- Majjhima Nikāya 41
Sāleyyakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sāleyyakasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn đang du hành trong nước Kosala (Kiều tất la) cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Sāla.
SC 2Các gia chủ Bà-la-môn ở Sāla nghe rằng: “Người ta nói Sa-môn Gotama, là Thích Tử, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành trong nước Kosala với Ðại chúng Tỷ-kheo, và đã đến Sa-la. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Lành thay, nếu được yết kiến một A-la-hán như vậy!”
SC 3Rồi các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên những lời chào đón, thân hữu xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số chấp tay vái Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên tên họ của mình trước mặt Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên.
SC 4Sau khi ngồi xuống một bên, các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la bạch Thế Tôn
SC 5—Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục? Này Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này?
SC 6—Này các Gia chủ, do nhân hành phi pháp, hành phi pháp chánh đạo, này các Gia chủ, mà như vậy, ở đây có một số loài hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các Gia chủ, mà như vậy, ở đây có một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này.
SC 7—Chúng con không thể hiểu đầy đủ những gì Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt nếu không được giải thích rộng rãi. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng con để chúng con có thể hiểu đầy đủ những gì Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt!
SC 8—Như vậy, này các Gia chủ, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 9Các vị gia chủ Bà-la-môn, ở Sa-la vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 10—Này các Gia chủ, có ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo, có ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo. Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu tình. Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh đối với các dục lạc, giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo.
SC 11Này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì Ông biết”; dầu cho người ấy không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy, lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia, nói đễ sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo.
SC 12Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!” Lại có người có tâm sân, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại!” Lại có người có tà kiến, có tưởng điên đảo như: “Không có bố thí, không có kết quả của bố thí, không có tế lễ, không có cúng dường, các hành vi thiện ác, không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chính hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”. Như vậy, này các Gia chủ, là ba ý hành phi pháp, phi chánh đạo. Như vậy do nhân hành phi pháp, hành phi chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 13Này các Gia chủ, có ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo, có bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo, có ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành đúng pháp, đúng thánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình; từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy; từ bỏ sống theo tà hạnh đối với các dục, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
SC 14Và này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì Ông biết”, nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết”; nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy, lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia; như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói nhu hòa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy. Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, người ấy nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
SC 15Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người không có tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác, không nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!” Lại có người không có tâm sân, không có khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân!” Người ấy có chánh kiến, không có tưởng điên đảo, nghĩ rằng: “Có bố thí, có kết quả của bố thí, có tế lễ, có cúng dường, các hành vi thiện ác có kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời, có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”. Như vậy, này các Gia chủ, có ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo. Như vậy, do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này.
SC 16Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh vào đại phú gia, vương tộc Sát-đế-lị!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào đại phú gia, vương tộc Sát-đế-lị. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
SC 17Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh vào đại phú gia Bà-la-môn … đại phú gia gia chủ!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào đại phú gia gia chủ. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo. Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh thân hữu với chư thiên Tứ thiên vương … với chư thiên cõi trời Ba mươi ba … với chư thiên Dạ ma … với chư thiên Ðâu-suất-đà … với chư thiên Hóa lạc … với chư thiên Tha hóa tự tại … với chư thiên Phạm chúng … với chư thiên Quang thiên … với chư thiên Thiểu Quang thiên … với chư thiên Vô lượng quang thiên … với chư thiên Quang âm thiên … với chư thiên Tịnh thiên … với chư thiên Thiểu tịnh thiên … với chư thiên Vô lượng tịnh thiên … với chư thiên Biến tịnh thiên … với chư thiên Quảng quả thiên … với chư thiên Vô phiền thiên … với chư thiên Vô nhiệt thiên … với chư thiên Thiện hiện thiên … với chư thiên Thiện kiến thiên … với chư thiên Sắc cứu kính thiên … với chư thiên Hư không vô biên xứ thiên … với chư thiên Thức Vô biên xứ thiên … với chư thiên Vô sở hữu xứ thiên … với chư thiên Phi tưởng Phi phi tưởng xứ thiên!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh thân hữu với chư thiên Phi tưởng Phi phi tưởng xứ thiên. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
SC 18Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng, với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí, ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
SC 19Khi nghe nói vậy, các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la bạch Thế Tôn
SC 20—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vị diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện để trình bày. Và nay chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng, mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Sāleyyaka
Assosuṁ kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā: “samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ sālaṁ anuppatto. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ; kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
The brahmins and householders of Sālā heard, “It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—while wandering in the land of the Kosalans has arrived at Sālā, together with a large Saṅgha of mendicants. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. He reveals an entirely full and pure spiritual life. It’s good to see such perfected ones.”
439. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, Ngài đã đi đến một làng Bà-la-môn của xứ Kosala tên là Sālā. Các Bà-la-môn gia chủ ở Sālā đã nghe rằng: "Thưa quý vị, Sa-môn Gotama, là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đến Sālā. Tiếng đồn tốt đẹp như sau đã được lan truyền về Tôn giả Gotama: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài người và chư Thiên. Ngài thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ngài tuyên dương phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.’ Thật tốt lành thay, được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy."
Atha kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena m’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti? Ko pana, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena m’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjantī”ti?
Then the brahmins and householders of Sālā went up to the Buddha. Before sitting down to one side, some bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent. Seated to one side they said to the Buddha:
“What is the cause, worthy Gotama, what is the reason why some sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell? And what is the cause, worthy Gotama, what is the reason why some sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a good place, a heavenly realm?”
Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Sālā đi đến nơi Thế Tôn. Sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lời chào hỏi thân hữu với Thế Tôn, sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện đáng ghi nhớ, rồi ngồi xuống một bên; một số chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số xưng tên và dòng họ trước mặt Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Bà-la-môn gia chủ ở Sālā bạch với Thế Tôn rằng: "Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, mà ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, lại sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục? Và thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, mà ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, lại sanh vào thiện thú, thiên giới?"
“Adhammacariyāvisamacariyāhetu kho, gahapatayo, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti. Dhammacariyāsamacariyāhetu kho, gahapatayo, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjantī”ti.
“Unprincipled and immoral conduct is the reason why some sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. Principled and moral conduct is the reason why some sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a good place, a heavenly realm.”
"Này các gia chủ, chính do nhân hành phi pháp, hành không công bằng, mà ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, lại sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các gia chủ, chính do nhân hành đúng pháp, hành công bằng, mà ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, lại sanh vào thiện thú, thiên giới."
“Na kho mayaṁ imassa bhoto gotamassa saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, vitthārena atthaṁ ājānāma. Sādhu no bhavaṁ gotamo tathā dhammaṁ desetu, yathā mayaṁ imassa bhoto gotamassa saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, vitthārena atthaṁ ājāneyyāmā”ti.
“Tena hi, gahapatayo, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“We don’t understand the detailed meaning of the worthy Gotama’s brief statement. Worthy Gotama, please teach us this matter in detail so we can understand the meaning.”
“Well then, householders, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” they replied. The Buddha said this:
"Chúng con không hiểu được ý nghĩa chi tiết của lời dạy vắn tắt này của Tôn giả Gotama, mà ý nghĩa chưa được giải thích chi tiết. Lành thay, mong Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho chúng con theo cách mà chúng con có thể hiểu được ý nghĩa chi tiết của lời dạy vắn tắt này của Tôn giả Gotama, mà ý nghĩa chưa được giải thích chi tiết." "Vậy thì, này các gia chủ, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói." "Vâng, thưa Tôn giả," các Bà-la-môn gia chủ ở Sālā đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Tividhaṁ kho, gahapatayo, kāyena adhammacariyāvisamacariyā hoti, catubbidhaṁ vācāya adhammacariyāvisamacariyā hoti, tividhaṁ manasā adhammacariyāvisamacariyā hoti.
