- Majjhima Nikāya 40
Cūḷaassapurasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷaassapurasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
—Này các Tỷ-kheo.
—Bạch Thế Tôn.
SC 2Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 3—Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông có được hỏi: “Các Ông là ai!” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Những pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, chúng ta sẽ tu tập pháp môn ấy. Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chính và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những thứ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.
SC 4Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục không được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận không được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ không được đoạn diệt, có tâm thù hận và lòng thù hận không được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối không được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại không được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố không được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn không được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá không được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá không được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục không được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến không được đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì không thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, sự đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.
SC 5Này các Tỷ-kheo, ví như một loại võ khí nguy hiểm tên mataja có hai lưỡi rất sắc bén, có thể được bao lại và bỏ vào trong một cái bao. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói sự xuất gia của Tỷ-kheo ấy là như vậy.
SC 6Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị mang đại y (Sanghati) chỉ tùy thuộc vào mang đại y. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị lõa thể chỉ tùy thuộc vào lõa thể. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống thoa bụi và đất chỉ tùy thuộc vào hạnh thoa bụi và đất. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống theo lễ nghi tắm rửa chỉ tùy thuộc vào lễ nghi tắm rửa. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống dưới gốc cây chỉ tùy thuộc vào hạnh sống dưới gốc cây. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống ngoài trời chỉ tùy thuộc vào hạnh sống ngoài trời. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người theo hạnh đứng thẳng chỉ tùy thuộc vào hạnh đứng thẳng. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị ăn uống có định kỳ chỉ tùy thuộc vào hạnh ăn uống có định kỳ. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người sống theo chú thuật chỉ tùy thuộc vào hạnh sống theo chú thuật. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của vị bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc.
SC 7Này các Tỷ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ vào hạnh mang đại y của người mang đại y, nếu lòng sân của người có tâm sân được đoạn diệt, nếu lòng phẫn nộ của người có tâm phẫn nộ được đoạn diệt, nếu lòng hiềm hận của người có tâm hiềm hận được đoạn diệt, nếu lòng giả dối của người có tâm giả dối được đoạn diệt, nếu lòng não hại của người có tâm não hại được đoạn diệt, nếu lòng tật đố của người có tâm tật đố được đoạn diệt, nếu lòng xan lẩn của người có tâm xan lẩn được đoạn diệt, nếu lòng man trá của người có tâm man trá được đoạn diệt, nếu lòng xảo trá của người có tâm xảo trá được đoạn diệt, nếu lòng ái dục của người có tâm ái dục được đoạn diệt, nếu tà kiến của người có tà kiến được đoạn diệt, (chỉ nhờ hạnh mang đại y của người mang đại y), thì những thân hữu quyến thuộc, bà con cùng một huyết thống có thể khiến người đó mang đại y ngay khi người đó mới sanh, và khuyên người đó mặc đại y như sau: “Này hiền nhi, hãy mang đại y, nếu mang đại y thì lòng tham dục của người có tâm tham dục sẽ được đoạn diệt, lòng sân của người có tâm sân sẽ được đoạn diệt, lòng giả dối của người có tâm giả dối sẽ được đoạn diệt, lòng não hại của người có tâm não hại sẽ được đoạn diệt, lòng tật đố của người có tâm tật đố sẽ được đoạn diệt, lòng xan lẩn của người có tâm xan lẩn sẽ được đoạn diệt, lòng man trá của người có tâm man trá sẽ được đoạn diệt, lòng xảo trá của người có tâm xảo trá sẽ được đoạn diệt, lòng ái dục của người có tâm ái dục sẽ được đoạn diệt, tà kiến của người có tà kiến sẽ được đoạn diệt chỉ nhờ mang đại y. “Này các Tỷ-kheo, bởi vì Ta thấy có người mang đại y nhưng vẫn có tâm tham dục, có tâm sân hận, có tâm phẫn nộ, có tâm giả dối, có tâm não hại, có tâm tật đố, có tâm xan lẩn, có tâm man trá, có tâm xảo trá, có tâm ái dục, có tâm tà kiến, nên Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người có tham dục chỉ tùy thuộc vào hạnh mang đại y của vị ấy.
