- Majjhima Nikāya 65
Bhaddālisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Bhaddālisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthi, Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.:” Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 3—Này các Tỷ-kheo, Ta ăn chỉ ngồi một lần (Ekasanabhojana). Này các Tỷ-kheo, do Ta ăn chỉ ngồi một lần, Ta cảm thấy ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, có sức và lạc trú. Này các Tỷ-kheo, hãy ăn chỉ ngồi một lần. Này các Tỷ-kheo, hãy ăn chỉ ngồi một lần, và các Ông sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, có sức và lạc trú.
SC 4Khi được nói vậy, Tôn giả Bhaddali bạch Thế Tôn
SC 5—Bạch Thế Tôn, con không có thể ăn chỉ ngồi một lần. Bạch Thế Tôn, nếu con ăn chỉ ngồi một lần, thời con cảm thấy như là hối tiếc, như là hối hận.
SC 6—Vậy này Bhaddali, khi nào Ông được mời, hãy ăn tại chỗ một phần ăn, rồi đem về một phần ăn để ăn sau. Như vậy, này Bhaddali, Ông có thể ăn như vậy và sống qua ngày không?
SC 7—Như vậy, bạch Thế Tôn, con cũng không có thể ăn được. Bạch Thế Tôn, nếu con có ăn như vậy, con vẫn cảm thấy như là hối tiếc, như là hối hận.
SC 8Rồi Tôn giả Bhaddali, trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, tuyên bố sự bất lực (của mình). Rồi Tôn giả Bhaddali, trong ba tháng tròn, không diện kiến Thế Tôn vì không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.
SC 9Sau một thời gian, một số đông Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn (Civarakamma) và nói rằng: “Sau khi làm y xong, sau ba tháng này, Thế Tôn sẽ du hành”. Rồi Tôn giả Bhaddali đến tại chỗ các vị Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, nói lên với các Tỷ-kheo ấy những lời chào hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Những Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Bhaddali đang ngồi một bên
SC 10—Này Hiền giả Bhaddali, tấm y này đang được làm cho Thế Tôn. Sau khi làm y xong, sau ba tháng này, Thế Tôn sẽ du hành. Này Hiền giả Bhaddali, hãy khéo tư niệm đến trường hợp đặc biệt này (Desakam). Chớ để về sau, lại càng khó khăn hơn cho Hiền giả.
—Thưa vâng, chư Hiền.
SC 11Tôn giả Bhaddali vâng đáp các Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhaddali bạch Thế Tôn
SC 12—Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, con đã tuyên bố sự bất lực của con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm này là một lỗi lầm để có thể phòng hộ trong tương lai.
SC 13—Này Bhaddali, thật sự một lỗi lầm đã chiếm đoạt Ông, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Như Lai chế định, Ông đã tuyên bố sự bất lực của Ông.
SC 14Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được điều này: “Thế Tôn trú tại Sāvatthi, Thế Tôn sẽ biết ta như sau: “Tỷ-kheo tên Bhaddali không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư"”. Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được như vậy.
SC 15Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được điều này: “Một số đông Tỷ-kheo đến an cư vào mùa mưa ở Sāvatthi. Các vị ấy sẽ biết ta như sau: “Tỷ-kheo tên Bhaddali không có thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư"”. Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được như vậy.
SC 16Này Bhaddali trong thời ấy, Ông không ý thức được điều này: “Một số đông Tỷ-kheo-ni đến an cư vào mùa mưa ở Sāvatthi. Các vị ấy sẽ biết ta như sau: ” … (như trên) … một số đông nam cư sĩ trú ở Sāvatthi, sẽ biết ta như sau: … (như trên) … một số đông nữ cư sĩ trú ở Sāvatthi, sẽ biết ta như sau: “Tỷ-kheo tên Bhaddali không có thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư"”. Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được như vậy.
SC 17Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được điều này: “Một số đông Sa-môn, Bà-la-môn ngoại đạo đến an cư vào mùa mưa ở Sāvatthi. Các vị ấy sẽ biết ta như sau: “Tỷ-kheo tên Bhaddali là đệ tử của Sa-môn Gotama, một bậc Thượng tọa, không có thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư"”. Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được như vậy.
SC 18—Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, con đã tuyên bố sự bất lực của con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm này là một lỗi lầm để có thể phòng hộ trong tương lai.
SC 19—Này Bhaddali, thật sự một lỗi lầm đã chiếm đoạt Ông, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Ta chế định, Ông đã tuyên bố sự bất lực của Ông.
SC 20Này Bhaddali, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có Tỷ-kheo câu phần giải thoát. Ta nói với vị ấy như sau: “Này Tỷ-kheo, hãy đến và tự làm cầu cho Ta qua khỏi đám bùn”. Vị ấy tự đến làm cầu, hay tránh né thân chỗ khác, hay nói: “Không”?
SC 21—Không phải vậy, bạch Thế Tôn.
SC 22—Này Bhaddali, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có vị Tỷ-kheo tuệ giải thoát … thân chứng … kiến chí … tín thắng giải … tùy pháp hành … tùy tín hành. Ta nói với vị ấy như sau: “Này Tỷ-kheo, hãy đến và tự làm cầu cho Ta qua khỏi đám bùn”. Vị ấy tự đến làm cầu, hay tránh né thân chỗ khác, hay nói: “Không”?
SC 23—Không phải vậy, bạch Thế Tôn.
SC 24—Này Bhaddali, Ông nghĩ thế nào? Này Bhaddali, trong thời gian ấy Ông có phải là câu phần giải thoát, hay huệ giải thoát hay thân chứng, hay kiến chí, hay tín thắng giải, hay tùy pháp hành, hay tùy tín hành?
SC 25—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 26—Này Bhaddali, có phải trong thời gian ấy, Ông trống không, rỗng không, phạm lỗi?
SC 27—Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, con đã tuyên bố sự bất lực của con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm này là một lỗi lầm, để có thể phòng hộ trong tương lai.
SC 28—Này Bhaddali, thật sự một lỗi lầm đã chiếm đoạt Ông, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Ta chế định, Ông đã tuyên bố sự bất lực của Ông. Này Bhaddali, nếu Ông sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, và như pháp phát lộ, chúng ta sẽ chấp nhận cho Ông. Vì rằng, này Bhaddali, như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc Thánh, nghĩa là bất cứ ai, sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, phải như pháp phát lộ và phòng hộ trong tương lai.
SC 29Ở đây, này Bhaddali, có Tỷ-kheo không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Ðạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh”. Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Ðạo Sư quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, chư Thiên quở trách, tự mình quở trách mình. Vị này bị bậc Ðạo Sư quở trách, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư Thiên quở trách, bị tự mình quở trách mình, nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bahaddali, là vì vị ấy không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.
SC 30Nhưng ở đây, này Bhaddali, có Tỷ-kheo thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh”. Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Ðạo Sư không quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát không quở trách, chư Thiên không quở trách, tự mình không quở trách mình. Vị này không bị bậc Ðạo Sư quở trách, không bị các đồng Phạm hạnh sau khi quán sát quở trách, không bị chư Thiên quở trách, không bị mình quở trách mình, nên chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.
SC 31Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. Và lại nữa, này Bhaddali, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. Và lại nữa này Bhaddali, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðại Sư. Và lại nữa, này Bhaddali, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.
SC 32Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,…, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. Vị ấy với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, dẫn tâm hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh là người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh … đều do hạnh nghiệp của họ? Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Ðạo Sư.
SC 33Vị ấy với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, … biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc” … … biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
SC 34Nhờ biết như vậy, như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, vị ấy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.
SC 35Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Bhaddali bạch Thế Tôn
SC 36—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây (chúng Tăng) luôn luôn kết tội Tỷ-kheo? Bạch Thế Tôn, lại do nhân gì, do duyên gì ở đây, (chúng Tăng) không luôn luôn kết tội Tỷ-kheo như vậy?
SC 37—Này Bhaddali, ở đây, có Tỷ-kheo thường hay phạm giới tội, phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, tránh né câu hỏi bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, hiện khởi phẫn nộ, sân hận, và bất mãn, không xử sự chơn chánh, không có lắng dịu, không có chấm dứt giới tội, không có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Tỷ-kheo này thường hay phạm giới tội, phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, tránh né câu hỏi bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, không xử sự chơn chánh, không có lắng dịu, không có chấm dứt giới tội, không có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Tốt lành thay, nếu chư Tôn giả, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo này, chớ có giải tội ấy một cách mau chóng”. Như vậy, này Bhaddali, các Tỷ-kheo, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo ấy, không giải tội ấy một cách mau chóng.
SC 38Nhưng ở đây, này Bhaddali, lại có Tỷ-kheo, thường hay phạm giới tội, phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, không tránh né câu hỏi bằng một câu hỏi khác, không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, xử sự chơn chánh, có tự lắng dịu, có chấm dứt giới tội, có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Tỷ-kheo này thường hay phạm giới tội, phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, không tránh né câu hỏi bằng một câu hỏi khác, không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, xử sự chơn chánh, có tự lắng dịu, có chấm dứt giới tội, có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Tốt lành thay, nếu chư Tôn giả, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo này, hãy giải tội ấy một cách mau chóng”. Như vậy, này Bhaddali, các Tỷ-kheo, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo ấy, giải tội ấy một cách mau chóng.
SC 39Ở đây, này Bhaddali, có Tỷ-kheo không thường phạm giới tội, không phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, tránh né câu hỏi này bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, không xử sự chơn chánh, không có tự lắng dịu, không có chấm dứt giới tội, không có nói “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Tỷ-kheo này không thường phạm giới tội, không phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, tránh né câu hỏi này bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, không xử sự chơn chánh, không có tự lắng dịu, không có chấm dứt giới tội, không có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Tốt lành thay, nếu chư Tôn giả, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo này, chớ có giải tội một cách mau chóng”. Như vậy, này Bhaddali, các Tỷ-kheo, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo ấy, không giải tội ấy một cách mau chóng.
