- Majjhima Nikāya 58
Abhayarājakumārasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Abhayarājakumārasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivapa (chỗ nuôi các con sóc).
SC 2Rồi Vương tử Abhaya (Vô Úy) đi đến Nigaṇṭha Nātaputta, sau khi đến đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta rồi ngồi xuống một bên. Nigaṇṭha Nātaputta nói với Vương tử Abhaya đang ngồi một bên
SC 3—Này Vương tử, Vương tử hãy đi đến luận chiến với Sa-môn Gotama, và nhờ vậy tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi cho Vương tử: “Sa-môn Gotama có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị Vương tử Abhaya luận chiến”.
SC 4—Thưa Tôn giả, làm thế nào con có thể luận chiến Sa-môn Gotama có thần lực như vậy, có uy lực như vậy?
SC 5—Này Vương tử, hãy đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy nói với Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy nói với Sa-môn Gotama như sau: “Bạch Thế Tôn, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích chăng?” Nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy thời có gì sai khác giữa kẻ phàm phu và Ngài? Kẻ phàm phu có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”. Còn nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai không có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy, thời vì sao Devadatta được Ngài trả lời như sau: ‘Devadatta phải đọa vào đọa xứ, Devadatta phải đọa vào địa ngục, Devadatta phải đọa trong một kiếp, Devadatta không thể nào cứu chữa được?’ Và do Ngài nói những lời như vậy, Devadatta phẫn nộ, không hoan hỷ”. Này Vương tử, Sa-môn Gotama khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào. Ví như một móc sắt bị móc vào cổ họng một người nào, người ấy không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào được. Cũng vậy, này Vương tử, Sa-môn Gotama khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 6Vương tử Abhaya vâng đáp Nigaṇṭha Nātaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta, thân bên hữu hướng về ông rồi đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, liền đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Vương tử Abhaya đang ngồi một bên, nhìn mặt trời rồi suy nghĩ: “Hôm nay, không phải thời để luận chiến với Sa-môn Gotama. Ngày mai, ta sẽ luận chiến với Sa-môn Gotama tại nhà của ta,” liền bạch Thế Tôn
SC 7—Bạch Thế Tôn, ngày mai mong Thế Tôn nhận lời dùng cơm, cùng ba Tỷ-kheo khác với Ngài là người thứ tư.
SC 8Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Vương tử Abhaya, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 9Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm theo y bát, đi đến chỗ của Vương tử Abhaya, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Vương tử Abhaya tự tay mời mọc, làm cho Thế Tôn thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Vương tử Abhaya chờ cho Thế Tôn sau khi đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, Vương tử Abhaya bạch Thế Tôn
SC 10—Bạch Thế Tôn, Như Lai có thể nói những lời, do những lời ấy người khác không ưa, không thích chăng?
SC 11—Này Vương tử, phải chăng ở đây, (câu hỏi) có dụng ý một chiều?
SC 12—Bạch Thế Tôn, các vị Nigaṇṭha đã bị bại ở đây rồi.
SC 13—Này Vương tử, vì sao Vương tử lại nói như vầy: “Bạch Thế Tôn, các vị Nigaṇṭha đã bị bại ở đây rồi”?