SC 8Này các Tỷ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ hạnh lõa thể của người lõa thể … chỉ nhờ hạnh thoa bụi và đất của người sống theo hạnh thoa bụi và đất … chỉ nhờ hạnh lễ nghi tắm rửa của người sống theo hạnh lễ nghi tắm rửa … chỉ nhờ hạnh sống dưới gốc cây của người sống dưới gốc cây … chỉ nhờ hạnh sống ngoài trời của người sống ngoài trời … chỉ nhờ hạnh sống đứng thẳng của người sống đứng thẳng … chỉ nhờ hạnh ăn uống có định kỳ của người sống ăn uống có định kỳ … chỉ nhờ hạnh sống theo chú thuật của người sống theo chú thuật … Này các Tỷ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục đoạn diệt chỉ nhờ hạnh bện tóc của người sống theo hạnh bện tóc; nếu lòng sân hận của người có tâm sân hận … (như trên)…, nếu tà kiến của người có tà kiến được đoạn diệt (chỉ nhờ hạnh của người sống theo hạnh bện tóc), thì những thân hữu quyến thuộc, bà con cùng một huyết thống có thể khiến người đó bện tóc; ngay khi người đó mới sinh, và khuyên người đó bện tóc như sau: “Này hiền nhi, hãy bện tóc; nếu bện tóc thì lòng tham dục của người có tâm tham dục sẽ được đoạn diệt, lòng sân hận của người có tâm sân hận … tà kiến của người có tà kiến sẽ được đoạn diệt, chỉ nhớ sống theo hạnh bện tóc” ”. Này các Tỷ-kheo, bởi vì Ta thấy có người theo hạnh bện tóc nhưng vẫn có tâm tham dục, có tâm sân hận, có tâm phẫn nộ, có tâm giả dối, có tâm não hại, có tâm tật đố, có tâm xan lẩn, có tâm man trá, có tâm xảo trá, có tâm ái dục, có tà kiến, nên Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người theo hạnh bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc của vị ấy.
SC 9Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ được đoạn diệt, có tâm hiềm hận và lòng hiềm hận được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến được đoạn diệt … Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì có thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.
SC 10Vị ấy thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp và vị ấy thấy tự ngã được giải thoát. Do thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp ấy, do thấy tự ngã được giải thoát nên hân hoan sanh; do tâm hân hoan nên hỷ sanh; do hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên lạc thọ sanh; do lạc thọ nên tâm được định tĩnh.
SC 11Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân.
SC 12Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại vô biên, không hận không sân.
SC 13Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với hỷ, quảng đại vô biên, không hận không sân.
SC 14Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 15Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ. Nếu có người từ phương Ðông đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước. Người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước và giải trừ nóng bức. Nếu có người từ phương Tây đi đến, nếu có người từ phương Bắc đi đến, nếu có người từ phương Nam đi đến, nếu có người từ bất cứ ở đâu đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước, người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước, giải trừ nóng bức. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có người từ gia đình Sát đế lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn. Nếu vị ấy từ gia đình Bà-la-môn … từ gia đình Phệ xá (Vessa) … từ gia đình Thủ đà (Sudda) xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn.
SC 16Nếu từ gia đình Sát đế lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu từ gia đình Bà-la-môn … từ gia đình Phệ xá … từ gia đình Thủ đà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc.
SC 17Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Tiểu Assapura
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Samaṇā samaṇāti vo, bhikkhave, jano sañjānāti. Tumhe ca pana ‘ke tumhe’ti puṭṭhā samānā ‘samaṇāmhā’ti paṭijānātha.
Tesaṁ vo, bhikkhave, evaṁsamaññānaṁ sataṁ evaṁpaṭiññānaṁ sataṁ: ‘yā samaṇasāmīcippaṭipadā taṁ paṭipajjissāma; evaṁ no ayaṁ amhākaṁ samaññā ca saccā bhavissati paṭiññā ca bhūtā; yesañca mayaṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ paribhuñjāma, tesaṁ te kārā amhesu mahapphalā bhavissanti mahānisaṁsā, amhākañcevāyaṁ pabbajjā avañjhā bhavissati saphalā saudrayā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, people label you as ascetics. And when they ask you what you are, you claim to be ascetics.
Given this label and this claim, you should train like this: ‘We will practice in the way that is proper for an ascetic. That way our label will be accurate and our claim correct. The services of those whose robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick we enjoy shall be very fruitful and beneficial for them. And our going forth will not be barren, but will be fruitful and fertile.’
