- Majjhima Nikāya 43
Mahāvedallasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāvedallasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Kotthita (Ðại Câu-hy-la), vào buổi chiều, khi thiền định xong, đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta ở, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahā Kotthita nói với Tôn giả Sāriputta
SC 2—Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ (Suppanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?
SC 3—Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ tri (Nappajanati), này Hiền giả nên được gọi là liệt tuệ. Không tuệ tri gì? Không tuệ tri: đây là Khổ, không tuệ tri: đây là Khổ tập, không tuệ tri: đây là Khổ diệt, không tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì không tuệ tri, không tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là liệt tuệ.
- -Lành thay, Hiền giả!
SC 4Tôn giả Mahā Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta nói, rồi hỏi Tôn giả Sāriputta một câu hỏi nữa
SC 5—Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào là được gọi là trí tuệ?
SC 6—Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ. Có tuệ tri gì? Có tuệ tri: đây là Khổ, có tuệ tri: đây là Khổ tập, có tuệ tri: đây là Khổ diệt, có tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ.
SC 7—Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?
SC 8—Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.
SC 9—Nầy Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
SC 10—Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
SC 11—Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?
SC 12—Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này.
SC 13—Cảm thọ, cảm thọ, này Hiền giả, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là cảm thọ?
SC 14—Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ (Vedeti), nên được gọi là cảm thọ. Và cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ bất khổ bất lạc. Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ, nên được gọi là cảm thọ.
SC 15—Này Hiền giả, tưởng, tưởng (Sanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là tưởng?
SC 16—Tưởng tri, tưởng tri (Sanjanati), này Hiền giả, nên được gọi là tưởng, Và tưởng tri gì? Tưởng tri màu xanh, tưởng tri màu vàng, tưởng tri màu đỏ, tưởng tri màu trắng. Tưởng tri, tưởng tri, này Hiền giả, nên được gọi là tưởng.
SC 17—Này Hiền giả, thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
SC 18—Này Hiền giả, cảm thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tưởng tri được, điều gì tưởng tri được là cảm thọ được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
SC 19—Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì?
SC 20—Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn, có thể đưa đến Hư không vô biên xứ; hư không là vô biên, có thể đưa đến Thức vô biên xứ; thức là vô biên, có thể đưa đến Vô sở hữu xứ, không có sự vật gì.
SC 21—Này Hiền giả, pháp gì đưa đến nhờ gì có thể tuệ tri được?
SC 22—Này Hiền giả, nhờ tuệ nhãn, pháp được đưa đến có thể tuệ tri.
SC 23—Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa gì?
SC 24—Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa là thắng tri (Abhinnattha), có nghĩa là liễu tri (Parinnattha), có nghĩa là đoạn tận (Pahanattha).
SC 25—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi?
SC 26—Này Hiền giả, có hai duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi: Tiếng của người khác và như lý tác ý. Này Hiền giả, do hai duyên này, chánh tri kiến sanh khởi.
SC 27—Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi bao nhiêu chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, và tuệ giải thoát quả, tuệ giải thoát quả công đức?
SC 28—Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi năm chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức. Ở đây, này Hiền giả, chánh tri kiến có giới hỗ trợ, có văn (Suta) hỗ trợ, có thảo luận hỗ trợ, có chỉ (Samatha) hỗ trợ, có quán (Vipassana) hỗ trợ. Này Hiền giả, chánh tri kiến được hỗ trợ bởi năm chi phần này để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức.
SC 29—Này Hiền giả, có bao nhiêu hữu (Bhava)?
SC 30—Này Hiền giả có ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.
SC 31—Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai được xảy ra?
SC 32—Này Hiền giả, bị vô minh ngăn che, bị tham ái trói buộc, các loài hữu tình thích thú chỗ này chỗ kia, như vậy, sự tái sinh trong tương lai được xảy ra.
SC 33—Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai không xảy ra?
SC 34—Này Hiền giả, vô minh được xả ly, minh khởi, tham ái được đoạn diệt, như vậy sự tái sanh trong tương lai không xảy ra.
SC 35—Này Hiền giả, thế nào là Thiền thứ nhất?
SC 36—Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Thiền thứ nhất.
SC 37—Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có bao nhiêu chi phần?
SC 38—Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất, có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần như vậy.
SC 39—Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ bao nhiêu chi phần và thành tựu bao nhiêu chi phần?
SC 40- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần, và thành tựu năm chi phần.
SC 41—Này Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới khác nhau, có hành giới khác nhau, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau. Tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có thọ lãnh cảnh giới, hành giới lẫn nhau, cái gì làm sở y cho chúng, cái gì lãnh thọ cảnh giới, hành giới của chúng?
SC 42—Nầy Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lãnh thọ cảnh giới, hành giới lẫn nhau, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau, ý làm sở y cho chúng, và ý lãnh thọ cảnh giới và hành giới của chúng.
SC 43—Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên gì mà chúng an trú?
SC 44—Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên tuổi thọ (Ayu) mà chúng an trú.
SC 45—Này Hiền giả, tuổi thọ do duyên gì mà an trú?
SC 46—Tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú.
SC 47—Này Hiền giả, hơi nóng do duyên gì mà an trú?
SC 48—Hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.
SC 49—Này Hiền giả, nay chúng tôi được biết từ lời nói của Tôn giả Sāriputta là tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú. Nay chúng tôi lại được biết từ lời nói của Tôn giả Sāriputta là hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú. Này Hiền giả, như thế nào, cần phải hiểu ý nghĩa lời nói này?
SC 50—Này Hiền giả, tôi sẽ cho một ví dụ. Nhờ ví dụ, ở đây, một số người có trí sẽ hiểu ý nghĩa lời nói. Này Hiền giả, ví như khi một cây đèn dầu được thắp sáng, duyên tim đèn, ánh sáng được hiện ra, do duyên ánh sáng, tim đèn được thấy. Cũng vậy này Hiền giả, tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú, và hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.
