- Majjhima Nikāya 45
Cūḷadhammasamādānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷadhammasamādānasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
—Này các Tỷ-kheo!
SC 2—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 3Những vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 4—Này các Tỷ-kheo, có bốn loại pháp hành này. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại lạc, và tương lai quả báo cũng lạc.
SC 5Này các Tỷ-kheo, thế nào là loại pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ? Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn thuyết như sau, có sở kiến như sau: “Không có lỗi trong các dục”. Những vị này đắm mình trong các dục, hoan lạc với các cô gái lang thang có tóc quấn trên đầu. Họ nói như sau: “Làm sao các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn kia thấy sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Khoái lạc thay, sự xúc chạm với bàn tay có lông mịn của các cô gái lang thang trẻ trung này!” Sau khi đắm mình trong các dục, khi thân hoại mạng chung, các vị ấy phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ở đây, họ cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt. Họ nói như sau: “Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Nhưng chúng ta, do các dục này làm nhân, do các dục này làm duyên, phải cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt”.
SC 6Này các Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa nóng, một bẹ hột giống cây leo nứt ra và này các Tỷ-kheo, một hột giống cây leo rơi dưới gốc một cây sāla. Này các Tỷ-kheo, các vị thần ở trên cây sāla ấy lo sợ, run sợ, và hoảng sợ. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống các vị thần trên cây sāla ấy, thần vườn, thần rừng, thần cây, thần các dược thảo, cỏ, rừng hội họp lại, an ủi như sau: “Này Tôn giả, chớ có sợ hãi! Này Tôn giả, chớ có sợ hãi! Vì hạt giống ấy, con khổng tước có thể nuốt, con nai có thể ăn, lửa rừng có thể đốt, người làm rừng có thể nhặt đi, các loài mối có thể ăn, hay hạt giống có thể không nẩy mầm”. Nhưng này các Tỷ-kheo, hạt giống ấy, con khổng tước không nuốt, con nai không ăn, lửa rừng không đốt, người làm rừng không nhặt đi, các loài mối không ăn, và hạt giống có thể nẩy mầm. Ðược mưa lớn nhờ các làn mây đúng mùa, hạt giống ấy được lớn lên, và một dây leo trẻ, mềm mại, có lông, chậm chậm mọc lên và bám dính cây sāla ấy. Này các Tỷ-kheo, các vị thần trên cây sāla ấy suy nghĩ như sau: “Không hiểu vì sao các Tôn giả bạn bè thân hữu, bà con huyết thống ấy, các thần vườn, thần rừng, thần cây, các vị thần trên các dược thảo, cỏ, rừng, thấy sự sợ hãi tương lai trong hột giống, hội họp lại, an ủi như sau: “Này Tôn giả, chớ có sợ hãi! Này Tôn giả chớ có sợ hãi! Vì hột giống ấy, con khổng tước có thể nuốt, con nai có thể ăn, lửa rừng có thể đốt, những người làm rừng có thể nhặt đi, các loài mối có thể ăn, hay hạt giống có thể không nẩy mầm”. Khoái lạc thay sự xúc chạm của cây leo trẻ trung mềm mại, có lông đang bám vào!” Cây leo ấy có thể bao trùm cây sāla ấy, sau khi bao trùm, liền làm thành một tàn che trên cây ấy, và ở dưới khởi lên cả một lùm cây rậm rạp. Khi ở dưới khởi lên cả một lùm cây rậm rạp, các cành lớn của cây sāla ấy có thể bị bóp nghẹt. Rồi này các Tỷ-kheo, các thần trú trên cây sa la ấy suy như sau: “Chính vì thấy sự sợ hãi tương lai này, trong hột giống cây leo ấy mà những Tôn giả, bạn bè thân hữu, bà con huyết thống ấy, các thần vườn, thần rừng, thần cây, các vị thần ở trên các dược thảo, cỏ, rừng, đã hội họp lại và an ủi như sau: “Này Tôn giả chớ có sợ hãi! Này Tôn giả, chớ sợ hãi! Vì hạt giống ấy, con khổng tước có thể nuốt, con nai có thể ăn, lửa rừng có thể đốt, những người làm rừng có thể nhặt đi, các loài mối có thể ăn, hay hạt giống có thể không nẩy mầm”. Và nay ta, vì nguyên nhân hạt giống cây leo, cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt”.
