- Majjhima Nikāya 64
Mahāmālukyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāmālukyasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.:” Bạch Thế Tôn”. Những vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 3—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Ta giảng dạy không?
SC 4Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Malunkyaputta bạch Thế Tôn
SC 5—Con có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy.
SC 6—Năm hạ phần kiết sử do Ta giảng dạy, này Malunkyaputta, Ông thọ trì như thế nào?
SC 7—Bạch Thế Tôn, con thọ trì thân kiến là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn con thọ trì nghi là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì giới cấm thủ là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì dục tham là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì sân là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con thọ trì năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy.
SC 8—Này Malunkyaputta, vì vấn đề gì (hay vì ai) Ông thọ trì năm hạ phần kiết này do Ta giảng dạy? Này Malunkyaputta, có phải các tu sĩ ngoại đạo cật vấn Ông với ví dụ này về đứa con nít? Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngủ không có tự thân, thời đâu nó có thể khởi lên thân kiến? Thân kiến tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ, đang nằm ngửa không có các pháp, thời từ đâu nó có thể khởi lên nghi hoặc đối với các pháp? Nghi tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có giới, thời từ đâu nó có thể khởi lên giới cấm thủ trong các giới? Giới cấm thủ tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có những dục, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng dục tham trong các dục? Dục tham, tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có các loài hữu tình, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng sân đối với các loài hữu tình? Sân tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, có phải các tu sĩ ngoại đạo cật vấn Ông với ví dụ này về đứa con nít?
SC 9Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 10—Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời, Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết giảng năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
SC 11—Vậy Ānanda, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 12—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 13Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 14—Ở đây, này Ānanda, có kẻ vô văn phàm phu, không đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đến yết kiến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, sống với tâm bị triền phược bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến, và không như thật tuệ tri sự xuất ly thân kiến đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị nghi hoặc triền phược, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật tuệ tri sự xuất ly nghi hoặc đã khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị giới cấm thủ triền phược, bị giới cấm thủ chi phối và không như thật tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ đã khởi lên. Giới cấm thủ này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị dục tham triền phược, bị dục tham chi phối và không như thật biết sự xuất ly dục tham đã khởi lên, dục tham này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị sân triền phược, bị sân chi phối và không như thật tuệ tri, sự xuất ly sân đã khởi lên. Sân này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử.
SC 15Và này Ānanda, có vị Ða văn Thánh đệ tử, đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, sống với tâm không bị thân kiến triền phược, không bị thân kiến chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục tham đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị nghi hoặc triền phược, không bị nghi hoặc chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly nghi hoặc đã khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị ấy sống với tâm không bị giới cấm thủ triền phược, không bị giới cấm thủ chi phối và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ đã khởi lên, giới cấm thủ của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị dục tham triền phược, không bị dục tham chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục tham đã khởi lên. Dục tham này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị sân triền phược, không bị sân chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly sân đã khởi lên. Sân này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ.
SC 16Này Ānanda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử được biết rõ, hay được thấy rõ, hay được đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này Ānanda, đối với một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, nếu người ấy không đẽo vỏ trong, không đẽo giác cây, nhưng vẫn có thể đẽo được lõi cây, sự tình này không xảy ra.
SC 17Cũng vậy, này Ānanda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Và này Ānanda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn trừ, sự tình như vậy xảy ra.
SC 18Ví như, này Ānanda, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, nếu người ấy sau khi đẽo vỏ trong, sau khi đẽo giác cây, thời sẽ đẽo được lõi cây, sự tình này xảy ra. Cũng vậy, này Ānanda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu thực hành con đường ấy, đạo lộ ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn diệt, sự tình như vậy xảy ra.
SC 19Này Ānanda, ví như sông Hằng, nước đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người ốm yếu đi đến và nghĩ như sau: “Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn”. Nhưng người ấy không thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ānanda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy không thích thú, không hoan hỷ, không có định tĩnh, không có giải thoát, thời vị ấy cần phải được xem là giống người ốm yếu kia.