SC 14—Bạch Thế Tôn, ở đây, con đi đến Nigaṇṭha Nātaputta, sau khi đến con đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta rồi ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, Nigaṇṭha Nātaputta nói với con đang ngồi một bên: “Này Vương tử, Vương tử hãy đi đến luận chiến với Sa-môn Gotama, và nhờ vậy tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi cho Vương tử: “Sa-môn Gotama có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị Vương tử Abhaya luận chiến”. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con thưa với Nigaṇṭha Nātaputta: “Thưa Tôn giả, nhưng làm thế nào, tôi có thể luận chiến với Sa-môn Gotama, một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy?” -” Này Vương tử, hãy đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy nói với Sa-môn Gotama như sau: “Bạch Thế Tôn, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy, những người khác không ưa, không thích chăng?” Nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy, những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy, thời có gì sai khác giữa kẻ phàm phu với Ngài? Kẻ phàm phu có thể nói lời nói, do lời nói ấy, những người khác không ưa, không thích”. Còn nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai không có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy, thời vì sao Devadatta được Ngài trả lời như sau: Devadatta phải đọa vào đọa xứ, Devadatta phải đọa vào địa ngục, Devadatta phải đọa trong một kiếp, Devadatta không thể nào cứu chữa được? Và vì Ngài nói những lời như vậy, Devadatta phẫn nộ, không hoan hỷ”. Này Vương tử, Sa-môn Gotama, khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không thể nhả ra, cũng không thể nuốt vào. Ví như một móc sắt bị mắc vào cổ họng của một người nào, người ấy không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào được. Cũng vậy, này Vương tử, Sa-môn Gotama, khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào”.
SC 15Lúc bấy giờ, có đứa con nít ngây thơ nằm giữa trên đầu gối của Vương tử Abhaya. Rồi Thế Tôn nói với Vương tử Abhaya
SC 16—Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Nếu đứa con nít này, do sự vô ý của Vương tử, hay do sự vô ý của người vú hầu, thọc một cái que hay nuốt một hòn đá vào trong miệng, vậy Vương tử phải làm gì?
SC 17—Bạch Thế Tôn, con phải móc cho ra. Bạch Thế Tôn, nếu con không thể móc ra lập tức, thời với tay trái con nắm đầu nó lại, với tay mặt lấy ngón tay làm như cái móc, con sẽ móc cho vật ấy ra, dầu có phải chảy máu. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì con có lòng thương tưởng đứa trẻ.
SC 18—Cũng vậy, này Vương tử, lời nói nào Như Lai biết không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy. Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai ở đây biết thời giải thích lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa thích, Như Lại không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy. Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, ở đây, Như Lai biết thời giải thích lời nói ấy. Vì sao vậy? Này Vương tử, Như Lai có lòng thương tưởng đối với các loài hữu tình.
SC 19—Bạch Thế Tôn, những Sát-đế-lị có trí, những Bà-la-môn có trí, những Gia chủ có trí, những Sa-môn có trí này, sau khi soạn sẵn câu hỏi, đến Như Lai và hỏi: “Bạch Thế Tôn, không hiểu Thế Tôn có suy nghĩ trước trong trí như sau: “Nếu có những ai đến Ta và hỏi như vậy, được hỏi như vậy, Ta sẽ trả lời như vậy”, hay Như Lai trả lời ngay (tại chỗ)?”
SC 20—Này Vương tử, nay ở đây Ta sẽ hỏi Vương tử, nếu Vương tử hoan hỷ, hãy trả lời câu hỏi ấy. Này Vương tử, Vương tử nghĩ như thế nào? Vương tử có giỏi về các bộ phận sai biệt một cái xe không?
SC 21—Thưa vâng, bạch Thế Tôn, con có giỏi về các bộ phận sai biệt một cái xe.
SC 22—Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Nếu có những người đến Vương tử và hỏi như sau: “Bộ phận này của cái xe tên gọi là gì?”, không hiểu Vương Tử có suy nghĩ trước trong trí như sau: “Nếu có những ai đến ta, và hỏi ta như vậy, ta sẽ trả lời cho họ như vậy”, hay là Vương tử trả lời ngay (tại chỗ)?
SC 23—Bạch Thế Tôn, vì con là người đánh xe nổi tiếng, rất giỏi về các bộ phận sai biệt trong một cái xe nên con sẽ trả lời ngay (tại chỗ).
