- Majjhima Nikāya 39
Mahāassapurasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāassapurasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương—già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
—Này các Tỷ-kheo.
SC 2—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 3Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 4—Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: “Các Ông là ai!” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.
SC 5Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn, và các pháp tác thành Bà-la-môn? “Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý”, như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các Ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
SC 6Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Thân hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
SC 7Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Khẩu hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì khẩu hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
SC 8Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì ý hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, và ý hành thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
SC 9Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì sanh mạng thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
SC 10Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, và các căn đã được hộ trì, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
SC 11Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh và các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
SC 12Này các Tỷ-kheo, thế nào la các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
SC 13Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
SC 14Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối tiếc, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 15Này các Tỷ-kheo, như một người mắc nợ liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được những nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian, người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. “Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy sau một thời gian thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại.
SC 16Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị cảnh nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Nay ta thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc. Người ấy sau một thời gian đã đi khỏi bãi sa mạc ấy, đến đầu làng, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua bãi sa mạc. Nay ta đã đi qua khỏi bãi sa mạc ấy, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc. Này các Tỷ-kheo, cũng như không mắc nợ, không bị bệnh tật được khỏi tù tội, được tự do, đến được đất lành yên ổn. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi chúng được diệt trừ.
SC 17Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
SC 18Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ nước, nước từ trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh thấm nhuần.
SC 19Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
SC 20Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
SC 21Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỷ-kheo, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình, người ấy nghĩ: “Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây, ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 22Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này các Tỷ-kheo, ví như có hai nhà có cửa, và ở đây, một người có mắt đứng ở giữa, người này có thể thấy các người (khác) đi vào nhà, đi ra, đi qua, đi lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, vị ấy thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
SC 23Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của Khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự đoạn trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
SC 24Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.
SC 25Này các Tỷ-kheo, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: “Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết như thật: “Ðây là khổ … biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc!” Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần phải làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.
SC 26Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được gọi là Sa-môn, là Bà-la-môn, là vị đã tắm sạch sẽ, là vị đã biết và hiểu rõ, là bậc có học, là bậc Thánh, là bậc A-la-hán.
SC 27Này các Tỷ-kheo, như thế nào, Tỷ-kheo là Sa-môn? Vị này đã làm cho dừng lại các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là Sa-môn.
SC 28Và này các Tỷ-kheo, như thế nào Tỷ-kheo là Bà-la-môn? Vị này đã tẩn xuất ra ngoài các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là Bà-la-môn.
SC 29Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đã tắm sạch sẽ? Vị này đã tắm gội sạch sẽ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã tắm sạch sẽ.
SC 30Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đã biết và hiểu rõ? Vị này đã biết và hiểu rõ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã biết và hiểu rõ.
SC 31Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo có học? Vị này đã tiêu diệt các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có học.
SC 32Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo được gọi là bậc Thánh? Vị này đã làm cho xa lìa các ác pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được gọi là bậc Thánh.
SC 33Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo được gọi là bậc A-la-hán? Vị này đã làm cho xa lìa các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán.
SC 34Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Đại Assapura
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
9. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn trú ở xứ Aṅga, tại một thị trấn của xứ Aṅga tên là Assapura. Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu'. Các Tỳ khưu ấy vâng đáp Đức Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn'. Đức Thế Tôn đã thuyết điều này:
“Samaṇā samaṇāti vo, bhikkhave, jano sañjānāti. Tumhe ca pana ‘ke tumhe’ti puṭṭhā samānā ‘samaṇāmhā’ti paṭijānātha;
tesaṁ vo, bhikkhave, evaṁsamaññānaṁ sataṁ evaṁpaṭiññānaṁ sataṁ ‘ye dhammā samaṇakaraṇā ca brāhmaṇakaraṇā ca te dhamme samādāya vattissāma, evaṁ no ayaṁ amhākaṁ samaññā ca saccā bhavissati paṭiññā ca bhūtā. Yesañca mayaṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ paribhuñjāma, tesaṁ te kārā amhesu mahapphalā bhavissanti mahānisaṁsā, amhākañcevāyaṁ pabbajjā avañjhā bhavissati saphalā saudrayā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
“Mendicants, people label you as ascetics. And when they ask you what you are, you claim to be ascetics.
Given this label and this claim, you should train like this: ‘We will proceed having undertaken the things that make one an ascetic and a brahmin. That way our label will be accurate and our claim correct. The services of those whose robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick we enjoy shall be very fruitful and beneficial for them. And our going forth will not be barren, but will be fruitful and fertile.’
415. Này các Tỳ khưu, dân chúng biết rõ các ông là 'Sa-môn, Sa-môn'. Và các ông, khi được hỏi 'Các vị là ai?', đã tự nhận 'Chúng tôi là Sa-môn'. Này các Tỳ khưu, đối với các ông, những người có danh xưng như vậy, có sự tự nhận như vậy, các ông nên học tập rằng: 'Chúng ta sẽ thực hành sau khi đã chấp nhận những pháp làm nên Sa-môn, làm nên Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta sẽ là chân thật và sự tự nhận sẽ là đúng đắn. Và chúng ta thọ dụng y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh của những người nào, những hành động của họ đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn, và sự xuất gia này của chúng ta sẽ không vô ích, sẽ có kết quả, có sự tăng trưởng'. Này các Tỳ khưu, các ông nên học tập như vậy.
Katame ca, bhikkhave, dhammā samaṇakaraṇā ca brāhmaṇakaraṇā ca? ‘Hirottappena samannāgatā bhavissāmā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṁ evamassa: ‘hirottappenamha samannāgatā, alamettāvatā katamettāvatā, anuppatto no sāmaññattho, natthi no kiñci uttariṁ karaṇīyan’ti tāvatakeneva tuṭṭhiṁ āpajjeyyātha. Ārocayāmi vo, bhikkhave, paṭivedayāmi vo, bhikkhave: ‘mā vo sāmaññatthikānaṁ sataṁ sāmaññattho parihāyi, sati uttariṁ karaṇīye’.
And what are the things that make one an ascetic and a brahmin? You should train like this: ‘We will have conscience and prudence.’ Now, mendicants, you might think, ‘We have conscience and prudence. This is sufficient; enough has been done. We have achieved the goal of life as an ascetic. There is nothing more to do.’ And you might rest content with just that much. I declare this to you, mendicants, I announce this to you: ‘You who seek to be true ascetics, do not lose sight of the goal of the ascetic life while there is still more to do.’
