- Majjhima Nikāya 60
Apaṇṇakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Apaṇṇakasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala với Ðại chúng Tỷ-kheo và đến tại Sāla, một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala.
SC 2Các Bà-la-môn gia chủ ở Sāla được nghe tiếng đồn như sau: “Sa-môn Gotama, giòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành giữa dân chúng Kosala với Ðại chúng Tỷ-kheo, đã đến Sāla”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời, loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy”.
SC 3Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Sāla đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, một số người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người yên lặng ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Bà-la-môn gia chủ ở tại Sāla đang ngồi xuống một bên
SC 4—Này các Gia chủ, các Ông có vị Ðạo sư khả ý nào mà các Ông có lý do đặt được lòng tin không?
SC 5—Bạch Thế Tôn, chúng con không có vị Ðạo sư khả ý nào để chúng con có lý do đặt được lòng tin.
SC 6—Này các Gia chủ, nếu các Ông không có một vị Ðạo sư khả ý nào, thời hãy lấy pháp không gì chuyển hướng này mà thực hành. Này các Gia chủ, pháp không gì chuyển hướng này được khéo thọ trì, khéo thành tựu, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Và này các Gia chủ, thế nào là pháp “không gì chuyển hướng”?
SC 7Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những lập thuyết như sau, có những quan điểm như sau: “Không có (kết quả của) bố thí, không có (kết quả của) lễ hy sinh, không có (kết quả của) tế tự, không có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trên đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thực hành, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã tự chứng ngộ với thắng trí”.
SC 8Nhưng này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói đối nghịch với các vị Sa-môn, Bà-la-môn kia, những vị này nói như sau: “Có (kết quả của) bố thí, có (kết quả của) lễ hy sinh, có (kết quả của) tế tự, có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trên đời có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thực hành, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng trí”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào, có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy nói những lời đối nghịch với nhau?
SC 9—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 10—Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không có kết quả của bố thí, không có kết quả của lễ hy sinh, không có kết quả của tế tự, không có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trên đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thành tựu, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng trí”. Ðối với những vị này, sự kiện này sẽ chờ đợi xảy ra: Sau khi từ bỏ ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.
SC 11Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói rằng không có đời sau, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có đời sau, nếu có ai suy tư rằng không có đời sau, thời đó là tà tư duy. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng không có đời sau, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng không có đời sau, thời tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có đời sau. Vì rằng có đời sau, nếu có ai thuyết phục người khác là không có đời sau, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy các ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.
SC 12Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu không có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung, tự ngã cảm thấy an toàn. Nếu có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn đời sau không có đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này, ngay trong hiện tại bị những người có trí quở trách: “Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương hư vô luận”. Còn nếu có đời sau, thời vị này cả hai mặt đều gặp bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạn xứ, địa ngục. Như vậy pháp “không gì chuyển hướng” này bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ phía thiện pháp.
SC 13Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có kết quả của bố thí, có kết quả của lễ hy sinh, có kết quả của tế tự, có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trên đời có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thành tựu, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng trí”. Ðối với những vị này, sự kiện này sẽ chờ đợi xẩy ra: Sau khi từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những vị Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.
SC 14Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói rằng có đời sau, thời đó là một chánh kiến. Vì rằng có đời sau, nếu có ai suy tư rằng có đời sau, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng có đời sau, thời đó là chánh ngữ. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng có đời sau, thời không tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có đời sau. Vì rằng có đời sau, nếu có ai thuyết phục người khác là có đời sau, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người. Như vậy, trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh kiến.
SC 15Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn cho đời sau không có đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại được những người có trí tán thán: “Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương hữu luận”. Còn nếu có đời sau, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người trí tán thán; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, “pháp không gì chuyển hướng” này được chấp trì, được thực hành đúng đắn, bởi vị này chấp nhận cả hai phía, và bỏ qua phía bất thiện pháp.
SC 16Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây ra sợ hãi, hay khiến người gây ra sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt, cũng không vì vậy có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo”.
SC 17Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói những lời đối nghịch với các Sa-môn, Bà-la-môn kia. Các vị này nói như sau: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây ác não hay khiến người gây ác não, tự mình gây sợ hãi, hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy có tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt, thì do nhân duyên này có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu khiến người đốt nấu, thì do nhân duyên này có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng, bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, thì do nhân duyên này, có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo. Bố thí, điều phục, tự chế, nói thật, đều có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo”.
SC 18Vì sao vậy? Này các Gia chủ, có phải những Sa-môn, Bà-la-môn này nói lời đối nghịch với nhau?
SC 19—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 20—Ở đây, này các Gia chủ, có những Sa-môn, Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm, … (như trên) … không đưa đến phước báo”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Những Sa-môn, Bà-la-môn này không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.
SC 21Vì rằng có tác dụng, nếu có quan điểm nào nói rằng không có tác dụng, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có tác dụng, nếu ai có suy tư rằng không có tác dụng, thời đó là tà tư duy. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng không có tác dụng, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng không có tác dụng, thời tự mẫu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có tác dụng. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai thuyết phục người khác là không có tác dụng, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy những ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.
SC 22Ở đây, này các Gia chủ, người có trí suy nghĩ như sau: Nếu không có tác dụng, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, tự ngã cảm thấy an toàn. Nếu có tác dụng, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn không có tác dụng đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này, ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách: “Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương không tác dụng”. Còn nếu có tác dụng, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy pháp “không gì chuyển hướng” này bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ qua phía thiện pháp.
SC 23Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm … (như trên) … có đưa đến phước báo”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.
SC 24Vì rằng có tác dụng, nếu có quan điểm nào nói rằng có tác dụng, thời đó là chánh kiến. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai suy tư rằng có tác dụng, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng có tác dụng, thời đó là chánh ngữ, vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng có tác dụng, thời không tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có tác dụng. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai thuyết phục người khác là có tác dụng, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người. Như vậy trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh kiến.
SC 25Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu có tác dụng, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn tác dụng không có đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại được những người có trí tán thán: “Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương có tác dụng”. Còn nếu có tác dụng, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người trí tán thán; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, pháp “không gì chuyển hướng” này được chấp trì, được thực hành đúng đắn, bởi vị này chấp nhận cả hai phía, và bỏ qua phía bất thiện pháp.
SC 26Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả sanh loại, tất cả sanh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Các chúng sanh ấy bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi sự tình cờ, bởi bản tánh của họ. Các chúng sanh ấy hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của họ”.
SC 27Này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn đối nghịch với những Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Những vị này đã nói như sau: “Có nhân có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; không có nhân, không có duyên các loài hữu tình bị nhiễm ô. Có nhân, có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Có lực, có tinh tấn, có nhân lực, có sự cố gắng của người. Tất cả loài chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả sanh loại, tất cả sanh mạng đều không phải không tự tại, không có lực, không có tinh tấn. Không phải các chúng sanh ấy bị dẫn dắt, chi phối bởi định mệnh, bởi sự tình cờ, bởi bản tánh của họ. Không phải họ hưởng thọ khổ lạc y theo sáu loại thác sanh của họ”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn này nói lên những lời mâu thuẫn, đối nghịch nhau?
SC 28—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 29—Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không có nhân, không có duyên … (như trên) … họ cảm thọ khổ lạc.”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này sẽ thực hành theo. Vì sao vậy? Những Sa-môn, Bà-la-môn này không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.
SC 30Vì rằng có nhân, nếu có quan điểm nào nói rằng không có nhân, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có nhân, nếu có ai suy tư rằng không có nhân, thời đó là tư duy. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng không có nhân, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng không có nhân, thời tự mâu thuẫn, đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có nhân. Vì rằng có nhân, nếu có ai thuyết phục người khác là không có nhân, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy những ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.
SC 31Ở đây, này các Gia chủ, người có trí suy nghĩ như sau: Nếu không có nhân, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, tự cảm thấy an toàn. Nếu có nhân, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn không có nhân đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách. “Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương không nhân”. Còn nếu có nhân, thời vị này, cả hai mặt đều gặp sự bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, pháp “không có chuyển hướng” này bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ qua phía thiện pháp.
SC 32Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có nhân, có duyên … (như trên) … họ cảm thọ hưởng lạc”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.
SC 33Vì rằng có nhân, nếu có quan điểm nào nói rằng có nhân, thời đó là chánh kiến. Vì rằng có nhân, nếu có ai suy tư rằng có nhân, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng có nhân, thời đó là chánh ngữ. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng có nhân, thời không tự mâu thuẫn, đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có nhân. Vì rằng có nhân, nếu có ai thuyết phục người khác là có nhân, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người. Như vậy, trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh kiến.
SC 34Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu có nhân, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn không có nhân đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại, được những người có trí tán thán: “Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương có nhân”. Còn nếu có nhân, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người có trí tán thán, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”. Như vậy, pháp “không gì chuyển hướng” này được chấp trì, được thực hành đúng đắn, bởi vị này chấp nhận cả hai phía và bỏ qua phía bất thiện pháp.
SC 35Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”.
SC 36Lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn, đối nghịch với các Sa-môn, Ba la môn ấy. Các vị này đã nói như sau: “Chắc chắn có cõi vô sắc”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn này nói những lời mâu thuẫn, đối nghịch nhau?
SC 37—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 38—Ở đây, này các Gia chủ, một người có trí suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan niệm như sau: “Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”, ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối có cõi vô sắc”, ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết, không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: “Ðây là sự thật, ngoài ra đều là mê lầm,” thời như vậy không xứng đáng với ta. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”, nếu lời nói của những Sa-môn, Ba la môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh tại chỗ các chư Thiên có sắc do ý sở thành. Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối có cõi vô sắc”, nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh tại chỗ các chư Thiên vô sắc, do tưởng sở thành. Do duyên với cái gì có sắc, chấp gậy, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ đều được thấy. Nhưng sẽ không có những sự việc này trong cõi vô sắc”. Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự ly tham, sự diệt tận các sắc pháp.
SC 39Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có một sự hữu diệt (Bhavanirodha) toàn diện”.
