- Majjhima Nikāya 44
Cūḷavedallasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷavedallasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), tai Veluvana (Trúc Lâm), chỗ Kalandaka Nivapa. Rồi nam cư sĩ Visākha đến chỗ Tỷ-kheo-ni Dhammadinna ở, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni Dhammadinna rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Visākha thưa với Tỷ-kheo ni Dhammadinna
SC 2—Thưa Ni sư, tự thân, tự thân, (Sakkaya), được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân là như thế nào?
SC 3—Hiền giả Visākha, Thế Tôn gọi năm thủ uẩn là tự thân, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Hiền giả Visākha, năm thủ uẩn này, Thế Tôn gọi là tự thân.
SC 4—Lành thay, thưa Ni sư.
SC 5Nam cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời Tỷ-kheo-ni Dhammadinna nói, rồi hỏi Tỷ-kheo-ni Dhammadinna thêm một câu hỏi nữa
SC 6—Tự thân tập khởi, tự thân tập khởi, thưa Ni sư, được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân tập khởi (Sakkaya samudaya) là như thế nào?
SC 7—Hiền giả Visākha, khát ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Hiền giả Visākha, khát ái này, Thế Tôn gọi là tự thân tập khởi.
SC 8—Tự thân diệt, tự thân diệt, thưa Ni sư, được gọi là như vậy. Thế Tôn gọi tự thân diệt là như thế nào?
SC 9—Hiền giả Visākha, sự đoạn diệt, không tham đắm, không có dư tàn của khát ái ấy, sự xả ly, sự vất bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp. Hiền giả Visākha, sự đoạn diệt này, Thế Tôn gọi là tự thân diệt.
SC 10—Thưa Ni sư, tự thân diệt đạo, tự thân diệt đạo, được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân diệt đạo là như thế nào?
SC 11—Hiền giả Visākha, Con đường Thánh tám ngành này, Thế Tôn gọi là tự thân diệt đạo, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
SC 12—Thưa Ni sư, thủ này tức là năm thủ uẩn kia hay thủ này khác với năm thủ uẩn?
SC 13—Không phải, Hiền giả Visākha. Thủ này tức là năm thủ uẩn kia, thủ này không khác với năm thủ uẩn kia, Hiền giả Visākha, phàm có dục tham đối với năm thủ uẩn, tức là (chấp) thủ đối với chúng ở đây vậy.
SC 14—Thưa Ni sư, thế nào là thân kiến?
SC 15—Ở đây, Hiền giả Visākha, kẻ vô văn phàm phu không đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đến yết kiến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, xem sắc là tự ngã hay xem tự ngã là có sắc, hay xem sắc là trong tự ngã hay xem tự ngã là trong sắc; xem thọ là tự ngã, hay xem tự ngã là có thọ, hay xem thọ là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong thọ; xem tưởng là tự ngã, hay xem tự ngã là có tưởng, hay xem tưởng là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong tưởng; xem hành là tự ngã, xem tự ngã là có hành, hay xem hành là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong hành; xem thức là tự ngã, hay xem tự ngã là có thức, hay xem thức là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong thức. Như vậy, Hiền giả Visākha, là thân kiến.
SC 16—Thưa Ni sư, thế nào là không phải thân kiến?
SC 17—Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Ða văn Thánh đệ tử đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong sắc; không xem thọ là tự ngã, không xem tự ngã là có thọ, không xem thọ là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thọ; không xem tưởng là tự ngã, không xem tự ngã là có tưởng, không xem tưởng là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong tưởng; không xem các hành là tự ngã, không xem tự ngã là có các hành, không xem các hành là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong các hành; không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã là có thức, không xem thức là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thức. Như vậy, Hiền giả Visākha, là không có thân kiến.
SC 18—Thưa Ni sư, thế nào là Thánh đạo Tám ngành?
SC 19—Hiền giả Visākha, đây là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
SC 20—Thưa Ni sư, Thánh đạo Tám ngành này là hữu vi hay vô vi?
SC 21—Hiền giả Visākha, Thánh đạo Tám ngành này là hữu vi.
SC 22—Thưa Ni sư, ba uẩn được Thánh đạo Tám ngành thâu nhiếp hay Thánh đạo Tám ngành được ba uẩn thâu nhiếp?
SC 23—Hiền giả Visākha, ba uẩn không bị Thánh đạo Tám ngành thâu nhiếp; Hiền giả Visākha, Thánh đạo Tám ngành bị ba uẩn thâu nhiếp. Hiền giả Visākha, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, những pháp này được thâu nhiếp trong giới uẩn. Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định, những pháp này được thâu nhiếp trong định uẩn. Chánh tri kiến và chánh tư duy, những pháp này được thâu nhiếp trong tuệ uẩn
SC 24—Thưa Ni sư thế nào là định, thế nào là định tướng, thế nào là định tư cụ, thế nào là định tu tập?
SC 25—Hiền giả Visākha, nhất tâm là định, Bốn Niệm Xứ là định tướng, Bốn Tinh cần là định tư cụ, sự luyện tập, sự tu tập, sự tái tu tập của những pháp ấy là định tu tập ở đây vậy.
SC 26—Thưa Ni sư, có bao nhiêu hành?
SC 27—Hiền giả, có ba loại hành này: thân hành, khẩu hành, và tâm hành.
SC 28—Thưa Ni sư, thế nào là thân hành, thế nào là khẩu hành, thế nào là tâm hành?
SC 29—Thở vô, thở ra, Hiền giả Visākha, là thân hành, tầm tứ là khẩu hành, tưởng và thọ là tâm hành.
SC 30—Thưa Ni sư, vì sao thở vô thở ra là thân hành, vì sao tầm tứ là khẩu hành, vì sao tưởng và thọ là tâm hành?