435. Tôi nghe như vầy – một thời Đức Thế Tôn trú ở xứ Aṅga, tại một thị trấn của người Aṅga tên là Assapura. Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu’. ‘Bạch Thế Tôn’, các Tỳ khưu ấy vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này: ‘Này các Tỳ khưu, dân chúng biết các ông là ‘Sa-môn, Sa-môn’. Và khi được hỏi ‘Các vị là ai?’, các ông cũng tự nhận ‘Chúng tôi là Sa-môn’. Này các Tỳ khưu, đối với các ông, những người có danh xưng như vậy, có sự tự nhận như vậy, (cần phải học tập rằng): ‘Chúng ta sẽ thực hành con đường thực hành xứng đáng của Sa-môn; như vậy, danh xưng này của chúng ta sẽ trở thành chân thật và sự tự nhận sẽ trở thành đúng đắn; và những vật dụng y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mà chúng ta thọ dụng từ những người nào, những hành động của họ đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn; và sự xuất gia này của chúng ta sẽ không vô ích, sẽ có kết quả, có sự tăng trưởng’. Này các Tỳ khưu, các ông phải học tập như vậy.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na samaṇasāmīcippaṭipadaṁ paṭipanno hoti?
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno abhijjhālussa abhijjhā appahīnā hoti, byāpannacittassa byāpādo appahīno hoti, kodhanassa kodho appahīno hoti, upanāhissa upanāho appahīno hoti, makkhissa makkho appahīno hoti, paḷāsissa paḷāso appahīno hoti, issukissa issā appahīnā hoti, maccharissa macchariyaṁ appahīnaṁ hoti, saṭhassa sāṭheyyaṁ appahīnaṁ hoti, māyāvissa māyā appahīnā hoti, pāpicchassa pāpikā icchā appahīnā hoti, micchādiṭṭhikassa micchādiṭṭhi appahīnā hoti—imesaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, samaṇamalānaṁ samaṇadosānaṁ samaṇakasaṭānaṁ āpāyikānaṁ ṭhānānaṁ duggativedaniyānaṁ appahānā ‘na samaṇasāmīcippaṭipadaṁ paṭipanno’ti vadāmi. Seyyathāpi, bhikkhave, matajaṁ nāma āvudhajātaṁ ubhatodhāraṁ pītanisitaṁ. Tadassa saṅghāṭiyā sampārutaṁ sampaliveṭhitaṁ. Tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imassa bhikkhuno pabbajjaṁ vadāmi.
And how does a mendicant not practice in the way that is proper for an ascetic?
Any mendicant who has not given up covetousness, ill will, irritability, acrimony, disdain, contempt, jealousy, stinginess, deviousness, deceit, corrupt wishes, and wrong view is not practicing in the way that is proper for an ascetic, I say. And that is due to not giving up these stains, defects, and dregs of an ascetic, these grounds for rebirth in places of loss, to be experienced in bad places. I say that such a mendicant’s going forth may be compared to the kind of weapon called ‘deadborn’—double-edged, whetted with yellow arsenic—that has been covered and wrapped in an outer robe.
436. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu không thực hành con đường xứng đáng của Sa-môn? Này các Tỳ khưu, bất kỳ Tỳ khưu nào có nhiều tham ái mà tham ái chưa được đoạn trừ, có tâm sân hận mà sân hận chưa được đoạn trừ, hay phẫn nộ mà phẫn nộ chưa được đoạn trừ, hay oán hận mà oán hận chưa được đoạn trừ, hay gièm pha mà gièm pha chưa được đoạn trừ, hay cạnh tranh mà cạnh tranh chưa được đoạn trừ, hay tật đố mà tật đố chưa được đoạn trừ, hay keo kiệt mà keo kiệt chưa được đoạn trừ, hay xảo trá mà xảo trá chưa được đoạn trừ, hay lừa dối mà lừa dối chưa được đoạn trừ, có ác dục mà ác dục chưa được đoạn trừ, có tà kiến mà tà kiến chưa được đoạn trừ – Này các Tỳ khưu, do chưa đoạn trừ những cấu uế của Sa-môn, những lỗi lầm của Sa-môn, những cặn bã của Sa-môn này, là những trạng thái đưa đến đọa xứ, phải cảm thọ trong khổ cảnh, Ta nói rằng vị ấy ‘không thực hành con đường xứng đáng của Sa-môn’. Này các Tỳ khưu, ví như một loại vũ khí tên là mataja, có hai lưỡi, được mài sắc bén. Nó được bọc kỹ, quấn kỹ trong tấm y tăng-già-lê. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng sự xuất gia của vị Tỳ khưu này cũng tương tự như vậy.
