- Majjhima Nikāya 5
Anaṅgaṇasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Anaṅgaṇasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở tại đây, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo. “Chư Hiền Tỷ-kheo”.:” Thưa Hiền giả”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau
SC 2—Này chư Hiền, ở đời có bốn hạng người. Thế nào là bốn? Chư Hiền, ở đây, có hạng người có cấu uế, nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Lại nữa chư Hiền, ở đây, có hạng người có cấu uế, và như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Lại nữa chư Hiền, ở đây có hạng người không có cấu uế, nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Lại nữa, chư Hiền, ở đây, có hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”.
SC 3Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Trong hai hạng người có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt. Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Trong hai hạng người có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng.
SC 4Chư Hiền, ở đây, có hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Trong hai hạng người không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt. Chư Hiền, ở đây, hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Trong hai hạng người không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng.
SC 5Ðược nói như vậy, Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên) nói với Tôn giả Sāriputta như sau
SC 6—Tôn giả Sāriputta, do nhân gì, do duyên gì, trong hai hạng người có cấu uế này, một hạng người được gọi là hạ liệt, một hạng người được gọi là ưu thắng? Tôn giả Sāriputta, do nhân gì, do duyên gì trong hai hạng người không có cấu uế này, một hạng người được gọi là hạ liệt, một hạng người được gọi là ưu thắng?
SC 7—Ở đây, Hiền giả, hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ không khởi lên ước muốn, sẽ không cố gắng, sẽ không tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn ô nhiễm”. Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, phủ đầy bụi bặm, và người chủ cái bát ấy không dùng đến, không lau chùi và quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian càng ô nhiễm hơn, càng đầy bụi bặm hơn.
SC 8—Này Hiền giả, sự thật là vậy.
SC 9—Này Hiền giả, như vậy hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ không khởi lên ước muốn, sẽ không cố gắng, sẽ không tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn nhiễm”.
SC 10Ở đây, này Hiền giả, hạng người có cấu uế, và như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi không còn tham, không còn sân, không còn si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm”. Này Hiền giả, giống như cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, phủ đầy bụi bặm, và người chủ cái bát ấy dùng đến, lau chùi và không quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian được thanh tịnh hơn, được sạch sẽ hơn.
SC 11—Này Hiền giả, sự thật là vậy.
SC 12—Này Hiền giả, như vậy hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta có cấu uế”. Với hạng người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ tinh tấn, để diệt trừ cấu uế ấy. Người này sẽ từ trần, trong khi không còn tham, không còn sân, không còn si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm”.
SC 13Ở đây, này Hiền giả, hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ tư niệm tịnh tướng. Do tư niệm tịnh tướng, tham sẽ làm ô nhiễm tâm của người này. Người này sẽ từ trần, trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn ô nhiễm”. Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, thanh tịnh và sạch sẽ. Và người chủ cái bát ấy không dùng đến, không lau chùi và quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian, càng ô nhiễm hơn, càng bụi bặm hơn.
SC 14—Này Hiền giả, sự thật là vậy.
SC 15—Này Hiền giả, như vậy hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này có thể chờ đợi sau: “Người này sẽ tư niệm tịnh tướng. Do tư niệm tịnh tướng, tham sẽ làm ô nhiễm tâm của người này. Người này sẽ từ trần trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn ô nhiễm”.
SC 16Ở đây, này Hiền giả, hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ không tư niệm tịnh tướng. Do không tư niệm tịnh tướng, tham sẽ không làm ô nhiễm tâm của người này. Người này sẽ từ trần, trong khi không có tham, không có sân, không có si, trong khi không còn cấu uế, trong khi tâm không còn ô nhiễm”. Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, thanh tịnh và sạch sẽ và người chủ cái bát ấy dùng đến, lau chùi và không quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian, càng được thanh tịnh hơn, càng được sạch sẽ hơn.
SC 17—Này Hiền giả, sự thật là vậy.
SC 18—Này Hiền giả, như vậy hạng người không có cấu uế, và như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ không tư niệm tịnh tướng. Do không tư niệm tịnh tướng, tham sẽ không làm ô nhiễm tâm người này. Người này sẽ từ trần, không có tham, không có sân, không có si, không còn cấu uế, tâm không còn ô nhiễm”.
SC 19Này Hiền giả Moggallāna, do nhân này, do duyên này, trong hai người có cấu uế này, một người được gọi là hạ liệt, một người được gọi là ưu thắng. Này Hiền giả Moggallāna, do nhân này, do duyên này, trong hai người không có cấu uế này, một người được gọi là hạ liệt, một người được gọi là ưu thắng.
SC 20—Này Hiền giả, cấu uế gọi là cấu uế, danh từ gì là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế?
SC 21—Này Hiền giả, các ác bất thiện pháp, cảnh giới của dục là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế.
SC 22Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Nếu ta có phạm giới tội, mong rằng các Tỷ-kheo chớ có biết về ta rằng là đã phạm giới tội”. Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo có thể biết được các Tỷ-kheo ấy đã phạm giới tội. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Tỷ-kheo đã biết được ta đã phạm giới tội”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 23Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Nếu ta có phạm giới tội, mong rằng các Tỷ-kheo hãy quở trách ta ở chỗ kín đáo, không phải ở giữa Tăng chúng”. Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo quở trách Tỷ-kheo ấy ở giữa Tăng chúng, không phải ở chỗ kín đáo. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Tỷ-kheo quở trách ta ở giữa Tăng chúng, không phải ở chỗ kín đáo”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ, và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 24Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Nếu ta có phạm giới tội, mong rằng một Tỷ-kheo đồng đẳng hãy quở trách ta, chớ không phải một vị không đồng đẳng”. Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo không đồng đẳng quở trách Tỷ-kheo ấy, không phải một Tỷ-kheo đồng đẳng. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo không đồng đẳng quở trách ta, không phải một Tỷ-kheo đồng đẳng”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 25Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng bậc Ðạo Sư hãy hỏi ta nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo! Mong rằng bậc Ðạo Sư không hỏi Tỷ-kheo khác nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo!”. Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: bậc Ðạo Sư hỏi một Tỷ-kheo khác nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư không hỏi Tỷ-kheo ấy nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Bậc Ðạo Sư hỏi một Tỷ-kheo khác nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo. Bậc Ðạo Sư không hỏi ta nhiều lần trong khi giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 26Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng các Tỷ-kheo hãy để ta đi trước trong khi vào làng để dùng cơm! Mong rằng các Tỷ-kheo không để một Tỷ-kheo khác đi trước trong khi vào làng để dùng cơm!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo để một Tỷ-kheo khác đi trước trong khi vào làng để dùng cơm, các Tỷ-kheo không để Tỷ-kheo ấy đi trước trong khi vào làng để dùng cơm. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Tỷ-kheo để một Tỷ-kheo khác đi trước trong khi vào làng để dùng cơm, các Tỷ-kheo không để ta đi trước trong khi vào làng để dùng cơm”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 27Này Hiền giả, sự tình xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng tại chỗ ăn, ta được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất! Mong rằng Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất; còn Tỷ-kheo ấy tại chỗ ăn không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất. Tại chỗ ăn, ta không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 28Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng tại chỗ ăn sau khi ăn xong, ta sẽ thuyết tùy hỷ pháp, không phải Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, sẽ thuyết tùy hỷ pháp!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, thuyết tùy hỷ pháp; Tỷ-kheo ấy tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, không thuyết tùy hỷ pháp. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, thuyết tùy hỷ pháp. Ta tại chỗ ăn, sau khi ăn xong, không thuyết tùy hỷ pháp”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 29Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng, ta sẽ thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá, chớ không phải một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá; còn Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá, còn ta không thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 30Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng, ta sẽ thuyết pháp cho các Tỷ-kheo-ni tụ tập tại ngôi tịnh xá, … (như trên) … ta sẽ thuyết pháp cho các Nam cư sĩ … ta sẽ thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá, chớ không phải một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá; còn Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá; còn ta không thuyết pháp cho các Nữ cư sĩ tụ tập tại ngôi tịnh xá”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 31Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta; các vị Tỷ-kheo chớ có cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường một Tỷ-kheo khác!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng lễ bái, cũng dường một Tỷ-kheo khác, các Tỷ-kheo không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường một Tỷ-kheo khác chớ không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 32Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng các Tỷ-kheo-ni … (như trên) … các Nam cư sĩ … (như trên) … các Nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta. Các Nữ cư sĩ không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường một Tỷ-kheo khác!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: các Nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường một Tỷ-kheo khác, các Nữ cư sĩ không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Các Nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường một Tỷ-kheo khác; các Nữ cư sĩ không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 33Này Hiền giả, sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng ta nhận được các y phục tối thắng, Tỷ-kheo khác không nhận được các y phục tối thắng!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác nhận được các y phục tối thắng, Tỷ-kheo ấy không nhận được các y phục tối thắng. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác nhận được các y phục tối thắng; ta không nhận được các y phục tối thắng”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 34Này Hiền giả sự tình này xảy ra, ở đây, một Tỷ-kheo có thể khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng ta nhận được các đồ ăn khất thực tối thắng … (như trên) … các sàng tọa tối thắng, các dược phẩm trị bịnh tối thắng. Tỷ-kheo khác không nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng!” Này Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra: một Tỷ-kheo khác nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng, còn Tỷ-kheo ấy không nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng”. Tỷ-kheo này nghĩ rằng: “Một Tỷ-kheo khác nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng; còn ta không nhận được các dược phẩm trị bịnh tối thắng”. Do đó, vị này trở thành phẫn nộ và bất mãn. Này Hiền giả, phẫn nộ và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế.
