- Majjhima Nikāya 57
Kukkuravatikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kukkuravatikasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Koliya Haliddavasana là tên một thị trấn của dân chúng Koliya.
SC 2Rồi Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, và lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, cùng đi đến Thế Tôn, sau khi đến Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, nói lời hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên lời hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên, ngồi chõ hỏ như con chó. Sau khi ngồi một bên, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng xuống đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
SC 4—Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa.
SC 5Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng dưới đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
SC 7—Này Puñña, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Puñña, người nào hành trì hạnh con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con chó một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh thân hữu cùng với các loài chó. Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này, hay chư Thiên khác”, thời này Puñña, đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh. Như vậy, này Puñña, nếu hạnh con chó được thành tựu, thời được sanh trong loài chó, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.
SC 8Khi được nói vậy, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, khóc than chảy nước mắt. Rồi Thế Tôn nói với Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò
SC 9—Này Puñña, Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”.
SC 10—Bạch Thế Tôn, con khóc như vậy không phải vì lời Thế Tôn nói về con. Nhưng vì bạch Thế Tôn, con đã chấp nhận và hành trì hạnh con chó này trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò này, đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này, trong một thời gian dài, vậy sanh thú của ông ấy thế nào, vận mạng của ông ấy thế nào?
SC 11—Thôi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa.
SC 12Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, bạch Thế Tôn
SC 13—Bạch Thế Tôn, Puñña Koliyaputta này đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này trong một thời gian dài, vậy sanh thú của ông ấy thế nào, vận mạng của ông ấy thế nào?
SC 14—Này Seniya, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”. Tuy vậy ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Seniya, người nào hạnh trì hạnh con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con bò một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh thân hữu cùng với các loài bò. Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này hay chư Thiên khác”, thời này Seniya, đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh. Như vậy, này Seniya, nếu hạnh con bò được thành tựu, thời được sanh trong loài bò, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.
SC 15Khi được nói vậy, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, khóc than, chảy nước mắt. Rồi Thế Tôn nói với lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó
SC 16—Này Seniya, Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thồi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”.
SC 17—Bạch Thế Tôn, con khóc như vậy không phải vì lời Thế Tôn nói về con. Nhưng vì, bạch Thế Tôn, con đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, con có lòng tin tưởng đối với Thế Tôn: Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để con có thể từ bỏ hạnh con bò này và để lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, có thể bỏ hạnh con chó này.
SC 18—Này Puñña, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
SC 19—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 20Puñña Koliyaputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 21—Này Puñña có bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là bốn? Này Puñña, có nghiệp đen đưa đến quả báo đen, này Puñña, có nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, này Puñña, có nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng, này Puñña, có nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp.
SC 22Và này Puñña, thế nào là nghiệp đen đưa đến quả báo đen? Ở đây, này Puñña có người tạo ra thân hành có tổn hại, tạo ra khẩu hành có tổn hại, tạo ra ý hành có tổn hại. Sau khi tạo ra thân hành có tổn hại, khẩu hành có tổn hại, ý hành có tổn hại, vị này được sanh vào thế giới có tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới có tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc có tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc có tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ có tổn hại, thuần nhất khổ thọ, như các chúng sanh trong địa ngục. Như vậy, này Puñña, là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình, và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích mình. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy, này Puñña, được gọi là nghiệp đen đưa đến quả báo đen.
SC 23Và này Puñña, thế nào là nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng? Ở đây, này Puñña, có người làm thân hành không không có tổn hại, làm khẩu hành không có tổn hại, làm ý hành không không có tổn hại. Sau khi làm thân hành không không có tổn hại, khẩu hành không không có tổn hại, ý hành không không có tổn hại, vị này được sanh vào thế giới không không có tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới không không có tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc không không có tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc không không có tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ không không có tổn hại, thuần nhất lạc thọ, như chư Thiên Subhakinha (Biến Tịnh thiên). Như vậy này Puñña là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình; và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích chúng sanh ấy. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy, này Puñña, được gọi là nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng.