SC 51—Này Hiền giả, những pháp thọ hành (Ayusankhara) này là những pháp được cảm thọ (Vedaniya) này, hay những pháp thọ hành này khác với những pháp được cảm thọ này?
SC 52—Này Hiền giả, những pháp thọ hành này không phải là những pháp được cảm thọ này. Này Hiền giả, nếu những pháp thọ hành này là những pháp được cảm thọ này thì không thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định. Này Hiền giả, vì rằng những pháp thọ hành khác, những pháp được cảm thọ khác nên có thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định.
SC 53—Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào có bao nhiêu pháp được từ bỏ, thì thân này được nằm xuống, quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri?
SC 54—Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào ba pháp được từ bỏ: Tuổi thọ, hơi nóng và thức, thì thân này nằm xuống, được quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri.
SC 55—Này Hiền giả, có sự sai khác gì giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định?
SC 56—Này Hiền giả, vật chết, mạng chung này, thân hành của nó chấm dứt, dừng lại, khẩu hành chấm dứt, dừng lại, tâm hành chấm dứt, dừng lại, tuổi thọ diệt tận, hơi nóng tiêu diệt, các căn bị bại hoại. Còn vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định, thì thân hành của vị này được chấm dứt, được dừng lại, khẩu hành được chấm dứt, được dừng lại, tâm hành được chấm dứt, được dừng lại, nhưng tuổi thọ không diệt tận, hơi nóng không tiêu diệt, các căn được sáng suốt. Này Hiền giả, như vậy là sự sai khác giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định.
SC 57—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc?
SC 58—Này Hiền giả, có bốn duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, do bốn duyên này mà chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc.
SC 59—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát?
SC 60—Này Hiền giả, có hai duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát: không có tác ý nhất thiết tướng và tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà chứng nhập vô tướng tâm giải thoát.
SC 61—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát?
SC 62—Này Hiền giả, có ba duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát: không tác ý nhất thiết tướng, tác ý vô tướng giới, và một sự sửa soạn trước. Này Hiền giả, do ba duyên này mà an trú vô tướng tâm giải thoát.
SC 63—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát?
SC 64—Này Hiền giả, có hai duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát: tác ý nhất thiết tướng và không tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà xuất khởi vô tướng tâm giải thoát.
SC 65—Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát này, vô sở hữu tâm giải thoát này, không tâm giải thoát này và vô tướng tâm giải thoát này, những pháp này nghĩa sai biệt và danh sai biệt, hay nghĩa đồng nhất và danh sai biệt.
SC 66—Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát này, có một pháp môn, này Hiền giả, do pháp môn này, các pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt. Và này Hiền giả, lại có một pháp môn, do pháp môn này, các pháp ấy có nghĩa đồng nhất và danh sai biệt. Này Hiền giả, thế nào là có pháp môn, do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa sai khác và có danh sai khác? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô lượng tâm giải thoát.
SC 67Và này Hiền giả, thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Vô sở hữu tâm giải thoát.
SC 68Và này Hiền giả, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống và suy nghĩ như sau: “Ðây trống không, không có tự ngã hay không có ngã sở”. Như vậy, này Hiền giả, gọi là không tâm giải thoát.
SC 69Và này Hiền giả, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo không tác ý với nhất thiết tướng, đạt và an trú vô tướng tâm định. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô tướng tâm giải thoát. Như vậy là có pháp môn và do pháp môn này những pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt.
SC 70Và này Hiền giả, thế nào là có pháp môn và do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa đồng nhất nhưng danh sai biệt. Tham, này Hiền giả, là nguyên nhân của hạn lượng; sân là nguyên nhân của hạn lượng; si là nguyên nhân của hạn lượng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc và tham, sân, si này đã được chặt tận gốc như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô lượng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát không có tham, không có sân, không có si.
SC 71Tham, này Hiền giả, là một vật gì (chướng ngại), sân là một vật gì (chướng ngại), si là một vật gì (chướng ngại). Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này đã được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô sở hữu, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát ấy không có tham, không có sân, không có si.
SC 72Tham, này Hiền giả, là nhân tạo ra tướng, sân là nhân tạo ra tướng, si là nhân tạo ra tướng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô tướng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát này không có tham, không có sân, không có si. Như vậy, này Hiền giả, là pháp môn này, những pháp ấy là đồng nghĩa nhưng danh sai biệt.
SC 73Tôn giả Sāriputta thuyết giảng như vậy. Tôn giả Mahā Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Đại Phương Quảng
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
Then in the late afternoon, Venerable Mahākoṭṭhita came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
449. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Mahākoṭṭhika, vào buổi chiều, từ nơi độc cư thiền định đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Sāriputta chào hỏi thăm hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Mahākoṭṭhika nói với Tôn giả Sāriputta điều này:
“‘Duppañño duppañño’ti, āvuso, vuccati. Kittāvatā nu kho, āvuso, duppaññoti vuccatī”ti?
“Reverend, they speak of ‘a witless person’. How is a witless person defined?”
‘Người liệt tuệ, người liệt tuệ,’ thưa hiền giả, được gọi như vậy. Thưa hiền giả, do mức độ nào mà được gọi là ‘người liệt tuệ’?
“‘Nappajānāti nappajānātī’ti kho, āvuso, tasmā duppaññoti vuccati.
“Reverend, they’re called witless because they don’t understand.
‘Không tuệ tri, không tuệ tri,’ thưa hiền giả, vì vậy được gọi là ‘người liệt tuệ’.
Và không tuệ tri điều gì? Không tuệ tri ‘Đây là khổ,’ không tuệ tri ‘Đây là khổ tập,’ không tuệ tri ‘Đây là khổ diệt,’ không tuệ tri ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ ‘Không tuệ tri, không tuệ tri,’ thưa hiền giả, vì vậy được gọi là ‘người liệt tuệ’.
