- Majjhima Nikāya 46
Mahādhammasamādānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahādhammasamādānasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá Ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
—Này các Tỷ-kheo.
—Bạch Thế Tôn.
SC 2Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 3—Này các Tỷ-kheo, phần lớn các loài hữu tình có dục như thế này, có ước vọng như thế này, có nguyện vọng như thế này: “Ôi, mong rằng các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý được tiêu diệt! Mong rằng các pháp khả ái, khả lạc, khả ý được tăng trưởng!” Này các Tỷ-kheo, dầu cho các loài hữu tình ấy có dục như vậy, có ước vọng như vậy, có nguyện vọng như vậy, nhưng các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý được tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý bị tiêu diệt. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Người có biết vì nguyên nhân gì không?
SC 4—Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp dựa Thế Tôn làm căn bản, hướng Thế Tôn làm lãnh đạo, nương tựa Thế Tôn làm y cứ. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn thuyết giảng cho ý nghĩa này! Sau khi được nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ hành trì.
SC 5—Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 6—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 7Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 8—Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu, không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, không biết rõ các pháp nên phục vụ, không biết rõ các pháp không nên phục vụ, không biết rõ các pháp nên thân cận, không biết rõ các pháp không nên thân cận. Vì không biết rõ các pháp nên phục vụ, không biết rõ các pháp không nên phục vụ, không biết rõ các pháp nên thân cận, không biết rõ các pháp không nên thân cận, vị này phục vụ các pháp không nên phục vụ, không phục vụ các pháp nên phục vụ, thân cận các pháp không nên thân cận, không thân cận các pháp nên thân cận. Vị này vì phục vụ các pháp không nên phục vụ, không phục vụ các pháp nên phục vụ, vì thân cận các pháp không nên thân cận, không thân cận các pháp nên thân cận, cho nên các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý bị tiêu diệt. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì người ấy không có trí đối với pháp này.
SC 9Và này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, biết rõ các pháp nên phục vụ, biết rõ các pháp không nên phục vụ, biết rõ các pháp nên thân cận, biết rõ các pháp không nên thân cận. Vì biết rõ các pháp nên phục vụ, biết rõ các pháp không nên phục vụ, biết rõ các pháp nên thân cận, biết rõ các pháp không nên thân cận, vị này phục vụ các pháp nên phục vụ, không phục vụ các pháp không nên phục vụ, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Vị này vì phục vụ các pháp nên phục vụ, không phục vụ các pháp không nên phục vụ, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận, cho nên các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý bị tiêu diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý được tăng trưởng. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì vị ấy có trí đối với pháp này.
SC 10Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp hành. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, có pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo cũng khổ. Này các Tỷ-kheo, các pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Này các Tỷ-kheo, có pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Này các Tỷ-kheo, có pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc.
SC 11Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Do vô trí với pháp này, do si mê, nên không tuệ tri như chân: “Ðây là pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ”. Do vô trí với pháp này, do si mê, do không tuệ tri như chân, nên phục vụ pháp này, không tránh né pháp này. Vì phục vụ pháp này, vì không tránh né pháp nầy, nên đối với vị này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý bị tiêu diệt. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì vị ấy không có trí đối với pháp này.
SC 12Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Do vô trí với pháp này, do si mê nên không biết như chân: “Ðây là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ”. Do vô trí với pháp này, do si mê, do không tuệ tri như chân, nên phục vụ pháp này, không tránh né pháp này. Vì phục vụ pháp này, vì không tránh né pháp này, nên đối với vị này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý bị tiêu diệt. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì vị ấy không có trí đối với pháp này.
SC 13Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Do vô trí với pháp này, do si mê nên không tuệ tri như chân: “Ðây là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc”. Do vô trí với pháp này, do si mê, do không tuệ tri như chân, nên không phục vụ pháp này, tránh né pháp này. Vì không phục vụ pháp này, tránh né pháp này, nên đối với vị này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý bị tiêu diệt. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì vị ấy không có trí đối với pháp này?
SC 14Ở đây, này các Tỷ-kheo, đấy là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng lạc. Do vô trí với pháp này, do si mê, nên không tuệ tri như chân: “Ðây là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc”. Do vô trí với pháp này, do si mê, do không tuệ tri như chân, nên không phục vụ pháp này, tránh né pháp này. Vì không phục vụ pháp này, vì tránh né pháp này, nên đối với vị này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý bị tiêu diệt. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì vị ấy không có trí đối với pháp này.
SC 15Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Do có trí với pháp này, do tâm sáng suốt, vị này tuệ tri như chơn: “Pháp hành này hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ”. Do có trí với pháp này, do tâm sáng suốt, do tuệ tri như chơn, vị này không phục vụ pháp này, tránh né pháp này. Do không phục vụ pháp này, do tránh né pháp này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý bị tiêu diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý tăng trưởng. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì vị ấy có trí đối với pháp này.
SC 16Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Do có trí với pháp này, do tâm sáng suốt, vị này tuệ tri như chơn: “Pháp hành này hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ”. Do có trí với pháp này, do tâm sáng suốt, do tuệ tri như chân, vị này không phục vụ pháp này, tránh né pháp này. Do không phục vụ pháp này, do tránh né pháp này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý bị tiêu diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý tăng trưởng. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì vị ấy có trí đối với pháp này.
SC 17Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Do có trí đối với pháp này, do tâm sáng suốt, vị này tuệ tri như chân: “Pháp này hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc”. Do có trí đối với pháp này, do tâm sáng suốt, do tuệ tri như chân, vị này phục vụ pháp này, không tránh né pháp này. Do phục vụ pháp này, không tránh né pháp này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý bị tiêu diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý tăng trưởng. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì vị ấy có trí đối với pháp này.
SC 18Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc. Do có trí với pháp này, do tâm sáng suốt, vị này tuệ tri như chân: “Pháp hành này hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc”. Do có trí với pháp này, do tâm sáng suốt, do tuệ tri như chân, vị này phục vụ pháp này, không tránh né pháp này. Do phục vụ pháp này, do không tránh né pháp này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý bị tiêu diệt; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý tăng trưởng. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vì vị ấy có trí đối với pháp này.