SC 24Và này Puñña, thế nào là nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng? Ở đây, này Puñña, có người làm các thân hành có tổn hại và không tổn hại, các khẩu hành có tổn hại và không tổn hại, các ý hành có tổn hại và không tổn hại. Sau khi làm các thân hành có tổn hại và không tổn hại, khẩu hành có tổn hại và không tổn hại, ý hành có tổn hại và không tổn hại, vị này được sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ có tổn hại và không tổn hại, có lạc thọ khổ thọ xen lẫn, như một số loài Người, một số chư Thiên và một số chúng sanh trong đọa xứ. Như vậy, này Puñña là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình; và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích chúng sanh ấy. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy này Puñña, được gọi là nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng.
SC 25Và này Puñña, thế nào là nghiệp không đen trắng, đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp? Ở đây, này Puñña chỗ nào có ý chí (Cetana: Tư tâm sở) đoạn trừ nghiệp đen đưa đến quả báo đen, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng. Ở đây, này Puñña, chỗ nào có ý chí như vậy, này Puñña, được gọi là nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp. Này Puñña, bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết.
SC 26Khi được nói vậy, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò bạch Thế Tôn
SC 27—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 28Còn lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, bạch Thế Tôn
SC 29—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.
SC 30—Này Seniya, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy ở đây là tánh con người sai biệt nhau.
SC 31—Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong pháp và luật này, phải sống bốn tháng biệt trú, sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, để thành vị Tỷ-kheo, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm. Sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu chư Tỷ-kheo đồng ý, mong chư Tỷ-kheo hãy xuất gia cho con, thọ đại giới cho con để thành vị Tỷ-kheo.
SC 32Và lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Seniya sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa”. Và Tôn giả Seniya trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 15–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Hạnh Con Chó
Atha kho puṇṇo ca koliyaputto govatiko acelo ca seniyo kukkuravatiko yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā kukkurova palikujjitvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, acelo seniyo kukkuravatiko dukkarakārako chamānikkhittaṁ bhojanaṁ bhuñjati. Tassa taṁ kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho puṇṇo koliyaputto govatiko …pe… tatiyampi kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, acelo seniyo kukkuravatiko dukkarakārako chamānikkhittaṁ bhojanaṁ bhuñjati. Tassa taṁ kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Then Puṇṇa the Koliyan, a cow votary, and the naked ascetic Seniya, a dog votary, went to the Buddha. Puṇṇa bowed to the Buddha and sat down to one side, while Seniya exchanged greetings and polite conversation with him before sitting down to one side curled up like a dog.
Puṇṇa said to the Buddha, “Sir, this naked ascetic Seniya the dog votary does a hard thing: he eats food placed on the ground. For a long time he has undertaken that observance to behave like a dog. Where will he be reborn in his next life?”
“Enough, Puṇṇa, let it be. Don’t ask me that.”
For a second time … and a third time, Puṇṇa said to the Buddha, “Sir, this naked ascetic Seniya does a hard thing: he eats food placed on the ground. For a long time he has undertaken that observance to behave like a dog. Where will he be reborn in his next life?”
78. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại một thị trấn của người Koliya tên là Haliddavasana. Lúc bấy giờ, Puṇṇa, một người con trai của dòng Koliya và là người thực hành hạnh con bò, và Seniya, một người lõa thể thực hành hạnh con chó, đã đi đến nơi Thế Tôn đang ở. Sau khi đến, Puṇṇa, người con trai của dòng Koliya và là người thực hành hạnh con bò, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn Seniya, người lõa thể thực hành hạnh con chó, đã cùng Thế Tôn nói chuyện chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, ông ta cuộn mình lại như một con chó rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Puṇṇa, người con trai của dòng Koliya và là người thực hành hạnh con bò, đã bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, Seniya, người lõa thể thực hành hạnh con chó này, là người làm một việc khó làm, ông ta ăn thức ăn được ném xuống đất. Hạnh con chó ấy đã được ông ta thực hành và tuân thủ một cách trọn vẹn trong một thời gian dài. Cõi đến của ông ta là gì, tương lai của ông ta sẽ ra sao?” “Thôi đi, Puṇṇa, hãy để việc đó qua một bên. Đừng hỏi ta về điều đó.” Lần thứ hai, Puṇṇa, người con trai của dòng Koliya và là người thực hành hạnh con bò... Lần thứ ba, Puṇṇa, người con trai của dòng Koliya và là người thực hành hạnh con bò, đã bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, Seniya, người lõa thể thực hành hạnh con chó này, là người làm một việc khó làm, ông ta ăn thức ăn được ném xuống đất. Hạnh con chó ấy đã được ông ta thực hành và tuân thủ một cách trọn vẹn trong một thời gian dài. Cõi đến của ông ta là gì, tương lai của ông ta sẽ ra sao?”