“Sādhāvuso”ti kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
Saying “Good, reverend,” Mahākoṭṭhita approved and agreed with what Sāriputta said. Then he asked another question:
‘Lành thay, thưa hiền giả,’ Tôn giả Mahākoṭṭhika, sau khi hoan hỷ, tán thán lời nói của Tôn giả Sāriputta, đã hỏi Tôn giả Sāriputta một câu hỏi khác nữa:
“‘Paññavā paññavā’ti, āvuso, vuccati. Kittāvatā nu kho, āvuso, paññavāti vuccatī”ti?
“They speak of ‘a wise person’. How is a wise person defined?”
‘Người có trí tuệ, người có trí tuệ,’ thưa hiền giả, được gọi như vậy. Thưa hiền giả, do mức độ nào mà được gọi là ‘người có trí tuệ’?
“‘Pajānāti pajānātī’ti kho, āvuso, tasmā paññavāti vuccati.
“They’re called wise because they understand.
‘Tuệ tri, tuệ tri,’ thưa hiền giả, vì vậy được gọi là ‘người có trí tuệ’.
Và tuệ tri điều gì? Tuệ tri ‘Đây là khổ,’ tuệ tri ‘Đây là khổ tập,’ tuệ tri ‘Đây là khổ diệt,’ tuệ tri ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ ‘Tuệ tri, tuệ tri,’ thưa hiền giả, vì vậy được gọi là ‘người có trí tuệ’.
“‘Viññāṇaṁ viññāṇan’ti, āvuso, vuccati. Kittāvatā nu kho, āvuso, viññāṇanti vuccatī”ti?
“They speak of ‘consciousness’. How is consciousness defined?”
‘Thức, thức,’ thưa hiền giả, được gọi như vậy. Thưa hiền giả, do mức độ nào mà được gọi là ‘thức’?
“‘Vijānāti vijānātī’ti kho, āvuso, tasmā viññāṇanti vuccati.
“It’s called consciousness because it cognizes.
‘Liễu tri, liễu tri,’ thưa hiền giả, vì vậy được gọi là ‘thức’.
Và liễu tri điều gì? Liễu tri cả lạc, liễu tri cả khổ, liễu tri cả bất khổ bất lạc. ‘Liễu tri, liễu tri,’ thưa hiền giả, vì vậy được gọi là ‘thức’.
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—ime dhammā saṁsaṭṭhā udāhu visaṁsaṭṭhā?
“Wisdom and consciousness—are these things mixed or separate?
Thưa hiền giả, cái gọi là tuệ và cái gọi là thức – những pháp này là tương hợp hay không tương hợp? Và có thể nào, sau khi phân tách, phân tách những pháp này, tuyên bố sự khác biệt của chúng không? Thưa hiền giả, cái gọi là tuệ và cái gọi là thức – những pháp này là tương hợp, không phải không tương hợp. Và không thể nào, sau khi phân tách, phân tách những pháp này, tuyên bố sự khác biệt của chúng. Thưa hiền giả, cái gì được tuệ tri, cái đó được liễu tri; cái gì được liễu tri, cái đó được tuệ tri. Do đó, những pháp này là tương hợp, không phải không tương hợp. Và không thể nào, sau khi phân tách, phân tách những pháp này, tuyên bố sự khác biệt của chúng.
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā. Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetuṁ. Yaṁ hāvuso, pajānāti taṁ vijānāti, yaṁ vijānāti taṁ pajānāti. Tasmā ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā. Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti.
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—imesaṁ dhammānaṁ saṁsaṭṭhānaṁ no visaṁsaṭṭhānaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—imesaṁ dhammānaṁ saṁsaṭṭhānaṁ no visaṁsaṭṭhānaṁ paññā bhāvetabbā, viññāṇaṁ pariññeyyaṁ.
“Wisdom and consciousness—these things are mixed, not separate. And you can never completely disentangle them so as to describe the difference between them. For you understand what you cognize, and you cognize what you understand. That’s why these things are mixed, not separate. And you can never completely disentangle them so as to describe the difference between them.”
“Wisdom and consciousness—what is the difference between these things that are mixed, not separate?”
“The difference between these things is that wisdom should be developed, while consciousness should be completely understood.”
“Thưa hiền giả, thọ nào, tưởng nào, và thức nào, những pháp này là tương hợp hay không tương hợp? Và có thể nào, sau khi phân tách, phân tách các pháp này, để trình bày sự khác biệt của chúng không?” “Thưa hiền giả, thọ nào, tưởng nào, và thức nào, những pháp này là tương hợp, không phải không tương hợp. Và không thể nào, sau khi phân tách, phân tách các pháp này, để trình bày sự khác biệt của chúng. Này hiền giả, cái gì được cảm thọ, cái đó được tưởng tri; cái gì được tưởng tri, cái đó được thức biết. Do đó, những pháp này là tương hợp, không phải không tương hợp. Và không thể nào, sau khi phân tách, phân tách các pháp này, để trình bày sự khác biệt của chúng.”
“‘Vedanā vedanā’ti, āvuso, vuccati. Kittāvatā nu kho, āvuso, vedanāti vuccatī”ti?
“‘Vedeti vedetī’ti kho, āvuso, tasmā vedanāti vuccati. Kiñca vedeti?
“They speak of this thing called ‘feeling’. How is feeling defined?”
“It’s called feeling because it feels. And what does it feel?
Này hiền giả, đối với người đã chết, đã mệnh chung, thì thân hành đã được chấm dứt, đã được lắng dịu; khẩu hành đã được chấm dứt, đã được lắng dịu; tâm hành đã được chấm dứt, đã được lắng dịu; mạng căn đã cạn kiệt, hơi ấm đã tắt, các căn đã bị hủy hoại. Còn đối với vị tỳ khưu đã nhập Diệt Thọ Tưởng Định, thân hành của vị ấy cũng đã được chấm dứt, đã được lắng dịu; khẩu hành cũng đã được chấm dứt, đã được lắng dịu; tâm hành cũng đã được chấm dứt, đã được lắng dịu; nhưng mạng căn chưa cạn kiệt, hơi ấm chưa tắt, các căn vẫn trong sáng. Này hiền giả, giữa người đã chết, đã mệnh chung, và vị tỳ khưu đã nhập Diệt Thọ Tưởng Định – đây là sự khác biệt giữa họ.