SC 19Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với khổ, với ưu, sát sanh, và do duyên sát sanh, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu lấy của không cho, và do duyên lấy của không cho, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu sống theo tà hạnh trong các dục, và do duyên sống theo tà hạnh trong các dục, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu nói lời vọng ngữ, và do duyên nói lời vọng ngữ, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu nói lời hai lưỡi, và do duyên nói lời hai lưỡi, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, nói lời ác ngữ, và do duyên nói lời ác ngữ, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, nói lời phù phiếm và do duyên nói lời phù phiếm, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, có tâm tham ái, và do duyên có tâm tham ái, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu có tâm sân hận, và do duyên có tâm sân hận cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu có tà kiến, và do duyên tà kiến cảm thọ khổ ưu. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo cũng khổ.
SC 20Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lạc, với hỷ, sát sanh và do duyên sát sanh, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, lấy của không cho và do duyên lấy của không cho, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, sống theo tà hạnh trong các dục, và do duyên sống theo tà hạnh trong các dục, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, nói lời vọng ngữ, và do duyên nói lời vọng ngữ, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, nói lời hai lưỡi, và do duyên nói lời hai lưỡi, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, nói lời ác ngữ và do duyên nói lời ác ngữ, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, nói lời phù phiếm, và do duyên nói lời phù phiếm, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, có tâm tham ái và do duyên có tâm tham ái, cảm thọ lạc và hỷ, với lạc, với hỷ, có tâm sân hận, và do duyên có tâm sân hận, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, có tà kiến, và do duyên có tà kiến, cảm thọ lạc và hỷ. Vị này sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ.
SC 21Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với khổ với ưu, từ bỏ sát sanh, và do duyên từ bỏ sát sanh cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ lấy của không cho, và do duyên từ bỏ lấy của không cho cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ tà hạnh trong các dục, và do duyên từ bỏ tà hạnh trong các dục, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu từ bỏ nói lời vọng ngữ và do duyên từ bỏ nói lời vọng ngữ cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ nói lời hai lưỡi, và do duyên từ bỏ nói lời hai lưỡi, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ nói lời ác ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời ác ngữ, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ nói lời phù phiếm, và do duyên từ bỏ nói lời phù phiếm, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ tâm tham ái, và do duyên từ bỏ tâm tham ái, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ tâm sân hận, và do duyên từ bỏ tâm sân hận, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ tà kiến, và do duyên từ bỏ tà kiến, cảm thọ khổ ưu. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy này các Tỷ-kheo, gọi là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc.
SC 22Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lạc, với hỷ, từ bỏ sát sanh và do duyên từ bỏ sát sanh, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ lấy của không cho, và do duyên từ bỏ lấy của không cho, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ các tà hạnh trong các dục, và do duyên từ bỏ các tà hạnh trong các dục, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời vọng ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời vọng ngữ, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời hai lưỡi, và do duyên từ bỏ nói lời hai lưỡi, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ ác ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời ác ngữ, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời phù phiếm, và do duyên từ bỏ nói lời phù phiếm, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, không có tham ái, và do duyên không có tham ái, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, không có sân tâm và do duyên không có sân tâm, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, có chánh kiến và do duyên chánh kiến, cảm thọ lạc và hỷ. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc.
SC 23Này các Tỷ-kheo, ví như trái bí đắng có tẩm thuốc độc. Rồi một người đến muốn sống, muốn không chết, ưa lạc, hiềm ghét khổ, và có người nói với người ấy như sau: “Này bạn, trái bí đắng này có tẩm thuốc độc, nếu bạn muốn, hãy ăn. Trong khi ăn, bạn không được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi ăn, bạn có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết”. Người ấy có thể ăn không có suy nghĩ, không có từ bỏ. Trong khi ăn, người ấy không được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi ăn, người ấy bị chết, hay bị đau khổ gần như chết. Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy, tức là pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ.
SC 24Này các Tỷ-kheo, ví như một bình đồng đựng nước uống, có sắc, có hương, có vị, và nước uống ấy có tẩm thuốc độc. Rồi một người đến, muốn sống, muốn không chết, muốn ưa lạc, hiềm ghét khổ. Và có người nói với người ấy như sau: “Này bạn, bình đồng đựng nước uống này, có sắc, có hương, có vị, và nước uống ấy có tẩm thuốc độc. Nếu bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, bạn có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết”. Người kia có thể uống, không suy nghĩ, không từ bỏ. Trong khi uống, người ấy được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, người ấy có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết. Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy, tức là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ.
SC 25Này các Tỷ-kheo, ví như nước đái quỷ được trộn nhiều loại thuốc. Rồi có người đi đến, bị bệnh hoàng đản, và có người nói với người đó như sau: “Này bạn, nước đái quỷ này được trộn với nhiều loại thuốc. Nếu bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, bạn không được thích thú về sắc, về hương, về vị. Nhưng sau khi uống, bạn sẽ được an lạc”. Người ấy có thể uống, sau khi suy nghĩ, không có từ bỏ. Trong khi uống, người ấy không được thích thú về sắc, về hương, về vị. Nhưng sau khi uống, người ấy được an lạc. Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy, tức là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc.
SC 26Này các Tỷ-kheo, ví như lạc, mật, thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Rồi có người đi đến bị bệnh kiết lỵ. Và có người nói với người ấy như sau: “Này bạn, đây là lạc, mật, thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Nếu bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, bạn sẽ được an lạc”. Người kia có thể uống, sau khi suy nghĩ, không có từ bỏ. Trong khi uống, người kia được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, người kia được an lạc. Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy, tức là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng lạc. Này các Tỷ-kheo, ví như trong tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, mùa gặt hái, khí bầu trời quang đãng, không có mây, và mặt trời mọc lên giữa bầu trời, phá sạch hắc ám khắp cả hư không, và chói sáng, hực sáng và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng lạc này, sau khi phá sạch các dị thuyết của các Sa-môn, Bà-la-môn tầm thường, chói sáng, hực sáng và rực sáng.
