- Majjhima Nikāya 51
Kandarakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kandarakasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Campā, trên bờ hồ Gaggara cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Rồi Pessa, con trai người huấn luyện voi và Du sĩ Kandaraka đi đến chỗ Thế Tôn ở Pessa, con trai người huấn luyện voi sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn du sĩ Kandaraka nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, sau khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu rồi đứng một bên. Du sĩ Kandaraka đứng một bên, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo đang giữ im lặng, thật im lặng, liền bạch Thế Tôn
SC 2—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Chúng Tỷ-kheo này được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn. Tôn giả Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, không biết quý vị Thế Tôn ấy đã có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn? Tôn giả Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, không biết quý vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy sẽ chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn?
SC 3—Thật sự là vậy, này Kandaraka! Thật sự là vậy, này Kandaraka! Này Kandaraka, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, những vị Thế Tôn ấy đã có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo được Ta chơn chánh hướng dẫn. Này Kandaraka, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời tương lai, những vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo được Ta chơn chánh hướng dẫn.
SC 4Này Kandaraka, trong chúng Tỷ-kheo này, có những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí. Này Kandaraka, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là bậc hữu học, giới luật kiên trì, giới hạnh kiên trì, sáng suốt, hạnh nghiệp sáng suốt, sống với tâm khéo an trú Bốn Niệm xứ. Thế nào là bốn? Ở đây này Kandaraka, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời.
SC 5Ðược nghe nói vậy, Pessa, con trai người huấn luyện voi bạch Thế Tôn
SC 6—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bốn Niệm xứ này đã được Thế Tôn khéo trình bày, để chúng sanh được thanh tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu được diệt trừ, để chánh lý được thành đạt, để Niết-bàn được chứng ngộ. Bạch Thế Tôn, chúng con là hàng tại gia, mặc đồ trắng, thỉnh thoảng chúng con sống khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ này. Ở đây, Bạch Thế Tôn, chúng con sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiểu được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người. Bạch Thế Tôn, cởi mở thay như loài thú vật. Bạch Thế Tôn, con có thể nhiếp phục con voi, một cách khiến con voi ấy mỗi khi đi hay đến Campā, liền trình bày mọi sự gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt. Nhưng bạch Thế Tôn, những người đầy tớ của chúng con, những người phục dịch, những người làm công, thân hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ý hành họ làm một cách khác nữa. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn biết được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh, trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người! Bạch Thế Tôn, cởi mở thay, như loài thú vật!
SC 7—Thật như vậy, này Pessa! Thật như vậy, này Pessa! Này Pessa, rối ren thay, như loài người! Cởi mở thay, như loài thú vật! Này Pessa, có bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này Pessa, có người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình. Ở đây, này Pessa, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này Pessa, có người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này Pessa, lại có người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Người ấy không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Này Pessa, bốn hạng người này, hạng người nào, được tâm Ông thích ý nhất?
SC 8—Bạch Thế Tôn, hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, hạng người này tâm con không thích ý. Bạch Thế Tôn, hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này tâm con không thích ý. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này tâm con không thích ý. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không có tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể, hạng người này, tâm con thích ý.
SC 9—Này Pessa, vì sao Ông không thích ý ba hạng người này?
SC 10—Bạch Thế Tôn, hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, hạng người này hành khổ mình, hành hạ mình, trong khi tự ao ước lạc, nhàm chán khổ; do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Bạch Thế Tôn, hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này, hành khổ người khác, hành hạ người khác, trong khi người khác ao ước lạc, nhàm chán khổ; do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này hành khổ mình, hành hạ mình và người khác, trong khi mình và người khác ao ước lạc, nhàm chán khổ; do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Nhưng bạch Thế Tôn, người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người này không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể; do vậy, tâm con thích ý hạng người này. Và này, bạch Thế Tôn, chúng con phải đi, chúng con có nhiều công vụ, có nhiều công việc phải làm.
SC 11—Này Pessa, Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
SC 12Rồi Pessa, con trai người huấn luyện voi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 13Rồi Thế Tôn, sau khi Pessa, con trai người huấn luyện voi ra đi không được bao lâu, liền nói với các Tỷ-kheo
SC 14—Này các Tỷ-kheo, Pessa, con trai người huấn luyện voi là bậc có trí; Pessa, con trai người huấn luyện voi là người có đại trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, nếu Pessa, con trai người huấn luyện voi ngồi thêm một chút nữa, cho đến khi Ta phân tích rộng rãi hơn bốn hạng người này, thời anh ta sẽ thâu đạt được nhiều lợi ích. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, Pessa, con trai người huấn luyện voi như vậy cũng đã thâu đạt được nhiều lợi ích.
SC 15—Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời để Thế Tôn phân tích rộng rãi hơn bốn hạng người này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
SC 16—Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo léo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 17—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 18Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 19—Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sống lõa thể sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng một chỗ, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn dành riêng, không nhận mời đi ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ nơi miệng chảo, không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy, không nhận giữa những cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang giao cấu người đàn ông, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận tại chỗ có chó đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, hay chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, hay chỉ nhận ăn hai miếng … hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy nhà, hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, … nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, … bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rong nước, ăn bột tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ hay ăn phân bò. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tirīṭa làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện bằng từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cừu. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là người ngồi chõ hỏ, chuyên sống theo hạnh ngồi chõ hỏ, một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy dưới nhiều hình thức, vị ấy sống tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình.