SC 20Này Ānanda, ví như sông Hằng, nước lớn, đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người lực sĩ đi đến và nghĩ như sau: “Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn”. Người ấy có thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ānanda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để được đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy thích thú, hoan hỷ, có định tĩnh, có giải thoát, thời vị ấy được xem là giống như người lực sĩ kia
SC 21Và này Ānanda, thế nào là con đường, thế nào là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo do viễn ly các sanh y (Upadhiviveka), do đoạn trừ các bất thiện pháp, do làm cho an tịnh thân thô ác hành một cách toàn diện, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
SC 22Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: “Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, thời do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Này Ānanda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
SC 23Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm … ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba … xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 24Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: “Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, thời do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Này Ānanda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
SC 25Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, vị Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Hư không vô biên xứ. Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường … (như trên) … không phải trở lui đời này nữa. Này Ānanda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
SC 26Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt lên mọi Hư không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ … (như trên) … vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung vào bất tử giới và nghĩ rằng: “Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Này Ānanda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
SC 27—Bạch Thế Tôn, nếu đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử thời do hành trì như thế nào mà một số vị Tỷ-kheo chứng tâm giải thoát, một số chứng tuệ giải thoát?
SC 28—Ở đây, này Ānanda, Ta nói rằng do sự sai khác về căn tánh.
SC 29Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 16–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Đại Mālukya
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“dhāretha no tumhe, bhikkhave, mayā desitāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanānī”ti?
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, do you remember the five lower fetters taught by me?”
129. Như vầy tôi nghe – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu.” Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn.” Thế Tôn nói điều này: “Này các tỳ khưu, các ông có ghi nhớ năm hạ phần kiết sử đã được Ta thuyết giảng không?”
Evaṁ vutte, āyasmā mālukyaputto bhagavantaṁ etadavoca: “ahaṁ kho, bhante, dhāremi bhagavatā desitāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanānī”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, mālukyaputta, dhāresi mayā desitāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanānī”ti?
“Sakkāyadiṭṭhiṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi; vicikicchaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi; sīlabbataparāmāsaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi; kāmacchandaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi; byāpādaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, dhāremi bhagavatā desitāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanānī”ti.
When he said this, Venerable Māluṅkyaputta said to him, “Sir, I remember them.”
“But how do you remember them?”
“I remember the lower fetters taught by the Buddha as follows: substantialist view, doubt, misapprehension of precepts and observances, sensual desire, and ill will. That’s how I remember the five lower fetters taught by the Buddha.”
Khi được nói như vậy, tôn giả Mālukyaputto bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, quả thật con ghi nhớ năm hạ phần kiết sử đã được đức Thế Tôn thuyết giảng.’ – ‘Này Mālukyaputta, vậy thì ngươi ghi nhớ năm hạ phần kiết sử đã được ta thuyết giảng theo cách nào?’ – ‘Bạch ngài, quả thật con ghi nhớ thân kiến đã được đức Thế Tôn thuyết giảng là hạ phần kiết sử; bạch ngài, quả thật con ghi nhớ hoài nghi đã được đức Thế Tôn thuyết giảng là hạ phần kiết sử; bạch ngài, quả thật con ghi nhớ giới cấm thủ đã được đức Thế Tôn thuyết giảng là hạ phần kiết sử; bạch ngài, quả thật con ghi nhớ tham dục đã được đức Thế Tôn thuyết giảng là hạ phần kiết sử; bạch ngài, quả thật con ghi nhớ sân hận đã được đức Thế Tôn thuyết giảng là hạ phần kiết sử. Bạch ngài, quả thật con ghi nhớ năm hạ phần kiết sử đã được đức Thế Tôn thuyết giảng là như vậy.’
