- Majjhima Nikāya 50
Māratajjanīyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Māratajjanīyasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Tôn giả Mahā Moggallāna trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhessakalavana, vườn Lộc Uyển.
SC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Moggallāna đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Mahā Moggallāna, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna nghĩ như sau: “Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?” Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
SC 3Sau khi ngồi, Tôn giả Mahā Moggallāna tự chánh niệm. Tôn giả Mahā Moggallāna thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma
SC 4—Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!
SC 5Rồi Ác ma suy nghĩ: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai, và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”
SC 6Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna lại nói với Ác ma như sau
SC 7—Này Ác ma, ta biết Ngươi. Ðừng có nghĩ rằng: “Vị ấy không biết ta”. Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!” Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”
SC 8Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này biết ta, thấy ta và nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài” ”. Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Mahā Moggallāna bước ra, và đứng dựa nơi cửa miệng. Tôn giả Mahā Moggallāna thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa miệng, bèn nói Ác ma
SC 9—Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: “Vị ấy không thấy ta”. Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa miệng. Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kālī. Ngươi là con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.
SC 10Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả. Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vidhura về thuyết pháp. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Vô song). Còn Tôn giả Sanjiva là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn gì.
SC 11Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hãy hỏa táng ngài!” Rồi này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân bò chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa và bỏ đi.
SC 12Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau khi đêm ấy đã tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại”. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Sanjiva được xưng danh là Sanjiva, Sanjiva.
SC 13Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ như sau: “Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ. ”
SC 14Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”. Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con giả can trên bờ sông, khi đang rình cá; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con mèo ngồi bên đống rác, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con lừa, gánh nặng được đặt xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”, và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền”. Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 15Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
SC 16“—Này các Tỷ-kheo, những Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi nhập vào và nói: “Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.
SC 17Này các Tỷ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ…, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”.
SC 18Rồi Ác ma, các Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ không vắng, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 19Này Ác ma, rồi Māra Dusi suy nghĩ như sau: “Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hãy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.
SC 20Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”, Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.
SC 21Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusamdha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
SC 22“—Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi xâm nhập và nói như sau: “Các Ngươi hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống quán bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành”.
SC 23Và này Ác ma, những Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.
SC 24Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực.
SC 25Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: “Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải”. Này Ác ma, khi Thế Tôn nhìn xung quanh, thì Ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cõi địa ngục.
SC 26Này Ác ma, địa ngục ấy được ba tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: “Này Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi mới hiểu như sau: “Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa ngục.”
SC 27Và ta, này Ác ma, ta bị trụng nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vutthanima. Do vậy, này Ác ma, thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như vậy, đầu như con cá.
SC 281. Ðịa ngục ấy thế nào
Dusi bị nấu sôi
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha.
Có trăm loại cọc sắt,
Tự cảm thọ riêng biệt
Ðịa ngục là như vậy,
Dusi bị nấu sôi.
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha
SC 29Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
SC 302. Dựng lên giữa biển cả,
Cung điện trải nhiều kiếp,
Bằng ngọc chói lưu ly,
Huy hoàng cùng chiếu diệu.
Tiên nữ múa tại đây,
Trang sức màu dị biệt.
SC 31Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ Thọ,
SC 323. Ai Thế Tôn khuyến khích,
Ðược chư Tăng chứng kiến,
Với ngón chân rung chuyển,
Lâu đài Vejayanta!
SC 33Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
SC 344. Với ngón chân rung chuyển
Lâu đài Vejayanta?
Ðầy đủ thần thông lực,
Chư thiên cũng hoảng sợ.
SC 35Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,!
SC 365. Ai hỏi vị Sakka,
Tại lầu Vejayanta,
Hiền giả, Người có biết,
Chứng ái tận giải thoát?
Sakka đã chân thành,
Trả lời câu được hỏi.
SC 37Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
SC 386. Ai từng hỏi Phạm thiên,
Tại hội chúng Thiện pháp,
Hiền giả nay vẫn chấp,
Các tà kiến thuở xưa,
Có thấy cảnh huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới?
Brahmà đã chân thành,
Tiếp tục đáp câu hỏi:
Tôn giả, tôi không chấp,
Các tà kiến thuở xưa!
Tôi thấy sự huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới!
Sao nay tôi nói được,
Tôi thường hằng thường tại?
SC 39Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ!
SC 407. Ai với sự giải thoát,
Cảm xúc Cao sơn đảnh,
Rừng Ðông Videha,
Và người nằm trên đất,
SC 41Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ.
SC 428. Thật sự lửa không nghĩ:
“Ta đốt cháy kẻ ngu”,
Kẻ ngu đột kích lửa,
Tự mình bị thiêu cháy.
Cũng vậy, này Ác ma,
Ngươi đột kích Như Lai.
Tự mình đốt cháy mình
Như kẻ ngu chạm lửa,
Ác ma tạo ác nghiệp,
Do nhiễu hại Như Lai,
Ngươi nghĩ chăng, Ác ma,
“Ác quả không đến ta”.
Ðiều ác Ác ma làm,
Chất chứa đã lâu rồi,
Ác ma, hãy tránh Phật,
Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo!
SC 43Tỷ-kheo chống Ác ma,
Tại rừng Bhesakāla,
Vị Dạ xoa, thất vọng,
Biến mất tại chỗ ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Khiển Trách Māra
Tena kho pana samayena āyasmā mahāmoggallāno abbhokāse caṅkamati.
Tena kho pana samayena māro pāpimā āyasmato mahāmoggallānassa kucchigato hoti koṭṭhamanupaviṭṭho. Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi: “kiṁ nu kho me kucchi garugaro viya? Māsācitaṁ maññe”ti. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno caṅkamā orohitvā vihāraṁ pavisitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho āyasmā mahāmoggallāno paccattaṁ yoniso manasākāsi.
Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno māraṁ pāpimantaṁ kucchigataṁ koṭṭhamanupaviṭṭhaṁ. Disvāna māraṁ pāpimantaṁ etadavoca: “nikkhama, pāpima; nikkhama, pāpima. Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ. Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi: “ajānameva kho maṁ ayaṁ samaṇo apassaṁ evamāha: ‘nikkhama, pāpima; nikkhama, pāpima. Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ. Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā’ti. Yopissa so satthā sopi maṁ neva khippaṁ jāneyya, kuto pana maṁ ayaṁ sāvako jānissatī”ti?