SC 20Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tự hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, các Tỷ-kheo, có người giết trâu bò, là người giết heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, thợ đánh cá, ăn trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và những người làm các nghề độc ác khác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
SC 21Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lị, đã làm lễ quán đảnh, hay một Bà-la-môn triệu phú. Vị này cho xây dựng một giảng đường mới về phía Ðông thành phố, cạo bỏ râu tóc, đắp áo da thô, toàn thân bôi thục tô và dầu, gãi lưng với một sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một Bà-la-môn tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lát cỏ. Vị vua sống với sữa từ vú một con bò cái, có con bò con cùng một mầu sắc; bà vợ chính sống với sữa từ vú thứ hai; và vị Bà-la-môn tế tự sống với sữa từ vú thứ ba. Sữa từ vú thứ tư dùng để tế lửa. Còn con nghé con thì sống với đồ còn lại. Vị vua nói như sau: “Hãy giết một số bò đực để tế lễ, hãy giết một số nghé đực để tế lễ, hãy giết một số nghé cái để tế lễ, hãy giết một số dê để tế lễ, hãy giết một số cừu để tế lễ, hãy chặt một số cây để làm cột tế lễ, hãy thâu lượm một số cỏ dabba để làm chỗ tế lễ. Và những người nô tỳ, những người phục vụ, những người làm công, những người này vì sợ đòn gậy, vì sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
SC 22Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người này không tự hành khổ mình, không hành khổ người, hiện tại sống không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể?
SC 23Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 24Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 25Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.
SC 26Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 27Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt giống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 28Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
SC 29Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
SC 30Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
SC 31Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
SC 32Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 33Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ.
SC 34Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
SC 35Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.
SC 36Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 37Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 38Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: “Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này”. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
SC 39Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
SC 40Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.
SC 41Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Vị ấy không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.
SC 42Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 15–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Kandaraka
Atha kho pesso ca hatthārohaputto kandarako ca paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā pesso hatthārohaputto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Kandarako pana paribbājako bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho kandarako paribbājako tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yāvañcidaṁ bhotā gotamena sammā bhikkhusaṅgho paṭipādito. Yepi te, bho gotama, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā tepi bhagavanto etaparamaṁyeva sammā bhikkhusaṅghaṁ paṭipādesuṁ—seyyathāpi etarahi bhotā gotamena sammā bhikkhusaṅgho paṭipādito. Yepi te, bho gotama, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā tepi bhagavanto etaparamaṁyeva sammā bhikkhusaṅghaṁ paṭipādessanti—seyyathāpi etarahi bhotā gotamena sammā bhikkhusaṅgho paṭipādito”ti.
Then Pessa the elephant marshal’s son and Kandaraka the wanderer went to the Buddha. When they had approached, Pessa bowed and sat down to one side. But the wanderer Kandaraka exchanged greetings with the Buddha and stood to one side. He looked around the mendicant Saṅgha, who were so very silent, and said to the Buddha:
“It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing! How the mendicant Saṅgha has been led to practice properly by the worthy Gotama! The perfected ones, the fully awakened Buddhas in the past or the future who lead the mendicant Saṅgha to practice properly at best do so like the worthy Gotama does in the present.”
1. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ khưu đang trú tại Campā, bên bờ hồ sen Gaggarā. Bấy giờ, Pessa con của người quản tượng và du sĩ Kandaraka đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, Pessa con của người quản tượng đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn du sĩ Kandaraka thì cùng với đức Thế Tôn nói lên những lời chào hỏi, thăm viếng. Sau khi nói lên những lời chào hỏi, thăm viếng đáng ghi nhớ, vị ấy đứng một bên. Đứng một bên, du sĩ Kandaraka nhìn quanh chúng Tỳ khưu đang im lặng rồi bạch với đức Thế Tôn rằng: "Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Chúng Tỳ khưu đã được Tôn giả Gotama khéo hướng dẫn đến mức độ như thế này! Thưa Tôn giả Gotama, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn ấy cũng đã khéo hướng dẫn chúng Tỳ khưu đến mức độ cao nhất như thế này, cũng như chúng Tỳ khưu hiện nay được Tôn giả Gotama khéo hướng dẫn. Thưa Tôn giả Gotama, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác trong thời vị lai, các vị Thế Tôn ấy cũng sẽ khéo hướng dẫn chúng Tỳ khưu đến mức độ cao nhất như thế này, cũng như chúng Tỳ khưu hiện nay được Tôn giả Gotama khéo hướng dẫn."
“Evametaṁ, kandaraka, evametaṁ, kandaraka. Yepi te, kandaraka, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā tepi bhagavanto etaparamaṁyeva sammā bhikkhusaṅghaṁ paṭipādesuṁ—seyyathāpi etarahi mayā sammā bhikkhusaṅgho paṭipādito. Yepi te, kandaraka, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā tepi bhagavanto etaparamaṁyeva sammā bhikkhusaṅghaṁ paṭipādessanti—seyyathāpi etarahi mayā sammā bhikkhusaṅgho paṭipādito.
“That’s so true, Kandaraka! That’s so true! The perfected ones, the fully awakened Buddhas in the past or the future who lead the mendicant Saṅgha to practice properly at best do so like I do in the present.
2. "Này Kandaraka, đúng vậy! Này Kandaraka, đúng vậy! Này Kandaraka, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn ấy cũng đã khéo hướng dẫn chúng Tỳ khưu đến mức độ cao nhất như thế này, cũng như chúng Tỳ khưu hiện nay được Ta khéo hướng dẫn. Này Kandaraka, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác trong thời vị lai, các vị Thế Tôn ấy cũng sẽ khéo hướng dẫn chúng Tỳ khưu đến mức độ cao nhất như thế này, cũng như chúng Tỳ khưu hiện nay được Ta khéo hướng dẫn.
Santi hi, kandaraka, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā. Santi hi, kandaraka, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe sekkhā santatasīlā santatavuttino nipakā nipakavuttino; te catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā viharanti. Katamesu catūsu?
Idha, kandaraka, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassan”ti.
For in this mendicant Saṅgha there are perfected mendicants, who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment. And in this mendicant Saṅgha there are trainee mendicants who are consistently ethical, living consistently, alert, living alertly. They meditate with their minds firmly established in the four kinds of mindfulness meditation. What four?
It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of the mind—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.”
