- Majjhima Nikāya 38
Mahātaṇhāsaṅkhayasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahātaṇhāsaṅkhayasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.
SC 3Một số đông Tỷ-kheo nghe như sau: “Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: ‘Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác’”. Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá như sau
SC 4—Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.
SC 5—Thật sự là vậy, chư Hiền, theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.
SC 6Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận
SC 7—Hiền giả Sati, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên thì thức không hiện khởi.
SC 8Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, dù được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy.
SC 9—Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruổi, luân chuyển, nhưng không đổi khác.
SC 10Vì các Tỷ-kheo ấy không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con người đánh cá từ bỏ ác tà kiến ấy, nên các vị ấy đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 11—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruổi, luân chuyển, nhưng không đổi khác”. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe: “Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruổi, luân chuyển, nhưng không đổi khác” ”. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:
SC 12“—Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: ‘Theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác’”.
SC 13Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá nói với chúng con như sau:
SC 14“—Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.
SC 15Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận:
SC 16“—Hiền giả Sati chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên thì thức không hiện khởi.
SC 17“Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá dầu cho được chúng con cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy:
SC 18“—Thật sự là vậy, theo tôi hiểu, Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.
SC 19Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ý nghĩa này.”
SC 20Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo khác
SC 21—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá: “Hiền giả Sati, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.
SC 22—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 23Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, sau khi đến, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá
SC 24—Hiền giả Sati, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 25Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đang ngồi xuống một bên
SC 26—Này Sati, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác”?
SC 27—Thật sư là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.
SC 28—Này Sati, thế nào là thức ấy?
SC 29—Bạch Thế Tôn, chính thức ấy nói cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.
SC 30—Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi, không có duyên, thì thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.
SC 31Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 32—Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong Pháp, Luật này không?
SC 33—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể có được, không thể được, bạch Thế Tôn.
SC 34Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, im lặng, hổ người, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn sau khi biết được Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đang im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá
SC 35—Này kẻ mê mờ kia, người ta sẽ biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ-kheo.
SC 36Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 37—Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng giống như Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức?
SC 38—Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên, thức không hiện khởi.
SC 39—Lành thay, chư Tỷ-kheo, lành thay, chư Tỷ-kheo, các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy! Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi. Không có duyên, thức không hiện khởi. Nhưng Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, còn tự pháp hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ mê mờ ấy.
SC 40Này các Tỷ-kheo, do duyên mà thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên là tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức. Này các Tỷ-kheo, do duyên nào lửa sanh và lửa ấy có tên tùy theo duyên ấy: duyên củi, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa củi. Duyên vỏ gỗ bào, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa vỏ bào. Duyên cỏ, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa cỏ. Duyên phân bò, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa phân bò. Duyên trấu, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa trấu. Duyên đống rác, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa đống rác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên, thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên và tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh, và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức.
SC 41Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sanh vật này không?
SC 42—Bạch Thế Tôn, có thấy.
SC 43- -Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sự tác thành sanh vật do món ăn ấy không?
SC 44—Bạch Thế Tôn, có thấy.
SC 45—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy cũng bị đoạn diệt không?
SC 46—Bạch Thế Tôn, có thấy.
SC 47—Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Sanh vật này có thể không có mặt?
SC 48—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 49—Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?
SC 50—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 51—Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?
SC 52—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 53—Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sanh vật này có thể không có mặt?
SC 54—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 55—Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?
SC 56—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 57—Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?
SC 58—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 59—Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?
SC 60—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 61—Này các Tỷ-kheo, sự tác thành của món ăn ấy, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?
SC 62—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 63—Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?
SC 64—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 65—Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này) có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?
SC 66—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 67- Này các Tỷ-kheo, sự hiện hữu của sanh vật ấy là do các món ăn ấy tác thành, … này, có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?
SC 68—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 69—Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?
SC 70—Bạch Thế Tôn, có vậy.
SC 71—Này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông chấp trước, lấy làm hãnh diện, truy cầu, xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 72—Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông không chấp trước, không lấy làm hãnh diện, không truy cầu, không xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy?
—Bạch Thế Tôn, có.
SC 73—Này các Tỷ-kheo, có bốn món ăn giúp cho an trú các loài hữu tình đã sanh hay phò trợ các loài hữu tình sẽ sanh. Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô hoặc tế, thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư niệm thực, và thứ tư là thức thực.
SC 74Và này các Tỷ-kheo bốn món ăn này, lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Bốn món ăn này lấy ái làm nhân duyên, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm sanh chủng, lấy ái làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, ái này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Ái lấy thọ làm nhân duyên, lấy thọ làm tập khởi, lấy thọ làm sanh chủng, lấy thọ làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thọ này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Thọ lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm tập khởi, lấy xúc làm sanh chủng, lấy xúc làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, xúc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Xúc lấy sáu nhập làm nhân duyên, lấy sáu nhập làm tập khởi, lấy sáu nhập làm sanh chủng, lấy sáu nhập làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, sáu nhập này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Sáu nhập lấy danh sắc làm nhân duyên, lấy danh sắc làm tập khởi, lấy danh sắc làm sanh chủng, lấy danh sắc làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, danh sắc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Danh sắc lấy thức làm nhân duyên, lấy thức là tập khởi, lấy thức làm sanh chủng, lấy thức làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thức này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Thức lấy hành làm nhân duyên, lấy hành làm tập khởi, lấy hành làm sanh chủng, lấy hành làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, các hành này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Các hành lấy vô minh làm nhân duyên, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm sanh chủng, lấy vô minh làm nguyên nhân.
SC 75Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được hiện hữu. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
SC 76Trước đã nói: Sanh duyên già, chết (Do duyên sanh nên già, chết hiện khởi). Này các Tỷ-kheo, sanh duyên già, chết có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 77—Bạch Thế Tôn, sanh duyên già, chết. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sanh duyên già, chết.
SC 78—Trước đã nói: hữu duyên sanh. Này các Tỷ-kheo, hữu duyên sanh có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 79—Bạch Thế Tôn, hữu duyên sanh. Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hữu duyên sanh.
SC 80—Trước đã nói: Thủ duyên hữu. Này các Tỷ-kheo, thủ duyên hữu có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 81—Bạch Thế Tôn, thủ duyên hữu. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thủ duyên hữu.
SC 82—Trước đã nói: Ái duyên thủ. Này các Tỷ-kheo, ái duyên thủ có phải không? Hay ở đây, (nghĩa) như thế nào?
SC 83—Bạch Thế Tôn, ái duyên thủ. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Ái duyên thủ.
SC 84—Trước đã nói: Thọ duyên ái. Này các Tỷ-kheo, thọ duyên ái có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 85—Bạch Thế Tôn, thọ duyên ái. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thọ duyên ái.
SC 86- Trước đã nói: Xúc duyên thọ. Này các Tỷ-kheo, xúc duyên thọ có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 87—Bạch Thế Tôn, xúc duyên thọ. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Xúc duyên thọ.
SC 88—Trước đã nói: Sáu nhập duyên xúc. Này các Tỷ-kheo, sáu nhập duyên xúc có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 89—Bạch Thế Tôn, sáu nhập duyên xúc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sáu nhập duyên xúc.
SC 90—Trước đã nói: Danh sắc duyên sáu nhập. Này các Tỷ-kheo, danh sắc duyên sáu nhập có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 91—Bạch Thế Tôn, danh sắc duyên sáu nhập. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Danh sắc duyên sáu nhập.
SC 92—Trước đã nói: Thức duyên danh sắc. Này các Tỷ-kheo, thức duyên danh sắc có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 93—Bạch Thế Tôn, thức duyên danh sắc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thức duyên danh sắc.
SC 94—Trước đã nói: Hành duyên thức. Này các Tỷ-kheo, hành duyên thức có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 95—Bạch Thế Tôn, hành duyên thức. Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hành duyên thức.
SC 96—Trước đã nói: Vô minh duyên hành. Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 97—Bạch Thế Tôn, vô minh duyên hành. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Vô minh duyên hành.
SC 98—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: “Cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh”, như vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não cùng sanh khởi. Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
SC 99Do vô minh đoạn diệt, xả ly một cách hoàn toàn nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
SC 100Trước đã nói: Do sanh diệt nên già, chết diệt. Này các Tỷ-kheo, do sanh diệt nên già, chết diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 101—Bạch Thế Tôn, do sanh diệt nên già, chết diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do sanh diệt nên già, chết diệt.
SC 102—Trước đã nói: Do hữu diệt nên sanh diệt. Này các Tỷ-kheo, do hữu diệt nên sanh diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 103—Bạch Thế Tôn, do hữu diệt nên sanh diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do hữu diệt nên sanh diệt.
SC 104—Trước đã nói: Do thủ diệt nên hữu diệt. Này các Tỷ-kheo, do thủ diệt nên hữu diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 105—Bạch Thế Tôn, do thủ diệt nên hữu diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do thủ diệt nên hữu diệt.
SC 106—Trước đã nói: Do ái diệt nên thủ diệt. Này các Tỷ-kheo, do ái diệt nên thủ diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 107—Bạch Thế Tôn, do ái diệt nên thủ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do ái diệt nên thủ diệt.
SC 108—Trước đã nói: Do thọ diệt nên ái diệt. Này các Tỷ-kheo, do thọ diệt nên ái diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 109—Bạch Thế Tôn, do thọ diệt nên ái diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do thọ diệt nên ái diệt.
SC 110—Trước đã nói: Do xúc diệt nên thọ diệt. Này các Tỷ-kheo, do xúc diệt nên thọ diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 111—Bạch Thế Tôn, do xúc diệt nên thọ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do xúc diệt nên thọ diệt.
SC 112—Trước đã nói: Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Này các Tỷ-kheo, do sáu nhập diệt nên xúc diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 113—Bạch Thế Tôn, do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do sáu nhập diệt nên xúc diệt.
SC 114—Trước đã nói: Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Này các Tỷ-kheo, do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 115—Bạch Thế Tôn, do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt.
SC 116—Trước đã nói: Do thức diệt nên danh sắc diệt. Này các Tỷ-kheo, do thức diệt nên danh sắc diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 117—Bạch Thế Tôn, do thức diệt nên danh sắc diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do thức diệt nên danh sắc diệt.
SC 118—Trước đã nói: Do hành diệt nên thức diệt. Này các Tỷ-kheo, do hành diệt nên thức diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 119—Bạch Thế Tôn, do hành diệt nên thức diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do hành diệt nên thức diệt.
SC 120—Trước đã nói: Do vô minh diệt nên hành diệt. Này các Tỷ-kheo, do vô minh diệt nên hành diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?
SC 121—Bạch Thế Tôn, do vô minh diệt nên hành diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do vô minh diệt nên hành diệt.
SC 122- Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: “Cái này không có nên cái kia không có, cái này diệt nên cái kia diệt”, như vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên sáu nhập diệt, sáu nhập diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt, sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
SC 123Này các Tỷ-kheo, các Ông nên biết như vậy, thấy như vậy, có còn chạy theo thời quá khứ, và suy nghĩ: “Ta có mặt trong thời quá khứ hay không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta có mặt như thế nào trong thời quá khứ”?
