- Majjhima Nikāya 52
Aṭṭhakanāgarasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Aṭṭhakanāgarasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Tôn giả Ānanda trú ở Vesālī (Tỳ-xá-ly), tại Beluvagāmaka (ấp Trúc Lâm).
SC 2Lúc bấy giờ gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka đến tại Pātaliputta (thành Ba-la-lị-phất) có công việc. Rồi gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka (Bát thành) đi đến Kukkutarama (Kê Viên), đến một Tỷ-kheo, đảnh lễ vị này, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka thưa với Tỷ-kheo ấy
SC 3—Bạch Tôn giả, Tôn giả Ānanda nay an trú ở đâu? Chúng con muốn gặp Tôn giả Ānanda.
SC 4—Này Gia chủ, Tôn giả Ānanda nay ở Vesālī, tại ấp Beluvagamaka.
SC 5Rồi gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka, sau khi làm xong công việc ở Pātaliputta, liền đi đến Vesālī, ấp Beluvagamaka, đến Tôn giả Ānanda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Dasama người ở thành Aṭṭhaka thưa với Tôn giả Ānanda
SC 6—Bạch Tôn giả Ānanda, có pháp độc nhất gì do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, nếu có Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần sống hành trì pháp ấy, thời tâm chưa giải thoát của vị ấy được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, hay pháp an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt?
SC 7—Này Gia chủ, có pháp độc nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, nếu có Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm chưa giải thoát của vị ấy được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt.
SC 8—Bạch Tôn giả Ānanda, pháp độc nhất ấy là gì, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, nếu có Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm chưa giải thoát của vị ấy được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt?
SC 9—Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy suy tư và được biết: “Sơ Thiền này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, nên Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt.
SC 10Lại nữa, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm, vị ấy suy tư và được biết: “Thiền thứ hai này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
SC 11Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị ấy suy tư và được biết: “Thiền thứ ba này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
SC 12Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy suy tư và được biết: “Thiền thứ tư này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
SC 13Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư và được biết: “Từ tâm giải thoát này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy do vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
SC 14Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … Với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư và được biết: “Xả tâm giải thoát này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự việc gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
SC 15Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Vị này suy tư và được biết: “Không vô biên xứ định này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
SC 16Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Vị này suy tư và được biết: “Thức vô biên xứ định này là pháp hữu vi do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
SC 17Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị này suy tư và được biết: “Vô sở hữu xứ định này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất, do Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát, được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt.
SC 18Khi được nghe nói vậy, Gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka bạch Tôn giả Ānanda
SC 19—Bạch Tôn giả Ānanda, như người tìm một kho tàng cất dấu, trong một lúc tìm được mười một kho tàng cất dấu. Cũng vậy, bạch Tôn giả, con đi tìm một pháp môn bất tử mà được nghe một lần mười một pháp môn bất tử. Bạch Tôn giả, như ngôi nhà người ta có đến mười một cửa, khi ngôi nhà bị cháy, thì chỉ do một cửa người ta cũng có thể thoát ra một cách an toàn. Cũng vậy, bạch Tôn giả, chỉ với một cửa bất tử trong mười một cửa bất tử này, con có thể đạt được sự an toàn cho con. Bạch Tôn giả, đệ tử các ngoại đạo này sẽ tìm cầu tiền của cúng dường cho vị thầy của mình, sao con lại không cúng dường cho Tôn giả Ānanda?
SC 20Rồi gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka cho mời họp Tỷ-kheo Tăng ở Pātaliputta và Vesālī, tự tay mời ăn và làm cho thỏa mãn với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, tặng cho mỗi Tỷ-kheo, mỗi vị một cặp y, tặng cho Tôn giả Ānanda ba y và xây dựng một Tăng xá trị giá năm trăm đồng tiền vàng (hay có năm trăm Tăng phòng) cho Tôn giả Ānanda.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 15–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Aṭṭhakanāgara
Tena kho pana samayena dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro pāṭaliputtaṁ anuppatto hoti kenacideva karaṇīyena. Atha kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro yena kukkuṭārāmo yena aññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro taṁ bhikkhuṁ etadavoca: “kahaṁ nu kho, bhante, āyasmā ānando etarahi viharati? Dassanakāmā hi mayaṁ taṁ āyasmantaṁ ānandan”ti.