SC 40Này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn đối nghịch với các Sa-môn, Bà-la-môn. Các vị này đã nói như sau: “Có thể có một sự hữu diệt toàn diện”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những Sa-môn, Bà-la-môn này nói những lời mâu thuẫn, đối nghịch nhau?
SC 41—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 42—Ở đây, này các Gia chủ, một người có trí suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có sự hữu diệt toàn diện”, ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có thể có một sự hữu diệt toàn diện”, ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết, không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: “Ðây là sự thật, ngoài ra đều là mê lầm”, thời như vậy không xứng đáng với ta. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có một sự hữu diệt toàn diện”, nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh chỗ các chư Thiên vô sắc do tưởng sở thành. Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có thể có một sự hữu diệt toàn diện”, nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ nhập Niết-bàn ngay trong hiện tại. Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có một sự hữu diệt toàn diện”, thời quan điểm này của các vị ấy gần với tham ái, gần với kiết sử, gần với ái lạc, gần với chấp trước, gần với chấp thủ. Còn những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có thể có sự hữu diệt toàn diện”, thời quan điểm này của những vị ấy là gần với ly tham, gần với không kiết phược, gần với không ái lạc, gần với không chấp trước, gần với không chấp thủ”. Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự vô tham, sự diệt tận đối với các hữu.
SC 43Này các Gia chủ, có bốn hạng người này có mặt ở trong đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Gia chủ, có người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình. Ở đây, này các Gia chủ, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Gia chủ, có người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Gia chủ, có người vừa tự không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Vị này không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại, không có tham dục, không có khao khát, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.
SC 44Và này các Gia chủ, thế nào là người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình? Ở đây, này các Gia chủ, có người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng một chỗ, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn dành riêng, không nhận mời đi ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ nơi miệng chảo, không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy, không nhận giữa những cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang giao cấu người đàn ông, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận tại chỗ có chó đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, hay chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, hay chỉ nhận ăn hai miếng … hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy nhà, hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, … nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, … bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rong nước, ăn bột tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ hay ăn phân bò. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tirīṭa làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện bằng từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cừu. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là người ngồi chõ hỏ, chuyên sống theo hạnh ngồi chõ hỏ, một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy dưới nhiều hình thức, vị ấy sống tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình.
SC 45Và này các Gia chủ, thế nào là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, này các Gia chủ, có người là người đồ tể giết trâu bò, là người đồ tể giết heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, thợ đánh cá, ăn trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và những người làm các nghề ác độc khác. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
SC 46Và này các Gia chủ, thế nào là người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, này các Gia chủ, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lị, hay một Bà-la-môn triệu phú. Vị này cho xây dựng một giảng đường mới về phía Ðông thành phố, cạo bỏ râu tóc, đắp áo da thô, toàn thân bôi thục tô và dầu, gãi lưng với một sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một Bà-la-môn tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lát cỏ. Vị vua sống với sữa từ vú một con bò cái, có con bò con cùng một mầu sắc; bà vợ chính sống với sữa từ vú thứ hai; và vị Bà-la-môn tế tự sống với sữa từ vú thứ ba. Sữa từ vú thứ tư dùng để tế lửa. Còn con nghé con thì sống với đồ còn lại. Vị vua nói như sau: “Hãy giết một số bò đực để tế lễ, hãy giết một số nghé đực để tế lễ, hãy giết một số nghé cái để tế lễ, hãy giết một số dê để tế lễ, hãy giết một số cừu để tế lễ, hãy chặt một số cây để làm cột tế lễ, hãy thâu lượm một số cỏ dabba để làm chỗ tế lễ. Và những người nô tỳ, những người phục vụ, những người làm công, những người này vì sợ đòn gậy, vì sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
SC 47Và này các Gia chủ, thế nào là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người; ngay trong hiện tại không có tham dục, không có khao khát, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, thân trú vào Phạm thể?
SC 48Ở đây, này các Gia chủ, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 49Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 50Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống của các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.
SC 51Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 52Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt giống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 53Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
SC 54Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
SC 55Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
SC 56Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
SC 57Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 58Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ.
SC 59Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
SC 60Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.
SC 61Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 62Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cũng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 63Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: “Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
SC 64Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
SC 65Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.
SC 66Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là hạng người không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người; ngay trong hiện tại, không có tham dục, không có khao khát, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.
SC 67Khi được nói vậy, các Bà-la-môn, gia chủ trú ở Sāla bạch Thế Tôn
SC 68—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama chấp nhận cho chúng con làm những người cư sĩ. Từ nay cho đến mạng chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 15–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Apaṇṇaka
Assosuṁ kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu bho gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ sālaṁ anuppatto. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu; sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho sāleyyake brāhmaṇagahapatike bhagavā etadavoca:
The brahmins and householders of Sālā heard:
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—wandering in the land of the Kosalans has arrived at Sālā, together with a large Saṅgha of mendicants. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. It’s good to see such perfected ones.”
Then the brahmins and householders of Sālā went up to the Buddha. Before sitting down to one side, some bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent. The Buddha said to them:
92. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, Ngài đã đi đến một làng Bà-la-môn của xứ Kosala tên là Sālā. Các vị Bà-la-môn gia chủ ở Sālā đã nghe rằng: ‘Này quý vị, Sa-môn Gotama, là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích Ca, đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đến Sālā. Tiếng lành đồn xa về Tôn giả Gotama ấy như sau: “Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Vị ấy, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài người và chư Thiên. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Thật lành thay, được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.’ Bấy giờ, các vị Bà-la-môn gia chủ ở Sālā đã đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, một số đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số nói lời chào hỏi thân hữu với Đức Thế Tôn; sau khi trao đổi những lời đáng ghi nhớ, rồi ngồi xuống một bên. Một số chắp tay hướng về Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số xưng tên họ gần Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên.
“atthi pana vo, gahapatayo, koci manāpo satthā yasmiṁ vo ākāravatī saddhā paṭiladdhā”ti?
“Natthi kho no, bhante, koci manāpo satthā yasmiṁ no ākāravatī saddhā paṭiladdhā”ti.
“Manāpaṁ vo, gahapatayo, satthāraṁ alabhantehi ayaṁ apaṇṇako dhammo samādāya vattitabbo. Apaṇṇako hi, gahapatayo, dhammo samatto samādinno, so vo bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Katamo ca, gahapatayo, apaṇṇako dhammo?
“So, householders, is there any teacher you’re happy with, in whom you have acquired grounded faith?”
“No, sir.”
“Since you haven’t found a teacher you’re happy with, you should undertake and implement this sure bet teaching. For when the sure bet teaching is undertaken, it will be for your lasting welfare and happiness. And what is the sure bet teaching?
93. Khi các vị Bà-la-môn gia chủ ở Sālā đang ngồi một bên, Đức Thế Tôn đã nói với họ điều này: ‘Này các gia chủ, các ông có vị đạo sư nào khả ý, mà đối với vị ấy các ông đã có được niềm tin có cơ sở không?’ ‘Bạch Thế Tôn, chúng con không có vị đạo sư nào khả ý, mà đối với vị ấy chúng con đã có được niềm tin có cơ sở.’ ‘Này các gia chủ, vì các ông không có được vị đạo sư khả ý, nên hãy thọ trì và thực hành pháp môn chắc chắn này. Này các gia chủ, pháp môn chắc chắn, khi được thọ trì và thực hành đầy đủ, sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông trong một thời gian dài. Và này các gia chủ, pháp môn chắc chắn ấy là gì?’
Santi, gahapatayo, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ; natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko; natthi mātā, natthi pitā; natthi sattā opapātikā; natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammā paṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
Tesaṁyeva kho, gahapatayo, samaṇabrāhmaṇānaṁ eke samaṇabrāhmaṇā ujuvipaccanīkavādā. Te evamāhaṁsu: ‘atthi dinnaṁ, atthi yiṭṭhaṁ, atthi hutaṁ; atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko; atthi ayaṁ loko, atthi paro loko; atthi mātā, atthi pitā; atthi sattā opapātikā; atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammā paṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, gahapatayo: ‘nanume samaṇabrāhmaṇā aññamaññassa ujuvipaccanīkavādā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘There’s no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.’
And there are some ascetics and brahmins whose doctrine directly contradicts this. They say: ‘There is meaning in giving, sacrifice, and offerings. There are fruits and results of good and bad deeds. There is an afterlife. There are such things as mother and father, and beings that are reborn spontaneously. And there are ascetics and brahmins who are rightly comported and rightly practiced, and who describe the afterlife after realizing it with their own insight.’
What do you think, householders? Don’t these doctrines directly contradict each other?”
“Yes, sir.”
94. ‘Này các gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: “Không có bố thí, không có tế tự, không có cúng dường; không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các chúng sanh hóa sanh; không có ở đời các vị Sa-môn, Bà-la-môn đã đi đúng đường, đã thực hành đúng đắn, những vị đã tự mình thắng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết đời này và đời sau.” Này các gia chủ, trong số các Sa-môn, Bà-la-môn ấy, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết hoàn toàn đối nghịch. Họ nói như vầy: “Có bố thí, có tế tự, có cúng dường; có quả dị thục của các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có các chúng sanh hóa sanh; có ở đời các vị Sa-môn, Bà-la-môn đã đi đúng đường, đã thực hành đúng đắn, những vị đã tự mình thắng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết đời này và đời sau.” Này các gia chủ, các ông nghĩ thế nào về điều này, chẳng phải các vị Sa-môn, Bà-la-môn này có thuyết hoàn toàn đối nghịch nhau sao?’ ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn.’
“Tatra, gahapatayo, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ …pe… ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti
“Since this is so, consider those ascetics and brahmins whose view is that there’s no meaning in giving, etc.