"Này Kandaraka, trong chúng Tỳ khưu này, có những vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí. Này Kandaraka, trong chúng Tỳ khưu này, có những vị Tỳ khưu là bậc hữu học, có giới hạnh liên tục, có đời sống liên tục, có trí tuệ, có đời sống trí tuệ; các vị ấy sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ. Bốn niệm xứ nào? Này Kandaraka, ở đây, vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời."
Evaṁ vutte, pesso hatthārohaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāva supaññattā cime, bhante, bhagavatā cattāro satipaṭṭhānā sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya. Mayampi hi, bhante, gihī odātavasanā kālena kālaṁ imesu catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā viharāma. Idha mayaṁ, bhante, kāye kāyānupassino viharāma ātāpino sampajānā satimanto, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu vedanānupassino viharāma ātāpino sampajānā satimanto, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; citte cittānupassino viharāma ātāpino sampajānā satimanto, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; dhammesu dhammānupassino viharāma ātāpino sampajānā satimanto, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāvañcidaṁ, bhante, bhagavā evaṁ manussagahane evaṁ manussakasaṭe evaṁ manussasāṭheyye vattamāne sattānaṁ hitāhitaṁ jānāti. Gahanañhetaṁ, bhante, yadidaṁ manussā; uttānakañhetaṁ, bhante, yadidaṁ pasavo. Ahañhi, bhante, pahomi hatthidammaṁ sāretuṁ. Yāvatakena antarena campaṁ gatāgataṁ karissati sabbāni tāni sāṭheyyāni kūṭeyyāni vaṅkeyyāni jimheyyāni pātukarissati. Amhākaṁ pana, bhante, dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā aññathāva kāyena samudācaranti aññathāva vācāya aññathāva nesaṁ cittaṁ hoti. Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāvañcidaṁ, bhante, bhagavā evaṁ manussagahane evaṁ manussakasaṭe evaṁ manussasāṭheyye vattamāne sattānaṁ hitāhitaṁ jānāti. Gahanañhetaṁ, bhante, yadidaṁ manussā; uttānakañhetaṁ, bhante, yadidaṁ pasavo”ti.
When he had spoken, Pessa said to the Buddha:
“It’s incredible, sir, it’s amazing! How well described by the Buddha are the four kinds of mindfulness meditation! They are in order to purify sentient beings, to get past sorrow and crying, to make an end of pain and sadness, to discover the system, and to realize extinguishment. For we white-clothed laypeople also from time to time meditate with our minds well established in the four kinds of mindfulness meditation. We meditate observing an aspect of the body … feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.
It’s incredible, sir, it’s amazing! How the Buddha knows what’s best for sentient beings, even though humans continue to be so shady, rotten, and tricky. For human beings are shady, sir, while beasts are obvious. For I can drive an elephant in training, and while going back and forth in Campā it’ll try all the tricks, bluffs, ruses, and feints that it can. But my bondservants, servants, and workers behave one way by body, another by speech, and their minds another. It’s incredible, sir, it’s amazing! How the Buddha knows what’s best for sentient beings, even though humans continue to be so shady, rotten, and tricky. For human beings are shady, sir, while beasts are obvious.”
3. Khi được nói như vậy, Pessa con của người quản tượng bạch với đức Thế Tôn rằng: "Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch đức Thế Tôn! Bốn niệm xứ này đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đắc chánh đạo, để giác ngộ Niết-bàn. Bạch đức Thế Tôn, chúng con là những người tại gia mặc y trắng, thỉnh thoảng chúng con cũng sẽ sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ này. Bạch đức Thế Tôn, ở đây, chúng con sẽ sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; chúng con sẽ sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; chúng con sẽ sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; chúng con sẽ sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch đức Thế Tôn! Bạch đức Thế Tôn, trong khi có sự phức tạp của con người, sự ô uế của con người, sự xảo trá của con người như vậy, đức Thế Tôn vẫn biết được điều lợi ích và không lợi ích cho chúng sanh. Bạch đức Thế Tôn, con người thật là phức tạp! Bạch đức Thế Tôn, loài vật thật là đơn giản! Bạch đức Thế Tôn, con có thể huấn luyện một con voi. Trong khoảng thời gian đi và về từ Campā, nó sẽ biểu lộ tất cả những sự xảo trá, lừa lọc, quanh co, gian dối của nó. Nhưng bạch đức Thế Tôn, những người đầy tớ, người đưa tin, hay người làm công của chúng con, họ hành động một đằng bằng thân, nói một nẻo bằng lời, và tâm của họ lại là một kiểu khác. Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch đức Thế Tôn! Bạch đức Thế Tôn, trong khi có sự phức tạp của con người, sự ô uế của con người, sự xảo trá của con người như vậy, đức Thế Tôn vẫn biết được điều lợi ích và không lợi ích cho chúng sanh. Bạch đức Thế Tôn, con người thật là phức tạp! Bạch đức Thế Tôn, loài vật thật là đơn giản!"
“Evametaṁ, pessa, evametaṁ, pessa. Gahanañhetaṁ, pessa, yadidaṁ manussā; uttānakañhetaṁ, pessa, yadidaṁ pasavo. Cattārome, pessa, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Imesaṁ, pessa, catunnaṁ puggalānaṁ katamo te puggalo cittaṁ ārādhetī”ti?
“That’s so true, Pessa! That’s so true! For human beings are shady, while beasts are obvious. Pessa, these four individuals are found in the world. What four?
Which one of these four individuals do you like the sound of?”