SC 124—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 125—Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, có còn chạy theo thời vị lai, và suy nghĩ: “Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai”?
SC 126—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 127—Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nghi ngờ gì về mình trong thời hiện tại: “Ta có mặt hay ta không có mặt. Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt, hình vóc như thế nào? Hữu tình này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu”?
SC 128—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 129—Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: “Bậc Ðạo Sư được chúng ta tôn trọng. Chúng ta nói vì chúng ta tôn trọng bậc Ðạo Sư”?
SC 130—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 131—Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: “Một Sa-môn nói với chúng tôi như vậy, các Sa-môn khác cũng nói như vậy, và còn chúng tôi không có nói như vậy”?
SC 132—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 133—Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có tìm một vị Ðạo Sư khác không?
SC 134—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 135—Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có trở lui lại các giới cấm, tế tự đàn tràng của các tục tử Sa-môn, Bà-la-môn và nghĩ rằng chúng là căn bản không?
SC 136—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 137—Này các Tỷ-kheo, có phải các Ông chỉ nói những gì các Ông tự biết, tự thấy, tự ý thức được?
SC 138—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 139—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được Ta giới thiệu Chánh Pháp, Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Này các Tỷ-kheo, Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Tất cả những gì đã nói là do duyên này mà nói.
SC 140Này các Tỷ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình: ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Và này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm có hiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình.
SC 141Rồi này các Tỷ-kheo, người mẹ trong chín hay mười tháng mang bào thai ấy, với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Rồi này các Tỷ-kheo, sau chín hay mười tháng, người mẹ sinh đẻ với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Khi đã sinh, người mẹ nuôi hài nhi ấy với máu của mình. Này các Tỷ-kheo, trong luật của bậc Thánh, sữa của bà mẹ được xem là máu.
SC 142Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ ấy, sau khi lớn lên, sau khi các căn đã thuần thục, chơi với những trò chơi dành cho các đứa trẻ, như với cái cày nhỏ, chơi khăn, chơi nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ đong bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ.
SC 143Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ sau khi lớn lên, sau khi các căn do mắt nhận thức, được thuần thục, thọ hưởng đầy đủ năm món dục lạc; các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức … Các hương do mũi nhận thức … Các vị do lưỡi nhận thức … Các xúc do thân cảm xúc; các xúc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục.
SC 144Khi thấy sắc bằng mắt, người đó tham ái đối với sắc đẹp, người đó ghét bỏ đối với sắc xấu, người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước thọ ấy. Vì tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy, nên dục sanh hỷ, có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy nên dục hỷ sanh. Có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
SC 145Khi người đó nghe tiếng với tai … khi người đó ngửi hương với mũi … khi người đó nếm vị với lưỡi … khi người đó cảm xúc với thân … khi người đó nhận thức pháp với ý, người đó tham ái đối với pháp tốt, ghét bỏ đối với pháp xấu. Người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không còn dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy. Vì người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy nên dục hỷ sanh. Có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
SC 146Ở đời, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên thuyết điều Như Lai đã chứng ngộ. Như Lai thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Như Lai truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh.
SC 147Người gia trưởng hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy. Sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng kính ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Sau một thời gian, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 148Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống thành tựu học pháp chánh hạnh, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, sống thanh tịnh, không có trộm cắp, từ bỏ tà hạnh, sống theo phạm hạnh, sống hạnh viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ.
SC 149Từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại đối với đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đến nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp, từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh Pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 150Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, trình diễn, từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thơm và các thời trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng bạc, từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái, từ bỏ nhận nô tỳ, gái và trai, từ bỏ nhận cừu và dê, từ bỏ nhận gia cầm và heo, từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai, từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán, từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường, từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo, từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 151Vị ấy biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Vị ấy nhờ thành tựu Thánh giới uẩn này nên hưởng được lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.
SC 152Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp; vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.
SC 153Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiểu tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác.
SC 154Vị ấy với sự thành tựu Thành giới uẩn này, với sự thành tựu Thánh hộ trì căn này, và với Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng, tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa, tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 155Sau khi từ bỏ năm triền cái làm ô nhiễm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm giác sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 156Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu, vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
SC 157Khi vị ấy nghe tiếng bằng tai … khi vị ngửi hương bằng mũi … Khi vị ấy nếm vị bằng lưỡi … Khi vị ấy cảm xúc bằng thân … Khi vị ấy nhận thức pháp bằng ý, vị ấy không tham ái đối với pháp tốt, không ghét bỏ đối với pháp xấu. Vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, vị ấy đoạn trừ (thuận nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
SC 158Này các Tỷ-kheo, các Ông hãy thọ trì ái tận giải thoát này, được Ta nói một cách tóm tắt, nhưng (phải nhớ là) Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đã bị mắc trong cái lưới lớn của ái, trong sự rối loạn của ái.
SC 159Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Đại Đoạn Tận Ái
Tena kho pana samayena sātissa nāma bhikkhuno kevaṭṭaputtassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti: “tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati anaññan”ti.
Assosuṁ kho sambahulā bhikkhū: “sātissa kira nāma bhikkhuno kevaṭṭaputtassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan’”ti. Atha kho te bhikkhū yena sāti bhikkhu kevaṭṭaputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ etadavocuṁ: “saccaṁ kira te, āvuso sāti, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan’”ti?
“Evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan”ti.
Atha kho te bhikkhū sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjanti samanugāhanti samanubhāsanti: “mā evaṁ, āvuso sāti, avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Anekapariyāyenāvuso sāti, paṭiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ vuttaṁ bhagavatā, aññatra paccayā natthi viññāṇassa sambhavo”ti.
Evampi kho sāti bhikkhu kevaṭṭaputto tehi bhikkhūhi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati: “evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati anaññan”ti.
Now at that time a mendicant named Sāti, the fisherman’s son, had the following harmful misconception: “As I understand the Buddha’s teaching, it is this very same consciousness that roams and transmigrates, not another.”
Several mendicants heard this rumour. They went up to Sāti and said to him, “Is it really true, Reverend Sāti, that you have such a harmful misconception: ‘As I understand the Buddha’s teaching, it is this very same consciousness that roams and transmigrates, not another’?”
“Indeed, reverends. As I understand the Buddha’s teaching, it is this very same consciousness that roams and transmigrates, not another.”
Then, wishing to dissuade Sāti from his view, the mendicants pursued, pressed, and grilled him, “Don’t say that, Sāti! Don’t misrepresent the Buddha, for misrepresentation of the Buddha is not good. And the Buddha would not say that. In many ways the Buddha has said that consciousness is dependently originated, that without a cause, consciousness does not come to be.”
But even though the mendicants pressed him in this way, Sāti obstinately stuck to his misconception and insisted on it.
396. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, tỳ khưu Sāti, con của người đánh cá, khởi lên tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, chính thức này đi đây đi đó, luân hồi, chứ không phải là một thức khác.” Nhiều vị tỳ khưu nghe rằng: “Tỳ khưu Sāti, con của người đánh cá, đã khởi lên tà kiến như sau: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, chính thức này đi đây đi đó, luân hồi, chứ không phải là một thức khác.’” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đi đến chỗ tỳ khưu Sāti, con của người đánh cá; sau khi đến, họ nói với tỳ khưu Sāti, con của người đánh cá, điều này: “Này hiền giả Sāti, có thật là hiền giả đã khởi lên tà kiến như sau: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, chính thức này đi đây đi đó, luân hồi, chứ không phải là một thức khác’ không?” “Thưa các hiền giả, đúng vậy, theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, chính thức này đi đây đi đó, luân hồi, chứ không phải là một thức khác.” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy, vì muốn tỳ khưu Sāti, con của người đánh cá, từ bỏ tà kiến ấy, nên đã gạn hỏi, tra hỏi, và chất vấn: “Này hiền giả Sāti, chớ có nói như vậy, chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không hề nói như vậy. Này hiền giả Sāti, bằng nhiều phương pháp, Thế Tôn đã nói rằng thức là do duyên sanh; ngoài các duyên ra, không có sự sanh khởi của thức.” Dù đã được các vị tỳ khưu ấy gạn hỏi, tra hỏi, và chất vấn như vậy, tỳ khưu Sāti, con của người đánh cá, vẫn khư khư cố chấp, bám chặt vào tà kiến ấy và nói rằng: “Thưa các hiền giả, đúng vậy, theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, chính thức này đi đây đi đó, luân hồi, chứ không phải là một thức khác.”
Yato kho te bhikkhū nāsakkhiṁsu sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha kho te bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “sātissa nāma, bhante, bhikkhuno kevaṭṭaputtassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan’ti. Assumha kho mayaṁ, bhante, sātissa kira nāma bhikkhuno kevaṭṭaputtassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, yena sāti bhikkhu kevaṭṭaputto tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ etadavocumha: ‘saccaṁ kira te, āvuso sāti, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: “tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan”’ti? Evaṁ vutte, bhante, sāti bhikkhu kevaṭṭaputto amhe etadavoca: ‘evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjimha samanugāhimha samanubhāsimha: ‘mā evaṁ, āvuso sāti, avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Anekapariyāyenāvuso sāti, paṭiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ vuttaṁ bhagavatā, aññatra paccayā natthi viññāṇassa sambhavo’ti. Evampi kho, bhante, sāti bhikkhu kevaṭṭaputto amhehi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmasā abhinivissa voharati: ‘evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan’ti. Yato kho mayaṁ, bhante, nāsakkhimha sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha mayaṁ etamatthaṁ bhagavato ārocemā”ti.
When they weren’t able to dissuade Sāti from his view, the mendicants went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
397. Khi ấy, các Tỳ kheo ấy không thể làm cho Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá, từ bỏ tà kiến xấu xa ấy, bấy giờ các Tỳ kheo ấy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỳ kheo ấy bạch với Thế Tôn như sau: – ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ kheo tên Sāti, con trai người đánh cá, đã khởi lên tà kiến xấu xa như sau: ‘Tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng rằng: chính thức này đi qua, luân chuyển, không phải cái khác.’ Bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe rằng Tỳ kheo tên Sāti, con trai người đánh cá, đã khởi lên tà kiến xấu xa như sau: ‘Tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng rằng: chính thức này đi qua, luân chuyển, không phải cái khác.’ Bấy giờ, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến chỗ Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá; sau khi đến, chúng con nói với Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá, như sau: ‘Này hiền giả Sāti, có thật hiền giả đã khởi lên tà kiến xấu xa như sau: ‘‘Tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng rằng: chính thức này đi qua, luân chuyển, không phải cái khác’’ chăng?’ Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá, đã nói với chúng con như sau: ‘Thưa các hiền giả, đúng vậy, tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng rằng: chính thức này đi qua, luân chuyển, không phải cái khác.’ Bấy giờ, bạch Thế Tôn, chúng con, với mong muốn làm cho Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá, từ bỏ tà kiến xấu xa ấy, đã gạn hỏi, tra hỏi, thẩm vấn: ‘Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn, vì xuyên tạc Thế Tôn là không tốt, và Thế Tôn đã không nói như vậy. Này hiền giả Sāti, bằng nhiều phương pháp, thức đã được Thế Tôn nói là duyên sinh, ngoài duyên ra, không có sự sinh khởi của thức.’ Bạch Thế Tôn, dù đã được chúng con gạn hỏi, tra hỏi, thẩm vấn như vậy, Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá, vẫn khăng khăng, cố chấp, bám chặt vào tà kiến xấu xa ấy và nói rằng: ‘Thưa các hiền giả, đúng vậy, tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng rằng: chính thức này đi qua, luân chuyển, không phải cái khác.’ Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá, từ bỏ tà kiến xấu xa ấy, nên chúng con trình báo việc này lên Thế Tôn.’