SC 40Nhưng ở đây, này Bhaddali, lại có Tỷ-kheo không thường phạm giới tội, không phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, không tránh né câu hỏi này bằng một câu hỏi khác, không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, xử sự chơn chánh, có tự lắng dịu, có chấm dứt giới tội, có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Ở đây, này Bahaddali, các Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Chư Hiền, Tỷ-kheo này không thường phạm giới tội, không phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, không tránh né câu hỏi này bằng một câu hỏi khác, không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, xử sự chơn chánh, có tự lắng dịu, có chấm dứt giới tội, có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Tốt lành thay, nếu chư Tôn giả, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo này, hãy giải tội này một cách mau chóng”. Như vậy, này Bhaddali, các Tỷ-kheo, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo ấy, giải tội ấy một cách mau chóng.
SC 41Ở đây, này Bhaddali, có Tỷ-kheo còn sống (trong Tăng chúng) với một ít lòng tin, với một ít lòng thương. Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Chư Hiền, Tỷ-kheo này còn sống (trong Tăng chúng) với một ít lòng tin, với một ít lòng thương. Nếu chúng ta thường hay kết tội Tỷ-kheo này, thời chút ít lòng tin, chút ít lòng thương của vị ấy sẽ đi đến đoạn diệt. Vậy chúng ta hãy đừng để cho chút ít lòng tin, chút ít lòng thương của vị ấy đoạn diệt”. Ví như, này Bhaddali, một người chỉ có một mắt, các thân hữu bà con huyết thống bảo vệ con mắt còn lại ấy và suy nghĩ như sau: “Chớ để cho con mắt còn lại này bị đoạn diệt”. Cũng vậy, này Bhaddali, ở đây Tỷ-kheo còn sống (trong Tăng chúng) với một ít lòng tin, với một ít lòng thương. Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Chư Hiền, Tỷ-kheo này còn sống (trong Tăng chúng) với một ít lòng tin, với một ít lòng thương. Nếu chúng ta thường hay kết tội Tỷ-kheo này, thời chút ít lòng tin, chút ít lòng thương của vị ấy sẽ đi đến đoạn diệt. Vậy chúng ta hãy đừng để cho chút ít lòng tin, chút ít lòng thương của vị ấy bị đoạn diệt”.
SC 42Này Bhaddali, do nhân này, do duyên này, ở đây (chúng Tăng) luôn luôn kết tội Tỷ-kheo. Do nhân này, do duyên này, ở đây, (chúng Tăng) không luôn luôn kết tội vị Tỷ-kheo.
SC 43—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, lúc xưa các học giới tuy ít hơn, nhưng các Tỷ-kheo đã ngộ nhập chánh trí nhiều hơn. Bạch Thế Tôn, lại do nhân gì, do duyên gì, ngày nay các học giới nhiều hơn, nhưng các Tỷ-kheo ngộ nhập chánh trí ít hơn?
SC 44—Này Bhaddali, khi các loài hữu tình bị thối thất, khi diệu pháp bị diệt mất, thời các học giới có nhiều hơn và các vị Tỷ-kheo ngộ nhập chánh trí ít hơn. Này Bhaddali, khi nào một số hữu lậu pháp (Asavatthaniya dhamma) chưa hiện khởi trong Tăng chúng, khi ấy bậc Ðạo Sư vẫn không chế định một học giới cho các đệ tử. Và này Bhaddali, ở đây, chỉ khi nào một số hữu lậu pháp hiện khởi trong Tăng chúng, chỉ khi ấy bậc Ðạo Sư mới chế định học giới cho các đệ tử để đối trị lại các pháp hữu lậu ấy. Này Bhaddali, ở đây, khi nào Tăng chúng chưa lớn mạnh, khi ấy một số hữu lậu pháp chưa hiện khởi trong Tăng chúng. Và này Bhaddali, chỉ khi nào Tăng chúng đã được lớn mạnh, thời ở đây một số hữu lậu pháp hiện khởi trong Tăng chúng, khi ấy bậc Ðạo Sư mới chế định học giới cho các đệ tử để đối trị lại các pháp hữu lậu ấy. Này Bhaddali, ở đây, khi nào Tăng chúng chưa đạt được quyền lợi tối thượng … chưa đạt được danh xưng tối thượng … chưa đạt được đa văn … chưa đạt được địa vị kỳ cựu, khi ấy một số hữu lậu pháp chưa hiện khởi trong Tăng chúng. Và này Bhaddali, ở đây, chỉ khi nào Tăng chúng đã đạt được địa vị kỳ cựu, thời ở đây một số hữu lậu pháp hiện khởi trong Tăng chúng, khi ấy bậc Ðạo Sư mới chế định học giới cho các đệ tử để đối trị lại các pháp hữu lậu ấy.
SC 45Này Bhaddali, các Ông còn số ít, khi Ta giảng cho các Ông pháp môn ví dụ lương chủng mã. Này Bhaddali, Ông có nhớ không?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 46—Ở đây, này Bhaddali, do nhân gì, Ông xem sự việc xảy ra như vậy?
SC 47—Bạch Thế Tôn, vì con trong một thời gian dài, đã không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.
SC 48—Này Bhaddali, không phải chỉ có nhân như vậy, chỉ có duyên như vậy. Vì rằng, trong một thời gian khá dài, này Bhaddali, Ta biết tâm Ông với tâm của Ta (Ta biết rằng): Khi Ta thuyết pháp, kẻ ngu si này không có để tâm, không có tác ý, không dùng nhứt thiết tâm để tư niệm, không có nghe pháp với (hai) tai sẵn sàng. Và này Bhaddali, Ta sẽ giảng cho Ông pháp môn ví dụ lương chủng mã. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 49—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 50Tôn giả Bhaddali, vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 51—Này Bhaddali, ví như một người điều mã sư thiện xảo, có nhận được một con lương mã hiền thiện, trước hết phải huấn luyện con ngựa ấy cho quen với dây cương. Trong khi huấn luyện nó cho quen với dây cương, nếu nó có vùng vẫy, nhảy chồm, nhảy ngược, chống cự, vì chưa quen sự huấn luyện trước kia chưa làm. Con ngựa ấy do sự huấn luyện thường xuyên, do sự huấn luyện tiếp tục, được thuần thục về phương diện ấy.
SC 52Này Bhaddali, khi con lương mã hiền thiện do huấn luyện thường xuyên, do sự huấn luyện tiếp tục, đã được thuần thục về phương diện ấy, thời người điều mã sư lại huấn luyện thêm con ngựa ấy cho quen với yên ngựa. Trong khi huấn luyện nó cho quen với yên ngựa, nếu nó có vùng vẫy, nhảy chồm, nhảy ngược, chống cự vì chưa quen sự huấn luyện trước đây chưa làm. Con ngựa ấy do sự huấn luyện thường xuyên, do sự huấn luyện tiếp tục, được thuần thục về phương diện ấy.
SC 53Này Bhaddali, khi con lương mã hiền thiện do huấn luyện thường xuyên, do huấn luyện tiếp tục, đã được thuần thục về phương diện ấy, thời người điều mã sư lại huấn luyện thêm con ngựa ấy cho quen với sự diễn hành, đi vòng quanh, đi đầu móng chân, chạy phi, hí, các trò chơi vương giả, vương lực, tối thượng tốc lực, tối thượng nhanh nhẹn, tối thượng thiện hành. Trong khi huấn luyện cho nó quen với tối thượng tốc lực, tối thượng nhanh nhẹn, tối thượng thiện hành, nếu nó có vùng vẫy, nhảy chồm, nhảy ngược, chống cự vì chưa quen sự huấn luyện trước đây chưa làm. Con ngựa ấy do sự huấn luyện thường xuyên, do sự huấn luyện tiếp tục, được thuần thục về phương diện ấy.
SC 54Này Bhaddali, khi con lương mã hiền thiện, do huấn luyện thường xuyên, do huấn luyện tiếp tục, đã được thuần phục về phương diện ấy, thời người điều mã sư lại giúp thêm con ngựa ấy về phần sắc đẹp và trang sức. Này Bhaddali, con lương mã, hiền thiện được thành tựu mười đặc tánh này trở thành xứng đáng cho bậc vua chúa, trở thành báu vật của vua, được liệt vào một ấn tướng của vua.
SC 55Cũng vậy, này Bhaddali, một Tỷ-kheo thành tựu được mười pháp trở thành đáng được kính trọng, đáng được tôn kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là mười? Ở đây, này Bhaddali, Tỷ-kheo thành tựu vô học chánh tri kiến, thành tựu vô học chánh tư duy, thành tựu vô học chánh ngữ, thành tựu vô học chánh nghiệp, thành tựu vô học chánh mạng, thành tựu vô học chánh tinh tấn, thành tựu vô học chánh niệm, thành tựu vô học chánh định, thành tựu vô học chánh trí, thành tựu vô học chánh giải thoát. Này Bhaddali, Tỷ-kheo thành tựu mười pháp này trở thành đáng được kính trọng, đáng được tôn kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
SC 56Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Bhaddali hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 16–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Bhaddāli
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Ahaṁ kho, bhikkhave, ekāsanabhojanaṁ bhuñjāmi; ekāsanabhojanaṁ kho, ahaṁ, bhikkhave, bhuñjamāno appābādhatañca sañjānāmi appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Etha, tumhepi, bhikkhave, ekāsanabhojanaṁ bhuñjatha; ekāsanabhojanaṁ kho, bhikkhave, tumhepi bhuñjamānā appābādhatañca sañjānissatha appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañcā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā bhaddāli bhagavantaṁ etadavoca: “ahaṁ kho, bhante, na ussahāmi ekāsanabhojanaṁ bhuñjituṁ; ekāsanabhojanañhi me, bhante, bhuñjato siyā kukkuccaṁ, siyā vippaṭisāro”ti.