Và cảm nhận điều gì? Cảm nhận cả lạc, cảm nhận cả khổ, cảm nhận cả bất khổ bất lạc. ‘Cảm nhận, cảm nhận,’ thưa hiền giả, vì vậy được gọi là ‘thọ’.
“‘Saññā saññā’ti, āvuso, vuccati. Kittāvatā nu kho, āvuso, saññāti vuccatī”ti?
“They speak of this thing called ‘perception’. How is perception defined?”
‘Tưởng, tưởng,’ thưa hiền giả, được gọi như vậy. Thưa hiền giả, do mức độ nào mà được gọi là ‘tưởng’?
“‘Sañjānāti sañjānātī’ti kho, āvuso, tasmā saññāti vuccati.
“It’s called perception because it perceives.
‘Tưởng tri, tưởng tri,’ thưa hiền giả, vì vậy được gọi là ‘tưởng’.
“Yā cāvuso, vedanā yā ca saññā yañca viññāṇaṁ—ime dhammā saṁsaṭṭhā udāhu visaṁsaṭṭhā? Labbhā ca panimesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti?
“Yā cāvuso, vedanā yā ca saññā yañca viññāṇaṁ—ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā. Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetuṁ. Yaṁ hāvuso, vedeti taṁ sañjānāti, yaṁ sañjānāti taṁ vijānāti. Tasmā ime dhammā saṁsaṭṭhā no visaṁsaṭṭhā. Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti.
“Feeling, perception, and consciousness—are these things mixed or separate? And can we completely disentangle them so as to describe the difference between them?”
“Feeling, perception, and consciousness—these things are mixed, not separate. And you can never completely disentangle them so as to describe the difference between them. For you perceive what you feel, and you cognize what you perceive. That’s why these things are mixed, not separate. And you can never completely disentangle them so as to describe the difference between them.”
Và tưởng tri điều gì? Tưởng tri cả màu xanh, tưởng tri cả màu vàng, tưởng tri cả màu đỏ, tưởng tri cả màu trắng. ‘Tưởng tri, tưởng tri,’ thưa hiền giả, vì vậy được gọi là ‘tưởng’.
“Nissaṭṭhena hāvuso, pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena kiṁ neyyan”ti?
“What can be known by purified mind consciousness released from the five senses?”
451. “Thưa hiền giả, với ý thức thanh tịnh, đã thoát khỏi năm căn, điều gì nên được biết?”
“Nissaṭṭhena, āvuso, pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ neyyaṁ, ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ neyyaṁ, ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ neyyan”ti.
“Aware that ‘space is infinite’ it can know the dimension of infinite space. Aware that ‘consciousness is infinite’ it can know the dimension of infinite consciousness. Aware that ‘there is nothing at all’ it can know the dimension of nothingness.”
“Thưa hiền giả, với ý thức thanh tịnh, đã thoát khỏi năm căn, Không Vô Biên Xứ nên được biết với ý niệm ‘hư không là vô biên’, Thức Vô Biên Xứ nên được biết với ý niệm ‘thức là vô biên’, Vô Sở Hữu Xứ nên được biết với ý niệm ‘không có gì cả’.”
“Neyyaṁ panāvuso, dhammaṁ kena pajānātī”ti?
“How do you understand something that can be known?”
“Thưa hiền giả, pháp nên được biết thì được biết một cách phân biệt bằng gì?”
“Neyyaṁ kho, āvuso, dhammaṁ paññācakkhunā pajānātī”ti.
“You understand something that can be known with the eye of wisdom.”
“Thưa hiền giả, pháp nên được biết thì được biết một cách phân biệt bằng tuệ nhãn.”
“Paññā panāvuso, kimatthiyā”ti?
“What is the goal of wisdom?”
“Thưa hiền giả, vậy trí tuệ có mục đích gì?”
“Paññā kho, āvuso, abhiññatthā pariññatthā pahānatthā”ti.
“The goal of wisdom is direct knowledge, complete understanding, and giving up.”
“Thưa hiền giả, trí tuệ có mục đích là để thắng tri, liễu tri, và đoạn tận.”
“Kati panāvuso, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti?
“How many conditions are there for the arising of right view?”
452. “Thưa hiền giả, có bao nhiêu duyên cho sự sanh khởi của chánh kiến?”
“Dve kho, āvuso, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāya—parato ca ghoso, yoniso ca manasikāro. Ime kho, āvuso, dve paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
“There are two conditions for the arising of right view: the voice of another and rational application of mind. These are the two conditions for the arising of right view.”
“Thưa hiền giả, có hai duyên cho sự sanh khởi của chánh kiến: tiếng nói từ người khác và như lý tác ý. Thưa hiền giả, đây là hai duyên cho sự sanh khởi của chánh kiến.”
“Katihi panāvuso, aṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā cā”ti?
“When right view is supported by how many factors does it have freedom of heart and freedom by wisdom as its fruit and benefit?”
“Thưa hiền giả, chánh kiến được hỗ trợ bởi bao nhiêu chi phần thì có quả là tâm giải thoát và có quả lợi ích là tâm giải thoát, có quả là tuệ giải thoát và có quả lợi ích là tuệ giải thoát?”
“Pañcahi kho, āvuso, aṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā ca. Idhāvuso, sammādiṭṭhi sīlānuggahitā ca hoti, sutānuggahitā ca hoti, sākacchānuggahitā ca hoti, samathānuggahitā ca hoti, vipassanānuggahitā ca hoti. Imehi kho, āvuso, pañcahaṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā cā”ti.