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi: “ehi tvaṁ bhikkhu, mama vacanena sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ āmantehi: ‘satthā taṁ, āvuso sāti, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yena sāti bhikkhu kevaṭṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ etadavoca: “satthā taṁ, āvuso sāti, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho sāti bhikkhu kevaṭṭaputto tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ bhagavā etadavoca: “saccaṁ kira te, sāti, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan’”ti?
“Evaṁ byā kho ahaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā tadevidaṁ viññāṇaṁ sandhāvati saṁsarati, anaññan”ti.
“Katamaṁ taṁ, sāti, viññāṇan”ti?
“Yvāyaṁ, bhante, vado vedeyyo tatra tatra kalyāṇapāpakānaṁ kammānaṁ vipākaṁ paṭisaṁvedetī”ti.
“Kassa nu kho nāma tvaṁ, moghapurisa, mayā evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāsi? Nanu mayā, moghapurisa, anekapariyāyena paṭiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ vuttaṁ, aññatra paccayā natthi viññāṇassa sambhavoti? Atha ca pana tvaṁ, moghapurisa, attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhasi, attānañca khaṇasi, bahuñca apuññaṁ pasavasi. Tañhi te, moghapurisa, bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell the mendicant Sāti that the Teacher summons him.”
“Yes, sir,” that monk replied. He went to Sāti and said to him, “Reverend Sāti, the Teacher summons you.”
“Yes, reverend,” Sāti replied. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him, “Is it really true, Sāti, that you have such a harmful misconception: ‘As I understand the Buddha’s teaching, it is this very same consciousness that roams and transmigrates, not another’?”
“Indeed, sir. As I understand the Buddha’s teaching, it is this very same consciousness that roams and transmigrates, not another.”
“Sāti, what is that consciousness?”
“Sir, he is the one who speaks, the one who knows, who experiences the results of good and bad deeds in all the different realms.”
“Futile man, who on earth have you ever known me to teach in that way? Haven’t I said in many ways that consciousness is dependently originated, that without a cause, consciousness does not come to be? But still you misrepresent me by your wrong grasp, harm yourself, and brim with much wickedness. This will be for your lasting harm and suffering.”
398. Bấy giờ, Thế Tôn gọi một Tỳ kheo: – ‘Này Tỳ kheo, hãy đi, nhân danh ta, hãy gọi Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá: ‘Hiền giả Sāti, Bậc Đạo Sư gọi hiền giả.’’ – ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Vị Tỳ kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá; sau khi đến, nói với Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá: – ‘Hiền giả Sāti, Bậc Đạo Sư gọi hiền giả.’ – ‘Vâng, thưa hiền giả.’ Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá, vâng lời vị Tỳ kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỳ kheo Sāti, con trai người đánh cá, đang ngồi một bên: – ‘Này Sāti, có thật ngươi đã khởi lên tà kiến xấu xa như sau: ‘Tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng rằng: chính thức này đi qua, luân chuyển, không phải cái khác’’ chăng?’ – ‘Bạch Thế Tôn, đúng vậy, con hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng rằng: chính thức này đi qua, luân chuyển, không phải cái khác.’ – ‘Này Sāti, thức ấy là gì?’ – ‘Bạch Thế Tôn, đó là cái nói, cái cảm thọ, cái trải nghiệm quả của các nghiệp thiện ác ở nơi này nơi kia.’ – ‘Này kẻ trống rỗng, ngươi biết ta đã giảng Pháp như vậy cho ai? Này kẻ trống rỗng, chẳng phải ta đã bằng nhiều phương pháp nói rằng thức là duyên sinh, ngoài duyên ra, không có sự sinh khởi của thức hay sao? Thế mà, này kẻ trống rỗng, ngươi lại do tự mình nắm giữ sai lầm mà xuyên tạc chúng ta, tự đào hố chôn mình, và tạo ra nhiều điều vô phước. Này kẻ trống rỗng, điều ấy sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho ngươi.’
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nāyaṁ sāti bhikkhu kevaṭṭaputto usmīkatopi imasmiṁ dhammavinaye”ti?
“Kiñhi siyā, bhante? No hetaṁ, bhante”ti. Evaṁ vutte, sāti bhikkhu kevaṭṭaputto tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Atha kho bhagavā sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā sātiṁ bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ etadavoca: “paññāyissasi kho tvaṁ, moghapurisa, etena sakena pāpakena diṭṭhigatena. Idhāhaṁ bhikkhū paṭipucchissāmī”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “tumhepi me, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha yathāyaṁ sāti bhikkhu kevaṭṭaputto attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhati, attānañca khaṇati, bahuñca apuññaṁ pasavatī”ti?
“No hetaṁ, bhante. Anekapariyāyena hi no, bhante, paṭiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ vuttaṁ bhagavatā, aññatra paccayā natthi viññāṇassa sambhavo”ti.
“Sādhu sādhu, bhikkhave. Sādhu kho me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha. Anekapariyāyena hi vo, bhikkhave, paṭiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ vuttaṁ mayā, aññatra paccayā natthi viññāṇassa sambhavo”ti. Atha ca panāyaṁ sāti bhikkhu kevaṭṭaputto attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhati, attānañca khaṇati, bahuñca apuññaṁ pasavati. Tañhi tassa moghapurisassa bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Then the Buddha said to the mendicants, “What do you think, mendicants? Has this mendicant Sāti kindled even a spark of ardor in this teaching and training?”
“How could that be, sir? No, sir.” When this was said, Sāti sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say.
Knowing this, the Buddha said, “Futile man, you will be known by your own harmful misconception. I’ll question the mendicants about this.”
Then the Buddha said to the mendicants, “Mendicants, do you understand my teachings as Sāti does, when he misrepresents me by his wrong grasp, harms himself, and brims with much wickedness?”
“No, sir. For in many ways the Buddha has told us that consciousness is dependently originated, that without a cause, consciousness does not come to be.”
“Good, good, mendicants! It’s good that you understand my teaching like this. For in many ways I have told you that consciousness is dependently originated, that without a cause, consciousness does not come to be. But still this Sāti misrepresents me by his wrong grasp, harms himself, and brims with much wickedness. This will be for his lasting harm and suffering.
399. Rồi Thế Tôn gọi các tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Tỳ khưu Sāti, con người đánh cá này, có được chút hơi ấm nào trong Pháp và Luật này không? – Bạch Thế Tôn, làm sao có được? Thưa không, bạch Thế Tôn. Khi được nói vậy, tỳ khưu Sāti, con người đánh cá, ngồi im lặng, bối rối, vai rũ xuống, mặt cúi gằm, trầm tư, không nói nên lời. Bấy giờ, Thế Tôn, biết tỳ khưu Sāti, con người đánh cá, đang ngồi im lặng, bối rối, vai rũ xuống, mặt cúi gằm, trầm tư, không nói nên lời, liền nói với tỳ khưu Sāti, con người đánh cá: – Này kẻ ngu kia, ngươi sẽ được biết đến bởi tà kiến của chính mình. Bây giờ Ta sẽ hỏi các tỳ khưu. Rồi Thế Tôn gọi các tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, các ông có hiểu Pháp do Ta thuyết giảng giống như cách tỳ khưu Sāti, con người đánh cá này, do tự mình nắm bắt sai lầm, vừa xuyên tạc chúng ta, vừa tự đào bới mình, và tạo ra nhiều điều vô phước không? – Thưa không, bạch Thế Tôn! Vì bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện nói với chúng con rằng thức là duyên sanh; ngoài duyên ra, không có sự sanh khởi của thức. – Lành thay, lành thay, này các tỳ khưu! Lành thay, này các tỳ khưu, các ông đã hiểu đúng Pháp do Ta thuyết giảng như vậy. Này các tỳ khưu, Ta đã dùng nhiều phương tiện nói với các ông rằng thức là duyên sanh; ngoài duyên ra, không có sự sanh khởi của thức. Tuy nhiên, tỳ khưu Sāti, con người đánh cá này, do tự mình nắm bắt sai lầm, vừa xuyên tạc chúng ta, vừa tự đào bới mình, và tạo ra nhiều điều vô phước. Điều đó sẽ dẫn đến sự bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ ngu kia.
“Yaṁ yadeva, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppajjati viññāṇaṁ, tena teneva viññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati. Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati viññāṇaṁ, cakkhuviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati; sotañca paṭicca sadde ca uppajjati viññāṇaṁ, sotaviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati; ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati viññāṇaṁ, ghānaviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati; jivhañca paṭicca rase ca uppajjati viññāṇaṁ, jivhāviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati; kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati viññāṇaṁ, kāyaviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati; manañca paṭicca dhamme ca uppajjati viññāṇaṁ, manoviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati.
Consciousness is reckoned according to the very same condition dependent upon which it arises. Consciousness that arises dependent on the eye and sights is reckoned as eye consciousness. Consciousness that arises dependent on the ear and sounds is reckoned as ear consciousness. Consciousness that arises dependent on the nose and smells is reckoned as nose consciousness. Consciousness that arises dependent on the tongue and tastes is reckoned as tongue consciousness. Consciousness that arises dependent on the body and touches is reckoned as body consciousness. Consciousness that arises dependent on the mind and ideas is reckoned as mind consciousness.
400. – Này các tỳ khưu, thức sanh khởi duyên theo nhân duyên nào thì được gọi tên theo nhân duyên ấy. Thức sanh khởi duyên con mắt và các sắc thì được gọi là nhãn thức; thức sanh khởi duyên lỗ tai và các tiếng thì được gọi là nhĩ thức; thức sanh khởi duyên lỗ mũi và các mùi thì được gọi là tỷ thức; thức sanh khởi duyên lưỡi và các vị thì được gọi là thiệt thức; thức sanh khởi duyên thân và các xúc thì được gọi là thân thức; thức sanh khởi duyên ý và các pháp thì được gọi là ý thức.