Này các Tỳ khưu, và những pháp nào làm nên Sa-môn, làm nên Bà-la-môn? Này các Tỳ khưu, các ông nên học tập rằng: 'Chúng ta sẽ đầy đủ tàm và quý'. Này các Tỳ khưu, có thể các ông sẽ có ý nghĩ như vầy: 'Chúng ta đã đầy đủ tàm và quý, chừng ấy là đủ rồi, chừng ấy là đã làm xong, mục đích Sa-môn của chúng ta đã đạt được, chúng ta không có gì phải làm thêm nữa', và các ông có thể đi đến sự mãn nguyện chỉ với chừng ấy. Ta tuyên bố với các ông, này các Tỳ khưu, ta cho các ông biết, này các Tỳ khưu: 'Đối với các ông, những người đang tìm cầu mục đích Sa-môn, mong rằng mục đích Sa-môn chớ có bị suy giảm, khi vẫn còn việc phải làm thêm nữa'.
Kiñca, bhikkhave, uttariṁ karaṇīyaṁ? ‘Parisuddho no kāyasamācāro bhavissati uttāno vivaṭo na ca chiddavā saṁvuto ca. Tāya ca pana parisuddhakāyasamācāratāya nevattānukkaṁsessāma na paraṁ vambhessāmā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṁ evamassa: ‘hirottappenamha samannāgatā, parisuddho no kāyasamācāro; alamettāvatā katamettāvatā, anuppatto no sāmaññattho, natthi no kiñci uttariṁ karaṇīyan’ti tāvatakeneva tuṭṭhiṁ āpajjeyyātha. Ārocayāmi vo, bhikkhave, paṭivedayāmi vo, bhikkhave: ‘mā vo sāmaññatthikānaṁ sataṁ sāmaññattho parihāyi, sati uttariṁ karaṇīye’.
What more is there to do? You should train like this: ‘Our bodily behavior will be pure, clear, open, neither inconsistent nor secretive. And we won’t glorify ourselves or put others down on account of our pure bodily behavior.’ Now, mendicants, you might think, ‘We have conscience and prudence, and our bodily behavior is pure. This is sufficient …’ I declare this to you, mendicants, I announce this to you: ‘You who seek to be true ascetics, do not lose sight of the goal of the ascetic life while there is still more to do.’
416. Này các Tỳ khưu, và việc gì phải làm thêm nữa? 'Thân hành của chúng ta sẽ được trong sạch, sẽ được hiển lộ, được rộng mở, không có khiếm khuyết, và được phòng hộ. Và do thân hành trong sạch ấy, chúng ta sẽ không tán dương mình, cũng không chê bai người khác'. Này các Tỳ khưu, các ông nên học tập như vậy. Này các Tỳ khưu, có thể các ông sẽ có ý nghĩ như vầy: 'Chúng ta đã đầy đủ tàm và quý, thân hành của chúng ta trong sạch; chừng ấy là đủ rồi, chừng ấy là đã làm xong, mục đích Sa-môn của chúng ta đã đạt được, chúng ta không có gì phải làm thêm nữa', và các ông có thể đi đến sự mãn nguyện chỉ với chừng ấy. Ta tuyên bố với các ông, này các Tỳ khưu, ta cho các ông biết, này các Tỳ khưu: 'Đối với các ông, những người đang tìm cầu mục đích Sa-môn, mong rằng mục đích Sa-môn chớ có bị suy giảm, khi vẫn còn việc phải làm thêm nữa'.
Kiñca, bhikkhave, uttariṁ karaṇīyaṁ? ‘Parisuddho no vacīsamācāro bhavissati uttāno vivaṭo na ca chiddavā saṁvuto ca. Tāya ca pana parisuddhavacīsamācāratāya nevattānukkaṁsessāma na paraṁ vambhessāmā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṁ evamassa: ‘hirottappenamha samannāgatā, parisuddho no kāyasamācāro, parisuddho vacīsamācāro; alamettāvatā katamettāvatā, anuppatto no sāmaññattho, natthi no kiñci uttariṁ karaṇīyan’ti tāvatakeneva tuṭṭhiṁ āpajjeyyātha. Ārocayāmi vo, bhikkhave, paṭivedayāmi vo, bhikkhave: ‘mā vo sāmaññatthikānaṁ sataṁ sāmaññattho parihāyi, sati uttariṁ karaṇīye’.
What more is there to do? You should train like this: ‘Our verbal behavior …
418. Này các Tỳ khưu, còn có việc gì cao hơn cần phải làm? ‘Hành vi lời nói của chúng ta sẽ được trong sạch, được phơi bày, được tỏ rõ, không có tỳ vết, và được thu thúc. Và do có hành vi lời nói trong sạch ấy, chúng ta sẽ không tán dương tự ngã, cũng không chê bai người khác.’ Này các Tỳ khưu, các ngươi nên học tập như vậy. Này các Tỳ khưu, lại nữa, có thể các ngươi sẽ có suy nghĩ như vầy: ‘Chúng ta đã được đầy đủ tàm và quý, hành vi thân thể của chúng ta đã trong sạch, hành vi lời nói của chúng ta đã trong sạch. Chỉ chừng ấy là đủ rồi, chỉ chừng ấy là đã làm xong, mục đích Sa-môn của chúng ta đã được thành tựu, chúng ta không còn việc gì cao hơn cần phải làm.’ Và các ngươi có thể đi đến sự hài lòng chỉ với chừng ấy. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố cho các ngươi, này các Tỳ khưu, Ta cho các ngươi biết: ‘Đối với các ngươi là những người đang có mục đích Sa-môn, mong rằng mục đích Sa-môn sẽ không bị suy giảm trong khi vẫn còn có việc cao hơn cần phải làm.’
419. Này các Tỳ khưu, còn có việc gì cao hơn cần phải làm? ‘Hành vi tâm ý của chúng ta sẽ được trong sạch, được phơi bày, được tỏ rõ, không có tỳ vết, và được thu thúc. Và do có hành vi tâm ý trong sạch ấy, chúng ta sẽ không tán dương tự ngã, cũng không chê bai người khác.’ Này các Tỳ khưu, các ngươi nên học tập như vậy. Này các Tỳ khưu, lại nữa, có thể các ngươi sẽ có suy nghĩ như vầy: ‘Chúng ta đã được đầy đủ tàm và quý, hành vi thân thể của chúng ta đã trong sạch, hành vi lời nói của chúng ta đã trong sạch, hành vi tâm ý của chúng ta đã trong sạch. Chỉ chừng ấy là đủ rồi, chỉ chừng ấy là đã làm xong, mục đích Sa-môn của chúng ta đã được thành tựu, chúng ta không còn việc gì cao hơn cần phải làm.’ Và các ngươi có thể đi đến sự hài lòng chỉ với chừng ấy. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố cho các ngươi, này các Tỳ khưu, Ta cho các ngươi biết: ‘Đối với các ngươi là những người đang có mục đích Sa-môn, mong rằng mục đích Sa-môn sẽ không bị suy giảm trong khi vẫn còn có việc cao hơn cần phải làm.’