“Addhā kho te ahaṁ, puṇṇa, na labhāmi. Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti; api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Idha, puṇṇa, ekacco kukkuravataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ. So kukkuravataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, puṇṇa, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā. Iti kho, puṇṇa, sampajjamānaṁ kukkuravataṁ kukkurānaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.
Evaṁ vutte, acelo seniyo kukkuravatiko parodi, assūni pavattesi.
“Clearly, Puṇṇa, I’m not getting through to you when I say: ‘Enough, Puṇṇa, let it be. Don’t ask me that.’ Nevertheless, I will answer you.
Take someone who develops the dog observance fully and uninterruptedly. They develop a dog’s ethics, a dog’s mentality, and a dog’s behavior fully and uninterruptedly. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of dogs. But if they have such a view: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This is their wrong view. An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say: hell or the animal realm. So if the dog observance succeeds it leads to rebirth in the company of dogs, but if it fails it leads to hell.”
When he said this, Seniya cried and burst out in tears.
79. “Này Puṇṇa, quả thật ta đã không nhận được sự đồng ý của ngươi khi nói: ‘Thôi đi, Puṇṇa, hãy để việc đó qua một bên. Đừng hỏi ta về điều đó.’ Tuy nhiên, ta sẽ trả lời cho ngươi. Này Puṇṇa, ở đây, có người tu tập hạnh con chó một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập giới hạnh con chó một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập tâm con chó một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập cách hành xử của con chó một cách trọn vẹn và không gián đoạn. Người ấy, sau khi đã tu tập hạnh con chó một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập giới hạnh con chó một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập tâm con chó một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập cách hành xử của con chó một cách trọn vẹn và không gián đoạn, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cộng đồng của loài chó. Nhưng nếu người ấy có tà kiến như sau: ‘Nhờ giới này, hay hạnh này, hay khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một thiên nhân nào đó,’ thì đó là tà kiến của người ấy. Này Puṇṇa, ta tuyên bố rằng người có tà kiến sẽ đi về một trong hai cõi: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh. Như vậy, này Puṇṇa, khi hạnh con chó được thực hành thành công, nó sẽ dẫn đến cộng đồng của loài chó; khi thất bại, nó sẽ dẫn đến địa ngục.” Khi được nói như vậy, Seniya, người lõa thể thực hành hạnh con chó, đã khóc và rơi lệ.
Atha kho bhagavā puṇṇaṁ koliyaputtaṁ govatikaṁ etadavoca: “etaṁ kho te ahaṁ, puṇṇa, nālatthaṁ. Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha; api ca me idaṁ, bhante, kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Ayaṁ, bhante, puṇṇo koliyaputto govatiko. Tassa taṁ govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho acelo seniyo …pe… tatiyampi kho acelo seniyo kukkuravatiko bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, puṇṇo koliyaputto govatiko. Tassa taṁ govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
The Buddha said to Puṇṇa, “This is what I didn’t get through to you when I said: ‘Enough, Puṇṇa, let it be. Don’t ask me that.’”
Seniya said, “Sir, I’m not crying because of what the Buddha said. But, sir, for a long time I have undertaken this observance to behave like a dog. Sir, this Puṇṇa is a cow votary. For a long time he has undertaken that observance to behave like a cow. Where will he be reborn in his next life?”
“Enough, Seniya, let it be. Don’t ask me that.”
For a second time … and a third time Seniya said to the Buddha, “Sir, this Puṇṇa is a cow votary. For a long time he has undertaken that observance to behave like a cow. Where will he be reborn in his next life?”
Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với Puṇṇa, người con trai của dòng Koliya và là người thực hành hạnh con bò: “Này Puṇṇa, ta đã không nhận được sự đồng ý của ngươi khi nói: ‘Thôi đi, Puṇṇa, hãy để việc đó qua một bên. Đừng hỏi ta về điều đó.’” “Bạch Thế Tôn, con không khóc vì điều Thế Tôn đã nói với con như vậy; mà là, bạch Thế Tôn, vì hạnh con chó này đã được con thực hành và tuân thủ một cách trọn vẹn trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, Puṇṇa, người con trai của dòng Koliya này, là người thực hành hạnh con bò. Hạnh con bò ấy đã được ông ta thực hành và tuân thủ một cách trọn vẹn trong một thời gian dài. Cõi đến của ông ta là gì, tương lai của ông ta sẽ ra sao?” “Thôi đi, Seniya, hãy để việc đó qua một bên. Đừng hỏi ta về điều đó.” Lần thứ hai, Seniya, người lõa thể... Lần thứ ba, Seniya, người lõa thể thực hành hạnh con chó, đã bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, Puṇṇa, người con trai của dòng Koliya này, là người thực hành hạnh con bò. Hạnh con bò ấy đã được ông ta thực hành và tuân thủ một cách trọn vẹn trong một thời gian dài. Cõi đến của ông ta là gì, tương lai của ông ta sẽ ra sao?”
“Addhā kho te ahaṁ, seniya, na labhāmi. Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti; api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Idha, seniya, ekacco govataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ. So govataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gunnaṁ sahabyataṁ upapajjati. Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, seniya, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā. Iti kho, seniya, sampajjamānaṁ govataṁ gunnaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.
Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko parodi, assūni pavattesi.
“Clearly, Seniya, I’m not getting through to you when I say: ‘Enough, Seniya, let it be. Don’t ask me that.’ Nevertheless, I will answer you.
Take someone who develops the cow observance fully and uninterruptedly. They develop a cow’s ethics, a cow’s mentality, and a cow’s behavior fully and uninterruptedly. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of cows. But if they have such a view: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This is their wrong view. An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say: hell or the animal realm. So if the cow observance succeeds it leads to rebirth in the company of cows, but if it fails it leads to hell.”
When he said this, Puṇṇa cried and burst out in tears.
80. “Này Seniya, quả thật ta đã không nhận được sự đồng ý của ngươi khi nói: ‘Thôi đi, Seniya, hãy để việc đó qua một bên. Đừng hỏi ta về điều đó.’ Tuy nhiên, ta sẽ trả lời cho ngươi. Này Seniya, ở đây, có người tu tập hạnh con bò một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập giới hạnh con bò một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập tâm con bò một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập cách hành xử của con bò một cách trọn vẹn và không gián đoạn. Người ấy, sau khi đã tu tập hạnh con bò một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập giới hạnh con bò một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập tâm con bò một cách trọn vẹn và không gián đoạn, tu tập cách hành xử của con bò một cách trọn vẹn và không gián đoạn, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cộng đồng của loài bò. Nhưng nếu người ấy có tà kiến như sau: ‘Nhờ giới này, hay hạnh này, hay khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một thiên nhân nào đó,’ thì đó là tà kiến của người ấy. Này Seniya, ta tuyên bố rằng người có tà kiến sẽ đi về một trong hai cõi: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh. Như vậy, này Seniya, khi hạnh con bò được thực hành thành công, nó sẽ dẫn đến cộng đồng của loài bò; khi thất bại, nó sẽ dẫn đến địa ngục.” Khi được nói như vậy, Puṇṇa, người con trai của dòng Koliya và là người thực hành hạnh con bò, đã khóc và rơi lệ.
Atha kho bhagavā acelaṁ seniyaṁ kukkuravatikaṁ etadavoca: “etaṁ kho te ahaṁ, seniya, nālatthaṁ. Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha; api ca me idaṁ, bhante, govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, bhagavati; pahoti bhagavā tathā dhammaṁ desetuṁ yathā ahaṁ cevimaṁ govataṁ pajaheyyaṁ, ayañceva acelo seniyo kukkuravatiko taṁ kukkuravataṁ pajaheyyā”ti.
“Tena hi, puṇṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
The Buddha said to Seniya, “This is what I didn’t get through to you when I said: ‘Enough, Seniya, let it be. Don’t ask me that.’”