“Tena hi tvaṁ, bhaddāli, yattha nimantito assasi tattha ekadesaṁ bhuñjitvā ekadesaṁ nīharitvāpi bhuñjeyyāsi. Evampi kho tvaṁ, bhaddāli, bhuñjamāno ekāsano yāpessasī”ti.
“Evampi kho ahaṁ, bhante, na ussahāmi bhuñjituṁ; evampi hi me, bhante, bhuñjato siyā kukkuccaṁ, siyā vippaṭisāro”ti. Atha kho āyasmā bhaddāli bhagavatā sikkhāpade paññāpiyamāne bhikkhusaṅghe sikkhaṁ samādiyamāne anussāhaṁ pavedesi. Atha kho āyasmā bhaddāli sabbaṁ taṁ temāsaṁ na bhagavato sammukhībhāvaṁ adāsi, yathā taṁ satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī.
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I eat my food in one sitting per day. Doing so, I find that I’m healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. You too should eat your food in one sitting per day. Doing so, you’ll find that you’re healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.”
When he said this, Venerable Bhaddāli said to the Buddha, “Sir, I’m not going to attempt to eat my food in one sitting per day. For when eating once a day I might feel remorse and regret.”
“Well then, Bhaddāli, eat one part of the meal in the place where you’re invited, and bring the rest back to eat. Eating this way, too, you will sustain yourself.”
“Sir, I’m not going to attempt to eat that way, either. For when eating that way I might also feel remorse and regret.” Then, as this rule was being laid down by the Buddha and the Saṅgha was undertaking it, Bhaddāli announced he would not attempt to keep it. Then for the whole of that three months Bhaddāli would not see the Buddha face to face, as happens when someone doesn’t fulfill the training according to the Teacher’s instructions.
134. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu. – Bạch Thế Tôn, các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này: – Này các tỳ khưu, Ta dùng bữa ăn một lần. Này các tỳ khưu, do Ta dùng bữa ăn một lần nên Ta nhận thấy mình ít bệnh, ít khổ, thân thể nhẹ nhàng, có sức lực, và an trú thoải mái. Này các tỳ khưu, các ngươi cũng hãy đến, hãy dùng bữa ăn một lần. Này các tỳ khưu, do các ngươi dùng bữa ăn một lần, các ngươi cũng sẽ nhận thấy mình ít bệnh, ít khổ, thân thể nhẹ nhàng, có sức lực, và an trú thoải mái. Khi được nói vậy, tôn giả Bhaddāli bạch với Thế Tôn điều này: – Bạch Thế Tôn, con không thể dùng bữa ăn một lần. Bạch Thế Tôn, vì khi dùng bữa ăn một lần, con có thể sẽ áy náy, có thể sẽ sầu muộn. – Này Bhaddāli, vậy thì ngươi, ở nơi nào được mời, hãy ăn một phần ở đấy rồi mang một phần đi để ăn. Này Bhaddāli, dù ăn như vậy, ngươi vẫn sẽ sống được với việc ăn một lần. – Bạch Thế Tôn, dù như vậy con cũng không thể ăn được. Bạch Thế Tôn, vì dù ăn như vậy, con có thể sẽ áy náy, có thể sẽ sầu muộn. Bấy giờ, khi Thế Tôn đang chế định học giới, khi Tăng chúng tỳ khưu đang thọ trì học giới, thì tôn giả Bhaddāli đã bày tỏ sự không nỗ lực. Bấy giờ, trong suốt ba tháng ấy, tôn giả Bhaddāli đã không đến diện kiến Thế Tôn, giống như người không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti—niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatīti.
Atha kho āyasmā bhaddāli yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi bhikkhūhi saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ bhaddāliṁ te bhikkhū etadavocuṁ: “idaṁ kho, āvuso bhaddāli, bhagavato cīvarakammaṁ karīyati. Niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissati. Iṅghāvuso bhaddāli, etaṁ dosakaṁ sādhukaṁ manasi karohi, mā te pacchā dukkarataraṁ ahosī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā bhaddāli tesaṁ bhikkhūnaṁ paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā bhaddāli bhagavantaṁ etadavoca: “accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yohaṁ bhagavatā sikkhāpade paññāpiyamāne bhikkhusaṅghe sikkhaṁ samādiyamāne anussāhaṁ pavedesiṁ. Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
At that time several mendicants were making a robe for the Buddha, thinking that when his robe was finished and the three months of the rains residence had passed the Buddha would set out wandering.
Then Bhaddāli went up to those mendicants, and exchanged greetings with them. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The mendicants said to Bhaddāli, “Reverend Bhaddāli, this robe is being made for the Buddha. When it’s finished and the three months of the rains residence have passed the Buddha will set out wandering. Come on, Bhaddāli, learn your lesson. Don’t make it hard for yourself later on.”
“Yes, reverends,” Bhaddāli replied. He went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me that, as this rule was being laid down by the Buddha and the Saṅgha was undertaking it, I announced I would not attempt to keep it. Please, sir, accept my mistake for what it is, so I will restrain myself in future.”
135. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đang làm công việc may y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: – ‘Sau khi y được may xong, hết ba tháng, Thế Tôn sẽ lên đường du hành.’ Bấy giờ, tôn giả Bhaddāli đi đến chỗ các vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, đã cùng chuyện trò với các vị tỳ khưu ấy. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Các vị tỳ khưu ấy nói điều này với tôn giả Bhaddāli đang ngồi một bên: – Này hiền giả Bhaddāli, công việc may y này của Thế Tôn đang được thực hiện. Sau khi y được may xong, hết ba tháng, Thế Tôn sẽ lên đường du hành. Thôi nào, hiền giả Bhaddāli, hiền giả hãy khéo tác ý về lỗi lầm này, kẻo về sau hiền giả sẽ gặp khó khăn hơn. – Thưa các hiền giả, vâng ạ. Tôn giả Bhaddāli sau khi vâng lời các vị tỳ khưu ấy, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Bhaddāli bạch với Thế Tôn điều này: – Bạch Thế Tôn, lỗi lầm đã xâm chiếm con, như kẻ ngu si, như kẻ mê muội, như kẻ bất thiện, vì khi Thế Tôn đang chế định học giới, khi Tăng chúng tỳ khưu đang thọ trì học giới, con đã bày tỏ sự không nỗ lực. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy chấp nhận lỗi lầm ấy của con là lỗi lầm, để con được thu thúc trong tương lai.
“Taggha tvaṁ, bhaddāli, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yaṁ tvaṁ mayā sikkhāpade paññāpiyamāne bhikkhusaṅghe sikkhaṁ samādiyamāne anussāhaṁ pavedesi.
Samayopi kho te, bhaddāli, appaṭividdho ahosi: ‘bhagavā kho sāvatthiyaṁ viharati, bhagavāpi maṁ jānissati—bhaddāli nāma bhikkhu satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī’ti. Ayampi kho te, bhaddāli, samayo appaṭividdho ahosi.
Samayopi kho te, bhaddāli, appaṭividdho ahosi: ‘sambahulā kho bhikkhū sāvatthiyaṁ vassaṁ upagatā, tepi maṁ jānissanti—bhaddāli nāma bhikkhu satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī’ti. Ayampi kho te, bhaddāli, samayo appaṭividdho ahosi. Samayopi kho te, bhaddāli, appaṭividdho ahosi: ‘sambahulā kho bhikkhuniyo sāvatthiyaṁ vassaṁ upagatā, tāpi maṁ jānissanti—bhaddāli nāma bhikkhu satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī’ti. Ayampi kho te, bhaddāli, samayo appaṭividdho ahosi. Samayopi kho te, bhaddāli, appaṭividdho ahosi: ‘sambahulā kho upāsakā sāvatthiyaṁ paṭivasanti, tepi maṁ jānissanti—bhaddāli nāma bhikkhu satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī’ti. Ayampi kho te, bhaddāli, samayo appaṭividdho ahosi. Samayopi kho te, bhaddāli, appaṭividdho ahosi: ‘sambahulā kho upāsikā sāvatthiyaṁ paṭivasanti, tāpi maṁ jānissanti—bhaddāli nāma bhikkhu satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī’ti. Ayampi kho te, bhaddāli, samayo appaṭividdho ahosi.
Samayopi kho te, bhaddāli, appaṭividdho ahosi: ‘sambahulā kho nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā sāvatthiyaṁ vassaṁ upagatā, tepi maṁ jānissanti—bhaddāli nāma bhikkhu samaṇassa gotamassa sāvako theraññataro bhikkhu sāsane sikkhāya aparipūrakārī’ti. Ayampi kho te, bhaddāli, samayo appaṭividdho ahosī”ti.
“Indeed, Bhaddāli, you made a mistake. It was foolish, stupid, and unskillful of you that, as this rule was being laid down by the Buddha and the Saṅgha was undertaking it, you announced you would not attempt to keep it.
And you didn’t realize this situation: ‘The Buddha is staying in Sāvatthī, and he’ll know me as the mendicant named Bhaddāli who doesn’t fulfill the training according to the Teacher’s instructions.’
And you didn’t realize this situation: ‘Several monks have commenced the rains retreat in Sāvatthī … several nuns have commenced the rains retreat in Sāvatthī … several laymen reside in Sāvatthī … several laywomen reside in Sāvatthī, and they’ll know me as the mendicant named Bhaddāli who doesn’t fulfill the training according to the Teacher’s instructions. …
Several ascetics and brahmins who follow various other religions have commenced the rains retreat in Sāvatthī, and they’ll know me as the mendicant named Bhaddāli, one of the senior disciples of Gotama, who doesn’t fulfill the training according to the Teacher’s instructions.’ You also didn’t realize this situation.”