SC 24—Cũng vậy, này Vương tử, những Sát-đế-lỵ có trí, những Bà-la-môn có trí, những Gia chủ có trí, những Sa-môn có trí này, sau khi soạn sẵn câu hỏi, đến Như Lai và hỏi, Như Lai sẽ trả lời ngay (tại chỗ). Vì sao vậy? Này Vương tử, pháp giới (Dhammadhatu) đã được Như Lai khéo biết. Và vì Như Lai khéo biết pháp giới nên Như Lai trả lời ngay (tại chỗ).
SC 25Khi được nói vậy, Vương tử Abhaya bạch Thế Tôn
SC 26—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 15–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Vương tử Abhaya
Atha kho abhayo rājakumāro yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho abhayaṁ rājakumāraṁ nigaṇṭho nāṭaputto etadavoca: “ehi tvaṁ, rājakumāra, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropehi. Evaṁ te kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati: ‘abhayena rājakumārena samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādo āropito’”ti.
“Yathā kathaṁ panāhaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādaṁ āropessāmī”ti?
“Ehi tvaṁ, rājakumāra, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ evaṁ vadehi: ‘bhāseyya nu kho, bhante, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti? Sace te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: ‘bhāseyya, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘atha kiñcarahi te, bhante, puthujjanena nānākaraṇaṁ? Puthujjanopi hi taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti. Sace pana te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: ‘na, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘atha kiñcarahi te, bhante, devadatto byākato: “āpāyiko devadatto, nerayiko devadatto, kappaṭṭho devadatto, atekiccho devadatto”ti? Tāya ca pana te vācāya devadatto kupito ahosi anattamano’ti.
Imaṁ kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilituṁ. Seyyathāpi nāma purisassa ayosiṅghāṭakaṁ kaṇṭhe vilaggaṁ, so neva sakkuṇeyya uggilituṁ na sakkuṇeyya ogilituṁ; evameva kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo imaṁ ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilitun”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho abhayo rājakumāro nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Then Prince Abhaya went up to the Jain ascetic of the Ñātika clan, bowed, and sat down to one side. The Jain Ñātika said to him, “Come, prince, refute the ascetic Gotama’s doctrine. Then you will get a good reputation: ‘Prince Abhaya refuted the doctrine of the ascetic Gotama, so mighty and powerful!’”
“But sir, how am I to do this?”
“Here, prince, go to the ascetic Gotama and say to him: ‘Sir, may the Realized One utter speech that is disliked by others?’ When he’s asked this, if he answers: ‘He may, prince,’ say this to him, ‘So what then, sir, is the difference between you and an ordinary person? For even an ordinary person may utter speech that is disliked by others.’ But if he answers, ‘He may not, prince,’ say this to him: ‘So why then, sir, did you declare of Devadatta: “Devadatta is going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable”? Devadatta was angry and upset with what you said.’
When you put this dilemma to him, the Buddha won’t be able to either spit it out or swallow it down. He’ll be like a man with an iron cross stuck in his throat, unable to either spit it out or swallow it down.”
“Yes, sir,” replied Abhaya. He rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Jain Ñātika, keeping him on his right. Then he went to the Buddha, bowed, and sat down to one side.
83. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi cho sóc ăn. Bấy giờ, vương tử Abhaya đi đến chỗ của Nigaṇṭha Nāṭaputta; sau khi đến, vương tử đảnh lễ Nigaṇṭha Nāṭaputta và ngồi xuống một bên. Khi vương tử Abhaya đang ngồi một bên, Nigaṇṭha Nāṭaputta nói với vương tử lời này: “Này vương tử, hãy đến, hãy đưa ra một luận điểm chống lại Sa-môn Gotama. Như vậy, tiếng tăm tốt đẹp của ngài sẽ được lan truyền rằng: ‘Vương tử Abhaya đã đưa ra một luận điểm chống lại Sa-môn Gotama, người có đại thần lực, đại uy lực như vậy.’” “Bạch ngài, làm thế nào con có thể đưa ra một luận điểm chống lại Sa-môn Gotama, người có đại thần lực, đại uy lực như vậy?” “Này vương tử, hãy đến, hãy đi đến chỗ Sa-môn Gotama; sau khi đến, hãy nói với Sa-môn Gotama như vầy: ‘Bạch Thế Tôn, Như Lai có nói lời nào mà lời ấy không được người khác ưa thích, không làm họ hài lòng không?’ Nếu Sa-môn Gotama, khi được ngài hỏi như vậy, trả lời rằng: ‘Này vương tử, Như Lai có nói lời nào mà lời ấy không được người khác ưa thích, không làm họ hài lòng,’ thì ngài hãy nói với vị ấy như vầy: ‘Bạch Thế Tôn, vậy thì ngài có gì khác với kẻ phàm phu? Vì kẻ phàm phu cũng nói lời mà lời ấy không được người khác ưa thích, không làm họ hài lòng.’ Nhưng nếu Sa-môn Gotama, khi được ngài hỏi như vậy, trả lời rằng: ‘Không, này vương tử, Như Lai không nói lời nào mà lời ấy không được người khác ưa thích, không làm họ hài lòng,’ thì ngài hãy nói với vị ấy như vầy: ‘Bạch Thế Tôn, vậy tại sao ngài lại tuyên bố về Devadatta rằng: “Devadatta sẽ đọa vào cõi khổ, Devadatta sẽ vào địa ngục, Devadatta sẽ ở đó một kiếp, Devadatta không thể cứu chữa”? Và vì lời nói ấy của ngài, Devadatta đã tức giận, không hài lòng.’ Này vương tử, khi được hỏi câu hỏi lưỡng nan này, Sa-môn Gotama sẽ không thể nuốt vào cũng không thể nhổ ra. Ví như một cái gai sắt mắc trong cổ họng của một người, người ấy không thể nuốt vào cũng không thể nhổ ra; cũng vậy, này vương tử, khi được hỏi câu hỏi lưỡng nan này, Sa-môn Gotama sẽ không thể nuốt vào cũng không thể nhổ ra.” “Thưa vâng, bạch ngài.” Vương tử Abhaya, sau khi nghe lời của Nigaṇṭha Nāṭaputta, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Nigaṇṭha Nāṭaputta, đi nhiễu bên phải và đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, vương tử đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinnassa kho abhayassa rājakumārassa sūriyaṁ ulloketvā etadahosi: “akālo kho ajja bhagavato vādaṁ āropetuṁ. Sve dānāhaṁ sake nivesane bhagavato vādaṁ āropessāmī”ti bhagavantaṁ etadavoca: “adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya attacatuttho bhattan”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho abhayo rājakumāro bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena abhayassa rājakumārassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Then he looked up at the sun and thought, “It’s too late to refute the Buddha’s doctrine today. I shall refute his doctrine in my own home tomorrow.” He said to the Buddha, “Sir, would the Buddha, together with three other monks, please accept tomorrow’s meal from me?” The Buddha consented with silence.
Then, knowing that the Buddha had consented, Abhaya rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Then when the night had passed, the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to Abhaya’s home, and sat down on the seat spread out. Then Abhaya served and satisfied the Buddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods.
When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Abhaya took a low seat, sat to one side,
84. Khi ấy, vương tử Abhaya đang ngồi một bên, nhìn lên mặt trời và suy nghĩ: 'Hôm nay không phải là lúc để chất vấn Thế Tôn. Ngày mai, tại nhà của ta, ta sẽ chất vấn Thế Tôn.' Rồi vương tử bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cùng với ba vị khác nhận lời mời dùng bữa tại nhà con vào ngày mai.' Thế Tôn im lặng nhận lời. Khi ấy, vương tử Abhaya, biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo chiều bên phải rồi ra về. Sau đêm đó, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát, đi đến nhà của vương tử Abhaya. Đến nơi, Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Khi ấy, vương tử Abhaya tự tay dâng cúng Thế Tôn các món ăn thượng vị, cả đồ cứng và đồ mềm, cho đến khi Ngài dùng xong và tỏ ý đã đủ. Khi Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, vương tử Abhaya lấy một chiếc ghế thấp hơn rồi ngồi xuống một bên.
