- Majjhima Nikāya 66
Laṭukikopamasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Laṭukikopamasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở tại Anguttarapa (Ương-già Bắc Phương Thủy). Apāna là một thị tứ của Anguttarapa.
SC 2Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Apāna để khất thực. Khất thực ở Apāna xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Thế Tôn đi đến một khu rừng để trú ban ngày. Thế Tôn đi sâu vào khu rừng này, ngồi dưới một gốc cây để trú ban ngày.
SC 3Tôn giả Udāyi (Ưu-đa-di) buổi sáng cũng đắp y, cầm y bát đi vào Apāna để khất thực. Khất thực ở Apāna xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Tôn giả đi đến một khu rừng để trú ban ngày. Tôn giả đi sâu vào khu rừng này, và ngồi dưới một gốc cây để trú ban ngày.
SC 4Rồi Tôn giả Udāyi, trong khi độc cư Thiền tịnh, sự suy tư sau đây đã khởi lên trong tâm trí Tôn giả: “Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều khổ pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều lạc pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều bất thiện pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều thiện pháp cho chúng ta”.
SC 5Rồi Tôn giả Udāyi vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Udāyi bạch Thế Tôn
SC 6—Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con đang độc cư Thiền tịnh, sự suy tư sau đây đã khởi lên trong tâm trí con: “Như Lai thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều khổ pháp cho chúng ta … Như Lai thật sự là vị đã mang lại nhiều thiện pháp cho chúng ta”. Bạch Thế Tôn, thuở trước chúng con thường ăn buổi chiều, buổi sáng, ban ngày và phi thời. Bạch Thế Tôn, thời ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và bảo: “Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ ăn ban ngày phi thời”. Bạch Thế Tôn, do vậy con cảm thấy thất vọng, con cảm thấy sầu muộn, nghĩ rằng: “Những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, các tín chủ cúng dường cho chúng ta ban ngày và phi thời. Nay Thế Tôn dạy chúng ta phải đoạn trừ, bậc Thiện Thệ dạy chúng ta phải từ bỏ”. Bạch Thế Tôn, giữa chúng con, những ai nhìn Thế Tôn với lòng ái mộ, với lòng tôn kính và với lòng tàm quý, liền từ bỏ ăn ban ngày phi thời.
SC 7Rồi bạch Thế Tôn, chúng con thường ăn buổi chiều và buổi sáng. Bạch Thế Tôn, thời ấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và bảo: “Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ ăn ban đêm phi thời”. Bạch Thế Tôn, do vậy con cảm thấy thất vọng, con cảm thấy sầu muộn, nghĩ rằng: “Buổi ăn này gọi là có thượng vị hơn trong hai buổi ăn này của chúng ta. Thế Tôn dạy chúng ta phải đoạn trừ, bậc Thiện Thệ dạy chúng ta phải từ bỏ”. Bạch Thế Tôn, thuở xưa có người được một món ăn cúng ban ngày bèn nói: “Hãy để món ăn này một bên, và ban đêm tất cả chúng ta cùng ăn với nhau”. Bạch Thế Tôn, phàm mọi sự nấu nướng, tất cả đều làm ban đêm, rất ít làm ban ngày. Bạch Thế Tôn, giữa chúng con, những ai nhìn Thế Tôn với lòng ái mộ, với lòng tôn kính và với lòng tàm quý, liền từ bỏ ăn ban đêm phi thời.
SC 8Thuở trước, bạch Thế Tôn, các vị Tỷ-kheo thường đi khất thực trong đêm đen tối tăm, họ bước lầm vào vũng nước nhớp, rơi vào vũng nước nhớp, đi lầm vào hàng rào gai, đi lầm vào chỗ con bò cái đang ngủ, gặp các loại đạo tặc đã hành sự hay chưa hành sự, gặp các người đàn bà mời mọc một cách bất chánh. Thuở trước, bạch Thế Tôn, con đi khất thực trong đêm đen tối tăm. Một người đàn bà đang rửa chén bát, thấy con trong khi trời chớp nhoáng, liền hoảng sợ và hét lớn: “Ôi kinh khủng thay cho tôi, có con quỷ (chạy) theo tôi!” Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, con nói với người đàn bà ấy: “Này chị, không phải quỷ đâu. Ðây là Tỷ-kheo đang đứng khất thực”. “Cha Tỷ-kheo hãy chết đi! Mẹ Tỷ-kheo hãy chết đi! Này Tỷ-kheo, thật tốt hơn cho Ông nếu Ông lấy con dao sắc bén của người đồ tể cắt bụng của Ông, còn hơn là vì lỗ bụng đi khất thực trong ban đêm tối tăm”. Bạch Thế Tôn, khi con nhớ như vậy, con suy nghĩ như sau: “Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều khổ pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều lạc pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều bất thiện pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều thiện pháp cho chúng ta”.
SC 9—Tuy vậy, này Udāyi, ở đây có một số người ngu si; khi Ta nói: “Hãy từ bỏ việc này”, liền nói như sau: “Có sá gì sự việc tiểu tiết, nhỏ mọn này. Sa-môn này đặt quá nặng về cấm đoán đoạn giảm”. Họ không chịu từ bỏ và gây lên bất mãn chống Ta và chống những Tỷ-kheo muốn (thực hành) học giới. Sự việc ấy, này Udāyi, đối với họ, trở thành một trói buộc mạnh mẽ, một trói buộc vững chắc, một trói buộc kiên cường, một trói buộc không mục nát, một khúc gỗ to lớn.
SC 10Ví như, này Udāyi, có con chim cáy mái nhỏ bị tấm lưới bằng dây leo trói chặt, ở đây con chim có thể bị hại, hay bị bắt nhốt, hay bị chết. Này Udāyi, nếu có ai nói như sau: “Con chim cáy mái nhỏ ấy bị tấm lưới làm bằng dây leo trói chặt, ở đây, con chim có thể bị sát hại, hay bị bắt nhốt, hay bị chết. Tuy vậy đối với con chim kia, lưới ấy không có chắc mạnh, lưới ấy yếu ớt, lưới ấy bị mục nát, lưới ấy không có cứng chắc”. Này Udāyi, ai nói như vậy có phải nói một cách chơn chánh không?
SC 11—Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, con chim cáy mái nhỏ ấy bị tấm lưới làm bằng dây leo trói chặt, ở đấy con chim có thể bị sát hại, hay bị bắt nhốt, hay bị chết. Ðối với con chim kia, lưới ấy là mạnh mẽ, lưới ấy là vững chắc, lưới ấy là kiên cường, lưới ấy không mục nát, một khúc gỗ to lớn.
SC 12—Cũng vậy, này Udāyi, ở đây, có một số người ngu si, khi được Ta nói: “Hãy từ bỏ việc này”, liền nói như sau: “Có sá gì việc tiểu tiết, nhỏ mọn này! Vị Sa-môn này đặt quá nặng về cấm đoán, đoạn giảm”, và họ không chịu từ bỏ và gây lên bất mãn chống Ta và chống những Tỷ-kheo muốn (thực hành) học giới. Sự việc này, này Udāyi, đối với họ trở thành một trói buộc mạnh mẽ, một trói buộc vững chắc, một trói buộc kiên cường, một trói buộc không mục nát, một khúc gỗ to lớn.
SC 13Nhưng này Udāyi, một số Thiện gia nam tử, khi được Ta nói: “Hãy từ bỏ sự việc này”, liền nói như sau: “Có sá gì sự từ bỏ việc tiểu tiết, nhỏ mọn này mà Thế Tôn dạy chúng con phải đoạn trừ, bậc Thiện Thệ dạy chúng con phải từ bỏ!”. Họ từ bỏ sự việc ấy, và không gây lên bất mãn chống Ta và chống các Tỷ-kheo muốn (thực hành) học giới. Sau khi từ bỏ việc ấy, họ sống ít lăng xăng, lắng dịu, tùy thuộc những người khác (bố thí), sống với một tâm như con thú rừng. Này Udāyi, như vậy đối với các vị kia, sự trói buộc ấy không có chắc mạnh, sự trói buộc ấy yếu ớt, sự trói buộc ấy bị mục nát, sự trói buộc ấy không có vững chắc.
SC 14Ví như, này Udāyi, một con voi của vua, có ngà dài như cán cày, to lớn, thuộc loại giống tốt, lấy bãi chiến trường làm nhà, nếu bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng da nịt vững chắc, chỉ cần chuyển thân một cách dễ dàng, sau khi cắt đứt, bứt đứt những trói buộc ấy, có thể muốn đi chỗ nào nó muốn. Này Udāyi, nếu có ai nói như sau: “Con voi của vua có ngà dài như một cán cày ấy, to lớn, thuộc loại giống tốt, lấy bãi chiến trường làm nhà, nếu bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng da nịt vững chắc, chỉ cần chuyển thân một cách dễ dàng, sau khi cắt đứt, bứt đứt những trói buộc ấy, có thể muốn đi chỗ nào nó muốn. Tuy vậy đối với con voi kia, sự trói buộc ấy vững chắc, sự trói buộc ấy kiên cường, sự trói buộc ấy không mục nát, một khúc gỗ to lớn”. Này Udāyi, ai nói như vậy có phải nói một cách chơn chánh không?
SC 15—Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, con voi của vua có ngà dài như một cán cày ấy, to lớn, thuộc loại giống tốt, lấy bãi chiến trường làm nhà, nếu bị trói buộc bởi sự trói buộc bằng da nịt vững chắc, chỉ cần chuyển thân một cách dễ dàng, sau khi cắt đứt, bứt đứt những trói buộc ấy, có thể muốn đi chỗ nào nó muốn. Ðối với con voi kia, sự trói buộc ấy không có chắc mạnh, sự trói buộc ấy yếu ớt, sự trói buộc ấy bị mục nát, sự trói buộc ấy không có kiên cường.