95. ‘Này các gia chủ, trong hai hạng đó, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: “Không có bố thí, không có tế tự… không có ở đời các vị Sa-môn, Bà-la-môn… những vị đã tự mình thắng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết đời này và đời sau,” thì điều này có thể được mong đợi nơi họ: họ sẽ từ bỏ ba thiện pháp này, tức là thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sẽ thọ trì, thực hành ba bất thiện pháp này, tức là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Vì sao vậy? Vì các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy không thấy được sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, và không thấy được lợi ích trong sự xuất ly, phương diện thanh tịnh của các pháp thiện. Mặc dù đời sau thực sự có, tà kiến của người ấy là ‘không có đời sau’; đó là tà kiến của người ấy. Mặc dù đời sau thực sự có, người ấy tư duy rằng ‘không có đời sau’; đó là tà tư duy của người ấy. Mặc dù đời sau thực sự có, người ấy nói lời rằng ‘không có đời sau’; đó là tà ngữ của người ấy. Mặc dù đời sau thực sự có, người ấy nói ‘không có đời sau’; người này chống đối các bậc A-la-hán, những vị biết đời sau. Mặc dù đời sau thực sự có, người ấy thuyết phục người khác rằng ‘không có đời sau’; đó là sự thuyết phục phi chánh pháp của người ấy. Và bằng sự thuyết phục phi chánh pháp ấy, người ấy tự tán dương mình, chê bai người khác. Như vậy, thiện giới của người ấy đã bị từ bỏ từ trước, và ác giới đã hiện khởi. Tà kiến này, tà tư duy này, tà ngữ này, sự chống đối các bậc Thánh này, sự thuyết phục phi chánh pháp này, sự tự tán dương và chê bai người khác này – như vậy, nhiều pháp ác, bất thiện này sanh khởi nơi người ấy do duyên tà kiến.
Santaṁyeva pana paraṁ lokaṁ ‘natthi paro loko’ tissa diṭṭhi hoti; sāssa hoti micchādiṭṭhi. Santaṁyeva kho pana paraṁ lokaṁ ‘natthi paro loko’ti saṅkappeti; svāssa hoti micchāsaṅkappo. Santaṁyeva kho pana paraṁ lokaṁ ‘natthi paro loko’ti vācaṁ bhāsati; sāssa hoti micchāvācā. Santaṁyeva kho pana paraṁ lokaṁ ‘natthi paro loko’ti āha; ye te arahanto paralokaviduno tesamayaṁ paccanīkaṁ karoti. Santaṁyeva kho pana paraṁ lokaṁ ‘natthi paro loko’ti paraṁ saññāpeti; sāssa hoti asaddhammasaññatti. Tāya ca pana asaddhammasaññattiyā attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Iti pubbeva kho panassa susīlyaṁ pahīnaṁ hoti, dussīlyaṁ paccupaṭṭhitaṁ—ayañca micchādiṭṭhi micchāsaṅkappo micchāvācā ariyānaṁ paccanīkatā asaddhammasaññatti attukkaṁsanā paravambhanā. Evamassime aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti micchādiṭṭhipaccayā.
Moreover, since there actually is another world, their view that there is no other world is wrong view. Since there actually is another world, their thought that there is no other world is wrong purpose. Since there actually is another world, their speech that there is no other world is wrong speech. Since there actually is another world, in saying that there is no other world they contradict those perfected ones who know the other world. Since there actually is another world, in persuading another that there is no other world they are persuading them to accept an untrue teaching. And on account of that they glorify themselves and put others down. So they give up their former ethical conduct and are established in unethical conduct. And that is how these many bad, unskillful qualities come to be with wrong view as condition—wrong view, wrong purpose, wrong speech, contradicting the noble ones, persuading others to accept untrue teachings, and glorifying oneself and putting others down.
98. “Này các gia chủ, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Người làm, người sai làm; người chặt, người sai chặt; người hành hạ, người sai hành hạ; người gây sầu muộn, người sai gây sầu muộn; người làm mệt mỏi, người sai làm mệt mỏi; người làm run rẩy, người sai làm run rẩy; người sát sanh, người lấy của không cho, người đột nhập nhà, người cướp đoạt, người cướp nhà, người đứng chặn đường, người đi đến vợ người khác, người nói dối; người làm những việc ấy không bị xem là làm điều ác. Dù cho người nào dùng bánh xe sắc bén như dao cạo, biến các chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt, một khối thịt, do nhân duyên ấy không có ác nghiệp, không có sự tích tập ác nghiệp. Dù cho người ấy đi đến bờ nam sông Hằng, vừa đi vừa giết, vừa sai giết... v.v... do bố thí, do chế ngự, do tự chủ, do nói lời chân thật, không có phước báu, không có sự tích tập phước báu,’ đối với họ, điều này có thể được trông đợi: họ sẽ từ bỏ ba pháp thiện này là thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi đã từ bỏ, họ sẽ thực hành ba pháp bất thiện này là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Vì sao vậy? Vì các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy không thấy được sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện; và không thấy được lợi ích trong sự xuất ly, phương diện thanh tịnh của các pháp thiện. Lại nữa, trong khi hành động thực sự có mặt, người ấy có quan điểm: ‘Không có hành động.’ Đó là tà kiến của người ấy. Trong khi hành động thực sự có mặt, người ấy nghĩ rằng: ‘Không có hành động.’ Đó là tà tư duy của người ấy. Trong khi hành động thực sự có mặt, người ấy nói rằng: ‘Không có hành động.’ Đó là tà ngữ của người ấy. Trong khi hành động thực sự có mặt, người ấy nói: ‘Không có hành động,’ người này chống đối các bậc A-la-hán là những người chủ trương có hành động. Trong khi hành động thực sự có mặt, người ấy thuyết phục người khác rằng: ‘Không có hành động.’ Đó là sự thuyết giảng phi chánh pháp của người ấy. Và do sự thuyết giảng phi chánh pháp ấy, người ấy tán dương mình, chê bai người. Như vậy, giới đức tốt đẹp của người ấy đã bị từ bỏ từ trước, và ác giới đã được thiết lập. Và tà kiến này, tà tư duy này, tà ngữ này, sự chống đối các bậc Thánh này, sự thuyết giảng phi chánh pháp này, sự tán dương mình và chê bai người này — như vậy, vô số các pháp ác, bất thiện này của người ấy sanh khởi do duyên tà kiến.”
Tatra, gahapatayo, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘sace kho natthi paro loko evamayaṁ bhavaṁ purisapuggalo kāyassa bhedā sotthimattānaṁ karissati; sace kho atthi paro loko, evamayaṁ bhavaṁ purisapuggalo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissati. Kāmaṁ kho pana māhu paro loko, hotu nesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ vacanaṁ; atha ca panāyaṁ bhavaṁ purisapuggalo diṭṭheva dhamme viññūnaṁ gārayho—dussīlo purisapuggalo micchādiṭṭhi natthikavādo’ti. Sace kho attheva paro loko, evaṁ imassa bhoto purisapuggalassa ubhayattha kaliggaho—yañca diṭṭheva dhamme viññūnaṁ gārayho, yañca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissati. Evamassāyaṁ apaṇṇako dhammo dussamatto samādinno, ekaṁsaṁ pharitvā tiṭṭhati, riñcati kusalaṁ ṭhānaṁ.
Tatra, gahapatayo, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘atthi dinnaṁ …pe… ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti tesametaṁ pāṭikaṅkhaṁ—yamidaṁ kāyaduccaritaṁ, vacīduccaritaṁ, manoduccaritaṁ—ime tayo akusale dhamme abhinivajjetvā yamidaṁ kāyasucaritaṁ, vacīsucaritaṁ, manosucaritaṁ—ime tayo kusale dhamme samādāya vattissanti. Taṁ kissa hetu? Passanti hi te bhonto samaṇabrāhmaṇā akusalānaṁ dhammānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ vodānapakkhaṁ.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘If there is no other world, when this individual person’s body breaks up they will keep themselves safe. And if there is another world, when their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. But let us grant that those who say that there is no other world are correct. Regardless, that individual is still criticized by sensible people in this very life as being an immoral individual of wrong view, a nihilist.’ But if there really is another world, they hold a losing hand on both counts. For they are criticized by sensible people in this very life, and when their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. They have wrongly undertaken this sure bet teaching in such a way that it encompasses the positive outcomes of one side only, leaving out the skillful premise.
Since this is so, consider those ascetics and brahmins whose view is that there is meaning in giving, etc. You can expect that they will shun bad conduct by way of body, speech, and mind, and undertake and implement good conduct by way of body, speech, and mind. Why is that? Because those ascetics and brahmins see that unskillful qualities are full of drawbacks, sordidness, and corruption, and that skillful qualities have the benefit and cleansing power of renunciation.
Này các gia chủ, trong trường hợp ấy, người có trí suy xét như sau: ‘Nếu thật sự không có hành động, thì sau khi thân hoại, người này sẽ tự mình được an ổn. Nếu thật sự có hành động, thì sau khi thân hoại mạng chung, người này sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Cứ cho rằng không có hành động, và lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là sự thật; dù vậy, ngay trong hiện tại, người này vẫn bị người có trí quở trách rằng: ‘Người này là người ác giới, có tà kiến, theo thuyết vô hành’. Nếu thật sự có hành động, thì người này bị thua thiệt cả hai mặt: vừa bị người có trí quở trách ngay trong hiện tại, vừa sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, pháp môn chắc chắn này, khi được chấp thủ và thực hành một cách sai lầm, sẽ chỉ bao trùm một phía và từ bỏ nền tảng thiện lành.
Santaṁyeva kho pana paraṁ lokaṁ ‘atthi paro loko’ tissa diṭṭhi hoti; sāssa hoti sammādiṭṭhi. Santaṁyeva kho pana paraṁ lokaṁ ‘atthi paro loko’ti saṅkappeti; svāssa hoti sammāsaṅkappo. Santaṁyeva kho pana paraṁ lokaṁ ‘atthi paro loko’ti vācaṁ bhāsati; sāssa hoti sammāvācā. Santaṁyeva kho pana paraṁ lokaṁ ‘atthi paro loko’ti āha; ye te arahanto paralokaviduno tesamayaṁ na paccanīkaṁ karoti. Santaṁyeva kho pana paraṁ lokaṁ ‘atthi paro loko’ti paraṁ saññāpeti; sāssa hoti saddhammasaññatti. Tāya ca pana saddhammasaññattiyā nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Iti pubbeva kho panassa dussīlyaṁ pahīnaṁ hoti, susīlyaṁ paccupaṭṭhitaṁ—ayañca sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā ariyānaṁ apaccanīkatā saddhammasaññatti anattukkaṁsanā aparavambhanā. Evamassime aneke kusalā dhammā sambhavanti sammādiṭṭhipaccayā.
