- Majjhima Nikāya 59
Bahuvedanīyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Bahuvedanīyasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở tại Sāvatthi (Xá vệ), Jetavana (Rừng Kỳ đà), tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Rồi người thợ mộc Pancakanga (Ngũ Phần) đến Tôn giả Udāyi (Ưu đà di), sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, người thợ mộc Pancakanga thưa Tôn giả Udāyi
SC 3—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn thuyết có bao nhiêu thọ?
SC 4—Này Gia chủ, Thế Tôn thuyết có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Gia chủ, ba thọ này được Thế Tôn nói đến.
SC 5—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không thuyết ba thọ. Thế Tôn chỉ thuyết hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Thưa Tôn giả, bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn thuyết là tối thắng lạc đối với vị đã chứng được tịch tịnh.
SC 6Lần thứ hai, Tôn giả Udāyi nói với người thợ mộc Pancakanga
SC 7—Này Gia chủ, Thế Tôn không thuyết hai thọ. Thế Tôn thuyết ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Gia chủ, ba thọ này được Thế Tôn nói đến.
SC 8Lần thứ hai, người thợ mộc Pancakanga thưa Tôn giả Udāyi
SC 9—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không thuyết ba thọ. Thế Tôn chỉ thuyết hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Thưa Tôn giả, bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn thuyết là tối thắng lạc đối với vị đã chứng được tịch tịnh.
SC 10Lần thứ ba, Tôn giả Udāyi nói với người thợ mộc Pancakanga
SC 11—Này Gia chủ, Thế Tôn không thuyết hai thọ. Thế Tôn thuyết ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Gia chủ, ba thọ này được Thế Tôn nói đến.
SC 12Lần thứ ba, người thợ mộc Pancakanga thưa Tôn giả Udāyi
SC 13—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không thuyết ba thọ. Thế Tôn chỉ thuyết hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Thưa Tôn giả, bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn thuyết là tối thắng lạc đối với vị đã chứng được tịch tịnh.
SC 14Như vậy, Tôn giả Udāyi không thể thuyết phục được thợ mộc Pancakanga. Và thợ mộc Pancakanga cũng không thể thuyết phục được Tôn giả Udāyi.
SC 15Tôn giả Ānanda nghe được cuộc đàm thoại này giữa Tôn giả Udāyi với thợ mộc Panacakanga. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda thuật lại Thế Tôn rõ toàn diện cuộc đàm thoại giữa Tôn giả Udāyi và thợ mộc Pancakanga. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 16—Này Ānanda, dầu cho pháp môn của Udāyi là đúng, nhưng thợ mộc Pancakanga không chấp nhận. Dầu cho pháp môn của người thợ mộc Pancakanga là đúng, nhưng Udāyi không chấp nhận. Này Ānanda, hai thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; ba thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; năm thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; sáu thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; mười tám thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; ba mươi sáu thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; một trăm lẻ tám thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn. Như vậy, này Ānanda, pháp được Ta thuyết giảng tùy theo pháp môn.
SC 17Này Ānanda, vì pháp được Ta thuyết giảng tùy theo pháp môn như vậy, nên đối với những ai không chấp nhận, không tán đồng, không tùy hỷ những điều được khéo nói, khéo thuyết, khéo trình bày cùng nhau, thời sự kiện này sẽ xẩy ra: họ sẽ sống đấu tranh, khẩu tranh, luận tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi. Như vậy, này Ānanda pháp được Ta thuyết giảng tùy theo pháp môn. Này Ānanda, vì pháp được Ta thuyết giảng tùy theo pháp môn như vậy, nên đối với những ai chấp nhận, tán đồng, tùy hỷ những điều được khéo nói, khéo thuyết, khéo trình bày cùng nhau, thời sự kiện này sẽ xẩy ra: họ sẽ sống hòa hợp, tán đồng, tùy hỷ với nhau, như nước với sữa, và nhìn nhau với cặp mắt tương ái.
SC 18Này Ānanda, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn, các tiếng do tai nhận thức … các hương do mũi nhận thức … các vị do lưỡi nhận thức … các xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn. Này Ānanda, như vậy là năm dục trưởng dưỡng. Này Ānanda, duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và hỷ, như vậy gọi là dục lạc.