“Na khvettha, rājakumāra, ekaṁsenā”ti.
“Ettha, bhante, anassuṁ nigaṇṭhā”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, rājakumāra, evaṁ vadesi: ‘ettha, bhante, anassuṁ nigaṇṭhā’”ti?
“Idhāhaṁ, bhante, yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho maṁ, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto etadavoca: ‘ehi tvaṁ, rājakumāra, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropehi. Evaṁ te kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati—abhayena rājakumārena samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādo āropito’ti. Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavocaṁ: ‘yathā kathaṁ panāhaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādaṁ āropessāmī’ti? ‘Ehi tvaṁ, rājakumāra, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ evaṁ vadehi: “bhāseyya nu kho, bhante, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti? Sace te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: “bhāseyya, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: “atha kiñcarahi te, bhante, puthujjanena nānākaraṇaṁ? Puthujjanopi hi taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti. Sace pana te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: “na, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi—atha kiñcarahi te, bhante, devadatto byākato: “āpāyiko devadatto, nerayiko devadatto, kappaṭṭho devadatto, atekiccho devadatto”ti? Tāya ca pana te vācāya devadatto kupito ahosi anattamano’ti. Imaṁ kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilituṁ. Seyyathāpi nāma purisassa ayosiṅghāṭakaṁ kaṇṭhe vilaggaṁ, so neva sakkuṇeyya uggilituṁ na sakkuṇeyya ogilituṁ; evameva kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo imaṁ ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilitun”ti.
“This matter is not categorical, prince.”
“Then the Jains have lost in this, sir.”
“But prince, why do you say that the Jains have lost in this?”
Then Abhaya told the Buddha all that had happened.
85. Ngồi xuống một bên, vương tử Abhaya bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Như Lai có nói lời nào mà lời ấy không được người khác ưa thích, không làm họ hài lòng không?' – 'Này vương tử, về vấn đề này, không thể trả lời một cách dứt khoát.' – 'Bạch Thế Tôn, như vậy thì các Ni-kiền-tử đã bị thất bại rồi.' – 'Này vương tử, tại sao ông lại nói: ‘Bạch Thế Tôn, như vậy thì các Ni-kiền-tử đã bị thất bại rồi’?' – 'Bạch Thế Tôn, con đã đi đến chỗ của Ni-kiền-tử Nāṭaputta. Sau khi đến, con đã đảnh lễ Ni-kiền-tử Nāṭaputta rồi ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, khi con đang ngồi một bên, Ni-kiền-tử Nāṭaputta đã nói với con rằng: ‘Này vương tử, hãy đến đây, ông hãy đi chất vấn Sa-môn Gotama. Như vậy, tiếng tăm tốt đẹp của ông sẽ được lan truyền rằng: ‘Vương tử Abhaya đã chất vấn Sa-môn Gotama, một người có đại thần lực, đại uy lực như vậy.’ Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con đã thưa với Ni-kiền-tử Nāṭaputta: ‘Thưa ngài, làm thế nào con có thể chất vấn Sa-môn Gotama, một người có đại thần lực, đại uy lực như vậy?’ – ‘Này vương tử, hãy đến đây, ông hãy đi đến chỗ Sa-môn Gotama. Sau khi đến, hãy nói với Sa-môn Gotama như sau: ‘Bạch Thế Tôn, Như Lai có nói lời nào mà lời ấy không được người khác ưa thích, không làm họ hài lòng không?’ Nếu Sa-môn Gotama, khi được ông hỏi như vậy, trả lời rằng: ‘Này vương tử, Như Lai có nói lời mà lời ấy không được người khác ưa thích, không làm họ hài lòng,’ thì ông hãy nói với vị ấy rằng: ‘Bạch Thế Tôn, vậy thì ngài có gì khác với kẻ phàm phu? Vì kẻ phàm phu cũng nói lời mà lời ấy không được người khác ưa thích, không làm họ hài lòng.’ Còn nếu Sa-môn Gotama, khi được ông hỏi như vậy, trả lời rằng: ‘Này vương tử, Như Lai không nói lời mà lời ấy không được người khác ưa thích, không làm họ hài lòng,’ thì ông hãy nói với vị ấy rằng: ‘Bạch Thế Tôn, vậy thì tại sao ngài lại tuyên bố về Devadatta rằng: ‘Devadatta sẽ bị đọa vào cõi khổ, Devadatta sẽ bị đọa vào địa ngục, Devadatta sẽ ở địa ngục suốt một kiếp, Devadatta là người không thể cứu chữa?’ Vì những lời ấy của ngài mà Devadatta đã tức giận và không hài lòng.’ Này vương tử, Sa-môn Gotama, khi được ông hỏi câu hỏi lưỡng nan này, sẽ không thể nuốt vào cũng không thể nhổ ra. Giống như một người bị mắc một cái ngạnh sắt ở cổ họng, không thể nuốt vào cũng không thể nhổ ra; cũng vậy, này vương tử, Sa-môn Gotama, khi được ông hỏi câu hỏi lưỡng nan này, sẽ không thể nuốt vào cũng không thể nhổ ra.’
Tena kho pana samayena daharo kumāro mando uttānaseyyako abhayassa rājakumārassa aṅke nisinno hoti. Atha kho bhagavā abhayaṁ rājakumāraṁ etadavoca: “Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, sacāyaṁ kumāro tuyhaṁ vā pamādamanvāya dhātiyā vā pamādamanvāya kaṭṭhaṁ vā kaṭhalaṁ vā mukhe āhareyya, kinti naṁ kareyyāsī”ti?
“Āhareyyassāhaṁ, bhante. Sace, bhante, na sakkuṇeyyaṁ ādikeneva āhattuṁ, vāmena hatthena sīsaṁ pariggahetvā dakkhiṇena hatthena vaṅkaṅguliṁ karitvā salohitampi āhareyyaṁ. Taṁ kissa hetu? Atthi me, bhante, kumāre anukampā”ti.
“Evameva kho, rājakumāra, yaṁ tathāgato vācaṁ jānāti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ appiyā amanāpā, na taṁ tathāgato vācaṁ bhāsati. Yampi tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ appiyā amanāpā, tampi tathāgato vācaṁ na bhāsati. Yañca kho tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ appiyā amanāpā, tatra kālaññū tathāgato hoti tassā vācāya veyyākaraṇāya. Yaṁ tathāgato vācaṁ jānāti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ piyā manāpā, na taṁ tathāgato vācaṁ bhāsati. Yampi tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ piyā manāpā tampi tathāgato vācaṁ na bhāsati. Yañca tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ piyā manāpā, tatra kālaññū tathāgato hoti tassā vācāya veyyākaraṇāya. Taṁ kissa hetu? Atthi, rājakumāra, tathāgatassa sattesu anukampā”ti.
Now at that time a little baby boy was sitting in Prince Abhaya’s lap. Then the Buddha said to Abhaya, “What do you think, prince? If—because of your negligence or his nursemaid’s negligence—your boy were to put a stick or stone in his mouth, what would you do to him?”
“I’d try to take it out, sir. If that didn’t work, I’d cradle his head with my left hand and take it out using a hooked finger of my right hand, even if it drew blood. Why is that? Because I have sympathy for the boy, sir.”