Seyyathāpi, bhikkhave, yaṁ yadeva paccayaṁ paṭicca aggi jalati tena teneva saṅkhyaṁ gacchati. Kaṭṭhañca paṭicca aggi jalati, kaṭṭhaggitveva saṅkhyaṁ gacchati; sakalikañca paṭicca aggi jalati, sakalikaggitveva saṅkhyaṁ gacchati; tiṇañca paṭicca aggi jalati, tiṇaggitveva saṅkhyaṁ gacchati; gomayañca paṭicca aggi jalati, gomayaggitveva saṅkhyaṁ gacchati; thusañca paṭicca aggi jalati, thusaggitveva saṅkhyaṁ gacchati; saṅkārañca paṭicca aggi jalati, saṅkāraggitveva saṅkhyaṁ gacchati.
Evameva kho, bhikkhave, yaṁ yadeva paccayaṁ paṭicca uppajjati viññāṇaṁ, tena teneva saṅkhyaṁ gacchati. Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati viññāṇaṁ, cakkhuviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati; sotañca paṭicca sadde ca uppajjati viññāṇaṁ, sotaviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati, ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati viññāṇaṁ, ghānaviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati, jivhañca paṭicca rase ca uppajjati viññāṇaṁ, jivhāviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati. Kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati viññāṇaṁ, kāyaviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati. Manañca paṭicca dhamme ca uppajjati viññāṇaṁ, manoviññāṇantveva saṅkhyaṁ gacchati.
It’s like fire, which is reckoned according to the very same condition dependent upon which it burns. A fire that burns dependent on logs is reckoned as a log fire. A fire that burns dependent on twigs is reckoned as a twig fire. A fire that burns dependent on grass is reckoned as a grass fire. A fire that burns dependent on cow-dung is reckoned as a cow-dung fire. A fire that burns dependent on husks is reckoned as a husk fire. A fire that burns dependent on rubbish is reckoned as a rubbish fire.
In the same way, consciousness is reckoned according to the very same condition dependent upon which it arises. …
– Này các tỳ khưu, ví như lửa cháy duyên theo nhân duyên nào thì được gọi tên theo nhân duyên ấy. Lửa cháy duyên củi thì được gọi là lửa củi; lửa cháy duyên mảnh gỗ thì được gọi là lửa mảnh gỗ; lửa cháy duyên cỏ thì được gọi là lửa cỏ; lửa cháy duyên phân bò thì được gọi là lửa phân bò; lửa cháy duyên trấu thì được gọi là lửa trấu; lửa cháy duyên rác thì được gọi là lửa rác. Cũng vậy, này các tỳ khưu, thức sanh khởi duyên theo nhân duyên nào thì được gọi tên theo nhân duyên ấy. Thức sanh khởi duyên con mắt và các sắc thì được gọi là nhãn thức; thức sanh khởi duyên lỗ tai và các tiếng thì được gọi là nhĩ thức; thức sanh khởi duyên lỗ mũi và các mùi thì được gọi là tỷ thức; thức sanh khởi duyên lưỡi và các vị thì được gọi là thiệt thức; thức sanh khởi duyên thân và các xúc thì được gọi là thân thức; thức sanh khởi duyên ý và các pháp thì được gọi là ý thức.
Bhūtamidanti, bhikkhave, passathā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
Mendicants, do you see that this has come to be?”
“Yes, sir.”
401. – Này các tỳ khưu, các ông có thấy: ‘Đây là cái đã được sanh thành’ không?
“Tadāhārasambhavanti, bhikkhave, passathā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Do you see that it came to be with that as fuel?”
“Yes, sir.”
– Này các tỳ khưu, các ông có thấy: ‘Nó sanh khởi từ vật thực ấy’ không?
“Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ, taṁ nirodhadhammanti, bhikkhave, passathā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Do you see that when that fuel ceases, what has come to be is liable to cease?”
“Yes, sir.”
– Này các tỳ khưu, các ông có thấy: ‘Do sự diệt tận của vật thực ấy, cái đã được sanh thành có pháp là bị diệt tận’ không?
“Bhūtamidaṁ nossūti, bhikkhave, kaṅkhato uppajjati vicikicchā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Does doubt arise when you’re uncertain whether or not this has come to be?”
“Yes, sir.”
– Này các tỳ khưu, đối với người có sự do dự: ‘Cái này đã được sanh thành hay chưa?’, nghi hoặc có sanh khởi không?
“Tadāhārasambhavaṁ nossūti, bhikkhave, kaṅkhato uppajjati vicikicchā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Does doubt arise when you’re uncertain whether or not this has come to be with that as fuel?”
“Yes, sir.”
– Này các tỳ khưu, đối với người có sự do dự: ‘Nó sanh khởi từ vật thực ấy hay chưa?’, nghi hoặc có sanh khởi không?
“Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ, taṁ nirodhadhammaṁ nossūti, bhikkhave, kaṅkhato uppajjati vicikicchā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Does doubt arise when you’re uncertain whether or not when that fuel ceases, what has come to be is liable to cease?”
“Yes, sir.”
– Này các tỳ khưu, đối với người có sự do dự: ‘Do sự diệt tận của vật thực ấy, cái đã được sanh thành có pháp là bị diệt tận hay không?’, nghi hoặc có sanh khởi không?
“Bhūtamidanti, bhikkhave, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā vicikicchā sā pahīyatī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Is doubt given up in someone who truly sees with right understanding that this has come to be?”
“Yes, sir.”
– Này các tỳ khưu, đối với người thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ: ‘Đây là cái đã được sanh thành’, nghi hoặc nào có mặt đều được đoạn tận phải không?
“Tadāhārasambhavanti, bhikkhave, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā vicikicchā sā pahīyatī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Is doubt given up in someone who truly sees with right understanding that this has come to be with that as fuel?”
“Yes, sir.”
– Này các tỳ khưu, đối với người thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ: ‘Nó sanh khởi từ vật thực ấy’, nghi hoặc nào có mặt đều được đoạn tận phải không?
“Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ, taṁ nirodhadhammanti, bhikkhave, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā vicikicchā sā pahīyatī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Is doubt given up in someone who truly sees with right understanding that when that fuel ceases, what has come to be is liable to cease?”
“Yes, sir.”
– Này các tỳ khưu, đối với người thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ: ‘Do sự diệt tận của vật thực ấy, cái đã được sanh thành có pháp là bị diệt tận’, nghi hoặc nào có mặt đều được đoạn tận phải không?
“Bhūtamidanti, bhikkhave, itipi vo ettha nibbicikicchā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Are you free of doubt as to whether this has come to be?”
“Yes, sir.”
Này các Tỳ khưu, các ngươi có hết hoài nghi về điều này: 'Cái này đã được sinh khởi' hay không?
“Tadāhārasambhavanti, bhikkhave, itipi vo ettha nibbicikicchā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Are you free of doubt as to whether this has come to be with that as fuel?”
“Yes, sir.”
Này các Tỳ khưu, các ngươi có hết hoài nghi về điều này: 'Nó được sinh khởi từ vật thực ấy' hay không?
“Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti, bhikkhave, itipi vo ettha nibbicikicchā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Are you free of doubt as to whether when that fuel ceases, what has come to be is liable to cease?”
“Yes, sir.”
Này các Tỳ khưu, các ngươi có hết hoài nghi về điều này: 'Do sự diệt tận của vật thực ấy, cái gì đã được sinh khởi thì có pháp chịu sự diệt tận' hay không?
“Bhūtamidanti, bhikkhave, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Have you truly seen clearly with right understanding that this has come to be?”
“Yes, sir.”
Này các Tỳ khưu, các ngươi có khéo thấy bằng chánh trí tuệ theo như thật về điều này: 'Cái này đã được sinh khởi' hay không?
“Tadāhārasambhavanti, bhikkhave, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Have you truly seen clearly with right understanding that this has come to be with that as fuel?”
“Yes, sir.”
Này các Tỳ khưu, các ngươi có khéo thấy bằng chánh trí tuệ theo như thật về điều này: 'Nó được sinh khởi từ vật thực ấy' hay không?
“Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti, bhikkhave, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Have you truly seen clearly with right understanding that when that fuel ceases, what has come to be is liable to cease?”
“Yes, sir.”
Này các Tỳ khưu, các ngươi có khéo thấy bằng chánh trí tuệ theo như thật về điều này: 'Do sự diệt tận của vật thực ấy, cái gì đã được sinh khởi thì có pháp chịu sự diệt tận' hay không?
“Imañce tumhe, bhikkhave, diṭṭhiṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ allīyetha kelāyetha dhanāyetha mamāyetha, api nu me tumhe, bhikkhave, kullūpamaṁ dhammaṁ desitaṁ ājāneyyātha nittharaṇatthāya no gahaṇatthāyā”ti?
“Pure and bright as this view is, mendicants, if you cling to it, dally with it, treasure it, and treat it as your own, would you be understanding my simile of the teaching as a raft: for crossing over, not for holding on?”
Này các Tỳ khưu, nếu các ngươi bám víu, vui thích, xem như của cải, xem như của ta đối với tri kiến trong sạch, thanh tịnh như thế này, thì này các Tỳ khưu, các ngươi có được xem là đã hiểu rõ giáo pháp ví như chiếc bè đã được ta thuyết giảng là để vượt qua, không phải để nắm giữ hay không?
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bạch Thế Tôn, không phải vậy.
“Imañce tumhe, bhikkhave, diṭṭhiṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ na allīyetha na kelāyetha na dhanāyetha na mamāyetha, api nu me tumhe, bhikkhave, kullūpamaṁ dhammaṁ desitaṁ ājāneyyātha nittharaṇatthāya no gahaṇatthāyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Pure and bright as this view is, mendicants, if you don’t cling to it, dally with it, treasure it, and treat it as your own, would you be understanding my simile of the teaching as a raft: for crossing over, not for holding on?”
“Yes, sir.”
Này các Tỳ khưu, nếu các ngươi không bám víu, không vui thích, không xem như của cải, không xem như của ta đối với tri kiến trong sạch, thanh tịnh như thế này, thì này các Tỳ khưu, các ngươi có được xem là đã hiểu rõ giáo pháp ví như chiếc bè đã được ta thuyết giảng là để vượt qua, không phải để nắm giữ hay không?
“Cattārome, bhikkhave, āhārā bhūtānaṁ vā sattānaṁ ṭhitiyā, sambhavesīnaṁ vā anuggahāya. Katame cattāro? Kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṁ catutthaṁ.
“Mendicants, these four fuels maintain sentient beings that have been born and help those about to be born. What four? Edible food, whether solid or subtle; contact is the second, mental intention the third, and consciousness the fourth.
402. Này các Tỳ khưu, có bốn loại vật thực này để duy trì các chúng sanh đã được sinh khởi hoặc để hỗ trợ các chúng sanh đang tìm cầu sự sinh khởi. Bốn loại nào? Đoàn thực, hoặc thô hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.