Puṇṇa said, “Sir, I’m not crying because of what the Buddha said. But, sir, for a long time I have undertaken this observance to behave like a cow. I am quite confident that the Buddha is capable of teaching me so that I can give up this cow observance, and the naked ascetic Seniya can give up that dog observance.”
“Well then, Puṇṇa, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” he replied. The Buddha said this:
Khi ấy, Thế Tôn nói với Seniya, người lõa thể thực hành khổ hạnh chó, lời này: – Này Seniya, Ta đã không thể thuyết phục được ngươi về điều này. Thôi đi, Seniya, hãy để việc ấy lại; đừng hỏi Ta về việc ấy. – Bạch Thế Tôn, con không khóc lóc về điều mà Thế Tôn đã nói với con như vậy; nhưng bạch Thế Tôn, hạnh con bò này của con đã được thực hành và thọ trì một cách trọn vẹn trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, con có niềm tin nơi Thế Tôn như thế này: Thế Tôn có khả năng thuyết Pháp theo cách mà cả con cũng có thể từ bỏ hạnh con bò này, và cả Seniya lõa thể, người thực hành khổ hạnh chó này, cũng có thể từ bỏ khổ hạnh chó ấy. – Này Puṇṇa, nếu vậy, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Puṇṇa, người con trai của dòng Koḷiya, người thực hành khổ hạnh bò, đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói lời này:
“Cattārimāni, puṇṇa, kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni. Katamāni cattāri?
“Puṇṇa, I declare these four kinds of deeds, having realized them with my own insight. What four?
81. – Này Puṇṇa, có bốn loại nghiệp này đã được Ta tuyên thuyết sau khi tự mình biết rõ với thắng trí và chứng ngộ. Bốn loại ấy là gì? Này Puṇṇa, có nghiệp đen, quả đen; này Puṇṇa, có nghiệp trắng, quả trắng; này Puṇṇa, có nghiệp vừa đen vừa trắng, quả vừa đen vừa trắng; và này Puṇṇa, có nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, đưa đến sự đoạn tận của nghiệp.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ? Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti. So sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati. Tamenaṁ sabyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhā phassā phusanti. So sabyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantadukkhaṁ, seyyathāpi sattā nerayikā. Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti; yaṁ karoti tena upapajjati, upapannamenaṁ phassā phusanti. Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi. Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ.
And what are dark deeds with dark results? It’s when someone makes hurtful choices by way of body, speech, and mind. Having made these choices, they’re reborn in a hurtful world, where hurtful contacts strike them. Touched by hurtful contacts, they experience hurtful feelings that are absolutely painful—like the beings in hell. This is how a being is born from a being. For your deeds determine your rebirth, and when you’re reborn contacts strike you. This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds. These are called dark deeds with dark results.
Và này Puṇṇa, thế nào là nghiệp đen, quả đen? Này Puṇṇa, ở đây, có người tạo tác thân hành có khổ não, tạo tác khẩu hành có khổ não, tạo tác ý hành có khổ não. Người ấy, sau khi đã tạo tác thân hành có khổ não, khẩu hành có khổ não, và ý hành có khổ não, liền sanh vào thế giới có khổ não. Khi người ấy đã sanh vào thế giới có khổ não, các xúc có khổ não chạm đến người ấy. Người ấy, khi được các xúc có khổ não chạm đến, cảm thọ một cảm giác có khổ não, hoàn toàn đau khổ, giống như các chúng sanh trong địa ngục. Này Puṇṇa, như vậy, sự tái sanh của chúng sanh là từ nghiệp đã tạo; nó làm nghiệp nào, nó sanh ra do nghiệp ấy. Khi nó đã sanh ra, các xúc chạm đến nó. Này Puṇṇa, vì vậy Ta nói: ‘Các chúng sanh là những người thừa tự của nghiệp’. Này Puṇṇa, đây được gọi là nghiệp đen, quả đen.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ? Idha, puṇṇa, ekacco abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti. So abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā abyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati. Tamenaṁ abyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ abyābajjhā phassā phusanti. So abyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno abyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantasukhaṁ, seyyathāpi devā subhakiṇhā. Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti; yaṁ karoti tena upapajjati, upapannamenaṁ phassā phusanti. Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi. Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ.