4. “Này Pessa, đúng vậy, này Pessa, đúng vậy. Này Pessa, những gì là con người thì phức tạp; này Pessa, những gì là thú vật thì đơn giản. Này Pessa, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Bốn hạng người nào? Này Pessa, ở đây, có hạng người tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ; lại nữa, này Pessa, ở đây, có hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác; lại nữa, này Pessa, ở đây, có hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác; lại nữa, này Pessa, ở đây, có hạng người không tự hành khổ, không chuyên tâm vào việc tự hành khổ, không hành khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành khổ người khác. Vị ấy, không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, được tịch tịnh, trở nên mát lạnh, cảm thọ lạc, sống với tự thân đã trở thành Phạm thiên. Này Pessa, trong bốn hạng người này, hạng người nào làm cho tâm của ông được hài lòng?”
“Yvāyaṁ, bhante, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto, ayaṁ me puggalo cittaṁ nārādheti. Yopāyaṁ, bhante, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto, ayampi me puggalo cittaṁ nārādheti. Yopāyaṁ, bhante, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto, ayampi me puggalo cittaṁ nārādheti. Yo ca kho ayaṁ, bhante, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto, so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati—ayameva me puggalo cittaṁ ārādhetī”ti.
“Sir, I don’t like the sound of the first three individuals. I only like the sound of the last individual, who doesn’t mortify either themselves or others.”
“Bạch Thế Tôn, hạng người tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ, hạng người này không làm cho tâm của con được hài lòng. Bạch Thế Tôn, hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác, hạng người này cũng không làm cho tâm của con được hài lòng. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác, hạng người này cũng không làm cho tâm của con được hài lòng. Còn, bạch Thế Tôn, hạng người không tự hành khổ, không chuyên tâm vào việc tự hành khổ, không hành khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành khổ người khác; vị ấy, không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, được tịch tịnh, trở nên mát lạnh, cảm thọ lạc, sống với tự thân đã trở thành Phạm thiên – chính hạng người này làm cho tâm của con được hài lòng.”
“Kasmā pana te, pessa, ime tayo puggalā cittaṁ nārādhentī”ti?
“Yvāyaṁ, bhante, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto so attānaṁ sukhakāmaṁ dukkhapaṭikkūlaṁ ātāpeti paritāpeti—iminā me ayaṁ puggalo cittaṁ nārādheti. Yopāyaṁ, bhante, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto so paraṁ sukhakāmaṁ dukkhapaṭikkūlaṁ ātāpeti paritāpeti—iminā me ayaṁ puggalo cittaṁ nārādheti. Yopāyaṁ, bhante, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto so attānañca parañca sukhakāmaṁ dukkhapaṭikkūlaṁ ātāpeti paritāpeti—iminā me ayaṁ puggalo cittaṁ nārādheti. Yo ca kho ayaṁ, bhante, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati; so attānañca parañca sukhakāmaṁ dukkhapaṭikkūlaṁ neva ātāpeti na paritāpeti—iminā me ayaṁ puggalo cittaṁ ārādheti. Handa ca dāni mayaṁ, bhante, gacchāma; bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, pessa, kālaṁ maññasī”ti. Atha kho pesso hatthārohaputto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
“But why don’t you like the sound of those three individuals?”
“Sir, the individual who mortifies themselves does so even though they want to be happy and recoil from pain. That’s why I don’t like the sound of that individual. The individual who mortifies others does so even though others want to be happy and recoil from pain. That’s why I don’t like the sound of that individual. The individual who mortifies themselves and others does so even though both themselves and others want to be happy and recoil from pain. That’s why I don’t like the sound of that individual. The individual who doesn’t mortify either themselves or others—living without wishes, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine—does not torment themselves or others, both of whom want to be happy and recoil from pain. That’s why I like the sound of that individual. Well, now, sir, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, Pessa, go at your convenience.” And then Pessa the elephant marshal’s son approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
5. “Này Pessa, vì sao ba hạng người này không làm cho tâm của ông được hài lòng?” “Bạch Thế Tôn, hạng người tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ, vị ấy làm cho tự thân, vốn mong cầu hạnh phúc và ghét bỏ đau khổ, phải bị dằn vặt, bị hành hạ – vì lý do này, hạng người ấy không làm cho tâm của con được hài lòng. Bạch Thế Tôn, hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác, vị ấy làm cho người khác, vốn mong cầu hạnh phúc và ghét bỏ đau khổ, phải bị dằn vặt, bị hành hạ – vì lý do này, hạng người ấy không làm cho tâm của con được hài lòng. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác, vị ấy làm cho cả tự thân và người khác, vốn mong cầu hạnh phúc và ghét bỏ đau khổ, phải bị dằn vặt, bị hành hạ – vì lý do này, hạng người ấy không làm cho tâm của con được hài lòng. Còn, bạch Thế Tôn, hạng người không tự hành khổ, không chuyên tâm vào việc tự hành khổ, không hành khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành khổ người khác; vị ấy, không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, được tịch tịnh, trở nên mát lạnh, cảm thọ lạc, sống với tự thân đã trở thành Phạm thiên; vị ấy không làm cho cả tự thân và người khác, vốn mong cầu hạnh phúc và ghét bỏ đau khổ, phải bị dằn vặt, bị hành hạ – vì lý do này, hạng người ấy làm cho tâm của con được hài lòng. Bạch Thế Tôn, giờ đây chúng con xin đi; chúng con có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm.” “Này Pessa, ông hãy xem xét thời điểm thích hợp.” Khi ấy, Pessa, con trai của người quản tượng, sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về.
Atha kho bhagavā acirapakkante pesse hatthārohaputte bhikkhū āmantesi: “paṇḍito, bhikkhave, pesso hatthārohaputto; mahāpañño, bhikkhave, pesso hatthārohaputto. Sace, bhikkhave, pesso hatthārohaputto muhuttaṁ nisīdeyya yāvassāhaṁ ime cattāro puggale vitthārena vibhajissāmi, mahatā atthena saṁyutto abhavissa. Api ca, bhikkhave, ettāvatāpi pesso hatthārohaputto mahatā atthena saṁyutto”ti.