SC 16—Cũng vậy, này Udāyi, ở đây có một số Thiện gia nam tử khi được Ta nói: “Hãy từ bỏ sự việc này”, liền nói như sau: “Có sá chi việc tiểu tiết, nhỏ mọn này mà Thế Tôn dạy chúng con phải đoạn trừ, bậc Thiện Thệ dạy chúng con phải từ bỏ! ” Họ từ bỏ việc ấy, và không gây lên bất mãn chống Ta và chống các Tỷ-kheo muốn (thực hành) học giới. Sau khi từ bỏ việc ấy, họ sống ít lăng xăng, lắng dịu, tùy thuộc những người khác (bố thí), sống với một tâm như con thú rừng. Này Udāyi, như vậy đối với các vị kia sự trói buộc ấy không có chắc mạnh, sự trói buộc ấy yếu ớt, sự trói buộc ấy bị mục nát, sự trói buộc ấy không có vững chắc.
SC 17Ví như, này Udāyi, một người nghèo khổ, không có vật sở hữu, khốn cùng, có một chòi ở hư nát, mở toang cho quạ, không đẹp mắt chút nào, có một giường nằm hư nát, không đẹp mắt chút nào, các loại gạo lúa cất chứa trong một cái chum không đẹp mắt chút nào, và một bà vợ không đẹp mắt chút nào. Người ấy thấy một Tỷ-kheo trong tịnh xá, tay chân lau rửa sạch sẽ, sau khi ăn buổi cơm ngon lành, đang ngồi trong bóng mát, hướng về tăng thượng tâm. Người ấy suy nghĩ: “An lạc thay, Sa-môn hạnh! Vô bệnh thay, Sa-môn hạnh! Vậy sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Nhưng người ấy không có thể từ bỏ cái chòi ở hư nát, mở toang cho quạ, không đẹp mắt chút nào, không có thể từ bỏ cái giường nằm hư nát, không đẹp mắt chút nào, không có thể từ bỏ các loại gạo lúa cất chứa trong một cái chum không đẹp mắt chút nào, không có thể từ bỏ bà vợ không đẹp mắt chút nào, để có thể sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Udāyi, nếu có ai nói như sau: “Người kia, bị trói buộc bởi những trói buộc ấy không có thể từ bỏ cái chòi ở hư nát … không có thể từ bỏ bà vợ không đẹp mắt chút nào để có thể sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðối với người kia, sự trói buộc ấy không có chắc mạnh, sự trói buộc ấy yếu ớt, sự trói buộc ấy bị mục nát, sự trói buộc ấy không có vững chắc”, thời này Udāyi, ai nói như vậy có phải nói một cách chân chánh không?
SC 18—Bạch Thế Tôn, không. Người kia bị trói buộc bởi những trói buộc ấy không thể từ bỏ chòi ở hư nát, mở toang cho quạ, không đẹp mắt chút nào, không thể từ bỏ giường nằm hư nát không đẹp mắt chút nào, không thể từ bỏ các loại gạo lúa cất chứa trong một cái chum không đẹp mắt chút nào, không thể từ bỏ bà vợ không đẹp mắt chút nào, để có thể, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðối với người kia, sự trói buộc ấy vững chắc, sự trói buộc ấy kiên cường, sự trói buộc ấy không mục nát, một khúc gỗ to lớn.
SC 19—Cũng vậy, này Udāyi, ở đây, có một số người ngu si khi được Ta nói ra: “Hãy từ bỏ việc này”, liền nói như sau: “Có sá gì sự việc tiểu tiết, nhỏ mọn này. Vị Sa-môn này đặt quá nặng về cấm đoán, đoạn giảm!” Và họ không chịu từ bỏ và gây lên bất mãn chống Ta và chống những Tỷ-kheo muốn (thực hành) học giới. Sự việc này, này Udāyi, đối với họ, trở thành một trói buộc mạnh mẽ, một trói buộc vững chắc, một trói buộc kiên cường, một trói buộc không mục nát, một khúc gỗ to lớn.
SC 20Ví như, này Udāyi, một gia chủ hay con người gia chủ, giàu có, tài sản lớn, tiền của lớn, vô số vàng bạc, vô số gạo thóc, vô số ruộng nương, vô số đất đai, vô số thê thiếp, vô số đầy tớ nam, vô số nữ tỳ. Vị này thấy một Tỷ-kheo trong một tinh xá, tay chân lau rửa sạch sẽ, sau khi ăn bữa cơm ngon lành, đang ngồi trong bóng mát, hướng về tăng thượng tâm. Vị này suy nghĩ: “An lạc thay, Sa-môn hạnh! Vô bệnh thay, Sa-môn hạnh! Vậy sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Vị này có thể từ bỏ vô số vàng bạc, có thể từ bỏ vô số gạo thóc, có thể từ bỏ vô số ruộng nương, có thể từ bỏ vô số đất đai, có thể từ bỏ vô số thê thiếp, có thể từ bỏ vô số đầy tớ nam, có thể từ bỏ vô số nữ tỳ. Này Udāyi, nếu có ai nói như sau: “Người gia chủ hay con người gia chủ kia, bị trói buộc bởi những trói buộc ấy, có thể từ bỏ vô số vàng bạc … có thể từ bỏ vô số nữ tỳ để có thể sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðối với người kia, sự trói buộc ấy vững chắc, sự trói buộc ấy kiên cường, sự trói buộc ấy không mục nát, một khúc gỗ to lớn”. Này Udāyi, ai nói như vậy, có phải nói một cách chơn chánh không?
SC 21—Bạch Thế Tôn, không. Người kia bị trói buộc bởi những trói buộc ấy có thể từ bỏ vô số vàng bạc, có thể từ bỏ vô số gạo thóc, có thể từ bỏ vô số ruộng nương, có thể từ bỏ vô số đất đai, có thể từ bỏ vô số thê thiếp, có thể từ bỏ vô số đầy tớ nam, có thể từ bỏ vô số nữ tỳ, để có thể, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðối với người kia, sự trói buộc ấy không có chắc mạnh, sự trói buộc ấy yếu ớt, sự trói buộc ấy bị mục nát, sự trói buộc ấy không có vững chắc.
SC 22—Cũng vậy, này Udāyi, ở đây, có một số Thiện gia nam tử, khi được Ta nói: “Hãy từ bỏ việc này”, liền nói như sau: “Có sá chi sự việc tiểu tiết, nhỏ mọn này mà Thế Tôn dạy chúng con phải đoạn trừ, bậc Thiện Thệ dạy chúng con phải từ bỏ!” Họ từ bỏ sự việc ấy, và không gây lên bất mãn chống Ta và chống các Tỷ-kheo muốn (thực hành) học giới. Sau khi từ bỏ sự việc ấy, họ sống ít lăng xăng, lắng dịu, tùy thuộc những người khác (bố thí), sống với một tâm như con thú rừng. Này Udāyi, như vậy đối với họ, sự trói buộc ấy không có chắc mạnh, sự trói buộc ấy yếu ớt, sự trói buộc ấy bị mục nát, sự trói buộc ấy không có vững chắc.
SC 23Này Udāyi, có bốn hạng người có mặt trên đời. Thế nào là bốn?
SC 24Ở đây, này Udāyi, có người sống, hướng đến sự đoạn trừ sanh y, sự từ bỏ sanh y. Nhưng trong khi vị này sống hướng đến sự đoạn trừ sanh y, sự từ bỏ sanh y, những tư niệm, tư duy liên hệ đến sanh y hiện hành khởi lên. Vị này chấp nhận chúng, không đoạn trừ chúng, không từ bỏ chúng, không chấm dứt chúng, không tiêu diệt chúng. Này Udāyi, Ta nói: “Người này bị trói buộc, không phải không bị trói buộc”. Vì sao vậy? Này Udāyi, sự sai biệt về căn tánh trong người này đã được Ta biết rõ.
SC 25Nhưng ở đây, này Udāyi, có người sống, hướng đến sự đoạn trừ sanh y, sự từ bỏ sanh y. Nhưng trong khi vị này sống hướng đến sự đoạn trừ sanh y, sự từ bỏ sanh y, những tư niệm, tư duy liên hệ đến sanh y hiện hành khởi lên. Nhưng vị này không chấp nhận chúng, đoạn trừ chúng, từ bỏ chúng, chấm dứt chúng, tiêu diệt chúng, Này Udāyi, Ta nói: “Người này bị trói buộc, không phải không bị trói buộc”. Vì sao vậy? Này Udāyi, sự sai biệt về căn tánh trong người này đã được Ta biết rõ.
SC 26Nhưng ở đây, này Udāyi, có người sống, hướng đến sự đoạn trừ sanh y, sự từ bỏ sanh y. Nhưng trong khi vị này sống hướng đến sự đoạn trừ sanh y, sự từ bỏ sanh y, các tư niệm điên đảo, các tư niệm, tư duy liên hệ đến sanh y, tùy lúc tùy thời hiện hành khởi lên. Này Udāyi, niệm khởi lên chậm chạp và vị này đoạn trừ niệm ấy một cách mau chóng, từ bỏ, chấm dứt, tiêu diệt (niệm ấy). Này Udāyi, ví như một người nhỏ hai hay ba giọt nước vào một ấm nước đun sôi cả ngày. Này Udāyi giọt nước rơi một cách chậm chạp như bị tiêu diệt, tiêu mất một cách mau chóng. Cũng vậy, này Udāyi, có người sống hướng đến sự đoạn trừ sanh y, sự từ bỏ sanh y. Nhưng trong khi vị này sống hướng đến sự đoạn trừ sanh y, sự từ bỏ sanh y, các tư niệm điên đảo, các tư niệm, tư duy liên hệ đến sanh y tùy lúc, tùy thời, hiện hành khởi lên. Này Udāyi, niệm khởi lên chậm chạp và vị này đoạn trừ niệm ấy một cách mau chóng, từ bỏ, chấm dứt, tiêu diệt (niệm ấy). Này Udāyi, Ta nói: “Người này cũng bị trói buộc, không phải không bị trói buộc”. Vì sao vậy? Này Udāyi, sự sai biệt về căn tánh trong người này đã được Ta biết rõ.