And what are bright deeds with bright results? It’s when someone makes pleasing choices by way of body, speech, and mind. Having made these choices, they are reborn in a pleasing world, where pleasing contacts strike them. Touched by pleasing contacts, they experience pleasing feelings of absolute happiness—like the gods of universal beauty. This is how a being is born from a being. For your deeds determine your rebirth, and when you’re reborn contacts strike you. This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds. These are called bright deeds with bright results.
Và này Puṇṇa, thế nào là nghiệp trắng, quả trắng? Này Puṇṇa, ở đây, có người tạo tác thân hành không có khổ não, tạo tác khẩu hành không có khổ não, tạo tác ý hành không có khổ não. Người ấy, sau khi đã tạo tác thân hành không có khổ não, khẩu hành không có khổ não, và ý hành không có khổ não, liền sanh vào thế giới không có khổ não. Khi người ấy đã sanh vào thế giới không có khổ não, các xúc không có khổ não chạm đến người ấy. Người ấy, khi được các xúc không có khổ não chạm đến, cảm thọ một cảm giác không có khổ não, hoàn toàn an lạc, giống như chư thiên ở cõi Biến Tịnh. Này Puṇṇa, như vậy, sự tái sanh của chúng sanh là từ nghiệp đã tạo; nó làm nghiệp nào, nó sanh ra do nghiệp ấy. Khi nó đã sanh ra, các xúc chạm đến nó. Này Puṇṇa, vì vậy Ta nói: ‘Các chúng sanh là những người thừa tự của nghiệp’. Này Puṇṇa, đây được gọi là nghiệp trắng, quả trắng.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ? Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti. So sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapajjati. Tamenaṁ sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhāpi abyābajjhāpi phassā phusanti. So sabyābajjhehipi abyābajjhehipi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhampi abyābajjhampi vedanaṁ vedeti vokiṇṇasukhadukkhaṁ, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti; yaṁ karoti tena upapajjati. Upapannamenaṁ phassā phusanti. Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi. Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ.
And what are dark and bright deeds with dark and bright results? It’s when someone makes both hurtful and pleasing choices by way of body, speech, and mind. Having made these choices, they are reborn in a world that is both hurtful and pleasing, where hurtful and pleasing contacts strike them. Touched by both hurtful and pleasing contacts, they experience both hurtful and pleasing feelings that are a mixture of pleasure and pain—like humans, some gods, and some beings in the underworld. This is how a being is born from a being. For what you do brings about your rebirth, and when you’re reborn contacts strike you. This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds. These are called dark and bright deeds with dark and bright results.
Và này Puṇṇa, thế nào là nghiệp vừa đen vừa trắng, quả vừa đen vừa trắng? Này Puṇṇa, ở đây, có người tạo tác thân hành vừa có khổ não vừa không có khổ não, tạo tác khẩu hành vừa có khổ não vừa không có khổ não, tạo tác ý hành vừa có khổ não vừa không có khổ não. Người ấy, sau khi đã tạo tác thân hành, khẩu hành, và ý hành vừa có khổ não vừa không có khổ não, liền sanh vào thế giới vừa có khổ não vừa không có khổ não. Khi người ấy đã sanh vào thế giới vừa có khổ não vừa không có khổ não, các xúc vừa có khổ não vừa không có khổ não chạm đến người ấy. Người ấy, khi được các xúc vừa có khổ não vừa không có khổ não chạm đến, cảm thọ một cảm giác có cả lạc và khổ xen lẫn, giống như loài người, một số chư thiên, và một số chúng sanh trong đọa xứ. Này Puṇṇa, như vậy, sự tái sanh của chúng sanh là từ nghiệp đã tạo; nó làm nghiệp nào, nó sanh ra do nghiệp ấy. Khi nó đã sanh ra, các xúc chạm đến nó. Này Puṇṇa, vì vậy Ta nói: ‘Các chúng sanh là những người thừa tự của nghiệp’. Này Puṇṇa, đây được gọi là nghiệp vừa đen vừa trắng, quả vừa đen vừa trắng.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati? Tatra, puṇṇa, yamidaṁ kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā—idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattatīti.
Imāni kho, puṇṇa, cattāri kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditānī”ti.
And what are neither dark nor bright deeds with neither dark nor bright results, which lead to the ending of deeds? It’s the intention to give up dark deeds with dark results, bright deeds with bright results, and both dark and bright deeds with both dark and bright results. These are called neither dark nor bright deeds with neither dark nor bright results, which lead to the ending of deeds.