Tatra, gahapatayo, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘sace kho atthi paro loko, evamayaṁ bhavaṁ purisapuggalo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissati. Kāmaṁ kho pana māhu paro loko, hotu nesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ vacanaṁ; atha ca panāyaṁ bhavaṁ purisapuggalo diṭṭheva dhamme viññūnaṁ pāsaṁso—sīlavā purisapuggalo sammādiṭṭhi atthikavādo’ti. Sace kho attheva paro loko, evaṁ imassa bhoto purisapuggalassa ubhayattha kaṭaggaho—yañca diṭṭheva dhamme viññūnaṁ pāsaṁso, yañca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissati. Evamassāyaṁ apaṇṇako dhammo susamatto samādinno ubhayaṁsaṁ pharitvā tiṭṭhati, riñcati akusalaṁ ṭhānaṁ.
Santi, gahapatayo, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘karoto kārayato, chindato chedāpayato, pacato pācāpayato, socayato socāpayato, kilamato kilamāpayato, phandato phandāpayato, pāṇamatipātayato, adinnaṁ ādiyato, sandhiṁ chindato, nillopaṁ harato, ekāgārikaṁ karoto, paripanthe tiṭṭhato, paradāraṁ gacchato, musā bhaṇato; karoto na karīyati pāpaṁ. Khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo. Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento, chindanto chedāpento, pacanto pācento; natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo. Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento, yajanto yajāpento; natthi tatonidānaṁ puññaṁ, natthi puññassa āgamo.
Moreover, since there actually is another world, their view that there is another world is right view. Since there actually is another world, their thought that there is another world is right purpose. Since there actually is another world, their speech that there is another world is right speech. Since there actually is another world, in saying that there is another world they don’t contradict those perfected ones who know the other world. Since there actually is another world, in persuading another that there is another world they are persuading them to accept a true teaching. And on account of that they don’t glorify themselves or put others down. So they give up their former unethical conduct and are established in ethical conduct. And that is how these many skillful qualities come to be with right view as condition—right view, right purpose, right speech, not contradicting the noble ones, persuading others to accept true teachings, and not glorifying oneself or putting others down.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘If there is another world, when this individual’s body breaks up, after death, they will be reborn in a good place, a heavenly realm. But let us grant that those who say that there is no other world are correct. Regardless, that individual is still praised by sensible people in this very life as being a moral individual of right view, who affirms a positive teaching.’ So if there really is another world, they hold a winning hand on both counts. For they are praised by sensible people in this very life, and when their body breaks up, after death, they will be reborn in a good place, a heavenly realm. They have rightly undertaken this sure bet teaching in such a way that it encompasses the positive outcomes of both sides, leaving out the unskillful premise.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘The one who acts does nothing wrong when they punish, mutilate, torture, aggrieve, oppress, intimidate, or when they encourage others to do the same. They do nothing wrong when they kill, steal, break into houses, plunder wealth, steal from isolated buildings, commit highway robbery, commit adultery, and lie. If you were to reduce all the living creatures of this earth to one heap and mass of flesh with a razor-edged chakram, no evil comes of that, and no outcome of evil. If you were to go along the south bank of the Ganges killing, mutilating, and torturing, and encouraging others to do the same, no evil comes of that, and no outcome of evil. If you were to go along the north bank of the Ganges giving and sacrificing and encouraging others to do the same, no merit comes of that, and no outcome of merit.
99. Này các gia chủ, trong số các Sa-môn và Bà-la-môn có quan điểm và chủ trương như sau: ‘Khi một người hành động hay sai khiến người khác hành động, cắt hay sai khiến người khác cắt, nấu hay sai khiến người khác nấu, gây sầu muộn hay sai khiến người khác gây sầu muộn, làm mệt mỏi hay sai khiến người khác làm mệt mỏi, làm run sợ hay sai khiến người khác làm run sợ, sát sanh, lấy của không cho, phá nhà, cướp đoạt, cướp nhà, chặn đường, ngoại tình, nói dối; khi hành động như vậy, tội lỗi được tạo ra. Dù người đó dùng một bánh xe có vành sắc bén như dao cạo để biến chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt, một khối thịt duy nhất, có tội lỗi từ đó, có sự tích lũy tội lỗi. Dù người đó đi đến bờ nam sông Hằng, giết và sai giết, cắt và sai cắt, nấu và sai nấu, có tội lỗi từ đó, có sự tích lũy tội lỗi. Dù người đó đi đến bờ bắc sông Hằng, bố thí và khuyến khích bố thí, cúng dường và khuyến khích cúng dường, có phước báu từ đó, có sự tích lũy phước báu. Do bố thí, do tự chủ, do chế ngự, do nói lời chân thật, có phước báu, có sự tích lũy phước báu.’ Đối với họ, điều gì có thể được mong đợi? Rằng họ sẽ từ bỏ ba pháp bất thiện này—thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh—và thực hành ba pháp thiện này—thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh. Tại sao vậy? Vì các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy thấy được sự nguy hiểm, sự thấp kém, và sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy được lợi ích của sự xuất ly, khía cạnh thanh tịnh của các pháp thiện. Khi có hành động hiện hữu, người ấy có quan điểm: ‘Có hành động’; đó là chánh kiến của người ấy. Khi có hành động hiện hữu, người ấy tư duy: ‘Có hành động’; đó là chánh tư duy của người ấy. Khi có hành động hiện hữu, người ấy nói lời: ‘Có hành động’; đó là chánh ngữ của người ấy. Khi có hành động hiện hữu, người ấy tuyên bố: ‘Có hành động’; người này không chống đối các bậc A-la-hán, những người theo thuyết hữu hành. Khi có hành động hiện hữu, người ấy dạy cho người khác: ‘Có hành động’; đó là sự truyền dạy chánh pháp của người ấy. Và qua sự truyền dạy chánh pháp ấy, người ấy không tự tán dương mình, không chê bai người khác. Như vậy, ác giới của người ấy đã được từ bỏ từ trước, và thiện giới đã được thiết lập—cùng với chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không chống đối các bậc Thánh, sự truyền dạy chánh pháp, sự không tự tán dương, và sự không chê bai người khác. Như vậy, do duyên chánh kiến, nhiều pháp thiện này sanh khởi cho người ấy.
Tesaṁyeva kho, gahapatayo, samaṇabrāhmaṇānaṁ eke samaṇabrāhmaṇā ujuvipaccanīkavādā te evamāhaṁsu: ‘karoto kārayato, chindato chedāpayato, pacato pācāpayato, socayato socāpayato, kilamato kilamāpayato, phandato phandāpayato, pāṇamatipātayato, adinnaṁ ādiyato, sandhiṁ chindato, nillopaṁ harato, ekāgārikaṁ karoto, paripanthe tiṭṭhato, paradāraṁ gacchato, musā bhaṇato; karoto karīyati pāpaṁ. Khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, atthi tatonidānaṁ pāpaṁ, atthi pāpassa āgamo. Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento, chindanto chedāpento, pacanto pācento; atthi tatonidānaṁ pāpaṁ, atthi pāpassa āgamo. Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento, yajanto yajāpento; atthi tatonidānaṁ puññaṁ, atthi puññassa āgamo. Dānena damena saṁyamena saccavajjena atthi puññaṁ, atthi puññassa āgamo’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, gahapatayo, nanume samaṇabrāhmaṇā aññamaññassa ujuvipaccanīkavādā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tatra, gahapatayo, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘karoto kārayato, chindato chedāpayato, pacato pācāpayato, socayato socāpayato, kilamato kilamāpayato, phandato phandāpayato, pāṇamatipātayato, adinnaṁ ādiyato, sandhiṁ chindato, nillopaṁ harato, ekāgārikaṁ karoto, paripanthe tiṭṭhato, paradāraṁ gacchato, musā bhaṇato; karoto na karīyati pāpaṁ. Khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo. Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento …pe… dānena damena saṁyamena saccavajjena natthi puññaṁ, natthi puññassa āgamo’ti tesametaṁ pāṭikaṅkhaṁ—yamidaṁ kāyasucaritaṁ, vacīsucaritaṁ, manosucaritaṁ—ime tayo kusale dhamme abhinivajjetvā yamidaṁ kāyaduccaritaṁ, vacīduccaritaṁ, manoduccaritaṁ—ime tayo akusale dhamme samādāya vattissanti. Taṁ kissa hetu? Na hi te bhonto samaṇabrāhmaṇā passanti akusalānaṁ dhammānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ vodānapakkhaṁ.
Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘natthi kiriyā’ tissa diṭṭhi hoti; sāssa hoti micchādiṭṭhi. Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘natthi kiriyā’ti saṅkappeti; svāssa hoti micchāsaṅkappo. Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘natthi kiriyā’ti vācaṁ bhāsati; sāssa hoti micchāvācā. Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘natthi kiriyā’ti āha, ye te arahanto kiriyavādā tesamayaṁ paccanīkaṁ karoti. Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘natthi kiriyā’ti paraṁ saññāpeti; sāssa hoti asaddhammasaññatti. Tāya ca pana asaddhammasaññattiyā attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Iti pubbeva kho panassa susīlyaṁ pahīnaṁ hoti, dussīlyaṁ paccupaṭṭhitaṁ—ayañca micchādiṭṭhi micchāsaṅkappo micchāvācā ariyānaṁ paccanīkatā asaddhammasaññatti attukkaṁsanā paravambhanā. Evamassime aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti micchādiṭṭhipaccayā.