420. Này các Tỳ khưu, còn có việc gì cao hơn cần phải làm? ‘Sự nuôi mạng của chúng ta sẽ được trong sạch, được phơi bày, được tỏ rõ, không có tỳ vết, và được thu thúc. Và do có sự nuôi mạng trong sạch ấy, chúng ta sẽ không tán dương tự ngã, cũng không chê bai người khác.’ Này các Tỳ khưu, các ngươi nên học tập như vậy. Này các Tỳ khưu, lại nữa, có thể các ngươi sẽ có suy nghĩ như vầy: ‘Chúng ta đã được đầy đủ tàm và quý, hành vi thân thể của chúng ta đã trong sạch, hành vi lời nói của chúng ta đã trong sạch, hành vi tâm ý của chúng ta đã trong sạch, sự nuôi mạng của chúng ta đã trong sạch. Chỉ chừng ấy là đủ rồi, chỉ chừng ấy là đã làm xong, mục đích Sa-môn của chúng ta đã được thành tựu, chúng ta không còn việc gì cao hơn cần phải làm.’ Và các ngươi có thể đi đến sự hài lòng chỉ với chừng ấy. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố cho các ngươi, này các Tỳ khưu, Ta cho các ngươi biết: ‘Đối với các ngươi là những người đang có mục đích Sa-môn, mong rằng mục đích Sa-môn sẽ không bị suy giảm trong khi vẫn còn có việc cao hơn cần phải làm.’
Kiñca, bhikkhave, uttariṁ karaṇīyaṁ? ‘Indriyesu guttadvārā bhavissāma; cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjissāma, rakkhissāma cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjissāma. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjissāma, rakkhissāma manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjissāmā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṁ evamassa: ‘hirottappenamha samannāgatā, parisuddho no kāyasamācāro, parisuddho vacīsamācāro, parisuddho manosamācāro, parisuddho ājīvo, indriyesumha guttadvārā; alamettāvatā katamettāvatā, anuppatto no sāmaññattho, natthi no kiñci uttariṁ karaṇīyan’ti tāvatakeneva tuṭṭhiṁ āpajjeyyātha. Ārocayāmi vo, bhikkhave, paṭivedayāmi vo, bhikkhave: ‘mā vo sāmaññatthikānaṁ sataṁ sāmaññattho parihāyi, sati uttariṁ karaṇīye’.
What more is there to do? You should train yourselves like this: ‘We will restrain our sense doors. When we see a sight with our eyes, we won’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, we will practice restraint, we will protect the faculty of sight, and we will achieve its restraint. When we hear a sound with our ears … When we smell an odor with our nose … When we taste a flavor with our tongue … When we feel a touch with our body … When we know an idea with our mind, we won’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, we will practice restraint, we will protect the faculty of mind, and we will achieve its restraint.’ Now, mendicants, you might think, ‘We have conscience and prudence, our bodily, verbal, and mental behavior is pure, our livelihood is pure, and our sense doors are restrained. This is sufficient …’
421. Này các Tỳ khưu, còn có việc gì cao hơn cần phải làm? ‘Chúng ta sẽ là những người có các căn được phòng hộ; sau khi nhìn thấy sắc pháp bằng con mắt, chúng ta sẽ không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do bởi nguyên nhân nào mà nếu sống không phòng hộ nhãn căn thì các pháp bất thiện, xấu ác là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, chúng ta sẽ thực hành vì sự phòng hộ nhãn căn ấy, chúng ta sẽ bảo vệ nhãn căn, chúng ta sẽ đi đến sự phòng hộ ở nhãn căn. Sau khi nghe thấy âm thanh bằng lỗ tai ... sau khi ngửi thấy hương thơm bằng lỗ mũi ... sau khi nếm vị bằng lưỡi ... sau khi cảm nhận đối tượng xúc chạm bằng thân thể ... sau khi nhận biết pháp bằng tâm ý, chúng ta sẽ không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do bởi nguyên nhân nào mà nếu sống không phòng hộ ý căn thì các pháp bất thiện, xấu ác là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, chúng ta sẽ thực hành vì sự phòng hộ ý căn ấy, chúng ta sẽ bảo vệ ý căn, chúng ta sẽ đi đến sự phòng hộ ở ý căn.’ Này các Tỳ khưu, các ngươi nên học tập như vậy. Này các Tỳ khưu, lại nữa, có thể các ngươi sẽ có suy nghĩ như vầy: ‘Chúng ta đã được đầy đủ tàm và quý, hành vi thân thể của chúng ta đã trong sạch, hành vi lời nói của chúng ta đã trong sạch, hành vi tâm ý của chúng ta đã trong sạch, sự nuôi mạng của chúng ta đã trong sạch, chúng ta là những người có các căn được phòng hộ. Chỉ chừng ấy là đủ rồi, chỉ chừng ấy là đã làm xong, mục đích Sa-môn của chúng ta đã được thành tựu, chúng ta không còn việc gì cao hơn cần phải làm.’ Và các ngươi có thể đi đến sự hài lòng chỉ với chừng ấy. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố cho các ngươi, này các Tỳ khưu, Ta cho các ngươi biết: ‘Đối với các ngươi là những người đang có mục đích Sa-môn, mong rằng mục đích Sa-môn sẽ không bị suy giảm trong khi vẫn còn có việc cao hơn cần phải làm.’
Kiñca, bhikkhave, uttariṁ karaṇīyaṁ? ‘Bhojane mattaññuno bhavissāma, paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āharissāma, neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya, vihiṁsūparatiyā, brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāma navañca vedanaṁ na uppādessāma, yātrā ca no bhavissati, anavajjatā ca, phāsu vihāro cā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṁ evamassa: ‘hirottappenamha samannāgatā, parisuddho no kāyasamācāro, parisuddho vacīsamācāro, parisuddho manosamācāro, parisuddho ājīvo, indriyesumha guttadvārā, bhojane mattaññuno; alamettāvatā katamettāvatā, anuppatto no sāmaññattho, natthi no kiñci uttariṁ karaṇīyan’ti tāvatakeneva tuṭṭhiṁ āpajjeyyātha. Ārocayāmi vo, bhikkhave, paṭivedayāmi vo, bhikkhave: ‘mā vo, sāmaññatthikānaṁ sataṁ sāmaññattho parihāyi sati uttariṁ karaṇīye’.