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno māraṁ pāpimantaṁ etadavoca: “evampi kho tāhaṁ, pāpima, jānāmi, mā tvaṁ maññittho: ‘na maṁ jānātī’ti. Māro tvamasi, pāpima; tuyhañhi, pāpima, evaṁ hoti: ‘ajānameva kho maṁ ayaṁ samaṇo apassaṁ evamāha—nikkhama, pāpima; nikkhama, pāpima. Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ. Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyāti. Yopissa so satthā sopi maṁ neva khippaṁ jāneyya, kuto pana maṁ ayaṁ sāvako jānissatī’”ti?
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi:
At that time Moggallāna was walking mindfully in the open air.
Now at that time Māra the Wicked had got inside Moggallāna’s belly. Moggallāna thought, “Why now is my belly so very heavy, like I’ve just eaten a load of beans?” Then he stepped down from the walking path, entered his dwelling, sat down on the seat spread out, and investigated inside himself.
He saw that Māra the Wicked had got inside his belly. So he said to Māra, “Come out, Wicked One, come out! Do not harass the Realized One or his disciple. Don’t create lasting harm and suffering for yourself!”
Then Māra thought, “This ascetic doesn’t really know me or see me when he tells me to come out. Not even the Teacher could recognize me so quickly, so how could a disciple?”
Then Moggallāna said to Māra, “I know you even when you’re like this, Wicked One. Do not think, ‘He doesn’t know me.’ You are Māra the Wicked. And you think, ‘This ascetic doesn’t really know me or see me when he tells me to come out. Not even the Teacher could recognize me so quickly, so how could a disciple?’”
Then Māra thought,
506. Tôi nghe như vầy. Một thời, trưởng lão Mahāmoggallāna trú ở xứ Bhagga, tại Susumāragira, trong khu rừng Bhesakaḷā, vườn nai. Lúc bấy giờ, trưởng lão Mahāmoggallāna đang đi kinh hành ở ngoài trời. Khi ấy, ác ma Māra đã đi vào bụng của trưởng lão Mahāmoggallāna, đã chui vào trong ruột. Bấy giờ, trưởng lão Mahāmoggallāna đã khởi lên suy nghĩ này: “Tại sao bụng của ta lại nặng nề thế này? Dường như chứa đầy đậu vậy.” Sau đó, trưởng lão Mahāmoggallāna đi xuống khỏi nơi kinh hành, đi vào tịnh xá, và ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, trưởng lão Mahāmoggallāna đã tác ý như lý về tự thân. Trưởng lão Mahāmoggallāna đã thấy ác ma Māra đã đi vào bụng, đã chui vào trong ruột. Sau khi thấy, ngài đã nói với ác ma Māra điều này: “Hãy đi ra, kẻ ác kia! Hãy đi ra, kẻ ác kia! Đừng quấy nhiễu Như Lai, đừng quấy nhiễu đệ tử của Như Lai. Mong rằng ngươi sẽ không bị bất hạnh và đau khổ trong một thời gian dài.” Bấy giờ, ác ma Māra đã khởi lên suy nghĩ này: “Vị sa-môn này không biết, không thấy ta mà lại nói như vầy: ‘Hãy đi ra, kẻ ác kia! Hãy đi ra, kẻ ác kia! Đừng quấy nhiễu Như Lai, đừng quấy nhiễu đệ tử của Như Lai. Mong rằng ngươi sẽ không bị bất hạnh và đau khổ trong một thời gian dài.’ Ngay cả vị Đạo Sư của vị này cũng không thể nhanh chóng biết được ta, huống hồ gì vị đệ tử này có thể biết được ta?” Sau đó, trưởng lão Mahāmoggallāna đã nói với ác ma Māra điều này: “Này kẻ ác kia, ta biết ngươi như thế này đây, ngươi chớ có nghĩ rằng: ‘Vị ấy không biết ta.’ Này kẻ ác kia, ngươi là Māra. Này kẻ ác kia, ngươi đã có suy nghĩ như vầy: ‘Vị sa-môn này không biết, không thấy ta mà lại nói như vầy: ‘Hãy đi ra, kẻ ác kia! Hãy đi ra, kẻ ác kia! Đừng quấy nhiễu Như Lai, đừng quấy nhiễu đệ tử của Như Lai. Mong rằng ngươi sẽ không bị bất hạnh và đau khổ trong một thời gian dài.’ Ngay cả vị Đạo Sư của vị này cũng không thể nhanh chóng biết được ta, huống hồ gì vị đệ tử này có thể biết được ta?’”
Atha kho māro pāpimā āyasmato mahāmoggallānassa mukhato uggantvā paccaggaḷe aṭṭhāsi.
Then Māra came up out of Moggallāna’s mouth and stood against the door.
Bấy giờ, ác ma Māra đã khởi lên suy nghĩ này: “Vị sa-môn này biết, thấy ta mà lại nói như vầy: ‘Hãy đi ra, kẻ ác kia! Hãy đi ra, kẻ ác kia! Đừng quấy nhiễu Như Lai, đừng quấy nhiễu đệ tử của Như Lai. Mong rằng ngươi sẽ không bị bất hạnh và đau khổ trong một thời gian dài.’” Sau đó, ác ma Māra đã đi ra từ miệng của trưởng lão Mahāmoggallāna và đứng ở trên thanh ngang của cánh cửa.
Bhūtapubbāhaṁ, pāpima, dūsī nāma māro ahosiṁ, tassa me kāḷī nāma bhaginī. Tassā tvaṁ putto. So me tvaṁ bhāgineyyo ahosi.
Tena kho pana, pāpima, samayena kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke uppanno hoti. Kakusandhassa kho pana, pāpima, bhagavato arahato sammāsambuddhassa vidhurasañjīvaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Yāvatā kho pana, pāpima, kakusandhassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa sāvakā. Tesu na ca koci āyasmatā vidhurena samasamo hoti yadidaṁ dhammadesanāya.