SC 35Này Hiền giả, các ác bất thiện pháp, cảnh giới của dục này là đồng nghĩa cái gọi là cấu uế.
SC 36Này Hiền giả, đối với Tỷ-kheo nào, các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này còn được thấy và nghe là chưa được diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy là vị sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng, sống hạnh khất thực, thứ lớp khất thực từng nhà một, theo hạnh mang phấn tảo y, mặc y phục thô xấu, thời các đồng phạm hạnh không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này còn được thấy và còn được nghe các ác, bất thiện pháp, cảnh giới dục của Tỷ-kheo chưa được diệt trừ.
SC 37Này Hiền giả, ví như một bát bằng đồng, mang từ chợ về hay từ nhà người thợ rèn về, bát ấy thanh tịnh, sạch sẽ. Nhưng người chủ của bát ấy đựng đầy bát với xác rắn, xác chó hay xác người, đậy lại với một cái bát đồng khác rồi mang về hàng chợ lại. Có người thấy vậy bèn hỏi: “Bạn mang cái gì có vẻ đẹp đẽ ngon lành vậy?” Khi cầm cái bát lên, mở ra và nhìn vào, thì với người ấy, không ưa thích khởi lên, sự ghê tởm khởi lên, và sự yếm ố khởi lên. Những người đói còn chưa muốn ăn các thứ ấy, huống nữa là những người đã no.
SC 38Này Hiền giả, đối với Tỷ-kheo nào, các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này còn được thấy và được nghe là chưa được diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy là vị sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng, sống hạnh khất thực, thứ lớp khất thực từng nhà một, theo hạnh mang phấn tảo y, mặc y phục thô xấu, thời các đồng phạm hạnh không cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này còn được thấy và còn được nghe các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này là chưa được diệt trừ.
SC 39Này Hiền giả, đối với Tỷ-kheo nào mà các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này được thấy và được nghe là đã diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy sống gần làng mạc, chấp nhận biệt thỉnh thực, mang y người gia chủ cúng, thời các đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường vị Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này được thấy và được nghe các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục của vị Tỷ-kheo ấy đã được diệt trừ.
SC 40Này Hiền giả, ví như một bát đồng, mang từ hàng chợ về hay từ nhà người thợ rèn về, bát ấy thanh tịnh, sạch sẽ. Người chủ cái bát ấy dựng đầy với gạo ngon, cơm lành, các hột đen đã lấy ra, các loại đồ ăn, đậy lại với một bát đồng khác rồi mang về hàng chợ lại. Các người thấy vậy bèn hỏi: “Bạn mang cái gì có vẻ đẹp đẽ ngon lành vậy?” Khi cầm cái bát lên, mở ra và nhìn vào, thì đối với người ấy, ưa thích khởi lên, sự không ghê tởm khởi lên, sự không yếm ố khởi lên. Người no còn muốn ăn các thứ ấy huống nữa là người đói.
SC 41Này Hiền giả, cũng vậy, đối với vị Tỷ-kheo nào, mà các ác, bất thiện pháp, cảnh giới của dục này được thấy và được nghe là đã diệt trừ, nếu Tỷ-kheo ấy sống ở biên giới gần làng mạc, chấp nhận biệt thỉnh thực, mang y người gia chủ cúng, thời các đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng lễ bái cúng dường Tỷ-kheo ấy. Vì sao vậy? Vì các bậc Tôn giả này được thấy và được nghe các ác, bất thiện pháp cảnh giới của dục này đã được diệt trừ.
SC 42Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahamoggallana thưa với Tôn giả Sāriputta
SC 43—Hiền giả Sāriputta, một ví dụ khởi lên cho tôi!
SC 44—Hiền giả Moggallāna, hãy nói lên ví dụ ấy.
SC 45—Hiền giả, một thời tôi ở thành Vương Xá, tại Giribbaja. Này Hiền giả, rồi tôi đắp y vào buổi sáng, mang theo y bát, vào thành Vương Xá để khất thực. Lúc bấy giờ, Samiti, con một người làm xe, đang đẽo một vành xe, và tà mạng ngoại đạo Panduputta, trước là con của một người làm xe, đang đứng một bên. Rồi tà mạng ngoại đạo Panduputta trước là con một người làm xe, khởi lên ý nghĩ như sau: “Mong rằng Samiti, con người thợ xe, hãy đẽo đường cong này, đường méo này và các mắt gỗ này, để vành xe này không có cong, không có đường méo, không có mắt gỗ, được trơn tru và được đặt vào trong trục chính”. Này Hiền giả, tà mạng ngoại đạo Panduputta, trước là con một người làm xe suy nghĩ như thế nào, thời đúng như vậy, Samiti, con người làm xe, đẽo đường cong này, đường méo này và các mắt gỗ này của vành xe ấy. Này Hiền giả, tà mạng ngoại đạo Panduputta trước là con người làm xe, hoan hỷ nói lên lời hoan hỷ như sau: “Hình như người này đang đẽo (vành xe ấy) như là với tâm của anh ta, anh ta biết tâm ta vậy”.
SC 46Này Hiền giả, những ai không có lòng tin, vì mục đích sinh sống, không phải vì lòng tin mà xuất gia, sống đời sống vô gia đình, những vị gian ngụy, xảo trá, khi cuống, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm lời, tạp thoại, không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không tha thiết với hạnh Sa-môn, không nhiệt thành tôn trọng Phật pháp, ưa sống sung túc, biếng nhác, dẫn đầu về đọa lạc, chối bỏ trọng trách sống viễn ly, giải đãi không tinh tấn, lãng quên không chú niệm, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, đần độn. Tôn giả Sāriputta với pháp môn này, như là với tâm của Tôn giả, Tôn giả biết tâm của những hạng người ấy.
SC 47Những kẻ Thiện nam tử, do lòng tin, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; những vị nào không gian ngụy, không xảo trá, không khi cuống, không trạo cử, không kiêu mạn, không dao động, không lắm lời, không tạp thoại, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, tha thiết với hạnh Sa-môn, nhiệt thành tôn trọng Phật pháp, không sống trong sung túc, không biếng nhác, bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc, dẫn đầu về viễn ly, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, chú tâm cảnh giác, định tâm, nhất tâm, có trí tuệ, không đần độn. Những vị này sau khi nghe pháp môn này của Tôn giả Sāriputta, hình như đang uống, hình như đang nếm với lời nói và tâm ý. Thật lành thay, một vị Tôn giả đồng phạm hạnh đã khiến cho vượt khỏi bất thiện và an trú vào chánh thiện!
SC 48Này Hiền giả, ví như một người đàn bà hay người đàn ông, còn đang tuổi trẻ, tánh ưa trang sức, sau khi gội đầu xong, sau khi được một vòng hoa sen xanh hay một vòng vũ sanh hoa, hay một vòng thiện tư hoa, dùng hai tay cầm lấy vòng hoa ấy và đặt trên đỉnh đầu. Này Hiền giả, cũng vậy những Thiện nam tử vì lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, không gian ngụy … (như trên) … Thật lành thay một Tôn giả đồng phạm hạnh đã khiến cho vượt khỏi bất thiện và an trú vào chánh thiện!
SC 49Như vậy hai vị cao đức ấy cùng nhau thiện thuyết, cùng nhau tùy hỷ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Không Cấu Uế
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
57. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ khưu: “Này chư hiền Tỳ khưu.” Các Tỳ khưu ấy đáp lại Tôn giả Sāriputta: “Thưa hiền giả.” Tôn giả Sāriputta nói điều này:
“Cattārome, āvuso, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro? Idhāvuso, ekacco puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti. Idha panāvuso, ekacco puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Idhāvuso, ekacco puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti. Idha panāvuso, ekacco puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tatrāvuso, yvāyaṁ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, ayaṁ imesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ sāṅgaṇānaṁyeva sataṁ hīnapuriso akkhāyati. Tatrāvuso, yvāyaṁ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ imesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ sāṅgaṇānaṁyeva sataṁ seṭṭhapuriso akkhāyati. Tatrāvuso, yvāyaṁ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, ayaṁ imesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ anaṅgaṇānaṁyeva sataṁ hīnapuriso akkhāyati. Tatrāvuso, yvāyaṁ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ imesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ anaṅgaṇānaṁyeva sataṁ seṭṭhapuriso akkhāyatī”ti.
“Reverends, these four individuals are found in the world. What four? One individual with a blemish doesn’t truly understand: ‘There is a blemish in me.’ But another individual with a blemish does truly understand: ‘There is a blemish in me.’ One individual without a blemish doesn’t truly understand: ‘There is no blemish in me.’ But another individual without a blemish does truly understand: ‘There is no blemish in me.’ In this case, of the two individuals with a blemish, the one who doesn’t understand is said to be worse, while the one who does understand is better. And of the two individuals without a blemish, the one who doesn’t understand is said to be worse, while the one who does understand is better.”