SC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau, có sở kiến như sau: “Không có lỗi trong các dục”. Những vị này đắm mình trong các dục, họ hoan lạc với các cô gái lang thang có tóc quấn trên đầu. Họ nói như sau: “Làm sao các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy thấy sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Khoái lạc thay, sự xúc chạm với bàn tay có lông mịn của cô gái lang thang trẻ trung này!” Sau khi đắm mình trong các dục, khi thân hoại mạng chung, họ phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ở đây, họ cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt. Họ nói như sau: “Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy thấy sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Nhưng chúng ta, vì nhân các dục này, vì duyên các dục này, phải cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt”. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ.
SC 8Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sống lõa thể, sống phóng túng, không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng lại, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không nhận đồ ăn đặt tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men, cháo cám. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nīvaraṇa, ăn da vụn, ăn cám, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tikitaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người tập tục sống nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, là người ngồi chò hỏ, sống theo hạnh ngồi chò hỏ một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dấu thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, theo hạnh ăn các uế vật, sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy, vị ấy sống theo hạnh hành hạ xác thân dưới nhiều hình thức như vậy. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ.
SC 9Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự tánh sanh ra quá nặng về tham ái, luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do tham ái sanh; có người tự tánh sanh ra quá nặng về sân hận, luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do sân hận sanh; có người tự tánh sanh ra quá nặng về si mê, luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do si mê sanh. Với khổ và với ưu, với mặt đầy nước mắt và khóc than, vị ấy sống theo phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc.
SC 10Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự tánh sanh ra không quá nặng về tham ái, không luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do tham ái sanh; có người tự tánh sanh ra không quá nặng về sân hận, không luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do sân hận sanh; có người tự tánh sanh ra không quá nặng về si mê, không luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do si mê sanh. Vị ấy ly dục, ly các pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ; diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm; ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba; xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc. Này các Tỷ-kheo, như vậy là bốn loại pháp hành.
SC 11Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Tiểu Thọ Trì Pháp
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“cattārimāni, bhikkhave, dhammasamādānāni. Katamāni cattāri? Atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ; atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ; atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ; atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ.
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, there are these four ways of taking up practices. What four? There is a way of taking up practices that is pleasant now but results in future pain. There is a way of taking up practices that is painful now and results in future pain. There is a way of taking up practices that is painful now but results in future pleasure. There is a way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure.
468. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu.” “Bạch Thế Tôn,” các tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này: “Này các tỳ khưu, có bốn sự thọ trì pháp này. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, có sự thọ trì pháp hiện tại lạc, tương lai khổ dị thục; này các tỳ khưu, có sự thọ trì pháp hiện tại khổ, tương lai cũng khổ dị thục; này các tỳ khưu, có sự thọ trì pháp hiện tại khổ, tương lai lạc dị thục; này các tỳ khưu, có sự thọ trì pháp hiện tại lạc, tương lai cũng lạc dị thục.”
Katamañca, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ? Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi kāmesu doso’ti. Te kāmesu pātabyataṁ āpajjanti. Te kho moḷibaddhāhi paribbājikāhi paricārenti. Te evamāhaṁsu: ‘kiṁsu nāma te bhonto samaṇabrāhmaṇā kāmesu anāgatabhayaṁ sampassamānā kāmānaṁ pahānamāhaṁsu, kāmānaṁ pariññaṁ paññapenti? Sukho imissā paribbājikāya taruṇāya mudukāya lomasāya bāhāya samphasso’ti te kāmesu pātabyataṁ āpajjanti. Te kāmesu pātabyataṁ āpajjitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti. Te tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti. Te evamāhaṁsu: ‘idaṁ kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā kāmesu anāgatabhayaṁ sampassamānā kāmānaṁ pahānamāhaṁsu, kāmānaṁ pariññaṁ paññapenti, ime hi mayaṁ kāmahetu kāmanidānaṁ dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayāmā’ti.
Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse māluvāsipāṭikā phaleyya. Atha kho taṁ, bhikkhave, māluvābījaṁ aññatarasmiṁ sālamūle nipateyya. Atha kho, bhikkhave, yā tasmiṁ sāle adhivatthā devatā sā bhītā saṁviggā santāsaṁ āpajjeyya. Atha kho, bhikkhave, tasmiṁ sāle adhivatthāya devatāya mittāmaccā ñātisālohitā ārāmadevatā vanadevatā rukkhadevatā osadhitiṇavanappatīsu adhivatthā devatā saṅgamma samāgamma evaṁ samassāseyyuṁ: ‘mā bhavaṁ bhāyi, mā bhavaṁ bhāyi; appeva nāmetaṁ māluvābījaṁ moro vā gileyya, mago vā khādeyya, davaḍāho vā ḍaheyya, vanakammikā vā uddhareyyuṁ, upacikā vā uṭṭhaheyyuṁ, abījaṁ vā panassā’ti. Atha kho taṁ, bhikkhave, māluvābījaṁ neva moro gileyya, na mago khādeyya, na davaḍāho ḍaheyya, na vanakammikā uddhareyyuṁ, na upacikā uṭṭhaheyyuṁ, bījañca panassa taṁ pāvussakena meghena abhippavuṭṭhaṁ sammadeva viruheyya. Sāssa māluvālatā taruṇā mudukā lomasā vilambinī, sā taṁ sālaṁ upaniseveyya. Atha kho, bhikkhave, tasmiṁ sāle adhivatthāya devatāya evamassa: ‘kiṁsu nāma te bhonto mittāmaccā ñātisālohitā ārāmadevatā vanadevatā rukkhadevatā osadhitiṇavanappatīsu adhivatthā devatā māluvābīje anāgatabhayaṁ sampassamānā saṅgamma samāgamma evaṁ samassāsesuṁ: “mā bhavaṁ bhāyi mā bhavaṁ bhāyi, appeva nāmetaṁ māluvābījaṁ moro vā gileyya, mago vā khādeyya, davaḍāho vā ḍaheyya, vanakammikā vā uddhareyyuṁ, upacikā vā uṭṭhaheyyuṁ, abījaṁ vā panassā”ti; sukho imissā māluvālatāya taruṇāya mudukāya lomasāya vilambiniyā samphasso’ti. Sā taṁ sālaṁ anuparihareyya. Sā taṁ sālaṁ anupariharitvā upari viṭabhiṁ kareyya. Upari viṭabhiṁ karitvā oghanaṁ janeyya. Oghanaṁ janetvā ye tassa sālassa mahantā mahantā khandhā te padāleyya. Atha kho, bhikkhave, tasmiṁ sāle adhivatthāya devatāya evamassa: ‘idaṁ kho te bhonto mittāmaccā ñātisālohitā ārāmadevatā vanadevatā rukkhadevatā osadhitiṇavanappatīsu adhivatthā devatā māluvābīje anāgatabhayaṁ sampassamānā saṅgamma samāgamma evaṁ samassāsesuṁ: “mā bhavaṁ bhāyi mā bhavaṁ bhāyi, appeva nāmetaṁ māluvābījaṁ moro vā gileyya, mago vā khādeyya, davaḍāho vā ḍaheyya, vanakammikā vā uddhareyyuṁ, upacikā vā uṭṭhaheyyuṁ abījaṁ vā panassā”ti. Yañcāhaṁ māluvābījahetu dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayāmī’ti.