Once upon a time, Wicked One, I was a Māra named Dūsī, and I had a sister named Kāḷī. You were her son, which made you my nephew.
At that time Kakusandha, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha arose in the world. Kakusandha had a fine pair of chief disciples named Vidhura and Sañjīva. Of all the disciples of the Buddha Kakusandha, none were the equal of Venerable Vidhura in teaching Dhamma.
507. Trưởng lão Mahāmoggallāna đã thấy ác ma Māra đang đứng ở trên thanh ngang của cánh cửa. Sau khi thấy, ngài đã nói với ác ma Māra điều này: “Này kẻ ác kia, ngay cả ở đây ta cũng thấy ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: ‘Vị ấy không thấy ta.’ Này kẻ ác kia, ngươi đang đứng đó, ở trên thanh ngang của cánh cửa. Này kẻ ác kia, vào thời quá khứ, ta đã từng là một Māra tên là Dūsī. Ta có một người em gái tên là Kāḷī. Ngươi là con trai của cô ấy. Do đó, ngươi là cháu trai của ta. Này kẻ ác kia, vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện ở thế gian. Này kẻ ác kia, đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có một cặp đệ tử tên là Vidhura và Sañjīva, là cặp đệ tử hàng đầu, cặp đệ tử tốt lành. Này kẻ ác kia, trong số tất cả các vị đệ tử của đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, không có một ai có thể sánh bằng trưởng lão Vidhura về phương diện thuyết pháp. Này kẻ ác kia, chính vì lý do này mà trưởng lão Vidhura đã có danh hiệu là ‘Vidhura.’”
Āyasmā pana, pāpima, sañjīvo araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi appakasireneva saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjati. Bhūtapubbaṁ, pāpima, āyasmā sañjīvo aññatarasmiṁ rukkhamūle saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno nisinno hoti. Addasaṁsu kho, pāpima, gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino āyasmantaṁ sañjīvaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle saññāvedayitanirodhaṁ samāpannaṁ nisinnaṁ; disvāna tesaṁ etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata, bho. Ayaṁ samaṇo nisinnakova kālaṅkato. Handa naṁ dahāmā’ti. Atha kho te, pāpima, gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino tiṇañca kaṭṭhañca gomayañca saṅkaḍḍhitvā āyasmato sañjīvassa kāye upacinitvā aggiṁ datvā pakkamiṁsu.
Atha kho, pāpima, āyasmā sañjīvo tassā rattiyā accayena tāya samāpattiyā vuṭṭhahitvā cīvarāni papphoṭetvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Addasaṁsu kho te, pāpima, gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino āyasmantaṁ sañjīvaṁ piṇḍāya carantaṁ; disvāna nesaṁ etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata, bho. Ayaṁ samaṇo nisinnakova kālaṅkato, svāyaṁ paṭisañjīvito’ti. Iminā kho evaṁ, pāpima, pariyāyena āyasmato sañjīvassa sañjīvoteva samaññā udapādi.
But when Venerable Sañjīva had gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, he easily attained the cessation of perception and feeling. Once upon a time, Sañjīva was sitting at the root of a certain tree having attained the cessation of perception and feeling. Some cowherds, shepherds, farmers, and passers-by saw him sitting there and said, ‘Oh lord, how incredible, how amazing! This ascetic passed away while seated. We should cremate him.’ They collected grass, wood, and cow-dung, heaped it all on Sañjīva’s body, set it on fire, and left.
Then, when the night had passed, Sañjīva emerged from that attainment, shook out his robes, and, since it was morning, he robed up and entered the village for alms. Those cowherds, shepherds, farmers, and passers-by saw him wandering for alms and said, ‘Oh lord, how incredible, how amazing! This ascetic passed away while seated, and now he has come back to life!’ And that’s how he came to be known as Sañjīva.
“Này kẻ ác kia, còn trưởng lão Sañjīva, dù đi đến khu rừng, dù đi đến gốc cây, hay dù đi đến ngôi nhà trống, ngài vẫn nhập vào Diệt Thọ Tưởng Định một cách không khó khăn. Này kẻ ác kia, vào thời quá khứ, trưởng lão Sañjīva đã ngồi nhập Diệt Thọ Tưởng Định ở dưới một gốc cây nọ. Này kẻ ác kia, những người chăn bò, những người chăn gia súc, những người nông dân, và những người đi đường đã thấy trưởng lão Sañjīva đang ngồi nhập Diệt Thọ Tưởng Định ở dưới một gốc cây nọ. Sau khi thấy, họ đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Thật là kỳ diệu, thưa quý vị! Thật là phi thường, thưa quý vị! Vị sa-môn này đã mệnh chung trong tư thế ngồi! Nào, chúng ta hãy hỏa thiêu vị ấy.’ Sau đó, này kẻ ác kia, những người chăn bò, những người chăn gia súc, những người nông dân, và những người đi đường ấy đã gom góp cỏ, củi, và phân bò, chất lên trên thân của trưởng lão Sañjīva, châm lửa rồi bỏ đi. Bấy giờ, này kẻ ác kia, sau khi đêm ấy đã trôi qua, trưởng lão Sañjīva đã xuất khỏi định ấy, giũ sạch y phục, vào buổi sáng, đắp y, mang theo bát và y, rồi đi vào làng để khất thực. Này kẻ ác kia, những người chăn bò, những người chăn gia súc, những người nông dân, và những người đi đường ấy đã thấy trưởng lão Sañjīva đang đi khất thực. Sau khi thấy, họ đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Thật là kỳ diệu, thưa quý vị! Thật là phi thường, thưa quý vị! Vị sa-môn này đã mệnh chung trong tư thế ngồi, và nay vị ấy đã sống lại.’ Này kẻ ác kia, chính vì lý do này mà trưởng lão Sañjīva đã có danh hiệu là ‘Sañjīva.’”