SC 19Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng mà các chúng sanh có thể cảm thọ”, Ta không thể chấp nhận như vậy. Vì sao vậy? Vì có một lạc khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn. Và này Ānanda, lạc ấy khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 20Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng mà chúng sanh có thể cảm thọ”, Ta không thể chấp nhận như vậy. Vì sao vậy? Vì có một lạc thọ khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn. Và này Ānanda, lạc ấy khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỳ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 21Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 22Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 23Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng, không tư niệm sai biệt tưởng, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Hư không vô biên xứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 24Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện Hư không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên,” chứng và trú Thức vô biên xứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 25Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện Thức vô biên xứ, nghĩ rằng không có vật gì, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 26Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng … ”, … vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 27Này Ānanda, ai nói như sau: “Lạc và hỷ này là tối thượng mà chúng sanh có thể cảm thọ”, Ta không thể chấp nhận như vậy. Vì sao vậy? Vì có một lạc thọ khác với lạc thọ kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn. Và này Ānanda, lạc ấy khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn là gì? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo vượt qua toàn diện Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Này Ānanda, lạc này khác với lạc kia, vi diệu hơn và thù thắng hơn.
SC 28Sự kiện này xẩy ra, này Ānanda, những du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama nói đến Diệt thọ tưởng định, và chủ trương định ấy thuộc về lạc thọ. Như vậy là gì, như vậy là thế nào? Này Ānanda, được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo cần phải được trả lời như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn không chủ trương rằng chỉ có những gì tùy thuộc lạc thọ là thuộc về lạc; vì rằng, chư Hiền, Thế Tôn chủ trương rằng chỗ nào, chỗ nào có được lạc thọ, như vậy chỗ ấy, chỗ ấy thuộc về lạc”.
SC 29Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 15–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Nhiều Cảm Thọ
Atha kho pañcakaṅgo thapati yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “kati nu kho, bhante udāyi, vedanā vuttā bhagavatā”ti?
“Tisso kho, thapati, vedanā vuttā bhagavatā. Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—imā kho, thapati, tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Evaṁ vutte, pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā; dve vedanā vuttā bhagavatā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā. Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca: “na kho, gahapati, dve vedanā vuttā bhagavatā; tisso vedanā vuttā bhagavatā. Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—imā kho, thapati, tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti. Dutiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā; dve vedanā vuttā bhagavatā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā. Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca: “na kho, thapati, dve vedanā vuttā bhagavatā; tisso vedanā vuttā bhagavatā. Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—imā kho, thapati, tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Tatiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā, dve vedanā vuttā bhagavatā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā. Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Neva kho sakkhi āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ saññāpetuṁ, na panāsakkhi pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ saññāpetuṁ.
Then the chamberlain Pañcakaṅga went up to Venerable Udāyī, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, how many feelings has the Buddha spoken of?”
“Chamberlain, the Buddha has spoken of three feelings: pleasant, painful, and neutral. The Buddha has spoken of these three feelings.”
When he said this, Pañcakaṅga said to Udāyī, “Sir, Udāyī, the Buddha hasn’t spoken of three feelings. He’s spoken of two feelings: pleasant and painful. The Buddha said that neutral feeling is included as a peaceful and subtle kind of pleasure.”
For a second time, Udāyī said to Pañcakaṅga, “The Buddha hasn’t spoken of two feelings, he’s spoken of three.” For a second time, Pañcakaṅga said to Udāyī, “The Buddha hasn’t spoken of three feelings, he’s spoken of two.”
And for a third time, Udāyī said to Pañcakaṅga, “The Buddha hasn’t spoken of two feelings, he’s spoken of three.”
And for a third time, Pañcakaṅga said to Udāyī, “The Buddha hasn’t spoken of three feelings, he’s spoken of two.”
But neither was able to persuade the other.
88. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, người thợ mộc Pañcakaṅga đi đến chỗ Tôn giả Udāyī; sau khi đến, đã đảnh lễ Tôn giả Udāyī rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người thợ mộc Pañcakaṅga nói với Tôn giả Udāyī điều này: 'Thưa ngài Udāyī, có bao nhiêu thọ đã được Thế Tôn nói đến?' 'Này người thợ mộc, có ba thọ đã được Thế Tôn nói đến: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này người thợ mộc, đây là ba thọ đã được Thế Tôn nói đến.' Khi được nói vậy, người thợ mộc Pañcakaṅga nói với Tôn giả Udāyī điều này: 'Thưa ngài Udāyī, không phải có ba thọ đã được Thế Tôn nói đến; có hai thọ đã được Thế Tôn nói đến: Lạc thọ, khổ thọ. Thưa ngài, cái thọ bất khổ bất lạc này đã được Thế Tôn nói đến là nằm trong lạc thọ an tịnh và vi diệu.' Lần thứ hai, Tôn giả Udāyī nói với người thợ mộc Pañcakaṅga điều này: 'Này gia chủ, không phải có hai thọ đã được Thế Tôn nói đến; có ba thọ đã được Thế Tôn nói đến: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này người thợ mộc, đây là ba thọ đã được Thế Tôn nói đến.' Lần thứ hai, người thợ mộc Pañcakaṅga nói với Tôn giả Udāyī điều này: 'Thưa ngài Udāyī, không phải có ba thọ đã được Thế Tôn nói đến; có hai thọ đã được Thế Tôn nói đến: Lạc thọ, khổ thọ. Thưa ngài, cái thọ bất khổ bất lạc này đã được Thế Tôn nói đến là nằm trong lạc thọ an tịnh và vi diệu.' Lần thứ ba, Tôn giả Udāyī nói với người thợ mộc Pañcakaṅga điều này: 'Này người thợ mộc, không phải có hai thọ đã được Thế Tôn nói đến; có ba thọ đã được Thế Tôn nói đến: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này người thợ mộc, đây là ba thọ đã được Thế Tôn nói đến.' Lần thứ ba, người thợ mộc Pañcakaṅga nói với Tôn giả Udāyī điều này: 'Thưa ngài Udāyī, không phải có ba thọ đã được Thế Tôn nói đến, có hai thọ đã được Thế Tôn nói đến: Lạc thọ, khổ thọ. Thưa ngài, cái thọ bất khổ bất lạc này đã được Thế Tôn nói đến là nằm trong lạc thọ an tịnh và vi diệu.' Tôn giả Udāyī đã không thể làm cho người thợ mộc Pañcakaṅga hiểu được, và người thợ mộc Pañcakaṅga cũng không thể làm cho Tôn giả Udāyī hiểu được.
Assosi kho āyasmā ānando āyasmato udāyissa pañcakaṅgena thapatinā saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ. Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando yāvatako ahosi āyasmato udāyissa pañcakaṅgena thapatinā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi. Evaṁ vutte, bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“santaññeva kho, ānanda, pariyāyaṁ pañcakaṅgo thapati udāyissa nābbhanumodi, santaññeva ca pana pariyāyaṁ udāyī pañcakaṅgassa thapatissa nābbhanumodi. Dvepānanda, vedanā vuttā mayā pariyāyena, tissopi vedanā vuttā mayā pariyāyena, pañcapi vedanā vuttā mayā pariyāyena, chapi vedanā vuttā mayā pariyāyena, aṭṭhārasapi vedanā vuttā mayā pariyāyena, chattiṁsapi vedanā vuttā mayā pariyāyena, aṭṭhasatampi vedanā vuttā mayā pariyāyena. Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo. Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ na samanujānissanti na samanumaññissanti na samanumodissanti tesametaṁ pāṭikaṅkhaṁ—bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharissanti. Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo. Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ samanujānissanti samanumaññissanti samanumodissanti tesametaṁ pāṭikaṅkhaṁ—samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharissanti.
Venerable Ānanda heard this discussion between Udāyī and Pañcakaṅga. Then he went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed. When he had spoken, the Buddha said to him,
“Ānanda, the explanation by the mendicant Udāyī, which the chamberlain Pañcakaṅga didn’t agree with, was quite correct. But the explanation by Pañcakaṅga, which Udāyī didn’t agree with, was also quite correct. In one explanation I’ve spoken of two feelings. In another explanation I’ve spoken of three feelings, or five, six, eighteen, thirty-six, or a hundred and eight feelings. I’ve explained the teaching in all these different ways. This being so, you can expect that those who don’t concede, approve, or agree with what has been well spoken will fight, quarrel, and dispute, continually wounding each other with barbed words. I’ve explained the teaching in all these different ways. This being so, you can expect that those who do concede, approve, or agree with what has been well spoken will live in harmony, appreciating each other, without quarreling, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes.
