ussāho nāhosi; sāpi nāma, bhikkhave, tulanā nāhosi; tampi nāma, bhikkhave, padhānaṁ nāhosi. Vippaṭipannāttha, bhikkhave, micchāpaṭipannāttha, bhikkhave. Kīva dūrevime, bhikkhave, moghapurisā apakkantā imamhā dhammavinayā.
Mendicants, I don’t say that enlightenment is achieved right away. Rather, enlightenment is achieved by gradual training, progress, and practice.
And how is enlightenment achieved by gradual training, progress, and practice? It’s when someone in whom faith has arisen approaches a teacher. They pay homage, actively listen, hear the teachings, remember the teachings, examine their meaning, and accept them after deliberation. Then enthusiasm springs up; they make an attempt, weigh up, and strive. Striving, they directly realize the ultimate truth, and see it with penetrating wisdom.
Mendicants, there has not been that faith, that approaching, that paying homage, that listening, that hearing the teachings, that remembering the teachings, that examining their meaning, that acceptance after deliberation, that enthusiasm, that making an attempt, that weighing up, or that striving. You’re on a bad path, mendicants! You’re practicing the wrong way! How far these futile men have strayed from this teaching and training!
183. Này các Tỳ-khưu, Ta không nói rằng sự chứng đắc A-la-hán quả có được ngay từ lúc ban đầu. Mà này các Tỳ-khưu, sự chứng đắc A-la-hán quả có được là do tuần tự học, tuần tự hành, tuần tự tu. Và này các Tỳ-khưu, thế nào là sự chứng đắc A-la-hán quả có được do tuần tự học, tuần tự hành, tuần tự tu? Ở đây, này các Tỳ-khưu, người có lòng tin sanh khởi liền đến gần; khi đến gần, liền thân cận; khi thân cận, liền lắng tai; khi lắng tai, liền nghe pháp; nghe pháp rồi, liền ghi nhớ pháp; vị ấy thẩm xét ý nghĩa của các pháp đã ghi nhớ; khi thẩm xét ý nghĩa, các pháp được kham nhẫn quán chiếu; khi có sự kham nhẫn quán chiếu các pháp, dục sanh khởi; khi dục sanh khởi, liền nỗ lực; nỗ lực rồi, liền thẩm sát; thẩm sát rồi, liền tinh cần; với tâm tinh cần, vị ấy thân chứng chân lý tối thượng, và với trí tuệ, vị ấy thể nhập và thấy rõ chân lý ấy. Này các Tỳ-khưu, lòng tin ấy đã không có; sự đến gần ấy đã không có; sự thân cận ấy đã không có; sự lắng tai ấy đã không có; sự nghe pháp ấy đã không có; sự ghi nhớ pháp ấy đã không có; sự thẩm xét ý nghĩa ấy đã không có; sự kham nhẫn quán chiếu các pháp ấy đã không có; dục ấy đã không có; sự nỗ lực ấy đã không có; sự thẩm sát ấy đã không có; sự tinh cần ấy đã không có. Này các Tỳ-khưu, các ngươi đã thực hành sai lạc, này các Tỳ-khưu, các ngươi đã thực hành tà vạy. Này các Tỳ-khưu, những kẻ ngu si này đã đi xa khỏi Pháp và Luật này biết bao!
Atthi, bhikkhave, catuppadaṁ veyyākaraṇaṁ yassuddiṭṭhassa viññū puriso nacirasseva paññāyatthaṁ ājāneyya. Uddisissāmi vo, bhikkhave, ājānissatha me tan”ti?
“Ke ca mayaṁ, bhante, ke ca dhammassa aññātāro”ti?
“Yopi so, bhikkhave, satthā āmisagaru āmisadāyādo āmisehi saṁsaṭṭho viharati tassa pāyaṁ evarūpī paṇopaṇaviyā na upeti: ‘evañca no assa atha naṁ kareyyāma, na ca no evamassa na naṁ kareyyāmā’ti, kiṁ pana, bhikkhave, yaṁ tathāgato sabbaso āmisehi visaṁsaṭṭho viharati.
Saddhassa, bhikkhave, sāvakassa satthusāsane pariyogāhiya vattato ayamanudhammo hoti: ‘satthā bhagavā, sāvakohamasmi; jānāti bhagavā, nāhaṁ jānāmī’ti. Saddhassa, bhikkhave, sāvakassa satthusāsane pariyogāhiya vattato ruḷhanīyaṁ satthusāsanaṁ hoti ojavantaṁ. Saddhassa, bhikkhave, sāvakassa satthusāsane pariyogāhiya vattato ayamanudhammo hoti: ‘kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti. Saddhassa, bhikkhave, sāvakassa satthusāsane pariyogāhiya vattato dvinnaṁ phalānaṁ aññataraṁ phalaṁ pāṭikaṅkhaṁ—diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā”ti.