SC 27Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Đại Pháp Hành
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“yebhuyyena, bhikkhave, sattā evaṅkāmā evaṁchandā evaṁadhippāyā: ‘aho vata aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā parihāyeyyuṁ, iṭṭhā kantā manāpā dhammā abhivaḍḍheyyun’ti. Tesaṁ, bhikkhave, sattānaṁ evaṅkāmānaṁ evaṁchandānaṁ evaṁadhippāyānaṁ aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā abhivaḍḍhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā parihāyanti. Tatra tumhe, bhikkhave, kaṁ hetuṁ paccethā”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā, bhagavaṁnettikā, bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaññeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho; bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, sentient beings typically have the wish, desire, and hope: ‘Oh, if only unlikable, undesirable, and disagreeable things would decrease, and likable, desirable, and agreeable things would increase!’ But exactly the opposite happens to them. What do you take to be the reason for this?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
473. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: "Này các tỳ khưu". "Bạch Thế Tôn", các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này: "Này các tỳ khưu, phần lớn chúng sanh có mong muốn như vầy, có ý muốn như vầy, có chủ ý như vầy: 'Ôi, mong sao các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không đẹp lòng sẽ suy giảm, và các pháp mong muốn, đáng ưa, đẹp lòng sẽ tăng trưởng!' Này các tỳ khưu, đối với các chúng sanh có mong muốn như vậy, có ý muốn như vậy, có chủ ý như vậy, thì các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không đẹp lòng lại tăng trưởng; còn các pháp mong muốn, đáng ưa, đẹp lòng lại suy giảm. Này các tỳ khưu, ở đây, các con nhận thấy nhân duyên gì?" "Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con có Thế Tôn là cội rễ, có Thế Tôn là người dẫn dắt, có Thế Tôn là nơi nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, mong rằng chính Thế Tôn hãy giải thích ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các vị tỳ khưu sẽ ghi nhớ." "Vậy thì, này các tỳ khưu, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói." "Xin vâng, bạch Thế Tôn", các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano, ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto, sevitabbe dhamme na jānāti asevitabbe dhamme na jānāti, bhajitabbe dhamme na jānāti abhajitabbe dhamme na jānāti. So sevitabbe dhamme ajānanto asevitabbe dhamme ajānanto, bhajitabbe dhamme ajānanto abhajitabbe dhamme ajānanto, asevitabbe dhamme sevati sevitabbe dhamme na sevati, abhajitabbe dhamme bhajati bhajitabbe dhamme na bhajati. Tassa asevitabbe dhamme sevato sevitabbe dhamme asevato, abhajitabbe dhamme bhajato bhajitabbe dhamme abhajato aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā abhivaḍḍhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā parihāyanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti yathā taṁ aviddasuno.
“Take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They don’t know what practices they should cultivate and foster, and what practices they shouldn’t cultivate and foster. So they cultivate and foster practices they shouldn’t, and don’t cultivate and foster practices they should. When they do so, unlikable, undesirable, and disagreeable things increase, and likable, desirable, and agreeable things decrease. Why is that? Because that’s what it’s like for the ignorant.
474. “Này các tỳ khưu, ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thông thạo Thánh pháp, không được rèn luyện trong Thánh pháp; không thấy các bậc chân nhân, không thông thạo pháp của bậc chân nhân, không được rèn luyện trong pháp của bậc chân nhân, không biết các pháp nên thực hành, không biết các pháp không nên thực hành, không biết các pháp nên thân cận, không biết các pháp không nên thân cận. Vị ấy, do không biết các pháp nên thực hành, không biết các pháp không nên thực hành, không biết các pháp nên thân cận, không biết các pháp không nên thân cận, nên thực hành các pháp không nên thực hành, không thực hành các pháp nên thực hành; thân cận các pháp không nên thân cận, không thân cận các pháp nên thân cận. Đối với vị ấy, do thực hành các pháp không nên thực hành, không thực hành các pháp nên thực hành, thân cận các pháp không nên thân cận, không thân cận các pháp nên thân cận, nên các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không đẹp lòng tăng trưởng; còn các pháp mong muốn, đáng ưa, đẹp lòng suy giảm. Vì nhân duyên gì? Này các tỳ khưu, điều này là như vậy, vì đó là trường hợp của người không có trí tuệ.”
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako, ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto, sevitabbe dhamme jānāti asevitabbe dhamme jānāti, bhajitabbe dhamme jānāti abhajitabbe dhamme jānāti. So sevitabbe dhamme jānanto asevitabbe dhamme jānanto, bhajitabbe dhamme jānanto abhajitabbe dhamme jānanto, asevitabbe dhamme na sevati sevitabbe dhamme sevati, abhajitabbe dhamme na bhajati bhajitabbe dhamme bhajati. Tassa asevitabbe dhamme asevato sevitabbe dhamme sevato, abhajitabbe dhamme abhajato bhajitabbe dhamme bhajato, aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā abhivaḍḍhanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti yathā taṁ viddasuno.
But a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They know what practices they should cultivate and foster, and what practices they shouldn’t cultivate and foster. So they cultivate and foster practices they should, and don’t cultivate and foster practices they shouldn’t. When they do so, unlikable, undesirable, and disagreeable things decrease, and likable, desirable, and agreeable things increase. Why is that? Because that’s what it’s like for the knowledgable.
“Này các tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, thấy các bậc Thánh, thông thạo Thánh pháp, được rèn luyện kỹ trong Thánh pháp; thấy các bậc chân nhân, thông thạo pháp của bậc chân nhân, được rèn luyện kỹ trong pháp của bậc chân nhân, biết các pháp nên thực hành, biết các pháp không nên thực hành, biết các pháp nên thân cận, biết các pháp không nên thân cận. Vị ấy, do biết các pháp nên thực hành, biết các pháp không nên thực hành, biết các pháp nên thân cận, biết các pháp không nên thân cận, nên không thực hành các pháp không nên thực hành, thực hành các pháp nên thực hành; không thân cận các pháp không nên thân cận, thân cận các pháp nên thân cận. Đối với vị ấy, do không thực hành các pháp không nên thực hành, thực hành các pháp nên thực hành, không thân cận các pháp không nên thân cận, thân cận các pháp nên thân cận, nên các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không đẹp lòng suy giảm; còn các pháp mong muốn, đáng ưa, đẹp lòng tăng trưởng. Vì nhân duyên gì? Này các tỳ khưu, điều này là như vậy, vì đó là trường hợp của người có trí tuệ.”