What more is there to do? You should train yourselves like this: ‘We will not eat too much. We will only eat after reflecting rationally on our food. We will eat not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, we shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and we will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’ Now, mendicants, you might think, ‘We have conscience and prudence, our bodily, verbal, and mental behavior is pure, our livelihood is pure, our sense doors are restrained, and we don’t eat too much. This is sufficient …’
422. Này các Tỳ khưu, còn có việc gì cao hơn cần phải làm? ‘Chúng ta sẽ là những người biết tiết độ trong việc ăn uống, chúng ta sẽ thọ dụng vật thực sau khi đã quán xét một cách như lý, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp, chỉ là để cho thân này được duy trì, được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ não, để hỗ trợ cho phạm hạnh, với ý nghĩ rằng: “Như vậy, chúng ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ và sẽ không làm phát sanh cảm thọ mới, và sự tồn tại, sự không bị chê trách, và sự an trú thoải mái sẽ đến với chúng ta.”’ Này các Tỳ khưu, các ngươi nên học tập như vậy. Này các Tỳ khưu, lại nữa, có thể các ngươi sẽ có suy nghĩ như vầy: ‘Chúng ta đã được đầy đủ tàm và quý, hành vi thân thể của chúng ta đã trong sạch, hành vi lời nói của chúng ta đã trong sạch, hành vi tâm ý của chúng ta đã trong sạch, sự nuôi mạng của chúng ta đã trong sạch, chúng ta là những người có các căn được phòng hộ, là những người biết tiết độ trong việc ăn uống. Chỉ chừng ấy là đủ rồi, chỉ chừng ấy là đã làm xong, mục đích Sa-môn của chúng ta đã được thành tựu, chúng ta không còn việc gì cao hơn cần phải làm.’ Và các ngươi có thể đi đến sự hài lòng chỉ với chừng ấy. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố cho các ngươi, này các Tỳ khưu, Ta cho các ngươi biết: ‘Đối với các ngươi là những người đang có mục đích Sa-môn, mong rằng mục đích Sa-môn sẽ không bị suy giảm trong khi vẫn còn có việc cao hơn cần phải làm.’
Kiñca, bhikkhave, uttariṁ karaṇīyaṁ? ‘Jāgariyaṁ anuyuttā bhavissāma, divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodhessāma. Rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodhessāma. Rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappessāma pāde pādaṁ accādhāya, sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā. Rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodhessāmā’ti, evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṁ evamassa: ‘hirottappenamha samannāgatā, parisuddho no kāyasamācāro, parisuddho vacīsamācāro, parisuddho manosamācāro, parisuddho ājīvo, indriyesumha guttadvārā, bhojane mattaññuno, jāgariyaṁ anuyuttā; alamettāvatā katamettāvatā, anuppatto no sāmaññattho, natthi no kiñci uttariṁ karaṇīyan’ti, tāvatakeneva tuṭṭhiṁ āpajjeyyātha. Ārocayāmi vo, bhikkhave, paṭivedayāmi vo, bhikkhave: ‘mā vo, sāmaññatthikānaṁ sataṁ sāmaññattho parihāyi sati uttariṁ karaṇīye’.
What more is there to do? You should train yourselves like this: ‘We will be dedicated to wakefulness. When practicing walking and sitting meditation by day, we will purify our mind from obstacles. In the first watch of the night, we will continue to practice walking and sitting meditation. In the middle watch, we will lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. In the last watch, we will get up and continue to practice walking and sitting meditation, purifying our mind from obstacles.’ Now, mendicants, you might think, ‘We have conscience and prudence, our bodily, verbal, and mental behavior is pure, our livelihood is pure, our sense doors are restrained, we don’t eat too much, and we are dedicated to wakefulness. This is sufficient …’
423. “Này các tỳ khưu, điều gì là phận sự cần phải làm thêm nữa? ‘Chúng ta sẽ là những người chuyên tâm tỉnh thức, vào ban ngày, bằng cách đi kinh hành và ngồi, chúng ta sẽ gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Vào canh đầu của đêm, bằng cách đi kinh hành và ngồi, chúng ta sẽ gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Vào canh giữa của đêm, chúng ta sẽ nằm xuống theo thế nằm của sư tử về phía hông bên phải, đặt chân này lên chân kia, chánh niệm, tỉnh giác, tác ý về tưởng thức dậy. Vào canh cuối của đêm, sau khi thức dậy, bằng cách đi kinh hành và ngồi, chúng ta sẽ gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại’, này các tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy. Này các tỳ khưu, lại nữa, có thể các ngươi sẽ nghĩ như vầy: ‘Chúng ta đã có tàm có quý, thân nghiệp của chúng ta đã thanh tịnh, khẩu nghiệp của chúng ta đã thanh tịnh, ý nghiệp của chúng ta đã thanh tịnh, mạng sống của chúng ta đã thanh tịnh, chúng ta đã hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm tỉnh thức; chừng ấy là đủ, chừng ấy là đã làm xong, mục đích sa-môn của chúng ta đã đạt được, chúng ta không còn phận sự gì phải làm thêm nữa’, và các ngươi có thể hài lòng chỉ với chừng ấy. Ta nói cho các ngươi hay, này các tỳ khưu, Ta tuyên bố cho các ngươi hay, này các tỳ khưu: ‘Đối với các ngươi, những người đang tìm cầu mục đích sa-môn, khi vẫn còn phận sự phải làm thêm, mong rằng mục đích sa-môn chớ có bị suy giảm’.”
Kiñca, bhikkhave, uttariṁ karaṇīyaṁ? ‘Satisampajaññena samannāgatā bhavissāma, abhikkante paṭikkante sampajānakārī, ālokite vilokite sampajānakārī, samiñjite pasārite sampajānakārī, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī, uccārapassāvakamme sampajānakārī, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī’ti, evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṁ evamassa: ‘hirottappenamha samannāgatā, parisuddho no kāyasamācāro, parisuddho vacīsamācāro, parisuddho manosamācāro, parisuddho ājīvo, indriyesumha guttadvārā, bhojane mattaññuno, jāgariyaṁ anuyuttā, satisampajaññena samannāgatā; alamettāvatā katamettāvatā, anuppatto no sāmaññattho, natthi no kiñci uttariṁ karaṇīyan’ti tāvatakeneva tuṭṭhiṁ āpajjeyyātha. Ārocayāmi vo, bhikkhave, paṭivedayāmi vo, bhikkhave: ‘mā vo, sāmaññatthikānaṁ sataṁ sāmaññattho parihāyi sati uttariṁ karaṇīye’.