“When right view is supported by five factors it has freedom of heart and freedom by wisdom as its fruit and benefit. It’s when right view is supported by ethics, learning, discussion, serenity, and discernment. When right view is supported by these five factors it has freedom of heart and freedom by wisdom as its fruit and benefit.”
“Thưa hiền giả, chánh kiến được hỗ trợ bởi năm chi phần thì có quả là tâm giải thoát và có quả lợi ích là tâm giải thoát, có quả là tuệ giải thoát và có quả lợi ích là tuệ giải thoát. Này hiền giả, ở đây, chánh kiến được giới hỗ trợ, được văn (nghe pháp) hỗ trợ, được thảo luận hỗ trợ, được chỉ hỗ trợ, và được quán hỗ trợ. Thưa hiền giả, chánh kiến được hỗ trợ bởi năm chi phần này thì có quả là tâm giải thoát và có quả lợi ích là tâm giải thoát, có quả là tuệ giải thoát và có quả lợi ích là tuệ giải thoát.”
“Kati panāvuso, bhavā”ti?
“How many states of existence are there?”
453. “Thưa hiền giả, có bao nhiêu cõi hữu?”
“Tayome, āvuso, bhavā—kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo”ti.
“Reverend, there are these three states of existence. Existence in the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm.”
“Thưa hiền giả, có ba cõi hữu này: dục hữu, sắc hữu, và vô sắc hữu.”
“Kathaṁ panāvuso, āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hotī”ti?
“But how is there regeneration into a new state of existence in the future?”
“Thưa hiền giả, làm thế nào mà trong tương lai lại có sự tái sanh?”
“Avijjānīvaraṇānaṁ kho, āvuso, sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ tatratatrābhinandanā—evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hotī”ti.
“It’s because of sentient beings—shrouded by ignorance and fettered by craving—taking pleasure wherever they land. That’s how there is regeneration into a new state of existence in the future.”
“Thưa hiền giả, đối với các chúng sanh bị vô minh triền cái, bị ái kiết sử trói buộc, do sự hoan hỷ nơi này nơi kia, như vậy trong tương lai có sự tái sanh.”
“Kathaṁ panāvuso, āyatiṁ punabbhavābhinibbatti na hotī”ti?
“But how is there no regeneration into a new state of existence in the future?”
“Thưa hiền giả, làm thế nào mà trong tương lai không có sự tái sanh?”
“Avijjāvirāgā kho, āvuso, vijjuppādā taṇhānirodhā—evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti na hotī”ti.
“It’s when ignorance fades away, knowledge arises, and craving ceases. That’s how there is no regeneration into a new state of existence in the future.”
“Thưa hiền giả, do sự ly tham vô minh, do minh sanh khởi, do ái diệt, như vậy trong tương lai không có sự tái sanh.”
“Katamaṁ panāvuso, paṭhamaṁ jhānan”ti?
“But what, reverend, is the first absorption?”
454. “Thưa hiền giả, thế nào là sơ thiền?”
“Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati—idaṁ vuccati, āvuso, paṭhamaṁ jhānan”ti.
“Reverend, it’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is called the first absorption.”
“Thưa hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Thưa hiền giả, đây được gọi là sơ thiền.”
“Paṭhamaṁ panāvuso, jhānaṁ katiaṅgikan”ti?
“But how many factors does the first absorption have?”
“Thưa hiền giả, sơ thiền có bao nhiêu chi?”
“Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ pañcaṅgikaṁ. Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa bhikkhuno vitakko ca vattati, vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca. Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ evaṁ pañcaṅgikan”ti.
“The first absorption has five factors. When a mendicant has entered the first absorption, placing the mind, keeping it connected, rapture, bliss, and unification of mind are present. That’s how the first absorption has five factors.”
“Thưa hiền giả, sơ thiền có năm chi. Này hiền giả, ở đây, đối với vị tỳ khưu đã nhập sơ thiền, có tầm khởi lên, có tứ, có hỷ, có lạc, và có nhất tâm. Thưa hiền giả, như vậy sơ thiền có năm chi.”
“Paṭhamaṁ panāvuso, jhānaṁ kataṅgavippahīnaṁ kataṅgasamannāgatan”ti?
“But how many factors has the first absorption given up and how many does it possess?”
“Thưa hiền giả, sơ thiền đã từ bỏ bao nhiêu chi và thành tựu bao nhiêu chi?”
“Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ pañcaṅgavippahīnaṁ, pañcaṅgasamannāgataṁ. Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti; vitakko ca vattati, vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca. Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ evaṁ pañcaṅgavippahīnaṁ pañcaṅgasamannāgatan”ti.
“The first absorption has given up five factors and possesses five factors. When a mendicant has entered the first absorption, sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt are given up. Placing the mind, keeping it connected, rapture, bliss, and unification of mind are present. That’s how the first absorption has given up five factors and possesses five factors.”
“Thưa hiền giả, sơ thiền đã từ bỏ năm chi và thành tựu năm chi. Này hiền giả, ở đây, đối với vị tỳ khưu đã nhập sơ thiền, tham dục đã được từ bỏ, sân hận đã được từ bỏ, hôn trầm thụy miên đã được từ bỏ, trạo cử hối quá đã được từ bỏ, hoài nghi đã được từ bỏ; và có tầm khởi lên, có tứ, có hỷ, có lạc, và có nhất tâm. Thưa hiền giả, như vậy sơ thiền đã từ bỏ năm chi và thành tựu năm chi.”
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti, seyyathidaṁ—cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ. Imesaṁ kho, āvuso, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ, kiṁ paṭisaraṇaṁ, ko ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti?
“Reverend, these five faculties have different domains and different ranges, and don’t experience each other’s domain and range. That is, the faculties of the eye, ear, nose, tongue, and body. What do these five faculties, with their different domains and ranges, have recourse to? What experiences their domains and ranges?”