SC 31—Thở vô, thở ra, Hiền giả Visākha, thuộc về thân, những pháp này lệ thuộc với thân, nên thở vô thở ra thuộc về thân hành. Hiền giả Visākha, trước phải tầm và tứ rồi sau mới phát lời nói, nên tầm tứ thuộc về khẩu hành. Tưởng và thọ và tâm sở, các pháp này lệ thuộc với tâm, nên tưởng và thọ thuộc về tâm hành.
SC 32—Thưa Ni sư, như thế nào là chứng nhập Diệt thọ tưởng định?
SC 33—Hiền giả Visākha, Tỷ-kheo chứng nhập Diệt thọ tưởng định, vị ấy không nghĩ rằng: “Tôi sẽ chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định” hay “Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”. Vì rằng, tâm của vị này trước đã được tu tập như vậy nên đưa đến trạng thái như vậy.
SC 34—Thưa Ni sư, Tỷ-kheo chứng nhập Diệt thọ tưởng định, những pháp gì diệt trước, thân hành, hay khẩu hành, hay tâm hành?
SC 35—Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo chứng nhập Diệt thọ tưởng định, khẩu hành diệt trước, rồi đến thân hành, rồi đến tâm hành.
SC 36—Thưa Ni sư, làm thế nào xuất khởi Diệt thọ tưởng định?
SC 37—Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, không có nghĩ rằng: “Tôi sẽ xuất khởi Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đang xuất khởi Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã xuất khởi Diệt thọ tưởng định”. Vì rằng tâm của vị này trước đã tu tập như vậy nên đưa đến trạng thái như vậy.
SC 38—Thưa Ni sư, Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, những pháp nào khởi lên trước, thân hành, hay khẩu hành hay tâm hành?
SC 39—Hiền giả Visākha, Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm hành khởi lên trước nhất, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành.
SC 40—Thưa Ni sư, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, vị ấy cảm giác những xúc nào?
SC 41—Hiền giả Visākha, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, vị ấy cảm giác ba loại xúc: không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc.
SC 42—Thưa Ni sư, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm của vị ấy thiên về gì, hướng về gì, khuynh hướng về gì?
SC 43—Hiền giả Visākha, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm của vị ấy thiên về độc cư, hướng về độc cư, khuynh hướng về độc cư.
SC 44—Thưa Ni sư, có bao nhiêu thọ?
SC 45—Hiền giả Visākha, có ba thọ này, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
SC 46—Thưa Ni sư, thế nào là lạc thọ, thế nào là khổ thọ, thế nào là bất khổ bất lạc thọ?
SC 47—Hiền giả Visākha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách khoái lạc, khoái cảm, như vậy là lạc thọ. Hiền giả Visākha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách đau khổ, không khoái cảm, như vậy là khổ thọ. Hiền giả Visākha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm không khoái cảm, không khoái cảm như vậy là bất khổ bất lạc thọ.
SC 48—Thưa Ni sư, đối với lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ? Ðối với khổ thọ, cái gì khổ, cái gì lạc? Ðối với bất khổ bất lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ?
SC 49—Hiền giả Visākha, đối với lạc thọ, cái gì trú là lạc, cái gì biến hoại là khổ. Ðối với khổ thọ, cái gì trú là khổ, cái gì biến hoại là lạc. Ðối với bất khổ bất lạc thọ, có trí là lạc, vô trí là khổ.
SC 50—Thưa Ni sư, trong lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong khổ thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong bất khổ bất lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại?
SC 51—Hiền giả Visākha, trong lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.
SC 52—Thưa Ni sư, có phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại?
SC 53—Hiền giả Visākha, không phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; không phải trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; không phải trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.
SC 54—Thưa Ni sư, trong lạc thọ, cái gì phải từ bỏ. Trong khổ thọ, cái gì phải từ bỏ. Trong bất khổ bất lạc thọ, cái gì phải từ bỏ?
SC 55—Hiền giả Visākha, trong lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ. Trong khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ. Trong bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ.
SC 56—Thưa Ni sư, có phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ. Trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ. Trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ?
SC 57—Hiền giả Visākha, không phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ. Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm và tứ. Do vậy tham đã được từ bỏ, không còn tham tùy miên tồn tại ở đây.
SC 58Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo suy tư như sau: “Chắc chắn ta sẽ chứng và an trú trong trú xứ mà nay các vị Thánh đang an trú”. Vì muốn phát nguyện hướng đến các cảnh giải thoát vô thượng, do ước nguyện ấy, khởi lên ưu tư. Do vậy, sân được từ bỏ, không còn sân tùy miên tồn tại ở đây.
SC 59Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Do vậy vô minh đã được từ bỏ, không còn vô minh tùy miên tồn tại ở đây.
SC 60—Thưa Ni sư, lạc thọ lấy gì làm tương đương?
SC 61—Hiền giả Visākha, lạc thọ lấy khổ thọ làm tương đương.
SC 62—Thưa Ni sư, khổ thọ lấy gì làm tương đương?
SC 63—Hiền giả Visākha, khổ thọ lấy lạc thọ làm tương đương.
SC 64—Thưa Ni sư, bất khổ bất lạc thọ lấy gì làm tương đương?
SC 65—Hiền giả Visākha, bất khổ bất lạc thọ lấy vô minh làm tương đương.
SC 66—Thưa Ni sư, vô minh lấy gì làm tương đương?
SC 67—Hiền giả Visākha, vô minh lấy minh làm tương đương.
SC 68—Thưa Ni sư, minh lấy gì làm tương đương?
SC 69—Hiền giả Visākha, minh lấy giải thoát làm tương đương.
SC 70—Thưa Ni sư, giải thoát lấy gì làm tương đương?
SC 71—Hiền giả Visākha, giải thoát lấy Niết-bàn làm tương đương?
SC 72—Thưa Ni sư, Niết-bàn lấy gì làm tương đương?