“Etassa, bhagavā, kālo, etassa, sugata, kālo, yaṁ bhagavā ime cattāro puggale vitthārena vibhajeyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Then, not long after he had left, the Buddha addressed the mendicants: “Mendicants, Pessa the elephant marshal’s son is astute. He has great wisdom. If he had sat here an hour so that I could have analyzed these four individuals in detail, he would have greatly benefited. Still, even with this much he has already greatly benefited.”
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! May the Buddha analyze these four individuals in detail. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
6. Khi ấy, sau khi Pessa, con trai của người quản tượng, ra về không bao lâu, Thế Tôn đã gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, Pessa, con trai của người quản tượng, là người có trí tuệ; này các Tỳ khưu, Pessa, con trai của người quản tượng, là người có đại trí tuệ. Này các Tỳ khưu, nếu Pessa, con trai của người quản tượng, ngồi lại một lát cho đến khi Ta phân tích chi tiết về bốn hạng người này, thì ông ấy đã được liên kết với lợi ích to lớn. Tuy nhiên, này các Tỳ khưu, chỉ với chừng ấy thôi, Pessa, con trai của người quản tượng, cũng đã được liên kết với lợi ích to lớn.” “Bạch Thế Tôn, đây là thời điểm thích hợp, bạch Thiện Thệ, đây là thời điểm thích hợp, để Thế Tôn phân tích chi tiết về bốn hạng người này. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.” “Vậy thì, này các Tỳ khưu, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ giảng.” “Bạch Thế Tôn, vâng ạ.” Các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Katamo ca, bhikkhave, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo acelako hoti muttācāro hatthāpalekhano naehibhaddantiko natiṭṭhabhaddantiko; nābhihaṭaṁ na uddissakataṁ na nimantanaṁ sādiyati; so na kumbhimukhā paṭiggaṇhāti na kaḷopimukhā paṭiggaṇhāti na eḷakamantaraṁ na daṇḍamantaraṁ na musalamantaraṁ na dvinnaṁ bhuñjamānānaṁ na gabbhiniyā na pāyamānāya na purisantaragatāya na saṅkittīsu na yattha sā upaṭṭhito hoti na yattha makkhikā saṇḍasaṇḍacārinī; na macchaṁ na maṁsaṁ na suraṁ na merayaṁ na thusodakaṁ pivati. So ekāgāriko vā hoti ekālopiko, dvāgāriko vā hoti dvālopiko …pe… sattāgāriko vā hoti sattālopiko; ekissāpi dattiyā yāpeti, dvīhipi dattīhi yāpeti …pe… sattahipi dattīhi yāpeti; ekāhikampi āhāraṁ āhāreti, dvīhikampi āhāraṁ āhāreti …pe… sattāhikampi āhāraṁ āhāreti—iti evarūpaṁ aḍḍhamāsikaṁ pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharati.
So sākabhakkho vā hoti, sāmākabhakkho vā hoti, nīvārabhakkho vā hoti, daddulabhakkho vā hoti, haṭabhakkho vā hoti, kaṇabhakkho vā hoti, ācāmabhakkho vā hoti, piññākabhakkho vā hoti, tiṇabhakkho vā hoti, gomayabhakkho vā hoti; vanamūlaphalāhāro yāpeti pavattaphalabhojī.
So sāṇānipi dhāreti, masāṇānipi dhāreti, chavadussānipi dhāreti, paṁsukūlānipi dhāreti, tirīṭānipi dhāreti, ajinampi dhāreti, ajinakkhipampi dhāreti, kusacīrampi dhāreti, vākacīrampi dhāreti, phalakacīrampi dhāreti, kesakambalampi dhāreti, vāḷakambalampi dhāreti, ulūkapakkhampi dhāreti; kesamassulocakopi hoti, kesamassulocanānuyogamanuyutto, ubbhaṭṭhakopi hoti āsanapaṭikkhitto, ukkuṭikopi hoti ukkuṭikappadhānamanuyutto, kaṇṭakāpassayikopi hoti kaṇṭakāpassaye seyyaṁ kappeti; sāyatatiyakampi udakorohanānuyogamanuyutto viharati—iti evarūpaṁ anekavihitaṁ kāyassa ātāpanaparitāpanānuyogamanuyutto viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto.
“And what individual mortifies themselves, committed to the practice of mortifying themselves? It’s when an individual goes naked, ignoring conventions. They lick their hands, and don’t come or wait when called. They don’t consent to food brought to them, or food prepared for them, or an invitation for a meal. They don’t receive anything from a pot or bowl; or from someone who keeps sheep, or who has a weapon or a shovel in their home; or where a couple is eating; or where there is a woman who is pregnant, breastfeeding, or who lives with a man; or where there’s a hound waiting or flies buzzing. They accept no fish or meat or beer or wine, and drink no fermented gruel. They go to just one house for alms, taking just one mouthful, or two houses and two mouthfuls, up to seven houses and seven mouthfuls. They feed on one saucer a day, two saucers a day, up to seven saucers a day. They eat once a day, once every second day, up to once a week, and so on, even up to once a fortnight. They live committed to the practice of eating food at set intervals.
They eat herbs, millet, wild rice, poor rice, water lettuce, rice bran, scum from boiling rice, sesame flour, grass, or cow dung. They survive on forest roots and fruits, or eating fallen fruit.
They wear robes of sunn hemp, mixed hemp, corpse-wrapping cloth, rags, lodh tree bark, antelope hide (whole or in strips), kusa grass, bark, wood-chips, human hair, horse-tail hair, or owls’ wings. They tear out their hair and beard, committed to this practice. They constantly stand, turning down seats. They squat, committed to the endeavor of squatting. They lie on a mat of thorns, making a mat of thorns their bed. They’re devoted to ritual bathing three times a day, including at dusk. And so they live committed to practicing these various ways of mortifying and tormenting the body. This is called an individual who mortifies themselves, being committed to the practice of mortifying themselves.