Nāhaṁ, bhikkhave, saṅghāṭikassa saṅghāṭidhāraṇamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, acelakassa acelakamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, rajojallikassa rajojallikamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, udakorohakassa udakorohaṇamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, rukkhamūlikassa rukkhamūlikamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, abbhokāsikassa abbhokāsikamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, ubbhaṭṭhakassa ubbhaṭṭhakamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, pariyāyabhattikassa pariyāyabhattikamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, mantajjhāyakassa mantajjhāyakamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, jaṭilakassa jaṭādhāraṇamattena sāmaññaṁ vadāmi.
I say that you don’t deserve the label ‘outer robe wearer’ just because you wear an outer robe. You don’t deserve the label ‘naked ascetic’ just because you go naked. You don’t deserve the label ‘dust and dirt wearer’ just because you’re caked in dust and dirt. You don’t deserve the label ‘water immerser’ just because you immerse yourself in water. You don’t deserve the label ‘tree root dweller’ just because you stay at the root of a tree. You don’t deserve the label ‘open air dweller’ just because you stay in the open air. You don’t deserve the label ‘stander’ just because you continually stand. You don’t deserve the label ‘interval eater’ just because you eat food at set intervals. You don’t deserve the label ‘reciter’ just because you recite hymns. You don’t deserve the label ‘matted-hair ascetic’ just because you have matted hair.
437. “Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người mặc y tăng-già-lê chỉ đơn thuần do việc mặc y tăng-già-lê mà có được quả vị sa-môn. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người lõa thể chỉ đơn thuần do việc lõa thể mà có được quả vị sa-môn. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người lấm lem bụi bẩn chỉ đơn thuần do việc lấm lem bụi bẩn mà có được quả vị sa-môn. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người trầm mình dưới nước chỉ đơn thuần do việc trầm mình dưới nước mà có được quả vị sa-môn. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người sống dưới gốc cây chỉ đơn thuần do việc sống dưới gốc cây mà có được quả vị sa-môn. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người sống ngoài trời chỉ đơn thuần do việc sống ngoài trời mà có được quả vị sa-môn. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người đứng thẳng chỉ đơn thuần do việc đứng thẳng mà có được quả vị sa-môn. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người ăn theo phiên chỉ đơn thuần do việc ăn theo phiên mà có được quả vị sa-môn. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người trì tụng thần chú chỉ đơn thuần do việc trì tụng thần chú mà có được quả vị sa-môn. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng người bện tóc chỉ đơn thuần do việc bện tóc mà có được quả vị sa-môn.”
Saṅghāṭikassa ce, bhikkhave, saṅghāṭidhāraṇamattena abhijjhālussa abhijjhā pahīyetha, byāpannacittassa byāpādo pahīyetha, kodhanassa kodho pahīyetha, upanāhissa upanāho pahīyetha, makkhissa makkho pahīyetha, paḷāsissa paḷāso pahīyetha, issukissa issā pahīyetha, maccharissa macchariyaṁ pahīyetha, saṭhassa sāṭheyyaṁ pahīyetha, māyāvissa māyā pahīyetha, pāpicchassa pāpikā icchā pahīyetha, micchādiṭṭhikassa micchādiṭṭhi pahīyetha, tamenaṁ mittāmaccā ñātisālohitā jātameva naṁ saṅghāṭikaṁ kareyyuṁ, saṅghāṭikattameva samādapeyyuṁ: ‘ehi tvaṁ, bhadramukha, saṅghāṭiko hohi, saṅghāṭikassa te sato saṅghāṭidhāraṇamattena abhijjhālussa abhijjhā pahīyissati, byāpannacittassa byāpādo pahīyissati, kodhanassa kodho pahīyissati, upanāhissa upanāho pahīyissati, makkhissa makkho pahīyissati, paḷāsissa paḷāso pahīyissati, issukissa issā pahīyissati, maccharissa macchariyaṁ pahīyissati, saṭhassa sāṭheyyaṁ pahīyissati, māyāvissa māyā pahīyissati, pāpicchassa pāpikā icchā pahīyissati, micchādiṭṭhikassa micchādiṭṭhi pahīyissatī’ti. Yasmā ca kho ahaṁ, bhikkhave, saṅghāṭikampi idhekaccaṁ passāmi abhijjhāluṁ byāpannacittaṁ kodhanaṁ upanāhiṁ makkhiṁ paḷāsiṁ issukiṁ macchariṁ saṭhaṁ māyāviṁ pāpicchaṁ micchādiṭṭhikaṁ, tasmā na saṅghāṭikassa saṅghāṭidhāraṇamattena sāmaññaṁ vadāmi.