Ime ca, bhikkhave, cattāro āhārā kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā?
What is the source, origin, birthplace, and inception of these four fuels?
Này các Tỳ khưu, bốn loại vật thực này có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm sanh chủng, có cái gì làm nguồn gốc?
Bốn loại vật thực này có ái làm nhân duyên, có ái làm tập khởi, có ái làm sanh chủng, có ái làm nguồn gốc.
Taṇhā cāyaṁ, bhikkhave, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā?
And what is the source of craving?
Này các Tỳ khưu, và ái này có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm sanh chủng, có cái gì làm nguồn gốc?
Ái có thọ làm nhân duyên, có thọ làm tập khởi, có thọ làm sanh chủng, có thọ làm nguồn gốc.
Vedanā cāyaṁ, bhikkhave, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā?
And what is the source of feeling?
Này các Tỳ khưu, và thọ này có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm sanh chủng, có cái gì làm nguồn gốc?
Thọ có xúc làm nhân duyên, có xúc làm tập khởi, có xúc làm sanh chủng, có xúc làm nguồn gốc.
Phasso cāyaṁ, bhikkhave, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
And what is the source of contact?
Này các Tỳ khưu, và xúc này có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm sanh chủng, có cái gì làm nguồn gốc?
Xúc có sáu xứ làm nhân duyên, có sáu xứ làm tập khởi, có sáu xứ làm sanh chủng, có sáu xứ làm nguồn gốc.
Saḷāyatanañcidaṁ, bhikkhave, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ?
And what is the source of the six sense fields?
Này các Tỳ khưu, và sáu xứ này có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm sanh chủng, có cái gì làm nguồn gốc?
Sáu xứ có danh-sắc làm nhân duyên, có danh-sắc làm tập khởi, có danh-sắc làm sanh chủng, có danh-sắc làm nguồn gốc.
Nāmarūpañcidaṁ, bhikkhave, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ?
And what is the source of name and form?
Này các Tỳ khưu, và danh-sắc này có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm sanh chủng, có cái gì làm nguồn gốc?
Danh-sắc có thức làm nhân duyên, có thức làm tập khởi, có thức làm sanh chủng, có thức làm nguồn gốc.
Viññāṇañcidaṁ, bhikkhave, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ?
And what is the source of consciousness?
Này các Tỳ khưu, và thức này có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm sanh chủng, có cái gì làm nguồn gốc?
Thức có các hành làm nhân, có các hành làm tập khởi, có các hành làm nguồn gốc, có các hành làm phát sanh.
Saṅkhārā cime, bhikkhave, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā?
And what is the source of choices?
Này các Tỳ khưu, các hành này có gì làm nhân, có gì làm tập khởi, có gì làm nguồn gốc, có gì làm phát sanh?
Các hành có vô minh làm nhân, có vô minh làm tập khởi, có vô minh làm nguồn gốc, có vô minh làm phát sanh.
Iti kho, bhikkhave, avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṁ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
So, ignorance is a requirement for choices. Choices are a requirement for consciousness. Consciousness is a requirement for name and form. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Craving is a requirement for grasping. Grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
Này các Tỳ khưu, như vậy, do duyên vô minh nên có các hành, do duyên các hành nên có thức, do duyên thức nên có danh sắc, do duyên danh sắc nên có sáu xứ, do duyên sáu xứ nên có xúc, do duyên xúc nên có thọ, do duyên thọ nên có ái, do duyên ái nên có thủ, do duyên thủ nên có hữu, do duyên hữu nên có sanh, do duyên sanh nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.
Jātipaccayā jarāmaraṇanti iti kho panetaṁ vuttaṁ; jātipaccayā nu kho, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Jātipaccayā, bhante, jarāmaraṇaṁ; evaṁ no ettha hoti—jātipaccayā jarāmaraṇan”ti.
“Bhavapaccayā jātīti iti kho panetaṁ vuttaṁ; bhavapaccayā nu kho, bhikkhave, jāti, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Bhavapaccayā, bhante, jāti; evaṁ no ettha hoti—bhavapaccayā jātī”ti.
“Upādānapaccayā bhavoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; upādānapaccayā nu kho, bhikkhave, bhavo, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Upādānapaccayā, bhante, bhavo; evaṁ no ettha hoti—upādānapaccayā bhavo”ti.
“Taṇhāpaccayā upādānanti iti kho panetaṁ vuttaṁ, taṇhāpaccayā nu kho, bhikkhave, upādānaṁ, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Taṇhāpaccayā, bhante, upādānaṁ; evaṁ no ettha hoti—taṇhāpaccayā upādānan”ti.
“Vedanāpaccayā taṇhāti iti kho panetaṁ vuttaṁ; vedanāpaccayā nu kho, bhikkhave, taṇhā, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Vedanāpaccayā, bhante, taṇhā; evaṁ no ettha hoti—vedanāpaccayā taṇhā”ti.
“Phassapaccayā vedanāti iti kho panetaṁ vuttaṁ; phassapaccayā nu kho, bhikkhave, vedanā, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Phassapaccayā, bhante, vedanā; evaṁ no ettha hoti—phassapaccayā vedanā”ti.
“Saḷāyatanapaccayā phassoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; saḷāyatanapaccayā nu kho, bhikkhave, phasso, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Saḷāyatanapaccayā, bhante, phasso; evaṁ no ettha hoti—saḷāyatanapaccayā phasso”ti.
“Nāmarūpapaccayā saḷāyatananti iti kho panetaṁ vuttaṁ; nāmarūpapaccayā nu kho, bhikkhave, saḷāyatanaṁ, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Nāmarūpapaccayā, bhante, saḷāyatanaṁ; evaṁ no ettha hoti—nāmarūpapaccayā saḷāyatanan”ti.
“Viññāṇapaccayā nāmarūpanti iti kho panetaṁ vuttaṁ; viññāṇapaccayā nu kho, bhikkhave, nāmarūpaṁ, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Viññāṇapaccayā, bhante, nāmarūpaṁ; evaṁ no ettha hoti—viññāṇapaccayā nāmarūpan”ti.
“Saṅkhārapaccayā viññāṇanti iti kho panetaṁ vuttaṁ; saṅkhārapaccayā nu kho, bhikkhave, viññāṇaṁ, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Saṅkhārapaccayā, bhante, viññāṇaṁ; evaṁ no ettha hoti—saṅkhārapaccayā viññāṇan”ti.
“Avijjāpaccayā saṅkhārāti iti kho panetaṁ vuttaṁ; avijjāpaccayā nu kho, bhikkhave, saṅkhārā, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Avijjāpaccayā, bhante, saṅkhārā; evaṁ no ettha hoti—avijjāpaccayā saṅkhārā”ti.
‘Rebirth is a requirement for old age and death.’ That’s what I said. Is that how you see this or not?”
“That’s how we see it.”
“‘Continued existence is a requirement for rebirth.’ …
‘Ignorance is a requirement for choices.’ That’s what I said. Is that how you see this or not?”
“That’s how we see it.”
403. ‘Do duyên sanh nên có già chết,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên sanh nên có già chết hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên sanh nên có già chết; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên sanh nên có già chết.” “‘Do duyên hữu nên có sanh,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên hữu nên có sanh hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên hữu nên có sanh; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên hữu nên có sanh.” “‘Do duyên thủ nên có hữu,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên thủ nên có hữu hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên thủ nên có hữu; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên thủ nên có hữu.” “‘Do duyên ái nên có thủ,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên ái nên có thủ hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên ái nên có thủ; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên ái nên có thủ.” “‘Do duyên thọ nên có ái,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên thọ nên có ái hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên thọ nên có ái; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên thọ nên có ái.” “‘Do duyên xúc nên có thọ,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên xúc nên có thọ hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên xúc nên có thọ; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên xúc nên có thọ.” “‘Do duyên sáu xứ nên có xúc,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên sáu xứ nên có xúc hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên sáu xứ nên có xúc; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên sáu xứ nên có xúc.” “‘Do duyên danh sắc nên có sáu xứ,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên danh sắc nên có sáu xứ hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên danh sắc nên có sáu xứ; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên danh sắc nên có sáu xứ.” “‘Do duyên thức nên có danh sắc,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên thức nên có danh sắc hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên thức nên có danh sắc; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên thức nên có danh sắc.” “‘Do duyên các hành nên có thức,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên các hành nên có thức hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên các hành nên có thức; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên các hành nên có thức.” “‘Do duyên vô minh nên có các hành,’ điều này đã được nói như vậy. Này các Tỳ khưu, có phải do duyên vô minh nên có các hành hay không, hay là như thế nào ở đây?” “Bạch Thế Tôn, do duyên vô minh nên có các hành; đối với chúng con ở đây là như vầy: do duyên vô minh nên có các hành.”
“Sādhu, bhikkhave. Iti kho, bhikkhave, tumhepi evaṁ vadetha, ahampi evaṁ vadāmi—imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati, yadidaṁ—avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṁ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
“Good, mendicants! So both you and I say this. When this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. That is: Ignorance is a requirement for choices. Choices are a requirement for consciousness. Consciousness is a requirement for name and form. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Craving is a requirement for grasping. Grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
404. Lành thay, này các Tỳ khưu. Này các Tỳ khưu, như vậy, các ông cũng nói như thế, Ta cũng nói như thế: ‘Khi cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh.’ Tức là: do duyên vô minh nên có các hành, do duyên các hành nên có thức, do duyên thức nên có danh sắc, do duyên danh sắc nên có sáu xứ, do duyên sáu xứ nên có xúc, do duyên xúc nên có thọ, do duyên thọ nên có ái, do duyên ái nên có thủ, do duyên thủ nên có hữu, do duyên hữu nên có sanh, do duyên sanh nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. When consciousness ceases, name and form cease. When name and form cease, the six sense fields cease. When the six sense fields cease, contact ceases. When contact ceases, feeling ceases. When feeling ceases, craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.
Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn của chính vô minh ấy nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.
Jātinirodhā jarāmaraṇanirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; jātinirodhā nu kho, bhikkhave, jarāmaraṇanirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Jātinirodhā, bhante, jarāmaraṇanirodho; evaṁ no ettha hoti—jātinirodhā jarāmaraṇanirodho”ti.
“Bhavanirodhā jātinirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; bhavanirodhā nu kho, bhikkhave, jātinirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Bhavanirodhā, bhante, jātinirodho; evaṁ no ettha hoti—bhavanirodhā jātinirodho”ti.
“Upādānanirodhā bhavanirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; upādānanirodhā nu kho, bhikkhave, bhavanirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Upādānanirodhā, bhante, bhavanirodho; evaṁ no ettha hoti—upādānanirodhā bhavanirodho”ti.