Cattārimāni, bhikkhave, dhammasamādānāni. Katamāni cattāri? Atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ; atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ; atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ; atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ, taṁ avidvā avijjāgato yathābhūtaṁ nappajānāti: ‘idaṁ kho dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākan’ti. Taṁ avidvā avijjāgato yathābhūtaṁ appajānanto taṁ sevati, taṁ na parivajjeti. Tassa taṁ sevato, taṁ aparivajjayato, aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā abhivaḍḍhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā parihāyanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti yathā taṁ aviddasuno.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ taṁ avidvā avijjāgato yathābhūtaṁ nappajānāti: ‘idaṁ kho dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākan’ti. Taṁ avidvā avijjāgato yathābhūtaṁ appajānanto taṁ sevati, taṁ na parivajjeti. Tassa taṁ sevato, taṁ aparivajjayato, aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā abhivaḍḍhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā parihāyanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti yathā taṁ aviddasuno.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ, taṁ avidvā avijjāgato yathābhūtaṁ nappajānāti: ‘idaṁ kho dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākan’ti. Taṁ avidvā avijjāgato yathābhūtaṁ appajānanto taṁ na sevati, taṁ parivajjeti. Tassa taṁ asevato, taṁ parivajjayato, aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā abhivaḍḍhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā parihāyanti. Taṁ kissa hetu?
Mendicants, there are these four ways of taking up practices. What four? There is a way of taking up practices that is painful now and results in future pain. There is a way of taking up practices that is pleasant now but results in future pain. There is a way of taking up practices that is painful now but results in future pleasure. There is a way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure.
When it comes to the way of taking up practices that is painful now and results in future pain, an ignoramus, without knowing this, doesn’t truly understand: ‘This is the way of taking up practices that is painful now and results in future pain.’ So instead of avoiding that practice, they cultivate it. When they do so, unlikable, undesirable, and disagreeable things increase, and likable, desirable, and agreeable things decrease. Why is that? Because that’s what it’s like for the ignorant.
When it comes to the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pain, an ignoramus … cultivates it … and disagreeable things increase …
When it comes to the way of taking up practices that is painful now and results in future pleasure, an ignoramus … doesn’t cultivate it … and disagreeable things increase …
475. “Này các tỳ khưu, có bốn sự thực hành pháp này. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, có sự thực hành pháp khổ trong hiện tại và có quả khổ trong tương lai; này các tỳ khưu, có sự thực hành pháp lạc trong hiện tại nhưng có quả khổ trong tương lai; này các tỳ khưu, có sự thực hành pháp khổ trong hiện tại nhưng có quả lạc trong tương lai; này các tỳ khưu, có sự thực hành pháp lạc trong hiện tại và có quả lạc trong tương lai.”
“Này các tỳ khưu, trong bốn trường hợp ấy, có sự thực hành pháp này là khổ trong hiện tại, có quả an lạc trong tương lai. Người vô trí, bị vô minh bao phủ, không biết như thật về pháp ấy rằng: ‘Sự thực hành pháp này là khổ trong hiện tại, có quả an lạc trong tương lai.’ Người vô trí, bị vô minh bao phủ ấy, do không biết như thật nên không thực hành pháp ấy, tránh xa pháp ấy. Đối với người ấy, do không thực hành, do tránh xa pháp ấy, các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không vừa ý tăng trưởng; các pháp mong muốn, đáng ưa, vừa ý bị suy giảm. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, điều này là như vậy, vì đó là bản chất của người vô trí.”
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ, taṁ avidvā avijjāgato yathābhūtaṁ nappajānāti: ‘idaṁ kho dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākan’ti. Taṁ avidvā avijjāgato yathābhūtaṁ appajānanto taṁ na sevati, taṁ parivajjeti. Tassa taṁ asevato, taṁ parivajjayato, aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā abhivaḍḍhanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā parihāyanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti yathā taṁ aviddasuno.
When it comes to the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure, an ignoramus … doesn’t cultivate it … and disagreeable things increase … Why is that? Because that’s what it’s like for the ignorant.
“Này các tỳ khưu, trong bốn trường hợp ấy, có sự thực hành pháp này là an lạc cả trong hiện tại và có quả an lạc cả trong tương lai. Người vô trí, bị vô minh bao phủ, không biết như thật về pháp ấy rằng: ‘Sự thực hành pháp này là an lạc cả trong hiện tại và có quả an lạc cả trong tương lai.’ Người vô trí, bị vô minh bao phủ ấy, do không biết như thật nên không thực hành pháp ấy, tránh xa pháp ấy. Đối với người ấy, do không thực hành, do tránh xa pháp ấy, các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không vừa ý tăng trưởng; các pháp mong muốn, đáng ưa, vừa ý bị suy giảm. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, điều này là như vậy, vì đó là bản chất của người vô trí.”
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ taṁ vidvā vijjāgato yathābhūtaṁ pajānāti: ‘idaṁ kho dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākan’ti. Taṁ vidvā vijjāgato yathābhūtaṁ pajānanto taṁ na sevati, taṁ parivajjeti. Tassa taṁ asevato, taṁ parivajjayato, aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā abhivaḍḍhanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti yathā taṁ viddasuno.
When it comes to the way of taking up practices that is painful now and results in future pain, a wise person, knowing this, truly understands: ‘This is the way of taking up practices that is painful now and results in future pain.’ So instead of cultivating that practice, they avoid it. When they do so, unlikable, undesirable, and disagreeable things decrease, and likable, desirable, and agreeable things increase. Why is that? Because that’s what it’s like for the knowledgable.