“Kassa kho nāma tvaṁ, mālukyaputta, imāni evaṁ pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni desitāni dhāresi? Nanu, mālukyaputta, aññatitthiyā paribbājakā iminā taruṇūpamena upārambhena upārambhissanti? Daharassa hi, mālukyaputta, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa sakkāyotipi na hoti, kuto panassa uppajjissati sakkāyadiṭṭhi? Anusetvevassa sakkāyadiṭṭhānusayo. Daharassa hi, mālukyaputta, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa dhammātipi na hoti, kuto panassa uppajjissati dhammesu vicikicchā? Anusetvevassa vicikicchānusayo. Daharassa hi, mālukyaputta, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa sīlātipi na hoti, kuto panassa uppajjissati sīlesu sīlabbataparāmāso? Anusetvevassa sīlabbataparāmāsānusayo. Daharassa hi, mālukyaputta, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa kāmātipi na hoti, kuto panassa uppajjissati kāmesu kāmacchando? Anusetvevassa kāmarāgānusayo. Daharassa hi, mālukyaputta, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa sattātipi na hoti, kuto panassa uppajjissati sattesu byāpādo? Anusetvevassa byāpādānusayo. Nanu, mālukyaputta, aññatitthiyā paribbājakā iminā taruṇūpamena upārambhena upārambhissantī”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “etassa, bhagavā, kālo, etassa, sugata, kālo yaṁ bhagavā pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni deseyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hānanda, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“Who on earth do you remember being taught the five lower fetters in that way? Wouldn’t the wanderers of other religions fault you using the simile of the infant? For a little baby doesn’t even have a concept of ‘substantial reality’, so how could substantialist view possibly arise in them? Yet the underlying tendency to substantialist view still lies within them. A little baby doesn’t even have a concept of ‘teachings’, so how could doubt about the teachings possibly arise in them? Yet the underlying tendency to doubt still lies within them. A little baby doesn’t even have a concept of ‘precepts’, so how could misapprehension of precepts and observances possibly arise in them? Yet the underlying tendency to misapprehension of precepts and observances still lies within them. A little baby doesn’t even have a concept of ‘sensual pleasures’, so how could desire for sensual pleasures possibly arise in them? Yet the underlying tendency to sensual desire still lies within them. A little baby doesn’t even have a concept of ‘sentient beings’, so how could ill will for sentient beings possibly arise in them? Yet the underlying tendency to ill will still lies within them. Wouldn’t the wanderers of other religions fault you using the simile of the infant?”
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! May the Buddha teach the five lower fetters. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, Ānanda, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. The Buddha said this:
– ‘Này Mālukyaputta, quả thật ngươi ghi nhớ năm hạ phần kiết sử này đã được ta thuyết giảng như vậy là cho ai? Này Mālukyaputta, chẳng phải các du sĩ ngoại đạo sẽ khiển trách bằng sự khiển trách có ví dụ về đứa trẻ non nớt này hay sao? Này Mālukyaputta, vì rằng đối với đứa trẻ non nớt, khờ dại, còn nằm ngửa, khái niệm về ‘thân’ còn không có, thì làm sao thân kiến có thể sanh khởi nơi nó được? Tuy nhiên, tùy miên thân kiến vẫn tiềm ẩn nơi nó. Này Mālukyaputta, vì rằng đối với đứa trẻ non nớt, khờ dại, còn nằm ngửa, khái niệm về ‘các pháp’ còn không có, thì làm sao hoài nghi về các pháp có thể sanh khởi nơi nó được? Tuy nhiên, tùy miên hoài nghi vẫn tiềm ẩn nơi nó. Này Mālukyaputta, vì rằng đối với đứa trẻ non nớt, khờ dại, còn nằm ngửa, khái niệm về ‘giới’ còn không có, thì làm sao giới cấm thủ về các giới có thể sanh khởi nơi nó được? Tuy nhiên, tùy miên giới cấm thủ vẫn tiềm ẩn nơi nó. Này Mālukyaputta, vì rằng đối với đứa trẻ non nớt, khờ dại, còn nằm ngửa, khái niệm về ‘các dục’ còn không có, thì làm sao tham dục về các dục có thể sanh khởi nơi nó được? Tuy nhiên, tùy miên tham ái dục lạc vẫn tiềm ẩn nơi nó. Này Mālukyaputta, vì rằng đối với đứa trẻ non nớt, khờ dại, còn nằm ngửa, khái niệm về ‘chúng sanh’ còn không có, thì làm sao sân hận đối với chúng sanh có thể sanh khởi nơi nó được? Tuy nhiên, tùy miên sân hận vẫn tiềm ẩn nơi nó. Này Mālukyaputta, chẳng phải các du sĩ ngoại đạo sẽ khiển trách bằng sự khiển trách có ví dụ về đứa trẻ non nớt này hay sao?’ Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch đức Thế Tôn, đây là thời điểm, bạch đức Thiện Thệ, đây là thời điểm để đức Thế Tôn thuyết giảng về năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe từ đức Thế Tôn, các vị tỳ khưu sẽ ghi nhớ.’ – ‘Vậy thì này Ānanda, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; ta sẽ nói.’ – ‘Xin vâng, bạch ngài.’ – Quả thật, tôn giả Ānanda đã vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Idhānanda, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto sakkāyadiṭṭhipariyuṭṭhitena cetasā viharati sakkāyadiṭṭhiparetena; uppannāya ca sakkāyadiṭṭhiyā nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa sā sakkāyadiṭṭhi thāmagatā appaṭivinītā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ.
Vicikicchāpariyuṭṭhitena cetasā viharati vicikicchāparetena; uppannāya ca vicikicchāya nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa sā vicikicchā thāmagatā appaṭivinītā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ.
Sīlabbataparāmāsapariyuṭṭhitena cetasā viharati sīlabbataparāmāsaparetena; uppannassa ca sīlabbataparāmāsassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa so sīlabbataparāmāso thāmagato appaṭivinīto orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ.
Kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati kāmarāgaparetena; uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa so kāmarāgo thāmagato appaṭivinīto orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ.
Byāpādapariyuṭṭhitena cetasā viharati byāpādaparetena; uppannassa ca byāpādassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa so byāpādo thāmagato appaṭivinīto orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ.
“Ānanda, take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. Their heart is overcome and mired in substantialist view, and they don’t truly understand the escape from substantialist view that has arisen. That substantialist view is entrenched in them, not eliminated: it is a lower fetter.
Their heart is overcome and mired in doubt, and they don’t truly understand the escape from doubt that has arisen. That doubt is entrenched in them, not eliminated: it is a lower fetter.
Their heart is overcome and mired in misapprehension of precepts and observances, and they don’t truly understand the escape from misapprehension of precepts and observances that has arisen. That misapprehension of precepts and observances is entrenched in them, not eliminated: it is a lower fetter.
Their heart is overcome and mired in sensual desire, and they don’t truly understand the escape from sensual desire that has arisen. That sensual desire is entrenched in them, not eliminated: it is a lower fetter.
Their heart is overcome and mired in ill will, and they don’t truly understand the escape from ill will that has arisen. That ill will is entrenched in them, not eliminated: it is a lower fetter.
130. – ‘Này Ānanda, ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục Chánh pháp của bậc Thánh, không được rèn luyện trong Chánh pháp của bậc Thánh; không thấy các bậc chân nhân, không thuần thục Chánh pháp của bậc chân nhân, không được rèn luyện trong Chánh pháp của bậc chân nhân, vị ấy sống với tâm bị thân kiến ám ảnh, bị thân kiến xâm chiếm; và vị ấy không biết như thật về sự giải thoát khỏi thân kiến đã sanh khởi. Đối với vị ấy, thân kiến ấy trở nên mạnh mẽ, không được loại trừ, chính là hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị hoài nghi ám ảnh, bị hoài nghi xâm chiếm; và vị ấy không biết như thật về sự giải thoát khỏi hoài nghi đã sanh khởi. Đối với vị ấy, hoài nghi ấy trở nên mạnh mẽ, không được loại trừ, chính là hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị giới cấm thủ ám ảnh, bị giới cấm thủ xâm chiếm; và vị ấy không biết như thật về sự giải thoát khỏi giới cấm thủ đã sanh khởi. Đối với vị ấy, giới cấm thủ ấy trở nên mạnh mẽ, không được loại trừ, chính là hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị tham ái dục lạc ám ảnh, bị tham ái dục lạc xâm chiếm; và vị ấy không biết như thật về sự giải thoát khỏi tham ái dục lạc đã sanh khởi. Đối với vị ấy, tham ái dục lạc ấy trở nên mạnh mẽ, không được loại trừ, chính là hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị sân hận ám ảnh, bị sân hận xâm chiếm; và vị ấy không biết như thật về sự giải thoát khỏi sân hận đã sanh khởi. Đối với vị ấy, sân hận ấy trở nên mạnh mẽ, không được loại trừ, chính là hạ phần kiết sử.’