7. “Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người không mặc y phục, sống phóng túng, liếm tay cho sạch, không nhận thức ăn được mời ‘xin mời ngài đến’, không nhận thức ăn được mời ‘xin mời ngài dừng lại’; không nhận thức ăn được mang đến, không nhận thức ăn được nấu riêng cho mình, không nhận lời mời. Vị ấy không nhận thức ăn từ miệng nồi, không nhận từ miệng giỏ, không nhận khi được cúng dường ngang qua ngưỡng cửa, ngang qua cây gậy, ngang qua cái chày; không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ phụ nữ có thai, không nhận từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận từ phụ nữ đang chung sống với đàn ông, không nhận ở nơi có sự quyên góp, không nhận ở nơi có chó đứng chờ, không nhận ở nơi có ruồi bu. Vị ấy không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, không uống rượu men, không uống nước cháo loãng. Vị ấy chỉ khất thực một nhà, chỉ ăn một miếng; hoặc khất thực hai nhà, ăn hai miếng… hoặc khất thực bảy nhà, ăn bảy miếng. Vị ấy sống chỉ với một bát nhỏ, hoặc sống với hai bát nhỏ… hoặc sống với bảy bát nhỏ. Vị ấy ăn mỗi ngày một lần, hoặc ăn hai ngày một lần… hoặc ăn bảy ngày một lần – cứ như thế, vị ấy sống chuyên tâm thực hành việc ăn uống theo phiên, đến nửa tháng một lần. Vị ấy ăn rau, ăn lúa hoang, ăn gạo lức, ăn da vụn, ăn rêu, ăn cám, ăn váng cháo, ăn bã mè, ăn cỏ, ăn phân bò. Vị ấy sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn các loại quả tự rụng. Vị ấy mặc y bằng vải gai, y bằng vải gai thô, y bằng vải liệm người chết, y lượm từ đống rác, y bằng vỏ cây, mặc da thú, mặc y bằng mảnh da thú, y bằng cỏ kusa, y bằng sợi vỏ cây, y bằng vỏ bào, y dệt bằng tóc người, y dệt bằng lông đuôi ngựa, y dệt bằng lông cú. Vị ấy nhổ râu tóc, chuyên tâm vào việc nhổ râu tóc. Vị ấy đứng thẳng, từ chối chỗ ngồi. Vị ấy ngồi xổm, chuyên tâm vào việc ngồi xổm. Vị ấy nằm trên giường gai, thực hành việc nằm trên giường gai. Vị ấy sống chuyên tâm thực hành việc tắm ba lần mỗi ngày. Cứ như thế, vị ấy sống chuyên tâm thực hành nhiều cách hành hạ, khổ hạnh cho thân thể. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hạng người tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh.”
Katamo ca, bhikkhave, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo orabbhiko hoti sūkariko sākuṇiko māgaviko luddo macchaghātako coro coraghātako goghātako bandhanāgāriko, ye vā panaññepi keci kurūrakammantā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto.
And what individual mortifies others, committed to the practice of mortifying others? It’s when an individual is a slaughterer of sheep, pigs, or poultry, a hunter or trapper, a fisher, a bandit, an executioner, a butcher, a jailer, or someone with some other kind of cruel livelihood. This is called an individual who mortifies others, being committed to the practice of mortifying others.
8. “Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành việc hành khổ người khác? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người là người giết cừu, người giết heo, người bẫy chim, thợ săn, người tàn bạo, người đánh cá, kẻ trộm, đao phủ, người giết bò, cai ngục, hoặc bất kỳ ai khác làm các nghề tàn ác. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành việc hành khổ người khác.”
Katamo ca, bhikkhave, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo rājā vā hoti khattiyo muddhāvasitto brāhmaṇo vā mahāsālo. So puratthimena nagarassa navaṁ santhāgāraṁ kārāpetvā kesamassuṁ ohāretvā kharājinaṁ nivāsetvā sappitelena kāyaṁ abbhañjitvā magavisāṇena piṭṭhiṁ kaṇḍuvamāno navaṁ santhāgāraṁ pavisati saddhiṁ mahesiyā brāhmaṇena ca purohitena. So tattha anantarahitāya bhūmiyā haritupalittāya seyyaṁ kappeti. Ekissāya gāviyā sarūpavacchāya yaṁ ekasmiṁ thane khīraṁ hoti tena rājā yāpeti, yaṁ dutiyasmiṁ thane khīraṁ hoti tena mahesī yāpeti, yaṁ tatiyasmiṁ thane khīraṁ hoti tena brāhmaṇo purohito yāpeti, yaṁ catutthasmiṁ thane khīraṁ hoti tena aggiṁ juhati, avasesena vacchako yāpeti. So evamāha: ‘ettakā usabhā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatarā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatariyo haññantu yaññatthāya, ettakā ajā haññantu yaññatthāya, ettakā urabbhā haññantu yaññatthāya, ettakā assā haññantu yaññatthāya, ettakā rukkhā chijjantu yūpatthāya, ettakā dabbhā lūyantu barihisatthāyā’ti. Yepissa te honti dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā tepi daṇḍatajjitā bhayatajjitā assumukhā rudamānā parikammāni karonti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto.
And what individual mortifies themselves and others, being committed to the practice of mortifying themselves and others? It’s when an individual is an anointed aristocratic king or a well-to-do brahmin. He has a new ceremonial hall built to the east of the citadel. He shaves off his hair and beard, dresses in a rough antelope hide, and smears his body with ghee and oil. Scratching his back with antlers, he enters the hall with his chief queen and the brahmin high priest. There he lies on the bare ground strewn with grass. The king feeds on the milk from one teat of a cow that has a calf of the same color. The chief queen feeds on the milk from the second teat. The brahmin high priest feeds on the milk from the third teat. The milk from the fourth teat is served to the sacred flame. The calf feeds on the leftovers. He says: ‘Slaughter this many bulls, bullocks, heifers, goats, rams, and horses for the sacrifice! Fell this many trees and reap this much grass for the sacrificial equipment!’ His bondservants, servants, and workers do their jobs under threat of punishment and danger, weeping with tearful faces. This is called an individual who mortifies themselves and others, being committed to the practice of mortifying themselves and others.