“Này chư hiền, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt trong thế gian. Bốn hạng nào? Này chư hiền, ở đây có hạng người có cấu uế mà không biết như thật: ‘Nội tâm ta có cấu uế.’ Lại nữa, này chư hiền, ở đây có hạng người có cấu uế và biết như thật: ‘Nội tâm ta có cấu uế.’ Này chư hiền, ở đây có hạng người không có cấu uế mà không biết như thật: ‘Nội tâm ta không có cấu uế.’ Lại nữa, này chư hiền, ở đây có hạng người không có cấu uế và biết như thật: ‘Nội tâm ta không có cấu uế.’ Này chư hiền, trong số đó, hạng người nào có cấu uế mà không biết như thật: ‘Nội tâm ta có cấu uế,’ người này, trong hai hạng người có cấu uế, được gọi là người hạ liệt. Này chư hiền, trong số đó, hạng người nào có cấu uế và biết như thật: ‘Nội tâm ta có cấu uế,’ người này, trong hai hạng người có cấu uế, được gọi là người cao thượng. Này chư hiền, trong số đó, hạng người nào không có cấu uế mà không biết như thật: ‘Nội tâm ta không có cấu uế,’ người này, trong hai hạng người không có cấu uế, được gọi là người hạ liệt. Này chư hiền, trong số đó, hạng người nào không có cấu uế và biết như thật: ‘Nội tâm ta không có cấu uế,’ người này, trong hai hạng người không có cấu uế, được gọi là người cao thượng.”
Evaṁ vutte, āyasmā mahāmoggallāno āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
When he said this, Venerable Mahāmoggallāna said to him:
58. Khi được nói như vậy, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với Tôn giả Sāriputta điều này:
“Ko nu kho, āvuso sāriputta, hetu ko paccayo yenimesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ sāṅgaṇānaṁyeva sataṁ eko hīnapuriso akkhāyati, eko seṭṭhapuriso akkhāyati? Ko panāvuso sāriputta, hetu ko paccayo yenimesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ anaṅgaṇānaṁyeva sataṁ eko hīnapuriso akkhāyati, eko seṭṭhapuriso akkhāyatī”ti?
“What is the cause, Reverend Sāriputta, what is the reason why, of the two individuals with a blemish, one is said to be worse and one better? And what is the cause, what is the reason why, of the two individuals without a blemish, one is said to be worse and one better?”
“Thưa hiền giả Sāriputta, do nhân gì, do duyên gì mà trong hai hạng người có cấu uế này, một người được gọi là hạ liệt, một người được gọi là cao thượng? Lại nữa, thưa hiền giả Sāriputta, do nhân gì, do duyên gì mà trong hai hạng người không có cấu uế này, một người được gọi là hạ liệt, một người được gọi là cao thượng?”
“Tatrāvuso, yvāyaṁ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—na chandaṁ janessati na vāyamissati na vīriyaṁ ārabhissati tassaṅgaṇassa pahānāya; so sarāgo sadoso samoho sāṅgaṇo saṅkiliṭṭhacitto kālaṁ karissati. Seyyathāpi, āvuso, kaṁsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā rajena ca malena ca pariyonaddhā. Tamenaṁ sāmikā na ceva paribhuñjeyyuṁ na ca pariyodapeyyuṁ, rajāpathe ca naṁ nikkhipeyyuṁ. Evañhi sā, āvuso, kaṁsapāti aparena samayena saṅkiliṭṭhatarā assa malaggahitā”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Evameva kho, āvuso, yvāyaṁ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—na chandaṁ janessati na vāyamissati na vīriyaṁ ārabhissati tassaṅgaṇassa pahānāya; so sarāgo sadoso samoho sāṅgaṇo saṅkiliṭṭhacitto kālaṁ karissati.
Tatrāvuso, yvāyaṁ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—chandaṁ janessati vāyamissati vīriyaṁ ārabhissati tassaṅgaṇassa pahānāya;
“Reverends, take the case of the individual who has a blemish and does not understand it. You can expect that they won’t generate enthusiasm, make an effort, or rouse up energy to give up that blemish. And they will die with greed, hate, and delusion, blemished, with a corrupted mind. Suppose a bronze cup was brought from a shop or smithy enveloped with dirt or stains. And the owners neither used it or had it cleaned, but kept it in a dirty place. Over time, wouldn’t that bronze cup get even dirtier and more stained?”
“Yes, reverend.”
“In the same way, take the case of the individual who has a blemish and does not understand it. You can expect that … they will die with a corrupted mind.
Take the case of the individual who has a blemish and does understand it. You can expect that they will generate enthusiasm, make an effort, and rouse up energy to give up that blemish.
59. “Này hiền giả, trong số đó, hạng người nào có cấu uế mà không biết như thật: ‘Nội tâm ta có cấu uế,’ có thể trông đợi rằng người ấy sẽ không khởi lên ý muốn, sẽ không cố gắng, sẽ không tinh tấn để đoạn trừ cấu uế ấy; người ấy sẽ mệnh chung với tham, với sân, với si, với cấu uế, với tâm ô nhiễm. Ví như, này hiền giả, một cái bát bằng đồng được mang về từ cửa hàng hay từ nhà thợ rèn, bị bao phủ bởi bụi và bẩn. Người chủ không dùng cũng không lau chùi, lại để nó ở một nơi bụi bặm. Như vậy, này hiền giả, cái bát đồng ấy sau một thời gian sẽ càng trở nên ô uế hơn, bị cáu bẩn bám chặt hơn, phải không?” “Đúng vậy, thưa hiền giả.” “Cũng vậy, này hiền giả, hạng người nào có cấu uế mà không biết như thật: ‘Nội tâm ta có cấu uế,’ có thể trông đợi rằng người ấy sẽ không khởi lên ý muốn, sẽ không cố gắng, sẽ không tinh tấn để đoạn trừ cấu uế ấy; người ấy sẽ mệnh chung với tham, với sân, với si, với cấu uế, với tâm ô nhiễm.
“Evamāvuso”ti.
“Evameva kho, āvuso, yvāyaṁ puggalo sāṅgaṇova samāno ‘atthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—chandaṁ janessati vāyamissati vīriyaṁ ārabhissati tassaṅgaṇassa pahānāya; so arāgo adoso amoho anaṅgaṇo asaṅkiliṭṭhacitto kālaṁ karissati.
“Yes, reverend.”
“In the same way, take the case of the individual who has a blemish and does understand it. You can expect that … they will die with an uncorrupted mind.
“Này hiền hữu, trong các hạng người ấy, hạng người nào vẫn còn cấu uế mà biết như thật rằng: ‘Nội tâm ta có cấu uế’, vị ấy có thể được mong đợi rằng sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ nỗ lực để đoạn trừ cấu uế ấy; vị ấy sẽ mệnh chung không tham, không sân, không si, không cấu uế, với tâm không ô nhiễm. Này hiền hữu, ví như một cái bát bằng đồng được mang về từ cửa hàng hay từ nhà thợ rèn, bị bao phủ bởi bụi và bẩn. Người chủ của nó vừa sử dụng vừa lau chùi cho sạch, và không đặt nó ở nơi bụi bặm. Này hiền hữu, như vậy, về sau cái bát đồng ấy sẽ trở nên trong sạch hơn, tinh khiết hơn, có phải không?” “Đúng vậy, hiền hữu.” “Cũng vậy, này hiền hữu, hạng người nào vẫn còn cấu uế mà biết như thật rằng: ‘Nội tâm ta có cấu uế’, vị ấy có thể được mong đợi rằng sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ nỗ lực để đoạn trừ cấu uế ấy; vị ấy sẽ mệnh chung không tham, không sân, không si, không cấu uế, với tâm không ô nhiễm.
Tatrāvuso, yvāyaṁ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—subhanimittaṁ manasi karissati, tassa subhanimittassa manasikārā rāgo cittaṁ anuddhaṁsessati; so sarāgo sadoso samoho sāṅgaṇo saṅkiliṭṭhacitto kālaṁ karissati. Seyyathāpi, āvuso, kaṁsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā parisuddhā pariyodātā. Tamenaṁ sāmikā na ceva paribhuñjeyyuṁ na ca pariyodapeyyuṁ, rajāpathe ca naṁ nikkhipeyyuṁ. Evañhi sā, āvuso, kaṁsapāti aparena samayena saṅkiliṭṭhatarā assa malaggahitā”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Evameva kho, āvuso, yvāyaṁ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—subhanimittaṁ manasi karissati, tassa subhanimittassa manasikārā rāgo cittaṁ anuddhaṁsessati; so sarāgo sadoso samoho sāṅgaṇo saṅkiliṭṭhacitto kālaṁ karissati.
Tatrāvuso, yvāyaṁ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—subhanimittaṁ na manasi karissati, tassa subhanimittassa amanasikārā rāgo cittaṁ nānuddhaṁsessati;
Take the case of the individual who doesn’t have a blemish but does not understand it. You can expect that they will focus on the feature of beauty, and because of that, lust will infect their mind. And they will die with greed, hate, and delusion, blemished, with a corrupted mind. Suppose a bronze cup was brought from a shop or smithy clean and bright. And the owners neither used it or had it cleaned, but kept it in a dirty place. Over time, wouldn’t that bronze cup get dirtier and more stained?”