SC 27Nhưng ở đây, này Udāyi, có người nghĩ rằng: “Sanh y là nguồn gốc của đau khổ”, sau khi biết như vậy, vị ấy thành vô sanh y, giải thoát với sự đoạn diệt sanh y. Này Udāyi, Ta nói: “Người này không bị trói buộc, không phải bị trói buộc”. Vì sao vậy? Này Udāyi, sự sai biệt về căn tánh trong người này đã được Ta biết rõ.
SC 28Này Udāyi, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Tiếng do tai nhận thức, … hương do mũi nhận thức, … vị do lưỡi nhận thức, … xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Những pháp này, này Udāyi, là năm dục trưởng dưỡng.
SC 29Này Udāyi, phàm có lạc gì, hỷ gì khởi lên, do duyên năm dục trưởng dưỡng này, lạc hỷ ấy được gọi là dục lạc, ô uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc, không nên thực hiện, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn. Ta nói rằng lạc ấy đáng phải sợ hãi.
SC 30Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, vị ấy chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh.
SC 31Như vậy được gọi là yếm ly lạc, độc trú lạc, tịch tịnh lạc, chánh giác lạc, cần phải thực hiện, cần phải tu tập, cần làm cho sung mãn. Ta nói rằng lạc ấy không đáng sợ hãi.
SC 32Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất. Thiền này, này Udāyi, Ta nói rằng ở trong tình trạng dao động. Và ở đây, cái gì dao động? Ở đây, chính là tầm tứ chưa đoạn diệt, chính tầm tứ này ở trong tình trạng dao động.
SC 33Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ … chứng và trú Thiền thứ hai. Các Thiền này, này Udāyi, Ta nói rằng ở trong tình trạng dao động. Và ở đây, cái gì dao động? Ở đây chính là hỷ lạc chưa được đoạn diệt, chính hỷ lạc này ở trong tình trạng dao động.
SC 34Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả … chứng và trú Thiền thứ ba. Thiền này, này Udāyi, Ta nói ở trong tình trạng dao động. Và ở đây, cái gì dao động? Ở đây, chính là xả lạc chưa được đoạn diệt, chính xả lạc này ở trong tình trạng dao động.
SC 35Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ … chứng và trú Thiền thứ tư. Thiền này, này Udāyi, Ta nói là không ở trong tình trạng dao động.
SC 36Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất. Thiền này, này Udāyi, Ta nói: “Chưa được hoàn toàn”, Ta nói: “Hãy từ bỏ đi”, Ta nói: “Hãy vượt qua đi” và này Udāyi, vị ấy cần vượt qua cái gì?
SC 37Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ … chứng và trú Thiền thứ hai, đây là điều vị ấy cần vượt qua. Thiền này, này Udāyi, Ta nói: “Chưa được hoàn toàn”, Ta nói: “Hãy từ bỏ đi”, Ta nói: “Hãy vượt qua đi”. Và này, Udāyi, vị ấy cần vượt qua cái gì?
SC 38Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả … chứng và trú Thiền thứ ba, đây là điều vị ấy cần vượt qua. Thiền này, này Udāyi, Ta nói: “Chưa được hoàn toàn, Ta nói: “Hãy từ bỏ đi”, Ta nói: “Hãy vượt qua đi”. Và này Udāyi, vị ấy cần vượt qua cái gì?
SC 39Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ … chứng và trú Thiền thứ tư. Ðây là điều vị ấy cần phải vượt qua. Thiền này, này Udāyi, Ta nói: “Chưa được hoàn toàn”, Ta nói: “Hãy từ bỏ đi”, Ta nói: “Hãy vượt qua đi” Và này Udāyi, vị ấy cần phải vượt qua cái gì?
SC 40Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Ðây là điều vị ấy cần phải vượt qua. Thiền này, này Udāyi, Ta nói: “Chưa được hoàn toàn”, Ta nói: “Hãy từ bỏ đi”, Ta nói: “Hãy vượt qua đi”. Và này Udāyi, vị ấy cần vượt qua cái gì?
SC 41Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo vượt lên mọi Hư không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Ðây là điều vị ấy cần phải vượt qua. Thiền này, này Udāyi, Ta nói: “Chưa được hoàn toàn”, Ta nói: “Hãy từ bỏ đi”, Ta nói: “Hãy vượt qua đi”. Và này Udāyi, vị ấy cần vượt qua cái gì?
SC 42Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Ðây là điều vị ấy cần phải vượt qua, Thiền này, này Udāyi, Ta nói: “Chưa được hoàn toàn”, Ta nói: “Hãy từ bỏ đi”, Ta nói: “Hãy vượt qua đi”. Và này Udāyi, vị ấy cần vượt qua cái gì?
SC 43Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðây là điều vị ấy cần phải vượt qua. Thiền này, này Udāyi, Ta nói: “Chưa được hoàn toàn”, Ta nói: “Hãy từ bỏ đi”, Ta nói: “Hãy vượt qua đi”. Và này Udāyi, vị ấy cần vượt qua cái gì?
SC 44Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng. Ðây là điều vị ấy cần phải vượt qua. Chính vì định này, này Udāyi, mà Ta nói sự đoạn diệt của Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này Udāyi, Ông có thấy chăng, có kiết sử gì, nhỏ hay lớn mà Ta chưa nói đến sự đoạn diệt?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 45Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Udāyi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn giảng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 16–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Ví Dụ Chim Cút
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āpaṇaṁ piṇḍāya pāvisi. Āpaṇe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yenaññataro vanasaṇḍo tenupasaṅkami divāvihārāya. Taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Āyasmāpi kho udāyī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āpaṇaṁ piṇḍāya pāvisi. Āpaṇe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena so vanasaṇḍo tenupasaṅkami divāvihārāya. Taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi. Atha kho āyasmato udāyissa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“bahūnaṁ vata no bhagavā dukkhadhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā sukhadhammānaṁ upahattā; bahūnaṁ vata no bhagavā akusalānaṁ dhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā kusalānaṁ dhammānaṁ upahattā”ti.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Āpaṇa for alms. He wandered for alms in Āpaṇa. After the meal, on his return from almsround, he went to a certain forest grove for the day’s meditation. Having plunged deep into it, he sat at the root of a certain tree to meditate.
Venerable Udāyī also robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Āpaṇa for alms. He wandered for alms in Āpaṇa. After the meal, on his return from almsround, he went to that forest grove for the day’s meditation. Having plunged deep into it, he sat at the root of a certain tree to meditate. Then as Venerable Udāyī was in private retreat this thought came to his mind:
“The Buddha has rid us of so many things that bring suffering and gifted us so many things that bring happiness! He has rid us of so many unskillful things and gifted us so many skillful things!”
148. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Aṅguttarāpa, tại một thị trấn của người Aṅguttarāpa tên là Āpaṇa. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Āpaṇa để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Āpaṇa, dùng bữa xong, trên đường đi khất thực trở về, ngài đi đến một khu rừng để nghỉ ban ngày. Sau khi đi vào khu rừng ấy, ngài ngồi nghỉ ban ngày dưới một gốc cây. Tôn giả Udāyī cũng vậy, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Āpaṇa để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Āpaṇa, dùng bữa xong, trên đường đi khất thực trở về, ngài đi đến khu rừng ấy để nghỉ ban ngày. Sau khi đi vào khu rừng ấy, ngài ngồi nghỉ ban ngày dưới một gốc cây. Bấy giờ, khi Tôn giả Udāyī đang ở một mình nơi thanh vắng, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm: ‘Thật vậy, Thế Tôn là bậc loại trừ nhiều pháp đau khổ cho chúng ta, thật vậy, Thế Tôn là bậc mang lại nhiều pháp an lạc cho chúng ta; thật vậy, Thế Tôn là bậc loại trừ nhiều pháp bất thiện cho chúng ta, thật vậy, Thế Tôn là bậc mang lại nhiều pháp thiện cho chúng ta.’ Rồi Tôn giả Udāyī, vào buổi chiều, ra khỏi nơi độc cư, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Atha kho āyasmā udāyī sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā udāyī bhagavantaṁ etadavoca:
“idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘bahūnaṁ vata no bhagavā dukkhadhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā sukhadhammānaṁ upahattā; bahūnaṁ vata no bhagavā akusalānaṁ dhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā kusalānaṁ dhammānaṁ upahattā’ti.
Mayañhi, bhante, pubbe sāyañceva bhuñjāma pāto ca divā ca vikāle. Ahu kho so, bhante, samayo yaṁ bhagavā bhikkhū āmantesi: ‘iṅgha tumhe, bhikkhave, etaṁ divāvikālabhojanaṁ pajahathā’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, ahudeva aññathattaṁ, ahudeva domanassaṁ: ‘yampi no saddhā gahapatikā divā vikāle paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ denti tassapi no bhagavā pahānamāha, tassapi no sugato paṭinissaggamāhā’ti. Te mayaṁ, bhante, bhagavati pemañca gāravañca hiriñca ottappañca sampassamānā evaṁ taṁ divāvikālabhojanaṁ pajahimhā. Te mayaṁ, bhante, sāyañceva bhuñjāma pāto ca.
Ahu kho so, bhante, samayo yaṁ bhagavā bhikkhū āmantesi: ‘iṅgha tumhe, bhikkhave, etaṁ rattiṁvikālabhojanaṁ pajahathā’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, ahudeva aññathattaṁ ahudeva domanassaṁ: ‘yampi no imesaṁ dvinnaṁ bhattānaṁ paṇītasaṅkhātataraṁ tassapi no bhagavā pahānamāha, tassapi no sugato paṭinissaggamāhā’ti. Bhūtapubbaṁ, bhante, aññataro puriso divā sūpeyyaṁ labhitvā evamāha: ‘handa ca imaṁ nikkhipatha, sāyaṁ sabbeva samaggā bhuñjissāmā’ti. Yā kāci, bhante, saṅkhatiyo sabbā tā rattiṁ, appā divā. Te mayaṁ, bhante, bhagavati pemañca gāravañca hiriñca ottappañca sampassamānā evaṁ taṁ rattiṁvikālabhojanaṁ pajahimhā.