What more is there to do? You should train yourselves like this: ‘We will have situational awareness and mindfulness. We will act with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.’ Now, mendicants, you might think, ‘We have conscience and prudence, our bodily, verbal, and mental behavior is pure, our livelihood is pure, our sense doors are restrained, we don’t eat too much, we are dedicated to wakefulness, and we have mindfulness and situational awareness. This is sufficient …’
424. “Này các tỳ khưu, điều gì là phận sự cần phải làm thêm nữa? ‘Chúng ta sẽ là những người có chánh niệm và tỉnh giác, là người tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui; là người tỉnh giác khi nhìn tới, khi nhìn quanh; là người tỉnh giác khi co tay, khi duỗi tay; là người tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát, và y; là người tỉnh giác khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm; là người tỉnh giác khi đi đại tiện, tiểu tiện; là người tỉnh giác khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói, khi im lặng’, này các tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy. Này các tỳ khưu, lại nữa, có thể các ngươi sẽ nghĩ như vầy: ‘Chúng ta đã có tàm có quý, thân nghiệp của chúng ta đã thanh tịnh, khẩu nghiệp của chúng ta đã thanh tịnh, ý nghiệp của chúng ta đã thanh tịnh, mạng sống của chúng ta đã thanh tịnh, chúng ta đã hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm tỉnh thức, có chánh niệm và tỉnh giác; chừng ấy là đủ, chừng ấy là đã làm xong, mục đích sa-môn của chúng ta đã đạt được, chúng ta không còn phận sự gì phải làm thêm nữa’, và các ngươi có thể hài lòng chỉ với chừng ấy. Ta nói cho các ngươi hay, này các tỳ khưu, Ta tuyên bố cho các ngươi hay, này các tỳ khưu: ‘Đối với các ngươi, những người đang tìm cầu mục đích sa-môn, khi vẫn còn phận sự phải làm thêm, mong rằng mục đích sa-môn chớ có bị suy giảm’.”
Kiñca, bhikkhave, uttariṁ karaṇīyaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivittaṁ senāsanaṁ bhajati—araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanappatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā, ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti; byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati, sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti; thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati, ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti; uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati, ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti; vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati, akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
What more is there to do? Take a mendicant who frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present. Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
425. “Này các tỳ khưu, điều gì là phận sự cần phải làm thêm nữa? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tìm đến một nơi trú ngụ thanh vắng – khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang đá, động núi, nghĩa địa, vùng rừng rậm, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi xuống, xếp chân thế kiết-già, giữ thân ngay thẳng, an trú chánh niệm ở phía trước. Vị ấy, sau khi từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát khỏi tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái; sau khi từ bỏ sân hận, sống với tâm không sân hận, có lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh hữu tình, gột sạch tâm khỏi sân hận; sau khi từ bỏ hôn trầm và thụy miên, sống thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, với tưởng về ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên; sau khi từ bỏ trạo cử và hối quá, sống không trạo cử, với tâm an tịnh nội tại, gột sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá; sau khi từ bỏ hoài nghi, sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân, do dự đối với các thiện pháp, gột sạch tâm khỏi hoài nghi.”
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso iṇaṁ ādāya kammante payojeyya. Tassa te kammantā samijjheyyuṁ. So yāni ca porāṇāni iṇamūlāni tāni ca byantī kareyya, siyā cassa uttariṁ avasiṭṭhaṁ dārabharaṇāya. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe iṇaṁ ādāya kammante payojesiṁ, tassa me te kammantā samijjhiṁsu. Sohaṁ yāni ca porāṇāni iṇamūlāni tāni ca byantī akāsiṁ, atthi ca me uttariṁ avasiṭṭhaṁ dārabharaṇāyā’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose a man who has gotten into debt were to apply himself to work, and his efforts proved successful. He would pay off the original loan and have enough left over to support his partner. Thinking about this, he’d be filled with joy and happiness.
426. “Này các tỳ khưu, ví như một người đàn ông, sau khi vay một món nợ, đã đầu tư vào công việc kinh doanh. Các công việc kinh doanh của người ấy được thành công. Người ấy vừa trả hết các món nợ cũ, lại vừa có dư để nuôi vợ con. Người ấy có thể nghĩ rằng: ‘Trước đây, sau khi vay một món nợ, ta đã đầu tư vào công việc kinh doanh. Các công việc kinh doanh của ta đã được thành công. Ta vừa trả hết các món nợ cũ, lại vừa có dư để nuôi vợ con’. Do nhân duyên ấy, người ấy có được sự hân hoan, đạt được sự hoan hỷ.”
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso ābādhiko assa dukkhito bāḷhagilāno, bhattañcassa nacchādeyya, na cassa kāye balamattā. So aparena samayena tamhā ābādhā mucceyya, bhattañcassa chādeyya, siyā cassa kāye balamattā. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe ābādhiko ahosiṁ dukkhito bāḷhagilāno, bhattañca me nacchādesi, na ca me āsi kāye balamattā, somhi etarahi tamhā ābādhā mutto, bhattañca me chādeti, atthi ca me kāye balamattā’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose a person was sick, suffering, gravely ill. They’d lose their appetite and get physically weak. But after some time they’d recover from that illness, and regain their appetite and their strength. Thinking about this, they’d be filled with joy and happiness.
“Này các tỳ khưu, ví như một người đàn ông bị bệnh, đau đớn, ốm nặng, người ấy ăn không ngon miệng, và trong thân không có sức lực. Sau một thời gian, người ấy khỏi bệnh, ăn lại ngon miệng, và trong thân có sức lực. Người ấy có thể nghĩ rằng: ‘Trước đây, ta đã bị bệnh, đau đớn, ốm nặng, ta ăn không ngon miệng, và trong thân không có sức lực. Nay ta đã khỏi bệnh ấy, ta ăn lại ngon miệng, và trong thân có sức lực’. Do nhân duyên ấy, người ấy có được sự hân hoan, đạt được sự hoan hỷ.”