477. “Này các tỳ khưu, trong bốn trường hợp ấy, có sự thực hành pháp này là khổ cả trong hiện tại và có quả khổ cả trong tương lai. Người có trí, có minh, biết như thật về pháp ấy rằng: ‘Sự thực hành pháp này là khổ cả trong hiện tại và có quả khổ cả trong tương lai.’ Người có trí, có minh ấy, do biết như thật nên không thực hành pháp ấy, tránh xa pháp ấy. Đối với người ấy, do không thực hành, do tránh xa pháp ấy, các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không vừa ý bị suy giảm; các pháp mong muốn, đáng ưa, vừa ý tăng trưởng. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, điều này là như vậy, vì đó là bản chất của người có trí.”
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ taṁ vidvā vijjāgato yathābhūtaṁ pajānāti: ‘idaṁ kho dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākan’ti. Taṁ vidvā vijjāgato yathābhūtaṁ pajānanto taṁ na sevati, taṁ parivajjeti. Tassa taṁ asevato, taṁ parivajjayato, aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā abhivaḍḍhanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti yathā taṁ viddasuno.
When it comes to the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pain, a wise person … doesn’t cultivate it … and agreeable things increase …
“Này các tỳ khưu, trong bốn trường hợp ấy, có sự thực hành pháp này là an lạc trong hiện tại, có quả khổ trong tương lai. Người có trí, có minh, biết như thật về pháp ấy rằng: ‘Sự thực hành pháp này là an lạc trong hiện tại, có quả khổ trong tương lai.’ Người có trí, có minh ấy, do biết như thật nên không thực hành pháp ấy, tránh xa pháp ấy. Đối với người ấy, do không thực hành, do tránh xa pháp ấy, các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không vừa ý bị suy giảm; các pháp mong muốn, đáng ưa, vừa ý tăng trưởng. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, điều này là như vậy, vì đó là bản chất của người có trí.”
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ taṁ vidvā vijjāgato yathābhūtaṁ pajānāti: ‘idaṁ kho dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākan’ti. Taṁ vidvā vijjāgato yathābhūtaṁ pajānanto taṁ sevati, taṁ na parivajjeti. Tassa taṁ sevato, taṁ aparivajjayato, aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā abhivaḍḍhanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti yathā taṁ viddasuno.
When it comes to the way of taking up practices that is painful now and results in future pleasure, a wise person … cultivates it … and agreeable things increase …
“Này các tỳ khưu, trong bốn trường hợp ấy, có sự thực hành pháp này là khổ trong hiện tại, có quả an lạc trong tương lai. Người có trí, có minh, biết như thật về pháp ấy rằng: ‘Sự thực hành pháp này là khổ trong hiện tại, có quả an lạc trong tương lai.’ Người có trí, có minh ấy, do biết như thật nên thực hành pháp ấy, không tránh xa pháp ấy. Đối với người ấy, do thực hành, do không tránh xa pháp ấy, các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không vừa ý bị suy giảm; các pháp mong muốn, đáng ưa, vừa ý tăng trưởng. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, điều này là như vậy, vì đó là bản chất của người có trí.”
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ taṁ vidvā vijjāgato yathābhūtaṁ pajānāti: ‘idaṁ kho dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākan’ti. Taṁ vidvā vijjāgato yathābhūtaṁ pajānanto taṁ sevati, taṁ na parivajjeti. Tassa taṁ sevato, taṁ aparivajjayato, aniṭṭhā akantā amanāpā dhammā parihāyanti, iṭṭhā kantā manāpā dhammā abhivaḍḍhanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti yathā taṁ viddasuno.
When it comes to the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure, a wise person, knowing this, truly understands: ‘This is the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure.’ So instead of avoiding that practice, they cultivate it. When they do so, unlikable, undesirable, and disagreeable things decrease, and likable, desirable, and agreeable things increase. Why is that? Because that’s what it’s like for the knowledgable.
“Này các tỳ khưu, trong bốn trường hợp ấy, có sự thực hành pháp này là an lạc cả trong hiện tại và có quả an lạc cả trong tương lai. Người có trí, có minh, biết như thật về pháp ấy rằng: ‘Sự thực hành pháp này là an lạc cả trong hiện tại và có quả an lạc cả trong tương lai.’ Người có trí, có minh ấy, do biết như thật nên thực hành pháp ấy, không tránh xa pháp ấy. Đối với người ấy, do thực hành, do không tránh xa pháp ấy, các pháp không mong muốn, không đáng ưa, không vừa ý bị suy giảm; các pháp mong muốn, đáng ưa, vừa ý tăng trưởng. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, điều này là như vậy, vì đó là bản chất của người có trí.”
Katamañca, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pāṇātipātī hoti, pāṇātipātapaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena adinnādāyī hoti, adinnādānapaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena kāmesu micchācārī hoti, kāmesu micchācārapaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena musāvādī hoti, musāvādapaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pisuṇavāco hoti, pisuṇavācāpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pharusavāco hoti, pharusavācāpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena samphappalāpī hoti, samphappalāpapaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena abhijjhālu hoti, abhijjhāpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena byāpannacitto hoti, byāpādapaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena micchādiṭṭhi hoti, micchādiṭṭhipaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ.
And what is the way of taking up practices that is painful now and results in future pain? It’s when someone in pain and sadness kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re covetous, malicious, with wrong view. Because of these things they experience pain and sadness. And when their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. This is called the way of taking up practices that is painful now and results in future pain.