“Householders, unprincipled and immoral conduct is threefold by way of body, fourfold by way of speech, and threefold by way of mind.
440. "Này các gia chủ, có ba loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng thân, có bốn loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng lời nói, và có ba loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng ý."
Kathañca, gahapatayo, tividhaṁ kāyena adhammacariyāvisamacariyā hoti?
And how is unprincipled and immoral conduct threefold by way of body?
"Và này các gia chủ, thế nào là ba loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng thân? Ở đây, này các gia chủ, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay vấy máu, chuyên tâm vào việc đả thương và giết chóc, không có lòng từ bi đối với các loài hữu tình.
Adinnādāyī kho pana hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ, gāmagataṁ vā araññagataṁ vā, taṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti.
Kāmesumicchācārī kho pana hoti. Yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu cārittaṁ āpajjitā hoti. Evaṁ kho, gahapatayo, tividhaṁ kāyena adhammacariyāvisamacariyā hoti.
Kathañca, gahapatayo, catubbidhaṁ vācāya adhammacariyāvisamacariyā hoti? Idha, gahapatayo, ekacco musāvādī hoti. Sabhāgato vā parisāgato vā, ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā, abhinīto sakkhipuṭṭho: ‘ehambho purisa, yaṁ jānāsi taṁ vadehī’ti, so ajānaṁ vā āha: ‘jānāmī’ti, jānaṁ vā āha: na jānāmī’ti, ‘apassaṁ vā āha: ‘passāmī’ti, passaṁ vā āha: ‘na passāmī’ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā sampajānamusā bhāsitā hoti.
They steal. With the intention to commit theft, they take the wealth or belongings of others from village or wilderness.
They commit sexual misconduct. They have relations with women who have their mother, father, both mother and father, brother, sister, relatives, or clan as guardian. They have relations with a woman who is protected on principle, or who has a husband, or whose violation is punishable by law, or even one who has been garlanded as a token of betrothal. This is how unprincipled and immoral conduct is threefold by way of body.
And how is unprincipled and immoral conduct fourfold by way of speech? It’s when someone lies. They’re summoned to a council, an assembly, a family meeting, a guild, or to the royal court, and asked to bear witness: ‘Please, my friend, say what you know.’ Not knowing, they say ‘I know.’ Knowing, they say ‘I don’t know.’ Not seeing, they say ‘I see.’ And seeing, they say ‘I don’t see.’ So they deliberately lie for the sake of themselves or another, or for some trivial worldly reason.
‘Và này các gia chủ, thế nào là ba loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng thân? Ở đây, này các gia chủ, có người sát sanh, là người tàn nhẫn, tay vấy máu, chuyên tâm đả thương và sát hại, không có lòng từ bi đối với chúng sanh. Lại nữa, là người lấy của không cho. Bất cứ tài sản, vật dụng nào của người khác... vật ấy không được cho, người ấy lấy với ý định trộm cắp. Lại nữa, là người tà dâm trong các dục. Người ấy giao cấu với những người phụ nữ có mẹ che chở... với những người phụ nữ như vậy. Này các gia chủ, như vậy là có ba loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng thân.’
Pisuṇavāco kho pana hoti. Ito sutvā amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti samaggānaṁ vā bhettā, bhinnānaṁ vā anuppadātā, vaggārāmo vaggarato vagganandī vaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
Pharusavāco kho pana hoti. Yā sā vācā aṇḍakā kakkasā parakaṭukā parābhisajjanī kodhasāmantā asamādhisaṁvattanikā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
Samphappalāpī kho pana hoti. Akālavādī abhūtavādī anatthavādī adhammavādī avinayavādī. Anidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti akālena anapadesaṁ apariyantavatiṁ anatthasaṁhitaṁ. Evaṁ kho, gahapatayo, catubbidhaṁ vācāya adhammacariyāvisamacariyā hoti.