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso bandhanāgāre baddho assa. So aparena samayena tamhā bandhanā mucceyya sotthinā abbhayena, na cassa kiñci bhogānaṁ vayo. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe bandhanāgāre baddho ahosiṁ, somhi etarahi tamhā bandhanā mutto, sotthinā abbhayena, natthi ca me kiñci bhogānaṁ vayo’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose a person was imprisoned in a jail. But after some time they were released from jail, safe and sound, with no loss of wealth. Thinking about this, they’d be filled with joy and happiness.
Này các Tỳ khưu, ví như một người bị giam trong ngục. Một thời gian sau, người ấy được thả ra khỏi chốn ngục tù đó một cách an toàn, vô sự, và tài sản của người ấy không bị tổn thất chút nào. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Trước đây, ta đã bị giam trong ngục, nay ta đã được thả ra khỏi chốn ngục tù đó một cách an toàn, vô sự, và tài sản của ta không bị tổn thất chút nào.’ Do nhân duyên ấy, người ấy có được sự hân hoan, đạt được sự hoan hỷ.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso dāso assa anattādhīno parādhīno na yenakāmaṅgamo. So aparena samayena tamhā dāsabyā mucceyya attādhīno aparādhīno bhujisso yenakāmaṅgamo. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe dāso ahosiṁ anattādhīno parādhīno na yenakāmaṅgamo, somhi etarahi tamhā dāsabyā mutto attādhīno aparādhīno bhujisso yenakāmaṅgamo’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose a person was a bondservant. They would not be their own master, but indentured to another, unable to go where they wish. But after some time they’d be freed from servitude. They would be their own master, not indentured to another, a freeman able to go where they wish. Thinking about this, they’d be filled with joy and happiness.
Này các Tỳ khưu, ví như một người là nô lệ, không tự chủ, phụ thuộc người khác, không thể đi đến nơi mình muốn. Một thời gian sau, người ấy được giải thoát khỏi thân phận nô lệ đó, được tự chủ, không phụ thuộc người khác, được tự do, có thể đi đến nơi mình muốn. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Trước đây, ta là nô lệ, không tự chủ, phụ thuộc người khác, không thể đi đến nơi mình muốn. Nay ta đã được giải thoát khỏi thân phận nô lệ đó, được tự chủ, không phụ thuộc người khác, được tự do, có thể đi đến nơi mình muốn.’ Do nhân duyên ấy, người ấy có được sự hân hoan, đạt được sự hoan hỷ.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso sadhano sabhogo kantāraddhānamaggaṁ paṭipajjeyya. So aparena samayena tamhā kantārā nitthareyya sotthinā abbhayena, na cassa kiñci bhogānaṁ vayo. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe sadhano sabhogo kantāraddhānamaggaṁ paṭipajjiṁ. Somhi etarahi tamhā kantārā nitthiṇṇo sotthinā abbhayena, natthi ca me kiñci bhogānaṁ vayo’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose there was a person with wealth and property who was traveling along a desert road. But after some time they crossed over the desert, safe and sound, with no loss of wealth. Thinking about this, they’d be filled with joy and happiness.
Này các Tỳ khưu, ví như một người có tài sản, có của cải, đi vào con đường dài nơi hoang địa. Một thời gian sau, người ấy vượt qua được hoang địa ấy một cách an toàn, vô sự, và tài sản của người ấy không bị tổn thất chút nào. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Trước đây, ta có tài sản, có của cải, đã đi vào con đường dài nơi hoang địa. Nay ta đã vượt qua hoang địa ấy một cách an toàn, vô sự, và tài sản của ta không bị tổn thất chút nào.’ Do nhân duyên ấy, người ấy có được sự hân hoan, đạt được sự hoan hỷ.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu yathā iṇaṁ yathā rogaṁ yathā bandhanāgāraṁ yathā dāsabyaṁ yathā kantāraddhānamaggaṁ, ime pañca nīvaraṇe appahīne attani samanupassati. Seyyathāpi, bhikkhave, āṇaṇyaṁ yathā ārogyaṁ yathā bandhanāmokkhaṁ yathā bhujissaṁ yathā khemantabhūmiṁ; evameva bhikkhu ime pañca nīvaraṇe pahīne attani samanupassati.
In the same way, as long as these five hindrances are not given up inside themselves, a mendicant regards them as a debt, a disease, a prison, slavery, and a desert crossing. But when these five hindrances are given up inside themselves, a mendicant regards this as freedom from debt, good health, release from prison, emancipation, and a place of sanctuary at last.
Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu quán xét năm triền cái này chưa được đoạn trừ nơi tự thân như là món nợ, như là bệnh tật, như là nhà tù, như là thân phận nô lệ, như là con đường dài nơi hoang địa. Này các Tỳ khưu, ví như sự không mắc nợ, như sự không bệnh tật, như sự giải thoát khỏi ngục tù, như sự tự do, như vùng đất an ổn; cũng vậy, vị Tỳ khưu quán xét năm triền cái này đã được đoạn trừ nơi tự thân.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi, savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho nhāpako vā nhāpakantevāsī vā kaṁsathāle nhānīyacuṇṇāni ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ sanneyya. Sāyaṁ nhānīyapiṇḍi snehānugatā snehaparetā santarabāhirā, phuṭā snehena na ca pagghariṇī.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. They drench, steep, fill, and spread themselves with rapture and bliss born of seclusion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of seclusion. It’s like when a deft bathroom attendant or their apprentice pours bath powder into a bronze dish, sprinkling it little by little with water. They knead it until the ball of bath powder is soaked and saturated with moisture, spread through inside and out; yet no moisture oozes out.
In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with rapture and bliss born of seclusion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of seclusion.
427. Vị ấy, sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, liền ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy chính thân này với hỷ lạc do ly dục sanh; không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được hỷ lạc do ly dục sanh thấm nhuần. Này các Tỳ khưu, ví như một người thợ tắm khéo léo hay đệ tử của người thợ tắm, rắc bột tắm vào trong thau đồng, rồi vẩy nước vào và nhào trộn. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần, bao bọc bởi chất ẩm, thấm khắp cả trong lẫn ngoài bởi chất ẩm, mà không chảy nhỏ giọt. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy chính thân này với hỷ lạc do ly dục sanh; không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được hỷ lạc do ly dục sanh thấm nhuần.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, udakarahado ubbhidodako. Tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na pacchimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṁ, devo ca na kālena kālaṁ sammādhāraṁ anuppaveccheyya. Atha kho tamhāva udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṁ sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya paripphareyya, nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena vārinā apphuṭaṁ assa.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. They drench, steep, fill, and spread themselves with rapture and bliss born of immersion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of immersion. It’s like a deep lake fed by spring water. There’s no inlet to the east, west, north, or south, and the heavens would not properly bestow showers from time to time. But the stream of cool water welling up in the lake drenches, steeps, fills, and spreads throughout the lake. There’s no part of the lake that’s not spread through with cool water.