Sutavā ca kho, ānanda, ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto na sakkāyadiṭṭhipariyuṭṭhitena cetasā viharati na sakkāyadiṭṭhiparetena; uppannāya ca sakkāyadiṭṭhiyā nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa sā sakkāyadiṭṭhi sānusayā pahīyati.
Na vicikicchāpariyuṭṭhitena cetasā viharati na vicikicchāparetena; uppannāya ca vicikicchāya nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa sā vicikicchā sānusayā pahīyati.
Na sīlabbataparāmāsapariyuṭṭhitena cetasā viharati na sīlabbataparāmāsaparetena; uppannassa ca sīlabbataparāmāsassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa so sīlabbataparāmāso sānusayo pahīyati.
Na kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati na kāmarāgaparetena; uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa so kāmarāgo sānusayo pahīyati.
Na byāpādapariyuṭṭhitena cetasā viharati na byāpādaparetena; uppannassa ca byāpādassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa so byāpādo sānusayo pahīyati.
But a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. Their heart is not overcome and mired in substantialist view, and they truly understand the escape from substantialist view that has arisen. That substantialist view, along with any underlying tendency to it, is given up in them.
Their heart is not overcome and mired in doubt, and they truly understand the escape from doubt that has arisen. That doubt, along with any underlying tendency to it, is given up in them.
Their heart is not overcome and mired in misapprehension of precepts and observances, and they truly understand the escape from misapprehension of precepts and observances that has arisen. That misapprehension of precepts and observances, along with any underlying tendency to it, is given up in them.
Their heart is not overcome and mired in sensual desire, and they truly understand the escape from sensual desire that has arisen. That sensual desire, along with any underlying tendency to it, is given up in them.
Their heart is not overcome and mired in ill will, and they truly understand the escape from ill will that has arisen. That ill will, along with any underlying tendency to it, is given up in them.
131. Này Ānanda, vị Thánh đệ tử có học thức, người thường thấy các bậc Thánh, thông thạo Thánh pháp, được khéo huấn luyện trong Thánh pháp, người thường thấy các bậc chân nhân, thông thạo pháp của các bậc chân nhân, được khéo huấn luyện trong pháp của các bậc chân nhân, vị ấy sống với tâm không bị thân kiến ám ảnh, không bị thân kiến lôi kéo; và vị ấy biết như thật sự thoát ly khỏi thân kiến đã sanh khởi. Đối với vị ấy, thân kiến ấy cùng với tùy miên của nó được đoạn tận. Vị ấy sống với tâm không bị hoài nghi ám ảnh, không bị hoài nghi lôi kéo; và vị ấy biết như thật sự thoát ly khỏi hoài nghi đã sanh khởi. Đối với vị ấy, hoài nghi ấy cùng với tùy miên của nó được đoạn tận. Vị ấy sống với tâm không bị giới cấm thủ ám ảnh, không bị giới cấm thủ lôi kéo; và vị ấy biết như thật sự thoát ly khỏi giới cấm thủ đã sanh khởi. Đối với vị ấy, giới cấm thủ ấy cùng với tùy miên của nó được đoạn tận. Vị ấy sống với tâm không bị tham dục ám ảnh, không bị tham dục lôi kéo; và vị ấy biết như thật sự thoát ly khỏi tham dục đã sanh khởi. Đối với vị ấy, tham dục ấy cùng với tùy miên của nó được đoạn tận. Vị ấy sống với tâm không bị sân hận ám ảnh, không bị sân hận lôi kéo; và vị ấy biết như thật sự thoát ly khỏi sân hận đã sanh khởi. Đối với vị ấy, sân hận ấy cùng với tùy miên của nó được đoạn tận.