455. “Thưa hiền giả, năm căn này có đối tượng khác nhau, có hành xứ khác nhau, không trải nghiệm đối tượng hành xứ của nhau, đó là: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Thưa hiền giả, đối với năm căn này có đối tượng khác nhau, có hành xứ khác nhau, không trải nghiệm đối tượng hành xứ của nhau, cái gì là nơi nương tựa? Và cái gì trải nghiệm đối tượng hành xứ của chúng?”
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti, seyyathidaṁ—cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ. Imesaṁ kho, āvuso, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ, mano paṭisaraṇaṁ, mano ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti.
“These five faculties, with their different domains and ranges, have recourse to the mind. And the mind experiences their domains and ranges.”
“Thưa hiền giả, năm căn này có đối tượng khác nhau, có hành xứ khác nhau, không trải nghiệm đối tượng hành xứ của nhau, đó là: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Thưa hiền giả, đối với năm căn này có đối tượng khác nhau, có hành xứ khác nhau, không trải nghiệm đối tượng hành xứ của nhau, ý là nơi nương tựa, và ý trải nghiệm đối tượng hành xứ của chúng.”
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni, seyyathidaṁ—cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ. Imāni kho, āvuso, pañcindriyāni kiṁ paṭicca tiṭṭhantī”ti?
“These five faculties depend on what to continue?”
456. Này hiền giả, có năm căn này, tức là: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Này hiền giả, năm căn này tồn tại y cứ vào cái gì vậy?
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni, seyyathidaṁ—cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ. Imāni kho, āvuso, pañcindriyāni āyuṁ paṭicca tiṭṭhantī”ti.
“These five faculties depend on vitality to continue.”
Này hiền giả, có năm căn này, tức là: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Này hiền giả, năm căn này tồn tại y cứ vào mạng căn.
“Āyu panāvuso, kiṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti?
“But what does vitality depend on to continue?”
Này hiền giả, còn mạng căn thì tồn tại y cứ vào cái gì vậy?
“Āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Vitality depends on warmth to continue.”
Mạng căn tồn tại y cứ vào hơi ấm.
“Usmā panāvuso, kiṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti?
“But what does warmth depend on to continue?”
Này hiền giả, còn hơi ấm thì tồn tại y cứ vào cái gì vậy?
“Usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Warmth depends on vitality to continue.”
Hơi ấm tồn tại y cứ vào mạng căn.
“Idāneva kho mayaṁ, āvuso, āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma: ‘āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhatī’ti. Idāneva pana mayaṁ, āvuso, āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma: ‘usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī’ti.
“Just now I understood you to say: ‘Vitality depends on warmth to continue.’ But I also understood you to say: ‘Warmth depends on vitality to continue.’
Này hiền giả, vừa rồi chúng tôi đã hiểu lời nói của Tôn giả Sāriputta như vầy: ‘Mạng căn tồn tại y cứ vào hơi ấm.’ Và cũng vừa rồi, này hiền giả, chúng tôi đã hiểu lời nói của Tôn giả Sāriputta như vầy: ‘Hơi ấm tồn tại y cứ vào mạng căn.’
Này hiền giả, vậy ý nghĩa của lời nói này cần được hiểu như thế nào vậy?
“Tena hāvuso, upamaṁ te karissāmi; upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti. Seyyathāpi, āvuso, telappadīpassa jhāyato acciṁ paṭicca ābhā paññāyati, ābhaṁ paṭicca acci paññāyati; evameva kho, āvuso, āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhati, usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Well then, reverend, I shall give you a simile. For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said. Suppose there was an oil lamp burning. The luminosity appears dependent on the flame, and the flame appears dependent on the luminosity. In the same way, vitality depends on warmth to continue, and warmth depends on vitality to continue.”
Này hiền giả, vậy thì tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho hiền giả; vì ở đời này, có một số người có trí nhờ ví dụ mà hiểu được ý nghĩa của lời nói. Này hiền giả, ví như khi một ngọn đèn dầu đang cháy, do y cứ vào ngọn lửa mà ánh sáng hiện rõ, do y cứ vào ánh sáng mà ngọn lửa hiện rõ; cũng vậy, này hiền giả, thọ mạng y cứ vào hơi ấm mà tồn tại, và hơi ấm y cứ vào thọ mạng mà tồn tại.
“Teva nu kho, āvuso, āyusaṅkhārā, te vedaniyā dhammā udāhu aññe āyusaṅkhārā aññe vedaniyā dhammā”ti?
“Na kho, āvuso, teva āyusaṅkhārā te vedaniyā dhammā. Te ca hāvuso, āyusaṅkhārā abhaviṁsu te vedaniyā dhammā, na yidaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa bhikkhuno vuṭṭhānaṁ paññāyetha. Yasmā ca kho, āvuso, aññe āyusaṅkhārā aññe vedaniyā dhammā, tasmā saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa bhikkhuno vuṭṭhānaṁ paññāyatī”ti.
“Are the vital forces and the phenomena that are felt one and the same? Or are the vital forces one thing, and the phenomena that are felt another?”
“The vital forces are not the same things as the phenomena that are felt. For if the vital forces and the phenomena that are felt were the same things, a mendicant who had attained the cessation of perception and feeling would not emerge from it. But because the vital forces and the phenomena that are felt are different things, a mendicant who has attained the cessation of perception and feeling can emerge from it.”