Imagine that just by wearing an outer robe someone with covetousness, ill will, irritability, acrimony, disdain, contempt, jealousy, stinginess, deviousness, deceit, corrupt wishes, and wrong view could give up these things. If that were the case, your friends and colleagues, relatives and kin would make you an outer robe wearer as soon as you were born. They’d encourage you: ‘Please, dearest, wear an outer robe! By doing so you will give up covetousness, ill will, irritability, acrimony, disdain, contempt, jealousy, stinginess, deviousness, deceit, corrupt wishes, and wrong view.’ But sometimes I see someone with these bad qualities who is an outer robe wearer. That’s why I say that you don’t deserve the label ‘outer robe wearer’ just because you wear an outer robe.
“Này các tỳ khưu, nếu chỉ đơn thuần do việc mặc y tăng-già-lê mà người mặc y tăng-già-lê có nhiều tham ái, lòng tham ái của người ấy được đoạn trừ; người có tâm sân hận, lòng sân hận của người ấy được đoạn trừ; người hay phẫn nộ, sự phẫn nộ của người ấy được đoạn trừ; người hay oán hận, sự oán hận của người ấy được đoạn trừ; người hay gièm pha, sự gièm pha của người ấy được đoạn trừ; người hay ganh đua, sự ganh đua của người ấy được đoạn trừ; người hay đố kỵ, sự đố kỵ của người ấy được đoạn trừ; người xan lận, tính xan lận của người ấy được đoạn trừ; người xảo trá, sự xảo trá của người ấy được đoạn trừ; người gian trá, sự gian trá của người ấy được đoạn trừ; người có ác dục, ác dục của người ấy được đoạn trừ; người có tà kiến, tà kiến của người ấy được đoạn trừ; thì bạn bè, thân hữu, và bà con huyết thống của người ấy đã cho người ấy mặc y tăng-già-lê ngay từ khi mới sinh ra, và đã khuyến khích người ấy trong việc mặc y tăng-già-lê rằng: ‘Này hiền hữu, hãy đến đây, hãy là người mặc y tăng-già-lê. Khi là người mặc y tăng-già-lê, chỉ đơn thuần do việc mặc y tăng-già-lê, nếu hiền hữu có nhiều tham ái, lòng tham ái sẽ được đoạn trừ; nếu có tâm sân hận, lòng sân hận sẽ được đoạn trừ; nếu hay phẫn nộ, sự phẫn nộ sẽ được đoạn trừ; nếu hay oán hận, sự oán hận sẽ được đoạn trừ; nếu hay gièm pha, sự gièm pha sẽ được đoạn trừ; nếu hay ganh đua, sự ganh đua sẽ được đoạn trừ; nếu hay đố kỵ, sự đố kỵ sẽ được đoạn trừ; nếu xan lận, tính xan lận sẽ được đoạn trừ; nếu xảo trá, sự xảo trá sẽ được đoạn trừ; nếu gian trá, sự gian trá sẽ được đoạn trừ; nếu có ác dục, ác dục sẽ được đoạn trừ; nếu có tà kiến, tà kiến sẽ được đoạn trừ.’ Và bởi vì, này các tỳ khưu, Ta thấy ở đây có người mặc y tăng-già-lê mà vẫn có nhiều tham ái, có tâm sân hận, hay phẫn nộ, hay oán hận, hay gièm pha, hay ganh đua, hay đố kỵ, xan lận, xảo trá, gian trá, có ác dục, có tà kiến, do đó Ta không nói rằng người mặc y tăng-già-lê chỉ đơn thuần do việc mặc y tăng-già-lê mà có được quả vị sa-môn.”