– Này Bhaddāli, quả thật vậy, lỗi lầm đã xâm chiếm ngươi, như kẻ ngu si, như kẻ mê muội, như kẻ bất thiện, vì khi Ta đang chế định học giới, khi Tăng chúng tỳ khưu đang thọ trì học giới, ngươi đã bày tỏ sự không nỗ lực. Và này Bhaddāli, ngươi đã không liễu tri được trường hợp này: – ‘Thế Tôn đang trú ở Sāvatthī, và Thế Tôn cũng sẽ biết về ta rằng: – “Vị tỳ khưu tên Bhaddāli là người không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.”’ Này Bhaddāli, đây cũng là trường hợp mà ngươi đã không liễu tri. Và này Bhaddāli, ngươi đã không liễu tri được trường hợp này: – ‘Nhiều vị tỳ khưu đã nhập hạ ở Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta rằng: – “Vị tỳ khưu tên Bhaddāli là người không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.”’ Này Bhaddāli, đây cũng là trường hợp mà ngươi đã không liễu tri. Và này Bhaddāli, ngươi đã không liễu tri được trường hợp này: – ‘Nhiều vị tỳ khưu ni đã nhập hạ ở Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta rằng: – “Vị tỳ khưu tên Bhaddāli là người không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.”’ Này Bhaddāli, đây cũng là trường hợp mà ngươi đã không liễu tri. Và này Bhaddāli, ngươi đã không liễu tri được trường hợp này: – ‘Nhiều vị cận sự nam đang cư ngụ ở Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta rằng: – “Vị tỳ khưu tên Bhaddāli là người không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.”’ Này Bhaddāli, đây cũng là trường hợp mà ngươi đã không liễu tri. Và này Bhaddāli, ngươi đã không liễu tri được trường hợp này: – ‘Nhiều vị cận sự nữ đang cư ngụ ở Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta rằng: – “Vị tỳ khưu tên Bhaddāli là người không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.”’ Này Bhaddāli, đây cũng là trường hợp mà ngươi đã không liễu tri. Và này Bhaddāli, ngươi đã không liễu tri được trường hợp này: – ‘Nhiều vị sa-môn, bà-la-môn thuộc các ngoại đạo đã nhập hạ ở Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta rằng: – “Vị tỳ khưu tên Bhaddāli, một đệ tử của sa-môn Gotama, một vị trưởng lão nào đó, là người không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp.”’ Này Bhaddāli, đây cũng là trường hợp mà ngươi đã không liễu tri.
“Accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yohaṁ bhagavatā sikkhāpade paññāpiyamāne bhikkhusaṅghe sikkhaṁ samādiyamāne anussāhaṁ pavedesiṁ. Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha tvaṁ, bhaddāli, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yaṁ tvaṁ mayā sikkhāpade paññāpiyamāne bhikkhusaṅghe sikkhaṁ samādiyamāne anussāhaṁ pavedesi.
“I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me that, as this rule was being laid down by the Buddha and the Saṅgha was undertaking it, I announced I would not attempt to keep it. Please, sir, accept my mistake for what it is, so I will restrain myself in future.”
“Indeed, Bhaddāli, you made a mistake. It was foolish, stupid, and unskillful of you that, as this rule was being laid down by the Buddha and the Saṅgha was undertaking it, you announced you would not attempt to keep it.
“Bạch ngài, lỗi lầm đã xâm chiếm con, do con ngu si, do con mê muội, do con bất thiện, khi Thế Tôn đang chế định học giới và chư tỳ-khưu Tăng đang thọ trì học giới, con đã tỏ ra không nhiệt tình. Bạch ngài, mong Thế Tôn vì con mà chấp nhận lỗi lầm này đúng như là lỗi lầm, để con được phòng hộ trong tương lai.” “Này Bhaddāli, quả thật lỗi lầm đã xâm chiếm ông, do ông ngu si, do ông mê muội, do ông bất thiện, khi ta đang chế định học giới và chư tỳ-khưu Tăng đang thọ trì học giới, ông đã tỏ ra không nhiệt tình.”
Taṁ kiṁ maññasi, bhaddāli, idhassa bhikkhu ubhatobhāgavimutto, tamahaṁ evaṁ vadeyyaṁ: ‘ehi me tvaṁ, bhikkhu, paṅke saṅkamo hohī’ti, api nu kho so saṅkameyya vā aññena vā kāyaṁ sannāmeyya, ‘no’ti vā vadeyyā”ti?
What do you think, Bhaddāli? Suppose I was to say this to a mendicant who is freed both ways: ‘Please, mendicant, be a bridge for me to cross over the mud.’ Would they cross over themselves, or struggle to get out of it, or just say no?”
136. “Này Bhaddāli, ông nghĩ thế nào về điều này? Giả sử ở đây có vị tỳ-khưu được giải thoát cả hai phần, ta nói với vị ấy như vầy: ‘Này tỳ-khưu, hãy đến đây, hãy làm cây cầu cho ta qua vũng lầy.’ Liệu vị ấy có bước qua, hoặc nghiêng mình qua một bên, hoặc nói ‘không’ chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch ngài, không thể được.”
“Taṁ kiṁ maññasi, bhaddāli, idhassa bhikkhu paññāvimutto … kāyasakkhi … diṭṭhippatto … saddhāvimutto … dhammānusārī … saddhānusārī, tamahaṁ evaṁ vadeyyaṁ: ‘ehi me tvaṁ, bhikkhu, paṅke saṅkamo hohī’ti, api nu kho so saṅkameyya vā aññena vā kāyaṁ sannāmeyya, ‘no’ti vā vadeyyā”ti?
“What do you think, Bhaddāli? Suppose I was to say the same thing to a mendicant who is freed by wisdom, or a direct witness, or attained to view, or freed by faith, or a follower of teachings, or a follower by faith: ‘Please, mendicant, be a bridge for me to cross over the mud.’ Would they cross over themselves, or struggle to get out of it, or just say no?”
“Này Bhaddāli, ông nghĩ thế nào về điều này? Giả sử ở đây có vị tỳ-khưu là bậc tuệ giải thoát... thân chứng... kiến đáo... tín giải thoát... tùy pháp hành... tùy tín hành, ta nói với vị ấy như vầy: ‘Này tỳ-khưu, hãy đến đây, hãy làm cây cầu cho ta qua vũng lầy.’ Liệu vị ấy có bước qua, hoặc nghiêng mình qua một bên, hoặc nói ‘không’ chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch ngài, không thể được.”
“Taṁ kiṁ maññasi, bhaddāli, api nu tvaṁ, bhaddāli, tasmiṁ samaye ubhatobhāgavimutto vā hosi paññāvimutto vā kāyasakkhi vā diṭṭhippatto vā saddhāvimutto vā dhammānusārī vā saddhānusārī vā”ti?
“What do you think, Bhaddāli? At that time were you freed both ways, freed by wisdom, a direct witness, attained to view, freed by faith, a follower of teachings, or a follower by faith?”
“Này Bhaddāli, ông nghĩ thế nào về điều này? Này Bhaddāli, vào lúc ấy, ông có phải là bậc giải thoát cả hai phần, hay tuệ giải thoát, hay thân chứng, hay kiến đáo, hay tín giải thoát, hay tùy pháp hành, hay tùy tín hành chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch ngài, không thể được.”
“Nanu tvaṁ, bhaddāli, tasmiṁ samaye ritto tuccho aparaddho”ti?
“Evaṁ, bhante.
“Weren’t you vacuous, hollow, and mistaken?”
“Yes, sir.
“Này Bhaddāli, chẳng phải vào lúc ấy ông đã trống rỗng, rỗng tuếch, và sai lầm sao?”
Accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yohaṁ bhagavatā sikkhāpade paññāpiyamāne bhikkhusaṅghe sikkhaṁ samādiyamāne anussāhaṁ pavedesiṁ. Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha tvaṁ, bhaddāli, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yaṁ tvaṁ mayā sikkhāpade paññāpiyamāne bhikkhusaṅghe sikkhaṁ samādiyamāne anussāhaṁ pavedesi. Yato ca kho tvaṁ, bhaddāli, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma. Vuddhihesā, bhaddāli, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti, āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjati.
Idha, bhaddāli, ekacco bhikkhu satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ vivittaṁ senāsanaṁ bhajeyyaṁ araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. Appeva nāmāhaṁ uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikareyyan’ti. So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
I made a mistake … Please, sir, accept my mistake for what it is, so I will restrain myself in future.”
“Indeed, Bhaddāli, you made a mistake. … But since you have recognized your mistake for what it is, and have dealt with it properly, I accept it. For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future.
Bhaddāli, take a mendicant who doesn’t fulfill the training according to the Teacher’s instructions. They think, ‘Why don’t I frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. Hopefully I’ll realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones.’ So they frequent a secluded lodging.
“Bạch ngài, đúng vậy. Bạch ngài, lỗi lầm đã xâm chiếm con, do con ngu si, do con mê muội, do con bất thiện, khi Thế Tôn đang chế định học giới và chư tỳ-khưu Tăng đang thọ trì học giới, con đã tỏ ra không nhiệt tình. Bạch ngài, mong Thế Tôn vì con mà chấp nhận lỗi lầm này đúng như là lỗi lầm, để con được phòng hộ trong tương lai.” “Này Bhaddāli, quả thật lỗi lầm đã xâm chiếm ông, do ông ngu si, do ông mê muội, do ông bất thiện, khi ta đang chế định học giới và chư tỳ-khưu Tăng đang thọ trì học giới, ông đã tỏ ra không nhiệt tình. Và này Bhaddāli, vì ông thấy lỗi lầm đúng là lỗi lầm và sám hối đúng pháp, nên chúng ta chấp nhận lỗi lầm ấy của ông. Này Bhaddāli, đây là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh, khi người nào thấy lỗi lầm đúng là lỗi lầm, sám hối đúng pháp, và đạt đến sự phòng hộ trong tương lai.”