“In the same way, prince, the Realized One does not utter speech that he knows to be untrue, false, and pointless, and which is disliked by others. The Realized One does not utter speech that he knows to be true and correct, but which is harmful and disliked by others. The Realized One knows the right time to speak so as to explain what he knows to be true, correct, and beneficial, but which is disliked by others. The Realized One does not utter speech that he knows to be untrue, false, and pointless, but which is liked by others. The Realized One does not utter speech that he knows to be true and correct, but which is harmful, even if it is liked by others. The Realized One knows the right time to speak so as to explain what he knows to be true, correct, and beneficial, and which is liked by others. Why is that? Because the Realized One has sympathy for sentient beings.”
86. Vào lúc bấy giờ, có một đứa trẻ còn non nớt, khờ dại, chỉ biết nằm ngửa, đang ngồi trong lòng của vương tử Abhaya. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vương tử Abhaya điều này: – ‘Này vương tử, ông nghĩ thế nào về điều này, nếu đứa trẻ này, do sự lơ đễnh của ông hay do sự lơ đễnh của vú nuôi, mà đưa một miếng gỗ hay một mảnh sành vào miệng, ông sẽ làm gì nó?’ – ‘Bạch Thế Tôn, con sẽ lấy nó ra. Bạch Thế Tôn, nếu con không thể lấy ra ngay từ đầu, con sẽ dùng tay trái giữ đầu nó, rồi dùng tay phải móc ngón tay cong lại và lấy ra cho dù có chảy máu. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn, vì con có lòng thương xót đối với đứa trẻ.’ – ‘Cũng vậy, này vương tử, lời nói nào Như Lai biết là không thật, không đúng, không đem lại lợi ích, và lời nói ấy không được người khác yêu thích, không vừa lòng, Như Lai không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là thật, là đúng, nhưng không đem lại lợi ích, và lời nói ấy không được người khác yêu thích, không vừa lòng, Như Lai cũng không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là thật, là đúng, đem lại lợi ích, nhưng lời nói ấy không được người khác yêu thích, không vừa lòng, ở đây Như Lai biết thời điểm để giải thích lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là không thật, không đúng, không đem lại lợi ích, nhưng lời nói ấy được người khác yêu thích, vừa lòng, Như Lai không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là thật, là đúng, nhưng không đem lại lợi ích, và lời nói ấy được người khác yêu thích, vừa lòng, Như Lai cũng không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là thật, là đúng, đem lại lợi ích, và lời nói ấy được người khác yêu thích, vừa lòng, ở đây Như Lai biết thời điểm để giải thích lời nói ấy. Vì cớ sao? Này vương tử, vì Như Lai có lòng thương xót đối với chúng sanh.’
“Yeme, bhante, khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi samaṇapaṇḍitāpi pañhaṁ abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti, pubbeva nu kho, etaṁ, bhante, bhagavato cetaso parivitakkitaṁ hoti ‘ye maṁ upasaṅkamitvā evaṁ pucchissanti tesāhaṁ evaṁ puṭṭho evaṁ byākarissāmī’ti, udāhu ṭhānasovetaṁ tathāgataṁ paṭibhātī”ti?
“Sir, there are astute aristocrats, brahmins, householders, or ascetics who come to see you with a question already planned. Do you think beforehand that if they ask you like this, you’ll answer like that, or does the answer just strike you on the spot?”
87. ‘Bạch Thế Tôn, những vị học giả Sát-đế-lỵ, học giả Bà-la-môn, học giả gia chủ, và học giả Sa-môn, sau khi chuẩn bị câu hỏi, đã đến gần Như Lai và hỏi. Bạch Thế Tôn, có phải điều này đã được đức Thế Tôn suy xét trong tâm từ trước rằng: ‘Những ai đến gần ta và hỏi như thế này, khi được hỏi như vậy, ta sẽ trả lời như thế này’, hay là điều ấy khởi lên cho Như Lai ngay tại chỗ?’
“Tena hi, rājakumāra, taññevettha paṭipucchissāmi, yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, kusalo tvaṁ rathassa aṅgapaccaṅgānan”ti?
“Well then, prince, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, prince? Are you skilled in the various parts of a chariot?”