SC 73—Hiền giả Visākha, câu hỏi đi quá xa, vượt ra ngoài giới hạn câu trả lời. Hiền giả Visākha, phạm hạnh là để thể nhập vào Niết-bàn, để vượt qua đến Niết-bàn, để đạt cứu cánh Niết-bàn. Hiền giả Visākha, nếu Hiền giả muốn, hãy đến chỗ Thế Tôn ở, và hỏi ý nghĩa này. Và Thế Tôn trả lời cho Hiền giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
SC 74Rồi nam cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời Tỷ-kheo-ni Dhammadinna giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo ni Dhammadinna, thân bên phải hướng về phía Tỷ-kheo-ni rồi từ biệt, đi đến chỗ Thế Tôn ở. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, nam cư sĩ Visākha thuật lại cho Thế Tôn tất cả câu chuyện đàm đạo với Tỷ-kheo-ni Dhammadinna. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với nam cư sĩ Visākha
SC 75—Này Visākha, Tỷ-kheo-ni Dhammadinna là bậc Hiền trí! Này Visākha, Tỷ-kheo-ni Dhammadinna là bậc Ðại tuệ. Này Visākha, nếu Ông hỏi Ta ý nghĩa ấy, Ta cũng trả lời như Tỷ-kheo-ni Dhammadinna đã trả lời. Ông đối với nghĩa này, hãy như vậy thọ trì.
SC 76Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nam cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Tiểu Phương Quảng
Atha kho visākho upāsako yena dhammadinnā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho visākho upāsako dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ etadavoca:
“‘sakkāyo sakkāyo’ti, ayye, vuccati. Katamo nu kho, ayye, sakkāyo vutto bhagavatā”ti?
“Pañca kho ime, āvuso visākha, upādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime kho, āvuso visākha, pañcupādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā”ti.
Then the layman Visākha went to see the nun Dhammadinnā, bowed, sat down to one side, and said to her:
“Ma’am, they speak of this thing called ‘substantial reality’. What is this substantial reality that the Buddha spoke of?”
“Visākha, the Buddha said that these five grasping aggregates are substantial reality. That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. The Buddha said that these five grasping aggregates are substantial reality.”
460. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, cư sĩ Visākha đi đến chỗ tỳ khưu ni Dhammadinnā; sau khi đến, đảnh lễ tỳ khưu ni Dhammadinnā rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, cư sĩ Visākha bạch tỳ khưu ni Dhammadinnā như sau: ‘Thưa sư tỷ, ‘thân kiến, thân kiến’ được nói đến. Thưa sư tỷ, thế nào được Thế Tôn gọi là thân kiến?’ ‘Này hiền giả Visākha, năm thủ uẩn này được Thế Tôn gọi là thân kiến, đó là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn. Này hiền giả Visākha, năm thủ uẩn này được Thế Tôn gọi là thân kiến.’”
“Sādhayye”ti kho visākho upāsako dhammadinnāya bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“‘sakkāyasamudayo sakkāyasamudayo’ti, ayye, vuccati. Katamo nu kho, ayye, sakkāyasamudayo vutto bhagavatā”ti?
“Yāyaṁ, āvuso visākha, taṇhā ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṁ—kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā; ayaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyasamudayo vutto bhagavatā”ti.
Saying “Good, ma’am,” Visākha approved and agreed with what Dhammadinnā said. Then he asked another question:
“Ma’am, they speak of this thing called ‘the origin of substantial reality’. What is the origin of substantial reality that the Buddha spoke of?”
“It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure there wherever it alights. That is, craving for sensual pleasures, craving for continued existence, and craving for nonexistence. The Buddha said that this is the origin of substantial reality.”
“Thưa Tôn giả, hay thay!” Cư sĩ Visākha sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của Tỳ khưu ni Dhammadinnā, đã hỏi thêm một câu hỏi nữa: “Thưa Tôn giả, người ta nói: ‘Tập khởi của thân kiến, tập khởi của thân kiến’. Thưa Tôn giả, cái gì được Thế Tôn gọi là tập khởi của thân kiến?” “Này hiền hữu Visākha, chính ái này đưa đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc nơi này nơi kia, tức là: dục ái, hữu ái, và phi hữu ái. Này hiền hữu Visākha, đây được Thế Tôn gọi là tập khởi của thân kiến.”
“‘Sakkāyanirodho sakkāyanirodho’ti, ayye, vuccati. Katamo nu kho, ayye, sakkāyanirodho vutto bhagavatā”ti?
“Ma’am, they speak of this thing called ‘the cessation of substantial reality’. What is the cessation of substantial reality that the Buddha spoke of?”
“Thưa Tôn giả, người ta nói: ‘Sự đoạn diệt của thân kiến, sự đoạn diệt của thân kiến’. Thưa Tôn giả, cái gì được Thế Tôn gọi là sự đoạn diệt của thân kiến?”
“Yo kho, āvuso visākha, tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo; ayaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyanirodho vutto bhagavatā”ti.
“It’s the fading away and cessation of that very same craving with no residue left behind; giving it away, letting it go, releasing it, and not clinging to it. The Buddha said that this is the cessation of substantial reality.”
“Này hiền hữu Visākha, sự đoạn diệt không còn dư tàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ chính ái ấy. Này hiền hữu Visākha, đây được Thế Tôn gọi là sự đoạn diệt của thân kiến.”
“‘Sakkāyanirodhagāminī paṭipadā sakkāyanirodhagāminī paṭipadā’ti, ayye, vuccati. Katamā nu kho, ayye, sakkāyanirodhagāminī paṭipadā vuttā bhagavatā”ti?
“Ma’am, they speak of the practice that leads to the cessation of substantial reality. What is the practice that leads to the cessation of substantial reality that the Buddha spoke of?”
“Thưa Tôn giả, người ta nói: ‘Con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến, con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến’. Thưa Tôn giả, con đường nào được Thế Tôn gọi là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến?”
“Ayameva kho, āvuso visākha, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo sakkāyanirodhagāminī paṭipadā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhī”ti.