Bhūtapubbaṁ, bhante, bhikkhū rattandhakāratimisāyaṁ piṇḍāya carantā candanikampi pavisanti, oligallepi papatanti, kaṇṭakāvāṭampi ārohanti, suttampi gāviṁ ārohanti, māṇavehipi samāgacchanti katakammehipi akatakammehipi, mātugāmopi te asaddhammena nimanteti.
Bhūtapubbāhaṁ, bhante, rattandhakāratimisāyaṁ piṇḍāya carāmi. Addasā kho maṁ, bhante, aññatarā itthī vijjantarikāya bhājanaṁ dhovantī. Disvā maṁ bhītā vissaramakāsi: ‘abhumme pisāco vata man’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ itthiṁ etadavocaṁ: ‘nāhaṁ, bhagini, pisāco; bhikkhu piṇḍāya ṭhito’ti.
‘Bhikkhussa ātumārī, bhikkhussa mātumārī. Varaṁ te, bhikkhu, tiṇhena govikantanena kucchi parikanto, na tveva varaṁ yaṁ rattandhakāratimisāyaṁ kucchihetu piṇḍāya carasī’ti.
Tassa mayhaṁ, bhante, tadanussarato evaṁ hoti: ‘bahūnaṁ vata no bhagavā dukkhadhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā sukhadhammānaṁ upahattā; bahūnaṁ vata no bhagavā akusalānaṁ dhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā kusalānaṁ dhammānaṁ upahattā’”ti.
Then in the late afternoon, Udāyī came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and said to him:
“Just now, sir, as I was in private retreat this thought came to mind: ‘The Buddha has rid us of so many things that bring suffering and gifted us so many things that bring happiness! He has rid us of so many unskillful things and gifted us so many skillful things!’
For we used to eat at dusk, at daybreak, and at the wrong time of day. But then there came a time when the Buddha addressed the mendicants, saying, ‘Please, mendicants, give up that meal at the wrong time of day.’ At that, sir, we became sad and upset, ‘But these faithful householders give us delicious fresh and cooked foods at the wrong time of day. And the Blessed One tells us to give it up! The Holy One tells us to let it go!’ But when we considered our fondness and respect for the Buddha, and our sense of conscience and prudence, we gave up that meal at the wrong time of day. Then we ate at dusk and daybreak.
But then there came a time when the Buddha addressed the mendicants, saying, ‘Please, mendicants, give up that meal at the wrong time of night.’ At that, sir, we became sad and upset, ‘But that’s considered the more delicious of the two meals. And the Blessed One tells us to give it up! The Holy One tells us to let it go!’ Once it so happened that a certain person got some soup during the day. He said, ‘Come, let’s set this aside; we’ll enjoy it together this evening.’ Nearly all meals are prepared at night, only a few in the day. But when we considered our love and respect for the Buddha, and our sense of conscience and prudence, we gave up that meal at the wrong time of night.
In the past, mendicants went wandering for alms in the dark of the night. They walked into a swamp, or fell into a sewer, or collided with a thorn bush, or collided with a sleeping cow, or encountered youths escaping a crime or on their way to commit one, or were invited by a lady to commit a lewd act.
Once it so happened that I was wandering for alms in the dark of the night. A woman washing a pot saw me by a flash of lightning. Startled, she cried out, ‘Woe is me! It’s a damn goblin!’
When she said this, I said to her, ‘Sister, I am no goblin. I’m a mendicant waiting for alms.’
‘Die, mendicant’s father! Die, mendicant’s mother! Better to have your belly sliced open with a sharp meat cleaver than to wander for alms in the dark of night for the sake of your belly!’
Recollecting that, I thought, ‘The Buddha has rid us of so many things that bring suffering and gifted us so many things that bring happiness! He has rid us of so many unskillful things and gifted us so many skillful things!’”
149. Tôn giả Udāyī sau khi ngồi xuống một bên, đã bạch với đức Thế Tôn như vầy: “Bạch Thế Tôn, ở đây, khi con đang ở nơi thanh vắng, độc cư, một suy nghĩ như thế này đã khởi lên trong tâm con: ‘Thật vậy, đức Thế Tôn đã loại trừ cho chúng ta nhiều pháp khổ đau! Thật vậy, đức Thế Tôn đã mang lại cho chúng ta nhiều pháp an lạc! Thật vậy, đức Thế Tôn đã loại trừ cho chúng ta nhiều pháp bất thiện! Thật vậy, đức Thế Tôn đã mang lại cho chúng ta nhiều pháp thiện!’ Bạch Thế Tôn, trước đây, chúng con đã từng ăn vào buổi chiều, buổi sáng, và cả vào ban ngày lúc phi thời. Bạch Thế Tôn, đã có một thời, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, hãy từ bỏ việc ăn vào ban ngày lúc phi thời này.’ Bạch Thế Tôn, lúc ấy, con đã có sự thay đổi trong tâm, đã có sự buồn rầu: ‘Các gia chủ có đức tin dâng cúng cho chúng ta những món ăn ngon, cả vật cứng lẫn vật mềm, vào ban ngày lúc phi thời, mà đức Thế Tôn lại dạy phải từ bỏ, đức Thiện Thệ lại dạy phải khước từ!’ Bạch Thế Tôn, nhưng chúng con, vì nhận thấy tình thương, lòng kính trọng, sự hổ thẹn, và sự ghê sợ đối với đức Thế Tôn, nên đã từ bỏ việc ăn vào ban ngày lúc phi thời ấy. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con ăn vào buổi chiều và buổi sáng. Bạch Thế Tôn, lại có một thời, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, hãy từ bỏ việc ăn vào ban đêm lúc phi thời này.’ Bạch Thế Tôn, lúc ấy, con lại có sự thay đổi trong tâm, lại có sự buồn rầu: ‘Trong hai bữa ăn này của chúng ta, bữa ăn được xem là ngon hơn, mà đức Thế Tôn lại dạy phải từ bỏ, đức Thiện Thệ lại dạy phải khước từ!’ Bạch Thế Tôn, chuyện đã xảy ra trong quá khứ, có một người đàn ông nhận được món súp ngon vào ban ngày và nói rằng: ‘Này, hãy cất món này đi, đến chiều tối tất cả chúng ta sẽ cùng nhau ăn.’ Bạch Thế Tôn, bất cứ món ăn nào được chế biến đặc biệt, tất cả đều dành cho ban đêm, ban ngày thì rất ít. Bạch Thế Tôn, nhưng chúng con, vì nhận thấy tình thương, lòng kính trọng, sự hổ thẹn, và sự ghê sợ đối với đức Thế Tôn, nên đã từ bỏ việc ăn vào ban đêm lúc phi thời ấy. Bạch Thế Tôn, chuyện đã xảy ra trong quá khứ, các vị tỳ khưu đi khất thực trong đêm tối mịt mùng, đã đi vào cả hố xí, té ngã vào cả rãnh nước cống, giẫm phải cả hàng rào gai, giẫm phải cả con bò đang ngủ, và gặp phải cả những thanh niên đã phạm tội lẫn chưa phạm tội, và cũng có người phụ nữ mời gọi họ làm điều bất chính. Bạch Thế Tôn, chuyện đã xảy ra trong quá khứ, con đã đi khất thực trong đêm tối mịt mùng. Bạch Thế Tôn, có một người phụ nữ đang rửa bát, trong ánh chớp đã nhìn thấy con. Thấy con, bà ta hoảng sợ và la lớn lên: ‘Trời ơi, quỷ dạ xoa đến bắt tôi!’ Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con đã nói với người phụ nữ ấy rằng: ‘Này chị, tôi không phải là quỷ dạ xoa; tôi là một tỳ khưu đang đứng khất thực.’ ‘Mẹ của tỳ khưu chết đi! Mẹ của tỳ khưu chết đi! Này tỳ khưu, thà rằng ông lấy dao mổ bò sắc bén rạch bụng mình còn hơn, chứ không tốt đẹp gì việc đi khất thực trong đêm tối mịt mùng vì cái bụng.’ Bạch Thế Tôn, khi con nhớ lại điều đó, con suy nghĩ như thế này: ‘Thật vậy, đức Thế Tôn đã loại trừ cho chúng ta nhiều pháp khổ đau! Thật vậy, đức Thế Tôn đã mang lại cho chúng ta nhiều pháp an lạc! Thật vậy, đức Thế Tôn đã loại trừ cho chúng ta nhiều pháp bất thiện! Thật vậy, đức Thế Tôn đã mang lại cho chúng ta nhiều pháp thiện!’”
“Evameva panudāyi, idhekacce moghapurisā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu: ‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa adhisallikhatevāyaṁ samaṇo’ti. Te tañceva nappajahanti, mayi ca appaccayaṁ upaṭṭhāpenti. Ye ca bhikkhū sikkhākāmā tesaṁ taṁ, udāyi, hoti balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro—
seyyathāpi, udāyi, laṭukikā sakuṇikā pūtilatāya bandhanena baddhā tattheva vadhaṁ vā bandhaṁ vā maraṇaṁ vā āgameti. Yo nu kho, udāyi, evaṁ vadeyya: ‘yena sā laṭukikā sakuṇikā pūtilatāya bandhanena baddhā tattheva vadhaṁ vā bandhaṁ vā maraṇaṁ vā āgameti, tañhi tassā abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanan’ti; sammā nu kho so, udāyi, vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante. Yena sā, bhante, laṭukikā sakuṇikā pūtilatāya bandhanena baddhā tattheva vadhaṁ vā bandhaṁ vā maraṇaṁ vā āgameti, tañhi tassā balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro”ti.