478. Này các Tỳ khưu, thế nào là sự thực hành pháp vừa khổ trong hiện tại, vừa có quả khổ trong tương lai? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, thực hành sát sanh; và do duyên sát sanh, người ấy cảm thọ khổ và ưu; vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, thực hành lấy của không cho; và do duyên lấy của không cho, người ấy cảm thọ khổ và ưu; vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, thực hành tà hạnh trong các dục; và do duyên tà hạnh trong các dục, người ấy cảm thọ khổ và ưu; vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, thực hành nói dối; và do duyên nói dối, người ấy cảm thọ khổ và ưu; vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, thực hành nói hai lưỡi; và do duyên nói hai lưỡi, người ấy cảm thọ khổ và ưu; vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, thực hành nói lời thô ác; và do duyên nói lời thô ác, người ấy cảm thọ khổ và ưu; vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, thực hành nói lời vô ích; và do duyên nói lời vô ích, người ấy cảm thọ khổ và ưu; vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, có lòng tham ái; và do duyên tham ái, người ấy cảm thọ khổ và ưu; vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, có tâm sân hận; và do duyên sân hận, người ấy cảm thọ khổ và ưu; vừa chịu khổ, vừa chịu ưu, có tà kiến; và do duyên tà kiến, người ấy cảm thọ khổ và ưu. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự thực hành pháp vừa khổ trong hiện tại, vừa có quả khổ trong tương lai.
Katamañca, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco sahāpi sukhena sahāpi somanassena pāṇātipātī hoti, pāṇātipātapaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena adinnādāyī hoti, adinnādānapaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena kāmesumicchācārī hoti, kāmesumicchācārapaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena musāvādī hoti, musāvādapaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena pisuṇavāco hoti, pisuṇavācāpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena pharusavāco hoti, pharusavācāpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena samphappalāpī hoti, samphappalāpapaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena abhijjhālu hoti, abhijjhāpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena byāpannacitto hoti, byāpādapaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena micchādiṭṭhi hoti, micchādiṭṭhipaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ.
And what is the way of taking up practices that is pleasant now but results in future pain? It’s when someone with pleasure and happiness kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re covetous, malicious, with wrong view. Because of these things they experience pleasure and happiness. But when their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. This is called the way of taking up practices that is pleasant now but results in future pain.
479. Này các Tỳ khưu, thế nào là sự thực hành pháp vui trong hiện tại, nhưng có quả khổ trong tương lai? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, thực hành sát sanh; và do duyên sát sanh, người ấy cảm thọ lạc và hỷ; vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, thực hành lấy của không cho; và do duyên lấy của không cho, người ấy cảm thọ lạc và hỷ; vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, thực hành tà hạnh trong các dục; và do duyên tà hạnh trong các dục, người ấy cảm thọ lạc và hỷ; vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, thực hành nói dối; và do duyên nói dối, người ấy cảm thọ lạc và hỷ; vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, thực hành nói hai lưỡi; và do duyên nói hai lưỡi, người ấy cảm thọ lạc và hỷ; vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, thực hành nói lời thô ác; và do duyên nói lời thô ác, người ấy cảm thọ lạc và hỷ; vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, thực hành nói lời vô ích; và do duyên nói lời vô ích, người ấy cảm thọ lạc và hỷ; vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, có lòng tham ái; và do duyên tham ái, người ấy cảm thọ lạc và hỷ; vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, có tâm sân hận; và do duyên sân hận, người ấy cảm thọ lạc và hỷ; vừa hưởng lạc, vừa hưởng hỷ, có tà kiến; và do duyên tà kiến, người ấy cảm thọ lạc và hỷ. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự thực hành pháp vui trong hiện tại, nhưng có quả khổ trong tương lai.
Katamañca, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pāṇātipātā paṭivirato hoti, pāṇātipātā veramaṇīpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena adinnādānā paṭivirato hoti, adinnādānā veramaṇīpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā veramaṇīpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena musāvādā paṭivirato hoti, musāvādā veramaṇīpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya veramaṇīpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena pharusāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya veramaṇīpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena samphappalāpā paṭivirato hoti, samphappalāpā veramaṇīpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena anabhijjhālu hoti, anabhijjhāpaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena abyāpannacitto hoti, abyāpādapaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi dukkhena sahāpi domanassena sammādiṭṭhi hoti, sammādiṭṭhipaccayā ca dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ.
And what is the way of taking up practices that is painful now but results in future pleasure? It’s when someone in pain and sadness doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. Because of these things they experience pain and sadness. But when their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. This is called the way of taking up practices that is painful now but results in future pleasure.
480. “Này các tỳ khưu, thế nào là sự thực hành Pháp khổ trong hiện tại nhưng có kết quả an lạc trong tương lai? Này các tỳ khưu, ở đây, có người với sự đau khổ, với sự ưu phiền, từ bỏ việc sát sanh, và do duyên từ bỏ việc sát sanh, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền; với sự đau khổ, với sự ưu phiền, từ bỏ việc lấy của không cho, và do duyên từ bỏ việc lấy của không cho, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền; với sự đau khổ, với sự ưu phiền, từ bỏ việc tà dâm trong các dục, và do duyên từ bỏ việc tà dâm trong các dục, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền; với sự đau khổ, với sự ưu phiền, từ bỏ việc nói dối, và do duyên từ bỏ việc nói dối, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền; với sự đau khổ, với sự ưu phiền, từ bỏ lời nói chia rẽ, và do duyên từ bỏ lời nói chia rẽ, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền; với sự đau khổ, với sự ưu phiền, từ bỏ lời nói thô ác, và do duyên từ bỏ lời nói thô ác, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền; với sự đau khổ, với sự ưu phiền, từ bỏ lời nói vô ích, và do duyên từ bỏ lời nói vô ích, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền; với sự đau khổ, với sự ưu phiền, người ấy không có lòng tham lam, và do duyên không tham lam, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền; với sự đau khổ, với sự ưu phiền, người ấy có tâm không sân hận, và do duyên không sân hận, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền; với sự đau khổ, với sự ưu phiền, người ấy có chánh kiến, và do duyên có chánh kiến, người ấy cảm nhận sự đau khổ, sự ưu phiền. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào cõi lành, thiên giới. Này các tỳ khưu, đây được gọi là sự thực hành Pháp khổ trong hiện tại nhưng có kết quả an lạc trong tương lai.”