These are the four kinds of deeds that I declare, having realized them with my own insight.”
Và này Puṇṇa, thế nào là nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, đưa đến sự đoạn tận của nghiệp? Này Puṇṇa, ở đây, tư tâm nào nhằm để đoạn trừ nghiệp đen, quả đen này; tư tâm nào nhằm để đoạn trừ nghiệp trắng, quả trắng này; tư tâm nào nhằm để đoạn trừ nghiệp vừa đen vừa trắng, quả vừa đen vừa trắng này – Này Puṇṇa, đây được gọi là nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, đưa đến sự đoạn tận của nghiệp. Này Puṇṇa, đây chính là bốn loại nghiệp đã được Ta tuyên thuyết sau khi tự mình biết rõ với thắng trí và chứng ngộ.
Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante …pe… pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Yo kho, seniya, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti, upasampādenti bhikkhubhāvāya. Api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
When he had spoken, Puṇṇa the Koliyan said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! … From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
And Seniya the naked ascetic said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! … I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
“Seniya, if someone formerly ordained in another sect wishes to take the going forth, the ordination in this teaching and training, they must spend four months on probation. When four months have passed, if the mendicants are satisfied, they’ll give the going forth, the ordination into monkhood. However, I recognize individual differences in this matter.”
82. Khi được nói như vậy, Puṇṇa, người con trai của dòng họ Koliya, người thực hành hạnh con bò, đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Ví như, bạch Thế Tôn, … (lược) … Xin Đức Thế Tôn hãy ghi nhận con là một người cận sự nam đã quy y trọn đời kể từ hôm nay.” Còn Seniya, người lõa thể thực hành hạnh con chó, đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Ví như, bạch Thế Tôn, … (lược) … (Pháp) đã được tuyên thuyết. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y chúng Tăng. Bạch Thế Tôn, mong rằng con được xuất gia, được thọ cụ túc giới nơi Đức Thế Tôn.” “Này Seniya, người nào trước đây là ngoại đạo, muốn xuất gia, muốn thọ cụ túc giới trong Pháp và Luật này, người ấy phải sống biệt trú bốn tháng. Sau khi bốn tháng trôi qua, các vị tỳ khưu, với tâm hoan hỷ, sẽ cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới để trở thành tỳ khưu. Tuy nhiên, ở đây Ta biết có sự khác biệt giữa các cá nhân.”
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ ākaṅkhantā upasampadaṁ te cattāro māse parivasanti catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya, ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu, upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti.
Alattha kho acelo seniyo kukkuravatiko bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Acirūpasampanno kho panāyasmā seniyo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, Tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro kho panāyasmā seniyo arahataṁ ahosīti.
“Sir, if four months probation are required in such a case, I’ll spend four years on probation. When four years have passed, if the mendicants are satisfied, let them give me the going forth, the ordination into monkhood.”
And the naked ascetic Seniya received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Seniya, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Seniya became one of the perfected.
“Bạch Thế Tôn, nếu những người trước đây là ngoại đạo, muốn xuất gia, muốn thọ cụ túc giới trong Pháp và Luật này, họ phải sống biệt trú bốn tháng, và sau khi bốn tháng trôi qua, các vị tỳ khưu, với tâm hoan hỷ, sẽ cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới để trở thành tỳ khưu, thì con sẽ sống biệt trú bốn năm. Sau khi bốn năm trôi qua, mong rằng các vị tỳ khưu, với tâm hoan hỷ, sẽ cho con xuất gia, cho con thọ cụ túc giới để trở thành tỳ khưu.” Và Seniya, người lõa thể thực hành hạnh con chó, đã được xuất gia, đã được thọ cụ túc giới nơi Đức Thế Tôn. Không lâu sau khi thọ cụ túc giới, Tôn giả Seniya sống một mình, nơi vắng vẻ, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và không bao lâu, vị ấy đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh, mục đích mà vì nó các thiện nam tử chân chính từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Và Tôn giả Seniya đã trở thành một trong các vị A-la-hán.
Kukkuravatikasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Hạnh Con Chó, thứ bảy, kết thúc.