9. “Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành việc hành khổ người khác? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người là vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hoặc là một Bà-la-môn đại phú. Vị ấy cho xây một nhà tế đàn mới ở phía đông thành phố, cạo bỏ râu tóc, khoác một tấm da thú thô ráp, thoa dầu và bơ lên thân mình, dùng sừng nai để gãi lưng, rồi cùng với hoàng hậu và vị Bà-la-môn tế sư đi vào nhà tế đàn mới. Tại đó, vị ấy nằm trên nền đất trống, được trét bằng phân bò tươi. Sữa từ một vú của một con bò mẹ có con bê cùng màu sắc, thì nhà vua dùng để sống; sữa từ vú thứ hai thì hoàng hậu dùng để sống; sữa từ vú thứ ba thì vị Bà-la-môn tế sư dùng để sống; sữa từ vú thứ tư thì dùng để cúng dường lửa; phần còn lại thì con bê dùng để sống. Vị ấy nói như sau: ‘Hãy giết từng này bò đực để tế lễ, hãy giết từng này bò tơ để tế lễ, hãy giết từng này bò cái tơ để tế lễ, hãy giết từng này dê để tế lễ, hãy giết từng này cừu đực để tế lễ, hãy đốn từng này cây để làm cột tế đàn, hãy cắt từng này cỏ dabbā để trải trên đất tế đàn’. Và những người là nô lệ, người đưa tin, hay người làm công của vị ấy, họ bị đe dọa bằng hình phạt, bị đe dọa bằng sự sợ hãi, mặt đẫm nước mắt, vừa khóc lóc vừa làm các công việc chuẩn bị. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành việc hành khổ người khác.”
Katamo ca, bhikkhave, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto, so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati?
Idha, bhikkhave, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto. So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati: ‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya, mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya, kesamassuṁ ohāretvā, kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
And what individual doesn’t mortify either themselves or others, but lives without wishes, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine?
It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family. They gain faith in the Realized One and reflect: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’ After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
10. Này các Tỳ kheo, thế nào là hạng người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình; không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; người ấy, không tự hành hạ, không hành hạ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, tịch tịnh, mát mẻ, cảm thọ lạc, sống với tự thân trở thành Phạm thiên? Này các Tỳ kheo, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa môn, Bà la môn, chư Thiên và loài người. Vị ấy thuyết pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối, có ý nghĩa, có văn tự; trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Pháp ấy được một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc người sinh trong một gia tộc nào đó nghe được. Người ấy sau khi nghe pháp, có được niềm tin nơi Như Lai. Người ấy, với niềm tin đã có được, suy xét như sau: ‘Đời sống tại gia thì chật hẹp, là con đường của bụi bặm; xuất gia như khoảng trời quang đãng. Thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành đời sống phạm hạnh này một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc được mài giũa. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình’. Sau một thời gian, người ấy từ bỏ tài sản ít hoặc nhiều, từ bỏ quyến thuộc ít hoặc nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
So evaṁ pabbajito samāno bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati. Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā viharati. Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā. Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa. Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya—iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti, yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ. So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti, ekabhattiko hoti rattūparato virato vikālabhojanā; naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti; mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti; uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti; jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti; āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti; āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti; itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti; dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti; ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti; kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti; hatthigavassavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti; khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti; dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti; kayavikkayā paṭivirato hoti; tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti; ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti; chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato hoti.
Once they’ve gone forth, they take up the training and livelihood of the mendicants. They give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings. They give up stealing. They take only what’s given, and expect only what’s given. They keep themselves clean by not thieving. They give up unchastity. They are chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex. They give up lying. They speak the truth and stick to the truth. They’re honest and dependable, and don’t trick the world with their words. They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony. They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people. They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial. They refrain from injuring plants and seeds. They eat in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time. They refrain from seeing shows of dancing, singing, and music. They refrain from attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. They refrain from high and luxurious beds. They refrain from receiving gold and currency, raw grains, raw meat, women and girls, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants, cows, horses, and mares, and fields and land. They refrain from running errands and messages; buying and selling; falsifying weights, metals, or measures; bribery, fraud, cheating, and duplicity; mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence.
11. Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, đã chấp nhận giới luật và đời sống của các Tỳ kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, có tàm, có lòng bi mẫn, sống thương xót vì lợi ích cho tất cả chúng sanh. Từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ nhận vật đã cho, chỉ mong đợi vật đã cho, sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp. Từ bỏ hành vi không phạm hạnh, thực hành phạm hạnh, sống xa lìa, tránh xa hành vi dâm dục thấp hèn của thế gian. Từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, giữ vững sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Từ bỏ nói lời đâm thọc, tránh xa nói lời đâm thọc; nghe điều gì ở đây, không đến nơi kia nói để chia rẽ những người này; nghe điều gì ở nơi kia, không đến đây nói để chia rẽ những người kia. Như vậy, vị ấy hàn gắn những người đã chia rẽ, khuyến khích những người đã đoàn kết, vui thích trong sự hòa hợp, ưa thích sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp. Từ bỏ nói lời thô ác, tránh xa nói lời thô ác; nói những lời không lỗi, dễ nghe, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, được nhiều người hài lòng. Từ bỏ nói lời vô ích, tránh xa nói lời vô ích; nói đúng lúc, nói đúng sự thật, nói lời có ý nghĩa, nói lời hợp pháp, nói lời hợp luật; nói những lời đáng ghi nhớ, đúng lúc, có lý do, có giới hạn, có lợi ích. Vị ấy tránh xa việc phá hoại các loại hạt giống và cây cối. Vị ấy dùng bữa một lần, không ăn ban đêm, tránh xa việc ăn phi thời. Vị ấy tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, kịch. Vị ấy tránh xa việc trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, phấn sáp. Vị ấy tránh xa giường cao, giường lớn. Vị ấy tránh xa việc nhận vàng bạc. Vị ấy tránh xa việc nhận ngũ cốc sống. Vị ấy tránh xa việc nhận thịt sống. Vị ấy tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận nô tỳ nam nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận dê và cừu. Vị ấy tránh xa việc nhận gà và heo. Vị ấy tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa, lừa. Vị ấy tránh xa việc nhận ruộng đất. Vị ấy tránh xa việc làm sứ giả, đưa tin. Vị ấy tránh xa việc mua bán. Vị ấy tránh xa việc gian lận bằng cân, tiền, và thước đo. Vị ấy tránh xa các hành vi gian trá như hối lộ, lừa đảo, và giả mạo. Vị ấy tránh xa việc cắt, giết, trói, cướp bóc, tàn phá, và bạo hành.