In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with rapture and bliss born of immersion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of immersion.
428. Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu làm cho tầm và tứ tịnh chỉ, chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái nội tĩnh, nhất tâm, không tầm, không tứ, với hỷ và lạc do định sanh. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy chính thân này với hỷ lạc do định sanh; không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được hỷ lạc do định sanh thấm nhuần. Này các Tỳ khưu, ví như một hồ nước sâu có nguồn nước trào lên từ bên dưới. Hồ ấy không có nguồn nước chảy vào từ phương đông, không có nguồn nước chảy vào từ phương tây, không có nguồn nước chảy vào từ phương bắc, không có nguồn nước chảy vào từ phương nam, và trời cũng không mưa đúng thời. Nhưng dòng nước mát từ chính hồ nước ấy trào lên, làm cho chính hồ nước ấy được thấm nhuần, tẩm ướt, sung mãn, tràn đầy bởi dòng nước mát; không có một chỗ nào của toàn bộ hồ nước ấy mà không được dòng nước mát thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy chính thân này với hỷ lạc do định sanh; không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được hỷ lạc do định sanh thấm nhuần.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā abhisannāni parisannāni paripūrāni paripphuṭāni, nāssa kiñci sabbāvataṁ uppalānaṁ vā padumānaṁ vā puṇḍarīkānaṁ vā sītena vārinā apphuṭaṁ assa.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ They drench, steep, fill, and spread themselves with bliss free of rapture. There’s no part of the body that’s not spread with bliss free of rapture. It’s like a pool with blue water lilies, or pink or white lotuses. Some of them sprout and grow in the water without rising above it, thriving underwater. From the tip to the root they’re drenched, steeped, filled, and soaked with cool water. There’s no part of them that’s not soaked with cool water.
In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with bliss free of rapture. There’s no part of the body that’s not spread with bliss free of rapture.
429. “Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu do ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ; không có chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà lạc thọ không có hỷ này không thấm đến. Này các tỳ khưu, ví như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có những hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng ngập trong nước; những hoa sen ấy từ chóp đến gốc đều được thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy bởi nước mát lạnh; không có chỗ nào trên toàn thể các hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng ấy mà không được nước mát lạnh thấm đến. Cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ; không có chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà lạc thọ không có hỷ này không thấm đến.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso odātena vatthena sasīsaṁ pārupetvā nisinno assa, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa odātena vatthena apphuṭaṁ assa.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. They sit spreading their body through with pure bright mind. There’s no part of the body that’s not spread with pure bright mind. It’s like someone sitting wrapped from head to foot with white cloth. There’s no part of the body that’s not spread over with white cloth.
In the same way, they sit spreading their body through with pure bright mind. There’s no part of the body that’s not spread with pure bright mind.
430. “Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu do xả lạc, xả khổ, và do hỷ ưu đã diệt từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy ngồi, dùng tâm thuần tịnh, trong sáng thấm nhuần thân này; không có chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà tâm thuần tịnh, trong sáng không thấm đến. Này các tỳ khưu, ví như một người ngồi, lấy tấm vải trắng trùm kín cả đầu; không có chỗ nào trên toàn thân của người ấy mà tấm vải trắng không trùm đến. Cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ngồi, dùng tâm thuần tịnh, trong sáng thấm nhuần thân này; không có chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà tâm thuần tịnh, trong sáng không thấm đến.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ, dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso sakamhā gāmā aññaṁ gāmaṁ gaccheyya, tamhāpi gāmā aññaṁ gāmaṁ gaccheyya, so tamhā gāmā sakaṁyeva gāmaṁ paccāgaccheyya. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho sakamhā gāmā amuṁ gāmaṁ agacchiṁ, tatrapi evaṁ aṭṭhāsiṁ evaṁ nisīdiṁ evaṁ abhāsiṁ evaṁ tuṇhī ahosiṁ; tamhāpi gāmā amuṁ gāmaṁ agacchiṁ, tatrapi evaṁ aṭṭhāsiṁ evaṁ nisīdiṁ evaṁ abhāsiṁ evaṁ tuṇhī ahosiṁ; somhi tamhā gāmā sakaṁyeva gāmaṁ paccāgato’ti.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives, with features and details. Suppose a person was to leave their home village and go to another village. From that village they’d go to yet another village. And from that village they’d return to their home village. They’d think: ‘I went from my home village to another village. There I stood like this, sat like that, spoke like this, or kept silent like that. From that village I went to yet another village. There too I stood like this, sat like that, spoke like this, or kept silent like that. And from that village I returned to my home village.’
In the same way, a mendicant recollects their many kinds of past lives, with features and details.
431. “Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời... cho đến... như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. Này các tỳ khưu, ví như một người đi từ làng mình đến một làng khác, rồi từ làng ấy lại đi đến một làng khác nữa, rồi từ làng ấy lại trở về làng của mình. Người ấy có thể nghĩ rằng: ‘Ta đã đi từ làng của ta đến làng kia. Ở đó, ta đã đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này. Từ làng ấy, ta đã đi đến làng nọ. Ở đó, ta cũng đã đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này. Rồi từ làng ấy, ta đã trở về làng của ta’. Cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời... cho đến... như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāti …pe… seyyathāpi, bhikkhave, dve agārā sadvārā. Tattha cakkhumā puriso majjhe ṭhito passeyya manusse gehaṁ pavisantepi nikkhamantepi, anucaṅkamantepi anuvicarantepi.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti …pe….
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds. Suppose there were two houses with doors. A person with clear eyes standing in between them would see humans entering and leaving a house and wandering to and fro.