“The practice that leads to the cessation of substantial reality that the Buddha spoke of is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.”
“Này hiền hữu Visākha, chính là Thánh đạo Tám ngành này được Thế Tôn gọi là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.”
“Taññeva nu kho, ayye, upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā udāhu aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānan”ti?
“Na kho, āvuso visākha, taññeva upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā, nāpi aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānaṁ. Yo kho, āvuso visākha, pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgo taṁ tattha upādānan”ti.
“But ma’am, is that grasping the exact same thing as the five grasping aggregates? Or is grasping one thing and the five grasping aggregates another?”
“That grasping is not the exact same thing as the five grasping aggregates. Nor is grasping one thing and the five grasping aggregates another. The desire and greed for the five grasping aggregates is the grasping there.”
“Thưa Tôn giả, có phải sự chấp thủ chính là năm thủ uẩn, hay sự chấp thủ là khác với năm thủ uẩn?” “Này hiền hữu Visākha, sự chấp thủ không phải là năm thủ uẩn, mà sự chấp thủ cũng không khác với năm thủ uẩn. Này hiền hữu Visākha, cái gì là dục và tham đối với năm thủ uẩn, đó chính là sự chấp thủ trong ấy.”
“Kathaṁ panāyye, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti?
“Idhāvuso visākha, assutavā puthujjano, ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto, rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ. Vedanaṁ …pe… saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Evaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.
“But ma’am, how does substantialist view come about?”
“It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how substantialist view comes about.”
461. “Thưa Tôn giả, làm thế nào có thân kiến?” “Này hiền hữu Visākha, ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục Thánh pháp, không tu tập Thánh pháp; không thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục Chân nhân pháp, không tu tập Chân nhân pháp, quán sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức, quán thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Này hiền hữu Visākha, như vậy là có thân kiến.”
“Kathaṁ panāyye, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
“But ma’am, how does substantialist view not come about?”
“Thưa Tôn giả, làm thế nào không có thân kiến?”
“Idhāvuso visākha, sutavā ariyasāvako, ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto, na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ. Na vedanaṁ …pe… na saññaṁ … na saṅkhāre …pe… na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Evaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.
“It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They don’t regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how substantialist view does not come about.”
“Này hiền hữu Visākha, ở đây, vị Thánh đệ tử có nghe, thấy các bậc Thánh, thuần thục Thánh pháp, tu tập Thánh pháp; thấy các bậc Chân nhân, thuần thục Chân nhân pháp, tu tập Chân nhân pháp, không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã có sắc, không quán sắc ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong sắc. Không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã có thức, không quán thức ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong thức. Này hiền hữu Visākha, như vậy là không có thân kiến.”
“Katamo panāyye, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo”ti?
“But ma’am, what is the noble eightfold path?”
462. “Thưa Tôn giả, thế nào là Thánh đạo Tám ngành?”
“Ayameva kho, āvuso visākha, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhī”ti.
“Ariyo panāyye, aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhato udāhu asaṅkhato”ti?
“It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.”
“But ma’am, is the noble eightfold path conditioned or unconditioned?”
“Này hiền hữu Visākha, đây chính là Thánh đạo Tám ngành, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.” “Thưa Tôn giả, Thánh đạo Tám ngành là pháp hữu vi hay pháp vô vi?”
“Ariyo kho, āvuso visākha, aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhato”ti.
“The noble eightfold path is conditioned.”
“Này hiền hữu Visākha, Thánh đạo Tám ngành là pháp hữu vi.”
“Ariyena nu kho, ayye, aṭṭhaṅgikena maggena tayo khandhā saṅgahitā udāhu tīhi khandhehi ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅgahito”ti?
“Are the three spectrums of practice included in the noble eightfold path? Or is the noble eightfold path included in the three spectrums of practice?”
“Thưa Tôn giả, có phải ba uẩn được bao gồm trong Thánh đạo Tám ngành, hay Thánh đạo Tám ngành được bao gồm trong ba uẩn?”
“Na kho, āvuso visākha, ariyena aṭṭhaṅgikena maggena tayo khandhā saṅgahitā; tīhi ca kho, āvuso visākha, khandhehi ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅgahito. Yā cāvuso visākha, sammāvācā yo ca sammākammanto yo ca sammāājīvo ime dhammā sīlakkhandhe saṅgahitā. Yo ca sammāvāyāmo yā ca sammāsati yo ca sammāsamādhi ime dhammā samādhikkhandhe saṅgahitā. Yā ca sammādiṭṭhi yo ca sammāsaṅkappo, ime dhammā paññākkhandhe saṅgahitā”ti.
“The three spectrums of practice are not included in the noble eightfold path. Rather, the noble eightfold path is included in the three spectrums of practice. Right speech, right action, and right livelihood: these things are included in the spectrum of ethics. Right effort, right mindfulness, and right immersion: these things are included in the spectrum of immersion. Right view and right purpose: these things are included in the spectrum of wisdom.”
“Này hiền hữu Visākha, không phải ba uẩn được bao gồm trong Thánh đạo Tám ngành, mà Thánh đạo Tám ngành được bao gồm trong ba uẩn. Này hiền hữu Visākha, chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng, những pháp này được bao gồm trong giới uẩn. Chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định, những pháp này được bao gồm trong định uẩn. Chánh kiến và chánh tư duy, những pháp này được bao gồm trong tuệ uẩn.”
“Katamo panāyye, samādhi, katame dhammā samādhinimittā, katame dhammā samādhiparikkhārā, katamā samādhibhāvanā”ti?
“But ma’am, what is immersion? What things are the bases of immersion? What things are the prerequisites for immersion? What is the development of immersion?”
“Thưa Tôn giả, thế nào là định, những pháp nào là tướng của định, những pháp nào là tư trợ của định, và thế nào là sự tu tập định?”