137. “Này Bhaddāli, ở đây có vị tỳ-khưu không thực hành đầy đủ các học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư. Vị ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Thật tốt thay nếu ta tìm đến một trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang đá, động núi, nghĩa địa, vùng rừng sâu, ngoài trời, đống rơm. Có lẽ ta sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến đặc biệt của bậc Thánh.’ Vị ấy tìm đến một trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang đá, động núi, nghĩa địa, vùng rừng sâu, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống biệt lập như vậy, bậc Đạo Sư khiển trách, các vị đồng phạm hạnh có trí sau khi xem xét cũng khiển trách, chư thiên cũng khiển trách, và tự thân cũng tự khiển trách. Vị ấy, bị bậc Đạo Sư khiển trách, bị các vị đồng phạm hạnh có trí sau khi xem xét khiển trách, bị chư thiên khiển trách, và tự thân tự khiển trách, không chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến đặc biệt của bậc Thánh. Vì sao vậy? Này Bhaddāli, sự việc là như vậy đối với người không thực hành đầy đủ các học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư.”
Idha pana, bhaddāli, ekacco bhikkhu satthusāsane sikkhāya paripūrakārī hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ vivittaṁ senāsanaṁ bhajeyyaṁ araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. Appeva nāmāhaṁ uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikareyyan’ti. So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. Tassa tathāvūpakaṭṭhassa viharato satthāpi na upavadati, anuviccapi viññū sabrahmacārī na upavadanti, devatāpi na upavadanti, attāpi attānaṁ na upavadati. So satthārāpi anupavadito, anuviccapi viññūhi sabrahmacārīhi anupavadito, devatāhipi anupavadito, attanāpi attānaṁ anupavadito uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikaroti.
So vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Taṁ kissa hetu? Evañhi taṁ, bhaddāli, hoti yathā taṁ satthusāsane sikkhāya paripūrakārissa.
But take a mendicant who does fulfill the training according to the Teacher’s instructions. They think, ‘Why don’t I frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. Hopefully I’ll realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones.’ They frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. While they’re living withdrawn, they’re not reprimanded by the Teacher, by sensible spiritual companions after examination, by deities, or by themselves. Not being reprimanded in this way, they realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. Why is that? Because that’s what happens when someone fulfills the training according to the Teacher’s instructions.
138. “Mặt khác, này Bhaddāli, ở đây có vị tỳ-khưu thực hành đầy đủ các học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư. Vị ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Thật tốt thay nếu ta tìm đến một trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang đá, động núi, nghĩa địa, vùng rừng sâu, ngoài trời, đống rơm. Có lẽ ta sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến đặc biệt của bậc Thánh.’ Vị ấy tìm đến một trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang đá, động núi, nghĩa địa, vùng rừng sâu, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống biệt lập như vậy, bậc Đạo Sư không khiển trách, các vị đồng phạm hạnh có trí sau khi xem xét cũng không khiển trách, chư thiên cũng không khiển trách, và tự thân cũng không tự khiển trách. Vị ấy, không bị bậc Đạo Sư khiển trách, không bị các vị đồng phạm hạnh có trí sau khi xem xét khiển trách, không bị chư thiên khiển trách, và tự thân không tự khiển trách, chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến đặc biệt của bậc Thánh. Vị ấy ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ. Vì sao vậy? Này Bhaddāli, sự việc là như vậy đối với người thực hành đầy đủ các học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư.”
Puna caparaṁ, bhaddāli, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Taṁ kissa hetu? Evañhi taṁ, bhaddāli, hoti yathā taṁ satthusāsane sikkhāya paripūrakārissa.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. Why is that? Because that’s what happens when someone fulfills the training according to the Teacher’s instructions.
139. Này Bhaddāli, lại nữa, vị tỳ khưu sau khi làm cho lắng dịu tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vì sao vậy? Này Bhaddāli, đối với người thực hành đầy đủ học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư thì sự việc là như vậy.
Puna caparaṁ, bhaddāli, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Taṁ kissa hetu? Evañhi taṁ, bhaddāli, hoti yathā taṁ satthusāsane sikkhāya paripūrakārissa.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ Why is that? Because that’s what happens when someone fulfills the training according to the Teacher’s instructions.
Này Bhaddāli, lại nữa, vị tỳ khưu do ly hỷ nên trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm nhận sự an lạc, chứng và trú thiền thứ ba, là tầng thiền mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’. Vì sao vậy? Này Bhaddāli, đối với người thực hành đầy đủ học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư thì sự việc là như vậy.
Puna caparaṁ, bhaddāli, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Taṁ kissa hetu? Evañhi taṁ, bhaddāli, hoti yathā taṁ satthusāsane sikkhāya paripūrakārissa.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. Why is that? Because that’s what happens when someone fulfills the training according to the Teacher’s instructions.
Này Bhaddāli, lại nữa, vị tỳ khưu do xả lạc, xả khổ, và do các hỷ ưu đã được chấm dứt từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vì sao vậy? Này Bhaddāli, đối với người thực hành đầy đủ học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư thì sự việc là như vậy.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Taṁ kissa hetu? Evañhi taṁ, bhaddāli, hoti yathā taṁ satthusāsane sikkhāya paripūrakārissa.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives, that is, one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. … They recollect their many kinds of past lives, with features and details. Why is that? Because that’s what happens when someone fulfills the training according to the Teacher’s instructions.
Với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, cụ thể là một đời, hai đời... cho đến... như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. Vì sao vậy? Này Bhaddāli, đối với người thực hành đầy đủ học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư thì sự việc là như vậy.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā …pe… vinipātaṁ nirayaṁ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā …pe… sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajānāti. Taṁ kissa hetu? Evañhi taṁ, bhaddāli, hoti yathā taṁ satthusāsane sikkhāya paripūrakārissa.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. … they’re reborn in the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. … they’re reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman … they understand how sentient beings pass on according to their deeds. Why is that? Because that’s what happens when someone fulfills the training according to the Teacher’s instructions.
Với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến thiên nhãn minh. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh chết đi, sanh lại, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, may mắn, bất hạnh; vị ấy hiểu rõ chúng sanh đi theo nghiệp của mình: ‘Thật vậy, các chúng sanh này đã làm các ác hạnh về thân... cho đến... sau khi chết, họ sanh vào cõi dữ, đọa xứ, địa ngục. Còn các chúng sanh này đã làm các thiện hạnh về thân... cho đến... họ sanh vào cõi lành, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân... cho đến... vị ấy hiểu rõ chúng sanh đi theo nghiệp của mình. Vì sao vậy? Này Bhaddāli, đối với người thực hành đầy đủ học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư thì sự việc là như vậy.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Taṁ kissa hetu? Evañhi taṁ, bhaddāli, hoti yathā taṁ satthusāsane sikkhāya paripūrakārissā”ti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ Why is that? Because that’s what happens when someone fulfills the training according to the Teacher’s instructions.”
Với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận minh. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là khổ,’ biết như thật: ‘Đây là khổ tập,’ biết như thật: ‘Đây là khổ diệt,’ biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Vị ấy biết như thật: ‘Đây là các lậu hoặc,’ biết như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc,’ biết như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc,’ biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc.’ Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm của vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu. Khi đã giải thoát, khởi lên trí tuệ biết rằng: ‘Ta đã giải thoát.’ Vị ấy biết: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Vì sao vậy? Này Bhaddāli, đối với người thực hành đầy đủ học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư thì sự việc là như vậy.
Evaṁ vutte, āyasmā bhaddāli bhagavantaṁ etadavoca: “ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo yena midhekaccaṁ bhikkhuṁ pasayha pasayha kāraṇaṁ karonti? Ko pana, bhante, hetu, ko paccayo yena midhekaccaṁ bhikkhuṁ no tathā pasayha pasayha kāraṇaṁ karontī”ti?
“Idha, bhaddāli, ekacco bhikkhu abhiṇhāpattiko hoti āpattibahulo. So bhikkhūhi vuccamāno aññenaññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti, na sammā vattati, na lomaṁ pāteti, na netthāraṁ vattati, ‘yena saṅgho attamano hoti taṁ karomī’ti nāha. Tatra, bhaddāli, bhikkhūnaṁ evaṁ hoti: ‘ayaṁ kho, āvuso, bhikkhu abhiṇhāpattiko āpattibahulo. So bhikkhūhi vuccamāno aññenaññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti, na sammā vattati, na lomaṁ pāteti, na netthāraṁ vattati, “yena saṅgho attamano hoti taṁ karomī”ti nāha. Sādhu vatāyasmanto imassa bhikkhuno tathā tathā upaparikkhatha yathāssidaṁ adhikaraṇaṁ na khippameva vūpasameyyā’ti. Tassa kho evaṁ, bhaddāli, bhikkhuno bhikkhū tathā tathā upaparikkhanti yathāssidaṁ adhikaraṇaṁ na khippameva vūpasammati.
When he said this, Venerable Bhaddāli said to the Buddha, “What is the cause, sir, what is the reason why they punish some monk, repeatedly pressuring him? And what is the cause, what is the reason why they don’t similarly punish another monk, repeatedly pressuring him?”
“Take a monk who is a frequent offender with many offenses. When admonished by the monks, he dodges the issue, distracting the discussion with irrelevant points. He displays annoyance, hate, and bitterness. He doesn’t proceed properly, he doesn’t fall in line, he doesn’t proceed to get past it, and he doesn’t say: ‘I’ll do what pleases the Saṅgha.’ In such a case, the monks say: ‘Reverends, this monk is a frequent offender, with many offenses. When admonished by the monks, he dodges the issue, distracting the discussion with irrelevant points. He displays annoyance, hate, and bitterness. He doesn’t proceed properly, he doesn’t fall in line, he doesn’t proceed to get past it, and he doesn’t say: “I’ll do what pleases the Saṅgha.” It’d be good for the venerables to examine this monk in such a way that this disciplinary issue is not quickly settled.’ And that’s what they do.