“Yes, reverend.”
“In the same way, take the case of the individual who has no blemish and does not understand it. You can expect that … they will die with a corrupted mind.
Take the case of the individual who doesn’t have a blemish and does understand it. You can expect that they won’t focus on the feature of beauty, and because of that, lust won’t infect their mind.
“Này hiền hữu, trong các hạng người ấy, hạng người nào không có cấu uế mà không biết như thật rằng: ‘Nội tâm ta không có cấu uế’, vị ấy có thể được mong đợi rằng sẽ tác ý đến tịnh tướng; do tác ý đến tịnh tướng ấy, tham ái sẽ xâm chiếm tâm; vị ấy sẽ mệnh chung có tham, có sân, có si, có cấu uế, với tâm ô nhiễm. Này hiền hữu, ví như một cái bát bằng đồng được mang về từ cửa hàng hay từ nhà thợ rèn, trong sạch, tinh khiết. Người chủ của nó không sử dụng cũng không lau chùi, và đặt nó ở nơi bụi bặm. Này hiền hữu, như vậy, về sau cái bát đồng ấy sẽ trở nên ô nhiễm hơn, bị cáu bẩn bám vào, có phải không?” “Đúng vậy, hiền hữu.” “Cũng vậy, này hiền hữu, hạng người nào không có cấu uế mà không biết như thật rằng: ‘Nội tâm ta không có cấu uế’, vị ấy có thể được mong đợi rằng sẽ tác ý đến tịnh tướng; do tác ý đến tịnh tướng ấy, tham ái sẽ xâm chiếm tâm; vị ấy sẽ mệnh chung có tham, có sân, có si, có cấu uế, với tâm ô nhiễm.
“Evamāvuso”ti.
“Evameva kho, āvuso, yvāyaṁ puggalo anaṅgaṇova samāno ‘natthi me ajjhattaṁ aṅgaṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—subhanimittaṁ na manasi karissati, tassa subhanimittassa amanasikārā rāgo cittaṁ nānuddhaṁsessati; so arāgo adoso amoho anaṅgaṇo asaṅkiliṭṭhacitto kālaṁ karissati.
“Yes, reverend.”
“In the same way, take the case of the individual who doesn’t have a blemish and does understand it. You can expect that … they will die with an uncorrupted mind.
“Này hiền hữu, trong các hạng người ấy, hạng người nào không có cấu uế mà biết như thật rằng: ‘Nội tâm ta không có cấu uế’, vị ấy có thể được mong đợi rằng sẽ không tác ý đến tịnh tướng; do không tác ý đến tịnh tướng ấy, tham ái sẽ không xâm chiếm tâm; vị ấy sẽ mệnh chung không tham, không sân, không si, không cấu uế, với tâm không ô nhiễm. Này hiền hữu, ví như một cái bát bằng đồng được mang về từ cửa hàng hay từ nhà thợ rèn, trong sạch, tinh khiết. Người chủ của nó vừa sử dụng vừa lau chùi cho sạch, và không đặt nó ở nơi bụi bặm. Này hiền hữu, như vậy, về sau cái bát đồng ấy sẽ trở nên trong sạch hơn, tinh khiết hơn, có phải không?” “Đúng vậy, hiền hữu.” “Cũng vậy, này hiền hữu, hạng người nào không có cấu uế mà biết như thật rằng: ‘Nội tâm ta không có cấu uế’, vị ấy có thể được mong đợi rằng sẽ không tác ý đến tịnh tướng; do không tác ý đến tịnh tướng ấy, tham ái sẽ không xâm chiếm tâm; vị ấy sẽ mệnh chung không tham, không sân, không si, không cấu uế, với tâm không ô nhiễm.
Ayaṁ kho, āvuso moggallāna, hetu ayaṁ paccayo yenimesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ sāṅgaṇānaṁyeva sataṁ eko hīnapuriso akkhāyati, eko seṭṭhapuriso akkhāyati. Ayaṁ panāvuso moggallāna, hetu ayaṁ paccayo yenimesaṁ dvinnaṁ puggalānaṁ anaṅgaṇānaṁyeva sataṁ eko hīnapuriso akkhāyati, eko seṭṭhapuriso akkhāyatī”ti.
This is the cause, this is the reason why, of the two individuals with a blemish, one is said to be worse and one better. And this is the cause, this is the reason why, of the two individuals without a blemish, one is said to be worse and one better.”
“Này hiền hữu Moggallāna, đây là nhân, đây là duyên mà trong hai hạng người đều có cấu uế, một người được gọi là hạng người hạ liệt, một người được gọi là hạng người cao thượng. Và này hiền hữu Moggallāna, đây là nhân, đây là duyên mà trong hai hạng người đều không có cấu uế, một người được gọi là hạng người hạ liệt, một người được gọi là hạng người cao thượng.”
“Aṅgaṇaṁ aṅgaṇanti, āvuso, vuccati. Kissa nu kho etaṁ, āvuso, adhivacanaṁ yadidaṁ aṅgaṇan”ti?
“Pāpakānaṁ kho etaṁ, āvuso, akusalānaṁ icchāvacarānaṁ adhivacanaṁ, yadidaṁ aṅgaṇan”ti.
“Reverend, the word ‘blemish’ is spoken of. But what is ‘blemish’ a term for?”
“Reverend, ‘blemish’ is a term for the spheres of bad, unskillful wishes.
60. “Thưa hiền hữu, ‘cấu uế, cấu uế’ được nói đến. Vậy thưa hiền hữu, ‘cấu uế’ này là danh xưng của cái gì?” “Thưa hiền hữu, ‘cấu uế’ này là danh xưng của những dục vọng xấu xa, bất thiện.”
“Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘āpattiñca vata āpanno assaṁ, na ca maṁ bhikkhū jāneyyuṁ āpattiṁ āpanno’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ taṁ bhikkhuṁ bhikkhū jāneyyuṁ: ‘āpattiṁ āpanno’ti. ‘Jānanti maṁ bhikkhū āpattiṁ āpanno’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘If I commit an offense, I hope the mendicants don’t find out!’ But it’s possible that the mendicants do find out that that mendicant has committed an offense. Thinking, ‘The mendicants have found out about my offense,’ they get angry and bitter. And that anger and that bitterness are both blemishes.
“Này hiền hữu, lại có trường hợp này, khi một tỳ khưu nào đó ở đây khởi lên ước muốn như vầy: ‘Mong sao ta phạm tội mà các tỳ khưu không biết ta đã phạm tội’. Lại có trường hợp này, này hiền hữu, khi các tỳ khưu biết vị tỳ khưu ấy đã phạm tội. (Nghĩ rằng:) ‘Các tỳ khưu biết ta đã phạm tội’, do vậy vị ấy tức giận, không hài lòng. Này hiền hữu, sự tức giận và sự không hài lòng, cả hai điều này là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘āpattiñca vata āpanno assaṁ, anuraho maṁ bhikkhū codeyyuṁ, no saṅghamajjhe’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ taṁ bhikkhuṁ bhikkhū saṅghamajjhe codeyyuṁ, no anuraho. ‘Saṅghamajjhe maṁ bhikkhū codenti, no anuraho’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘If I commit an offense, I hope the mendicants accuse me in private, not in the middle of the Saṅgha.’ But it’s possible that the mendicants do accuse that mendicant in the middle of the Saṅgha …
“Này hiền hữu, lại có trường hợp này, khi một tỳ khưu nào đó ở đây khởi lên ước muốn như vầy: ‘Mong sao ta phạm tội, các tỳ khưu khiển trách ta ở nơi vắng vẻ, chứ không phải giữa tăng chúng’. Lại có trường hợp này, này hiền hữu, khi các tỳ khưu khiển trách vị tỳ khưu ấy giữa tăng chúng, không phải ở nơi vắng vẻ. (Nghĩ rằng:) ‘Các tỳ khưu khiển trách ta giữa tăng chúng, không phải ở nơi vắng vẻ’, do vậy vị ấy tức giận, không hài lòng. Này hiền hữu, sự tức giận và sự không hài lòng, cả hai điều này là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘āpattiñca vata āpanno assaṁ, sappaṭipuggalo maṁ codeyya, no appaṭipuggalo’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ taṁ bhikkhuṁ appaṭipuggalo codeyya, no sappaṭipuggalo. ‘Appaṭipuggalo maṁ codeti, no sappaṭipuggalo’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘If I commit an offense, I hope I’m accused by a peer, not by someone who is not a peer.’ But it’s possible that someone who is not a peer accuses that mendicant …
Này hiền hữu, lại nữa, có trường hợp này, một vị tỳ khưu ở đây có thể khởi lên ý muốn như sau: ‘Mong rằng nếu ta có phạm tội, một người có tư cách tương đương sẽ khiển trách ta, chứ không phải là người không có tư cách tương đương.’ Nhưng lại có trường hợp này, này hiền hữu, vị tỳ khưu ấy bị một người không có tư cách tương đương khiển trách, chứ không phải là người có tư cách tương đương. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Một người không có tư cách tương đương khiển trách ta, chứ không phải là người có tư cách tương đương,’ do vậy vị ấy tức giận, không hài lòng. Này hiền hữu, sự tức giận và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata mameva satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseyya, na aññaṁ bhikkhuṁ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseyyā’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ aññaṁ bhikkhuṁ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseyya, na taṁ bhikkhuṁ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseyya. ‘Aññaṁ bhikkhuṁ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti, na maṁ satthā paṭipucchitvā paṭipucchitvā bhikkhūnaṁ dhammaṁ desetī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘Oh, I hope the Teacher will teach the mendicants by repeatedly questioning me alone, not some other mendicant.’ But it’s possible that the Teacher will teach the mendicants by repeatedly questioning some other mendicant …