457. Này hiền giả, các hành thuộc về mạng sống và các pháp thuộc về cảm thọ là một, hay các hành thuộc về mạng sống là khác, các pháp thuộc về cảm thọ là khác? Này hiền giả, các hành thuộc về mạng sống và các pháp thuộc về cảm thọ không phải là một. Này hiền giả, nếu các hành thuộc về mạng sống và các pháp thuộc về cảm thọ là một, thì sự xuất khỏi thiền định của vị tỳ khưu đã nhập Diệt Thọ Tưởng Định sẽ không được biết đến. Và này hiền giả, vì các hành thuộc về mạng sống là khác, các pháp thuộc về cảm thọ là khác, nên sự xuất khỏi thiền định của vị tỳ khưu đã nhập Diệt Thọ Tưởng Định mới được biết đến.
“Yadā nu kho, āvuso, imaṁ kāyaṁ kati dhammā jahanti; athāyaṁ kāyo ujjhito avakkhitto seti, yathā kaṭṭhaṁ acetanan”ti?
“How many things must this body lose before it lies abandoned, tossed aside like an insentient log?”
Này hiền giả, khi có bao nhiêu pháp từ bỏ thân này, thì thân này nằm đó, bị vứt bỏ, bị quăng đi, như một khúc gỗ vô tri vậy?
“Yadā kho, āvuso, imaṁ kāyaṁ tayo dhammā jahanti—āyu usmā ca viññāṇaṁ; athāyaṁ kāyo ujjhito avakkhitto seti, yathā kaṭṭhaṁ acetanan”ti.
“This body must lose three things before it lies abandoned, tossed aside like an insentient log: vitality, warmth, and consciousness.”
Này hiền giả, khi ba pháp từ bỏ thân này – tức là mạng căn, hơi ấm, và thức – thì thân này nằm đó, bị vứt bỏ, bị quăng đi, như một khúc gỗ vô tri.
“Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno—imesaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato tassa kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu parikkhīṇo, usmā vūpasantā, indriyāni paribhinnāni. Yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno tassapi kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu na parikkhīṇo, usmā avūpasantā, indriyāni vippasannāni. Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno—idaṁ nesaṁ nānākaraṇan”ti.
“What’s the difference between someone who has passed away and a mendicant who has attained the cessation of perception and feeling?”
“When someone dies, their physical, verbal, and mental processes have ceased and stilled; their vitality is spent; their warmth is dissipated; and their faculties have disintegrated. When a mendicant has attained the cessation of perception and feeling, their physical, verbal, and mental processes have ceased and stilled. But their vitality is not spent; their warmth is not dissipated; and their faculties are very clear. That’s the difference between someone who has passed away and a mendicant who has attained the cessation of perception and feeling.”
Này hiền giả, giữa người đã chết, đã mệnh chung, và vị tỳ khưu đã nhập Diệt Thọ Tưởng Định – có sự khác biệt gì giữa họ vậy?
“Kati panāvuso, paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti?
“How many conditions are necessary to attain the neutral release of the heart?”
458. Này hiền giả, có bao nhiêu duyên để nhập tâm giải thoát không khổ không lạc vậy?
“Cattāro kho, āvuso, paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā. Idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ime kho, āvuso, cattāro paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti.
“Four conditions are necessary to attain the neutral release of the heart. With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. These four conditions are necessary to attain the neutral release of the heart.”
Này hiền giả, có bốn duyên để nhập tâm giải thoát không khổ không lạc. Ở đây, này hiền giả, vị tỳ khưu do từ bỏ lạc, từ bỏ khổ, và do sự diệt mất của hỷ và ưu từ trước, nên đã chứng và trú vào thiền thứ tư, là trạng thái không khổ không lạc, có niệm thanh tịnh nhờ xả. Này hiền giả, đây là bốn duyên để nhập tâm giải thoát không khổ không lạc.
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti?
“How many conditions are necessary to attain the signless release of the heart?”
Này hiền giả, có bao nhiêu duyên để nhập vô tướng tâm giải thoát vậy?
“Dve kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā—sabbanimittānañca amanasikāro, animittāya ca dhātuyā manasikāro. Ime kho, āvuso, dve paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti.
“Two conditions are necessary to attain the signless release of the heart: not focusing on any signs, and focusing on the signless. These two conditions are necessary to attain the signless release of the heart.”
Này hiền giả, có hai duyên để nhập vô tướng tâm giải thoát: sự không tác ý đến tất cả các tướng, và sự tác ý đến vô tướng giới. Này hiền giả, đây là hai duyên để nhập vô tướng tâm giải thoát.
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā”ti?
“How many conditions are necessary to remain in the signless release of the heart?”
Này hiền giả, có bao nhiêu duyên để duy trì vô tướng tâm giải thoát vậy?
“Tayo kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā—sabbanimittānañca amanasikāro, animittāya ca dhātuyā manasikāro, pubbe ca abhisaṅkhāro. Ime kho, āvuso, tayo paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā”ti.
“Three conditions are necessary to remain in the signless release of the heart: not focusing on any signs, focusing on the signless, and a previous determination. These three conditions are necessary to remain in the signless release of the heart.”
Này hiền giả, có ba duyên để duy trì vô tướng tâm giải thoát: sự không tác ý đến tất cả các tướng, sự tác ý đến vô tướng giới, và sự chuẩn bị từ trước. Này hiền giả, đây là ba duyên để duy trì vô tướng tâm giải thoát.
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāyā”ti?
“How many conditions are necessary to emerge from the signless release of the heart?”
Này hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khỏi vô tướng tâm giải thoát vậy?
“Dve kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāya—sabbanimittānañca manasikāro, animittāya ca dhātuyā amanasikāro. Ime kho, āvuso, dve paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāyā”ti.
“Two conditions are necessary to emerge from the signless release of the heart: focusing on all signs, and not focusing on the signless. These two conditions are necessary to emerge from the signless release of the heart.”
Này hiền giả, có hai duyên để xuất khỏi vô tướng tâm giải thoát: sự tác ý đến tất cả các tướng, và sự không tác ý đến vô tướng giới. Này hiền giả, đây là hai duyên để xuất khỏi vô tướng tâm giải thoát.