So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati, samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti, sapattabhārova ḍeti; evameva bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati, samādāyeva pakkamati. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
They’re content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. They’re like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. When they have this spectrum of noble ethics, they experience a blameless happiness inside themselves.
Vị ấy biết đủ với y phục đủ để che thân, với vật thực khất thực đủ để nuôi bụng. Vị ấy đi đến đâu, chỉ mang theo y bát mà đi. Ví như con chim có cánh, bay đi đâu, chỉ mang theo gánh nặng là đôi cánh của nó; cũng vậy, vị Tỳ kheo biết đủ với y phục đủ để che thân, với vật thực khất thực đủ để nuôi bụng. Vị ấy đi đến đâu, chỉ mang theo y bát mà đi. Vị ấy, thành tựu uẩn giới cao thượng này, cảm thọ niềm vui không bị chê trách trong nội tâm.
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati. So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
When they see a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. When they have this noble sense restraint, they experience an unsullied bliss inside themselves.
12. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà vị ấy sống không phòng hộ nhãn căn, các pháp ác, bất thiện như tham và ưu sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành để phòng hộ căn ấy, hộ trì nhãn căn, đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi mùi... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà vị ấy sống không phòng hộ ý căn, các pháp ác, bất thiện như tham và ưu sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành để phòng hộ căn ấy, hộ trì ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Vị ấy, do thành tựu sự phòng hộ các căn cao quý này, cảm thọ được niềm an lạc không bị phiền não xâm nhiễm ở nội tâm.
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
They act with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.
Vị ấy tỉnh giác khi đi tới, đi lui; tỉnh giác khi nhìn thẳng, nhìn nghiêng; tỉnh giác khi co lại, duỗi ra; tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát và y; tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; tỉnh giác khi đi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và im lặng.
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato, iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti, byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti; thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti; uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti; vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
When they have this spectrum of noble ethics, this noble contentment, this noble sense restraint, and this noble mindfulness and situational awareness, they frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present. Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will and malevolence. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
13. Vị ấy, thành tựu uẩn giới cao quý này, thành tựu sự phòng hộ các căn cao quý này, thành tựu chánh niệm tỉnh giác cao quý này, tìm đến một trú xứ thanh vắng: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, hay đống rơm. Vị ấy, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, giữ thân ngay thẳng, an trú niệm trước mặt. Vị ấy, từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm không tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận, sống với tâm không sân hận, có lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên, sống thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, với tưởng ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trạo cử và hối quá, sống không trạo cử, với nội tâm an tịnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá. Từ bỏ hoài nghi, sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các thiện pháp, gột sạch tâm khỏi hoài nghi.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.
And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’
With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, liền ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ lạc do ly dục sanh. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu, vị ấy chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái nội tĩnh, nhất tâm, không tầm, không tứ, với hỷ lạc do định sanh. Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, và cảm thọ lạc bằng thân, chứng và trú Tam thiền, mà các bậc Thánh gọi là: ‘người có xả, có niệm, sống an lạc’. Do xả lạc, xả khổ, và do diệt trừ ưu và hỷ đã có từ trước, vị ấy chứng và trú Tứ thiền, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives, that is, one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
14. Khi tâm được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ biết các đời sống quá khứ. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, nghĩa là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp, nhiều thành hoại kiếp: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết ở đó, ta sanh ra ở nơi kia. Tại đó, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết ở đó, ta sanh ra ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và chi tiết.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
15. “Vị ấy, với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, hướng tâm đến trí tuệ về sự sinh tử của chúng sanh. Vị ấy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, đi đến thiện thú, đi đến ác thú. Vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Chư vị hiền hữu, những chúng sanh này đã thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp giữ hành vi theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị hiền hữu, những chúng sanh này đã thực hành thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp giữ hành vi theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, đi đến thiện thú, đi đến ác thú; vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
‘Ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto, na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto. So attantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharatī”ti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.
They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’. Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
This is called an individual who neither mortifies themselves or others, being committed to the practice of not mortifying themselves or others. They live without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine.”
16. “Vị ấy, với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, hướng tâm đến Lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là Khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là Khổ tập’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là Khổ diệt’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến Khổ diệt’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Đối với vị ấy, khi biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’. Này các Tỳ khưu, vị ấy được gọi là người không tự hành khổ, không chuyên tâm vào việc tự hành khổ; không hành khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành khổ người khác. Vị ấy, không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, sống không còn khao khát, tịch tịnh, mát mẻ, hưởng lạc, với tự thân đã trở nên thanh cao.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Kandarakasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Kandaraka, bài kinh thứ nhất, kết thúc.