Katamañca, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco sahāpi sukhena sahāpi somanassena pāṇātipātā paṭivirato hoti, pāṇātipātā veramaṇīpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena adinnādānā paṭivirato hoti, adinnādānā veramaṇīpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā veramaṇīpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena musāvādā paṭivirato hoti, musāvādā veramaṇīpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya veramaṇīpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena pharusāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya veramaṇīpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena samphappalāpā paṭivirato hoti, samphappalāpā veramaṇīpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena anabhijjhālu hoti, anabhijjhāpaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena abyāpannacitto hoti, abyāpādapaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti; sahāpi sukhena sahāpi somanassena sammādiṭṭhi hoti, sammādiṭṭhipaccayā ca sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedeti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Idaṁ, vuccati, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ. Imāni kho, bhikkhave, cattāri dhammasamādānāni.
And what is the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure? It’s when someone with pleasure and happiness doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. Because of these things they experience pleasure and happiness. And when their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. This is called the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure. These are the four ways of taking up practices.
481. “Này các tỳ khưu, thế nào là sự thực hành Pháp an lạc trong hiện tại và có kết quả an lạc trong tương lai? Này các tỳ khưu, ở đây, có người với sự an lạc, với sự hỷ lạc, từ bỏ việc sát sanh, và do duyên từ bỏ việc sát sanh, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc; với sự an lạc, với sự hỷ lạc, từ bỏ việc lấy của không cho, và do duyên từ bỏ việc lấy của không cho, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc; với sự an lạc, với sự hỷ lạc, từ bỏ việc tà dâm trong các dục, và do duyên từ bỏ việc tà dâm trong các dục, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc; với sự an lạc, với sự hỷ lạc, từ bỏ việc nói dối, và do duyên từ bỏ việc nói dối, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc; với sự an lạc, với sự hỷ lạc, từ bỏ lời nói chia rẽ, và do duyên từ bỏ lời nói chia rẽ, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc; với sự an lạc, với sự hỷ lạc, từ bỏ lời nói thô ác, và do duyên từ bỏ lời nói thô ác, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc; với sự an lạc, với sự hỷ lạc, từ bỏ lời nói vô ích, và do duyên từ bỏ lời nói vô ích, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc; với sự an lạc, với sự hỷ lạc, người ấy không có lòng tham lam, và do duyên không tham lam, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc; với sự an lạc, với sự hỷ lạc, người ấy có tâm không sân hận, và do duyên không sân hận, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc; với sự an lạc, với sự hỷ lạc, người ấy có chánh kiến, và do duyên có chánh kiến, người ấy cảm nhận sự an lạc, sự hỷ lạc. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào cõi lành, thiên giới. Này các tỳ khưu, đây được gọi là sự thực hành Pháp an lạc trong hiện tại và có kết quả an lạc trong tương lai. Này các tỳ khưu, đây là bốn loại thực hành Pháp.”
Seyyathāpi, bhikkhave, tittakālābu visena saṁsaṭṭho. Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, ayaṁ tittakālābu visena saṁsaṭṭho, sace ākaṅkhasi piva. Tassa te pivato ceva nacchādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti. So taṁ appaṭisaṅkhāya piveyya, nappaṭinissajjeyya.
Suppose there was some bitter gourd mixed with poison. Then a man would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain. They’d say to him: ‘Here, my man, this is bitter gourd mixed with poison. Drink it if you like. If you drink it, the color, aroma, and flavor will be unappetizing, and it will result in death or deadly pain.’ He wouldn’t put it down. Without appraisal, he’d drink it.
482. “Này các tỳ khưu, ví như một quả bầu đắng được trộn với chất độc. Rồi một người muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghét bỏ đau khổ, đi đến. Người ta có thể nói với người ấy như vầy: ‘Này bạn, quả bầu đắng này được trộn với chất độc, nếu muốn thì hãy uống. Khi bạn uống, nó sẽ không làm bạn thích thú về màu sắc, mùi vị, hay hương vị, và sau khi uống, bạn sẽ đi đến cái chết hoặc sự đau khổ gần như chết.’ Người ấy không suy xét mà uống, không từ bỏ. Khi người ấy uống, nó không làm người ấy thích thú về màu sắc, mùi vị, hay hương vị, và sau khi uống, người ấy có thể đi đến cái chết hoặc sự đau khổ gần như chết. Này các tỳ khưu, Ta nói rằng sự thực hành Pháp này cũng tương tự như vậy, tức là sự thực hành Pháp khổ trong hiện tại và có kết quả khổ đau trong tương lai.”
Seyyathāpi, bhikkhave, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno. So ca kho visena saṁsaṭṭho. Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, ayaṁ āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno. So ca kho visena saṁsaṭṭho, sace ākaṅkhasi piva. Tassa te pivatohi kho chādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti.
Suppose there was a bronze goblet of beverage that had a nice color, aroma, and flavor. But it was mixed with poison. Then a man would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain. They’d say to him: ‘Here, my man, this bronze goblet of beverage has a nice color, aroma, and flavor. But it’s mixed with poison. Drink it if you like. If you drink it, the color, aroma, and flavor will be appetizing, but it will result in death or deadly pain.’
483. Này các Tỳ khưu, ví như có một cốc nước giải khát đầy đủ màu sắc, hương thơm, và mùi vị. Và nó được pha trộn với chất độc. Rồi có một người đàn ông muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghê tởm sự đau khổ đi đến. Người ta có thể nói với người ấy như vầy: ‘Này ông, cốc nước giải khát này đầy đủ màu sắc, hương thơm, và mùi vị. Và nó được pha trộn với chất độc, nếu ông muốn thì hãy uống. Trong khi uống, nó sẽ làm ông hài lòng về màu sắc, hương thơm, và mùi vị, nhưng sau khi uống xong, ông sẽ đi đến cái chết hoặc sự đau khổ tương đương cái chết.’ Người ấy không suy xét mà uống, không từ bỏ. Trong khi uống, nó làm người ấy hài lòng về màu sắc, hương thơm, và mùi vị, nhưng sau khi uống xong, người ấy đi đến cái chết hoặc sự đau khổ tương đương cái chết. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng sự thực hành Pháp này cũng tương tự như thế, tức là sự thực hành Pháp có được sự an lạc trong hiện tại nhưng có kết quả đau khổ trong tương lai.