“Yā kho, āvuso visākha, cittassa ekaggatā ayaṁ samādhi; cattāro satipaṭṭhānā samādhinimittā; cattāro sammappadhānā samādhiparikkhārā. Yā tesaṁyeva dhammānaṁ āsevanā bhāvanā bahulīkammaṁ, ayaṁ ettha samādhibhāvanā”ti.
“Unification of the mind is immersion. The four kinds of mindfulness meditation are the bases for immersion. The four right efforts are the prerequisites for immersion. The cultivation, development, and making much of these very same things is the development of immersion.”
“Này hiền hữu Visākha, sự nhất tâm nào của tâm, đó là định; bốn niệm xứ là tướng của định; bốn chánh cần là tư trợ của định. Sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho sung mãn chính những pháp ấy, đây là sự tu tập định ở đây.”
“Kati panāyye, saṅkhārā”ti?
“How many processes are there?”
463. “Thưa Tôn giả, có bao nhiêu loại hành?”
“Tayome, āvuso visākha, saṅkhārā—kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro”ti.
“There are these three processes. The physical process, the verbal process, and the mental process.”
“Này hiền hữu Visākha, có ba loại hành này: thân hành, khẩu hành, và tâm hành.”
“Katamo panāyye, kāyasaṅkhāro, katamo vacīsaṅkhāro, katamo cittasaṅkhāro”ti?
“But ma’am, what is the physical process? What’s the verbal process? What’s the mental process?”
“Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành, thế nào là khẩu hành, thế nào là tâm hành?”
“Assāsapassāsā kho, āvuso visākha, kāyasaṅkhāro, vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Breathing is a physical process. Placing the mind and keeping it connected are a verbal process. Perception and feeling are a mental process.”
“Này hiền hữu Visākha, hơi thở vô, hơi thở ra là thân hành; tầm và tứ là khẩu hành; tưởng và thọ là tâm hành.”
“Kasmā panāyye, assāsapassāsā kāyasaṅkhāro, kasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, kasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti?
“But ma’am, why is breathing a physical process? Why are placing the mind and keeping it connected a verbal process? Why are perception and feeling a mental process?”
“Thưa Tôn giả, vì sao hơi thở vô hơi thở ra là thân hành, vì sao tầm và tứ là khẩu hành, vì sao tưởng và thọ là tâm hành?”
“Assāsapassāsā kho, āvuso visākha, kāyikā ete dhammā kāyappaṭibaddhā, tasmā assāsapassāsā kāyasaṅkhāro. Pubbe kho, āvuso visākha, vitakketvā vicāretvā pacchā vācaṁ bhindati, tasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro. Saññā ca vedanā ca cetasikā ete dhammā cittappaṭibaddhā, tasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Breathing is physical. It’s tied up with the body, that’s why breathing is a physical process. First you place the mind and keep it connected, then you break into speech. That’s why placing the mind and keeping it connected are a verbal process. Perception and feeling are mental. They’re tied up with the mind, that’s why perception and feeling are a mental process.”
“Này hiền giả Visākha, hơi thở vô hơi thở ra là thuộc về thân, các pháp này liên hệ đến thân, do đó hơi thở vô hơi thở ra là thân hành. Này hiền giả Visākha, trước hết có tầm có tứ, sau rồi mới phát ra lời nói, do đó tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ là thuộc về tâm, các pháp này liên hệ đến tâm, do đó tưởng và thọ là tâm hành.”
“Kathaṁ panāyye, saññāvedayitanirodhasamāpatti hotī”ti?
“But ma’am, how does someone attain the cessation of perception and feeling?”
464. “Thưa Tôn giả, sự chứng đạt Diệt Thọ Tưởng Định xảy ra như thế nào?”
“Na kho, āvuso visākha, saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa bhikkhuno evaṁ hoti: ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjissan’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā. Atha khvāssa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“A mendicant who is entering such an attainment does not think: ‘I will enter the cessation of perception and feeling’ or ‘I am entering the cessation of perception and feeling’ or ‘I have entered the cessation of perception and feeling.’ Rather, their mind has been previously developed so as to lead to such a state.”
“Này hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo đang nhập Diệt Thọ Tưởng Định không khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Ta sẽ nhập Diệt Thọ Tưởng Định’, hay ‘Ta đang nhập Diệt Thọ Tưởng Định’, hay ‘Ta đã nhập Diệt Thọ Tưởng Định’. Mà trái lại, tâm của vị ấy đã được tu tập từ trước, chính tâm ấy đưa đến trạng thái như vậy.”
“Saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa panāyye, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ nirujjhanti—yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa kho, āvuso visākha, bhikkhuno paṭhamaṁ nirujjhati vacīsaṅkhāro, tato kāyasaṅkhāro, tato cittasaṅkhāro”ti.
“But ma’am, which process ceases first for a mendicant who is entering the cessation of perception and feeling: physical, verbal, or mental?”
“The verbal process ceases first, then physical, then mental.”
“Thưa Tôn giả, đối với vị Tỷ-kheo đang nhập Diệt Thọ Tưởng Định, những pháp nào diệt trước: thân hành, khẩu hành, hay tâm hành?” “Này hiền giả Visākha, đối với vị Tỷ-kheo đang nhập Diệt Thọ Tưởng Định, khẩu hành diệt trước, sau đó thân hành, rồi sau đó tâm hành.”
“Kathaṁ panāyye, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhānaṁ hotī”ti?
“But ma’am, how does someone emerge from the cessation of perception and feeling?”
“Thưa Tôn giả, sự xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định xảy ra như thế nào?”
“Na kho, āvuso visākha, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa bhikkhuno evaṁ hoti: ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahissan’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahāmī’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhito’ti vā. Atha khvāssa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“A mendicant who is emerging from such an attainment does not think: ‘I will emerge from the cessation of perception and feeling’ or ‘I am emerging from the cessation of perception and feeling’ or ‘I have emerged from the cessation of perception and feeling.’ Rather, their mind has been previously developed so as to lead to such a state.”