Yo, ānanda, maggo yā paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya taṁ maggaṁ taṁ paṭipadaṁ anāgamma pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni ñassati vā dakkhati vā pajahissati vāti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Seyyathāpi, ānanda, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato tacaṁ acchetvā phegguṁ acchetvā sāracchedo bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati; evameva kho, ānanda, yo maggo yā paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya taṁ maggaṁ taṁ paṭipadaṁ anāgamma pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni ñassati vā dakkhati vā pajahissati vāti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
There is a path and a practice for giving up the five lower fetters. It’s not possible to know or see or give up the five lower fetters without relying on that path and that practice. Suppose there was a large tree standing with heartwood. It’s not possible to cut out the heartwood without having cut through the bark and the softwood. In the same way, there is a path and a practice for giving up the five lower fetters. It’s not possible to know or see or give up the five lower fetters without relying on that path and that practice.
132. Này Ānanda, con đường nào, pháp hành nào đưa đến sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nếu không đi đến con đường ấy, pháp hành ấy mà có thể biết, hoặc thấy, hoặc đoạn tận năm hạ phần kiết sử — trường hợp này không xảy ra. Này Ānanda, ví như đối với một cây lớn, đứng vững, có lõi cây, nếu không chặt vỏ, không chặt giác cây mà việc chặt lõi cây sẽ xảy ra — trường hợp này không xảy ra; cũng vậy, này Ānanda, con đường nào, pháp hành nào đưa đến sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nếu không đi đến con đường ấy, pháp hành ấy mà có thể biết, hoặc thấy, hoặc đoạn tận năm hạ phần kiết sử — trường hợp này không xảy ra.
Yo ca kho, ānanda, maggo yā paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya taṁ maggaṁ taṁ paṭipadaṁ āgamma pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni ñassati vā dakkhati vā pajahissati vāti—ṭhānametaṁ vijjati.
Seyyathāpi, ānanda, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato tacaṁ chetvā phegguṁ chetvā sāracchedo bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati. evameva kho, ānanda, yo maggo yā paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya taṁ maggaṁ taṁ paṭipadaṁ āgamma pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni ñassati vā dakkhati vā pajahissati vāti—ṭhānametaṁ vijjati. Seyyathāpi, ānanda, gaṅgā nadī pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Atha dubbalako puriso āgaccheyya: ‘ahaṁ imissā gaṅgāya nadiyā tiriyaṁ bāhāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gacchissāmī’ti; so na sakkuṇeyya gaṅgāya nadiyā tiriyaṁ bāhāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gantuṁ. Evameva kho, ānanda, yesaṁ kesañci sakkāyanirodhāya dhamme desiyamāne cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati; seyyathāpi so dubbalako puriso evamete daṭṭhabbā. Seyyathāpi, ānanda, gaṅgā nadī pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Atha balavā puriso āgaccheyya: ‘ahaṁ imissā gaṅgāya nadiyā tiriyaṁ bāhāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gacchissāmī’ti; so sakkuṇeyya gaṅgāya nadiyā tiriyaṁ bāhāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gantuṁ.
Evameva kho, ānanda, yesaṁ kesañci sakkāyanirodhāya dhamme desiyamāne cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati; seyyathāpi so balavā puriso evamete daṭṭhabbā.
But it is possible to know and see and give up the five lower fetters by relying on that path and that practice.