Này hiền hữu, lại nữa, có trường hợp này, một vị tỳ khưu ở đây có thể khởi lên ý muốn như sau: ‘Mong rằng bậc Đạo Sư, sau khi hỏi đi hỏi lại chỉ riêng ta, sẽ thuyết Pháp cho các tỳ khưu, chứ không phải sau khi hỏi đi hỏi lại một vị tỳ khưu khác mà thuyết Pháp cho các tỳ khưu.’ Nhưng lại có trường hợp này, này hiền hữu, bậc Đạo Sư, sau khi hỏi đi hỏi lại một vị tỳ khưu khác, đã thuyết Pháp cho các tỳ khưu, chứ không phải sau khi hỏi đi hỏi lại vị tỳ khưu ấy mà thuyết Pháp cho các tỳ khưu. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Bậc Đạo Sư, sau khi hỏi đi hỏi lại một vị tỳ khưu khác, đã thuyết Pháp cho các tỳ khưu, chứ không phải sau khi hỏi đi hỏi lại ta mà thuyết Pháp cho các tỳ khưu,’ do vậy vị ấy tức giận, không hài lòng. Này hiền hữu, sự tức giận và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata mameva bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṁ bhattāya paviseyyuṁ, na aññaṁ bhikkhuṁ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṁ bhattāya paviseyyun’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ aññaṁ bhikkhuṁ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṁ bhattāya paviseyyuṁ, na taṁ bhikkhuṁ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṁ bhattāya paviseyyuṁ. ‘Aññaṁ bhikkhuṁ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṁ bhattāya pavisanti, na maṁ bhikkhū purakkhatvā purakkhatvā gāmaṁ bhattāya pavisantī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘Oh, I hope the mendicants will enter the village for the meal putting me at the very front, not some other mendicant.’ But it’s possible that the mendicants will enter the village for the meal putting some other mendicant at the very front …
Này hiền hữu, lại nữa, có trường hợp này, một vị tỳ khưu ở đây có thể khởi lên ý muốn như sau: ‘Mong rằng các tỳ khưu, sau khi tôn vinh chỉ riêng ta lên hàng đầu, sẽ đi vào làng để khất thực, chứ không phải sau khi tôn vinh một vị tỳ khưu khác lên hàng đầu mà đi vào làng để khất thực.’ Nhưng lại có trường hợp này, này hiền hữu, các tỳ khưu, sau khi tôn vinh một vị tỳ khưu khác lên hàng đầu, đã đi vào làng để khất thực, chứ không phải sau khi tôn vinh vị tỳ khưu ấy lên hàng đầu mà đi vào làng để khất thực. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Các tỳ khưu, sau khi tôn vinh một vị tỳ khưu khác lên hàng đầu, đã đi vào làng để khất thực, chứ không phải sau khi tôn vinh ta lên hàng đầu mà đi vào làng để khất thực,’ do vậy vị ấy tức giận, không hài lòng. Này hiền hữu, sự tức giận và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva labheyyaṁ bhattagge aggāsanaṁ aggodakaṁ aggapiṇḍaṁ, na añño bhikkhu labheyya bhattagge aggāsanaṁ aggodakaṁ aggapiṇḍan’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ añño bhikkhu labheyya bhattagge aggāsanaṁ aggodakaṁ aggapiṇḍaṁ, na so bhikkhu labheyya bhattagge aggāsanaṁ aggodakaṁ aggapiṇḍaṁ. ‘Añño bhikkhu labhati bhattagge aggāsanaṁ aggodakaṁ aggapiṇḍaṁ, nāhaṁ labhāmi bhattagge aggāsanaṁ aggodakaṁ aggapiṇḍan’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘Oh, I hope that I alone get the best seat, the best drink, and the best almsfood in the refectory, not some other mendicant.’ But it’s possible that some other mendicant gets the best seat, the best drink, and the best almsfood in the refectory …
Này hiền hữu, lại nữa, có trường hợp này, một vị tỳ khưu ở đây có thể khởi lên ý muốn như sau: ‘Mong rằng chỉ riêng ta được nhận chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, và vật thực hàng đầu tại trai đường, chứ không phải vị tỳ khưu khác được nhận chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, và vật thực hàng đầu tại trai đường.’ Nhưng lại có trường hợp này, này hiền hữu, một vị tỳ khưu khác được nhận chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, và vật thực hàng đầu tại trai đường, chứ không phải vị tỳ khưu ấy được nhận. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Một vị tỳ khưu khác được nhận chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, và vật thực hàng đầu tại trai đường, còn ta thì không được nhận,’ do vậy vị ấy tức giận, không hài lòng. Này hiền hữu, sự tức giận và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva bhattagge bhuttāvī anumodeyyaṁ, na añño bhikkhu bhattagge bhuttāvī anumodeyyā’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ añño bhikkhu bhattagge bhuttāvī anumodeyya, na so bhikkhu bhattagge bhuttāvī anumodeyya. ‘Añño bhikkhu bhattagge bhuttāvī anumodati, nāhaṁ bhattagge bhuttāvī anumodāmī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘I hope that I alone give the verses of appreciation after eating in the refectory, not some other mendicant.’ But it’s possible that some other mendicant gives the verses of appreciation after eating in the refectory …
Này hiền hữu, lại nữa, có trường hợp này, một vị tỳ khưu ở đây có thể khởi lên ý muốn như sau: ‘Mong rằng chỉ riêng ta, sau khi đã dùng bữa tại trai đường, sẽ đọc lời tùy hỷ, chứ không phải vị tỳ khưu khác, sau khi đã dùng bữa tại trai đường, đọc lời tùy hỷ.’ Nhưng lại có trường hợp này, này hiền hữu, một vị tỳ khưu khác, sau khi đã dùng bữa tại trai đường, đã đọc lời tùy hỷ, chứ không phải vị tỳ khưu ấy đọc lời tùy hỷ. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Một vị tỳ khưu khác, sau khi đã dùng bữa tại trai đường, đã đọc lời tùy hỷ, còn ta, sau khi đã dùng bữa tại trai đường, thì không được đọc lời tùy hỷ,’ do vậy vị ấy tức giận, không hài lòng. Này hiền hữu, sự tức giận và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva ārāmagatānaṁ bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseyyaṁ, na añño bhikkhu ārāmagatānaṁ bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseyyā’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ añño bhikkhu ārāmagatānaṁ bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseyya, na so bhikkhu ārāmagatānaṁ bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseyya. ‘Añño bhikkhu ārāmagatānaṁ bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti, nāhaṁ ārāmagatānaṁ bhikkhūnaṁ dhammaṁ desemī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘Oh, I hope that I might teach the Dhamma to the monks, nuns, laymen, and laywomen in the monastery, not some other mendicant.’
Này hiền hữu, lại nữa, có trường hợp này, một vị tỳ khưu ở đây có thể khởi lên ý muốn như sau: ‘Mong rằng chỉ riêng ta sẽ thuyết Pháp cho các tỳ khưu đến chùa, chứ không phải vị tỳ khưu khác thuyết Pháp cho các tỳ khưu đến chùa.’ Nhưng lại có trường hợp này, này hiền hữu, một vị tỳ khưu khác đã thuyết Pháp cho các tỳ khưu đến chùa, chứ không phải vị tỳ khưu ấy thuyết Pháp. Vị ấy nghĩ rằng: ‘Một vị tỳ khưu khác thuyết Pháp cho các tỳ khưu đến chùa, còn ta thì không được thuyết Pháp cho các tỳ khưu đến chùa,’ do vậy vị ấy tức giận, không hài lòng. Này hiền hữu, sự tức giận và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva ārāmagatānaṁ bhikkhunīnaṁ dhammaṁ deseyyaṁ …pe… upāsakānaṁ dhammaṁ deseyyaṁ …pe… upāsikānaṁ dhammaṁ deseyyaṁ, na añño bhikkhu ārāmagatānaṁ upāsikānaṁ dhammaṁ deseyyā’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ añño bhikkhu ārāmagatānaṁ upāsikānaṁ dhammaṁ deseyya, na so bhikkhu ārāmagatānaṁ upāsikānaṁ dhammaṁ deseyya. ‘Añño bhikkhu ārāmagatānaṁ upāsikānaṁ dhammaṁ deseti, nāhaṁ ārāmagatānaṁ upāsikānaṁ dhammaṁ desemī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
But it’s possible that some other mendicant teaches the Dhamma …
Này hiền hữu, có trường hợp này, ở đây có vị tỳ khưu khởi lên ước muốn như sau: ‘Mong sao chỉ có ta thuyết pháp cho các tỳ khưu ni đến chùa ... cho các nam cư sĩ ... cho các nữ cư sĩ, mong sao không có vị tỳ khưu nào khác thuyết pháp cho các nữ cư sĩ đến chùa.’ Này hiền hữu, có trường hợp này, một vị tỳ khưu khác thuyết pháp cho các nữ cư sĩ đến chùa, còn vị tỳ khưu ấy thì không thuyết pháp cho các nữ cư sĩ đến chùa. Vị ấy phẫn nộ và không hài lòng rằng: ‘Một vị tỳ khưu khác thuyết pháp cho các nữ cư sĩ đến chùa, còn ta thì không thuyết pháp cho các nữ cư sĩ đến chùa.’ Này hiền hữu, sự phẫn nộ và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata mameva bhikkhū sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, na aññaṁ bhikkhuṁ bhikkhū sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyun’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ aññaṁ bhikkhuṁ bhikkhū sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, na taṁ bhikkhuṁ bhikkhū sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ. ‘Aññaṁ bhikkhuṁ bhikkhū sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, na maṁ bhikkhū sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjentī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘Oh, I hope that the monks, nuns, laymen, and laywomen will honor, respect, revere, and venerate me alone, not some other mendicant.’
