- Majjhima Nikāya 37
Cūḷataṇhāsaṅkhayasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷataṇhāsaṅkhayasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở tại Sāvatthi (Xá-vệ), Ðông Viên (Pubbārāma), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatu).
SC 2Rồi Thiên chủ Sakka đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Thiên chủ Sakka đứng một bên, bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?
SC 4—Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”. Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”, vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa”. Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-Kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người.
SC 5Rồi Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết giảng, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Moggallāna (Ðại Mục-kiền liên) ngồi cách Thế Tôn không xa. Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna suy nghĩ: “Không hiểu Dạ-xoa (Yakkaha) kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, có tín thọ hay không? Ta hãy tìm biết Dạ—xoa kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, có tín thọ hay không?”
SC 6Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất ở Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường và hiện ra ở giữa chư thiên cõi trời Ba mươi ba.
SC 7Lúc bấy giờ Thiên chủ Sakka, với đầy đủ năm trăm nhạc khí chư thiên, đang vui chơi tại vườn Nhất bạch liên. Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Mahā Moggallāna từ xa đến, bảo năm trăm nhạc khí chư thiên dừng nghỉ, đi đến Tôn giả Mahā Moggallāna, sau khi đến, thưa với Tôn giả Mahā Moggallāna: “Hãy đến đây, Thiện hữu Moggallāna; thiện lai, Thiện hữu Moggallāna! Này Thiện Hữu Moggallāna, lâu lắm Thiện hữu mới có dịp đến đây. Hãy ngồi, Thiện hữu Moggallāna, trên chỗ đã soạn sẵn”.
SC 8Tôn giả Mahamoggallana, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Còn Thiên chủ Sakka lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Mahamoggallana nói với Thiên chủ Sakka đang ngồi xuống một bên
SC 9—Này Kosiya, về lời thuyết giảng mà Thế Tôn đã nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.
SC 10—Thiện hữu Moggallāna, chúng tôi bận nhiều công việc, chúng tôi có nhiều việc phải làm, việc làm cho chúng tôi và việc làm cho chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Lại nữa, này Thiện hữu Moggallāna, lời thuyết giảng ấy được khéo nghe, khéo nắm vững, khéo suy tư, khéo thẩm lự nên không thể mau quên được. Này Thiện hữu Moggallāna, xưa kia phát khởi chiến tranh giữa chư Thiên và chúng Asura (A-tu-la). Này Thiện hữu Moggallāna, trong trận chiến này, chư Thiên thắng, chúng Asura bại. Này thiện hữu Moggallāna, sau khi thắng trận chiến ấy và nhân dịp thắng trận, chúng tôi, sau khi trở về, cho xây dựng một lâu đài tên là Vejayanta (Tối Thắng Ðiện). Này Thiện hữu Moggallāna, lâu đài Vejayanta có đến một trăm vọng tháp, trong mỗi vọng tháp có bảy ngôi nhà có hình tam giác, trong mỗi nhà tam giác có bảy tiên nữ, và mỗi tiên nữ có đến bảy thị nữ. Này thiện hữu Moggallāna, Thiện hữu có muốn xem những điều khả ái của lâu đài Vejayanta không?
SC 11Tôn giả Mahā Moggallāna im lặng nhận lời. Rồi Thiên chủ Sakka cùng với đại vương Vessavana để Tôn giả Mahā Moggallāna đi trước và đi đến lâu đài Vejayanta. Các thị nữ của Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Mahā Moggallāna đi từ xa đến, sau khi thấy, liền hổ thẹn, bẽn lẽn, rồi bước vào phòng của mình. Ví như cô dâu khi thấy cha chồng liền hổ thẹn, bẽn lẽn; cũng như vậy, các thị nữ của Thiên chủ Sakka, khi thấy Tôn giả Mahā Moggallāna liền hổ thẹn, bẽn lẽn, vào phòng riêng của mình.
SC 12Rồi Thiên chủ Sakka và đại vương Vessavana đưa Tôn giả Mahā Moggallāna đi thăm và xem khắp lâu đài Vejayanta: “Này Thiện hữu Moggallāna, xem điều khả ái này của lâu đài Vejayanta; xem điều khả ái này của lâu đài Vejayanta. Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya đã làm thời xưa; và loài Người, khi thấy cái gì khả ái liền nói: ‘Thật sự, cái này chói sáng từ chư thiên cõi trời Ba mươi ba. Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya đã làm thời xưa’”.