“Eso, gahapati, āyasmā ānando vesāliyaṁ viharati beluvagāmake”ti.
Atha kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro pāṭaliputte taṁ karaṇīyaṁ tīretvā yena vesālī yena beluvagāmako yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
Now at that time the householder Dasama, a wealthy citizen, had arrived at Pāṭaliputta on some business. He went to the Chicken Monastery, approached a certain mendicant, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, where is Venerable Ānanda now staying? For I want to see him.”
“Householder, Venerable Ānanda is staying near Vesālī in the little village of Beluva.”
Then the householder Dasama, having concluded his business there, went to the little village of Beluva in Vesālī to see Ānanda. He bowed, sat down to one side, and said to Ānanda:
17. Tôi nghe như vầy: Một thời, Tôn giả Ānanda trú ở Vesālī, tại làng Beluva. Lúc bấy giờ, gia chủ Dasama, người thành Aṭṭhaka, vì một vài công việc đã đi đến Pāṭaliputta. Rồi gia chủ Dasama, người thành Aṭṭhaka, đi đến tu viện Kukkuṭārāma, đến chỗ một Tỳ khưu; sau khi đến, đảnh lễ vị Tỳ khưu ấy rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Dasama, người thành Aṭṭhaka, nói với vị Tỳ khưu ấy: “Bạch Tôn giả, hiện nay Tôn giả Ānanda đang ở đâu? Chúng con muốn được yết kiến Tôn giả Ānanda.” “Này gia chủ, Tôn giả Ānanda đang ở Vesālī, tại làng Beluva.” Rồi gia chủ Dasama, người thành Aṭṭhaka, sau khi giải quyết xong công việc ở Pāṭaliputta, liền đi đến Vesālī, đến làng Beluva, đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên.
“atthi nu kho, bhante ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo akkhāto yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttañceva cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti?
“Honorable Ānanda, is there one thing that has been rightly explained by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—practicing which a diligent, keen, and resolute mendicant’s mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke?”
18. Ngồi xuống một bên, gia chủ Dasama, người thành Aṭṭhaka, bạch Tôn giả Ānanda: “Bạch Tôn giả Ānanda, có một pháp nào đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, tuyên thuyết, mà ở đấy, một vị Tỳ khưu sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ được đoạn tận, và sẽ chứng đắc được Vô Thượng An Ổn khỏi các ách phược chưa chứng đắc không?”
“Atthi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo akkhāto, yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttañceva cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti.
“There is, householder.”
“Có đấy, này gia chủ, có một pháp đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, tuyên thuyết, mà ở đấy, một vị Tỳ khưu sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ được đoạn tận, và sẽ chứng đắc được Vô Thượng An Ổn khỏi các ách phược chưa chứng đắc.”
“Katamo pana, bhante ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo akkhāto, yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttañceva cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti?
“And what is that one thing?”
“Bạch Tôn giả Ānanda, một pháp ấy là gì, đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, tuyên thuyết, mà ở đấy, một vị Tỳ khưu sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ được đoạn tận, và sẽ chứng đắc được Vô Thượng An Ổn khỏi các ách phược chưa chứng đắc?”
“Idha, gahapati, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘idampi kho paṭhamaṁ jhānaṁ abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ. Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti. No ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo akkhāto, yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttañceva cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
“Householder, it’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. Then they reflect: ‘Even this first absorption is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This is one thing that has been rightly explained by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—practicing which a diligent, keen, and resolute mendicant’s mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke.
19. Này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Thiền thứ nhất này cũng là pháp hữu vi, do tác ý mà có. Bất cứ cái gì là pháp hữu vi, do tác ý mà có, cái ấy là vô thường, có bản chất là đoạn diệt,’ vị ấy biết như vậy. Vị ấy an trú trong trạng thái ấy, đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu chưa đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thì do chính sự tham ái pháp ấy, do chính sự hoan hỷ trong pháp ấy, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở thành bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết Bàn ở tại cõi ấy, không còn trở lại từ cõi đời ấy nữa. Này gia chủ, đây cũng là một pháp đã được Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Giác, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, nơi mà vị tỳ khưu trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, thì tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ chứng đạt được trạng thái an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa chứng đạt được.