Evameva kho, bhikkhave, santi eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino ‘natthi kāmesu doso’ti. Te kāmesu pātabyataṁ āpajjanti. Te moḷibaddhāhi paribbājikāhi paricārenti. Te evamāhaṁsu: ‘kiṁsu nāma te bhonto samaṇabrāhmaṇā kāmesu anāgatabhayaṁ sampassamānā kāmānaṁ pahānamāhaṁsu, kāmānaṁ pariññaṁ paññapenti? Sukho imissā paribbājikāya taruṇāya mudukāya lomasāya bāhāya samphasso’ti. Te kāmesu pātabyataṁ āpajjanti. Te kāmesu pātabyataṁ āpajjitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti. Te tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti. Te evamāhaṁsu: ‘idaṁ kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā kāmesu anāgatabhayaṁ sampassamānā kāmānaṁ pahānamāhaṁsu, kāmānaṁ pariññaṁ paññapenti. Ime hi mayaṁ kāmahetu kāmanidānaṁ dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayāmā’ti. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ.
And what is the way of taking up practices that is pleasant now but results in future pain? There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘There’s nothing wrong with sensual pleasures.’ They throw themselves into sensual pleasures, cavorting with female wanderers with jeweled bands in their hair. They say, ‘What future danger do those ascetics and brahmins see in sensual pleasures that they speak of giving up sensual pleasures, and advocate the complete understanding of sensual pleasures? Pleasant is the touch of this female wanderer’s arm, tender, soft, and downy!’ And they throw themselves into sensual pleasures. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. And there they feel painful, sharp, severe, acute feelings. They say, ‘This is that future danger that those ascetics and brahmins saw. For it is because of sensual pleasures that I’m feeling painful, sharp, severe, acute feelings.’
Suppose that in the last month of summer a camel’s foot creeper pod were to burst open and a seed were to fall at the root of a sal tree. Then the deity haunting that sal tree would become apprehensive and nervous. But their friends and colleagues, relatives and kin—deities of the parks, forests, trees, and those who haunt the herbs, grass, and big trees—would come together to reassure them, ‘Do not fear, sir, do not fear! Hopefully that seed will be swallowed by a peacock, or eaten by a deer, or burnt by a forest fire, or picked up by a lumberjack, or eaten by termites, or it may not even be fertile.’ But none of these things happened. And the seed was fertile, so that when the monsoon clouds soaked it with rain, it sprouted. And the creeper wound its tender, soft, and downy tendrils around that sal tree. Then the deity thought, ‘What future danger did my friends see when they said: “Do not fear, sir, do not fear! Hopefully that seed will be swallowed by a peacock, or eaten by a deer, or burnt by a forest fire, or picked up by a lumberjack, or eaten by termites, or it may not even be fertile.” Pleasant is the touch of this creeper’s tender, soft, and downy tendrils.’ Then the creeper enfolded the sal tree, made a canopy over it, draped a curtain around it, and split apart all the main branches. Then the deity thought, ‘This is the future danger that my friends saw! It’s because of that camel’s foot creeper seed that I’m feeling painful, sharp, severe, acute feelings.’
In the same way, there are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘There’s nothing wrong with sensual pleasures’ … This is called the way of taking up practices that is pleasant now but results in future pain.