“Taṇhānirodhā upādānanirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; taṇhānirodhā nu kho, bhikkhave, upādānanirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Taṇhānirodhā, bhante, upādānanirodho; evaṁ no ettha hoti—taṇhānirodhā upādānanirodho”ti.
“Vedanānirodhā taṇhānirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; vedanānirodhā nu kho, bhikkhave, taṇhānirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Vedanānirodhā, bhante, taṇhānirodho; evaṁ no ettha hoti—vedanānirodhā taṇhānirodho”ti.
“Phassanirodhā vedanānirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; phassanirodhā nu kho, bhikkhave, vedanānirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Phassanirodhā, bhante, vedanānirodho; evaṁ no ettha hoti—phassanirodhā vedanānirodho”ti.
“Saḷāyatananirodhā phassanirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; saḷāyatananirodhā nu kho, bhikkhave, phassanirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotīti? Saḷāyatananirodhā, bhante, phassanirodho; evaṁ no ettha hoti—saḷāyatananirodhā phassanirodho”ti.
“Nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; nāmarūpanirodhā nu kho, bhikkhave, saḷāyatananirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Nāmarūpanirodhā, bhante, saḷāyatananirodho; evaṁ no ettha hoti—nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho”ti. “Viññāṇanirodhā nāmarūpanirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; viññāṇanirodhā nu kho, bhikkhave, nāmarūpanirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Viññāṇanirodhā, bhante, nāmarūpanirodho; evaṁ no ettha hoti—viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho”ti. “Saṅkhāranirodhā viññāṇanirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; saṅkhāranirodhā nu kho, bhikkhave, viññāṇanirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti? “Saṅkhāranirodhā, bhante, viññāṇanirodho; evaṁ no ettha hoti—saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho”ti.
“Avijjānirodhā saṅkhāranirodhoti iti kho panetaṁ vuttaṁ; avijjānirodhā nu kho, bhikkhave, saṅkhāranirodho, no vā, kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Avijjānirodhā, bhante, saṅkhāranirodho; evaṁ no ettha hoti—avijjānirodhā saṅkhāranirodho”ti.
‘When rebirth ceases, old age and death cease.’ That’s what I said. Is that how you see this or not?”
“That’s how we see it.”
“‘When continued existence ceases, rebirth ceases.’ …
‘When ignorance ceases, choices cease.’ That’s what I said. Is that how you see this or not?”
“That’s how we see it.”
405. “Ta đã nói rằng: ‘Do sanh diệt nên già chết diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do sanh diệt nên già chết diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do sanh diệt nên già chết diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do sanh diệt nên già chết diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do hữu diệt nên sanh diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do hữu diệt nên sanh diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do hữu diệt nên sanh diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do hữu diệt nên sanh diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do thủ diệt nên hữu diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do thủ diệt nên hữu diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do thủ diệt nên hữu diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do thủ diệt nên hữu diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do ái diệt nên thủ diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do ái diệt nên thủ diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do ái diệt nên thủ diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do ái diệt nên thủ diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do thọ diệt nên ái diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do thọ diệt nên ái diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do thọ diệt nên ái diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do thọ diệt nên ái diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do xúc diệt nên thọ diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do xúc diệt nên thọ diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do xúc diệt nên thọ diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do xúc diệt nên thọ diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do sáu xứ diệt nên xúc diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do sáu xứ diệt nên xúc diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do sáu xứ diệt nên xúc diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do thức diệt nên danh sắc diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do thức diệt nên danh sắc diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do thức diệt nên danh sắc diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do thức diệt nên danh sắc diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do các hành diệt nên thức diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do các hành diệt nên thức diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do các hành diệt nên thức diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do các hành diệt nên thức diệt.” “Ta đã nói rằng: ‘Do vô minh diệt nên các hành diệt’. Này các Tỳ khưu, có phải do vô minh diệt nên các hành diệt hay không? Hay ở đây là như thế nào đối với các ngươi?” “Bạch Thế Tôn, do vô minh diệt nên các hành diệt. Đối với chúng con, ở đây là như vầy: Do vô minh diệt nên các hành diệt.”
“Sādhu, bhikkhave. Iti kho, bhikkhave, tumhepi evaṁ vadetha, ahampi evaṁ vadāmi—imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati, yadidaṁ—avijjānirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
“Good, mendicants! So both you and I say this. When this doesn’t exist, this doesn’t come to be; due to the cessation of this, this ceases. That is: When ignorance ceases, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. When consciousness ceases, name and form cease. When name and form cease, the six sense fields cease. When the six sense fields cease, contact ceases. When contact ceases, feeling ceases. When feeling ceases, craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.
406. “Lành thay, này các Tỳ khưu. Này các Tỳ khưu, các ngươi cũng nói như vậy, Ta cũng nói như vậy: Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là: do vô minh diệt nên các hành diệt; do các hành diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt; do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt; do sáu xứ diệt nên xúc diệt; do xúc diệt nên thọ diệt; do thọ diệt nên ái diệt; do ái diệt nên thủ diệt; do thủ diệt nên hữu diệt; do hữu diệt nên sanh diệt; do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.
Api nu tumhe, bhikkhave, evaṁ jānantā evaṁ passantā pubbantaṁ vā paṭidhāveyyātha: ‘ahesumha nu kho mayaṁ atītamaddhānaṁ, nanu kho ahesumha atītamaddhānaṁ, kiṁ nu kho ahesumha atītamaddhānaṁ, kathaṁ nu kho ahesumha atītamaddhānaṁ, kiṁ hutvā kiṁ ahesumha nu kho mayaṁ atītamaddhānan’”ti?
Knowing and seeing in this way, mendicants, would you turn back to the first beginning, thinking, ‘Did we exist in the past? Did we not exist in the past? What were we in the past? How were we in the past? After being what, what did we become in the past?’?”
407. “Này các Tỳ khưu, khi các ngươi biết như vậy, thấy như vậy, các ngươi có chạy ngược về quá khứ chăng: ‘Trong quá khứ, chúng ta có tồn tại chăng? Hay chúng ta đã không tồn tại trong quá khứ? Chúng ta đã là gì trong quá khứ? Chúng ta đã như thế nào trong quá khứ? Từ cái gì mà chúng ta đã trở thành cái gì trong quá khứ?’”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Api nu tumhe, bhikkhave, evaṁ jānantā evaṁ passantā aparantaṁ vā paṭidhāveyyātha—bhavissāma nu kho mayaṁ anāgatamaddhānaṁ, nanu kho bhavissāma anāgatamaddhānaṁ, kiṁ nu kho bhavissāma anāgatamaddhānaṁ, kathaṁ nu kho bhavissāma anāgatamaddhānaṁ, kiṁ hutvā kiṁ bhavissāma nu kho mayaṁ anāgatamaddhānan”ti?
“Knowing and seeing in this way, mendicants, would you turn forward to the final end, thinking, ‘Will we exist in the future? Will we not exist in the future? What will we be in the future? How will we be in the future? After being what, what will we become in the future?’?”
“Này các Tỳ khưu, khi các ngươi biết như vậy, thấy như vậy, các ngươi có chạy xuôi về tương lai chăng: ‘Trong tương lai, chúng ta sẽ tồn tại chăng? Hay chúng ta sẽ không tồn tại trong tương lai? Chúng ta sẽ là gì trong tương lai? Chúng ta sẽ như thế nào trong tương lai? Từ cái gì mà chúng ta sẽ trở thành cái gì trong tương lai?’”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Api nu tumhe, bhikkhave, evaṁ jānantā evaṁ passantā etarahi vā paccuppannamaddhānaṁ ajjhattaṁ kathaṅkathī assatha—ahaṁ nu khosmi, no nu khosmi, kiṁ nu khosmi, kathaṁ nu khosmi, ayaṁ nu kho satto kuto āgato, so kuhiṁ gāmī bhavissatī”ti?
“Knowing and seeing in this way, mendicants, would you be undecided about the present, thinking, ‘Am I? Am I not? What am I? How am I? This sentient being—where did it come from? And where will it go?’?”
Này các Tỳ khưu, có phải các ngươi, trong khi biết như vậy, thấy như vậy, lại có thể có sự phân vân, nghi ngờ về nội tâm trong hiện tại rằng: ‘Ta có thật sự tồn tại chăng? Hay ta không thật sự tồn tại? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Nó sẽ đi về đâu?’ chăng?
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Api nu tumhe, bhikkhave, evaṁ jānantā evaṁ passantā evaṁ vadeyyātha—satthā no garu, satthugāravena ca mayaṁ evaṁ vademā”ti?
“Knowing and seeing in this way, would you say, ‘Our teacher is respected. We speak like this out of esteem for our teacher’?”
“Này các Tỳ khưu, có phải các ngươi, trong khi biết như vậy, thấy như vậy, lại có thể nói rằng: ‘Bậc Đạo Sư là đáng tôn kính đối với chúng tôi, và chính vì lòng tôn kính đối với bậc Đạo Sư mà chúng tôi nói như vậy’ chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Api nu tumhe, bhikkhave, evaṁ jānantā evaṁ passantā evaṁ vadeyyātha—samaṇo evamāha, samaṇā ca nāma mayaṁ evaṁ vademā”ti?
“Knowing and seeing in this way, would you say, ‘Our ascetic says this. We speak like this because it is what he says’?”
“Này các Tỳ khưu, có phải các ngươi, trong khi biết như vậy, thấy như vậy, lại có thể nói rằng: ‘Vị Sa-môn đã nói như vậy, và chúng tôi cũng là những Sa-môn nên chúng tôi nói như vậy’ chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Api nu tumhe, bhikkhave, evaṁ jānantā evaṁ passantā aññaṁ satthāraṁ uddiseyyāthā”ti?
“Knowing and seeing in this way, would you dedicate yourself to another teacher?”
“Này các Tỳ khưu, có phải các ngươi, trong khi biết như vậy, thấy như vậy, lại có thể chỉ định một vị đạo sư khác chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Api nu tumhe, bhikkhave, evaṁ jānantā evaṁ passantā yāni tāni puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ vata kotūhalamaṅgalāni tāni sārato paccāgaccheyyāthā”ti?
“Knowing and seeing in this way, would you believe that the observances and boisterous, superstitious rites of the various ascetics and brahmins are essential?”
“Này các Tỳ khưu, có phải các ngươi, trong khi biết như vậy, thấy như vậy, lại có thể quay về chấp nhận những giới cấm, những điềm lành huyên náo của nhiều Sa-môn, Bà-la-môn khác như là cốt lõi chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Nanu, bhikkhave, yadeva tumhākaṁ sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ, tadeva tumhe vadethā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Aren’t you speaking only of what you have known and seen and realized for yourselves?”
“Yes, sir.”
“Này các Tỳ khưu, có phải các ngươi chỉ nói lên điều mà chính các ngươi đã tự mình biết, tự mình thấy, tự mình liễu tri chăng?”