“Này hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo đang xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định không khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Ta sẽ xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định’, hay ‘Ta đang xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định’, hay ‘Ta đã xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định’. Mà trái lại, tâm của vị ấy đã được tu tập từ trước, chính tâm ấy đưa đến trạng thái như vậy.”
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa panāyye, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ uppajjanti—yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa kho, āvuso visākha, bhikkhuno paṭhamaṁ uppajjati cittasaṅkhāro, tato kāyasaṅkhāro, tato vacīsaṅkhāro”ti.
“But ma’am, which process arises first for a mendicant who is emerging from the cessation of perception and feeling: physical, verbal, or mental?”
“The mental process arises first, then physical, then verbal.”
“Thưa Tôn giả, đối với vị Tỷ-kheo đang xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định, những pháp nào sanh khởi trước: thân hành, khẩu hành, hay tâm hành?” “Này hiền giả Visākha, đối với vị Tỷ-kheo đang xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định, tâm hành sanh khởi trước, sau đó thân hành, rồi sau đó khẩu hành.”
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ panāyye, bhikkhuṁ kati phassā phusantī”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ kho, āvuso visākha, bhikkhuṁ tayo phassā phusanti—suññato phasso, animitto phasso, appaṇihito phasso”ti.
“But ma’am, when a mendicant has emerged from the attainment of the cessation of perception and feeling, how many kinds of contact do they experience?”
“They experience three kinds of contact: emptiness, signless, and undirected contacts.”
“Thưa Tôn giả, vị Tỷ-kheo đã xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định được bao nhiêu loại xúc chạm đến?” “Này hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo đã xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định được ba loại xúc chạm đến: không xúc, vô tướng xúc, và vô nguyện xúc.”
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa panāyye, bhikkhuno kiṁninnaṁ cittaṁ hoti kiṁpoṇaṁ kiṁpabbhāran”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa kho, āvuso visākha, bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti, vivekapoṇaṁ vivekapabbhāran”ti.
“But ma’am, when a mendicant has emerged from the attainment of the cessation of perception and feeling, what does their mind slant, slope, and incline to?”
“Their mind slants, slopes, and inclines to seclusion.”
“Thưa Tôn giả, tâm của vị Tỷ-kheo đã xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định hướng về đâu, xuôi về đâu, nghiêng về đâu?” “Này hiền giả Visākha, tâm của vị Tỷ-kheo đã xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nghiêng về viễn ly.”
“Kati panāyye, vedanā”ti?
“But ma’am, how many feelings are there?”
465. “Thưa Tôn giả, có bao nhiêu loại thọ?”
“Tisso kho imā, āvuso visākha, vedanā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā”ti.
“There are three feelings: pleasant, painful, and neutral feeling.”
“Này hiền giả Visākha, có ba loại thọ này: lạc thọ, khổ thọ, và bất khổ bất lạc thọ.”
“Katamā panāyye, sukhā vedanā, katamā dukkhā vedanā, katamā adukkhamasukhā vedanā”ti?
“What are these three feelings?”
“Thưa Tôn giả, thế nào là lạc thọ, thế nào là khổ thọ, thế nào là bất khổ bất lạc thọ?”
“Yaṁ kho, āvuso visākha, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā sukhaṁ sātaṁ vedayitaṁ—ayaṁ sukhā vedanā. Yaṁ kho, āvuso visākha, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā dukkhaṁ asātaṁ vedayitaṁ—ayaṁ dukkhā vedanā. Yaṁ kho, āvuso visākha, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā neva sātaṁ nāsātaṁ vedayitaṁ—ayaṁ adukkhamasukhā vedanā”ti.
“Anything felt physically or mentally as pleasant or enjoyable. This is pleasant feeling. Anything felt physically or mentally as painful or unpleasant. This is painful feeling. Anything felt physically or mentally as neither pleasurable nor painful. This is neutral feeling.”
“Này hiền giả Visākha, bất cứ cảm giác nào, thuộc thân hay thuộc tâm, mà lạc và dễ chịu – đây là lạc thọ. Này hiền giả Visākha, bất cứ cảm giác nào, thuộc thân hay thuộc tâm, mà khổ và khó chịu – đây là khổ thọ. Này hiền giả Visākha, bất cứ cảm giác nào, thuộc thân hay thuộc tâm, mà không dễ chịu cũng không khó chịu – đây là bất khổ bất lạc thọ.”
“Sukhā panāyye, vedanā kiṁsukhā kiṁdukkhā, dukkhā vedanā kiṁsukhā kiṁdukkhā, adukkhamasukhā vedanā kiṁsukhā kiṁdukkhā”ti?
“What is pleasant and what is painful regarding each of the three feelings?”
“Thưa Tôn giả, lạc thọ là lạc ở điểm nào, là khổ ở điểm nào? Khổ thọ là lạc ở điểm nào, là khổ ở điểm nào? Bất khổ bất lạc thọ là lạc ở điểm nào, là khổ ở điểm nào?”
“Sukhā kho, āvuso visākha, vedanā ṭhitisukhā vipariṇāmadukkhā; dukkhā vedanā ṭhitidukkhā vipariṇāmasukhā; adukkhamasukhā vedanā ñāṇasukhā aññāṇadukkhā”ti.
“Pleasant feeling is pleasant when it remains and painful when it perishes. Painful feeling is painful when it remains and pleasant when it perishes. Neutral feeling is pleasant in the presence of knowledge, and painful in the presence of ignorance.”
“Này hiền giả Visākha, lạc thọ là lạc khi nó tồn tại, là khổ khi nó biến đổi; khổ thọ là khổ khi nó tồn tại, là lạc khi nó biến đổi; bất khổ bất lạc thọ là lạc khi có trí tuệ biết rõ, là khổ khi không có trí tuệ biết rõ.”