Suppose there was a large tree standing with heartwood. It is possible to cut out the heartwood after having cut through the bark and the softwood. In the same way, there is a path and a practice for giving up the five lower fetters. It is possible to know and see and give up the five lower fetters by relying on that path and that practice. Suppose the Ganges River was full to the brim so a crow could drink from it. Then along comes a feeble person, who thinks: ‘By swimming with my arms I’ll safely cross over to the far shore of the Ganges.’ But they’re not able to do so. In the same way, when the Dhamma is being taught to them for the cessation of substantial reality, those whose mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided should be regarded as being like that feeble person. Suppose the Ganges River was full to the brim so a crow could drink from it. Then along comes a strong person, who thinks: ‘By swimming with my arms I’ll safely cross over to the far shore of the Ganges.’ And they are able to do so.
In the same way, when the Dhamma is being taught to them for the cessation of substantial reality, those whose mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided should be regarded as being like that strong person.
Này Ānanda, con đường nào, pháp hành nào đưa đến sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nếu đi đến con đường ấy, pháp hành ấy mà có thể biết, hoặc thấy, hoặc đoạn tận năm hạ phần kiết sử — trường hợp này xảy ra. Này Ānanda, ví như đối với một cây lớn, đứng vững, có lõi cây, nếu chặt vỏ, chặt giác cây thì việc chặt lõi cây sẽ xảy ra — trường hợp này xảy ra; cũng vậy, này Ānanda, con đường nào, pháp hành nào đưa đến sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nếu đi đến con đường ấy, pháp hành ấy mà có thể biết, hoặc thấy, hoặc đoạn tận năm hạ phần kiết sử — trường hợp này xảy ra. Này Ānanda, ví như sông Hằng đầy nước, ngang bờ, quạ có thể uống được. Rồi một người đàn ông yếu ớt đi đến và nói: ‘Ta sẽ dùng cánh tay cắt ngang dòng nước của sông Hằng này và qua bờ bên kia một cách an toàn’; người ấy không thể dùng cánh tay cắt ngang dòng nước của sông Hằng và qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này Ānanda, đối với những người nào, khi Pháp được thuyết giảng để đoạn diệt thân kiến, tâm của họ không hướng vào, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát; những người này được xem như người đàn ông yếu ớt kia. Này Ānanda, ví như sông Hằng đầy nước, ngang bờ, quạ có thể uống được. Rồi một người đàn ông mạnh mẽ đi đến và nói: ‘Ta sẽ dùng cánh tay cắt ngang dòng nước của sông Hằng này và qua bờ bên kia một cách an toàn’; người ấy có thể dùng cánh tay cắt ngang dòng nước của sông Hằng và qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này Ānanda, đối với những người nào, khi Pháp được thuyết giảng để đoạn diệt thân kiến, tâm của họ hướng vào, tịnh tín, an trú, và giải thoát; những người này được xem như người đàn ông mạnh mẽ kia.
Katamo cānanda, maggo, katamā paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya? Idhānanda, bhikkhu upadhivivekā akusalānaṁ dhammānaṁ pahānā sabbaso kāyaduṭṭhullānaṁ paṭippassaddhiyā vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So yadeva tattha hoti rūpagataṁ vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ te dhamme aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassati. So tehi dhammehi cittaṁ paṭivāpeti. So tehi dhammehi cittaṁ paṭivāpetvā amatāya dhātuyā cittaṁ upasaṁharati: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti. So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti; no ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti, tattha parinibbāyī, anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, ānanda, maggo ayaṁ paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya.
And what, Ānanda, is the path and the practice for giving up the five lower fetters? It’s when a mendicant—due to the seclusion from attachments, the giving up of unskillful qualities, and the complete settling of physical discomforts—quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. They contemplate the phenomena there—included in form, feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. They turn their mind away from those things, and apply it to the element free of death: ‘This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’ Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This is the path and the practice for giving up the five lower fetters.