Atha kho, pāpima, dūsissa mārassa etadahosi: ‘imesaṁ kho ahaṁ bhikkhūnaṁ sīlavantānaṁ kalyāṇadhammānaṁ neva jānāmi āgatiṁ vā gatiṁ vā. Yannūnāhaṁ brāhmaṇagahapatike anvāviseyyaṁ—etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha. Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṁ paribhāsiyamānānaṁ rosiyamānānaṁ vihesiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti. Atha kho te, pāpima, dūsī māro brāhmaṇagahapatike anvāvisi: ‘etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha. Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṁ paribhāsiyamānānaṁ rosiyamānānaṁ vihesiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti.
Then it occurred to Māra Dūsī, ‘I don’t know the course of rebirth of these ethical mendicants of good character. Why don’t I take possession of these brahmins and householders and say, “Come, all of you, abuse, attack, harass, and trouble the ethical mendicants of good character. Hopefully by doing this we can upset their minds so that Māra Dūsī can find a vulnerability.”’ And that’s exactly what he did.
508. Này Ác ma, khi ấy, ác ma Dūsī đã khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Ta không biết được sự đến và sự đi của các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp này. Hay là ta nên ám nhập vào các vị bà-la-môn và gia chủ (và xúi giục rằng): ‘Này quý vị, hãy đến, hãy mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, nhiễu hại các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp. Rất có thể khi bị quý vị mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, nhiễu hại, tâm của họ sẽ bị biến đổi, và như thế ác ma Dūsī sẽ có được cơ hội.’ Này Ác ma, khi ấy, ác ma Dūsī đã ám nhập vào các vị bà-la-môn và gia chủ (và xúi giục rằng): ‘Này quý vị, hãy đến, hãy mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, nhiễu hại các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp. Rất có thể khi bị quý vị mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, nhiễu hại, tâm của họ sẽ bị biến đổi, và như thế ác ma Dūsī sẽ có được cơ hội.’
Atha kho te, pāpima, brāhmaṇagahapatikā anvāvisiṭṭhā dūsinā mārena bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti: ‘ime pana muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma ulūko rukkhasākhāyaṁ mūsikaṁ maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati; evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma kotthu nadītīre macche maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati; evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma biḷāro sandhisamalasaṅkaṭīre mūsikaṁ maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati; evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti. Seyyathāpi nāma gadrabho vahacchinno sandhisamalasaṅkaṭīre jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati; evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyantī’ti.
Then those brahmins and householders abused, attacked, harassed, and troubled the ethical mendicants of good character: ‘These shavelings, fake ascetics, primitives, black spawn from the feet of our kinsman, say, “We practice absorption meditation! We practice absorption meditation!” Shoulders drooping, downcast, and dopey, they meditate and concentrate and contemplate and ruminate. They’re just like an owl on a branch, which meditates and concentrates and contemplates and ruminates as it hunts a mouse. They’re just like a jackal on a river-bank, which meditates and concentrates and contemplates and ruminates as it hunts a fish. They’re just like a cat by an alley or a drain or a dustbin, which meditates and concentrates and contemplates and ruminates as it hunts a mouse. They’re just like an unladen donkey by an alley or a drain or a dustbin, which meditates and concentrates and contemplates and ruminates. In the same way, these shavelings, fake ascetics, primitives, black spawn from the feet of our kinsman, say, “We practice absorption meditation! We practice absorption meditation!” Shoulders drooping, downcast, and dopey, they meditate and concentrate and contemplate and ruminate.’
Này Ác ma, khi ấy, các vị bà-la-môn và gia chủ ấy, bị ác ma Dūsī ám nhập, đã mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, nhiễu hại các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp (rằng): ‘Những gã sa-môn trọc đầu này là hạng hạ tiện, đen đủi, sinh ra từ bàn chân của Phạm Thiên, (tự cho rằng): “Chúng ta là những người hành thiền, chúng ta là những người hành thiền,” rồi thì vai rũ, mặt cúi, uể oải, họ ngồi trầm tư, suy tư, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm. Ví như con cú mèo trên cành cây, đang rình bắt chuột, nó ngồi trầm tư, suy tư, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm; cũng vậy, những gã sa-môn trọc đầu này là hạng hạ tiện, đen đủi, sinh ra từ bàn chân của Phạm Thiên, (tự cho rằng): “Chúng ta là những người hành thiền, chúng ta là những người hành thiền,” rồi thì vai rũ, mặt cúi, uể oải, họ ngồi trầm tư, suy tư, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm. Ví như con chó rừng bên bờ sông, đang rình bắt cá, nó ngồi trầm tư, suy tư, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm; cũng vậy, những gã sa-môn trọc đầu này ... họ ngồi trầm tư, suy tư, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm. Ví như con mèo ở chỗ giao nhau giữa các bức tường, nơi cống rãnh, đống rác, đang rình bắt chuột, nó ngồi trầm tư, suy tư, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm; cũng vậy, những gã sa-môn trọc đầu này ... họ ngồi trầm tư, suy tư, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm. Ví như con lừa bị gãy lưng, ở chỗ giao nhau giữa các bức tường, nơi cống rãnh, đống rác, nó ngồi trầm tư, suy tư, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm; cũng vậy, những gã sa-môn trọc đầu này là hạng hạ tiện, đen đủi, sinh ra từ bàn chân của Phạm Thiên, (tự cho rằng): “Chúng ta là những người hành thiền, chúng ta là những người hành thiền,” rồi thì vai rũ, mặt cúi, uể oải, họ ngồi trầm tư, suy tư, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm.’”
Ye kho pana, pāpima, tena samayena manussā kālaṁ karonti yebhuyyena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti.
Most of the people who died at that time—when their body broke up, after death—were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
Này Ác ma, vào lúc ấy, những người nào qua đời, phần lớn sau khi thân hoại mạng chung, đều sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhikkhū āmantesi: ‘anvāviṭṭhā kho, bhikkhave, brāhmaṇagahapatikā dūsinā mārena—etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha, appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṁ paribhāsiyamānānaṁ rosiyamānānaṁ vihesiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti. Etha, tumhe, bhikkhave, mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharatha. Karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharathā’ti.