Kathañca, gahapatayo, tividhaṁ manasā adhammacariyāvisamacariyā hoti? Idha, gahapatayo, ekacco abhijjhālu hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ taṁ abhijjhātā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mamassā’ti.
They backbite. They repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. And so they divide those who are harmonious, supporting division, delighting in division, loving division, speaking words that promote division.
They speak harshly. They use the kinds of words that are cruel, nasty, hurtful, offensive, bordering on anger, not leading to immersion.
They talk nonsense. Their speech is untimely, and is neither factual nor beneficial. It has nothing to do with the teaching or the training. Their words have no value, and are untimely, unreasonable, rambling, and pointless. This is how unprincipled and immoral conduct is fourfold by way of speech.
And how is unprincipled and immoral conduct threefold by way of mind? It’s when someone is covetous. They covet the wealth and belongings of others: ‘Oh, if only their belongings were mine!’
‘Và này các gia chủ, thế nào là bốn loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng lời nói? Ở đây, này các gia chủ, có người nói dối. Khi đến giữa hội chúng... người ấy cố ý nói lời dối trá. Lại nữa, là người nói lời đâm thọc. Nghe điều gì ở đây, người ấy đi nói ở nơi kia... người ấy nói lời gây chia rẽ. Lại nữa, là người nói lời thô ác. Lời nói nào gai góc, khắc nghiệt... người ấy nói lời như vậy. Lại nữa, là người nói lời vô ích. Người ấy nói phi thời... không có giới hạn, không liên quan đến lợi ích. Này các gia chủ, như vậy là có bốn loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng lời nói.’
Byāpannacitto kho pana hoti paduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā haññantu vā vajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā vā ahesun’ti.
Micchādiṭṭhiko kho pana hoti viparītadassano: ‘natthi dinnaṁ natthi yiṭṭhaṁ natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko natthi paro loko, natthi mātā natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. Evaṁ kho, gahapatayo, tividhaṁ manasā adhammacariyāvisamacariyā hoti.
They have ill will and malicious intentions: ‘May these sentient beings be killed, slaughtered, slain, destroyed, or annihilated!’
They have wrong view. Their perspective is distorted: ‘There’s no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.’ This is how unprincipled and immoral conduct is threefold by way of mind.
‘Và này các gia chủ, thế nào là ba loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng ý? Ở đây, này các gia chủ, có người tham lam... ‘Mong rằng vật ấy là của ta.’ Lại nữa, là người có tâm sân hận, có ý định xấu xa: ‘Mong rằng các chúng sanh này bị giết hại... hoặc mong rằng chúng đừng tồn tại.’ Lại nữa, là người có tà kiến, có cái thấy sai lạc: ‘Không có quả báo của bố thí, không có quả báo của cúng dường... những người sau khi tự mình chứng ngộ đã tuyên thuyết.’ Này các gia chủ, như vậy là có ba loại hành phi pháp, hành không công bằng bằng ý.’
Evaṁ adhammacariyāvisamacariyāhetu kho, gahapatayo, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti.
That’s how unprincipled and immoral conduct is the reason why some sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
‘Này các gia chủ, như vậy, do nhân hành phi pháp, hành không công bằng mà ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’
Tividhaṁ kho, gahapatayo, kāyena dhammacariyāsamacariyā hoti, catubbidhaṁ vācāya dhammacariyāsamacariyā hoti, tividhaṁ manasā dhammacariyāsamacariyā hoti.
Kathañca, gahapatayo, tividhaṁ kāyena dhammacariyāsamacariyā hoti?
Householders, principled and moral conduct is threefold by way of body, fourfold by way of speech, and threefold by way of mind.
And how is principled and moral conduct threefold by way of body?
446. Này các gia chủ, có ba cách để một người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn về thân; có bốn cách để một người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn về lời nói; có ba cách để một người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn về ý.
Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ, gāmagataṁ vā araññagataṁ vā, taṁ nādinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti.
Kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭivirato hoti. Yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu na cārittaṁ āpajjitā hoti. Evaṁ kho, gahapatayo, tividhaṁ kāyena dhammacariyāsamacariyā hoti.
Kathañca, gahapatayo, catubbidhaṁ vācāya dhammacariyāsamacariyā hoti?
They give up stealing. They don’t, with the intention to commit theft, take the wealth or belongings of others from village or wilderness.
They give up sexual misconduct. They don’t have relations with women who have their mother, father, both mother and father, brother, sister, relatives, or clan as guardian. They don’t have relations with a woman who is protected on principle, or who has a husband, or whose violation is punishable by law, or even one who has been garlanded as a token of betrothal. This is how principled and moral conduct is threefold by way of body.
And how is principled and moral conduct fourfold by way of speech?
Này các gia chủ, thế nào là có ba cách để một người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn về thân? Này các gia chủ, ở đây, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã bỏ trượng, đã bỏ đao, có lòng tàm, có lòng bi, sống với lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, những gì là của người khác… vị ấy không lấy của không cho với tâm trộm cắp. Vị ấy từ bỏ tà hạnh trong các dục… không có hành vi sai trái với những người phụ nữ như vậy. Này các gia chủ, như vậy là có ba cách để một người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn về thân.
Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā, sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā—tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti. Kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ. Evaṁ kho, gahapatayo, catubbidhaṁ vācāya dhammacariyāsamacariyā hoti.
Kathañca, gahapatayo, tividhaṁ manasā dhammacariyāsamacariyā hoti?
They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony.
They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, likable, and agreeable to the people.
They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial. This is how principled and moral conduct is fourfold by way of speech.
And how is principled and moral conduct threefold by way of mind?
Này các gia chủ, thế nào là có bốn cách để một người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn về lời nói? Này các gia chủ, ở đây, có người từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối. Dù ở giữa hội chúng... v.v... vị ấy không cố ý nói dối. Vị ấy từ bỏ lời nói chia rẽ... nói lời hòa hợp. Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác... nói lời nói như vậy (tức là lời nói nhu hòa). Vị ấy từ bỏ lời nói vô ích... nói lời đúng thời, có cơ sở, có giới hạn, hợp với mục đích. Này các gia chủ, như vậy là có bốn cách để một người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn về lời nói.
Abyāpannacitto kho pana hoti appaduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā averā abyābajjhā anīghā sukhī attānaṁ pariharantū’ti.
Sammādiṭṭhiko kho pana hoti aviparītadassano: ‘atthi dinnaṁ atthi yiṭṭhaṁ atthi hutaṁ, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko atthi paro loko, atthi mātā atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. Evaṁ kho, gahapatayo, tividhaṁ manasā dhammacariyāsamacariyā hoti.
They have a kind heart and loving intentions: ‘May these sentient beings live free of enmity and ill will, untroubled and happy!’
They have right view, an undistorted perspective: ‘There is meaning in giving, sacrifice, and offerings. There are fruits and results of good and bad deeds. There is an afterlife. There are such things as mother and father, and beings that are reborn spontaneously. And there are ascetics and brahmins who are rightly comported and rightly practiced, and who describe the afterlife after realizing it with their own insight.’ This is how principled and moral conduct is threefold by way of mind.
Này các gia chủ, thế nào là có ba cách để một người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn về ý? Này các gia chủ, ở đây, có người không tham lam. Vị ấy không tham muốn tài sản và vật dụng của người khác, nghĩ rằng: ‘Ôi, mong rằng những gì của người khác sẽ là của ta!’ Vị ấy có tâm không sân hận, có ý định không ác ý: ‘Mong rằng các chúng sanh này không có oán thù, không có phiền não, không có khổ đau, được sống an lạc!’ Vị ấy có chánh kiến, có tri kiến không sai lạc: ‘Có bố thí, có cúng dường... tự mình chứng ngộ với thắng trí rồi tuyên thuyết.’ Này các gia chủ, như vậy là có ba cách để một người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn về ý.