140. Khi được nói như vậy, Tôn giả Bhaddāli bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì mà ở đây có một số tỳ khưu bị xử phạt một cách cưỡng ép, áp bức? Và bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì mà ở đây có một số tỳ khưu không bị xử phạt một cách cưỡng ép, áp bức như vậy?’ ‘Này Bhaddāli, ở đây, có tỳ khưu thường xuyên phạm giới, phạm nhiều giới. Khi được các tỳ khưu khác nhắc nhở, vị ấy lại dùng chuyện này để che đậy chuyện khác, hướng câu chuyện ra ngoài, biểu lộ sự tức giận, sân hận, và bất mãn; không hành xử đúng đắn, không nhún mình, không sửa đổi, không nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều mà Tăng chúng hài lòng.’ Này Bhaddāli, trong trường hợp đó, các tỳ khưu có suy nghĩ như sau: ‘Thưa các hiền giả, vị tỳ khưu này thường xuyên phạm giới, phạm nhiều giới. Khi được các tỳ khưu khác nhắc nhở, vị ấy lại dùng chuyện này để che đậy chuyện khác, hướng câu chuyện ra ngoài, biểu lộ sự tức giận, sân hận, và bất mãn; không hành xử đúng đắn, không nhún mình, không sửa đổi, không nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều mà Tăng chúng hài lòng.’ Vậy thì, thưa các Tôn giả, mong quý vị hãy xem xét trường hợp của vị tỳ khưu này theo cách nào đó để cho vụ tranh tụng này không được dàn xếp một cách nhanh chóng.’ Này Bhaddāli, đối với vị tỳ khưu như vậy, các tỳ khưu xem xét theo cách nào đó để cho vụ tranh tụng này không được dàn xếp một cách nhanh chóng.
Idha pana, bhaddāli, ekacco bhikkhu abhiṇhāpattiko hoti āpattibahulo. So bhikkhūhi vuccamāno nāññenaññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ na apanāmeti, na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti, sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, ‘yena saṅgho attamano hoti taṁ karomī’ti āha. Tatra, bhaddāli, bhikkhūnaṁ evaṁ hoti: ‘ayaṁ kho, āvuso, bhikkhu abhiṇhāpattiko āpattibahulo. So bhikkhūhi vuccamāno nāññenaññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ na apanāmeti, na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti, sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, “yena saṅgho attamano hoti taṁ karomī”ti āha. Sādhu vatāyasmanto, imassa bhikkhuno tathā tathā upaparikkhatha yathāssidaṁ adhikaraṇaṁ khippameva vūpasameyyā’ti. Tassa kho evaṁ, bhaddāli, bhikkhuno bhikkhū tathā tathā upaparikkhanti yathāssidaṁ adhikaraṇaṁ khippameva vūpasammati.
Take some other monk who is a frequent offender with many offenses. When admonished by the monks, he doesn’t dodge the issue, distracting the discussion with irrelevant points. He doesn’t display annoyance, hate, and bitterness. He proceeds properly, he falls in line, he proceeds to get past it, and he says: ‘I’ll do what pleases the Saṅgha.’ In such a case, the monks say: ‘Reverends, this monk is a frequent offender, with many offenses. When admonished by the monks, he doesn’t dodge the issue, distracting the discussion with irrelevant points. He doesn’t display annoyance, hate, and bitterness. He proceeds properly, he falls in line, he proceeds to get past it, and he says: “I’ll do what pleases the Saṅgha.” It’d be good for the venerables to examine this monk in such a way that this disciplinary issue is quickly settled.’ And that’s what they do.
141. “Này Bhaddāli, lại nữa, ở đây có tỳ khưu thường xuyên phạm tội, phạm nhiều tội. Vị ấy khi được các tỳ khưu khiển trách thì không dùng chuyện này để che đậy chuyện khác, không hướng câu chuyện ra ngoài, không biểu lộ sự tức giận, sân hận, và không hài lòng; vị ấy hành xử đúng đắn, hạ mình, thực hành con đường thoát khỏi, và nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến cho Tăng chúng hài lòng.’ Này Bhaddāli, trong trường hợp đó, các tỳ khưu suy nghĩ như sau: ‘Thưa chư hiền, vị tỳ khưu này thường xuyên phạm tội, phạm nhiều tội. Khi được các tỳ khưu khiển trách, vị ấy không dùng chuyện này để che đậy chuyện khác, không hướng câu chuyện ra ngoài, không biểu lộ sự tức giận, sân hận, và không hài lòng; vị ấy hành xử đúng đắn, hạ mình, thực hành con đường thoát khỏi, và nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến cho Tăng chúng hài lòng.’ Thưa các ngài, thật tốt thay, mong các ngài hãy xem xét trường hợp của vị tỳ khưu này theo cách nào đó để sự việc này được giải quyết nhanh chóng.’ Này Bhaddāli, đối với vị tỳ khưu như vậy, các vị tỳ khưu xem xét theo cách nào đó để sự việc này được giải quyết nhanh chóng.”
Idha, bhaddāli, ekacco bhikkhu adhiccāpattiko hoti anāpattibahulo. So bhikkhūhi vuccamāno aññenaññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti, na sammā vattati, na lomaṁ pāteti, na netthāraṁ vattati, ‘yena saṅgho attamano hoti taṁ karomī’ti nāha. Tatra, bhaddāli, bhikkhūnaṁ evaṁ hoti: ‘ayaṁ kho, āvuso, bhikkhu adhiccāpattiko anāpattibahulo. So bhikkhūhi vuccamāno aññenaññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti, na sammā vattati, na lomaṁ pāteti, na netthāraṁ vattati, “yena saṅgho attamano hoti taṁ karomī”ti nāha. Sādhu vatāyasmanto, imassa bhikkhuno tathā tathā upaparikkhatha yathāssidaṁ adhikaraṇaṁ na khippameva vūpasameyyā’ti. Tassa kho evaṁ, bhaddāli, bhikkhuno bhikkhū tathā tathā upaparikkhanti yathāssidaṁ adhikaraṇaṁ na khippameva vūpasammati.
Take some other monk who is an occasional offender without many offenses. When admonished by the monks, he dodges the issue … In such a case, the monks say: ‘Reverends, this monk is an occasional offender without many offenses. When admonished by the monks, he dodges the issue … It’d be good for the venerables to examine this monk in such a way that this disciplinary issue is not quickly settled.’ And that’s what they do.
142. “Này Bhaddāli, ở đây có tỳ khưu thỉnh thoảng phạm tội, không phạm nhiều tội. Vị ấy khi được các tỳ khưu khiển trách thì dùng chuyện này để che đậy chuyện khác, hướng câu chuyện ra ngoài, biểu lộ sự tức giận, sân hận, và không hài lòng; vị ấy không hành xử đúng đắn, không hạ mình, không thực hành con đường thoát khỏi, và không nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến cho Tăng chúng hài lòng.’ Này Bhaddāli, trong trường hợp đó, các tỳ khưu suy nghĩ như sau: ‘Thưa chư hiền, vị tỳ khưu này thỉnh thoảng phạm tội, không phạm nhiều tội. Khi được các tỳ khưu khiển trách, vị ấy dùng chuyện này để che đậy chuyện khác, hướng câu chuyện ra ngoài, biểu lộ sự tức giận, sân hận, và không hài lòng; vị ấy không hành xử đúng đắn, không hạ mình, không thực hành con đường thoát khỏi, và không nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến cho Tăng chúng hài lòng.’ Thưa các ngài, thật tốt thay, mong các ngài hãy xem xét trường hợp của vị tỳ khưu này theo cách nào đó để sự việc này không được giải quyết nhanh chóng.’ Này Bhaddāli, đối với vị tỳ khưu như vậy, các vị tỳ khưu xem xét theo cách nào đó để sự việc này không được giải quyết nhanh chóng.”
Idha pana, bhaddāli, ekacco bhikkhu adhiccāpattiko hoti anāpattibahulo. So bhikkhūhi vuccamāno nāññenaññaṁ paṭicarati, na bahiddhā kathaṁ apanāmeti, na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti, sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, ‘yena saṅgho attamano hoti taṁ karomī’ti āha. Tatra, bhaddāli, bhikkhūnaṁ evaṁ hoti: ‘ayaṁ kho, āvuso, bhikkhu adhiccāpattiko anāpattibahulo. So bhikkhūhi vuccamāno nāññenaññaṁ paṭicarati, na bahiddhā kathaṁ apanāmeti, na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti, sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, “yena saṅgho attamano hoti taṁ karomī”ti āha. Sādhu vatāyasmanto, imassa bhikkhuno tathā tathā upaparikkhatha yathāssidaṁ adhikaraṇaṁ khippameva vūpasameyyā’ti. Tassa kho evaṁ, bhaddāli, bhikkhuno bhikkhū tathā tathā upaparikkhanti yathāssidaṁ adhikaraṇaṁ khippameva vūpasammati.
Take some other monk who is an occasional offender without many offenses. When admonished by the monks, he doesn’t dodge the issue … In such a case, the monks say: ‘Reverends, this monk is an occasional offender without many offenses. When admonished by the monks, he doesn’t dodge the issue … It’d be good for the venerables to examine this monk in such a way that this disciplinary issue is quickly settled.’ And that’s what they do.
143. “Này Bhaddāli, lại nữa, ở đây có tỳ khưu thỉnh thoảng phạm tội, không phạm nhiều tội. Vị ấy khi được các tỳ khưu khiển trách thì không dùng chuyện này để che đậy chuyện khác, không hướng câu chuyện ra ngoài, không biểu lộ sự tức giận, sân hận, và không hài lòng; vị ấy hành xử đúng đắn, hạ mình, thực hành con đường thoát khỏi, và nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến cho Tăng chúng hài lòng.’ Này Bhaddāli, trong trường hợp đó, các tỳ khưu suy nghĩ như sau: ‘Thưa chư hiền, vị tỳ khưu này thỉnh thoảng phạm tội, không phạm nhiều tội. Khi được các tỳ khưu khiển trách, vị ấy không dùng chuyện này để che đậy chuyện khác, không hướng câu chuyện ra ngoài, không biểu lộ sự tức giận, sân hận, và không hài lòng; vị ấy hành xử đúng đắn, hạ mình, thực hành con đường thoát khỏi, và nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến cho Tăng chúng hài lòng.’ Thưa các ngài, thật tốt thay, mong các ngài hãy xem xét trường hợp của vị tỳ khưu này theo cách nào đó để sự việc này được giải quyết nhanh chóng.’ Này Bhaddāli, đối với vị tỳ khưu như vậy, các vị tỳ khưu xem xét theo cách nào đó để sự việc này được giải quyết nhanh chóng.”