“Evameva kho, udāyi, idhekacce moghapurisā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu: ‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa adhisallikhatevāyaṁ samaṇo’ti? Te tañceva nappajahanti, mayi ca appaccayaṁ upaṭṭhāpenti. Ye ca bhikkhū sikkhākāmā tesaṁ taṁ, udāyi, hoti balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro.
“This is exactly what happens when some futile people are told by me to give something up. They say, ‘What, such a trivial, trifling thing as this? This ascetic is much too strict!’ They don’t give it up, and they nurse bitterness toward me; and for the mendicants who want to train, that becomes a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.
Suppose a quail was tied with a vine, and was waiting there to be injured, caged, or killed. Would it be right to say that, for that quail, that vine is weak, feeble, rotten, and insubstantial?”
“No, sir. For that quail, that vine is a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.”
“In the same way, when some futile people are told by me to give something up, they say, ‘What, such a trivial, trifling thing as this? This ascetic is much too strict!’ They don’t give it up, and they nurse bitterness toward me; and for the mendicants who want to train, that becomes a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.
150. “Này Udāyī, cũng vậy, ở đây có những kẻ ngu si, khi được ta bảo: ‘Hãy từ bỏ điều này,’ họ lại nói rằng: ‘Có gì đâu với việc nhỏ nhặt, tầm thường này mà vị Sa-môn này lại quá khắt khe như vậy?’ Họ không từ bỏ điều ấy, và họ còn khởi lên sự bất tín đối với ta và đối với các vị tỳ khưu ham học hỏi. Này Udāyī, đối với họ, điều đó trở thành một sự trói buộc mạnh mẽ, một sự trói buộc bền chặt, một sự trói buộc vững chắc, một sự trói buộc không mục nát, một cái cọc gỗ to. Này Udāyī, ví như một con chim cút nhỏ bị trói bằng một sợi dây leo mục, nó sẽ bị giết, bị bắt, hoặc bị chết ngay tại chỗ đó. Này Udāyī, nếu có người nói rằng: ‘Sợi dây leo mục mà con chim cút nhỏ kia bị trói, khiến nó bị giết, bị bắt, hoặc bị chết ngay tại chỗ đó, sợi dây trói ấy đối với nó là yếu ớt, là mỏng manh, là mục nát, là không có lõi,’ này Udāyī, người nói như vậy có được xem là nói đúng không?” “Bạch Thế Tôn, không phải vậy. Bạch Thế Tôn, sợi dây leo mục mà con chim cút nhỏ kia bị trói, khiến nó bị giết, bị bắt, hoặc bị chết ngay tại chỗ đó, sợi dây trói ấy đối với nó là mạnh mẽ, là bền chặt, là vững chắc, là không mục nát, là một cái cọc gỗ to.” “Này Udāyī, cũng vậy, ở đây có những kẻ ngu si, khi được ta bảo: ‘Hãy từ bỏ điều này,’ họ lại nói rằng: ‘Có gì đâu với việc nhỏ nhặt, tầm thường này mà vị Sa-môn này lại quá khắt khe như vậy?’ Họ không từ bỏ điều ấy, và họ còn khởi lên sự bất tín đối với ta và đối với các vị tỳ khưu ham học hỏi. Này Udāyī, đối với họ, điều đó trở thành một sự trói buộc mạnh mẽ, một sự trói buộc bền chặt, một sự trói buộc vững chắc, một sự trói buộc không mục nát, một cái cọc gỗ to.”
Idha panudāyi, ekacce kulaputtā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu: ‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa pahātabbassa yassa no bhagavā pahānamāha, yassa no sugato paṭinissaggamāhā’ti? Te tañceva pajahanti, mayi ca na appaccayaṁ upaṭṭhāpenti. Ye ca bhikkhū sikkhākāmā te taṁ pahāya appossukkā pannalomā paradattavuttā migabhūtena cetasā viharanti. Tesaṁ taṁ, udāyi, hoti abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanaṁ—
seyyathāpi, udāyi, rañño nāgo īsādanto urūḷhavā abhijāto saṅgāmāvacaro daḷhehi varattehi bandhanehi baddho īsakaṁyeva kāyaṁ sannāmetvā tāni bandhanāni saṁchinditvā sampadāletvā yena kāmaṁ pakkamati. Yo nu kho, udāyi, evaṁ vadeyya: ‘yehi so rañño nāgo īsādanto urūḷhavā abhijāto saṅgāmāvacaro daḷhehi varattehi bandhanehi baddho īsakaṁyeva kāyaṁ sannāmetvā tāni bandhanāni saṁchinditvā sampadāletvā yena kāmaṁ pakkamati, tañhi tassa balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro’ti; sammā nu kho so, udāyi, vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante. Yehi so, bhante, rañño nāgo īsādanto urūḷhavā abhijāto saṅgāmāvacaro daḷhehi varattehi bandhanehi baddho īsakaṁyeva kāyaṁ sannāmetvā tāni bandhanāni saṁchinditvā sampadāletvā yena kāmaṁ pakkamati, tañhi tassa abalaṁ bandhanaṁ …pe… asārakaṁ bandhanan”ti.
“Evameva kho, udāyi, idhekacce kulaputtā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu: ‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa pahātabbassa yassa no bhagavā pahānamāha, yassa no sugato paṭinissaggamāhā’ti? Te tañceva pajahanti, mayi ca na appaccayaṁ upaṭṭhāpenti. Ye ca bhikkhū sikkhākāmā te taṁ pahāya appossukkā pannalomā paradattavuttā migabhūtena cetasā viharanti. Tesaṁ taṁ, udāyi, hoti abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanaṁ.
Seyyathāpi, udāyi, puriso daliddo assako anāḷhiyo; tassassa ekaṁ agārakaṁ oluggaviluggaṁ kākātidāyiṁ naparamarūpaṁ, ekā khaṭopikā oluggaviluggā naparamarūpā, ekissā kumbhiyā dhaññasamavāpakaṁ naparamarūpaṁ, ekā jāyikā naparamarūpā. So ārāmagataṁ bhikkhuṁ passeyya sudhotahatthapādaṁ manuññaṁ bhojanaṁ bhuttāviṁ sītāya chāyāya nisinnaṁ adhicitte yuttaṁ. Tassa evamassa: ‘sukhaṁ vata bho sāmaññaṁ, ārogyaṁ vata bho sāmaññaṁ. So vatassaṁ yohaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
But when some gentlemen are told by me to give something up, they say, ‘What, we just have to give up such a trivial, trifling thing as this, when the Blessed One tells us to give it up, the Holy One tells us to let it go?’ They give it up, and they don’t nurse bitterness toward me; and when the mendicants who want to train have given that up, they live relaxed, unruffled, surviving on charity, their hearts free as a wild deer. For them, that bond is weak, feeble, rotten, and insubstantial.
Suppose there was a royal bull elephant with tusks like draft-poles, able to draw a heavy load, pedigree and battle-hardened. And it was bound with a strong harness. But just by twisting its body a little, it would break apart its bonds and go wherever it wants. Would it be right to say that, for that bull elephant, that strong harness is a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke?”
“No, sir. For that bull elephant, that strong harness is weak, feeble, rotten, and insubstantial.”
“In the same way, when some gentlemen are told by me to give something up, they say, ‘What, we just have to give up such a trivial, trifling thing as this, when the Blessed One tells us to give it up, the Holy One tells us to let it go?’ They give it up, and they don’t nurse bitterness toward me; and when the mendicants who want to train have given that up, they live relaxed, unruffled, surviving on charity, their hearts free as a wild deer. For them, that bond is weak, feeble, rotten, and insubstantial.
Suppose there was a poor man, with few possessions and little wealth. He had a single broken-down hovel open to the crows, not the best sort; a single broken-down couch, not the best sort; a single pot for storing grain, not the best sort; and a single wifey, not the best sort. He’d see a mendicant sitting in meditation in the cool shade, their hands and feet well washed after eating a satisfying meal. He’d think, ‘The ascetic life is so very pleasant! The ascetic life is so very healthy! If only I could shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.’
151. “Này Udāyi, ở đây, có một số thiện nam tử, khi được ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ điều này,’ họ nói như sau: ‘Đối với điều nhỏ nhặt, tầm thường này cần phải từ bỏ, mà Thế Tôn đã dạy chúng con phải từ bỏ, mà Thiện Thệ đã dạy chúng con phải xả ly, lẽ nào lại không đáng kể?’ Họ từ bỏ chính điều ấy, và không khởi lên sự bất mãn đối với ta. Và những vị tỳ khưu ham học hỏi ấy, sau khi từ bỏ điều đó, sống không lo lắng, lông (kiêu mạn) đã rụng, sống bằng vật thí thực của người khác, với tâm như loài nai. Này Udāyi, đối với họ, sự trói buộc ấy là yếu ớt, sự trói buộc ấy là mỏng manh, sự trói buộc ấy là mục nát, sự trói buộc ấy là không có lõi. Ví như, này Udāyi, con voi của vua, ngà cong như gọng cày, to lớn, thuần chủng, thiện chiến, bị trói bằng những sợi dây da chắc chắn, nó chỉ cần hơi cựa mình là có thể cắt đứt, phá tan những dây trói ấy rồi đi đến bất cứ nơi nào nó muốn. Này Udāyi, nếu có người nói rằng: ‘Những sợi dây da chắc chắn đã trói con voi của vua, ngà cong như gọng cày, to lớn, thuần chủng, thiện chiến, mà nó chỉ cần hơi cựa mình là có thể cắt đứt, phá tan rồi đi đến bất cứ nơi nào nó muốn, những sự trói buộc ấy đối với nó là mạnh mẽ, là chắc chắn, là bền chặt, là không mục nát, là một cái cọc lớn, một cái cùm to,’ này Udāyi, người nói như vậy có được xem là nói đúng chăng?” “Bạch Thế Tôn, không phải vậy. Bạch Thế Tôn, những sợi dây da chắc chắn đã trói con voi của vua, ngà cong như gọng cày, to lớn, thuần chủng, thiện chiến, mà nó chỉ cần hơi cựa mình là có thể cắt đứt, phá tan rồi đi đến bất cứ nơi nào nó muốn, những sự trói buộc ấy đối với nó là yếu ớt... là không có lõi.” “Cũng vậy, này Udāyi, ở đây, có một số thiện nam tử, khi được ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ điều này,’ họ nói như sau: ‘Đối với điều nhỏ nhặt, tầm thường này cần phải từ bỏ, mà Thế Tôn đã dạy chúng con phải từ bỏ, mà Thiện Thệ đã dạy chúng con phải xả ly, lẽ nào lại không đáng kể?’ Họ từ bỏ chính điều ấy, và không khởi lên sự bất mãn đối với ta. Và những vị tỳ khưu ham học hỏi ấy, sau khi từ bỏ điều đó, sống không lo lắng, lông (kiêu mạn) đã rụng, sống bằng vật thí thực của người khác, với tâm như loài nai. Này Udāyi, đối với họ, sự trói buộc ấy là yếu ớt, sự trói buộc ấy là mỏng manh, sự trói buộc ấy là mục nát, sự trói buộc ấy là không có lõi.”