Tatra, gahapatayo, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘sace kho natthi kiriyā, evamayaṁ bhavaṁ purisapuggalo kāyassa bhedā sotthimattānaṁ karissati; sace kho atthi kiriyā evamayaṁ bhavaṁ purisapuggalo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissati. Kāmaṁ kho pana māhu kiriyā, hotu nesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ vacanaṁ; atha ca panāyaṁ bhavaṁ purisapuggalo diṭṭheva dhamme viññūnaṁ gārayho—dussīlo purisapuggalo micchādiṭṭhi akiriyavādo’ti. Sace kho attheva kiriyā, evaṁ imassa bhoto purisapuggalassa ubhayattha kaliggaho—yañca diṭṭheva dhamme viññūnaṁ gārayho, yañca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissati. Evamassāyaṁ apaṇṇako dhammo dussamatto samādinno, ekaṁsaṁ pharitvā tiṭṭhati, riñcati kusalaṁ ṭhānaṁ.
Tatra, gahapatayo, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘karoto kārayato, chindato chedāpayato, pacato pācāpayato, socayato socāpayato, kilamato kilamāpayato, phandato phandāpayato, pāṇamatipātayato, adinnaṁ ādiyato, sandhiṁ chindato, nillopaṁ harato, ekāgārikaṁ karoto, paripanthe tiṭṭhato, paradāraṁ gacchato, musā bhaṇato; karoto karīyati pāpaṁ. Khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, atthi tatonidānaṁ pāpaṁ, atthi pāpassa āgamo. Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento, chindanto chedāpento, pacanto pācento, atthi tatonidānaṁ pāpaṁ, atthi pāpassa āgamo. Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento, yajanto yajāpento, atthi tatonidānaṁ puññaṁ, atthi puññassa āgamo. Dānena damena saṁyamena saccavajjena atthi puññaṁ, atthi puññassa āgamo’ti tesametaṁ pāṭikaṅkhaṁ yamidaṁ kāyaduccaritaṁ, vacīduccaritaṁ, manoduccaritaṁ—ime tayo akusale dhamme abhinivajjetvā yamidaṁ kāyasucaritaṁ, vacīsucaritaṁ, manosucaritaṁ—ime tayo kusale dhamme samādāya vattissanti. Taṁ kissa hetu? Passanti hi te bhonto samaṇabrāhmaṇā akusalānaṁ dhammānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ vodānapakkhaṁ.
Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘atthi kiriyā’ tissa diṭṭhi hoti; sāssa hoti sammādiṭṭhi. Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘atthi kiriyā’ti saṅkappeti; svāssa hoti sammāsaṅkappo. Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘atthi kiriyā’ti vācaṁ bhāsati; sāssa hoti sammāvācā. Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘atthi kiriyā’ti āha; ye te arahanto kiriyavādā tesamayaṁ na paccanīkaṁ karoti. Santaṁyeva kho pana kiriyaṁ ‘atthi kiriyā’ti paraṁ saññāpeti; sāssa hoti saddhammasaññatti. Tāya ca pana saddhammasaññattiyā nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Iti pubbeva kho panassa dussīlyaṁ pahīnaṁ hoti, susīlyaṁ paccupaṭṭhitaṁ—ayañca sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā ariyānaṁ apaccanīkatā saddhammasaññatti anattukkaṁsanā aparavambhanā. Evamassime aneke kusalā dhammā sambhavanti sammādiṭṭhipaccayā.
And there are some ascetics and brahmins whose doctrine directly contradicts this. They say: ‘The one who acts does a bad deed when they punish, mutilate, torture, aggrieve, oppress, intimidate, or when they encourage others to do the same. They do a bad deed when they kill, steal, break into houses, plunder wealth, steal from isolated buildings, commit highway robbery, commit adultery, and lie. If you were to reduce all the living creatures of this earth to one heap and mass of flesh with a razor-edged chakram, evil comes of that, and an outcome of evil. If you were to go along the south bank of the Ganges killing, mutilating, and torturing, and encouraging others to do the same, evil comes of that, and an outcome of evil. If you were to go along the north bank of the Ganges giving and sacrificing and encouraging others to do the same, merit comes of that, and an outcome of merit. In giving, self-control, restraint, and truthfulness there is merit and outcome of merit.’
What do you think, householders? Don’t these doctrines directly contradict each other?”
“Yes, sir.”
“Since this is so, consider those ascetics and brahmins whose view is that the one who acts does nothing wrong when they punish, etc. You can expect that they will shun good conduct by way of body, speech, and mind, and undertake and implement bad conduct by way of body, speech, and mind. Why is that? Because those ascetics and brahmins don’t see that unskillful qualities are full of drawbacks, sordidness, and corruption, or that skillful qualities have the benefit and cleansing power of renunciation.
Moreover, since action actually does have an effect, their view that action is ineffective is wrong view. Since action actually does have an effect, their thought that action is ineffective is wrong purpose. Since action actually does have an effect, their speech that action is ineffective is wrong speech. Since action actually does have an effect, in saying that action is ineffective they contradict those perfected ones who teach that action is effective. Since action actually does have an effect, in persuading another that action is ineffective they are persuading them to accept an untrue teaching. And on account of that they glorify themselves and put others down. So they give up their former ethical conduct and are established in unethical conduct. And that is how these many bad, unskillful qualities come to be with wrong view as condition—wrong view, wrong purpose, wrong speech, contradicting the noble ones, persuading others to accept untrue teachings, and glorifying oneself and putting others down.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘If there is no effective action, when this individual’s body breaks up they will keep themselves safe. And if there is effective action, when their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. But let us grant that those who say that there is no effective action are correct. Regardless, that individual is still criticized by sensible people in this very life as being an immoral individual of wrong view, one who denies the efficacy of action.’ But if there really is effective action, they hold a losing hand on both counts. For they are criticized by sensible people in this very life, and when their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. They have wrongly undertaken this sure bet teaching in such a way that it encompasses the positive outcomes of one side only, leaving out the skillful premise.
Since this is so, consider those ascetics and brahmins whose view is that the one who acts does a bad deed when they punish, etc. You can expect that they will shun bad conduct by way of body, speech, and mind, and undertake and implement good conduct by way of body, speech, and mind. Why is that? Because those ascetics and brahmins see that unskillful qualities are full of drawbacks, sordidness, and corruption, and that skillful qualities have the benefit and cleansing power of renunciation.
Moreover, since action actually does have an effect, their view that action is effective is right view. Since action actually does have an effect, their thought that action is effective is right purpose. Since action actually does have an effect, their speech that action is effective is right speech. Since action actually does have an effect, in saying that action is effective they don’t contradict those perfected ones who teach that action is effective. Since action actually does have an effect, in persuading another that action is effective they are persuading them to accept a true teaching. And on account of that they don’t glorify themselves or put others down. So they give up their former unethical conduct and are established in ethical conduct. And that is how these many skillful qualities come to be with right view as condition—right view, right purpose, right speech, not contradicting the noble ones, persuading others to accept true teachings, and not glorifying oneself or putting others down.
100. “Này các gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như sau, có kiến giải như sau: ‘Không có nhân, không có duyên làm cho chúng sanh bị ô nhiễm; chúng sanh bị ô nhiễm không do nhân, không do duyên. Không có nhân, không có duyên làm cho chúng sanh được thanh tịnh; chúng sanh được thanh tịnh không do nhân, không do duyên. Không có năng lực, không có tinh tấn, không có sức mạnh của con người, không có sự nỗ lực của con người; tất cả chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả loài hiện hữu, tất cả sinh vật đều bất lực, không sức mạnh, không tinh tấn, bị chi phối bởi định mệnh, sự ngẫu hợp và bản chất, chỉ cảm thọ khổ lạc trong sáu loại sanh loại đặc biệt mà thôi’. Này các gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương đối nghịch trực tiếp với các Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Họ nói như sau: ‘Có nhân, có duyên làm cho chúng sanh bị ô nhiễm; chúng sanh bị ô nhiễm do có nhân, có duyên. Có nhân, có duyên làm cho chúng sanh được thanh tịnh; chúng sanh được thanh tịnh do có nhân, có duyên. Có năng lực, có tinh tấn, có sức mạnh của con người, có sự nỗ lực của con người; không phải tất cả chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả loài hiện hữu, tất cả sinh vật đều bất lực, không sức mạnh, không tinh tấn, bị chi phối bởi định mệnh, sự ngẫu hợp và bản chất, chỉ cảm thọ khổ lạc trong sáu loại sanh loại đặc biệt mà thôi’. Này các gia chủ, các ông nghĩ thế nào? Có phải các Sa-môn, Bà-la-môn này có chủ trương đối nghịch trực tiếp với nhau không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
Tatra, gahapatayo, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘sace kho atthi kiriyā, evamayaṁ bhavaṁ purisapuggalo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissati. Kāmaṁ kho pana māhu kiriyā, hotu nesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ vacanaṁ; atha ca panāyaṁ bhavaṁ purisapuggalo diṭṭheva dhamme viññūnaṁ pāsaṁso—sīlavā purisapuggalo sammādiṭṭhi kiriyavādo’ti. Sace kho attheva kiriyā, evaṁ imassa bhoto purisapuggalassa ubhayattha kaṭaggaho—yañca diṭṭheva dhamme viññūnaṁ pāsaṁso, yañca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissati. Evamassāyaṁ apaṇṇako dhammo susamatto samādinno, ubhayaṁsaṁ pharitvā tiṭṭhati, riñcati akusalaṁ ṭhānaṁ.
Santi, gahapatayo, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya; ahetū appaccayā sattā saṅkilissanti. Natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā; ahetū appaccayā sattā visujjhanti. Natthi balaṁ, natthi vīriyaṁ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo; sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedentī’ti.
Tesaṁyeva kho, gahapatayo, samaṇabrāhmaṇānaṁ eke samaṇabrāhmaṇā ujuvipaccanīkavādā. Te evamāhaṁsu: ‘atthi hetu, atthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya; sahetū sappaccayā sattā saṅkilissanti. Atthi hetu, atthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā; sahetū sappaccayā sattā visujjhanti. Atthi balaṁ, atthi vīriyaṁ, atthi purisathāmo, atthi purisaparakkamo; na sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedentī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, gahapatayo, nanume samaṇabrāhmaṇā aññamaññassa ujuvipaccanīkavādā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tatra, gahapatayo, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘If there is effective action, when this individual’s body breaks up, after death, they will be reborn in a good place, a heavenly realm. But let us grant that those who say that there is no effective action are correct. Regardless, that individual is still praised by sensible people in this very life as being a moral individual of right view, who affirms the efficacy of action.’ So if there really is effective action, they hold a winning hand on both counts. For they are praised by sensible people in this very life, and when their body breaks up, after death, they will be reborn in a good place, a heavenly realm. They have rightly undertaken this sure bet teaching in such a way that it encompasses the positive outcomes of both sides, leaving out the unskillful premise.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘There is no cause or reason for the corruption of sentient beings. Sentient beings are corrupted without cause or reason. There’s no cause or reason for the purification of sentient beings. Sentient beings are purified without cause or reason. There is no power, no energy, no human strength or vigor. All sentient beings, all living creatures, all beings, all souls lack control, power, and energy. Molded by destiny, circumstance, and nature, they experience pleasure and pain in the six classes of rebirth.’