Seyyathāpi, bhikkhave, pūtimuttaṁ nānābhesajjehi saṁsaṭṭhaṁ. Atha puriso āgaccheyya paṇḍukarogī. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, idaṁ pūtimuttaṁ nānābhesajjehi saṁsaṭṭhaṁ, sace ākaṅkhasi piva. Tassa te pivatohi kho nacchādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana sukhī bhavissasī’ti. So taṁ paṭisaṅkhāya piveyya, nappaṭinissajjeyya. Tassa taṁ pivatohi kho nacchādeyya vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana sukhī assa. Tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ dhammasamādānaṁ vadāmi, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ.
Suppose there was some rancid urine mixed with different medicines. Then a man with jaundice would come along. They’d say to him: ‘Here, my man, this is rancid urine mixed with different medicines. Drink it if you like. If you drink it, the color, aroma, and flavor will be unappetizing, but after drinking it you will be happy.’ He wouldn’t put it down. After appraisal, he’d drink it. The color, aroma, and flavor would be unappetizing, but after drinking it he would be happy. This is comparable to the way of taking up practices that is painful now and results in future pleasure, I say.
484. Này các Tỳ khưu, ví như nước tiểu hôi thối được pha trộn với nhiều loại thuốc. Rồi có một người đàn ông bị bệnh vàng da đi đến. Người ta có thể nói với người ấy như vầy: ‘Này ông, đây là nước tiểu hôi thối được pha trộn với nhiều loại thuốc, nếu ông muốn thì hãy uống. Trong khi uống, nó sẽ không làm ông hài lòng về màu sắc, hương thơm, và mùi vị, nhưng sau khi uống xong, ông sẽ được khỏe mạnh.’ Người ấy suy xét rồi uống, không từ bỏ. Trong khi uống, nó không làm người ấy hài lòng về màu sắc, hương thơm, và mùi vị, nhưng sau khi uống xong, người ấy được khỏe mạnh. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng sự thực hành Pháp này cũng tương tự như thế, tức là sự thực hành Pháp có sự đau khổ trong hiện tại nhưng có kết quả an lạc trong tương lai.
Seyyathāpi, bhikkhave, dadhi ca madhu ca sappi ca phāṇitañca ekajjhaṁ saṁsaṭṭhaṁ. Atha puriso āgaccheyya lohitapakkhandiko. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, idaṁ dadhi ca madhu ca sappi ca phāṇitañca ekajjhaṁ saṁsaṭṭhaṁ, sace ākaṅkhasi piva. Tassa te pivato ceva chādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana sukhī bhavissasī’ti. So taṁ paṭisaṅkhāya piveyya, nappaṭinissajjeyya. Tassa taṁ pivato ceva chādeyya vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana sukhī assa. Tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ dhammasamādānaṁ vadāmi, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ.
Suppose there was some curds, honey, ghee, and molasses all mixed together. Then a man with bloody dysentery would come along. They’d say to him: ‘Here, my man, this is curds, honey, ghee, and molasses all mixed together. Drink it if you like. If you drink it, the color, aroma, and flavor will be appetizing, and after drinking it you will be happy.’ He wouldn’t put it down. After appraisal, he’d drink it. The color, aroma, and flavor would be appetizing, and after drinking it he would be happy. This is comparable to the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure, I say.
485. Này các Tỳ khưu, ví như sữa chua, mật ong, bơ lỏng, và đường phèn được trộn lẫn với nhau. Rồi có một người đàn ông bị bệnh kiết lỵ ra máu đi đến. Người ta có thể nói với người ấy như vầy: ‘Này ông, đây là sữa chua, mật ong, bơ lỏng, và đường phèn được trộn lẫn với nhau, nếu ông muốn thì hãy uống. Trong khi uống, nó sẽ làm ông hài lòng về màu sắc, hương thơm, và mùi vị, và sau khi uống xong, ông sẽ được khỏe mạnh.’ Người ấy suy xét rồi uống, không từ bỏ. Trong khi uống, nó làm người ấy hài lòng về màu sắc, hương thơm, và mùi vị, và sau khi uống xong, người ấy được khỏe mạnh. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng sự thực hành Pháp này cũng tương tự như thế, tức là sự thực hành Pháp vừa có được sự an lạc trong hiện tại, vừa có kết quả an lạc trong tương lai.
Seyyathāpi, bhikkhave, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve ādicco nabhaṁ abbhussakkamāno sabbaṁ ākāsagataṁ tamagataṁ abhivihacca bhāsate ca tapate ca virocate ca; evameva kho, bhikkhave, yamidaṁ dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ tadaññe puthusamaṇabrāhmaṇaparappavāde abhivihacca bhāsate ca tapate ca virocate cā”ti.
It’s like the last month of the rainy season, in autumn, when the heavens are sunny and cloudless. And as the sun is rising to the firmament, having dispelled all the darkness of space, it shines and glows and radiates. In the same way, this way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure dispels the doctrines of the various other ascetics and brahmins as it shines and glows and radiates.”
486. Này các Tỳ khưu, ví như vào tháng cuối của mùa mưa, vào mùa thu, khi bầu trời trong sáng, không có mây, mặt trời mọc lên trên bầu trời, xua tan tất cả bóng tối trong không gian, chiếu sáng, rực rỡ, và chói lọi. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, sự thực hành Pháp này vừa có được sự an lạc trong hiện tại, vừa có kết quả an lạc trong tương lai, nó xua tan các tà kiến của nhiều Sa-môn, Bà-la-môn khác, và nó chiếu sáng, rực rỡ, và chói lọi.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Mahādhammasamādānasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Đại Chánh Thọ Trì, bài kinh thứ sáu, đã kết thúc.