In the same way, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
432. “Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến sanh tử minh. Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh chết đi, sanh lại, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy hiểu rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ... cho đến... Này các tỳ khưu, ví như có hai ngôi nhà có cửa. Ở đó, một người có mắt đứng ở giữa có thể thấy những người đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi tới đi lui, và qua lại. Cũng vậy, này các tỳ khưu, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh chết đi, sanh lại, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy hiểu rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ... cho đến...”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements.’ Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
433. “Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến lậu tận minh. Vị ấy như thật biết rõ: ‘Đây là khổ’. Vị ấy như thật biết rõ: ‘Đây là khổ tập’. Vị ấy như thật biết rõ: ‘Đây là khổ diệt’. Vị ấy như thật biết rõ: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’. Vị ấy như thật biết rõ: ‘Đây là các lậu hoặc’. Vị ấy như thật biết rõ: ‘Đây là lậu hoặc tập’. Vị ấy như thật biết rõ: ‘Đây là lậu hoặc diệt’. Vị ấy như thật biết rõ: ‘Đây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt’. Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm của vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu, giải thoát khỏi hữu lậu, giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’.”
Seyyathāpi, bhikkhave, pabbatasaṅkhepe udakarahado accho vippasanno anāvilo. Tattha cakkhumā puriso tīre ṭhito passeyya sippisambukampi sakkharakathalampi macchagumbampi, carantampi tiṭṭhantampi. Tassa evamassa: ‘ayaṁ kho udakarahado accho vippasanno anāvilo. Tatrime sippisambukāpi sakkharakathalāpi macchagumbāpi carantipi tiṭṭhantipī’ti’.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānāti.
Suppose that in a mountain glen there was a lake that was transparent, clear, and unclouded. A person with clear eyes standing on the bank would see the clams and mussels, pebbles and gravel, and schools of fish swimming about or staying still. They’d think: ‘This lake is transparent, clear, and unclouded. And here are the clams and mussels, pebbles and gravel, and schools of fish swimming about or staying still.’
In the same way, a mendicant truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ They understand: ‘… there is nothing further for this place.’
Này các Tỳ khưu, ví như ở khe núi có một hồ nước trong, trong vắt, không vẩn đục. Ở đấy, một người có mắt đứng trên bờ có thể thấy được cả vỏ sò, vỏ hến, cả sỏi đá, cả đàn cá, đang bơi lội hay đang đứng yên. Vị ấy có thể nghĩ rằng: ‘Hồ nước này trong, trong vắt, không vẩn đục. Ở đây có những vỏ sò, vỏ hến, sỏi đá, và đàn cá này đang bơi lội hay đang đứng yên’. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tuệ tri như thật: ‘Đây là Khổ’… cho đến… tuệ tri: ‘Không còn gì khác phải làm cho mục đích này nữa’.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu ‘samaṇo’ itipi ‘brāhmaṇo’itipi ‘nhātako’itipi ‘vedagū’itipi ‘sottiyo’itipi ‘ariyo’itipi ‘arahaṁ’itipi.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu samaṇo hoti? Samitāssa honti pāpakā akusalā dhammā, saṅkilesikā, ponobbhavikā, sadarā, dukkhavipākā, āyatiṁ, jātijarāmaraṇiyā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu samaṇo hoti.
This mendicant is one who is called an ‘ascetic’, a ‘brahmin’, a ‘bathed initiate’, a ‘knowledge master’, a ‘scholar’, a ‘noble one’, and also a ‘perfected one’.
And how is a mendicant an ascetic? They have assuaged the bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. That’s how a mendicant is an ascetic.
434. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là ‘Sa-môn’, cũng gọi là ‘Bà-la-môn’, cũng gọi là ‘người đã tắm rửa’, cũng gọi là ‘người thông đạt’, cũng gọi là ‘người thanh tịnh’, cũng gọi là ‘bậc Thánh’, cũng gọi là ‘A-la-hán’. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu trở thành Sa-môn? Đối với vị ấy, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã được làm cho lắng dịu. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu trở thành Sa-môn.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu brāhmaṇo hoti? Bāhitāssa honti pāpakā akusalā dhammā, saṅkilesikā, ponobbhavikā, sadarā, dukkhavipākā, āyatiṁ, jātijarāmaraṇiyā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu brāhmaṇo hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu nhātako hoti?
And how is a mendicant a brahmin? They have banished the bad, unskillful qualities. That’s how a mendicant is a brahmin.
And how is a mendicant a bathed initiate?
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu trở thành Bà-la-môn? Đối với vị ấy, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã được loại trừ. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu trở thành Bà-la-môn.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu trở thành người đã tắm rửa? Đối với vị ấy, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã được gột rửa. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu trở thành người đã tắm rửa.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu vedagū hoti? Viditāssa honti pāpakā akusalā dhammā, saṅkilesikā, ponobbhavikā, sadarā, dukkhavipākā, āyatiṁ, jātijarāmaraṇiyā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu vedagū hoti.
And how is a mendicant a knowledge master? They have known the bad, unskillful qualities. That’s how a mendicant is a knowledge master.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu trở thành người thông đạt? Đối với vị ấy, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã được liễu tri. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu trở thành người thông đạt.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sottiyo hoti? Nissutāssa honti pāpakā akusalā dhammā, saṅkilesikā, ponobbhavikā, sadarā, dukkhavipākā, āyatiṁ, jātijarāmaraṇiyā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sottiyo hoti.
And how is a mendicant a scholar? They have scoured off the bad, unskillful qualities. That’s how a mendicant is a scholar.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu trở thành người thanh tịnh? Đối với vị ấy, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã được loại bỏ. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu trở thành người thanh tịnh.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ariyo hoti? Ārakāssa honti pāpakā akusalā dhammā, saṅkilesikā, ponobbhavikā, sadarā, dukkhavipākā, āyatiṁ, jātijarāmaraṇiyā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ariyo hoti.
And how is a mendicant a noble one? They have nobbled their foes, the bad, unskillful qualities. That’s how a mendicant is a noble one.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu trở thành bậc Thánh? Đối với vị ấy, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã ở xa. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu trở thành bậc Thánh.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ hoti? Ārakāssa honti pāpakā akusalā dhammā, saṅkilesikā, ponobbhavikā, sadarā, dukkhavipākā, āyatiṁ, jātijarāmaraṇiyā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ hotī”ti.
And how is a mendicant a perfected one? They are impeccably remote from the bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. That’s how a mendicant is a perfected one.”
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu trở thành A-la-hán? Đối với vị ấy, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã ở xa. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu trở thành A-la-hán.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã thuyết giảng điều này. Các Tỳ khưu ấy, với tâm hoan hỷ, đã tán thưởng lời dạy của Đức Thế Tôn.
Mahāassapurasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Đại Assapura, phẩm thứ chín, kết thúc.