Idha, bhaddāli, ekacco bhikkhu saddhāmattakena vahati pemamattakena. Tatra, bhaddāli, bhikkhūnaṁ evaṁ hoti: ‘ayaṁ kho, āvuso, bhikkhu saddhāmattakena vahati pemamattakena. Sace mayaṁ imaṁ bhikkhuṁ pasayha pasayha kāraṇaṁ karissāma—mā yampissa taṁ saddhāmattakaṁ pemamattakaṁ tamhāpi parihāyī’ti.
Seyyathāpi, bhaddāli, purisassa ekaṁ cakkhuṁ, tassa mittāmaccā ñātisālohitā taṁ ekaṁ cakkhuṁ rakkheyyuṁ: ‘mā yampissa taṁ ekaṁ cakkhuṁ tamhāpi parihāyī’ti; evameva kho, bhaddāli, idhekacco bhikkhu saddhāmattakena vahati pemamattakena. Tatra, bhaddāli, bhikkhūnaṁ evaṁ hoti: ‘ayaṁ kho, āvuso, bhikkhu saddhāmattakena vahati pemamattakena. Sace mayaṁ imaṁ bhikkhuṁ pasayha pasayha kāraṇaṁ karissāma—mā yampissa taṁ saddhāmattakaṁ pemamattakaṁ tamhāpi parihāyī’ti. Ayaṁ kho, bhaddāli, hetu ayaṁ paccayo yena midhekaccaṁ bhikkhuṁ pasayha pasayha kāraṇaṁ karonti. Ayaṁ pana, bhaddāli, hetu ayaṁ paccayo, yena midhekaccaṁ bhikkhuṁ no tathā pasayha pasayha kāraṇaṁ karontī”ti.
Take some other monk who gets by with mere faith and fondness. In such a case, the monks say: ‘Reverends, this monk gets by with mere faith and fondness. Suppose we punish him, repeatedly pressuring him—no, let him not lose what little faith and fondness he has!’
Suppose there was a person with one eye. Their friends and colleagues, relatives and kin would protect that one eye: ‘Let them not lose the one eye that they have!’ In the same way, some monk gets by with mere faith and fondness. In such a case, the monks say: ‘Reverends, this monk gets by with mere faith and fondness. Suppose we punish him, repeatedly pressuring him—no, let him not lose what little faith and love he has!’ This is the cause, this is the reason why they punish some monk, repeatedly pressuring him. And this is the cause, this is the reason why they don’t similarly punish another monk, repeatedly pressuring him.”
144. “Này Bhaddāli, ở đây có tỳ khưu chỉ nương vào đức tin, chỉ nương vào tình thương mà tu tập. Này Bhaddāli, trong trường hợp đó, các tỳ khưu suy nghĩ như sau: ‘Thưa chư hiền, vị tỳ khưu này chỉ nương vào đức tin, chỉ nương vào tình thương mà tu tập. Nếu chúng ta xử lý vị tỳ khưu này một cách cưỡng ép, hà khắc, thì e rằng chút đức tin và tình thương mà vị ấy có cũng sẽ bị mất đi.’ Này Bhaddāli, ví như một người chỉ có một con mắt, bạn bè, người thân và quyến thuộc của người ấy sẽ bảo vệ con mắt duy nhất đó, nghĩ rằng: ‘Mong rằng con mắt duy nhất mà người ấy có sẽ không bị mất đi.’ Cũng vậy, này Bhaddāli, ở đây có tỳ khưu chỉ nương vào đức tin, chỉ nương vào tình thương mà tu tập. Này Bhaddāli, trong trường hợp đó, các tỳ khưu suy nghĩ như sau: ‘Thưa chư hiền, vị tỳ khưu này chỉ nương vào đức tin, chỉ nương vào tình thương mà tu tập. Nếu chúng ta xử lý vị tỳ khưu này một cách cưỡng ép, hà khắc, thì e rằng chút đức tin và tình thương mà vị ấy có cũng sẽ bị mất đi.’ Này Bhaddāli, đây là nguyên nhân, đây là duyên cớ mà ở đây, đối với một số tỳ khưu, người ta phải xử lý một cách cưỡng ép, hà khắc. Và này Bhaddāli, đây là nguyên nhân, đây là duyên cớ mà ở đây, đối với một số tỳ khưu, người ta không xử lý một cách cưỡng ép, hà khắc như vậy.”
“Ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo yena pubbe appatarāni ceva sikkhāpadāni ahesuṁ bahutarā ca bhikkhū aññāya saṇṭhahiṁsu? Ko pana, bhante, hetu, ko paccayo yena etarahi bahutarāni ceva sikkhāpadāni honti appatarā ca bhikkhū aññāya saṇṭhahantī”ti?
“Evametaṁ, bhaddāli, hoti sattesu hāyamānesu, saddhamme antaradhāyamāne, bahutarāni ceva sikkhāpadāni honti appatarā ca bhikkhū aññāya saṇṭhahantīti. Na tāva, bhaddāli, satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññāpeti yāva na idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti. Yato ca kho, bhaddāli, idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, atha satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññāpeti tesaṁyeva āsavaṭṭhānīyānaṁ dhammānaṁ paṭighātāya.
Na tāva, bhaddāli, idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti yāva na saṅgho mahattaṁ patto hoti. Yato ca kho, bhaddāli, saṅgho mahattaṁ patto hoti, atha idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti. Atha satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññāpeti tesaṁyeva āsavaṭṭhānīyānaṁ dhammānaṁ paṭighātāya. Na tāva, bhaddāli, idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti yāva na saṅgho lābhaggaṁ patto hoti, yasaggaṁ patto hoti, bāhusaccaṁ patto hoti, rattaññutaṁ patto hoti. Yato ca kho, bhaddāli, saṅgho rattaññutaṁ patto hoti, atha idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, atha satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññāpeti tesaṁyeva āsavaṭṭhānīyānaṁ dhammānaṁ paṭighātāya.
“What is the cause, sir, what is the reason why there used to be fewer training rules but more enlightened mendicants? And what is the cause, what is the reason why these days there are more training rules and fewer enlightened mendicants?”
“That’s how it is, Bhaddāli. When sentient beings are in decline and the true teaching is disappearing there are more training rules and fewer enlightened mendicants. The Teacher does not lay down training rules for disciples as long as certain defiling influences have not appeared in the Saṅgha. But when such defiling influences appear in the Saṅgha, the Teacher lays down training rules for disciples to protect against them.
And they don’t appear until the Saṅgha has attained a great size, an abundance of material support and fame, learning, and seniority. But when the Saṅgha has attained these things, then such defiling influences appear in the Saṅgha, and the Teacher lays down training rules for disciples to protect against them.
145. “Bạch ngài, do nhân gì, do duyên gì mà thuở xưa các học giới thì ít hơn mà các vị tỳ khưu an trú trong thắng trí lại nhiều hơn? Bạch ngài, do nhân gì, do duyên gì mà ngày nay các học giới thì nhiều hơn mà các vị tỳ khưu an trú trong thắng trí lại ít hơn?” “Này Bhaddāli, sự việc là như vậy. Khi các chúng sanh đang suy thoái, khi diệu pháp đang biến mất, thì các học giới trở nên nhiều hơn và các vị tỳ khưu an trú trong thắng trí lại ít hơn. Này Bhaddāli, bậc Đạo Sư chưa chế định học giới cho các đệ tử cho đến khi nào một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc chưa khởi lên trong Tăng chúng. Và này Bhaddāli, khi nào một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc khởi lên trong Tăng chúng, bấy giờ bậc Đạo Sư chế định học giới cho các đệ tử để ngăn trừ chính các pháp là cơ sở của các lậu hoặc ấy. Này Bhaddāli, một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc chưa khởi lên trong Tăng chúng cho đến khi nào Tăng chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh. Và này Bhaddāli, khi nào Tăng chúng đạt đến sự lớn mạnh, bấy giờ một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc khởi lên trong Tăng chúng. Bấy giờ bậc Đạo Sư chế định học giới cho các đệ tử để ngăn trừ chính các pháp là cơ sở của các lậu hoặc ấy. Này Bhaddāli, một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc chưa khởi lên trong Tăng chúng cho đến khi nào Tăng chúng chưa đạt đến lợi lộc tối thượng, chưa đạt đến danh vọng tối thượng, chưa đạt đến sự đa văn, chưa đạt đến sự lão luyện. Và này Bhaddāli, khi nào Tăng chúng đạt đến sự lão luyện, bấy giờ một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc khởi lên trong Tăng chúng, bấy giờ bậc Đạo Sư chế định học giới cho các đệ tử để ngăn trừ chính các pháp là cơ sở của các lậu hoặc ấy.”
Appakā kho tumhe, bhaddāli, tena samayena ahuvattha yadā vo ahaṁ ājānīyasusūpamaṁ dhammapariyāyaṁ desesiṁ. Taṁ sarasi bhaddālī”ti?
There were only a few of you there at the time when I taught the exposition on the simile of the thoroughbred colt. Do you remember that, Bhaddāli?”
146. “Này Bhaddāli, vào thời điểm ấy, khi ta thuyết giảng bài pháp ví dụ con ngựa nòi non trẻ cho các ngươi, các ngươi chỉ có số ít. Này Bhaddāli, ngươi có nhớ bài pháp ấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch ngài, con không nhớ.”