“Sukhāya panāyye, vedanāya kiṁ anusayo anuseti, dukkhāya vedanāya kiṁ anusayo anuseti, adukkhamasukhāya vedanāya kiṁ anusayo anusetī”ti?
“What underlying tendencies underlie each of the three feelings?”
“Thưa Tôn giả, tùy miên nào tiềm ẩn trong lạc thọ, tùy miên nào tiềm ẩn trong khổ thọ, tùy miên nào tiềm ẩn trong bất khổ bất lạc thọ?”
“Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya rāgānusayo anuseti, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti.
“The underlying tendency for greed underlies pleasant feeling. The underlying tendency for aversion underlies painful feeling. The underlying tendency for ignorance underlies neutral feeling.”
“Này hiền giả Visākha, tham tùy miên tiềm ẩn trong lạc thọ, sân tùy miên tiềm ẩn trong khổ thọ, và vô minh tùy miên tiềm ẩn trong bất khổ bất lạc thọ.”
“Sabbāya nu kho, ayye, sukhāya vedanāya rāgānusayo anuseti, sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti?
“Do these underlying tendencies always underlie these feelings?”
“Thưa Tôn giả, có phải tham tùy miên tiềm ẩn trong tất cả lạc thọ, sân tùy miên tiềm ẩn trong tất cả khổ thọ, và vô minh tùy miên tiềm ẩn trong tất cả bất khổ bất lạc thọ không?”
“Na kho, āvuso visākha, sabbāya sukhāya vedanāya rāgānusayo anuseti, na sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, na sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti.
“No, they do not.”
“Này hiền giả Visākha, không phải tham tùy miên tiềm ẩn trong tất cả lạc thọ, không phải sân tùy miên tiềm ẩn trong tất cả khổ thọ, và không phải vô minh tùy miên tiềm ẩn trong tất cả bất khổ bất lạc thọ.”
“Sukhāya panāyye, vedanāya kiṁ pahātabbaṁ, dukkhāya vedanāya kiṁ pahātabbaṁ, adukkhamasukhāya vedanāya kiṁ pahātabban”ti?
“What should be given up in regard to each of these three feelings?”
“Thưa Tôn giả, đối với lạc thọ, điều gì cần phải được đoạn trừ? Đối với khổ thọ, điều gì cần phải được đoạn trừ? Đối với bất khổ bất lạc thọ, điều gì cần phải được đoạn trừ?”
“Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya rāgānusayo pahātabbo, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo”ti.
“The underlying tendency to greed should be given up when it comes to pleasant feeling. The underlying tendency to aversion should be given up when it comes to painful feeling. The underlying tendency to ignorance should be given up when it comes to neutral feeling.”
“Này hiền hữu Visākha, đối với lạc thọ, tùy miên tham ái cần phải được đoạn trừ; đối với khổ thọ, tùy miên sân hận cần phải được đoạn trừ; đối với thọ bất khổ bất lạc, tùy miên vô minh cần phải được đoạn trừ.”
“Sabbāya nu kho, ayye, sukhāya vedanāya rāgānusayo pahātabbo, sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo”ti?
“Should these underlying tendencies be given up regarding all instances of these feelings?”
“Thưa Tôn giả, có phải tùy miên tham ái cần phải được đoạn trừ đối với tất cả lạc thọ, tùy miên sân hận cần phải được đoạn trừ đối với tất cả khổ thọ, tùy miên vô minh cần phải được đoạn trừ đối với tất cả thọ bất khổ bất lạc không?”
“Na kho, āvuso visākha, sabbāya sukhāya vedanāya rāgānusayo pahātabbo, na sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, na sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo. Idhāvuso visākha, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Rāgaṁ tena pajahati, na tattha rāgānusayo anuseti. Idhāvuso visākha, bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘kudāssu nāmāhaṁ tadāyatanaṁ upasampajja viharissāmi yadariyā etarahi āyatanaṁ upasampajja viharantī’ti? Iti anuttaresu vimokkhesu pihaṁ upaṭṭhāpayato uppajjati pihāppaccayā domanassaṁ. Paṭighaṁ tena pajahati, na tattha paṭighānusayo anuseti. Idhāvuso visākha, bhikkhu sukhassa ca pahānā, dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Avijjaṁ tena pajahati, na tattha avijjānusayo anusetī”ti.
“No, not in all instances. Take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. With this they give up greed, and the underlying tendency to greed does not lie within that. And take a mendicant who reflects: ‘Oh, when will I enter and remain in the same dimension that the noble ones enter and remain in today?’ Nursing such a longing for the supreme liberations gives rise to sadness due to longing. With this they give up aversion, and the underlying tendency to aversion does not lie within that. Take a mendicant who, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. With this they give up ignorance, and the underlying tendency to ignorance does not lie within that.”
“Này hiền hữu Visākha, không phải tùy miên tham ái cần được đoạn trừ đối với tất cả lạc thọ, không phải tùy miên sân hận cần được đoạn trừ đối với tất cả khổ thọ, không phải tùy miên vô minh cần được đoạn trừ đối với tất cả thọ bất khổ bất lạc. Này hiền hữu Visākha, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy đoạn trừ tham ái nhờ vào trạng thái ấy, và tùy miên tham ái không tiềm ẩn ở nơi đó. Này hiền hữu Visākha, ở đây, vị tỳ khưu suy xét như vầy: ‘Khi nào ta sẽ chứng và trú vào cảnh giới mà các bậc Thánh hiện đang chứng và trú?’ Như vậy, khi vị ấy khởi lên lòng khao khát đối với các sự giải thoát vô thượng, do duyên khao khát ấy mà ưu sanh khởi. Vị ấy đoạn trừ sân hận nhờ vào trạng thái ấy, và tùy miên sân hận không tiềm ẩn ở nơi đó. Này hiền hữu Visākha, ở đây, vị tỳ khưu xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã sanh từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy đoạn trừ vô minh nhờ vào trạng thái ấy, và tùy miên vô minh không tiềm ẩn ở nơi đó.”