And there are some ascetics and brahmins whose doctrine directly contradicts this. They say: ‘There is a cause and reason for the corruption of sentient beings. Sentient beings are corrupted with cause and reason. There is a cause and reason for the purification of sentient beings. Sentient beings are purified with cause and reason. There is power, energy, human strength and vigor. It is not the case that all sentient beings, all living creatures, all beings, all souls lack control, power, and energy, or that, molded by destiny, circumstance, and nature, they experience pleasure and pain in the six classes of rebirth.’
What do you think, householders? Don’t these doctrines directly contradict each other?”
“Yes, sir.”
“Since this is so, consider those ascetics and brahmins whose view is that
Này các gia chủ, trong trường hợp ấy, người có trí suy xét như sau: ‘Nếu thật sự có hành động, thì sau khi thân hoại mạng chung, người này sẽ sanh vào thiện thú, thiên giới. Cứ cho rằng không có hành động, và lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là sự thật; dù vậy, ngay trong hiện tại, người này vẫn được người có trí tán thán rằng: ‘Người này là người có giới, có chánh kiến, theo thuyết hữu hành’. Nếu thật sự có hành động, thì người này được lợi cả hai mặt: vừa được người có trí tán thán ngay trong hiện tại, vừa sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú, thiên giới. Như vậy, pháp môn chắc chắn này, khi được chấp thủ và thực hành một cách đúng đắn, sẽ bao trùm cả hai phía và từ bỏ nền tảng bất thiện.
Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘natthi hetū’ tissa diṭṭhi hoti; sāssa hoti micchādiṭṭhi. Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘natthi hetū’ti saṅkappeti; svāssa hoti micchāsaṅkappo. Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘natthi hetū’ti vācaṁ bhāsati; sāssa hoti micchāvācā. Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘natthi hetū’ti āha; ye te arahanto hetuvādā tesamayaṁ paccanīkaṁ karoti. Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘natthi hetū’ti paraṁ saññāpeti; sāssa hoti asaddhammasaññatti. Tāya ca pana asaddhammasaññattiyā attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Iti pubbeva kho panassa susīlyaṁ pahīnaṁ hoti, dussīlyaṁ paccupaṭṭhitaṁ—ayañca micchādiṭṭhi micchāsaṅkappo micchāvācā ariyānaṁ paccanīkatā asaddhammasaññatti attānukkaṁsanā paravambhanā. Evamassime aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti micchādiṭṭhipaccayā.
Moreover, since there actually is causality, their view that there is no causality is wrong view. Since there actually is causality, their thought that there is no causality is wrong purpose. Since there actually is causality, their speech that there is no causality is wrong speech. Since there actually is causality, in saying that there is no causality they contradict those perfected ones who teach that there is causality. Since there actually is causality, in persuading another that there is no causality they are persuading them to accept an untrue teaching. And on account of that they glorify themselves and put others down. So they give up their former ethical conduct and are established in unethical conduct. And that is how these many bad, unskillful qualities come to be with wrong view as condition—wrong view, wrong purpose, wrong speech, contradicting the noble ones, persuading others to accept untrue teachings, and glorifying oneself and putting others down.
101. “Này các gia chủ, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như sau, có kiến giải như sau: ‘Không có nhân, không có duyên làm cho chúng sanh bị ô nhiễm; chúng sanh bị ô nhiễm không do nhân, không do duyên. Không có nhân, không có duyên làm cho chúng sanh được thanh tịnh; chúng sanh được thanh tịnh không do nhân, không do duyên. Không có năng lực, không có tinh tấn, không có sức mạnh của con người, không có sự nỗ lực của con người; tất cả chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả loài hiện hữu, tất cả sinh vật đều bất lực, không sức mạnh, không tinh tấn, bị chi phối bởi định mệnh, sự ngẫu hợp và bản chất, chỉ cảm thọ khổ lạc trong sáu loại sanh loại đặc biệt mà thôi’, đối với họ, điều này có thể được chờ đợi: Rằng sau khi từ bỏ ba pháp thiện này là thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, họ sẽ thực hành ba pháp bất thiện này là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Vì sao vậy? Vì các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy không thấy được sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện; và không thấy được lợi ích trong sự xuất ly, phương diện thanh lọc của các pháp thiện. Dù thật sự có nhân, nhưng kiến giải của vị ấy là ‘không có nhân’; đó là tà kiến của vị ấy. Dù thật sự có nhân, nhưng vị ấy suy tư ‘không có nhân’; đó là tà tư duy của vị ấy. Dù thật sự có nhân, nhưng vị ấy nói lời ‘không có nhân’; đó là tà ngữ của vị ấy. Dù thật sự có nhân, nhưng vị ấy nói rằng ‘không có nhân’; vị này chống đối các bậc A-la-hán là những người chủ trương có nhân. Dù thật sự có nhân, nhưng vị ấy thuyết phục người khác rằng ‘không có nhân’; sự thuyết phục ấy là sự thuyết phục phi chánh pháp. Và do sự thuyết phục phi chánh pháp ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người. Như vậy, đối với vị ấy, thiện giới đã bị từ bỏ từ trước, và ác giới đã được thiết lập — và tà kiến này, tà tư duy, tà ngữ, sự chống đối các bậc Thánh, sự thuyết phục phi chánh pháp, sự tán dương mình chê bai người. Như vậy, nhiều pháp ác, bất thiện này sanh khởi nơi vị ấy do duyên tà kiến.”
Tatra, gahapatayo, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘sace kho natthi hetu, evamayaṁ bhavaṁ purisapuggalo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sotthimattānaṁ karissati; sace kho atthi hetu, evamayaṁ bhavaṁ purisapuggalo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissati. Kāmaṁ kho pana māhu hetu, hotu nesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ vacanaṁ; atha ca panāyaṁ bhavaṁ purisapuggalo diṭṭheva dhamme viññūnaṁ gārayho—dussīlo purisapuggalo micchādiṭṭhi ahetukavādo’ti. Sace kho attheva hetu, evaṁ imassa bhoto purisapuggalassa ubhayattha kaliggaho—yañca diṭṭheva dhamme viññūnaṁ gārayho, yañca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissati. Evamassāyaṁ apaṇṇako dhammo dussamatto samādinno, ekaṁsaṁ pharitvā tiṭṭhati, riñcati kusalaṁ ṭhānaṁ.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘If there is no causality, when this individual’s body breaks up they will keep themselves safe. And if there is causality, when their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. But let us grant that those who say that there is no causality are correct. Regardless, that individual is still criticized by sensible people in this very life as being an immoral individual of wrong view, one who denies causality.’ But if there really is causality, they hold a losing hand on both counts. For they are criticized by sensible people in this very life, and when their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. They have wrongly undertaken this sure bet teaching in such a way that it encompasses the positive outcomes of one side only, leaving out the skillful premise.
“Này các gia chủ, ở đây, người có trí suy xét như sau: ‘Nếu thật sự không có nhân, thì sau khi thân hoại mạng chung, vị này sẽ được an toàn. Nếu thật sự có nhân, thì sau khi thân hoại mạng chung, vị này sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’ Cứ cho là không có nhân, cứ cho là lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là sự thật; dù vậy, ngay trong hiện tại, vị này vẫn bị những người có trí chê trách là: ‘Người vô giới, có tà kiến, là người chủ trương vô nhân’. Còn nếu thật sự có nhân, thì vị này bị thua thiệt cả hai mặt: vừa bị những người có trí chê trách ngay trong hiện tại, vừa sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, pháp chắc chắn này, do được vị ấy chấp thủ và thực hành một cách sai lầm, chỉ bao trùm một phía và từ bỏ nền tảng thiện.”
Tatra, gahapatayo, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘atthi hetu, atthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya; sahetū sappaccayā sattā saṅkilissanti. Atthi hetu, atthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā; sahetū sappaccayā sattā visujjhanti. Atthi balaṁ, atthi vīriyaṁ, atthi purisathāmo, atthi purisaparakkamo; na sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedentī’ti tesametaṁ pāṭikaṅkhaṁ—yamidaṁ kāyaduccaritaṁ, vacīduccaritaṁ, manoduccaritaṁ—ime tayo akusale dhamme abhinivajjetvā yamidaṁ kāyasucaritaṁ, vacīsucaritaṁ, manosucaritaṁ—ime tayo kusale dhamme samādāya vattissanti. Taṁ kissa hetu? Passanti hi te bhonto samaṇabrāhmaṇā akusalānaṁ dhammānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ vodānapakkhaṁ.
Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘atthi hetū’ tissa diṭṭhi hoti; sāssa hoti sammādiṭṭhi. Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘atthi hetū’ti saṅkappeti; svāssa hoti sammāsaṅkappo. Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘atthi hetū’ti vācaṁ bhāsati; sāssa hoti sammāvācā. Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘atthi hetū’ti āha, ye te arahanto hetuvādā tesamayaṁ na paccanīkaṁ karoti. Santaṁyeva kho pana hetuṁ ‘atthi hetū’ti paraṁ saññāpeti; sāssa hoti saddhammasaññatti. Tāya ca pana saddhammasaññattiyā nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Iti pubbeva kho panassa dussīlyaṁ pahīnaṁ hoti, susīlyaṁ paccupaṭṭhitaṁ—ayañca sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā ariyānaṁ apaccanīkatā saddhammasaññatti anattukkaṁsanā aparavambhanā. Evamassime aneke kusalā dhammā sambhavanti sammādiṭṭhipaccayā.