469. “Này các Tỳ khưu, thế nào là sự thực hành pháp hiện tại an lạc, tương lai có quả khổ? Này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Không có tội lỗi trong các dục.’ Họ rơi vào sự thụ hưởng các dục. Họ vui vầy với các nữ du sĩ bện tóc. Họ nói như sau: ‘Chắc hẳn các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn kia, khi thấy sự nguy hiểm trong tương lai ở các dục, đã nói về việc từ bỏ các dục, đã tuyên bố về sự liễu tri các dục là vì lý do gì? Sự xúc chạm cánh tay của nữ du sĩ trẻ trung, mềm mại, mịn màng này thật là an lạc.’ Họ rơi vào sự thụ hưởng các dục. Sau khi rơi vào sự thụ hưởng các dục, sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ở đó, họ cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng. Họ nói như sau: ‘Quả thật, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn kia, khi thấy sự nguy hiểm trong tương lai này ở các dục, đã nói về việc từ bỏ các dục, đã tuyên bố về sự liễu tri các dục. Vì rằng, do nhân các dục, do duyên các dục, chúng ta đang cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng này.’ Ví như, này các Tỳ khưu, vào tháng cuối mùa hạ, quả dây leo māluvā nứt ra. Rồi này các Tỳ khưu, hạt māluvā ấy rơi xuống gốc của một cây sala nào đó. Rồi này các Tỳ khưu, vị thiên nữ trú ngụ ở cây sala ấy trở nên sợ hãi, kinh động, hoảng hốt. Rồi này các Tỳ khưu, bạn bè, thân hữu, quyến thuộc huyết thống của vị thiên nữ trú ngụ ở cây sala ấy, các vị thiên trú ở vườn, trú ở rừng, trú ở cây, các vị thiên trú ở các loại dược thảo, cỏ, và cây chúa, tụ tập lại và an ủi như vầy: ‘Thưa ngài, xin đừng sợ! Thưa ngài, xin đừng sợ! Biết đâu hạt māluvā ấy sẽ bị con công nuốt, hoặc con nai ăn, hoặc bị cháy rừng thiêu rụi, hoặc những người làm rừng nhặt đi, hoặc bị mối mọt ăn, hoặc giả nó là hạt lép.’ Rồi này các Tỳ khưu, hạt māluvā ấy không bị công nuốt, không bị nai ăn, không bị cháy rừng thiêu rụi, không bị người làm rừng nhặt đi, không bị mối mọt ăn, và nó là hạt chắc, được mưa đầu mùa tưới đẫm, liền nảy mầm tốt tươi. Dây leo māluvā ấy non tơ, mềm mại, mịn màng, buông rủ, nó bám vào cây sala ấy. Rồi này các Tỳ khưu, vị thiên nữ trú ngụ ở cây sala ấy suy nghĩ như sau: ‘Chắc hẳn các Tôn giả bạn bè, thân hữu, quyến thuộc huyết thống của ta, các vị thiên trú ở vườn, trú ở rừng, trú ở cây, các vị thiên trú ở các loại dược thảo, cỏ, và cây chúa, khi thấy sự nguy hiểm trong tương lai ở hạt māluvā, đã tụ tập lại và an ủi ta như vầy: “Thưa ngài, xin đừng sợ! Thưa ngài, xin đừng sợ! Biết đâu hạt māluvā ấy sẽ bị con công nuốt, hoặc con nai ăn, hoặc bị cháy rừng thiêu rụi, hoặc những người làm rừng nhặt đi, hoặc bị mối mọt ăn, hoặc giả nó là hạt lép.” là vì lý do gì? Sự xúc chạm của dây leo māluvā non tơ, mềm mại, mịn màng, buông rủ này thật là an lạc.’ Nó quấn quanh cây sala ấy. Sau khi quấn quanh cây sala ấy, nó tạo thành một tán lá ở trên ngọn. Sau khi tạo thành một tán lá ở trên ngọn, nó làm cho cành lá rậm rạp rủ xuống. Sau khi làm cho cành lá rậm rạp rủ xuống, nó làm gãy những cành lớn của cây sala ấy. Rồi này các Tỳ khưu, vị thiên nữ trú ngụ ở cây sala ấy suy nghĩ như sau: ‘Quả thật, các Tôn giả bạn bè, thân hữu, quyến thuộc huyết thống của ta, các vị thiên trú ở vườn, trú ở rừng, trú ở cây, các vị thiên trú ở các loại dược thảo, cỏ, và cây chúa, khi thấy sự nguy hiểm trong tương lai này ở hạt māluvā, đã tụ tập lại và an ủi ta như vầy: “Thưa ngài, xin đừng sợ! Thưa ngài, xin đừng sợ! Biết đâu hạt māluvā ấy sẽ bị con công nuốt, hoặc con nai ăn, hoặc bị cháy rừng thiêu rụi, hoặc những người làm rừng nhặt đi, hoặc bị mối mọt ăn, hoặc giả nó là hạt lép.” Và nay, do nhân hạt māluvā, ta đang cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng.’ Cũng vậy, này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Không có tội lỗi trong các dục.’ Họ rơi vào sự thụ hưởng các dục. Họ vui vầy với các nữ du sĩ bện tóc. Họ nói như sau: ‘Chắc hẳn các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn kia, khi thấy sự nguy hiểm trong tương lai ở các dục, đã nói về việc từ bỏ các dục, đã tuyên bố về sự liễu tri các dục là vì lý do gì? Sự xúc chạm cánh tay của nữ du sĩ trẻ trung, mềm mại, mịn màng này thật là an lạc.’ Họ rơi vào sự thụ hưởng các dục. Sau khi rơi vào sự thụ hưởng các dục, sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ở đó, họ cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng. Họ nói như sau: ‘Quả thật, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn kia, khi thấy sự nguy hiểm trong tương lai này ở các dục, đã nói về việc từ bỏ các dục, đã tuyên bố về sự liễu tri các dục. Vì rằng, do nhân các dục, do duyên các dục, chúng ta đang cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng này.’ Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự thực hành pháp hiện tại an lạc, tương lai có quả khổ.”
Katamañca, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco acelako hoti muttācāro hatthāpalekhano, naehibhaddantiko, natiṭṭhabhaddantiko, nābhihaṭaṁ, na uddissakataṁ, na nimantanaṁ sādiyati, so na kumbhimukhā paṭiggaṇhāti, na kaḷopimukhā paṭiggaṇhāti, na eḷakamantaraṁ, na daṇḍamantaraṁ, na musalamantaraṁ, na dvinnaṁ bhuñjamānānaṁ, na gabbhiniyā, na pāyamānāya, na purisantaragatāya, na saṅkittīsu, na yattha sā upaṭṭhito hoti, na yattha makkhikā saṇḍasaṇḍacārinī, na macchaṁ, na maṁsaṁ, na suraṁ, na merayaṁ, na thusodakaṁ pivati. So ekāgāriko vā hoti ekālopiko, dvāgāriko vā hoti dvālopiko …pe… sattāgāriko vā hoti sattālopiko. Ekissāpi dattiyā yāpeti, dvīhipi dattīhi yāpeti … sattahipi dattīhi yāpeti. Ekāhikampi āhāraṁ āhāreti, dvīhikampi āhāraṁ āhāreti … sattāhikampi āhāraṁ āhāreti. Iti evarūpaṁ addhamāsikampi pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharati.
So sākabhakkho vā hoti, sāmākabhakkho vā hoti, nīvārabhakkho vā hoti, daddulabhakkho vā hoti, haṭabhakkho vā hoti, kaṇabhakkho vā hoti, ācāmabhakkho vā hoti, piññākabhakkho vā hoti, tiṇabhakkho vā hoti, gomayabhakkho vā hoti, vanamūlaphalāhāro yāpeti pavattaphalabhojī.
So sāṇānipi dhāreti, masāṇānipi dhāreti, chavadussānipi dhāreti, paṁsukūlānipi dhāreti, tirīṭānipi dhāreti, ajinampi dhāreti, ajinakkhipampi dhāreti, kusacīrampi dhāreti, vākacīrampi dhāreti, phalakacīrampi dhāreti, kesakambalampi dhāreti, vāḷakambalampi dhāreti, ulūkapakkhampi dhāreti, kesamassulocakopi hoti, kesamassulocanānuyogamanuyutto, ubbhaṭṭhakopi hoti, āsanapaṭikkhitto, ukkuṭikopi hoti ukkuṭikappadhānamanuyutto, kaṇṭakāpassayikopi hoti, kaṇṭakāpassaye seyyaṁ kappeti, sāyatatiyakampi udakorohanānuyogamanuyutto viharati. Iti evarūpaṁ anekavihitaṁ kāyassa ātāpanaparitāpanānuyogamanuyutto viharati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ.