“No hetaṁ, bhante. Yehi so, bhante, puriso bandhanehi baddho, na sakkoti ekaṁ agārakaṁ oluggaviluggaṁ kākātidāyiṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekaṁ khaṭopikaṁ oluggaviluggaṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekissā kumbhiyā dhaññasamavāpakaṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekaṁ jāyikaṁ naparamarūpaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ; tañhi tassa balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro”ti.
“Evameva kho, udāyi, idhekacce moghapurisā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu: ‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa adhisallikhatevāyaṁ samaṇo’ti? Te tañceva nappajahanti, mayi ca appaccayaṁ upaṭṭhāpenti. Ye ca bhikkhū sikkhākāmā tesaṁ taṁ, udāyi, hoti balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro.
“No, sir. For that man, they are a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.”
“In the same way, when some futile people are told by me to give something up, they say, ‘What, such a trivial, trifling thing as this? This ascetic is much too strict!’ They don’t give it up, and they nurse bitterness toward me; and for the mendicants who want to train, that becomes a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.
152. “Ví như, này Udāyi, có một người đàn ông nghèo khó, không tài sản, không giàu có; người ấy có một ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo, đổ nát, quạ có thể vào mổ, không ra hình thù gì; một cái giường nhỏ xiêu vẹo, đổ nát, không ra hình thù gì; một cái hũ chứa các loại hạt tạp nham, không ra hình thù gì; một người vợ không ra hình thù gì. Người ấy thấy một vị tỳ khưu ở trong tịnh xá, đã rửa tay chân sạch sẽ, đã dùng bữa ăn ngon lành, đang ngồi dưới bóng mát, chuyên tâm vào tăng thượng tâm. Người ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Ôi, đời sống sa-môn thật là an lạc! Ôi, đời sống sa-môn thật là khỏe mạnh! Chắc chắn ta sẽ là người như vậy, ta sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Nhưng người ấy đã không thể từ bỏ ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo, đổ nát, quạ có thể vào mổ, không ra hình thù gì; từ bỏ cái giường nhỏ xiêu vẹo, đổ nát, không ra hình thù gì; từ bỏ cái hũ chứa các loại hạt tạp nham, không ra hình thù gì; và từ bỏ người vợ không ra hình thù gì, để rồi cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Udāyi, nếu có người nói rằng: ‘Những sự trói buộc đã trói buộc người ấy, khiến người ấy không thể từ bỏ ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo, đổ nát, quạ có thể vào mổ, không ra hình thù gì; không thể từ bỏ cái giường nhỏ xiêu vẹo, đổ nát, không ra hình thù gì; không thể từ bỏ cái hũ chứa các loại hạt tạp nham, không ra hình thù gì; và không thể từ bỏ người vợ không ra hình thù gì, để rồi cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; những sự trói buộc ấy đối với người ấy là yếu ớt, là mỏng manh, là mục nát, là không có lõi,’ này Udāyi, người nói như vậy có được xem là nói đúng chăng?” “Bạch Thế Tôn, không phải vậy. Bạch Thế Tôn, những sự trói buộc đã trói buộc người ấy, khiến người ấy không thể từ bỏ ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo, đổ nát, quạ có thể vào mổ, không ra hình thù gì; không thể từ bỏ cái giường nhỏ xiêu vẹo, đổ nát, không ra hình thù gì; không thể từ bỏ cái hũ chứa các loại hạt tạp nham, không ra hình thù gì; và không thể từ bỏ người vợ không ra hình thù gì, để rồi cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; những sự trói buộc ấy đối với người ấy là mạnh mẽ, là chắc chắn, là bền chặt, là không mục nát, là một cái cọc lớn, một cái cùm to.” “Cũng vậy, này Udāyi, ở đây, có một số kẻ ngu si, khi được ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ điều này,’ họ nói như sau: ‘Đối với điều nhỏ nhặt, tầm thường này, vị sa-môn này quá khắt khe.’ Họ không từ bỏ chính điều ấy, và khởi lên sự bất mãn đối với ta, và đối với những vị tỳ khưu ham học hỏi. Này Udāyi, đối với họ, sự trói buộc ấy là mạnh mẽ, là chắc chắn, là bền chặt, là không mục nát, là một cái cọc lớn, một cái cùm to.”
Seyyathāpi, udāyi, gahapati vā gahapatiputto vā aḍḍho mahaddhano mahābhogo, nekānaṁ nikkhagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ dhaññagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ khettagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ vatthugaṇānaṁ cayo, nekānaṁ bhariyagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ dāsagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ dāsigaṇānaṁ cayo; so ārāmagataṁ bhikkhuṁ passeyya sudhotahatthapādaṁ manuññaṁ bhojanaṁ bhuttāviṁ sītāya chāyāya nisinnaṁ adhicitte yuttaṁ. Tassa evamassa: ‘sukhaṁ vata bho sāmaññaṁ, ārogyaṁ vata bho sāmaññaṁ. So vatassaṁ yohaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So sakkuṇeyya nekāni nikkhagaṇāni pahāya, nekāni dhaññagaṇāni pahāya, nekāni khettagaṇāni pahāya, nekāni vatthugaṇāni pahāya, nekāni bhariyagaṇāni pahāya, nekāni dāsagaṇāni pahāya, nekāni dāsigaṇāni pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Yo nu kho, udāyi, evaṁ vadeyya: ‘yehi so gahapati vā gahapatiputto vā bandhanehi baddho, sakkoti nekāni nikkhagaṇāni pahāya, nekāni dhaññagaṇāni pahāya, nekāni khettagaṇāni pahāya, nekāni vatthugaṇāni pahāya, nekāni bhariyagaṇāni pahāya, nekāni dāsagaṇāni pahāya, nekāni dāsigaṇāni pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ, tañhi tassa balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro’ti; sammā nu kho so, udāyi, vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante. Yehi so, bhante, gahapati vā gahapatiputto vā bandhanehi baddho, sakkoti nekāni nikkhagaṇāni pahāya, nekāni dhaññagaṇāni pahāya, nekāni khettagaṇāni pahāya, nekāni vatthugaṇāni pahāya, nekāni bhariyagaṇāni pahāya, nekāni dāsagaṇāni pahāya, nekāni dāsigaṇāni pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ; tañhi tassa abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanan”ti.
“Evameva kho, udāyi, idhekacce kulaputtā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu: ‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa pahātabbassa yassa no bhagavā pahānamāha, yassa no sugato paṭinissaggamāhā’ti? Te tañceva pajahanti, mayi ca na appaccayaṁ upaṭṭhāpenti. Ye ca bhikkhū sikkhākāmā te taṁ pahāya appossukkā pannalomā paradattavuttā migabhūtena cetasā viharanti. Tesaṁ taṁ, udāyi, hoti abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanaṁ.
Suppose there was a rich householder or householder’s child, affluent, and wealthy. He had a vast amount of gold ingots, grain, fields, lands, wives, and male and female bondservants. He’d see a mendicant sitting in meditation in the cool shade, their hands and feet well washed after eating a satisfying meal. He’d think, ‘The ascetic life is so very pleasant! The ascetic life is so very healthy! If only I could shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.’ And he is able to give up his vast amount of gold ingots, grain, fields, lands, wives, and male and female bondservants in order to go forth. Would it be right to say that, for that householder, they are a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke?”
“No, sir. For that householder, those bonds are weak, feeble, rotten, and insubstantial.”
“In the same way, when some gentlemen are told by me to give something up, they say, ‘What, we just have to give up such a trivial, trifling thing as this, when the Blessed One tells us to give it up, the Holy One tells us to let it go?’ They give it up, and they don’t nurse bitterness toward me; and when the mendicants who want to train have given that up, they live relaxed, unruffled, surviving on charity, their hearts free as a wild deer. For them, that bond is weak, feeble, rotten, and insubstantial.