Này hiền hữu, có trường hợp này, ở đây có vị tỳ khưu khởi lên ước muốn như sau: ‘Mong sao các tỳ khưu chỉ cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường ta, chứ không cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường vị tỳ khưu nào khác.’ Này hiền hữu, có trường hợp này, các tỳ khưu cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường một vị tỳ khưu khác, còn vị tỳ khưu ấy thì không được các tỳ khưu cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường. Vị ấy phẫn nộ và không hài lòng rằng: ‘Các tỳ khưu cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường một vị tỳ khưu khác, còn ta thì không được các tỳ khưu cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường.’ Này hiền hữu, sự phẫn nộ và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata mameva bhikkhuniyo …pe… upāsakā …pe… upāsikā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, na aññaṁ bhikkhuṁ upāsikā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyun’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ aññaṁ bhikkhuṁ upāsikā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, na taṁ bhikkhuṁ upāsikā sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ. ‘Aññaṁ bhikkhuṁ upāsikā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, na maṁ upāsikā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjentī’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
But it’s possible that some other mendicant is honored, respected, revered, and venerated …
Này hiền hữu, có trường hợp này, ở đây có vị tỳ khưu khởi lên ước muốn như sau: ‘Mong sao các tỳ khưu ni ... các nam cư sĩ ... các nữ cư sĩ chỉ cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường ta, chứ không cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường vị tỳ khưu nào khác.’ Này hiền hữu, có trường hợp này, các nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường một vị tỳ khưu khác, còn vị tỳ khưu ấy thì không được các nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường. Vị ấy phẫn nộ và không hài lòng rằng: ‘Các nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường một vị tỳ khưu khác, còn ta thì không được các nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường.’ Này hiền hữu, sự phẫn nộ và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva lābhī assaṁ paṇītānaṁ cīvarānaṁ, na añño bhikkhu lābhī assa paṇītānaṁ cīvarānan’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ añño bhikkhu lābhī assa paṇītānaṁ cīvarānaṁ, na so bhikkhu lābhī assa paṇītānaṁ cīvarānaṁ. ‘Añño bhikkhu lābhī paṇītānaṁ cīvarānaṁ, nāhaṁ lābhī paṇītānaṁ cīvarānan’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
It’s possible that some mendicant might wish: ‘I hope I get the nicest robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick, not some other mendicant.’ But it’s possible that some other mendicant gets the nicest robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick …
Này hiền hữu, có trường hợp này, ở đây có vị tỳ khưu khởi lên ước muốn như sau: ‘Mong sao chỉ có ta nhận được các y phục thượng hạng, mong sao không có vị tỳ khưu nào khác nhận được các y phục thượng hạng.’ Này hiền hữu, có trường hợp này, một vị tỳ khưu khác nhận được các y phục thượng hạng, còn vị tỳ khưu ấy thì không nhận được các y phục thượng hạng. Vị ấy phẫn nộ và không hài lòng rằng: ‘Một vị tỳ khưu khác nhận được các y phục thượng hạng, còn ta thì không nhận được các y phục thượng hạng.’ Này hiền hữu, sự phẫn nộ và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata ahameva lābhī assaṁ paṇītānaṁ piṇḍapātānaṁ …pe… paṇītānaṁ senāsanānaṁ …pe… paṇītānaṁ gilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, na añño bhikkhu lābhī assa paṇītānaṁ gilānappaccayabhesajjaparikkhārānan’ti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ añño bhikkhu lābhī assa paṇītānaṁ gilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, na so bhikkhu lābhī assa paṇītānaṁ gilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ. ‘Añño bhikkhu lābhī paṇītānaṁ gilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, nāhaṁ lābhī paṇītānaṁ gilānappaccayabhesajjaparikkhārānan’ti—iti so kupito hoti appatīto. Yo ceva kho, āvuso, kopo yo ca appaccayo—ubhayametaṁ aṅgaṇaṁ.
Thinking, ‘Some other mendicant has got the nicest robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick’, they get angry and bitter. And that anger and that bitterness are both blemishes.
Này hiền hữu, có trường hợp này, ở đây có vị tỳ khưu khởi lên ước muốn như sau: ‘Mong sao chỉ có ta nhận được các vật thực khất thực thượng hạng ... các sàng tọa thượng hạng ... các dược phẩm và vật dụng trị bệnh thượng hạng, mong sao không có vị tỳ khưu nào khác nhận được các dược phẩm và vật dụng trị bệnh thượng hạng.’ Này hiền hữu, có trường hợp này, một vị tỳ khưu khác nhận được các dược phẩm và vật dụng trị bệnh thượng hạng, còn vị tỳ khưu ấy thì không nhận được các dược phẩm và vật dụng trị bệnh thượng hạng. Vị ấy phẫn nộ và không hài lòng rằng: ‘Một vị tỳ khưu khác nhận được các dược phẩm và vật dụng trị bệnh thượng hạng, còn ta thì không nhận được các dược phẩm và vật dụng trị bệnh thượng hạng.’ Này hiền hữu, sự phẫn nộ và sự không hài lòng, cả hai điều này đều là cấu uế.
Imesaṁ kho etaṁ, āvuso, pāpakānaṁ akusalānaṁ icchāvacarānaṁ adhivacanaṁ, yadidaṁ aṅgaṇanti.
‘Blemish’ is a term for these spheres of bad, unskillful wishes.
Này hiền hữu, ‘cấu uế’ này chính là tên gọi của những pháp bất thiện, xấu xa, thuộc về phạm vi của ước muốn.
Yassa kassaci, āvuso, bhikkhuno ime pāpakā akusalā icchāvacarā appahīnā dissanti ceva sūyanti ca, kiñcāpi so hoti āraññiko pantasenāsano piṇḍapātiko sapadānacārī paṁsukūliko lūkhacīvaradharo, atha kho naṁ sabrahmacārī na ceva sakkaronti na garuṁ karonti na mānenti na pūjenti. Taṁ kissa hetu? Te hi tassa āyasmato pāpakā akusalā icchāvacarā appahīnā dissanti ceva sūyanti ca. Seyyathāpi, āvuso, kaṁsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā parisuddhā pariyodātā. Tamenaṁ sāmikā ahikuṇapaṁ vā kukkurakuṇapaṁ vā manussakuṇapaṁ vā racayitvā aññissā kaṁsapātiyā paṭikujjitvā antarāpaṇaṁ paṭipajjeyyuṁ. Tamenaṁ jano disvā evaṁ vadeyya: ‘ambho, kimevidaṁ harīyati jaññajaññaṁ viyā’ti? Tamenaṁ uṭṭhahitvā apāpuritvā olokeyya. Tassa sahadassanena amanāpatā ca saṇṭhaheyya, pāṭikulyatā ca saṇṭhaheyya, jegucchatā ca saṇṭhaheyya;
Suppose these spheres of bad, unskillful wishes are seen and heard to be not given up by a mendicant. Even though they dwell in the wilderness, in remote lodgings, eat only almsfood, wander indiscriminately for almsfood, wear rag robes, and wear shabby robes, their spiritual companions don’t honor, respect, revere, and venerate them. Why is that? It’s because these spheres of bad, unskillful wishes are seen and heard to be not given up by that venerable. Suppose a bronze cup was brought from a shop or smithy clean and bright. The owners were to prepare it with the carcass of a snake, a dog, or a human, cover it with a bronze lid, and parade it through the market-place. When people saw it they’d say: ‘Oh my, what is it that you’re carrying like a precious treasure?’ So they’d open up the lid for people to look inside. But as soon as they saw it they were filled with loathing, revulsion, and disgust.