“Yā cāyaṁ, āvuso, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti—ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
“Yā cāyaṁ, āvuso, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti—atthi kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca;
“The limitless release of the heart, and the release of the heart through nothingness, and the release of the heart through emptiness, and the signless release of the heart: do these things differ in both meaning and phrasing? Or do they mean the same thing, and differ only in the phrasing?”
“There is a way in which these things differ in both meaning and phrasing.
459. Này hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát, và vô tướng tâm giải thoát – những pháp này có ý nghĩa khác nhau và văn tự khác nhau, hay chúng có cùng một ý nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự vậy?
“Này hiền giả, Vô lượng tâm giải thoát này, Vô sở hữu xứ tâm giải thoát, Không tâm giải thoát, và Vô tướng tâm giải thoát – này hiền giả, có trường hợp mà do đó các pháp này có nghĩa khác nhau và văn cú cũng khác nhau; và này hiền giả, cũng có trường hợp mà do đó các pháp này có cùng một nghĩa, chỉ có văn cú là khác nhau.”
Katamo cāvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca?
And what’s the way in which these things differ in both meaning and phrasing?
“Thưa hiền giả, trường hợp nào mà do đó các pháp này có nghĩa khác nhau và văn cú cũng khác nhau?”
Idhāvuso, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. Karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā … upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. Ayaṁ vuccatāvuso, appamāṇā cetovimutti.
Firstly, a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They meditate spreading a heart full of compassion … They meditate spreading a heart full of rejoicing … They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. This is called the limitless release of the heart.
“Này hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, vị ấy an trú biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Này hiền giả, đây được gọi là Vô lượng tâm giải thoát.”
Katamā cāvuso, ākiñcaññā cetovimutti?
And what is the release of the heart through nothingness?
“Thưa hiền giả, thế nào là Vô sở hữu xứ tâm giải thoát?”
“Này hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Này hiền giả, đây được gọi là Vô sở hữu xứ tâm giải thoát.”
Katamā cāvuso, suññatā cetovimutti?
And what is the release of the heart through emptiness?
“Thưa hiền giả, thế nào là Không tâm giải thoát?”
“Này hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc gốc cây, hoặc ngôi nhà trống, suy xét như sau: ‘Cái này trống không ngã hay ngã sở’. Này hiền giả, đây được gọi là Không tâm giải thoát.”
Katamā cāvuso, animittā cetovimutti?
And what is the signless release of the heart?
“Thưa hiền giả, thế nào là Vô tướng tâm giải thoát?”
Ayaṁ kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca.
This is the way in which these things differ in both meaning and phrasing.
“Này hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu do không tác ý đến tất cả các tướng, chứng đạt và an trú Vô tướng tâm định. Này hiền giả, đây được gọi là Vô tướng tâm giải thoát. Này hiền giả, đây chính là trường hợp mà do đó các pháp này có nghĩa khác nhau và văn cú cũng khác nhau.”
Katamo cāvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānaṁ?
And what’s the way in which they mean the same thing, and differ only in the phrasing?
“Thưa hiền giả, trường hợp nào mà do đó các pháp này có cùng một nghĩa, chỉ có văn cú là khác nhau?”
Rāgo kho, āvuso, pamāṇakaraṇo, doso pamāṇakaraṇo, moho pamāṇakaraṇo. Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Yāvatā kho, āvuso, appamāṇā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati. Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, āvuso, kiñcano, doso kiñcano, moho kiñcano. Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Yāvatā kho, āvuso, ākiñcaññā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati. Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, āvuso, nimittakaraṇo, doso nimittakaraṇo, moho nimittakaraṇo. Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Yāvatā kho, āvuso, animittā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati. Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Ayaṁ kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti.
Greed, hate, and delusion are makers of limits. A mendicant who has ended the defilements has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future. The unshakable release of the heart is said to be the best kind of limitless release of the heart. That unshakable release of the heart is empty of greed, hate, and delusion.
Greed is something, hate is something, and delusion is something. A mendicant who has ended the defilements has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future. The unshakable release of the heart is said to be the best kind of release of the heart through nothingness. That unshakable release of the heart is empty of greed, hate, and delusion.
Greed, hate, and delusion are makers of signs. A mendicant who has ended the defilements has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future. The unshakable release of the heart is said to be the best kind of signless release of the heart. That unshakable release of the heart is empty of greed, hate, and delusion.
This is the way in which they mean the same thing, and differ only in the phrasing.”
“Này hiền giả, tham là cái làm cho có giới hạn, sân là cái làm cho có giới hạn, si là cái làm cho có giới hạn. Những pháp ấy đã được vị tỳ khưu lậu tận đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các Vô lượng tâm giải thoát, Bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Và Bất động tâm giải thoát ấy thì trống không tham, trống không sân, trống không si. Này hiền giả, tham là chướng ngại, sân là chướng ngại, si là chướng ngại. Những pháp ấy đã được vị tỳ khưu lậu tận đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các Vô sở hữu xứ tâm giải thoát, Bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Và Bất động tâm giải thoát ấy thì trống không tham, trống không sân, trống không si. Này hiền giả, tham là cái tạo ra tướng, sân là cái tạo ra tướng, si là cái tạo ra tướng. Những pháp ấy đã được vị tỳ khưu lậu tận đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các Vô tướng tâm giải thoát, Bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Và Bất động tâm giải thoát ấy thì trống không tham, trống không sân, trống không si. Này hiền giả, đây chính là trường hợp mà do đó các pháp này có cùng một nghĩa, chỉ có văn cú là khác nhau.”
Idamavocāyasmā sāriputto. Attamano āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what Venerable Sāriputta said. Satisfied, Venerable Mahākoṭṭhita approved what Sāriputta said.
Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Tôn giả Mahākoṭṭhika hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Tôn giả Sāriputta.
Mahāvedallasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Đại Phương Quảng, phẩm thứ ba, chấm dứt.