“Sādhu, bhikkhave, upanītā kho me tumhe, bhikkhave, iminā sandiṭṭhikena dhammena akālikena ehipassikena opaneyyikena paccattaṁ veditabbena viññūhi. Sandiṭṭhiko ayaṁ, bhikkhave, dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi—iti yantaṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttanti.
“Good, mendicants! You have been guided by me with this teaching that’s apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves. For when I said that this teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves, this is what I was referring to.
“Lành thay, này các Tỳ khưu! Này các Tỳ khưu, Ta đã dẫn dắt các ngươi bằng Pháp này, là pháp thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Này các Tỳ khưu, Pháp này là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Lời nói này đã được nói ra, chính là y cứ vào điều này mà được nói.”
Tiṇṇaṁ kho pana, bhikkhave, sannipātā gabbhassāvakkanti hoti. Idha mātāpitaro ca sannipatitā honti, mātā ca na utunī hoti, gandhabbo ca na paccupaṭṭhito hoti, neva tāva gabbhassāvakkanti hoti. Idha mātāpitaro ca sannipatitā honti, mātā ca utunī hoti, gandhabbo ca na paccupaṭṭhito hoti, neva tāva gabbhassāvakkanti hoti. Yato ca kho, bhikkhave, mātāpitaro ca sannipatitā honti, mātā ca utunī hoti, gandhabbo ca paccupaṭṭhito hoti—evaṁ tiṇṇaṁ sannipātā gabbhassāvakkanti hoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, mātā nava vā dasa vā māse gabbhaṁ kucchinā pariharati mahatā saṁsayena garubhāraṁ. Tamenaṁ, bhikkhave, mātā navannaṁ vā dasannaṁ vā māsānaṁ accayena vijāyati mahatā saṁsayena garubhāraṁ. Tamenaṁ jātaṁ samānaṁ sakena lohitena poseti. Lohitañhetaṁ, bhikkhave, ariyassa vinaye yadidaṁ mātuthaññaṁ.
Sa kho so, bhikkhave, kumāro vuddhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya yāni tāni kumārakānaṁ kīḷāpanakāni tehi kīḷati, seyyathidaṁ—vaṅkakaṁ ghaṭikaṁ mokkhacikaṁ ciṅgulakaṁ pattāḷhakaṁ rathakaṁ dhanukaṁ.
Sa kho so, bhikkhave, kumāro vuddhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti—cakkhuviññeyyehi rūpehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi,
sotaviññeyyehi saddehi …
ghānaviññeyyehi gandhehi …
jivhāviññeyyehi rasehi …
kāyaviññeyyehi phoṭṭhabbehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi.
Mendicants, when three things come together an embryo is conceived. In a case where the mother and father come together, but the mother is not in the fertile phase of her menstrual cycle, and the virile spirit is not ready, the embryo is not conceived. In a case where the mother and father come together, the mother is in the fertile phase of her menstrual cycle, but the virile spirit is not ready, the embryo is not conceived. But when these three things come together—the mother and father come together, the mother is in the fertile phase of her menstrual cycle, and the virile spirit is ready—an embryo is conceived.
The mother nurtures the embryo in her womb for nine or ten months at great risk to her heavy burden. When nine or ten months have passed, the mother gives birth at great risk to her heavy burden. When the infant is born she nourishes it with her own blood. For mother’s milk is regarded as blood in the training of the Noble One.
That boy grows up and his faculties mature. He accordingly plays childish games such as toy plows, tipcat, somersaults, pinwheels, toy measures, toy carts, and toy bows.
That boy grows up and his faculties mature further. He accordingly amuses himself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Sounds known by the ear …
Smells known by the nose …
Tastes known by the tongue …
Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
408. “Này các Tỳ khưu, sự thọ thai xảy ra do sự hội hợp của ba yếu tố. Ở đây, có trường hợp cha mẹ giao hợp, nhưng người mẹ không trong thời kỳ, và hương ấm không hiện diện; trong trường hợp như vậy, sự thọ thai không xảy ra. Ở đây, có trường hợp cha mẹ giao hợp, người mẹ trong thời kỳ, nhưng hương ấm không hiện diện; trong trường hợp như vậy, sự thọ thai cũng không xảy ra. Nhưng này các Tỳ khưu, khi nào cha mẹ giao hợp, người mẹ trong thời kỳ, và hương ấm hiện diện – do sự hội hợp của ba yếu tố như vậy, sự thọ thai xảy ra. Này các Tỳ khưu, rồi người mẹ mang cái thai nặng nề trong bụng chín hoặc mười tháng với sự hiểm nguy lớn lao. Này các Tỳ khưu, sau chín hoặc mười tháng, người mẹ sanh ra cái gánh nặng ấy với sự hiểm nguy lớn lao. Khi đứa trẻ được sanh ra, người mẹ nuôi dưỡng nó bằng chính máu của mình. Này các Tỳ khưu, trong giới luật của bậc Thánh, sữa mẹ này được gọi là máu. Này các Tỳ khưu, rồi đứa trẻ ấy, khi lớn lên, các căn chín muồi, nó chơi các trò chơi của trẻ con, như là: cày nhỏ, đánh đáo, nhào lộn, chong chóng, đo lá, xe nhỏ, cung nhỏ. Này các Tỳ khưu, rồi đứa trẻ ấy, khi lớn lên, các căn chín muồi, nó hưởng thụ, được cung phụng, được đầy đủ năm dục trưởng dưỡng – với các sắc được nhận biết qua mắt, khả ái, khả hỷ, khả ý, đáng yêu, liên hệ đến dục, làm phát sinh tham ái; với các tiếng được nhận biết qua tai… với các mùi hương được nhận biết qua mũi… với các vị được nhận biết qua lưỡi… với các vật xúc chạm được nhận biết qua thân, khả ái, khả hỷ, khả ý, đáng yêu, liên hệ đến dục, làm phát sinh tham ái.”
So cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe sārajjati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyasati ca viharati parittacetaso. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
So evaṁ anurodhavirodhaṁ samāpanno yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, so taṁ vedanaṁ abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ vedanaṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī. Yā vedanāsu nandī tadupādānaṁ, tassupādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme sārajjati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyasati ca viharati parittacetaso. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
So evaṁ anurodhavirodhaṁ samāpanno yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, so taṁ vedanaṁ abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ vedanaṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī. Yā vedanāsu nandī tadupādānaṁ, tassupādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
When they see a sight with their eyes, if it’s pleasant they desire it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
Being so full of favoring and opposing, when they experience any kind of feeling—pleasant, unpleasant, or neutral—they approve, welcome, and keep clinging to it. This gives rise to relishing. Relishing feelings is grasping. Their grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
When they hear a sound with their ears …
When they smell an odor with their nose …
When they taste a flavor with their tongue …
When they feel a touch with their body …
When they know an idea with their mind, if it’s pleasant they desire it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
Being so full of favoring and opposing, when they experience any kind of feeling—pleasant, unpleasant, or neutral—they approve, welcome, and keep clinging to it. This gives rise to relishing. Relishing feelings is grasping. Their grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
409. Vị ấy sau khi dùng mắt thấy sắc, liền say đắm đối với sắc khả ái, sanh sân hận đối với sắc không khả ái, trú với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện kia được đoạn diệt không còn dư tàn. Vị ấy, do thuận theo và chống đối như vậy, cảm thọ bất cứ cảm thọ nào, hoặc lạc thọ, hoặc khổ thọ, hoặc bất khổ bất lạc thọ, vị ấy hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ cảm thọ ấy. Đối với vị ấy, người đang hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ cảm thọ ấy, hỷ ái sanh khởi. Hỷ ái nào đối với các cảm thọ, đó là thủ. Do duyên thủ của vị ấy, hữu sanh khởi; do duyên hữu, sanh sanh khởi; do duyên sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Sau khi dùng tai nghe tiếng... sau khi dùng mũi ngửi mùi... sau khi dùng lưỡi nếm vị... sau khi dùng thân cảm xúc... sau khi dùng ý biết pháp, liền say đắm đối với pháp khả ái, sanh sân hận đối với pháp không khả ái, trú với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện kia được đoạn diệt không còn dư tàn. Vị ấy, do thuận theo và chống đối như vậy, cảm thọ bất cứ cảm thọ nào, hoặc lạc thọ, hoặc khổ thọ, hoặc bất khổ bất lạc thọ, vị ấy hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ cảm thọ ấy. Đối với vị ấy, người đang hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ cảm thọ ấy, hỷ ái sanh khởi. Hỷ ái nào đối với các cảm thọ, đó là thủ. Do duyên thủ của vị ấy, hữu sanh khởi; do duyên hữu, sanh sanh khởi; do duyên sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Idha, bhikkhave, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ; kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto. So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati: ‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā, kāsāyāni vatthāni acchādetvā, agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’”ti. So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya, mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya, kesamassuṁ ohāretvā, kāsāyāni vatthāni acchādetvā, agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
But consider when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He proclaims a teaching that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. He reveals an entirely full and pure spiritual life.
A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family. They gain faith in the Realized One and reflect: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from lay life to homelessness?’ After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
410. Này các Tỳ khưu, ở đây, Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài người và chư Thiên. Ngài thuyết pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; Ngài trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Vị gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc người sanh trong một gia tộc nào khác, được nghe pháp ấy. Vị ấy sau khi nghe pháp, liền có được niềm tin nơi Như Lai. Vị ấy, sau khi có được niềm tin ấy, suy xét như vầy: ‘Đời sống tại gia thì chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì như hư không. Thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành đời sống phạm hạnh này một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc được mài giũa. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình’. Rồi vào một thời gian sau, vị ấy từ bỏ tài sản ít hoặc nhiều, từ bỏ quyến thuộc ít hoặc nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
So evaṁ pabbajito samāno bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti, nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
Once they’ve gone forth, they take up the training and livelihood of the mendicants. They give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings.
411. Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, sống theo học giới và quy tắc của các Tỳ khưu, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, có lòng tàm quý, có lòng bi mẫn, sống với lòng thương xót đến lợi ích của tất cả chúng sanh.
Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti, dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī athenena sucibhūtena attanā viharati.
They give up stealing. They take only what’s given, and expect only what’s given. They keep themselves clean by not thieving.
Từ bỏ lấy của không cho, vị ấy tránh xa lấy của không cho, chỉ nhận vật đã cho, chỉ mong đợi vật đã cho, sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp.
Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī hoti, ārācārī virato methunā gāmadhammā.
They give up unchastity. They are chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex.
Từ bỏ hành vi không phạm hạnh, vị ấy sống đời phạm hạnh, sống viễn ly, tránh xa hành vi dâm dục, là pháp của thế gian.
Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti, saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa.
They give up lying. They speak the truth and stick to the truth. They’re honest and dependable, and don’t trick the world with their words.