Evaṁ dhammacariyāsamacariyāhetu kho, gahapatayo, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
This is how principled and moral conduct is the reason why some sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a good place, a heavenly realm.
Này các gia chủ, do nhân duyên thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn như vậy, một số chúng sanh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi lành, cõi trời.
Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā khattiyamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā khattiyamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī.
Someone of principled and moral conduct might wish: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of well-to-do aristocrats!’ It’s possible that this might happen. Why is that? Because they have principled and moral conduct.
447. Này các gia chủ, nếu người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn, mong muốn rằng: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn với các vị Sát-đế-lỵ đại phú!’; thì có khả năng này, rằng vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn với các vị Sát-đế-lỵ đại phú. Vì sao vậy? Vì vị ấy là người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn.
Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brāhmaṇamahāsālānaṁ …pe… gahapatimahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gahapatimahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī. Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī:
Someone of principled and moral conduct might wish: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of well-to-do brahmins … well-to-do householders …
Này các gia chủ, nếu người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn, mong muốn rằng: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn với các vị Bà-la-môn đại phú, các vị gia chủ đại phú!’; thì có khả năng này, rằng vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn với các vị gia chủ đại phú. Vì sao vậy? Vì vị ấy là người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn.
Này các gia chủ, nếu người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn, mong muốn rằng: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn với chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba... chư thiên ở cõi Dạ Ma... chư thiên ở cõi Đâu Suất... chư thiên ở cõi Hóa Lạc... chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại... chư thiên ở cõi Phạm Chúng!’; thì có khả năng này, rằng vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn với chư thiên ở cõi Phạm Chúng. Vì sao vậy? Vì vị ấy là người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn.
Này các gia chủ, nếu người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn, mong muốn rằng: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn với chư thiên ở cõi Quang Âm!’; thì có khả năng này, rằng vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn với chư thiên ở cõi Quang Âm. Vì sao vậy? Vì vị ấy là người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn.
Này các gia chủ, nếu người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn, mong muốn rằng: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn với chư thiên ở cõi Thiểu Quang... v.v... chư thiên ở cõi Vô Lượng Quang... chư thiên ở cõi Quang Âm... chư thiên ở cõi Thiểu Tịnh... chư thiên ở cõi Vô Lượng Tịnh... chư thiên ở cõi Biến Tịnh... chư thiên ở cõi Quảng Quả... chư thiên ở cõi Vô Phiền... chư thiên ở cõi Vô Nhiệt... chư thiên ở cõi Thiện Kiến... chư thiên ở cõi Thiện Hiện... chư thiên ở cõi Sắc Cứu Cánh... chư thiên sanh vào cõi Không Vô Biên Xứ... chư thiên sanh vào cõi Thức Vô Biên Xứ... chư thiên sanh vào cõi Vô Sở Hữu Xứ... chư thiên sanh vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ!’; thì có khả năng này, rằng vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn với chư thiên sanh vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Vì vị ấy là người thực hành Chánh pháp, thực hành đúng đắn.
Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī”ti.
Someone of principled and moral conduct might wish: ‘If only I might realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.’ It’s possible that this might happen. Why is that? Because they have principled and moral conduct.”
Này các gia chủ, nếu người thực hành đúng Pháp, thực hành chánh trực, có mong muốn rằng: ‘Mong sao ta, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát!’; thì trường hợp này có thể xảy ra, rằng vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vì sao vậy? Vì vị ấy thực hành đúng Pháp, thực hành chánh trực.
Evaṁ vutte, sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
When he had spoken, the brahmins and householders of Sālā said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
448. Khi được nói như vậy, các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Verañjā bạch với Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm cận sự nam, từ nay cho đến trọn đời đã quy y.’
Sāleyyakasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Verañjaka, kinh thứ hai, kết thúc.