153. “Này Udāyi, ví như có gia chủ hay con của gia chủ giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, tích trữ vô số đồng tiền vàng, tích trữ vô số lúa gạo, tích trữ vô số ruộng đất, tích trữ vô số đất đai, tích trữ vô số vợ, tích trữ vô số nô bộc nam, tích trữ vô số nô tỳ nữ; vị ấy có thể thấy một vị tỳ-khưu ở trong khu vườn, tay chân đã rửa sạch, đã dùng bữa ăn ngon lành, đang ngồi dưới bóng mát, chuyên tâm vào tăng thượng tâm. Vị ấy có thể khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Ôi, thật hạnh phúc thay đời sống sa-môn! Ôi, thật khỏe mạnh thay đời sống sa-môn! Chắc chắn ta sẽ là người như vậy, ta sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’ Vị ấy có thể từ bỏ vô số đồng tiền vàng, từ bỏ vô số lúa gạo, từ bỏ vô số ruộng đất, từ bỏ vô số đất đai, từ bỏ vô số vợ, từ bỏ vô số nô bộc nam, từ bỏ vô số nô tỳ nữ, cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, để xuất gia. Này Udāyi, nếu có người nói như vầy: ‘Những ràng buộc nào đã trói buộc gia chủ ấy hay con của gia chủ ấy, mà vị ấy có thể từ bỏ vô số đồng tiền vàng, từ bỏ vô số lúa gạo, từ bỏ vô số ruộng đất, từ bỏ vô số đất đai, từ bỏ vô số vợ, từ bỏ vô số nô bộc nam, từ bỏ vô số nô tỳ nữ, cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, để xuất gia, những ràng buộc ấy đối với vị ấy là ràng buộc mạnh mẽ, là ràng buộc vững chắc, là ràng buộc bền chặt, là ràng buộc không mục nát, là khúc gỗ to, là cái chốt cửa’, này Udāyi, người nói như vậy có được xem là nói đúng chăng?” “Bạch Thế Tôn, không phải vậy. Bạch Thế Tôn, những ràng buộc nào đã trói buộc gia chủ ấy hay con của gia chủ ấy, mà vị ấy có thể từ bỏ vô số đồng tiền vàng, từ bỏ vô số lúa gạo, từ bỏ vô số ruộng đất, từ bỏ vô số đất đai, từ bỏ vô số vợ, từ bỏ vô số nô bộc nam, từ bỏ vô số nô tỳ nữ, cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, để xuất gia; những ràng buộc ấy đối với vị ấy là ràng buộc yếu ớt, là ràng buộc mỏng manh, là ràng buộc mục nát, là ràng buộc không có lõi.” “Cũng vậy, này Udāyi, ở đây có những thiện gia nam tử, khi được Ta bảo: ‘Hãy từ bỏ điều này’, họ nói như sau: ‘Việc từ bỏ này có gì đâu, chỉ là việc nhỏ nhặt, tầm thường, mà Thế Tôn dạy chúng con phải từ bỏ, mà Thiện Thệ dạy chúng con phải xả ly?’ Họ liền từ bỏ điều ấy, và không khởi lên sự bất mãn đối với Ta, cũng như đối với các vị tỳ-khưu ham học hỏi. Sau khi từ bỏ điều ấy, họ sống không lo âu, ngã mạn đã dứt, sống bằng vật thực của người khác cúng dường, với tâm như con nai. Này Udāyi, đối với họ, ràng buộc ấy là yếu ớt, là mỏng manh, là mục nát, là không có lõi.”
Cattārome, udāyi, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Idhudāyi, ekacco puggalo upadhipahānāya paṭipanno hoti upadhipaṭinissaggāya. Tamenaṁ upadhipahānāya paṭipannaṁ upadhipaṭinissaggāya upadhipaṭisaṁyuttā sarasaṅkappā samudācaranti. So te adhivāseti, nappajahati, na vinodeti, na byantīkaroti, na anabhāvaṁ gameti. Imaṁ kho ahaṁ, udāyi, puggalaṁ ‘saṁyutto’ti vadāmi no ‘visaṁyutto’. Taṁ kissa hetu? Indriyavemattatā hi me, udāyi, imasmiṁ puggale viditā.
Udāyī, these four individuals are found in the world. What four?
Take a certain individual practicing to give up and let go of attachments. As they do so, memories and thoughts connected with attachments beset them. They tolerate them and don’t give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them. I call this individual ‘fettered’, not ‘detached’. Why is that? Because I understand the disparity of faculties as it applies to this individual.
154. “Này Udāyi, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở trên đời. Bốn hạng người nào? Ở đây, này Udāyi, có hạng người thực hành để đoạn trừ chấp thủ, để từ bỏ chấp thủ. Trong khi vị ấy đang thực hành để đoạn trừ chấp thủ, để từ bỏ chấp thủ, những tư duy và ý niệm liên quan đến chấp thủ khởi lên. Vị ấy chấp nhận chúng, không từ bỏ, không xua tan, không trừ diệt, không làm cho chúng không còn hiện hữu. Này Udāyi, Ta nói rằng người này là ‘người bị trói buộc’, không phải là ‘người không bị trói buộc’. Vì sao vậy? Này Udāyi, vì Ta đã biết rõ sự khác biệt về các căn nơi người này.
Idha panudāyi, ekacco puggalo upadhipahānāya paṭipanno hoti upadhipaṭinissaggāya. Tamenaṁ upadhipahānāya paṭipannaṁ upadhipaṭinissaggāya upadhipaṭisaṁyuttā sarasaṅkappā samudācaranti. So te nādhivāseti, pajahati, vinodeti, byantīkaroti, anabhāvaṁ gameti. Imampi kho ahaṁ, udāyi, puggalaṁ ‘saṁyutto’ti vadāmi no ‘visaṁyutto’. Taṁ kissa hetu? Indriyavemattatā hi me, udāyi, imasmiṁ puggale viditā.
Take another individual practicing to give up and let go of attachments. As they do so, memories and thoughts connected with attachments beset them. They don’t tolerate them, but give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them. I also call this individual ‘fettered’, not ‘detached’. Why is that? Because I understand the disparity of faculties as it applies to this individual.
“Lại nữa, này Udāyi, ở đây có hạng người thực hành để đoạn trừ chấp thủ, để từ bỏ chấp thủ. Trong khi vị ấy đang thực hành để đoạn trừ chấp thủ, để từ bỏ chấp thủ, những tư duy và ý niệm liên quan đến chấp thủ khởi lên. Vị ấy không chấp nhận chúng, từ bỏ, xua tan, trừ diệt, làm cho chúng không còn hiện hữu. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng người này là ‘người bị trói buộc’, không phải là ‘người không bị trói buộc’. Vì sao vậy? Này Udāyi, vì Ta đã biết rõ sự khác biệt về các căn nơi người này.
Idha panudāyi, ekacco puggalo upadhipahānāya paṭipanno hoti upadhipaṭinissaggāya. Tamenaṁ upadhipahānāya paṭipannaṁ upadhipaṭinissaggāya kadāci karahaci satisammosā upadhipaṭisaṁyuttā sarasaṅkappā samudācaranti; dandho, udāyi, satuppādo. Atha kho naṁ khippameva pajahati, vinodeti, byantīkaroti, anabhāvaṁ gameti. Seyyathāpi, udāyi, puriso divasaṁsantatte ayokaṭāhe dve vā tīṇi vā udakaphusitāni nipāteyya; dandho, udāyi, udakaphusitānaṁ nipāto. Atha kho naṁ khippameva parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya.
Evameva kho, udāyi, idhekacco puggalo upadhipahānāya paṭipanno hoti upadhipaṭinissaggāya. Tamenaṁ upadhipahānāya paṭipannaṁ upadhipaṭinissaggāya kadāci karahaci satisammosā upadhipaṭisaṁyuttā sarasaṅkappā samudācaranti; dandho, udāyi, satuppādo. Atha kho naṁ khippameva pajahati, vinodeti, byantīkaroti, anabhāvaṁ gameti. Imampi kho ahaṁ, udāyi, puggalaṁ ‘saṁyutto’ti vadāmi no ‘visaṁyutto’. Taṁ kissa hetu? Indriyavemattatā hi me, udāyi, imasmiṁ puggale viditā.
Take another individual practicing to give up and let go of attachments. As they do so, memories and thoughts connected with attachments beset them every so often, due to the loss of mindfulness. Slowly mindfulness arises, then they quickly give up, dispel, eliminate, and obliterate those thoughts. Suppose there was an iron cauldron that had been heated all day, and a person let two or three drops of water fall onto it. Slowly the drops fall, but then they quickly dry up and evaporate.
In the same way, take an individual practicing to give up and let go of attachments. As they do so, memories and thoughts connected with attachments beset them every so often, due to the loss of mindfulness. Slowly mindfulness arises, but then they quickly give up, dispel, eliminate, and obliterate those thoughts. I also call this individual ‘fettered’, not ‘detached’. Why is that? Because I understand the disparity of faculties as it applies to this individual.
“Này Udāyi, ở đây, có hạng người thực hành để đoạn trừ sanh y, để từ bỏ sanh y. Trong khi vị ấy đang thực hành để đoạn trừ sanh y, để từ bỏ sanh y, đôi khi, do thất niệm, các tư duy liên hệ đến sanh y khởi lên. Này Udāyi, sự khởi lên của chánh niệm thì chậm chạp. Nhưng vị ấy nhanh chóng từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại tư duy ấy. Này Udāyi, ví như một người nhỏ hai hoặc ba giọt nước vào một chảo sắt đã được nung nóng suốt ngày. Này Udāyi, việc nhỏ giọt nước thì chậm chạp, nhưng nó sẽ nhanh chóng cạn kiệt, biến mất. Cũng vậy, này Udāyi, ở đây, có hạng người thực hành để đoạn trừ sanh y, để từ bỏ sanh y. Trong khi vị ấy đang thực hành để đoạn trừ sanh y, để từ bỏ sanh y, đôi khi, do thất niệm, các tư duy liên hệ đến sanh y khởi lên. Này Udāyi, sự khởi lên của chánh niệm thì chậm chạp. Nhưng vị ấy nhanh chóng từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại tư duy ấy. Này Udāyi, Ta nói rằng hạng người này vẫn còn ‘bị trói buộc’, chứ không phải ‘không bị trói buộc’. Vì sao vậy? Này Udāyi, vì Ta biết rõ sự khác biệt về các căn ở hạng người này.”
Idha panudāyi, ekacco puggalo ‘upadhi dukkhassa mūlan’ti—iti viditvā nirupadhi hoti, upadhisaṅkhaye vimutto. Imaṁ kho ahaṁ, udāyi, puggalaṁ ‘visaṁyutto’ti vadāmi no ‘saṁyutto’ti. Taṁ kissa hetu? Indriyavemattatā hi me, udāyi, imasmiṁ puggale viditā. Ime kho, udāyi, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Take another individual who, understanding that attachment is the root of suffering, is freed with the ending of attachments. I call this individual ‘detached’, not ‘fettered’. Why is that? Because I understand the disparity of faculties as it applies to this individual. These are the four individuals found in the world.