Acelakassa ce, bhikkhave …pe… rajojallikassa ce, bhikkhave …pe… udakorohakassa ce, bhikkhave …pe… rukkhamūlikassa ce, bhikkhave …pe… abbhokāsikassa ce, bhikkhave …pe… ubbhaṭṭhakassa ce, bhikkhave …pe… pariyāyabhattikassa ce, bhikkhave …pe… mantajjhāyakassa ce, bhikkhave …pe… jaṭilakassa ce, bhikkhave, jaṭādhāraṇamattena abhijjhālussa abhijjhā pahīyetha, byāpannacittassa byāpādo pahīyetha, kodhanassa kodho pahīyetha, upanāhissa upanāho pahīyetha, makkhissa makkho pahīyetha, paḷāsissa paḷāso pahīyetha, issukissa issā pahīyetha, maccharissa macchariyaṁ pahīyetha, saṭhassa sāṭheyyaṁ pahīyetha, māyāvissa māyā pahīyetha, pāpicchassa pāpikā icchā pahīyetha, micchādiṭṭhikassa micchādiṭṭhi pahīyetha, tamenaṁ mittāmaccā ñātisālohitā jātameva naṁ jaṭilakaṁ kareyyuṁ, jaṭilakattameva samādapeyyuṁ: ‘ehi tvaṁ, bhadramukha, jaṭilako hohi, jaṭilakassa te sato jaṭādhāraṇamattena abhijjhālussa abhijjhā pahīyissati byāpannacittassa byāpādo pahīyissati, kodhanassa kodho pahīyissati …pe… pāpicchassa pāpikā icchā pahīyissati micchādiṭṭhikassa micchādiṭṭhi pahīyissatī’ti. Yasmā ca kho ahaṁ, bhikkhave, jaṭilakampi idhekaccaṁ passāmi abhijjhāluṁ byāpannacittaṁ kodhanaṁ upanāhiṁ makkhiṁ palāsiṁ issukiṁ macchariṁ saṭhaṁ māyāviṁ pāpicchaṁ micchādiṭṭhiṁ, tasmā na jaṭilakassa jaṭādhāraṇamattena sāmaññaṁ vadāmi.
Imagine that just by going naked … wearing dust and dirt … immersing in water … staying at the root of a tree … staying in the open air … standing continually … eating at set intervals … reciting hymns … having matted hair someone with covetousness, ill will, irritability, acrimony, disdain, contempt, jealousy, stinginess, deviousness, deceit, corrupt wishes, and wrong view could give up these things. If that were the case, your friends and colleagues, relatives and kin would make you a matted-hair ascetic as soon as you were born. They’d encourage you: ‘Please, dearest, become a matted-hair ascetic! By doing so you will give up covetousness, ill will, irritability, hostility, disdain, contempt, jealousy, stinginess, deviousness, deceit, corrupt wishes, and wrong view.’ But sometimes I see someone with these bad qualities who is a matted-hair ascetic. That’s why I say that you don’t deserve the label ‘matted-hair ascetic’ just because you have matted hair.
“Này các tỳ-khưu, nếu chỉ bởi sự lõa thể... (tương tự)... Này các tỳ-khưu, nếu chỉ bởi sự bám bụi bẩn... (tương tự)... Này các tỳ-khưu, nếu chỉ bởi sự xuống nước... (tương tự)... Này các tỳ-khưu, nếu chỉ bởi sự sống dưới gốc cây... (tương tự)... Này các tỳ-khưu, nếu chỉ bởi sự sống ngoài trời... (tương tự)... Này các tỳ-khưu, nếu chỉ bởi sự đứng liên tục... (tương tự)... Này các tỳ-khưu, nếu chỉ bởi sự ăn theo bữa cách quãng... (tương tự)... Này các tỳ-khưu, nếu chỉ bởi sự trì tụng mật ngôn... Này các tỳ-khưu, nếu chỉ bởi việc để tóc bện mà tham dục của người có nhiều tham dục được đoạn tận, tâm sân hận của người có tâm sân hận được đoạn tận, sự phẫn nộ của người hay phẫn nộ được đoạn tận, sự oán hận của người hay oán hận được đoạn tận, sự hư ngụy của người hay hư ngụy được đoạn tận, sự kiêu căng của người hay kiêu căng được đoạn tận, sự đố kỵ của người hay đố kỵ được đoạn tận, sự bỏn xẻn của người hay bỏn xẻn được đoạn tận, sự gian trá của người gian trá được đoạn tận, sự xảo trá của người xảo trá được đoạn tận, ác dục của người có ác dục được đoạn tận, tà kiến của người có tà kiến được đoạn tận, thì bạn bè, thân hữu, và bà con huyết thống đã làm cho người ấy trở thành người để tóc bện ngay từ khi mới sinh ra, và đã khuyến khích người ấy vào việc để tóc bện rằng: ‘Hãy đến đây, này thanh niên hiền đức, hãy là người để tóc bện; đối với ông là người để tóc bện, chỉ nhờ việc để tóc bện, nếu ông có nhiều tham dục thì tham dục sẽ được đoạn tận, nếu có tâm sân hận thì sân hận sẽ được đoạn tận, nếu hay phẫn nộ thì sự phẫn nộ sẽ được đoạn tận... nếu có ác dục thì ác dục sẽ được đoạn tận, nếu có tà kiến thì tà kiến sẽ được đoạn tận.’ Nhưng vì, này các tỳ-khưu, Ta thấy ở đời này có người để tóc bện mà vẫn có nhiều tham dục, tâm sân hận, phẫn nộ, oán hận, hư ngụy, kiêu căng, đố kỵ, bỏn xẻn, gian trá, xảo trá, ác dục, tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ nhờ việc để tóc bện mà có được quả vị Sa-môn.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu samaṇasāmīcippaṭipadaṁ paṭipanno hoti?