And what is the way of taking up practices that is painful now and results in future pain? It’s when someone goes naked, ignoring conventions. They lick their hands, and don’t come or wait when called. They don’t consent to food brought to them, or food prepared on their behalf, or an invitation for a meal. They don’t receive anything from a pot or bowl; or from someone who keeps sheep, or who has a weapon or a shovel in their home; or where a couple is eating; or where there is a woman who is pregnant, breastfeeding, or who lives with a man; or where there’s a hound waiting or flies buzzing. They accept no fish or meat or beer or wine, and drink no fermented gruel. They go to just one house for alms, taking just one mouthful, or two houses and two mouthfuls, up to seven houses and seven mouthfuls. They feed on one saucer a day, two saucers a day, up to seven saucers a day. They eat once a day, once every second day, up to once a week, and so on, even up to once a fortnight. They live committed to the practice of eating food at set intervals.
They eat herbs, millet, wild rice, poor rice, water lettuce, rice bran, scum from boiling rice, sesame flour, grass, or cow dung. They survive on forest roots and fruits, or eating fallen fruit.
They wear robes of sunn hemp, mixed hemp, corpse-wrapping cloth, rags, lodh tree bark, antelope hide (whole or in strips), kusa grass, bark, wood-chips, human hair, horse-tail hair, or owls’ wings. They tear out their hair and beard, committed to this practice. They constantly stand, turning down seats. They squat, committed to the endeavor of squatting. They lie on a mat of thorns, making a mat of thorns their bed. They’re devoted to ritual bathing three times a day, including at dusk. And so they live committed to practicing these various ways of mortifying and tormenting the body. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. This is called the way of taking up practices that is painful now and results in future pain.
470. “Này các Tỳ khưu, thế nào là sự thực hành pháp khổ trong hiện tại và có quả khổ trong tương lai? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người lõa thể, sống phóng túng, liếm tay cho sạch, không nhận lời mời ‘xin hãy đến’, không nhận lời mời ‘xin hãy dừng lại’, không nhận vật thực mang đến, không nhận vật thực đặc biệt nấu cho mình, không nhận lời mời đến nhà. Vị ấy không nhận vật thực từ miệng nồi, không nhận vật thực từ miệng giỏ, không nhận vật thực đặt ngang ngưỡng cửa, không nhận vật thực đặt ngang cây gậy, không nhận vật thực đặt ngang chày, không nhận vật thực từ hai người đang ăn, không nhận vật thực từ người phụ nữ có thai, không nhận vật thực từ người phụ nữ đang cho con bú, không nhận vật thực từ người phụ nữ đang chung đụng với đàn ông, không nhận vật thực ở nơi quyên góp, không nhận vật thực ở nơi có chó đứng chờ, không nhận vật thực ở nơi có ruồi bu, không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, không uống rượu men, không uống nước cháo chua. Vị ấy chỉ đi khất thực một nhà, chỉ ăn một miếng; hoặc đi khất thực hai nhà, chỉ ăn hai miếng... hoặc đi khất thực bảy nhà, chỉ ăn bảy miếng. Vị ấy sống bằng một bát nhỏ, sống bằng hai bát nhỏ... sống bằng bảy bát nhỏ. Vị ấy ăn một ngày một lần, ăn hai ngày một lần... ăn bảy ngày một lần. Cứ như thế, vị ấy sống theo hạnh ăn uống theo định kỳ, cho đến nửa tháng một lần. Vị ấy ăn rau, ăn lúa hoang, ăn gạo lức, ăn da vụn, ăn rêu, ăn cám, ăn nước cơm, ăn bột mè, ăn cỏ, ăn phân bò. Vị ấy sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, sống bằng trái cây rụng. Vị ấy mặc y bằng vải gai, y bằng vải gai pha, y bằng vải liệm người chết, y bằng vải lượm từ đống rác, y bằng vỏ cây, y bằng da thú, y bằng da thú có lông, y bằng cỏ kusa, y bằng vỏ cây mềm, y bằng vỏ cây cứng, y bằng tóc người, y bằng lông ngựa, y bằng lông cú. Vị ấy là người nhổ tóc và râu, chuyên tâm vào việc nhổ tóc và râu. Vị ấy là người đứng thẳng, từ chối chỗ ngồi. Vị ấy là người ngồi xổm, chuyên tâm vào việc ngồi xổm. Vị ấy là người nằm trên gai, thực hành hạnh nằm trên gai. Vị ấy thực hành hạnh tắm ba lần mỗi ngày. Cứ như thế, vị ấy sống chuyên tâm vào nhiều cách hành hạ, làm khổ thân xác. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự thực hành pháp khổ trong hiện tại và có quả khổ trong tương lai.”