Then Kakusandha the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha, addressed the mendicants: ‘Mendicants, the brahmins and householders have been possessed by Māra Dūsī. He told them to abuse you in the hope of upsetting your minds so that he can find a vulnerability. Come, all of you mendicants, meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Meditate spreading a heart full of compassion … Meditate spreading a heart full of rejoicing … Meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.’
509. Này Ác ma, khi ấy, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã gọi các vị tỳ khưu và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, các vị bà-la-môn và gia chủ đã bị ác ma Dūsī ám nhập (và xúi giục rằng): ‘Này quý vị, hãy đến, hãy mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, nhiễu hại các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp. Rất có thể khi bị quý vị mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, nhiễu hại, tâm của họ sẽ bị biến đổi, và như thế ác ma Dūsī sẽ có được cơ hội.’ Này các tỳ khưu, hãy đến, các con hãy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, các con hãy an trú, biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với bi... v.v... với tâm câu hữu với hỷ... v.v... với tâm câu hữu với xả, các con hãy an trú, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, các con hãy an trú, biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân.’
Atha kho te, pāpima, bhikkhū kakusandhena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena evaṁ ovadiyamānā evaṁ anusāsiyamānā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu. Karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu.
When those mendicants were instructed and advised by the Buddha Kakusandha in this way, they went to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, where they meditated spreading a heart full of love … compassion … rejoicing … equanimity.
Này Ác ma, khi ấy, các vị tỳ khưu ấy, được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giáo giới và chỉ dạy như vậy, dù đi đến khu rừng, dù đi đến gốc cây, dù đi đến ngôi nhà trống, đã an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, các vị ấy đã an trú, biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với bi... v.v... với tâm câu hữu với hỷ... v.v... với tâm câu hữu với xả, các vị ấy đã an trú, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, các vị ấy đã an trú, biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân.
Atha kho, pāpima, dūsissa mārassa etadahosi: ‘evampi kho ahaṁ karonto imesaṁ bhikkhūnaṁ sīlavantānaṁ kalyāṇadhammānaṁ neva jānāmi āgatiṁ vā gatiṁ vā, yannūnāhaṁ brāhmaṇagahapatike anvāviseyyaṁ: “etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha, appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṁ garukariyamānānaṁ māniyamānānaṁ pūjiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran”’ti.
Atha kho te, pāpima, dūsī māro brāhmaṇagahapatike anvāvisi: ‘etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha, appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṁ garukariyamānānaṁ māniyamānānaṁ pūjiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti. Atha kho te, pāpima, brāhmaṇagahapatikā anvāviṭṭhā dūsinā mārena bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti.
Then it occurred to Māra Dūsī, ‘Even when I do this I don’t know the course of rebirth of these ethical mendicants of good character. Why don’t I take possession of these brahmins and householders and say, “Come, all of you, honor, respect, esteem, and venerate the ethical mendicants of good character. Hopefully by doing this we can upset their minds so that Māra Dūsī can find a vulnerability.”’
And that’s exactly what he did. Then those brahmins and householders honored, respected, esteemed, and venerated the ethical mendicants of good character.
510. Này Ác ma, bấy giờ ác ma Dūsī khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Dù ta đã làm như thế này, ta vẫn không biết được sự đến hay sự đi của các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp này. Hay là ta nên ám nhập vào các người Bà-la-môn và gia chủ (và xúi giục rằng): ‘Này quý vị, hãy đến, hãy tôn trọng, cung kính, quý mến, cúng dường các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp. Rất có thể là trong khi được quý vị tôn trọng, cung kính, quý mến, cúng dường, tâm của các vị ấy sẽ có sự thay đổi khác đi, nhờ đó mà ác ma Dūsī này có thể tìm được cơ hội.’ Này Ác ma, sau đó ác ma Dūsī đã ám nhập vào các người Bà-la-môn và gia chủ (và xúi giục rằng): ‘Này quý vị, hãy đến, hãy tôn trọng, cung kính, quý mến, cúng dường các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp. Rất có thể là trong khi được quý vị tôn trọng, cung kính, quý mến, cúng dường, tâm của các vị ấy sẽ có sự thay đổi khác đi, nhờ đó mà ác ma Dūsī này có thể tìm được cơ hội.’ Này Ác ma, sau đó, các người Bà-la-môn và gia chủ ấy, bị ác ma Dūsī ám nhập, đã tôn trọng, cung kính, quý mến, cúng dường các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp.
Ye kho pana, pāpima, tena samayena manussā kālaṁ karonti yebhuyyena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Most of the people who died at that time—when their body broke up, after death—were reborn in a good place, a heavenly realm.
Này Ác ma, vào lúc bấy giờ, những người nào qua đời thì phần lớn, sau khi thân hoại mạng chung, đều được sanh vào thiện thú, thiên giới.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhikkhū āmantesi: ‘anvāviṭṭhā kho, bhikkhave, brāhmaṇagahapatikā dūsinā mārena: “etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha, appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṁ garukariyamānānaṁ māniyamānānaṁ pūjiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran”ti. Etha, tumhe, bhikkhave, asubhānupassino kāye viharatha, āhāre paṭikūlasaññino, sabbaloke anabhiratisaññino, sabbasaṅkhāresu aniccānupassino’ti.
Then Kakusandha the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha, addressed the mendicants: ‘Mendicants, the brahmins and householders have been possessed by Māra Dūsī. He told them to venerate you in the hope of upsetting your minds so that he can find a vulnerability. Come, all you mendicants, meditate observing the ugliness of the body, perceiving the repulsiveness of food, perceiving dissatisfaction with the whole world, and observing the impermanence of all conditions.’
511. Này Ác ma, bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, gọi các vị tỳ khưu và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, các người Bà-la-môn và gia chủ đã bị ác ma Dūsī ám nhập (và xúi giục rằng): ‘Này quý vị, hãy đến, hãy tôn trọng, cung kính, quý mến, cúng dường các vị tỳ khưu có giới hạnh, có thiện pháp. Rất có thể là trong khi được quý vị tôn trọng, cung kính, quý mến, cúng dường, tâm của các vị ấy sẽ có sự thay đổi khác đi, nhờ đó mà ác ma Dūsī này có thể tìm được cơ hội.’ Này các tỳ khưu, hãy đến, các con hãy sống bằng cách quán sự bất tịnh ở trong thân, với tưởng về sự ghê tởm trong vật thực, với tưởng về sự không hoan hỷ trong tất cả thế gian, bằng cách quán vô thường trong tất cả các pháp hữu vi.