Since this is so, consider those ascetics and brahmins whose view is that there is a cause and reason for the corruption of sentient beings, etc. You can expect that they will shun bad conduct by way of body, speech, and mind, and undertake and implement good conduct by way of body, speech, and mind. Why is that? Because those ascetics and brahmins see that unskillful qualities are full of drawbacks, sordidness, and corruption, and that skillful qualities have the benefit and cleansing power of renunciation.
Moreover, since there actually is causality, their view that there is causality is right view. Since there actually is causality, their thought that there is causality is right purpose. Since there actually is causality, their speech that there is causality is right speech. Since there actually is causality, in saying that there is causality they don’t contradict those perfected ones who teach that there is causality. Since there actually is causality, in persuading another that there is causality they are persuading them to accept a true teaching. And on account of that they don’t glorify themselves or put others down. So they give up their former unethical conduct and are established in ethical conduct. And that is how these many skillful qualities come to be with right view as condition—right view, right purpose, right speech, not contradicting the noble ones, persuading others to accept true teachings, and not glorifying oneself or putting others down.
102. “Này các gia chủ, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Có nhân, có duyên cho sự nhiễm ô của chúng sanh; chúng sanh bị nhiễm ô là do có nhân, có duyên. Có nhân, có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh; chúng sanh được thanh tịnh là do có nhân, có duyên. Có sức lực, có tinh tấn, có năng lực của con người, có sự nỗ lực của con người; không phải tất cả chúng sanh, tất cả sinh vật, tất cả loài hữu tình, tất cả mạng sống đều không có quyền tự chủ, không có sức lực, không có tinh tấn, bị chi phối bởi định mệnh, bởi sự kết hợp, bởi bản chất, và chỉ cảm thọ khổ lạc trong sáu sanh loại đặc biệt mà thôi’. Nơi các vị ấy, điều này có thể được mong đợi: sau khi đã tránh xa ba pháp bất thiện này là thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, họ sẽ thực hành và sống theo ba pháp thiện này là thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh. Vì sao vậy? Vì các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy thấy được sự nguy hại, sự thấp kém, sự nhiễm ô của các pháp bất thiện, và thấy được lợi ích trong sự xuất ly, phương diện thanh tịnh của các pháp thiện. Lại nữa, khi có nhân hiện hữu, người ấy có quan điểm rằng: ‘Có nhân’, đó là chánh kiến của người ấy. Khi có nhân hiện hữu, người ấy tư duy rằng: ‘Có nhân’, đó là chánh tư duy của người ấy. Khi có nhân hiện hữu, người ấy nói lời rằng: ‘Có nhân’, đó là chánh ngữ của người ấy. Khi có nhân hiện hữu, người ấy nói rằng: ‘Có nhân’, và người này không chống đối các vị A-la-hán là những người có thuyết về nhân. Khi có nhân hiện hữu, người ấy làm cho người khác hiểu rằng: ‘Có nhân’, đó là sự trình bày Chánh pháp của người ấy. Và với sự trình bày Chánh pháp ấy, người ấy không tán dương mình, không chê bai người. Như vậy, ác giới của người ấy đã được từ bỏ từ trước, và thiện giới được thiết lập. Và chánh kiến này, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không chống đối các bậc Thánh, sự trình bày Chánh pháp, sự không tán dương mình, không chê bai người. Như vậy, nhiều pháp thiện này sanh khởi nơi người ấy do duyên chánh kiến.”
Tatra, gahapatayo, viññū puriso iti paṭisañcikkhati: ‘sace kho atthi hetu, evamayaṁ bhavaṁ purisapuggalo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissati. Kāmaṁ kho pana māhu hetu, hotu nesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ vacanaṁ; atha ca panāyaṁ bhavaṁ purisapuggalo diṭṭheva dhamme viññūnaṁ pāsaṁso—sīlavā purisapuggalo sammādiṭṭhi hetuvādo’ti. Sace kho atthi hetu, evaṁ imassa bhoto purisapuggalassa ubhayattha kaṭaggaho—yañca diṭṭheva dhamme viññūnaṁ pāsaṁso, yañca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissati. Evamassāyaṁ apaṇṇako dhammo susamatto samādinno, ubhayaṁsaṁ pharitvā tiṭṭhati, riñcati akusalaṁ ṭhānaṁ.
A sensible person reflects on this matter in this way: ‘If there is causality, when this individual’s body breaks up, after death, they will be reborn in a good place, a heavenly realm. But let us grant that those who say that there is no causality are correct. Regardless, that individual is still praised by sensible people in this very life as being a moral individual of right view, who affirms causality.’ So if there really is causality, they hold a winning hand on both counts. For they are praised by sensible people in this very life, and when their body breaks up, after death, they will be reborn in a good place, a heavenly realm. They have rightly undertaken this sure bet teaching in such a way that it encompasses the positive outcomes of both sides, leaving out the unskillful premise.
“Này các gia chủ, trong trường hợp đó, người có trí suy xét như sau: ‘Nếu thật sự có nhân, thì vị này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi lành, thiên giới. Giả sử không có nhân, và lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn kia là đúng sự thật đi nữa; tuy vậy, vị này ngay trong hiện tại vẫn được những người có trí tán thán rằng: “Đây là người có giới, có chánh kiến, là người theo thuyết hữu nhân”. Nếu thật sự có nhân, thì vị này nắm chắc phần thắng ở cả hai nơi: vừa được người có trí tán thán ngay trong hiện tại, vừa sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi lành, thiên giới. Như vậy, pháp không sai lầm này của người ấy đã được khéo chấp nhận, khéo thực hành, bao trùm cả hai phương diện mà tồn tại, và từ bỏ cảnh giới bất thiện.”
Santi, gahapatayo, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi sabbaso āruppā’ti.
Tesaṁyeva kho, gahapatayo, samaṇabrāhmaṇānaṁ eke samaṇabrāhmaṇā ujuvipaccanīkavādā. Te evamāhaṁsu: ‘atthi sabbaso āruppā’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, gahapatayo, nanume samaṇabrāhmaṇā aññamaññassa ujuvipaccanīkavādā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tatra, gahapatayo, viññū puriso iti paṭisañcikkhati—ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi sabbaso āruppā’ti, idaṁ me adiṭṭhaṁ; yepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘atthi sabbaso āruppā’ti, idaṁ me aviditaṁ. Ahañceva kho pana ajānanto apassanto ekaṁsena ādāya vohareyyaṁ—idameva saccaṁ, moghamaññanti, na metaṁ assa patirūpaṁ. Ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘There are no totally formless states of meditation.’
And there are some ascetics and brahmins whose doctrine directly contradicts this. They say: ‘There are totally formless states of meditation.’
What do you think, householders? Don’t these doctrines directly contradict each other?”
“Yes, sir.”
“A sensible person reflects on this matter in this way: ‘Some ascetics and brahmins say that there are no totally formless meditations, but I have not seen that. Some ascetics and brahmins say that there are totally formless meditations, but I have not known that. Without knowing or seeing, it would not be appropriate for me to take one side and declare, ‘This is the only truth, anything else is futile.’ If those ascetics and brahmins who say that
103. “Này các gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Hoàn toàn không có các cõi vô sắc’. Này các gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết đối nghịch trực tiếp với các Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: ‘Hoàn toàn có các cõi vô sắc’. Này các gia chủ, các ông nghĩ thế nào? Có phải các Sa-môn, Bà-la-môn này có thuyết đối nghịch trực tiếp với nhau không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Này các gia chủ, trong trường hợp đó, người có trí suy xét như sau: ‘Những vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết, có kiến rằng: “Hoàn toàn không có các cõi vô sắc”, điều này tôi không thấy. Và những vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết, có kiến rằng: “Hoàn toàn có các cõi vô sắc”, điều này tôi không biết. Nếu ta, trong khi không biết, không thấy, lại chấp thủ một cách phiến diện và tuyên bố: “Chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm”, thì điều đó không thích hợp với ta. Đối với những vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết, có kiến rằng: “Hoàn toàn không có các cõi vô sắc”, nếu lời nói của các vị ấy là sự thật, thì có trường hợp này: có những vị trời có sắc, do ý sanh, và sự tái sanh của ta ở đó là chắc chắn. Còn đối với những vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết, có kiến rằng: “Hoàn toàn có các cõi vô sắc”, nếu lời nói của các vị ấy là sự thật, thì có trường hợp này: có những vị trời không có sắc, do tưởng sanh, và sự tái sanh của ta ở đó là chắc chắn. Lại nữa, do nhân nơi sắc mà người ta thấy có sự cầm gậy, cầm vũ khí, cãi cọ, tranh chấp, luận쟁, xưng hô mi-ta, nói hai lưỡi, nói dối. Nhưng tất cả những điều này hoàn toàn không có ở cõi vô sắc’. Người ấy, sau khi suy xét như vậy, thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với chính các sắc pháp.”
Santi, gahapatayo, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi sabbaso bhavanirodho’ti.
Tesaṁyeva kho, gahapatayo, samaṇabrāhmaṇānaṁ eke samaṇabrāhmaṇā ujuvipaccanīkavādā. Te evamāhaṁsu: ‘atthi sabbaso bhavanirodho’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, gahapatayo, nanume samaṇabrāhmaṇā aññamaññassa ujuvipaccanīkavādā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tatra, gahapatayo, viññū puriso iti paṭisañcikkhati—ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi sabbaso bhavanirodho’ti, idaṁ me adiṭṭhaṁ; yepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘atthi sabbaso bhavanirodho’ti, idaṁ me aviditaṁ. Ahañceva kho pana ajānanto apassanto ekaṁsena ādāya vohareyyaṁ—idameva saccaṁ, moghamaññanti, na metaṁ assa patirūpaṁ. Ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi sabbaso bhavanirodho’ti, sace tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ vacanaṁ, ṭhānametaṁ vijjati—ye te devā arūpino saññāmayā apaṇṇakaṁ me tatrūpapatti bhavissati. Ye pana te bhonto samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘atthi sabbaso bhavanirodho’ti, sace tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ vacanaṁ, ṭhānametaṁ vijjati—yaṁ diṭṭheva dhamme parinibbāyissāmi. Ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi sabbaso bhavanirodho’ti, tesamayaṁ diṭṭhi sārāgāya santike, saṁyogāya santike, abhinandanāya santike, ajjhosānāya santike, upādānāya santike. Ye pana te bhonto samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘atthi sabbaso bhavanirodho’ti, tesamayaṁ diṭṭhi asārāgāya santike, asaṁyogāya santike, anabhinandanāya santike, anajjhosānāya santike, anupādānāya santiketi. So iti paṭisaṅkhāya bhavānaṁyeva nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘There is no such thing as the total cessation of continued existence.’