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno abhijjhālussa abhijjhā pahīnā hoti, byāpannacittassa byāpādo pahīno hoti, kodhanassa kodho pahīno hoti, upanāhissa upanāho pahīno hoti, makkhissa makkho pahīno hoti, paḷāsissa paḷāso pahīno hoti, issukissa issā pahīnā hoti, maccharissa macchariyaṁ pahīnaṁ hoti, saṭhassa sāṭheyyaṁ pahīnaṁ hoti, māyāvissa māyā pahīnā hoti, pāpicchassa pāpikā icchā pahīnā hoti, micchādiṭṭhikassa micchādiṭṭhi pahīnā hoti—imesaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, samaṇamalānaṁ samaṇadosānaṁ samaṇakasaṭānaṁ āpāyikānaṁ ṭhānānaṁ duggativedaniyānaṁ pahānā ‘samaṇasāmīcippaṭipadaṁ paṭipanno’ti vadāmi.
So sabbehi imehi pāpakehi akusalehi dhammehi visuddhamattānaṁ samanupassati (…). Tassa sabbehi imehi pāpakehi akusalehi dhammehi visuddhamattānaṁ samanupassato (…) pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
And how does a mendicant practice in the way that is proper for an ascetic?
Any mendicant who has given up covetousness, ill will, irritability, acrimony, disdain, contempt, jealousy, stinginess, deviousness, deceit, corrupt wishes, and wrong view is practicing in the way that is proper for an ascetic, I say. And that is due to giving up these stains, defects, and dregs of an ascetic, these grounds for rebirth in places of loss, to be experienced in bad places.
They see themselves purified from all these bad, unskillful qualities. Seeing this, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi.
438. “Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu thực hành con đường tương xứng với sa-môn? Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào có lòng tham ái, lòng tham ái của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có tâm sân hận, sân hận của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có lòng phẫn nộ, lòng phẫn nộ của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có lòng oán hận, lòng oán hận của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có lòng gièm pha, lòng gièm pha của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có lòng ganh đua, lòng ganh đua của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có lòng tật đố, lòng tật đố của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có lòng bỏn xẻn, lòng bỏn xẻn của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có lòng xảo trá, lòng xảo trá của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có lòng lừa dối, lòng lừa dối của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có ác dục, ác dục của vị ấy đã được đoạn tận; vị nào có tà kiến, tà kiến của vị ấy đã được đoạn tận – Này các tỳ khưu, do đã đoạn tận những cấu uế của sa-môn, những lỗi lầm của sa-môn, những cặn bã của sa-môn, những điều dẫn đến khổ cảnh, những điều phải cảm thọ trong ác thú này, Ta nói rằng vị ấy ‘thực hành con đường tương xứng với sa-môn’. Vị ấy nhận thấy tự thân đã được thanh tịnh khỏi tất cả các pháp ác, bất thiện này. Khi vị ấy nhận thấy tự thân đã được thanh tịnh khỏi tất cả các pháp ác, bất thiện này, hân hoan sanh khởi. Khi đã hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân được khinh an. Khi thân đã khinh an, vị ấy cảm thọ lạc. Khi có lạc, tâm được định tĩnh.”
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Seyyathāpi, bhikkhave, pokkharaṇī acchodakā sātodakā sītodakā setakā supatitthā ramaṇīyā. Puratthimāya cepi disāya puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito. So taṁ pokkharaṇiṁ āgamma vineyya udakapipāsaṁ vineyya ghammapariḷāhaṁ …pe… pacchimāya cepi disāya puriso āgaccheyya …pe… uttarāya cepi disāya puriso āgaccheyya …pe… dakkhiṇāya cepi disāya puriso āgaccheyya. Yato kuto cepi naṁ puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto, kilanto tasito pipāsito. So taṁ pokkharaṇiṁ āgamma vineyya udakapipāsaṁ, vineyya ghammapariḷāhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, khattiyakulā cepi agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma, evaṁ mettaṁ karuṇaṁ muditaṁ upekkhaṁ bhāvetvā labhati ajjhattaṁ vūpasamaṁ. Ajjhattaṁ vūpasamā ‘samaṇasāmīcippaṭipadaṁ paṭipanno’ti vadāmi. Brāhmaṇakulā cepi …pe… vessakulā cepi …pe… suddakulā cepi …pe… yasmā kasmā cepi kulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma, evaṁ mettaṁ karuṇaṁ muditaṁ upekkhaṁ bhāvetvā labhati ajjhattaṁ vūpasamaṁ. Ajjhattaṁ vūpasamā ‘samaṇasāmīcippaṭipadaṁ paṭipanno’ti vadāmi.
They meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
They meditate spreading a heart full of compassion …
They meditate spreading a heart full of rejoicing …
They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
Suppose there was a lotus pond with clear, sweet, cool water, clean, with smooth banks, delightful. Then along comes a person—whether from the east, west, north, or south—struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. No matter what direction they come from, when they arrive at that lotus pond they would alleviate their thirst and heat exhaustion.
In the same way, suppose someone has gone forth from the lay life to homelessness—whether from a family of aristocrats, brahmins, peasants, or menials—and has arrived at the teaching and training proclaimed by a Realized One. Having developed love, compassion, rejoicing, and equanimity in this way they find inner peace. Because of that inner peace they are practicing the way proper for an ascetic, I say.
“Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, tương tự phương thứ hai, tương tự phương thứ ba, tương tự phương thứ tư. Như vậy, ở trên, ở dưới, ở ngang, ở khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, vị ấy an trú, biến mãn một phương, tương tự phương thứ hai, tương tự phương thứ ba, tương tự phương thứ tư. Như vậy, ở trên, ở dưới, ở ngang, ở khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, không oán, không sân. Này các tỳ khưu, ví như có một hồ nước trong, nước ngọt, nước mát, nước trong vắt, có bến nước tốt, đáng vui thích. Rồi một người từ phương đông đi đến, bị nóng bức thiêu đốt, bị nóng bức xâm chiếm, mệt mỏi, khát nước, khô cổ. Người ấy đến hồ nước đó, làm dịu cơn khát nước, làm dịu cơn nóng bức... từ phương tây đi đến... từ phương bắc đi đến... từ phương nam đi đến. Từ bất cứ nơi nào một người đi đến, bị nóng bức thiêu đốt, bị nóng bức xâm chiếm, mệt mỏi, khát nước, khô cổ. Người ấy đến hồ nước đó, làm dịu cơn khát nước, làm dịu cơn nóng bức. Cũng vậy, này các tỳ khưu, dù là người từ dòng dõi Sát-đế-lỵ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, người ấy sau khi đến với Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết này, tu tập từ, bi, hỷ, xả như vậy, đạt được sự an tịnh nội tâm. Do sự an tịnh nội tâm, Ta nói rằng vị ấy ‘thực hành con đường tương xứng với sa-môn’. Dù là người từ dòng dõi Bà-la-môn... từ dòng dõi Phệ-xá... từ dòng dõi Thủ-đà... dù là người từ bất cứ dòng dõi nào xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, người ấy sau khi đến với Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết này, tu tập từ, bi, hỷ, xả như vậy, đạt được sự an tịnh nội tâm. Do sự an tịnh nội tâm, Ta nói rằng vị ấy ‘thực hành con đường tương xứng với sa-môn’.”
Khattiyakulā cepi agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti. So ca āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Āsavānaṁ khayā samaṇo hoti. Brāhmaṇakulā cepi …pe… vessakulā cepi … suddakulā cepi … yasmā kasmā cepi kulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Āsavānaṁ khayā samaṇo hotī”ti.
And suppose someone has gone forth from the lay life to homelessness—whether from a family of aristocrats, brahmins, peasants, or workers—and they realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. They’re an ascetic because of the ending of defilements.”
“Dù là người từ dòng dõi Sát-đế-lỵ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy trở thành một sa-môn. Dù là người từ dòng dõi Bà-la-môn... từ dòng dõi Phệ-xá... từ dòng dõi Thủ-đà... dù là người từ bất cứ dòng dõi nào xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy trở thành một sa-môn.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Cūḷaassapurasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Tiểu Assapura, kinh thứ mười, đã chấm dứt.
Mahāyamakavaggo niṭṭhito catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Đại Song, phẩm thứ tư, đã chấm dứt.
Giñjakasālavanaṁ pariharituṁ, Paññavato puna saccakanisedho; Mukhavaṇṇapasīdanatāpindo, Kevaṭṭaassapurajaṭilena.
Giñjaka và Sālavana, bậc trí tuệ, rồi đến Saccaka và sự phủ định; Vẻ mặt hoan hỷ, Kevaṭṭa, Assapura, và người bện tóc.