Atha kho te, pāpima, bhikkhū kakusandhena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena evaṁ ovadiyamānā evaṁ anusāsiyamānā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi asubhānupassino kāye vihariṁsu, āhāre paṭikūlasaññino, sabbaloke anabhiratisaññino, sabbasaṅkhāresu aniccānupassino.
When those mendicants were instructed and advised by the Buddha Kakusandha in this way, they went to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, where they meditated observing the ugliness of the body, perceiving the repulsiveness of food, perceiving dissatisfaction with the whole world, and observing the impermanence of all conditions.
Này Ác ma, sau đó, các vị tỳ khưu ấy, được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giáo giới và chỉ dạy như vậy, dù đi đến khu rừng, dù đi đến gốc cây, dù đi đến ngôi nhà trống, đã sống bằng cách quán sự bất tịnh ở trong thân, với tưởng về sự ghê tởm trong vật thực, với tưởng về sự không hoan hỷ trong tất cả thế gian, bằng cách quán vô thường trong tất cả các pháp hữu vi.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā vidhurena pacchāsamaṇena gāmaṁ piṇḍāya pāvisi.
Atha kho, pāpima, dūsī māro aññataraṁ kumārakaṁ anvāvisitvā sakkharaṁ gahetvā āyasmato vidhurassa sīse pahāramadāsi; sīsaṁ vobhindi. Atha kho, pāpima, āyasmā vidhuro bhinnena sīsena lohitena gaḷantena kakusandhaṁyeva bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi. Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nāgāpalokitaṁ apalokesi: ‘na vāyaṁ dūsī māro mattamaññāsī’ti. Sahāpalokanāya ca pana, pāpima, dūsī māro tamhā ca ṭhānā cavi mahānirayañca upapajji.
Then the Buddha Kakusandha robed up in the morning and, taking this bowl and robe, entered the village for alms with Venerable Vidhura as his second monk.
Then Māra Dūsī took possession of a certain boy, picked up a rock, and hit Vidhura on the head, cracking it open. Then Vidhura, with blood pouring from his cracked skull, still followed behind the Buddha Kakusandha. Then the Buddha Kakusandha turned to gaze back, the way that elephants do, saying, ‘This Māra Dūsī knows no limit.’ And as he was gazing, Māra Dūsī fell from that place and was reborn in the Great Hell.
512. Này Ác ma, bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, vào buổi sáng, sau khi đã đắp y, mang theo y bát, với Tôn giả Vidhura làm thị giả đi theo sau, đã đi vào làng để khất thực. Này Ác ma, khi ấy, ác ma Dūsī ám nhập vào một cậu bé, lấy một mảnh sành, đã ném vào đầu của Tôn giả Vidhura; đầu đã bị vỡ. Này Ác ma, sau đó, Tôn giả Vidhura với cái đầu bị vỡ, máu đang chảy, đã đi theo ngay phía sau Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này Ác ma, bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã ngoái lại nhìn bằng cái nhìn của loài voi chúa (và nghĩ rằng): ‘Ác ma Dūsī này không biết chừng mực.’ Này Ác ma, ngay khi Ngài vừa ngoái lại nhìn, ác ma Dūsī đã rơi khỏi trú xứ ấy và sanh vào đại địa ngục.
Tassa kho pana, pāpima, mahānirayassa tayo nāmadheyyā honti—chaphassāyataniko itipi, saṅkusamāhato itipi, paccattavedaniyo itipi. Atha kho maṁ, pāpima, nirayapālā upasaṅkamitvā etadavocuṁ: ‘yadā kho te, mārisa, saṅkunā saṅku hadaye samāgaccheyya. Atha naṁ tvaṁ jāneyyāsi: “vassasahassaṁ me niraye paccamānassā”’ti.
So kho ahaṁ, pāpima, bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni tasmiṁ mahāniraye apacciṁ. Dasavassasahassāni tasseva mahānirayassa ussade apacciṁ vuṭṭhānimaṁ nāma vedanaṁ vediyamāno. Tassa mayhaṁ, pāpima, evarūpo kāyo hoti, seyyathāpi manussassa. Evarūpaṁ sīsaṁ hoti, seyyathāpi macchassa.
Now that Great Hell is known by three names: ‘Related to the Six Fields of Contact’ and also ‘The Impaling With Spikes’ and also ‘Uniquely Painful’. Then the wardens of hell came to me and said, ‘When spike meets spike in your heart, you will know that you’ve been roasting in hell for a thousand years.’
I roasted for many years, many centuries, many millennia in that Great Hell. For ten thousand years I roasted in the annex of that Great Hell, experiencing the pain called ‘this is emergence’. My body was in human form, but I had the head of a fish.
Này Ác ma, đại địa ngục ấy có ba tên gọi: Lục Xúc Xứ, Bị Đóng Cọc Sắt, và Tự Thân Cảm Thọ. Này Ác ma, bấy giờ, các người cai ngục đến gần ta và nói điều này: ‘Này bạn, khi nào cọc sắt này gặp cọc sắt kia ở trong tim của bạn, khi ấy bạn nên biết rằng: ‘Ta đã bị nấu trong địa ngục được một ngàn năm.’ Này Ác ma, ta đã bị nấu trong đại địa ngục ấy trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm. Trong mười ngàn năm, ta đã bị nấu ở địa ngục phụ của đại địa ngục ấy, trong khi đang cảm nhận cảm thọ được gọi là sự trồi lên. Này Ác ma, thân của ta có hình dạng giống như của người, và đầu của ta có hình dạng giống như của loài cá.
Kīdiso nirayo āsi, yattha dūsī apaccatha; Vidhuraṁ sāvakamāsajja, kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
What kind of hell was that, where Dūsī was roasted after attacking the disciple Vidhura along with the brahmin Kakusandha?