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘idampi kho dutiyaṁ jhānaṁ abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ …pe… anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption …
20. Lại nữa, này gia chủ, vị tỳ khưu do làm lắng dịu tầm và tứ, ... chứng và trú thiền thứ hai. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Thiền thứ hai này cũng là pháp hữu vi, do tác ý mà có... chứng đạt được trạng thái an ổn vô thượng khỏi các ách縛.
Lại nữa, này gia chủ, vị tỳ khưu do ly hỷ... chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Thiền thứ ba này cũng là pháp hữu vi, do tác ý mà có... chứng đạt được trạng thái an ổn vô thượng khỏi các ách縛.
Lại nữa, này gia chủ, vị tỳ khưu do xả lạc... chứng và trú thiền thứ tư. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Thiền thứ tư này cũng là pháp hữu vi, do tác ý mà có... chứng đạt được trạng thái an ổn vô thượng khỏi các ách縛.
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ayampi kho mettācetovimutti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā. Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito …pe… anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Then they reflect: ‘Even this heart’s release by love is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ …
Lại nữa, này gia chủ, vị tỳ khưu với tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân, biến mãn toàn thể thế giới rồi an trú. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Tâm giải thoát bằng từ này cũng là pháp hữu vi, do tác ý mà có. Bất cứ cái gì là pháp hữu vi, do tác ý mà có, cái ấy là vô thường, có bản chất là đoạn diệt,’ vị ấy biết như vậy. Vị ấy an trú trong trạng thái ấy... chứng đạt được trạng thái an ổn vô thượng khỏi các ách縛.
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ayampi kho upekkhācetovimutti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā. Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti.
Furthermore, a mendicant meditates spreading a heart full of compassion … rejoicing … equanimity …
Lại nữa, này gia chủ, vị tỳ khưu với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân, biến mãn toàn thể thế giới rồi an trú. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Tâm giải thoát bằng xả này cũng là pháp hữu vi, do tác ý mà có. Bất cứ cái gì là pháp hữu vi, do tác ý mà có, cái ấy là vô thường, có bản chất là đoạn diệt,’ vị ấy biết như vậy. Vị ấy an trú trong trạng thái ấy... chứng đạt được trạng thái an ổn vô thượng khỏi các ách縛.
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ayampi kho ākāsānañcāyatanasamāpatti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā. Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito …pe… anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, householder, a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. Then they reflect: ‘Even this attainment of the dimension of infinite space is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ …
Lại nữa, này gia chủ, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do làm cho các đối ngại tưởng biến mất, do không tác ý đến các dị biệt tưởng, với ý niệm ‘hư không là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ này cũng là pháp hữu vi, do tác ý mà có. Bất cứ cái gì là pháp hữu vi, do tác ý mà có, cái ấy là vô thường, có bản chất là đoạn diệt,’ vị ấy biết như vậy. Vị ấy an trú trong trạng thái ấy... chứng đạt được trạng thái an ổn vô thượng khỏi các ách縛.
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ayampi kho viññāṇañcāyatanasamāpatti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā. Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito …pe… anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. …
Lại nữa, này gia chủ, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ này cũng là pháp hữu vi, do tác ý mà có. Bất cứ cái gì là pháp hữu vi, do tác ý mà có, cái ấy là vô thường, có bản chất là đoạn diệt,’ vị ấy biết như vậy. Vị ấy an trú trong trạng thái ấy... chứng đạt được trạng thái an ổn vô thượng khỏi các ách縛.
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ayampi kho ākiñcaññāyatanasamāpatti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā. Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti. No ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo akkhāto yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttañceva cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. Then they reflect: ‘Even this attainment of the dimension of nothingness is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This too is one thing that has been rightly explained by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—practicing which a diligent, keen, and resolute mendicant’s mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke.”
Lại nữa, này gia chủ, vị Tỳ-khưu sau khi vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ này cũng là pháp được tạo tác, được chủ ý tạo ra. Bất cứ cái gì được tạo tác, được chủ ý tạo ra, cái ấy là vô thường, có bản chất là hoại diệt,’ vị ấy biết rõ như vậy. Vị ấy, khi an trú trong trạng thái ấy, đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu chưa đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thì do sự tham ái đối với pháp ấy, do sự hoan hỷ đối với pháp ấy, sau khi đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở thành vị hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại nơi ấy, không còn trở lại từ cõi đời ấy nữa. Này gia chủ, đây cũng là một pháp môn đã được Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Giác, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, tuyên thuyết, nơi mà vị Tỳ-khưu khi sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ đạt đến trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách縛 mà trước đây chưa đạt đến.