And there are some ascetics and brahmins whose doctrine directly contradicts this. They say: ‘There is such a thing as the total cessation of continued existence.’
What do you think, householders? Don’t these doctrines directly contradict each other?”
“Yes, sir.”
“A sensible person reflects on this matter in this way: ‘Some ascetics and brahmins say that there is no such thing as the total cessation of continued existence, but I have not seen that. Some ascetics and brahmins say that there is such a thing as the total cessation of continued existence, but I have not known that. Without knowing or seeing, it would not be appropriate for me to take one side and declare, ‘This is the only truth, anything else is futile.’ If those ascetics and brahmins who say that there is no such thing as the total cessation of continued existence are correct, it is possible that it’s a sure bet I will be reborn among the gods who are formless and made of perception. If those ascetics and brahmins who say that there is such a thing as the total cessation of continued existence are correct, it is possible that I will be fully extinguished in this very life. The view of those ascetics and brahmins who say that there is no such thing as the total cessation of continued existence is close to greed, yoking, relishing, attachment, and grasping. The view of those ascetics and brahmins who say that there is such a thing as the total cessation of continued existence is close to non-greed, non-yoking, non-relishing, non-attachment, and non-grasping.’ Reflecting like this, they simply practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding future lives.
104. “Này các gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Hoàn toàn không có sự đoạn diệt của hữu’. Và này các gia chủ, trong số các Sa-môn, Bà-la-môn ấy, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết đối nghịch trực tiếp. Họ nói như vầy: ‘Có sự đoạn diệt hoàn toàn của hữu’. Này các gia chủ, các ông nghĩ thế nào? Có phải các Sa-môn, Bà-la-môn này có thuyết đối nghịch trực tiếp với nhau không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. “Này các gia chủ, ở đây, người có trí suy xét như sau: ‘Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Hoàn toàn không có sự đoạn diệt của hữu”, điều này ta không thấy; và các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Có sự đoạn diệt hoàn toàn của hữu”, điều này ta không biết. Nếu ta, trong khi không biết, không thấy, lại chấp thủ một phía mà tuyên bố: “Chỉ điều này là thật, điều khác là sai lầm”, thì điều ấy không thích hợp với ta. Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Hoàn toàn không có sự đoạn diệt của hữu”, nếu lời của các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy là thật, thì có trường hợp này: ta chắc chắn sẽ được sanh vào cõi chư thiên vô sắc, do tưởng sanh. Còn các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Có sự đoạn diệt hoàn toàn của hữu”, nếu lời của các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy là thật, thì có trường hợp này: ta sẽ đạt Bát-niết-bàn ngay trong hiện tại. Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Hoàn toàn không có sự đoạn diệt của hữu”, kiến này của họ gần với tham ái, gần với triền phược, gần với sự hoan hỷ, gần với sự tham đắm, gần với sự chấp thủ. Còn các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Có sự đoạn diệt hoàn toàn của hữu”, kiến này của họ gần với sự không tham ái, gần với sự không triền phược, gần với sự không hoan hỷ, gần với sự không tham đắm, gần với sự không chấp thủ’”. Vị ấy, sau khi suy xét như vậy, thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt chính các cõi hữu.
Cattārome, gahapatayo, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Householders, these four individuals are found in the world. What four?
105. “Này các gia chủ, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Bốn hạng người nào? Này các gia chủ, ở đây, có hạng người tự làm khổ mình, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân. Này các gia chủ, ở đây, có hạng người làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Này các gia chủ, ở đây, có hạng người vừa tự làm khổ mình, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Này các gia chủ, ở đây, có hạng người không tự làm khổ mình, không chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, không làm khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy, không tự làm khổ mình, không làm khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, được tịch tịnh, trở nên mát mẻ, cảm thọ lạc, sống với tự thân đã trở thành Phạm thiên.”
Katamo ca, gahapatayo, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, gahapatayo, ekacco puggalo acelako hoti muttācāro hatthāpalekhano …pe… iti evarūpaṁ anekavihitaṁ kāyassa ātāpanaparitāpanānuyogamanuyutto viharati. Ayaṁ vuccati, gahapatayo, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto.
And what individual mortifies themselves, committed to the practice of mortifying themselves? It’s when a person goes naked, ignoring conventions. … And so they live committed to practicing these various ways of mortifying and tormenting the body. This is called an individual who mortifies themselves, being committed to the practice of mortifying themselves.
106. “Và này các gia chủ, thế nào là hạng người tự làm khổ mình, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân? Này các gia chủ, ở đây, có người không mặc quần áo, sống phóng túng, liếm tay cho sạch... (vân vân)... Như vậy, vị ấy sống chuyên tâm vào nhiều cách hành hạ, làm khổ thân xác như thế. Này các gia chủ, đây được gọi là hạng người tự làm khổ mình, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân.”
Katamo ca, gahapatayo, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, gahapatayo, ekacco puggalo orabbhiko hoti sūkariko …pe… ye vā panaññepi keci kurūrakammantā. Ayaṁ vuccati, gahapatayo, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto.
And what individual mortifies others, committed to the practice of mortifying others? It’s when an individual is a butcher of sheep, pigs, poultry, or deer, a hunter or fisher, a bandit, an executioner, a butcher of cattle, a jailer, or has some other cruel livelihood. This is called an individual who mortifies others, being committed to the practice of mortifying others.
“Và này các gia chủ, thế nào là hạng người làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác? Này các gia chủ, ở đây, có người là đồ tể cừu, là đồ tể heo... (vân vân)... hay bất kỳ ai khác làm những nghề nghiệp tàn ác. Này các gia chủ, đây được gọi là hạng người làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.”
Katamo ca, gahapatayo, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, gahapatayo, ekacco puggalo rājā vā hoti khattiyo muddhāvasitto …pe… tepi daṇḍatajjitā bhayatajjitā assumukhā rudamānā parikammāni karonti. Ayaṁ vuccati, gahapatayo, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto.
And what individual mortifies themselves and others, being committed to the practice of mortifying themselves and others? It’s when an individual is an anointed aristocratic king or a well-to-do brahmin. He has a new ceremonial hall built to the east of the citadel. He shaves off his hair and beard, dresses in a rough antelope hide, and smears his body with ghee and oil. … His bondservants, servants, and workers do their jobs under threat of punishment and danger, weeping, with tearful faces. This is called an individual who mortifies themselves and others, being committed to the practice of mortifying themselves and others.
“Và này các gia chủ, thế nào là hạng người vừa tự làm khổ mình, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác? Này các gia chủ, ở đây, có người là vua, thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh... (vân vân)... những người phục dịch ấy, bị đe dọa bằng hình phạt, bị đe dọa bằng sự sợ hãi, mặt đẫm nước mắt, vừa khóc vừa làm các công việc. Này các gia chủ, đây được gọi là hạng người vừa tự làm khổ mình, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.”
Katamo ca, gahapatayo, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto; so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati?
Idha, gahapatayo, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho … pe… so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
And what individual doesn’t mortify either themselves or others, committed to the practice of not mortifying themselves or others, living without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine?
It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha … A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in some good family. … They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption.
“Và này các gia chủ, thế nào là hạng người không tự làm khổ mình, không chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, không làm khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy, không tự làm khổ mình, không làm khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, được tịch tịnh, trở nên mát mẻ, cảm thọ lạc, sống với tự thân đã trở thành Phạm thiên? Này các gia chủ, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác... (vân vân)... Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, do ly sanh, với hỷ và lạc. Do làm tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm, không tứ, do định sanh, với hỷ và lạc... (vân vân)... Thiền thứ ba... (vân vân)... chứng và trú Thiền thứ tư.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ vuccati, gahapatayo, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto; so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharatī”ti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. … They recollect their many kinds of past lives, with features and details.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. … They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’. Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
This is called an individual who neither mortifies themselves or others, being committed to the practice of not mortifying themselves or others. They live without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine.”
“Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, hướng tâm đến Túc Mạng Minh Trí. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời… như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các chi tiết và đặc điểm. Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, hướng tâm đến Thiên Nhãn Minh Trí. Vị ấy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú… vị ấy biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, hướng tâm đến Lậu Tận Minh Trí. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là Khổ’… ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc’. Đối với vị ấy, khi biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi được giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’. Này các gia chủ, người này được gọi là người không tự hành khổ, không chuyên tâm vào việc tự hành khổ, không hành khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành khổ người khác; vị ấy không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, sống không khao khát, tịch tịnh, mát mẻ, hưởng lạc, với tự thân trở thành Phạm.”
Evaṁ vutte, sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gate”ti.
When he had spoken, the brahmins and householders of Sālā said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, các vị Bà-la-môn gia chủ ở Sālā bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng như người ta có thể dựng đứng lại vật bị lật úp, phơi bày ra vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện để trình bày. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử tại gia, từ nay cho đến trọn đời đã quy y.”
Apaṇṇakasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Apaṇṇaka, kinh thứ mười, kết thúc.
Gahapativaggo niṭṭhito paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Gia Chủ, phẩm thứ nhất, kết thúc.
Kandaranāgarasekhavato ca, Potaliyo puna jīvakabhacco; Upālidamatho kukkuraabhayo, Bahuvedanīyāpaṇṇakato dasamo.
Kandara, Nāgara, và Sekha, rồi Potaliya, lại đến Jīvaka; Upāli, rồi Kukkura, Abhaya, Bahuvedanīya, và Apaṇṇaka là thứ mười.