89. Tôn giả Ānanda đã nghe được cuộc đàm luận này giữa Tôn giả Udāyī và người thợ mộc Pañcakaṅga. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda đã trình bày lại với Thế Tôn toàn bộ cuộc đàm luận đã diễn ra giữa Tôn giả Udāyī và người thợ mộc Pañcakaṅga. Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda điều này: 'Này Ānanda, người thợ mộc Pañcakaṅga đã không chấp nhận lý lẽ xác đáng của Udāyī, và Udāyī cũng đã không chấp nhận lý lẽ xác đáng của người thợ mộc Pañcakaṅga. Này Ānanda, Ta đã nói đến hai thọ theo một pháp môn, Ta đã nói đến ba thọ theo một pháp môn, Ta đã nói đến năm thọ theo một pháp môn, Ta đã nói đến sáu thọ theo một pháp môn, Ta đã nói đến mười tám thọ theo một pháp môn, Ta đã nói đến ba mươi sáu thọ theo một pháp môn, Ta đã nói đến một trăm lẻ tám thọ theo một pháp môn. Này Ānanda, Pháp đã được Ta thuyết giảng theo pháp môn như vậy. Này Ānanda, khi Pháp đã được Ta thuyết giảng theo pháp môn như vậy, những ai không công nhận, không chấp nhận, không hoan hỷ lời nói thiện thuyết, thiện luận của nhau, điều này có thể được chờ đợi nơi họ: họ sẽ sống trong cãi cọ, tranh chấp, luận쟁, đả thương nhau bằng những mũi nhọn miệng lưỡi. Này Ānanda, Pháp đã được Ta thuyết giảng theo pháp môn như vậy. Này Ānanda, khi Pháp đã được Ta thuyết giảng theo pháp môn như vậy, những ai công nhận, chấp nhận, hoan hỷ lời nói thiện thuyết, thiện luận của nhau, điều này có thể được chờ đợi nơi họ: họ sẽ sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau với cặp mắt thân ái.'
Pañca kho ime, ānanda, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā …pe… jivhāviññeyyā rasā …pe… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, ānanda, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, ānanda, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ.
There are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation. The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure.
90. 'Này Ānanda, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc pháp do mắt nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình sắc đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính quyến rũ; các thanh...; các hương...; các vị...; các xúc pháp do thân nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình sắc đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính quyến rũ. Này Ānanda, đây là năm dục trưởng dưỡng. Này Ānanda, do duyên năm dục trưởng dưỡng này mà khởi lên lạc và hỷ nào, đây được gọi là dục lạc.'
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya: ‘etaparamaṁ sattā sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti, idamassa nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca. Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
There are those who might say that this is the highest pleasure and happiness that sentient beings experience. But I don’t grant them that. Why is that? Because there is another pleasure that is finer than that. And what is that pleasure? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is a pleasure that is finer than that.