61. Này hiền hữu, đối với bất kỳ vị tỳ khưu nào mà các pháp ác, bất thiện, các hành vi do dục vọng này chưa được đoạn trừ, được thấy và được nghe, dầu cho vị ấy là vị sống ở rừng, sống nơi xa vắng, là vị đi khất thực, đi khất thực từng nhà, là vị mặc y phấn tảo, mặc y thô xấu, thì các vị đồng phạm hạnh cũng không cung kính, không tôn trọng, không quý mến, không cúng dường vị ấy. Vì cớ sao? Vì rằng các pháp ác, bất thiện, các hành vi do dục vọng ấy của vị tôn giả ấy chưa được đoạn trừ, được thấy và được nghe. Ví như, này hiền hữu, có một cái bát bằng đồng được mang về từ khu chợ hoặc từ nhà người thợ rèn, trong sạch, tinh khiết. Chủ nhân của nó bỏ đầy vào đấy xác rắn, hoặc xác chó, hoặc xác người, rồi lấy một cái bát bằng đồng khác đậy lại và đi vào giữa khu chợ. Người ta thấy vậy liền nói rằng: ‘Này ông bạn, cái gì đây mà ông mang đi trông như món quà quý giá vậy?’ Rồi người ấy đứng dậy, mở ra và nhìn vào. Ngay khi vừa nhìn thấy, sự không ưa thích liền phát sanh, sự ghê tởm liền phát sanh, sự kinh tởm liền phát sanh; ngay cả những người đang đói cũng không có ý muốn ăn, huống nữa là những người đã no. Cũng vậy, này hiền hữu, đối với bất kỳ vị tỳ khưu nào mà các pháp ác, bất thiện, các hành vi do dục vọng này chưa được đoạn trừ, được thấy và được nghe, dầu cho vị ấy là vị sống ở rừng, sống nơi xa vắng, là vị đi khất thực, đi khất thực từng nhà, là vị mặc y phấn tảo, mặc y thô xấu, thì các vị đồng phạm hạnh cũng không cung kính, không tôn trọng, không quý mến, không cúng dường vị ấy. Vì cớ sao? Vì rằng các pháp ác, bất thiện, các hành vi do dục vọng ấy của vị tôn giả ấy chưa được đoạn trừ, được thấy và được nghe.
Evameva kho, āvuso, yassa kassaci bhikkhuno ime pāpakā akusalā icchāvacarā appahīnā dissanti ceva sūyanti ca, kiñcāpi so hoti āraññiko pantasenāsano piṇḍapātiko sapadānacārī paṁsukūliko lūkhacīvaradharo, atha kho naṁ sabrahmacārī na ceva sakkaronti na garuṁ karonti na mānenti na pūjenti. Taṁ kissa hetu? Te hi tassa āyasmato pāpakā akusalā icchāvacarā appahīnā dissanti ceva sūyanti ca.
Yassa kassaci, āvuso, bhikkhuno ime pāpakā akusalā icchāvacarā pahīnā dissanti ceva sūyanti ca, kiñcāpi so hoti gāmantavihārī nemantaniko gahapaticīvaradharo, atha kho naṁ sabrahmacārī sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti. Taṁ kissa hetu? Te hi tassa āyasmato pāpakā akusalā icchāvacarā pahīnā dissanti ceva sūyanti ca. Seyyathāpi, āvuso, kaṁsapāti ābhatā āpaṇā vā kammārakulā vā parisuddhā pariyodātā. Tamenaṁ sāmikā sālīnaṁ odanaṁ vicitakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ racayitvā aññissā kaṁsapātiyā paṭikujjitvā antarāpaṇaṁ paṭipajjeyyuṁ. Tamenaṁ jano disvā evaṁ vadeyya: ‘ambho, kimevidaṁ harīyati jaññajaññaṁ viyā’ti? Tamenaṁ uṭṭhahitvā apāpuritvā olokeyya. Tassa saha dassanena manāpatā ca saṇṭhaheyya, appāṭikulyatā ca saṇṭhaheyya, ajegucchatā ca saṇṭhaheyya; suhitānampi bhottukamyatā assa, pageva jighacchitānaṁ.
Evameva kho, āvuso, yassa kassaci bhikkhuno ime pāpakā akusalā icchāvacarā pahīnā dissanti ceva sūyanti ca, kiñcāpi so hoti gāmantavihārī nemantaniko gahapaticīvaradharo, atha kho naṁ sabrahmacārī sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti. Taṁ kissa hetu? Te hi tassa āyasmato pāpakā akusalā icchāvacarā pahīnā dissanti ceva sūyanti cā”ti.
In the same way, when these spheres of bad, unskillful wishes are seen and heard to be not given up by a mendicant … their spiritual companions don’t honor, respect, revere, and venerate them. Why is that? It’s because these spheres of bad, unskillful wishes are seen and heard to be not given up by that venerable.
Suppose these spheres of bad, unskillful wishes are seen and heard to be given up by a mendicant. Even though they dwell within a village, accept invitations to a meal, and wear robes offered by householders, their spiritual companions honor, respect, revere, and venerate them. Why is that? It’s because these spheres of bad, unskillful wishes are seen and heard to be given up by that venerable. Suppose a bronze cup was brought from a shop or smithy clean and bright. The owners were to prepare it with boiled fine rice with the dark grains picked out and served with many soups and sauces, cover it with a bronze lid, and parade it through the market-place. When people saw it they’d say: ‘Oh my, what is it that you’re carrying like a precious treasure?’ So they’d open up the lid for people to look inside. And as soon as they saw it they were filled with liking, attraction, and relish. Even those who were replete wanted to eat it, let alone those who were hungry.
In the same way, when these spheres of bad, unskillful wishes are seen and heard to be given up by a mendicant … their spiritual companions honor, respect, revere, and venerate them. Why is that? It’s because these spheres of bad, unskillful wishes are seen and heard to be given up by that venerable.”
62. Này hiền hữu, đối với bất kỳ vị tỳ khưu nào mà các pháp ác, bất thiện, các hành vi do dục vọng này đã được đoạn trừ, được thấy và được nghe, dầu cho vị ấy là vị sống ở gần làng, là vị nhận lời mời, là vị mặc y của gia chủ, thì các vị đồng phạm hạnh vẫn cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường vị ấy. Vì cớ sao? Vì rằng các pháp ác, bất thiện, các hành vi do dục vọng ấy của vị tôn giả ấy đã được đoạn trừ, được thấy và được nghe. Ví như, này hiền hữu, có một cái bát bằng đồng được mang về từ khu chợ hoặc từ nhà người thợ rèn, trong sạch, tinh khiết. Chủ nhân của nó bỏ đầy vào đấy cơm nấu bằng gạo Sāli đã nhặt sạch sạn đen, với nhiều món canh, nhiều món đồ ăn, rồi lấy một cái bát bằng đồng khác đậy lại và đi vào giữa khu chợ. Người ta thấy vậy liền nói rằng: ‘Này ông bạn, cái gì đây mà ông mang đi trông như món quà quý giá vậy?’ Rồi người ấy đứng dậy, mở ra và nhìn vào. Ngay khi vừa nhìn thấy, sự ưa thích liền phát sanh, sự không ghê tởm liền phát sanh, sự không kinh tởm liền phát sanh; ngay cả những người đã no cũng có ý muốn ăn, huống nữa là những người đang đói. Cũng vậy, này hiền hữu, đối với bất kỳ vị tỳ khưu nào mà các pháp ác, bất thiện, các hành vi do dục vọng này đã được đoạn trừ, được thấy và được nghe, dầu cho vị ấy là vị sống ở gần làng, là vị nhận lời mời, là vị mặc y của gia chủ, thì các vị đồng phạm hạnh vẫn cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường vị ấy. Vì cớ sao? Vì rằng các pháp ác, bất thiện, các hành vi do dục vọng ấy của vị tôn giả ấy đã được đoạn trừ, được thấy và được nghe.
Evaṁ vutte, āyasmā mahāmoggallāno āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “upamā maṁ, āvuso sāriputta, paṭibhātī”ti.
“Paṭibhātu taṁ, āvuso moggallānā”ti.
“Ekamidāhaṁ, āvuso, samayaṁ rājagahe viharāmi giribbaje. Atha khvāhaṁ, āvuso, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Tena kho pana samayena samīti yānakāraputto rathassa nemiṁ tacchati. Tamenaṁ paṇḍuputto ājīvako purāṇayānakāraputto paccupaṭṭhito hoti. Atha kho, āvuso, paṇḍuputtassa ājīvakassa purāṇayānakāraputtassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘aho vatāyaṁ samīti yānakāraputto imissā nemiyā imañca vaṅkaṁ imañca jimhaṁ imañca dosaṁ taccheyya, evāyaṁ nemi apagatavaṅkā apagatajimhā apagatadosā suddhā assa sāre patiṭṭhitā’ti. Yathā yathā kho, āvuso, paṇḍuputtassa ājīvakassa purāṇayānakāraputtassa cetaso parivitakko hoti tathā tathā samīti yānakāraputto tassā nemiyā tañca vaṅkaṁ tañca jimhaṁ tañca dosaṁ tacchati. Atha kho, āvuso, paṇḍuputto ājīvako purāṇayānakāraputto attamano attamanavācaṁ nicchāresi: ‘hadayā hadayaṁ maññe aññāya tacchatī’ti.
When he said this, Venerable Mahāmoggallāna said to him, “Reverend Sāriputta, a simile strikes me.”
“Then speak as you feel inspired,” said Sāriputta.