133. “Này Ānanda, thế nào là con đường, thế nào là pháp hành để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu, do ly y, do đoạn trừ các pháp bất thiện, do sự an tịnh hoàn toàn các thân hành thô trược, đã ly các dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly sanh, có tầm có tứ. Vị ấy, đối với những gì ở đấy thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, vị ấy quán xét các pháp ấy là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là tai họa, là bệnh tật, là cái khác, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy làm cho tâm quay lưng lại với các pháp ấy. Sau khi làm cho tâm quay lưng lại với các pháp ấy, vị ấy hướng tâm đến giới bất tử rằng: ‘Đây là tịch tịnh, đây là cao thượng, tức là sự an tịnh tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự diệt, Niết-bàn.’ Vị ấy an trú ở đấy, đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thì do tham ái đối với pháp ấy, do hoan hỷ đối với pháp ấy, sau khi năm hạ phần kiết sử được đoạn trừ, vị ấy trở thành vị hóa sanh, sẽ bát-niết-bàn ở tại đó, không trở lại từ cõi ấy. Này Ānanda, đây cũng là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.”
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So yadeva tattha hoti rūpagataṁ vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ … pe… anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, ānanda, maggo ayaṁ paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption … third absorption … fourth absorption. They contemplate the phenomena there—included in form, feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent … They turn their mind away from those things … If they don’t attain the ending of defilements, they’re reborn spontaneously … and are not liable to return from that world. This too is the path and the practice for giving up the five lower fetters.
“Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu do làm cho tầm và tứ an tịnh... (như trên)... chứng và trú thiền thứ hai... thiền thứ ba... chứng và trú thiền thứ tư. Vị ấy, đối với những gì ở đấy thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức... không trở lại từ cõi ấy. Này Ānanda, đây cũng là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.”
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. So yadeva tattha hoti vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ … pe… anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, ānanda, maggo ayaṁ paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. They contemplate the phenomena there—included in feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent … They turn their mind away from those things … If they don’t attain the ending of defilements, they’re reborn spontaneously … and are not liable to return from that world. This too is the path and the practice for giving up the five lower fetters.
“Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do làm cho các đối ngại tưởng biến mất, do không tác ý đến các dị tưởng, nghĩ rằng ‘hư không là vô biên,’ chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Vị ấy, đối với những gì ở đấy thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức... (như trên)... không trở lại từ cõi ấy. Này Ānanda, đây cũng là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.”
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. So yadeva tattha hoti vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ … pe… anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, ānanda, maggo ayaṁ paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. They contemplate the phenomena there—included in feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent … They turn their mind away from those things … If they don’t attain the ending of defilements, they’re reborn spontaneously … and are not liable to return from that world. This too is the path and the practice for giving up the five lower fetters.
“Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, nghĩ rằng ‘thức là vô biên,’ chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Vị ấy, đối với những gì ở đấy thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức... (như trên)... không trở lại từ cõi ấy. Này Ānanda, đây cũng là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.”
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. So yadeva tattha hoti vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ … pe… anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, ānanda, maggo ayaṁ paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāyā”ti.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. They contemplate the phenomena there—included in feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent … They turn their mind away from those things … If they don’t attain the ending of defilements, they’re reborn spontaneously … and are not liable to return from that world. This too is the path and the practice for giving up the five lower fetters.”
“Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, nghĩ rằng ‘không có gì cả,’ chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Vị ấy, đối với những gì ở đấy thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức... (như trên)... không trở lại từ cõi ấy. Này Ānanda, đây cũng là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.”
“Eso ce, bhante, maggo esā paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya, atha kiñcarahi idhekacce bhikkhū cetovimuttino ekacce bhikkhū paññāvimuttino”ti?
“Ettha kho panesāhaṁ, ānanda, indriyavemattataṁ vadāmī”ti.
“Sir, if this is the path and the practice for giving up the five lower fetters, how then are some mendicants here released in heart while others are released by wisdom?”
“In that case, I say it is the disparity of their faculties.”
“Bạch Thế Tôn, nếu đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, vậy thì tại sao ở đây có những vị tỳ khưu là tâm giải thoát, có những vị tỳ khưu là tuệ giải thoát?” “Này Ānanda, về vấn đề này, Ta tuyên bố là do sự khác biệt về các căn.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Mahāmālukyasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Đại Mālukya, thứ tư, chấm dứt.