Này Ānanda, nếu có người nói rằng: ‘Đây là lạc và hỷ ưu tối thượng mà chúng sanh có thể cảm nhận được,’ Ta không chấp nhận điều này. Vì sao vậy? Này Ānanda, có một loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này. Này Ānanda, thế nào là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Ānanda, đây chính là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc ấy.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya: ‘etaparamaṁ sattā sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti, idamassa nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca. Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
There are those who would say that this is the highest pleasure and happiness that sentient beings experience. But I don’t grant them that. Why is that? Because there is another pleasure that is finer than that. And what is that pleasure? It’s when, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. …
Này Ānanda, nếu có người nói rằng: ‘Đây là lạc và hỷ ưu tối thượng mà chúng sanh có thể cảm nhận được,’ Ta không chấp nhận điều này. Vì sao vậy? Này Ānanda, có một loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này. Này Ānanda, thế nào là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu, do làm cho tầm và tứ được tịnh chỉ ... chứng và trú thiền thứ hai. Này Ānanda, đây chính là loại lạc khác, vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc ấy.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya … pe…. Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
There is another pleasure that is finer than that. And what is that pleasure? It’s when, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ …
Này Ānanda, nếu có người nói như vậy ... Này Ānanda, thế nào là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu, do ly hỷ ... chứng và trú thiền thứ ba. Này Ānanda, đây chính là loại lạc khác, vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc ấy.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya … pe…. Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
There is another pleasure that is finer than that. And what is that pleasure? It’s when, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. …
Này Ānanda, nếu có người nói như vậy ... Này Ānanda, thế nào là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu, do xả lạc ... chứng và trú thiền thứ tư. Này Ānanda, đây chính là loại lạc khác, vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc ấy.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya … pe…. Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā, paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā, nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
There is another pleasure that is finer than that. And what is that pleasure? It’s when a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. …
Này Ānanda, nếu có người nói như vậy ... Này Ānanda, thế nào là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu, do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do làm cho các đối ngại tưởng được biến mất, do không tác ý đến các dị thù tưởng, vị ấy nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên,’ rồi chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Này Ānanda, đây chính là loại lạc khác, vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc ấy.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya … pe…. Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
There is another pleasure that is finer than that. And what is that pleasure? It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. …
Này Ānanda, nếu có người nói như vậy ... Này Ānanda, thế nào là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu, do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, vị ấy nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên,’ rồi chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Này Ānanda, đây chính là loại lạc khác, vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc ấy.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya … pe…. Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
There is another pleasure that is finer than that. And what is that pleasure? It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. …
Này Ānanda, nếu có người nói như vậy ... Này Ānanda, thế nào là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu, do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, vị ấy nghĩ rằng: ‘Không có gì cả,’ rồi chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Này Ānanda, đây chính là loại lạc khác, vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc ấy.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya … pe…. Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
There is another pleasure that is finer than that. And what is that pleasure? It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of nothingness, enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception. This is a pleasure that is finer than that.
Này Ānanda, nếu có người nói như vậy ... Này Ānanda, thế nào là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu, do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này Ānanda, đây chính là loại lạc khác, vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc ấy.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya: ‘etaparamaṁ sattā sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti, idamassa nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca. Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
There are those who would say that this is the highest pleasure and happiness that sentient beings experience. But I don’t grant them that. Why is that? Because there is another pleasure that is finer than that. And what is that pleasure? It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. This is a pleasure that is finer than that.
Này Ānanda, nếu có người nói rằng: ‘Đây là lạc và hỷ ưu tối thượng mà chúng sanh có thể cảm nhận được,’ Ta không chấp nhận điều này. Vì sao vậy? Này Ānanda, có một loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này. Này Ānanda, thế nào là loại lạc khác vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu, do vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng. Này Ānanda, đây chính là loại lạc khác, vi diệu hơn và thù thắng hơn loại lạc ấy.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, ānanda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘saññāvedayitanirodhaṁ samaṇo gotamo āha; tañca sukhasmiṁ paññapeti. Tayidaṁ kiṁsu, tayidaṁ kathaṁsū’ti?
Evaṁvādino, ānanda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘na kho, āvuso, bhagavā sukhaṁyeva vedanaṁ sandhāya sukhasmiṁ paññapeti; api ca, āvuso, yattha yattha sukhaṁ upalabbhati yahiṁ yahiṁ taṁ taṁ tathāgato sukhasmiṁ paññapetī’”ti.
It’s possible that wanderers of other religions might say, ‘The ascetic Gotama spoke of the cessation of perception and feeling, and he includes it in happiness. What’s up with that?’
When wanderers of other religions say this, you should say to them, ‘Reverends, when the Buddha describes what’s included in happiness, he’s not just referring to pleasant feeling. The Realized One describes pleasure as included in happiness wherever it is found, and in whatever context.’”
91. Này Ānanda, có trường hợp này có thể xảy ra, là các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Sa-môn Gotama nói về sự diệt của thọ và tưởng, và ngài xem đó là lạc. Cái đó là gì, cái đó thế nào?’ Này Ānanda, đối với các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên trả lời họ như sau: ‘Này chư hiền, Thế Tôn không chỉ xem lạc thọ là lạc; mà này chư hiền, bất cứ nơi đâu, bất cứ chỗ nào có lạc, thì Như Lai xem đó là lạc.’
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bahuvedanīyasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Đa Thọ, thứ chín, đã kết thúc.