“Reverend, this one time I was staying right here in Rājagaha, the Mountainfold. Then I robed up in the morning and, taking my bowl and robe, entered Rājagaha for alms. Now at that time Samīti of the wainwrights was planing the rim of a chariot wheel. The Ājīvaka ascetic Paṇḍuputta, who was formerly of the wainwrights, was standing by, and this thought came to his mind: ‘Oh, I hope Samīti the wainwright planes out the crooks, bends, and flaws in this rim. Then the rim will be rid of crooks, bends, and flaws, pure, and consolidated in the core.’ And Samīti planed out the flaws in the rim just as Paṇḍuputta thought. Then Paṇḍuputta expressed his gladness: ‘He planes like he knows my heart with his heart!’
63. Khi được nói vậy, tôn giả Mahā Moggallāna bạch với tôn giả Sāriputta điều này: ‘Thưa hiền hữu Sāriputta, một ví dụ đã khởi lên trong tôi.’ – ‘Hiền hữu Moggallāna, hãy nói ra ví dụ ấy.’ ‘Thưa hiền hữu, có một thời tôi trú ở Rājagaha, tại Giribbaja. Bấy giờ, thưa hiền hữu, vào buổi sáng, tôi đắp y, mang bát và y, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Vào lúc ấy, Samīti, con trai của người thợ xe, đang đẽo vành bánh xe. Và Paṇḍuputta, một vị Ājīvaka, trước kia là con trai của người thợ xe, đang đứng gần đó. Bấy giờ, thưa hiền hữu, trong tâm của Paṇḍuputta, vị Ājīvaka, trước kia là con trai của người thợ xe, khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Ồ, giá như Samīti, con trai của người thợ xe này, đẽo bỏ chỗ cong này, chỗ vẹo này, và khuyết điểm này của vành bánh xe, thì vành bánh xe này sẽ không còn cong, không còn vẹo, không còn khuyết điểm, sẽ được trong sạch và nằm vững trong lõi cây.’ Và thưa hiền hữu, mỗi khi trong tâm của Paṇḍuputta, vị Ājīvaka, trước kia là con trai của người thợ xe, khởi lên suy nghĩ nào, thì Samīti, con trai của người thợ xe, lại đẽo bỏ chỗ cong ấy, chỗ vẹo ấy, và khuyết điểm ấy của vành bánh xe. Bấy giờ, thưa hiền hữu, Paṇḍuputta, vị Ājīvaka, trước kia là con trai của người thợ xe, lấy làm hoan hỷ, đã thốt lên lời hoan hỷ: ‘Dường như ông ấy đẽo mà biết được tâm của ta bằng tâm của mình!’
Evameva kho, āvuso, ye te puggalā assaddhā, jīvikatthā na saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, saṭhā māyāvino ketabino uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā, indriyesu aguttadvārā, bhojane amattaññuno, jāgariyaṁ ananuyuttā, sāmaññe anapekkhavanto, sikkhāya na tibbagāravā, bāhulikā sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā, kusītā hīnavīriyā muṭṭhassatī asampajānā asamāhitā vibbhantacittā duppaññā eḷamūgā, tesaṁ āyasmā sāriputto iminā dhammapariyāyena hadayā hadayaṁ maññe aññāya tacchati.
In the same way, there are those faithless individuals who went forth from the lay life to homelessness not out of faith but to earn a livelihood. They’re devious, deceitful, and sneaky. They’re haughty, insolent, fickle, scurrilous, and loose-tongued. They do not guard their sense doors or eat in moderation, and they are not dedicated to wakefulness. They don’t care about the ascetic life, and don’t keenly respect the training. They’re indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion, lazy, and lacking energy. They’re unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds, witless and idiotic. Venerable Sāriputta planes their faults with this exposition of the teaching as if he knows my heart with his heart!
Cũng vậy, thưa hiền hữu, những hạng người nào không có đức tin, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình chỉ vì sinh kế chứ không phải vì đức tin; là những kẻ xảo trá, gian manh, lừa đảo, dao động, kiêu mạn, lăng xăng, lắm lời, nói năng bừa bãi; không hộ trì các căn, không biết tiết độ trong ăn uống, không chuyên tâm tỉnh thức, không quan tâm đến đời sống sa-môn, không hết lòng tôn trọng học giới; là những kẻ sống xa hoa, buông thả, đi đầu trong việc thoái chuyển, rũ bỏ gánh nặng của đời sống viễn ly; là những kẻ lười biếng, nghị lực thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm trí rối loạn, trí tuệ yếu kém, ngu si câm lặng — đối với những người ấy, tôn giả Sāriputta, với bài pháp này, dường như đang đẽo gọt mà biết được tâm của họ bằng tâm của mình.
Ye pana te kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā, indriyesu guttadvārā, bhojane mattaññuno, jāgariyaṁ anuyuttā, sāmaññe apekkhavanto, sikkhāya tibbagāravā, na bāhulikā na sāthalikā, okkamane nikkhittadhurā, paviveke pubbaṅgamā, āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatī sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te āyasmato sāriputtassa imaṁ dhammapariyāyaṁ sutvā pivanti maññe, ghasanti maññe vacasā ceva manasā ca: ‘sādhu vata, bho, sabrahmacārī akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetī’ti.
Seyyathāpi, āvuso, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko sīsaṁnhāto uppalamālaṁ vā vassikamālaṁ vā atimuttakamālaṁ vā labhitvā ubhohi hatthehi paṭiggahetvā uttamaṅge sirasmiṁ patiṭṭhapeyya; evameva kho, āvuso, ye te kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā, indriyesu guttadvārā, bhojane mattaññuno, jāgariyaṁ anuyuttā, sāmaññe apekkhavanto, sikkhāya tibbagāravā, na bāhulikā na sāthalikā, okkamane nikkhittadhurā, paviveke pubbaṅgamā, āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatī sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te āyasmato sāriputtassa imaṁ dhammapariyāyaṁ sutvā pivanti maññe, ghasanti maññe vacasā ceva manasā ca: ‘sādhu vata, bho, sabrahmacārī akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetī’”ti. Itiha te ubho mahānāgā aññamaññassa subhāsitaṁ samanumodiṁsūti.
But there are those gentlemen who went forth from the lay life to homelessness out of faith. They’re not devious, deceitful, and sneaky. They’re not haughty, insolent, fickle, scurrilous, and loose-tongued. They guard their sense doors and eat in moderation, and they are dedicated to wakefulness. They care about the ascetic life, and keenly respect the training. They’re not indulgent or slack, nor are they leaders in backsliding, neglecting seclusion. They’re energetic and determined. They’re mindful, with situational awareness, immersion, and unified minds; wise and clever. Hearing this exposition of the teaching from Venerable Sāriputta, they drink it up and devour it, as it were. And in speech and thought they say: ‘It’s good, sir, that he draws his spiritual companions away from the unskillful and establishes them in the skillful.’
Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and had bathed their head. Presented with a garland of lotuses, jasmine, or liana flowers, they would take them in both hands and place them on the crown of the head. In the same way, those gentlemen who went forth from the lay life to homelessness out of faith … say: ‘It’s good, sir, that he draws his spiritual companions away from the unskillful and establishes them in the skillful.’” And so these two spiritual giants agreed with each other’s fine words.
“Còn những thiện nam tử nào có đức tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lừa đảo, không gian dối, không dao động, không kiêu mạn, không nông nổi, không lắm lời, không nói lời tạp loạn, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm tỉnh giác, có lòng kính trọng đối với đời sống Sa-môn, có lòng tôn kính tha thiết đối với việc học tập, không sống trong sự sung túc, không buông thả, đã từ bỏ gánh nặng trong sự suy thoái, đi đầu trong sự viễn ly, tinh tấn nỗ lực, quyết tâm, an trú chánh niệm, tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không ngu độn câm ngọng; những vị ấy sau khi nghe pháp môn này của tôn giả Sāriputta, tôi nghĩ rằng họ đang uống, tôi nghĩ rằng họ đang ăn bằng cả lời nói và ý nghĩ: ‘Thật lành thay, thưa chư hiền, vị đồng phạm hạnh đã giúp các vị khác ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện.’ Thưa chư hiền, ví như một người nữ hay một người nam, trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang điểm, sau khi gội đầu, nhận được một vòng hoa sen, hoặc hoa lài, hoặc hoa atimuttaka, liền dùng cả hai tay đón lấy và đặt lên trên đầu, là nơi cao quý nhất; cũng vậy, thưa chư hiền, những thiện nam tử nào có đức tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lừa đảo, không gian dối, không dao động, không kiêu mạn, không nông nổi, không lắm lời, không nói lời tạp loạn, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm tỉnh giác, có lòng kính trọng đối với đời sống Sa-môn, có lòng tôn kính tha thiết đối với việc học tập, không sống trong sự sung túc, không buông thả, đã từ bỏ gánh nặng trong sự suy thoái, đi đầu trong sự viễn ly, tinh tấn nỗ lực, quyết tâm, an trú chánh niệm, tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không ngu độn câm ngọng; những vị ấy sau khi nghe pháp môn này của tôn giả Sāriputta, tôi nghĩ rằng họ đang uống, tôi nghĩ rằng họ đang ăn bằng cả lời nói và ý nghĩ: ‘Thật lành thay, thưa chư hiền, vị đồng phạm hạnh đã giúp các vị khác ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện.’ Như vậy, hai vị đại long tượng ấy đã cùng nhau hoan hỷ lời nói khéo nói của nhau.”
Anaṅgaṇasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Vô Nhiễm, bài kinh thứ năm, đã chấm dứt.