Từ bỏ nói dối, vị ấy tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian.
Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti—ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā, sahitānaṁ vā anuppadātā samaggārāmo samaggarato samagganandī, samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony.
Từ bỏ lời nói đâm thọc, vị ấy tránh xa lời nói đâm thọc; nghe điều gì ở đây, không đến nơi kia nói để gây chia rẽ những người này; hoặc nghe điều gì ở nơi kia, không đến nói với những người này để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, vị ấy hàn gắn những người đã chia rẽ, hoặc khuyến khích những người đã đoàn kết, yêu thích sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.
Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti—yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people.
Từ bỏ lời nói thô ác, vị ấy tránh xa lời nói thô ác; vị ấy nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người ưa thích, được nhiều người hài lòng. Vị ấy nói những lời như vậy.
Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti, kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā kālena, sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial.
Từ bỏ lời nói vô ích, vị ấy tránh xa lời nói vô ích, nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời hữu ích, nói lời hợp pháp, nói lời hợp luật. Vị ấy nói lời đáng được ghi nhớ, vào đúng lúc, có dẫn chứng, có giới hạn, hợp với mục đích.
So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti, ekabhattiko hoti rattūparato, virato vikālabhojanā. Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti, mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti, uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti, jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, hatthigavāssavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti, kayavikkayā paṭivirato hoti, tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti, ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti, chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato hoti.
They refrain from injuring plants and seeds. They eat in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time. They refrain from seeing shows of dancing, singing, and music. They refrain from attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. They refrain from high and luxurious beds. They refrain from receiving gold and currency, raw grains, raw meat, women and girls, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants, cows, horses, and mares, and fields and land. They refrain from running errands and messages; buying and selling; falsifying weights, metals, or measures; bribery, fraud, cheating, and duplicity; mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence.
Vị ấy từ bỏ việc hủy hoại các loại giống cây và các loại thảo mộc, vị ấy dùng một bữa, từ bỏ việc ăn ban đêm, kiêng cử việc ăn phi thời. Vị ấy từ bỏ việc xem múa, hát, nhạc, và các buổi trình diễn. Vị ấy từ bỏ việc trang sức, trang điểm bằng cách đeo vòng hoa, thoa hương liệu, và các loại dầu thơm. Vị ấy từ bỏ việc dùng giường cao và giường lớn. Vị ấy từ bỏ việc nhận vàng và bạc. Vị ấy từ bỏ việc nhận ngũ cốc sống. Vị ấy từ bỏ việc nhận thịt sống. Vị ấy từ bỏ việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Vị ấy từ bỏ việc nhận nô tỳ nam và nô tỳ nữ. Vị ấy từ bỏ việc nhận dê và cừu. Vị ấy từ bỏ việc nhận gà và heo. Vị ấy từ bỏ việc nhận voi, bò, ngựa, và ngựa cái. Vị ấy từ bỏ việc nhận ruộng nương và đất đai. Vị ấy từ bỏ việc làm người đưa tin và sứ giả. Vị ấy từ bỏ việc mua và bán. Vị ấy từ bỏ việc gian lận bằng cân, tiền, và vật đo lường. Vị ấy từ bỏ việc hối lộ, lừa đảo, gian trá, và mánh khóe. Vị ấy từ bỏ việc chặt, giết, trói, cướp bóc, trấn lột, và các hành vi bạo lực.
So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti sapattabhārova ḍeti; evameva bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena, kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
They’re content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. They’re like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. When they have this spectrum of noble ethics, they experience a blameless happiness inside themselves.
Vị ấy biết đủ với y phục để che thân và vật thực để nuôi bụng. Vị ấy đi bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo (y bát). Ví như loài chim bay đi bất cứ nơi đâu, cũng chỉ bay đi với đôi cánh là gánh nặng của mình. Cũng vậy, vị tỳ khưu biết đủ với y phục để che thân và vật thực để nuôi bụng. Vị ấy đi bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo (y bát). Vị ấy, sau khi đã thành tựu uẩn giới cao quý này, cảm nhận được niềm hạnh phúc không thể chê trách ở nội tâm.
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ manindriye saṁvaraṁ āpajjati. So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
When they see a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint.
When they hear a sound with their ears …
When they smell an odor with their nose …
When they taste a flavor with their tongue …
When they feel a touch with their body …
When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. When they have this noble sense restraint, they experience an unsullied bliss inside themselves.
Vị ấy, sau khi thấy sắc bằng mắt, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu vị ấy sống không phòng hộ nhãn căn, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu bi có thể xâm nhập, vị ấy thực hành để phòng hộ nhãn căn, bảo vệ nhãn căn, đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi hương bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận xúc bằng thân... sau khi nhận biết pháp bằng ý, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu vị ấy sống không phòng hộ ý căn, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu bi có thể xâm nhập, vị ấy thực hành để phòng hộ ý căn, bảo vệ ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Vị ấy, sau khi đã thành tựu sự phòng hộ các căn cao quý này, cảm nhận được niềm hạnh phúc không bị phiền não xâm chiếm ở nội tâm.
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
They act with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.
Vị ấy có tỉnh giác khi đi tới và khi đi lui; có tỉnh giác khi nhìn thẳng và khi nhìn quanh; có tỉnh giác khi co và khi duỗi (các chi); có tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát, và các y khác; có tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, và nếm; có tỉnh giác khi đại tiện và tiểu tiện; có tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và giữ im lặng.
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato, iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato, vivittaṁ senāsanaṁ bhajati—araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā, ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya, parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti; byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati, sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti; thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī, sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti; uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti; vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
When they have this spectrum of noble ethics, this noble contentment, this noble sense restraint, and this noble mindfulness and situational awareness, they frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present. Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
412. Vị ấy, sau khi đã thành tựu uẩn giới cao quý này, sự phòng hộ các căn cao quý này, và niệm và tỉnh giác cao quý này, tìm đến một nơi ở hẻo lánh – một khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, lùm cây trong rừng, ngoài trời, hoặc một đống rơm. Sau bữa ăn, khi đã đi khất thực về, vị ấy ngồi xuống, xếp chân theo thế kiết già, giữ thân thẳng, và an trú niệm trước mặt. Vị ấy, sau khi từ bỏ tham ái đối với thế gian, sống với tâm không còn tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái. Sau khi từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, có lòng thương xót đến tất cả chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận. Sau khi từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy sống thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, với nhận thức về ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Sau khi từ bỏ trạo cử và hối quá, vị ấy sống không trạo cử, với nội tâm an tịnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá. Sau khi từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các pháp thiện, gột sạch tâm khỏi hoài nghi.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption … third absorption … fourth absorption.
413. Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm và làm trí tuệ suy yếu, ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu, do làm lắng dịu tầm và tứ, với nội tâm tĩnh lặng, tâm chuyên nhất, không tầm, không tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái có hỷ và lạc do định sanh... thiền thứ ba... chứng và trú thiền thứ tư.
So cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe na sārajjati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyasati ca viharati appamāṇacetaso. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
So evaṁ anurodhavirodhavippahīno yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti, sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, so taṁ vedanaṁ nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ vedanaṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato yā vedanāsu nandī sā nirujjhati. Tassa nandīnirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme na sārajjati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyasati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
So evaṁ anurodhavirodhavippahīno yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti, sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, so taṁ vedanaṁ nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ vedanaṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato yā vedanāsu nandī sā nirujjhati. Tassa nandīnirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
Imaṁ kho me tumhe, bhikkhave, saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ dhāretha, sātiṁ pana bhikkhuṁ kevaṭṭaputtaṁ mahātaṇhājālataṇhāsaṅghāṭappaṭimukkan”ti.
When they see a sight with their eyes, if it’s pleasant they don’t desire it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
Having given up favoring and opposing, when they experience any kind of feeling—pleasant, unpleasant, or neutral—they don’t approve, welcome, or keep clinging to it. As a result, relishing of feelings ceases. When their relishing ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.
When they hear a sound with their ears …
When they smell an odor with their nose …
When they taste a flavor with their tongue …
When they feel a touch with their body …
When they know an idea with their mind, if it’s pleasant they don’t desire it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
Having given up favoring and opposing, when they experience any kind of feeling—pleasant, unpleasant, or neutral—they don’t approve, welcome, or keep clinging to it. As a result, relishing of feelings ceases. When their relishing ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.
Mendicants, you should memorize this brief statement on freedom through the ending of craving. But the mendicant Sāti, the fisherman’s son, is caught in a vast net of craving, a tangle of craving.”
414. Vị ấy, sau khi thấy sắc bằng mắt, không tham đắm ở sắc khả ái, không sân hận ở sắc không khả ái, và trú với thân niệm được an lập, với tâm vô lượng. Vị ấy tuệ tri như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Vị ấy, sau khi đã từ bỏ thuận và nghịch như vậy, cảm thọ bất cứ cảm thọ nào, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc, vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, không an trú với sự chấp thủ vào cảm thọ ấy. Đối với vị ấy, người không hoan hỷ, không tán dương, không an trú với sự chấp thủ vào cảm thọ ấy, hỷ nào ở trong các cảm thọ, hỷ ấy được đoạn diệt. Do hỷ diệt nên thủ diệt, do thủ diệt nên hữu diệt, do hữu diệt nên sanh diệt, do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này. Sau khi nghe tiếng bằng tai... tương tự... sau khi ngửi mùi bằng mũi... tương tự... sau khi nếm vị bằng lưỡi... tương tự... sau khi cảm nhận xúc bằng thân... tương tự... sau khi biết pháp bằng ý, không tham đắm ở pháp khả ái, không sân hận ở pháp không khả ái, và trú với thân niệm được an lập, với tâm vô lượng, vị ấy tuệ tri như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Vị ấy, sau khi đã từ bỏ thuận và nghịch như vậy, cảm thọ bất cứ cảm thọ nào, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc, vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, không an trú với sự chấp thủ vào cảm thọ ấy. Đối với vị ấy, người không hoan hỷ, không tán dương, không an trú với sự chấp thủ vào cảm thọ ấy, hỷ nào ở trong các cảm thọ, hỷ ấy được đoạn diệt. Do hỷ diệt nên thủ diệt, do thủ diệt nên hữu diệt, do hữu diệt nên sanh diệt, do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này. Này các Tỳ khưu, các ông hãy ghi nhớ pháp giải thoát do đoạn tận ái này của ta đã được thuyết một cách tóm tắt. Còn Tỳ khưu Sāti, con trai người chài lưới, (hãy ghi nhớ là người) bị mắc vào lưới ái lớn, vào bẫy ái.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy, với tâm ý hoan hỷ, đã tán dương lời dạy của Đức Thế Tôn.
Mahātaṇhāsaṅkhayasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Đại Đoạn Tận Ái, kinh thứ tám, đã kết thúc.