Evaṁ vutte, dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “seyyathāpi, bhante ānanda, puriso ekaṁva nidhimukhaṁ gavesanto sakideva ekādasa nidhimukhāni adhigaccheyya; evameva kho ahaṁ, bhante, ekaṁ amatadvāraṁ gavesanto sakideva ekādasa amatadvārāni alatthaṁ bhāvanāya. Seyyathāpi, bhante, purisassa agāraṁ ekādasadvāraṁ, so tasmiṁ agāre āditte ekamekenapi dvārena sakkuṇeyya attānaṁ sotthiṁ kātuṁ; evameva kho ahaṁ, bhante, imesaṁ ekādasannaṁ amatadvārānaṁ ekamekenapi amatadvārena sakkuṇissāmi attānaṁ sotthiṁ kātuṁ. Imehi nāma, bhante, aññatitthiyā ācariyassa ācariyadhanaṁ pariyesissanti, kimaṅgaṁ panāhaṁ āyasmato ānandassa pūjaṁ na karissāmī”ti.
Atha kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro pāṭaliputtakañca vesālikañca bhikkhusaṅghaṁ sannipātetvā paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi, ekamekañca bhikkhuṁ paccekaṁ dussayugena acchādesi, āyasmantañca ānandaṁ ticīvarena acchādesi, āyasmato ca ānandassa pañcasatavihāraṁ kārāpesīti.
When he said this, the householder Dasama said to Venerable Ānanda, “Honorable Ānanda, suppose a person was looking for the entrance to a treasure trove. And all at once they’d come across eleven entrances! In the same way, I was searching for the door to freedom from death. And all at once I found eleven doors to freedom from death for cultivation. Suppose a person had a house with eleven doors. If the house caught fire they’d be able to flee to safety through any one of those doors. In the same way, I’m able to flee to safety through any one of these eleven doors to freedom from death. Sir, those of other religions seek a fee for the tutor. Why shouldn’t I make an offering to Venerable Ānanda?”
Then the householder Dasama, having assembled the Saṅgha from Vesālī and Pāṭaliputta, served and satisfied them with his own hands with delicious fresh and cooked foods. He clothed each and every mendicant in a pair of garments, with a set of three robes for Ānanda. And he had a dwelling worth five hundred built for Ānanda.
21. Khi được nói như vậy, gia chủ Dasama người thành Aṭṭhaka đã bạch với Tôn giả Ānanda rằng: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, ví như một người đi tìm một miệng hũ châu báu, lại bất ngờ tìm thấy mười một miệng hũ châu báu; cũng vậy, thưa Tôn giả, con, trong khi đi tìm một cánh cửa bất tử, đã bất ngờ tìm được mười một cánh cửa bất tử để tu tập. Thưa Tôn giả, ví như một người có một ngôi nhà mười một cửa, khi ngôi nhà ấy bị cháy, người ấy có thể tự cứu mình an toàn qua bất kỳ một cửa nào; cũng vậy, thưa Tôn giả, con cũng sẽ có thể tự cứu mình an toàn qua bất kỳ một cánh cửa nào trong số mười một cánh cửa bất tử này. Thưa Tôn giả, những người ngoại đạo kia còn tìm kiếm tài sản cho thầy của họ, huống hồ là con, tại sao lại không cúng dường Tôn giả Ānanda chứ!’ Sau đó, gia chủ Dasama người thành Aṭṭhaka đã triệu tập Tăng chúng từ Pāṭaliputta và Vesālī, tự tay dâng cúng các món ăn thượng vị, cả đồ ăn cứng và đồ ăn mềm, cho đến khi các vị ấy hài lòng và từ chối nhận thêm. Ông đã cúng dường mỗi vị Tỳ-khưu một cặp y, cúng dường Tôn giả Ānanda ba y, và đã cho xây dựng một ngôi tịnh xá trị giá năm trăm (đồng tiền) cho Tôn giả Ānanda.
Aṭṭhakanāgarasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Aṭṭhakanāgara, bài kinh thứ hai, đã kết thúc.