“Sukhāya panāyye, vedanāya kiṁ paṭibhāgo”ti?
“But ma’am, what is the counterpart of pleasant feeling?”
466. “Thưa Tôn giả, cái gì là đối phần của lạc thọ?”
“Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya dukkhā vedanā paṭibhāgo”ti.
“Painful feeling.”
“Này hiền hữu Visākha, đối phần của lạc thọ là khổ thọ.”
“Dukkhāya pannāyye, vedanāya kiṁ paṭibhāgo”ti?
“What is the counterpart of painful feeling?”
“Thưa Tôn giả, cái gì là đối phần của khổ thọ?”
“Dukkhāya kho, āvuso visākha, vedanāya sukhā vedanā paṭibhāgo”ti.
“Pleasant feeling.”
“Này hiền hữu Visākha, đối phần của khổ thọ là lạc thọ.”
“Adukkhamasukhāya panāyye, vedanāya kiṁ paṭibhāgo”ti?
“What is the counterpart of neutral feeling?”
“Thưa Tôn giả, cái gì là đối phần của thọ bất khổ bất lạc?”
“Adukkhamasukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya avijjā paṭibhāgo”ti.
“Ignorance.”
“Này hiền hữu Visākha, đối phần của thọ bất khổ bất lạc là vô minh.”
“Avijjāya panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“What is the counterpart of ignorance?”
“Thưa Tôn giả, cái gì là đối phần của vô minh?”
“Avijjāya kho, āvuso visākha, vijjā paṭibhāgo”ti.
“Knowledge.”
“Này hiền hữu Visākha, đối phần của vô minh là minh.”
“Vijjāya panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“What is the counterpart of knowledge?”
“Thưa Tôn giả, cái gì là đối phần của minh?”
“Vijjāya kho, āvuso visākha, vimutti paṭibhāgo”ti.
“Freedom.”
“Này hiền hữu Visākha, đối phần của minh là giải thoát.”
“Vimuttiyā panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“What is the counterpart of freedom?”
“Thưa Tôn giả, cái gì là đối phần của giải thoát?”
“Vimuttiyā kho, āvuso visākha, nibbānaṁ paṭibhāgo”ti.
“Extinguishment.”
“Này hiền hữu Visākha, đối phần của giải thoát là Niết-bàn.”
“Nibbānassa panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Accayāsi, āvuso visākha, pañhaṁ, nāsakkhi pañhānaṁ pariyantaṁ gahetuṁ. Nibbānogadhañhi, āvuso visākha, brahmacariyaṁ, nibbānaparāyanaṁ nibbānapariyosānaṁ. Ākaṅkhamāno ca tvaṁ, āvuso visākha, bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccheyyāsi, yathā ca te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsī”ti.
“What is the counterpart of extinguishment?”
“Your question goes too far, Visākha. You weren’t able to grasp the limit of questioning. For extinguishment is the objective, destination, and culmination of the spiritual life. If you wish, go to the Buddha and ask him this question. You should remember it in line with his answer.”
“Thưa Tôn giả, cái gì là đối phần của Niết-bàn?” “Này hiền hữu Visākha, hiền hữu đã đi quá giới hạn của câu hỏi, đã không thể nắm bắt được điểm tận cùng của các câu hỏi. Này hiền hữu Visākha, vì phạm hạnh thể nhập vào Niết-bàn, có Niết-bàn là đích đến, có Niết-bàn là cứu cánh. Và này hiền hữu Visākha, nếu hiền hữu muốn, hãy đến gần Thế Tôn và hỏi Ngài về ý nghĩa này. Như Thế Tôn trả lời cho hiền hữu, hiền hữu hãy ghi nhớ như vậy.”
Atha kho visākho upāsako dhammadinnāya bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho visākho upāsako yāvatako ahosi dhammadinnāya bhikkhuniyā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Evaṁ vutte, bhagavā visākhaṁ upāsakaṁ etadavoca: “paṇḍitā, visākha, dhammadinnā bhikkhunī, mahāpaññā, visākha, dhammadinnā bhikkhunī. Mañcepi tvaṁ, visākha, etamatthaṁ puccheyyāsi, ahampi taṁ evamevaṁ byākareyyaṁ, yathā taṁ dhammadinnāya bhikkhuniyā byākataṁ. Eso cevetassa attho. Evañca naṁ dhārehī”ti.
And then the layman Visākha approved and agreed with what the nun Dhammadinnā said. He rose from his seat, bowed, and respectfully circled her, keeping her on his right. Then he went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed.
When he had spoken, the Buddha said to him, “The nun Dhammadinnā is astute, Visākha, she has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as the nun Dhammadinnā. That is what it means, and that’s how you should remember it.”
467. Bấy giờ, cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời nói của tỳ khưu ni Dhammadinnā, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tỳ khưu ni Dhammadinnā, đi nhiễu quanh theo phía bên phải, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên xong, cư sĩ Visākha trình bày lại với Thế Tôn toàn bộ cuộc đối thoại đã diễn ra với tỳ khưu ni Dhammadinnā. Khi được nói như vậy, Thế Tôn bảo cư sĩ Visākha điều này: “Này Visākha, tỳ khưu ni Dhammadinnā là bậc hiền trí. Này Visākha, tỳ khưu ni Dhammadinnā có trí tuệ lớn. Này Visākha, nếu ông hỏi ta về ý nghĩa này, ta cũng sẽ trả lời giống hệt như tỳ khưu ni Dhammadinnā đã trả lời. Đây chính là ý nghĩa của nó. Và ông hãy ghi nhớ như vậy.”
Idamavoca bhagavā. Attamano visākho upāsako bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the layman Visākha approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Cư sĩ Visākha, với tâm hoan hỷ, đã tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Cūḷavedallasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Tiểu Phân Biệt, bài thứ tư, kết thúc.