Địa ngục ấy như thế nào, nơi mà Dūsī đã bị nấu; Vì đã xúc phạm đến vị Thinh văn Vidhura, và vị Bà-la-môn Kakusandha.
Sataṁ āsi ayosaṅkū, sabbe paccattavedanā; Īdiso nirayo āsi, yattha dūsī apaccatha; Vidhuraṁ sāvakamāsajja, kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
There were 100 iron spikes, each one uniquely painful. That’s the kind of hell where Dūsī was roasted after attacking the disciple Vidhura along with the brahmin Kakusandha.
Có một trăm cọc sắt, tất cả đều là tự thân cảm thọ; Địa ngục là như thế ấy, nơi mà Dūsī đã bị nấu; Vì đã xúc phạm đến vị Thinh văn Vidhura, và vị Bà-la-môn Kakusandha.
Yo etamabhijānāti, bhikkhu buddhassa sāvako; Tādisaṁ bhikkhumāsajja, kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Dark One, if you attack a mendicant who directly knows this, a disciple of the Buddha, you’ll fall into suffering.
Vị tỳ khưu nào, là Thinh văn của Đức Phật, người biết rõ về điều này; Này Kanhā, do xúc phạm đến vị tỳ khưu như thế, ngươi sẽ đi đến khổ đau.
Majjhe sarassa tiṭṭhanti, vimānā kappaṭṭhāyino; Veḷuriyavaṇṇā rucirā, accimanto pabhassarā; Accharā tattha naccanti, puthu nānattavaṇṇiyo.
There are mansions that last an eon standing in the middle of a lake. Sapphire-colored, brilliant, they sparkle and shine. Dancing there are nymphs shining in all different colors.
Ở giữa đại dương có các lâu đài, tồn tại suốt một kiếp; Có màu sắc của ngọc lưu ly, rực rỡ, chói sáng, quang minh; Ở nơi ấy, các tiên nữ có nhiều màu da khác nhau đang nhảy múa.
Yo etamabhijānāti, bhikkhu buddhassa sāvako; Tādisaṁ bhikkhumāsajja, kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Dark One, if you attack a mendicant who directly knows this, a disciple of the Buddha, you’ll fall into suffering.
Vị tỳ khưu nào, là Thinh văn của Đức Phật, người biết rõ về điều này; Này Kanhā, do xúc phạm đến vị tỳ khưu như thế, ngươi sẽ đi đến khổ đau.
Yo ve buddhena codito, bhikkhu saṅghassa pekkhato; Migāramātupāsādaṁ, pādaṅguṭṭhena kampayi.
I’m the one who, urged by the Buddha, shook the stilt longhouse of Migāra’s mother with his big toe as the Saṅgha of mendicants watched.
Vị tỳ khưu nào, được Đức Phật thúc giục, trong khi Tăng chúng đang nhìn; Đã làm rung chuyển giảng đường của mẹ ông Migāra, bằng ngón chân cái.
Yo etamabhijānāti, bhikkhu buddhassa sāvako; Tādisaṁ bhikkhumāsajja, kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Dark One, if you attack a mendicant who directly knows this, a disciple of the Buddha, you’ll fall into suffering.
Vị tỳ khưu nào, là Thinh văn của Đức Phật, người biết rõ về điều này; Này Kanhā, do xúc phạm đến vị tỳ khưu như thế, ngươi sẽ đi đến khổ đau.
Yo vejayantaṁ pāsādaṁ, pādaṅguṭṭhena kampayi; Iddhibalenupatthaddho, saṁvejesi ca devatā.
I’m the one who shook the Palace of Victory with his big toe owing to psychic power, inspiring deities to awe.
Vị nào đã làm rung chuyển cung điện Vejayanta, bằng ngón chân cái; Được nâng đỡ bởi năng lực thần thông, và đã làm cho các vị trời kinh động.
Yo etamabhijānāti, bhikkhu buddhassa sāvako; Tādisaṁ bhikkhumāsajja, kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Dark One, if you attack a mendicant who directly knows this, a disciple of the Buddha, you’ll fall into suffering.
Vị tỳ khưu nào, là Thinh văn của Đức Phật, người biết rõ về điều này; Này Kanhā, do xúc phạm đến vị tỳ khưu như thế, ngươi sẽ đi đến khổ đau.
Yo vejayantapāsāde, sakkaṁ so paripucchati; Api vāsava jānāsi, taṇhākkhayavimuttiyo; Tassa sakko viyākāsi, pañhaṁ puṭṭho yathātathaṁ.
I’m the one who asked Sakka in the Palace of Victory: ‘Vāsava, I hope you recall the one who is freed <j>through the ending of craving?’ And I’m the one to whom Sakka admitted the truth when asked.
“Vị ấy đã hỏi trời Sakka tại cung điện Vejayanta: ‘Này Vāsava, ngài có biết sự giải thoát do đoạn tận ái dục không?’ Được hỏi vấn đề, trời Sakka đã trả lời cho vị ấy đúng như thật.”
Yo etamabhijānāti, bhikkhu buddhassa sāvako; Tādisaṁ bhikkhumāsajja, kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Dark One, if you attack a mendicant who directly knows this, a disciple of the Buddha, you’ll fall into suffering.
“Vị tỳ khưu nào, đệ tử của đức Phật, biết rõ điều này, do xúc phạm vị tỳ khưu như vậy, này Kaṇha, ngươi sẽ gánh chịu khổ đau.”
Yo brahmaṁ paripucchati, sudhammāyābhito sabhaṁ; Ajjāpi tyāvuso diṭṭhi, yā te diṭṭhi pure ahu; Passasi vītivattantaṁ, brahmaloke pabhassaraṁ.
I’m the one who asked the Divinity in the Hall of Clear Right before the assembly: ‘Respectable sir, do you still have the same view that you had in the past? Or do you see the radiance surpassing the realm of divinity?’
“Vị nào đã hỏi Phạm thiên, ở gần hội trường Sudhammā: ‘Này hiền hữu, tà kiến mà ngài đã có trước kia, ngày nay vẫn còn chăng? Ngài có thấy ánh sáng rực rỡ vượt trội ở cõi Phạm thiên không?’”