‘Vậy thì, này vương tử, ta sẽ hỏi lại ông chính về điều này, ông hãy trả lời theo như ông thấy thích hợp. Này vương tử, ông nghĩ thế nào về điều này, ông có thiện xảo về các bộ phận lớn nhỏ của cỗ xe không?’
“Evaṁ, bhante, kusalo ahaṁ rathassa aṅgapaccaṅgānan”ti.
“I am, sir.”
‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn, con thiện xảo về các bộ phận lớn nhỏ của cỗ xe.’
“Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, ye taṁ upasaṅkamitvā evaṁ puccheyyuṁ: ‘kiṁ nāmidaṁ rathassa aṅgapaccaṅgan’ti? Pubbeva nu kho te etaṁ cetaso parivitakkitaṁ assa ‘ye maṁ upasaṅkamitvā evaṁ pucchissanti tesāhaṁ evaṁ puṭṭho evaṁ byākarissāmī’ti, udāhu ṭhānasovetaṁ paṭibhāseyyā”ti?
“What do you think, prince? When they come to you and ask: ‘What’s the name of this chariot part?’ Do you think beforehand that if they ask you like this, you’ll answer like that, or does the answer appear to you on the spot?”
‘Này vương tử, ông nghĩ thế nào về điều này? Những người đến gần ông và hỏi như thế này: ‘Bộ phận lớn nhỏ này của cỗ xe tên là gì?’ Có phải điều này đã được ông suy xét trong tâm từ trước rằng: ‘Những ai đến gần ta và hỏi như thế này, khi được hỏi như vậy, ta sẽ trả lời như thế này’, hay là điều ấy khởi lên cho ông ngay tại chỗ?’
“Ahañhi, bhante, rathiko saññāto kusalo rathassa aṅgapaccaṅgānaṁ. Sabbāni me rathassa aṅgapaccaṅgāni suviditāni. Ṭhānasovetaṁ maṁ paṭibhāseyyā”ti.
“Sir, I’m well-known as a charioteer skilled in a chariot’s parts. All the major and minor parts are well-known to me. The answer just appears to me on the spot.”
‘Bạch Thế Tôn, con được biết đến là người đánh xe, thiện xảo về các bộ phận lớn nhỏ của cỗ xe. Tất cả các bộ phận lớn nhỏ của cỗ xe đều được con biết rõ. Điều ấy sẽ khởi lên cho con ngay tại chỗ.’
“Evameva kho, rājakumāra, ye te khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi samaṇapaṇḍitāpi pañhaṁ abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti, ṭhānasovetaṁ tathāgataṁ paṭibhāti. Taṁ kissa hetu? Sā hi, rājakumāra, tathāgatassa dhammadhātu suppaṭividdhā yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā ṭhānasovetaṁ tathāgataṁ paṭibhātī”ti.
“In the same way, when astute aristocrats, brahmins, householders, or ascetics come to see me with a question already planned, the answer just strikes me on the spot. Why is that? Because the Realized One has clearly penetrated the principle of the teachings, so that the answer just strikes him on the spot.”
‘Cũng vậy, này vương tử, những vị học giả Sát-đế-lỵ, học giả Bà-la-môn, học giả gia chủ, và học giả Sa-môn, sau khi chuẩn bị câu hỏi, đã đến gần Như Lai và hỏi, điều ấy khởi lên cho Như Lai ngay tại chỗ. Vì cớ sao? Này vương tử, vì pháp giới ấy đã được Như Lai khéo thể nhập, do đã khéo thể nhập pháp giới ấy, nên điều ấy khởi lên cho Như Lai ngay tại chỗ.’
Evaṁ vutte, abhayo rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe… ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, Prince Abhaya said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! … From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, vương tử Abhaya đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! …(lược)… Kể từ hôm nay, xin Ngài hãy xem con là người đã quy y cho đến trọn đời.’
Abhayarājakumārasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Vương tử Abhaya, thứ tám, đã kết thúc.