Katamañca, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco pakatiyā tibbarāgajātiko hoti, so abhikkhaṇaṁ rāgajaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; pakatiyā tibbadosajātiko hoti, so abhikkhaṇaṁ dosajaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; pakatiyā tibbamohajātiko hoti, so abhikkhaṇaṁ mohajaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. So sahāpi dukkhena, sahāpi domanassena, assumukhopi rudamāno paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ.
And what is the way of taking up practices that is painful now but results in future pleasure? It’s when someone is ordinarily full of acute greed, hate, and delusion. They often feel the pain and sadness that greed, hate, and delusion bring. They lead the full and pure spiritual life in pain and sadness, weeping, with tearful faces. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. This is called the way of taking up practices that is painful now but results in future pleasure.
471. “Này các Tỳ khưu, thế nào là sự thực hành pháp khổ trong hiện tại và có quả vui trong tương lai? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người bản tánh tham ái mãnh liệt, vị ấy thường xuyên cảm thọ khổ và ưu do tham ái sanh; bản tánh sân hận mãnh liệt, vị ấy thường xuyên cảm thọ khổ và ưu do sân hận sanh; bản tánh si mê mãnh liệt, vị ấy thường xuyên cảm thọ khổ và ưu do si mê sanh. Vị ấy dù có khổ, dù có ưu, mặt đẫm lệ, khóc than, vẫn sống đời phạm hạnh trọn vẹn, thanh tịnh. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào thiện thú, thiên giới. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự thực hành pháp khổ trong hiện tại và có quả vui trong tương lai.”
Katamañca, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco pakatiyā na tibbarāgajātiko hoti, so na abhikkhaṇaṁ rāgajaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; pakatiyā na tibbadosajātiko hoti, so na abhikkhaṇaṁ dosajaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; pakatiyā na tibbamohajātiko hoti, so na abhikkhaṇaṁ mohajaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. So vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ. Imāni kho, bhikkhave, cattāri dhammasamādānānī”ti.
And what is the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure? It’s when someone is not ordinarily full of acute greed, hate, and delusion. They rarely feel the pain and sadness that greed, hate, and delusion bring. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. This is called the way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure. These are the four ways of taking up practices.”
472. “Này các Tỳ khưu, thế nào là sự thực hành pháp vui trong hiện tại và có quả vui trong tương lai? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người bản tánh không tham ái mãnh liệt, vị ấy không thường xuyên cảm thọ khổ và ưu do tham ái sanh; bản tánh không sân hận mãnh liệt, vị ấy không thường xuyên cảm thọ khổ và ưu do sân hận sanh; bản tánh không si mê mãnh liệt, vị ấy không thường xuyên cảm thọ khổ và ưu do si mê sanh. Vị ấy ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu, nội tâm tĩnh lặng, tâm chuyên nhất, vị ấy chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ... Tam thiền... chứng và trú Tứ thiền. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào thiện thú, thiên giới. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự thực hành pháp vui trong hiện tại và có quả vui trong tương lai. Này các Tỳ khưu, có bốn sự thực hành pháp này.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Cūḷadhammasamādānasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Tiểu Pháp Hành, kinh thứ năm, chấm dứt.