SC 13Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna suy nghĩ: “Dạ-xoa này sống phóng dật một cách quá đáng. Ta hãy làm cho vị này hoảng sợ”. Tôn giả Mahā Moggallāna liền thị hiện thần thông lực, dùng ngón chân cái làm cho lầu Vejayanta rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Thiên chủ Sakka, đại vương Sessavana và chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba, tâm cảm thấy kỳ diệu, hy hữu: “Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay đại thần thông lực, đại oai lực của Tôn giả Sa-môn! Với ngón chân cái, vị này làm cho thiên cung này rung động, chuyển động, chấn động mạnh!”
SC 14Tôn giả Mahamoggallana sau khi biết Thiên chủ Sakka đã hoảng sợ, lông tóc dựng ngược liền nói với Thiên chủ Sakka
SC 15—Này Kosiya, về lời thuyết giảng mà Thế Tôn đã nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.
SC 16—Ở đây, này Thiện hữu Moggallāna, tôi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Này Thiện hữu Moggallāna, sau khi đứng một bên, tôi bạch với Thế Tôn như sau:
SC 17“—Bạch Thế Tôn, một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo là ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?
SC 18Khi nghe nói vậy, này Thiện hữu Moggallāna, Thế Tôn nói với tôi như sau:
SC 19“—Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp” ”. Vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp”. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não; do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa”. “Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người”.
SC 20Như vậy, này Thiện hữu Moggallāna, Thế Tôn nói một cách tóm tắt cho tôi về ái tận giải thoát. ”
SC 21Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna, sau khi hoan hỷ, tín cho lời Thiên chủ Sakka nói, như một nhà lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất giữa chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba, và hiện ra tại Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường.
SC 22Sau khi Tôn giả Mahamoggallana đi chẳng bao lâu, các thị nữ của Thiên chủ Sakka nói với Thiên chủ Sakka như sau
SC 23—Thưa Thiên chủ, có phải vị ấy là Thế Tôn, bậc Ðạo sư của Thiên chủ?
SC 24—Không, vị ấy không phải là Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của ta. Vị ấy là đồng phạm hạnh với ta, Tôn giả Mahā Moggallāna.
SC 25—Thưa Thiên chủ, thật là điều tốt lành cho Thiên chủ, có một vị đồng phạm hạnh có đại thần thông, có đại oai lực như vậy. Chắc chắn vị ấy là Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của Thiên chủ.
SC 26Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahā Moggallāna bạch Thế Tôn
SC 27—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết chăng, Thế Tôn vừa mới nói về ái tận giải thoát một cách tóm tắt cho một Dạ-xoa có đại oai lực?
SC 28—Này Moggallāna, Ta biết. Ở đây, Thiên chủ Sakka đến tại chỗ Ta ở, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, này Moggallāna, Thiên chủ Sakka bạch với Ta:
SC 29“—Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?
SC 30Khi nghe nói vậy, này Mahā Moggallāna, Ta nói với Thiên chủ Sakka:
SC 31“—Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”. Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”. Vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật gì ở đời. Do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa”. Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người”.
SC 32Như vậy, này Moggallāna, Ta biết Ta vừa nói một cách tóm tắt về ái tận giải thoát cho Thiên chủ Sakka.”
SC 33Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Mahā Moggallāna hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Tiểu Đoạn Tận Ái
Atha kho sakko devānamindo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho sakko devānamindo bhagavantaṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti?
And then Sakka, lord of gods, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:
“Sir, how do you briefly define a mendicant who is freed through the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans?”
390. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, ở Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra. Bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Sakka, vua của chư thiên, bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch Thế Tôn, một vị tỳ khưu, một cách tóm tắt, được giải thoát nhờ đoạn tận ái dục, đạt đến mục đích tối hậu, đạt đến sự an ổn tối hậu khỏi các ách phược, đạt đến phạm hạnh tối hậu, đạt đến cứu cánh tối hậu, và là bậc tối thượng giữa trời và người, là đến mức độ nào?’
“Idha, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti: ‘sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā’ti. Evañcetaṁ, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti: ‘sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā’ti. So sabbaṁ dhammaṁ abhijānāti; sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya sabbaṁ dhammaṁ parijānāti; sabbaṁ dhammaṁ pariññāya yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti—sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, so tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto, virāgānupassī viharanto, nirodhānupassī viharanto, paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati. Anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Ettāvatā kho, devānaminda, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.
“Lord of gods, take a mendicant who has heard: ‘Nothing is worth insisting on.’ When a mendicant has heard that nothing is worth insisting on, they directly know all things. Directly knowing all things, they completely understand all things. Completely understanding all things, when they experience any kind of feeling—pleasant, unpleasant, or neutral—they meditate observing impermanence, dispassion, cessation, and letting go in those feelings. Meditating in this way, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ That’s how I briefly define a mendicant who is freed through the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans.”