“Tatra, bhaddāli, kaṁ hetuṁ paccesī”ti?
“What do you believe the reason for that is?”
“Này Bhaddāli, về việc ấy, ngươi tin là do nhân gì?”
“So hi nūnāhaṁ, bhante, dīgharattaṁ satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī ahosin”ti.
“Sir, it’s surely because for a long time now I haven’t fulfilled the training according to the Teacher’s instructions.”
“Bạch ngài, chắc chắn là vì trong một thời gian dài, con đã là người không thực hành trọn vẹn các học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư.”
“Na kho, bhaddāli, eseva hetu, esa paccayo. Api ca me tvaṁ, bhaddāli, dīgharattaṁ cetasā cetoparicca vidito: ‘na cāyaṁ moghapuriso mayā dhamme desiyamāne aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetaso samannāharitvā ohitasoto dhammaṁ suṇātī’ti. Api ca te ahaṁ, bhaddāli, ājānīyasusūpamaṁ dhammapariyāyaṁ desessāmi. Taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā bhaddāli bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“That’s not the only reason, Bhaddāli. Rather, for a long time I have encompassed your mind and known: ‘While I’m teaching, this futile man doesn’t pay attention, apply the mind, concentrate wholeheartedly, or actively listen to the teaching.’ Still, Bhaddāli, I shall teach the exposition on the simile of the thoroughbred colt. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Bhaddāli replied. The Buddha said this:
“Này Bhaddāli, không phải chỉ có nhân ấy, chỉ có duyên ấy. Hơn nữa, này Bhaddāli, trong một thời gian dài, ngươi đã được ta biết đến qua việc ta dùng tâm của ta để thấu suốt tâm của ngươi rằng: ‘Người rỗng tuếch này, khi ta đang thuyết pháp, đã không chú tâm, không tác ý, không hướng tâm một cách trọn vẹn, không lắng tai nghe pháp.’ Tuy nhiên, này Bhaddāli, ta sẽ thuyết giảng cho ngươi bài pháp ví dụ con ngựa nòi non trẻ. Ngươi hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; ta sẽ nói.” “Bạch ngài, vâng ạ.” Tôn giả Bhaddāli đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Seyyathāpi, bhaddāli, dakkho assadamako bhadraṁ assājānīyaṁ labhitvā paṭhameneva mukhādhāne kāraṇaṁ kāreti. Tassa mukhādhāne kāraṇaṁ kāriyamānassa hontiyeva visūkāyitāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici, yathā taṁ akāritapubbaṁ kāraṇaṁ kāriyamānassa. So abhiṇhakāraṇā anupubbakāraṇā tasmiṁ ṭhāne parinibbāyati.
Yato kho, bhaddāli, bhadro assājānīyo abhiṇhakāraṇā anupubbakāraṇā tasmiṁ ṭhāne parinibbuto hoti, tamenaṁ assadamako uttari kāraṇaṁ kāreti yugādhāne. Tassa yugādhāne kāraṇaṁ kāriyamānassa hontiyeva visūkāyitāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici, yathā taṁ akāritapubbaṁ kāraṇaṁ kāriyamānassa. So abhiṇhakāraṇā anupubbakāraṇā tasmiṁ ṭhāne parinibbāyati.
Yato kho, bhaddāli, bhadro assājānīyo abhiṇhakāraṇā anupubbakāraṇā tasmiṁ ṭhāne parinibbuto hoti, tamenaṁ assadamako uttari kāraṇaṁ kāreti anukkame maṇḍale khurakāse dhāve davatte rājaguṇe rājavaṁse uttame jave uttame haye uttame sākhalye. Tassa uttame jave uttame haye uttame sākhalye kāraṇaṁ kāriyamānassa hontiyeva visūkāyitāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici, yathā taṁ akāritapubbaṁ kāraṇaṁ kāriyamānassa. So abhiṇhakāraṇā anupubbakāraṇā tasmiṁ ṭhāne parinibbāyati.
Yato kho, bhaddāli, bhadro assājānīyo abhiṇhakāraṇā anupubbakāraṇā tasmiṁ ṭhāne parinibbuto hoti, tamenaṁ assadamako uttari vaṇṇiyañca pāṇiyañca anuppavecchati. Imehi kho, bhaddāli, dasahaṅgehi samannāgato bhadro assājānīyo rājāraho hoti rājabhoggo rañño aṅganteva saṅkhyaṁ gacchati.
“Suppose a deft horse trainer were to obtain a fine thoroughbred. First of all he’d make it get used to wearing the bit. Because it has not done this before, it still resorts to some twists, ducks, and dodges. But with regular and gradual practice its bad behavior is extinguished.
When it has done this, the horse trainer next makes it get used to wearing the harness. Because it has not done this before, it still resorts to some twists, ducks, and dodges. But with regular and gradual practice its bad behavior is extinguished.
When it has done this, the horse trainer next makes it get used to walking in procession, circling, prancing, galloping, charging, the protocols and customs of court, and in the very best speed, fleetness, and camaraderie. Because it has not done this before, it still resorts to some twists, ducks, and dodges. But with regular and gradual practice its bad behavior is extinguished.
When it has done this, the horse trainer next rewards it with a grooming and a rub down. A fine royal thoroughbred with these ten factors is worthy of a king, fit to serve a king, and reckoned as a factor of kingship.
147. “Này Bhaddāli, ví như một người luyện ngựa thiện xảo, sau khi nhận được một con ngựa nòi thuần chủng, trước tiên liền cho nó thực hành việc đeo hàm thiếc. Trong khi được cho thực hành việc đeo hàm thiếc, con ngựa ấy có những sự giãy giụa, chống cự, và vùng vẫy nào đó, giống như một con vật đang được cho thực hành một việc chưa từng được thực hành trước đây. Nhờ sự thực hành thường xuyên, nhờ sự thực hành tuần tự, nó trở nên thuần thục ở công đoạn ấy. Này Bhaddāli, khi con ngựa nòi thuần chủng, nhờ sự thực hành thường xuyên, nhờ sự thực hành tuần tự, đã trở nên thuần thục ở công đoạn ấy, người luyện ngựa liền cho nó thực hành thêm việc đeo ách. Trong khi được cho thực hành việc đeo ách, con ngựa ấy có những sự giãy giụa, chống cự, và vùng vẫy nào đó, giống như một con vật đang được cho thực hành một việc chưa từng được thực hành trước đây. Nhờ sự thực hành thường xuyên, nhờ sự thực hành tuần tự, nó trở nên thuần thục ở công đoạn ấy. Này Bhaddāli, khi con ngựa nòi thuần chủng, nhờ sự thực hành thường xuyên, nhờ sự thực hành tuần tự, đã trở nên thuần thục ở công đoạn ấy, người luyện ngựa liền cho nó thực hành thêm về các bước đi, đi vòng tròn, đi bằng móng, phi nước đại, chạy nhảy, các phẩm chất của ngựa vua, dòng dõi ngựa vua, tốc độ tối thượng, sức mạnh tối thượng, và sự hiền hòa tối thượng. Trong khi được cho thực hành về tốc độ tối thượng, sức mạnh tối thượng, và sự hiền hòa tối thượng, con ngựa ấy có những sự giãy giụa, chống cự, và vùng vẫy nào đó, giống như một con vật đang được cho thực hành một việc chưa từng được thực hành trước đây. Nhờ sự thực hành thường xuyên, nhờ sự thực hành tuần tự, nó trở nên thuần thục ở công đoạn ấy. Này Bhaddāli, khi con ngựa nòi thuần chủng, nhờ sự thực hành thường xuyên, nhờ sự thực hành tuần tự, đã trở nên thuần thục ở công đoạn ấy, người luyện ngựa liền cho nó ăn thêm thức ăn và nước uống xứng đáng. Này Bhaddāli, con ngựa nòi thuần chủng, sau khi được trang bị mười phẩm chất này, trở nên xứng đáng với đức vua, đáng cho đức vua sử dụng, và được xem như là một phần của đức vua.”
Evameva kho, bhaddāli, dasahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi dasahi? Idha, bhaddāli, bhikkhu asekhāya sammādiṭṭhiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsaṅkappena samannāgato hoti, asekhāya sammāvācāya samannāgato hoti, asekhena sammākammantena samannāgato hoti, asekhena sammāājīvena samannāgato hoti, asekhena sammāvāyāmena samannāgato hoti, asekhāya sammāsatiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsamādhinā samannāgato hoti, asekhena sammāñāṇena samannāgato hoti, asekhāya sammāvimuttiyā samannāgato hoti—imehi kho, bhaddāli, dasahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
In the same way, a mendicant with ten qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What ten? It’s when a mendicant has an adept’s right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom. A mendicant with these ten qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.”
Này Bhaddāli, cũng tương tự như thế, vị tỳ khưu đã thành tựu mười pháp là người đáng được cúng dường, đáng được nghênh đón, đáng được dâng tặng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng của thế gian. Mười pháp ấy là gì? Này Bhaddāli, ở đây, vị tỳ khưu đã thành tựu chánh kiến vô học, đã thành tựu chánh tư duy vô học, đã thành tựu chánh ngữ vô học, đã thành tựu chánh nghiệp vô học, đã thành tựu chánh mạng vô học, đã thành tựu chánh tinh tấn vô học, đã thành tựu chánh niệm vô học, đã thành tựu chánh định vô học, đã thành tựu chánh trí vô học, đã thành tựu chánh giải thoát vô học. Này Bhaddāli, vị tỳ khưu đã thành tựu mười pháp này là người đáng được cúng dường, đáng được nghênh đón, đáng được dâng tặng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng của thế gian.
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā bhaddāli bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Bhaddāli approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng điều này. Tôn giả Bhaddāli đã hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bhaddālisuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Bhaddāli, bài kinh thứ năm, đã chấm dứt.