Tassa brahmā viyākāsi, anupubbaṁ yathātathaṁ; Na me mārisa sā diṭṭhi, yā me diṭṭhi pure ahu.
And I’m the one to whom the Divinity truthfully admitted his progress: ‘Good fellow, I don’t have that view that I had in the past.
“Phạm thiên đã trả lời cho vị ấy tuần tự, đúng như thật: ‘Thưa ngài, tà kiến mà tôi đã có trước kia, nay không còn nữa.’”
Passāmi vītivattantaṁ, brahmaloke pabhassaraṁ; Sohaṁ ajja kathaṁ vajjaṁ, ahaṁ niccomhi sassato.
I see the radiance surpassing the realm of divinity. So how could I say today that I am permanent and eternal?’
“‘Tôi thấy ánh sáng rực rỡ vượt trội ở cõi Phạm thiên. Tôi ấy, ngày nay làm sao có thể nói rằng: “Tôi là thường, là hằng”?’”
Yo etamabhijānāti, bhikkhu buddhassa sāvako; Tādisaṁ bhikkhumāsajja, kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Dark One, if you attack a mendicant who directly knows this, a disciple of the Buddha, you’ll fall into suffering.
“Vị tỳ khưu nào, đệ tử của đức Phật, biết rõ điều này, do xúc phạm vị tỳ khưu như vậy, này Kaṇha, ngươi sẽ gánh chịu khổ đau.”
Yo mahāmeruno kūṭaṁ, vimokkhena aphassayi; Vanaṁ pubbavidehānaṁ, ye ca bhūmisayā narā.
I’m the one who touched the peak of Mount Meru using the power of meditative liberation. I’ve visited the forests of the people who dwell in the land east of Videha.
“Vị nào đã tiếp xúc bằng sự giải thoát với đỉnh núi Meru vĩ đại, với rừng của người Pubbavideha, và với những người nằm trên đất.”
Yo etamabhijānāti, bhikkhu buddhassa sāvako; Tādisaṁ bhikkhumāsajja, kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Dark One, if you attack a mendicant who directly knows this, a disciple of the Buddha, you’ll fall into suffering.
“Vị tỳ khưu nào, đệ tử của đức Phật, biết rõ điều này, do xúc phạm vị tỳ khưu như vậy, này Kaṇha, ngươi sẽ gánh chịu khổ đau.”
Na ve aggi cetayati, ‘ahaṁ bālaṁ ḍahāmī’ti; Bālo ca jalitaṁ aggiṁ, āsajja naṁ sa ḍayhati.
Though a fire doesn’t think, ‘I’ll burn the fool!’ Still the fool who attacks the fire gets burnt.
“Lửa thật không có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đốt kẻ ngu.’ Chính kẻ ngu, do xúc chạm vào lửa đang cháy, nên nó bị đốt cháy.”
Evameva tuvaṁ māra, āsajja naṁ tathāgataṁ; Sayaṁ ḍahissasi attānaṁ, bālo aggiṁva samphusaṁ.
In the same way, Māra, in attacking the Realized One, you’ll only burn yourself, like a fool touching the flames.
“Cũng vậy, này Māra, do xúc phạm đấng Như Lai, ngươi sẽ tự đốt cháy chính mình, giống như kẻ ngu xúc chạm vào lửa.”
Apuññaṁ pasavī māro, āsajja naṁ tathāgataṁ; Kiṁ nu maññasi pāpima, na me pāpaṁ vipaccati.
Māra’s done a bad thing in attacking the Realized One. Wicked One, do you imagine that your wickedness won’t bear fruit?
“Māra đã tạo ra điều bất thiện do xúc phạm đấng Như Lai. Này Ác ma, ngươi nghĩ sao, rằng: ‘Điều ác của ta sẽ không trổ quả’?”
Karoto cīyati pāpaṁ, cirarattāya antaka; Māra nibbinda buddhamhā, āsaṁ mākāsi bhikkhusu.
Your deeds heap up wickedness that will last a long time, terminator! Give up on the Buddha, Māra! And hold no hope for the mendicants!”
“Này Kẻ chấm dứt, điều ác được tích lũy cho người đang làm trong thời gian dài. Này Māra, hãy từ bỏ ý định đối với đức Phật, đừng có mong muốn (hãm hại) các vị tỳ khưu.”
Iti māraṁ atajjesi, bhikkhu bhesakaḷāvane; Tato so dummano yakkho, tatthevantaradhāyathā”ti.
That is how, in the Bhesekaḷā grove, the mendicant warned Māra. That spirit, downcast, disappeared right there.
“Như vậy, vị tỳ khưu đã khiển trách Māra tại khu rừng Bhesakaḷā. Do đó, dạ xoa ấy buồn rầu và đã biến mất ngay tại nơi ấy.”
Māratajjanīyasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Khiển Trách Māra, thứ mười, đã chấm dứt.
Cūḷayamakavaggo niṭṭhito pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Tiểu Song, thứ năm, đã chấm dứt.
Sāleyya verañjaduve ca tuṭṭhi, Cūḷamahādhammasamādānañca; Vīmaṁsakā kosambi ca brāhmaṇo, Dūsī ca māro dasamo ca vaggo.
Kinh Sāleyyaka, kinh Verañjaka, hai kinh Vedalla, kinh Cūḷa và Mahā Dhammasamādāna, kinh Vīmaṃsaka, kinh Kosambiya, kinh Brāhmaṇa, và kinh Dūsī Māra là mười kinh, và đây là phẩm.
Idaṁ vaggānamuddānaṁ
Đây là phần tóm lược của các phẩm:
Mūlapariyāyo ceva, sīhanādo ca uttamo; Kakaco ceva gosiṅgo, sāleyyo ca ime pañca.
Phẩm Mūlapariyāya, và phẩm Sīhanāda cao thượng; phẩm Kakaca, và phẩm Gosiṅga; và phẩm Sāleyyaka, đây là năm phẩm.
Mūlapaṇṇāsakaṁ samattaṁ.
Năm Mươi Kinh Căn Bản đã hoàn tất.