“Lại nữa, này Udāyi, ở đây, có hạng người, sau khi biết rằng: ‘Sanh y là gốc rễ của khổ đau’, vị ấy trở nên không còn sanh y, được giải thoát trong sự đoạn tận sanh y. Này Udāyi, Ta nói rằng hạng người này ‘không bị trói buộc’, chứ không phải ‘bị trói buộc’. Vì sao vậy? Này Udāyi, vì Ta biết rõ sự khác biệt về các căn ở hạng người này. Này Udāyi, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời.”
Pañca kho ime, udāyi, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Ime kho, udāyi, pañca kāmaguṇā.
Yaṁ kho, udāyi, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ miḷhasukhaṁ puthujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ, na sevitabbaṁ, na bhāvetabbaṁ, na bahulīkātabbaṁ; ‘bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti vadāmi.
Idhudāyi, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Udāyī, these are the five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation.
The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure—a filthy, ordinary, ignoble pleasure. Such pleasure should not be cultivated or developed, but should be feared, I say.
Take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption.
155. “Này Udāyi, có năm loại dục lạc này. Năm loại nào? Các sắc pháp được nhận biết qua mắt, khả ái, khả hỷ, khả ý, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy lòng tham; các âm thanh được nhận biết qua tai... các mùi hương được nhận biết qua mũi... các vị được nhận biết qua lưỡi... các vật xúc chạm được nhận biết qua thân, khả ái, khả hỷ, khả ý, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy lòng tham. Này Udāyi, đây là năm loại dục lạc. Này Udāyi, bất cứ lạc và hỷ nào khởi lên do duyên với năm loại dục lạc này, đây được gọi là dục lạc, lạc thú bẩn thỉu, lạc thú của phàm phu, lạc thú không của bậc Thánh; không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn. Ta nói rằng: ‘Cần phải sợ hãi đối với loại lạc này’.”
Idaṁ vuccati nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhasukhaṁ, āsevitabbaṁ, bhāvetabbaṁ, bahulīkātabbaṁ; ‘na bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti vadāmi.
Idhudāyi, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
This is called the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening. Such pleasure should be cultivated and developed, and should not be feared, I say.
Take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption.
156. “Này Udāyi, ở đây, vị Tỳ khưu ly dục... chứng và trú Sơ thiền; do sự tịnh chỉ tầm và tứ... chứng và trú Nhị thiền; do ly hỷ... chứng và trú Tam thiền; do đoạn lạc... chứng và trú Tứ thiền. Đây được gọi là lạc xuất ly, lạc viễn ly, lạc an tịnh, lạc giác ngộ; nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn. Ta nói rằng: ‘Không cần phải sợ hãi đối với loại lạc này’.”
Idhudāyi, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; idampi kho ahaṁ, udāyi, iñjitasmiṁ vadāmi. Kiñca tattha iñjitasmiṁ? Yadeva tattha pītisukhaṁ aniruddhaṁ hoti idaṁ tattha iñjitasmiṁ.
Idhudāyi, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; idampi kho ahaṁ, udāyi, iñjitasmiṁ vadāmi. Kiñca tattha iñjitasmiṁ? Yadeva tattha upekkhāsukhaṁ aniruddhaṁ hoti idaṁ tattha iñjitasmiṁ.
Idhudāyi, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; idaṁ kho ahaṁ, udāyi, aniñjitasmiṁ vadāmi.
Idhudāyi, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; idaṁ kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi. Ko ca tassa samatikkamo?
Take a mendicant who, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enters and remains in the second absorption. This belongs to the perturbable, I say. And what there belongs to the perturbable? Whatever rapture and bliss has not ceased there is what belongs to the perturbable.
Take a mendicant who, with the fading away of rapture, enters and remains in the third absorption. This belongs to the perturbable. And what there belongs to the perturbable? Whatever bliss with equanimity has not ceased there is what belongs to the perturbable.
Take a mendicant who, giving up pleasure and pain, enters and remains in the fourth absorption. This belongs to the imperturbable, I say.
Take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption. But this is not enough, I say: give it up, go beyond it. And what goes beyond it?
“Này Udāyi, ở đây, vị Tỳ khưu ly dục... chứng và trú Sơ thiền. Này Udāyi, Ta nói rằng trạng thái này là ‘dao động’. Và cái gì ở đây là dao động? Chính là tầm và tứ chưa được đoạn diệt, đó là sự dao động ở đây. Này Udāyi, ở đây, vị Tỳ khưu do sự tịnh chỉ tầm và tứ... chứng và trú Nhị thiền. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng trạng thái này là ‘dao động’. Và cái gì ở đây là dao động? Chính là hỷ lạc chưa được đoạn diệt, đó là sự dao động ở đây. Này Udāyi, ở đây, vị Tỳ khưu do ly hỷ... chứng và trú Tam thiền. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng trạng thái này là ‘dao động’. Và cái gì ở đây là dao động? Chính là xả lạc chưa được đoạn diệt, đó là sự dao động ở đây. Này Udāyi, ở đây, vị Tỳ khưu do đoạn lạc... chứng và trú Tứ thiền. Này Udāyi, Ta nói rằng trạng thái này là ‘bất động’.”
Idhudāyi, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo; idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi. Ko ca tassa samatikkamo?
Idhudāyi, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo; idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi. Ko ca tassa samatikkamo?
Idhudāyi, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo; idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi. Ko ca tassa samatikkamo?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo; idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi. Ko ca tassa samatikkamo?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo; idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi. Ko ca tassa samatikkamo?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo; idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi. Ko ca tassa samatikkamo?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo; idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi. Ko ca tassa samatikkamo?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo;
iti kho ahaṁ, udāyi, nevasaññānāsaññāyatanassapi pahānaṁ vadāmi. Passasi no tvaṁ, udāyi, taṁ saṁyojanaṁ aṇuṁ vā thūlaṁ vā yassāhaṁ no pahānaṁ vadāmī”ti?
“No hetaṁ, bhante”ti.
Take a mendicant who, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enters and remains in the second absorption. That goes beyond it. But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it. And what goes beyond it?
Take a mendicant who, with the fading away of rapture, enters and remains in the third absorption. That goes beyond it. But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it. And what goes beyond it?
Take a mendicant who, giving up pleasure and pain, enters and remains in the fourth absorption. That goes beyond it. But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it. And what goes beyond it?
Take a mendicant who, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. That goes beyond it. But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it. And what goes beyond it?
Take a mendicant who, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. That goes beyond it. But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it. And what goes beyond it?
Take a mendicant who, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. That goes beyond it. But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it. And what goes beyond it?
Take a mendicant who, going totally beyond the dimension of nothingness, enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception. That goes beyond it. But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it. And what goes beyond it?
Take a mendicant who, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. That goes beyond it.
So, Udāyī, I even recommend giving up the dimension of neither perception nor non-perception. Do you see any fetter, large or small, that I don’t recommend giving up?”
“No, sir.”
“Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã ly dục … (như trên) … chứng đạt và an trú thiền thứ nhất. Này Udāyi, Ta nói rằng: ‘Như thế là chưa đủ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy vượt qua.’ Và sự vượt qua ấy là thế nào? Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã làm cho lắng dịu tầm và tứ … chứng đạt và an trú thiền thứ hai. Đây là sự vượt qua ấy. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng: ‘Như thế là chưa đủ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy vượt qua.’ Và sự vượt qua ấy là thế nào? Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã ly hỷ … chứng đạt và an trú thiền thứ ba. Đây là sự vượt qua ấy. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng: ‘Như thế là chưa đủ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy vượt qua.’ Và sự vượt qua ấy là thế nào? Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã xả lạc … chứng đạt và an trú thiền thứ tư. Đây là sự vượt qua ấy. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng: ‘Như thế là chưa đủ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy vượt qua.’ Và sự vượt qua ấy là thế nào? Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, đã làm cho các đối ngại tưởng biến mất, đã không tác ý đến các dị biệt tưởng, với ý niệm rằng: ‘Hư không là vô biên,’ đã chứng đạt và an trú Không Vô Biên Xứ. Đây là sự vượt qua ấy. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng: ‘Như thế là chưa đủ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy vượt qua.’ Và sự vượt qua ấy là thế nào? Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, với ý niệm rằng: ‘Thức là vô biên,’ đã chứng đạt và an trú Thức Vô Biên Xứ. Đây là sự vượt qua ấy. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng: ‘Như thế là chưa đủ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy vượt qua.’ Và sự vượt qua ấy là thế nào? Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm rằng: ‘Không có gì cả,’ đã chứng đạt và an trú Vô Sở Hữu Xứ. Đây là sự vượt qua ấy. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng: ‘Như thế là chưa đủ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy vượt qua.’ Và sự vượt qua ấy là thế nào? Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, đã chứng đạt và an trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây là sự vượt qua ấy. Này Udāyi, Ta cũng nói rằng: ‘Như thế là chưa đủ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy từ bỏ,’ Ta nói rằng: ‘Hãy vượt qua.’ Và sự vượt qua ấy là thế nào? Này Udāyi, ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã hoàn toàn vượt qua Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, đã chứng đạt và an trú Diệt Thọ Tưởng Định. Đây là sự vượt qua ấy. Này Udāyi, như vậy đó, Ta nói rằng ngay cả Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ cũng cần phải từ bỏ. Này Udāyi, ngươi có thấy bất cứ kiết sử nào, dù vi tế hay thô thiển, mà Ta không nói rằng cần phải từ bỏ không?” – “Bạch Thế Tôn, không có việc ấy.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā udāyī bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Udāyī approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Tôn giả Udāyī đã hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Laṭukikopamasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Ví Dụ Chim Cút, bài kinh thứ sáu.