There is an exposition in four statements, which a sensible person would quickly understand when it is recited. I shall recite it for you, mendicants. Try to understand it.”
“Sir, who are we next to those who understand the teaching?”
“Even with a teacher who values things of the flesh, is an heir in things of the flesh, who lives caught up in things of the flesh, you wouldn’t get into such haggling: ‘If we get this, we’ll do that. If we don’t get this, we won’t do it.’ What then of the Realized One, who lives utterly detached from things of the flesh?
For a faithful disciple who is practicing to fathom the Teacher’s instructions, this is in line with the teaching: ‘The Buddha is my Teacher, I am his disciple. The Buddha knows, I do not know.’ For a faithful disciple who is practicing to fathom the Teacher’s instructions, the Teacher’s instructions are nourishing and nutritious. For a faithful disciple who is practicing to fathom the Teacher’s instructions, this is in line with the teaching: ‘Gladly, let only skin, sinews, and bones remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not relax my energy until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.’ For a faithful disciple who is practicing to fathom the Teacher’s instructions, one of two results can be expected: enlightenment in this very life, or if there’s residue left behind, non-return.”
184. Này các Tỳ-khưu, có một bài kệ bốn câu, khi được nêu lên, người có trí có thể không bao lâu liền hiểu được ý nghĩa bằng trí tuệ. Này các Tỳ-khưu, Ta sẽ nêu lên cho các ngươi, các ngươi có hiểu được (ý nghĩa) của Ta không?" "Bạch Thế Tôn, chúng con là ai, và ai là người biết Pháp?" "Này các Tỳ-khưu, vị đạo sư nào trọng tài vật, thừa tự tài vật, sống liên hệ với tài vật, đối với vị ấy, sự mặc cả như thế này không xảy ra: ‘Nếu chúng tôi được thế này, chúng tôi sẽ làm việc ấy; nếu chúng tôi không được thế này, chúng tôi sẽ không làm việc ấy’. Huống nữa là Như Lai, này các Tỳ-khưu, là người sống hoàn toàn không liên hệ với tài vật. Này các Tỳ-khưu, đối với người đệ tử có lòng tin, đang nỗ lực thực hành trong giáo pháp của bậc Đạo sư, pháp tùy pháp này khởi lên: ‘Thế Tôn là bậc Đạo sư, con là đệ tử; Thế Tôn biết, con không biết’. Này các Tỳ-khưu, đối với người đệ tử có lòng tin, đang nỗ lực thực hành trong giáo pháp của bậc Đạo sư, giáo pháp của bậc Đạo sư trở nên tăng trưởng, có năng lực. Này các Tỳ-khưu, đối với người đệ tử có lòng tin, đang nỗ lực thực hành trong giáo pháp của bậc Đạo sư, pháp tùy pháp này khởi lên: ‘Dầu cho chỉ còn lại da, gân và xương; dầu cho thịt và máu trong thân có khô cạn đi, nhưng cái gì có thể đạt được bằng sức người, bằng nghị lực của người, bằng sự tinh tấn của người, nếu chưa đạt được, sự tinh tấn sẽ không dừng lại’. Này các Tỳ-khưu, đối với người đệ tử có lòng tin, đang nỗ lực thực hành trong giáo pháp của bậc Đạo sư, một trong hai quả có thể được mong đợi: hoặc là A-la-hán quả ngay trong hiện tại, hoặc nếu còn hữu dư y, là quả Bất lai.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỳ-khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Kīṭāgirisuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Kīṭāgiri, thứ mười, chấm dứt.
Bhikkhuvaggo niṭṭhito dutiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Tỳ-khưu, thứ hai, chấm dứt.
Kuñjara rāhula sassataloko, Mālukyaputto ca bhaddāli nāmo; Khudda dijātha sahampatiyācaṁ, Nāḷaka raññikiṭāgirināmo.
Kinh Voi, kinh Rāhula, kinh Thế gian thường hằng, kinh Mālukyaputta, kinh Bhaddāli; kinh Chim cút, kinh Sahampati, kinh Naḷakapāna, kinh Gulissāni và kinh Kīṭāgiri.