– ‘Này vua của chư thiên, ở đây, một vị tỳ khưu đã được nghe rằng: ‘Tất cả các pháp không đáng để chấp thủ’. Này vua của chư thiên, khi vị tỳ khưu đã được nghe như vậy: ‘Tất cả các pháp không đáng để chấp thủ’, vị ấy thắng tri tất cả các pháp; sau khi thắng tri tất cả các pháp, vị ấy liễu tri tất cả các pháp; sau khi liễu tri tất cả các pháp, vị ấy cảm thọ bất cứ cảm thọ nào – lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy trú quán vô thường, trú quán ly tham, trú quán đoạn diệt, trú quán từ bỏ trong các cảm thọ ấy. Vị ấy, trong khi trú quán vô thường, trú quán ly tham, trú quán đoạn diệt, trú quán từ bỏ trong các cảm thọ ấy, không chấp thủ bất cứ điều gì ở trên đời. Không chấp thủ, vị ấy không bị dao động. Không bị dao động, vị ấy tự mình chứng đắc Niết-bàn. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’. Này vua của chư thiên, đến mức độ này, một vị tỳ khưu, một cách tóm tắt, được giải thoát nhờ đoạn tận ái dục, đạt đến mục đích tối hậu, đạt đến sự an ổn tối hậu khỏi các ách phược, đạt đến phạm hạnh tối hậu, đạt đến cứu cánh tối hậu, và là bậc tối thượng giữa trời và người’.
Atha kho sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Then Sakka, lord of gods, having approved and agreed with what the Buddha said, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
Bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của đức Thế Tôn, đã đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.
Tena kho pana samayena āyasmā mahāmoggallāno bhagavato avidūre nisinno hoti. Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi: “kiṁ nu kho so yakkho bhagavato bhāsitaṁ abhisamecca anumodi udāhu no; yannūnāhaṁ taṁ yakkhaṁ jāneyyaṁ—yadi vā so yakkho bhagavato bhāsitaṁ abhisamecca anumodi yadi vā no”ti?
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—pubbārāme migāramātupāsāde antarahito devesu tāvatiṁsesu pāturahosi. Tena kho pana samayena sakko devānamindo ekapuṇḍarīke uyyāne dibbehi pañcahi tūriyasatehi samappito samaṅgībhūto paricāreti.
Addasā kho sakko devānamindo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna tāni dibbāni pañca tūriyasatāni paṭippaṇāmetvā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca: “ehi kho, mārisa moggallāna, svāgataṁ, mārisa moggallāna. Cirassaṁ kho, mārisa moggallāna, imaṁ pariyāyaṁ akāsi yadidaṁ idhāgamanāya. Nisīda, mārisa moggallāna, idamāsanaṁ paññattan”ti. Nisīdi kho āyasmā mahāmoggallāno paññatte āsane. Sakkopi kho devānamindo aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sakkaṁ devānamindaṁ āyasmā mahāmoggallāno etadavoca: “yathā kathaṁ pana kho, kosiya, bhagavā saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ abhāsi? Sādhu mayampi etissā kathāya bhāgino assāma savanāyā”ti.
Now at that time Venerable Mahāmoggallāna was sitting not far from the Buddha. He thought, “Did that spirit comprehend what the Buddha said when he agreed with him, or not? Why don’t I find out?”
And then Venerable Mahāmoggallāna, as easily as a strong person would extend or contract their arm, vanished from the Eastern Monastery and reappeared among the gods of the thirty-three. Now at that time Sakka was amusing himself in the Single Lotus Park, supplied and provided with a heavenly orchestra.
Seeing Mahāmoggallāna coming off in the distance, he waved off the orchestra, approached Mahāmoggallāna, and said, “Come, my good fellow Moggallāna! Welcome, my good fellow! It’s been a long time since you took the opportunity to come here. Sit, my good Moggallāna, here, a seat is ready.” Mahāmoggallāna sat down on the seat spread out, while Sakka took a low seat and sat to one side.
Mahāmoggallāna said to him, “Kosiya, how did the Buddha briefly explain freedom through the ending of craving? Please share this talk with me so that I can also get to hear it.”
391. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna đang ngồi không xa Đức Thế Tôn. Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna khởi lên suy nghĩ này: “Vị dạ-xoa kia hoan hỷ sau khi đã liễu tri lời dạy của Đức Thế Tôn, hay là không? Ta nên tìm hiểu về vị dạ-xoa ấy, liệu vị dạ-xoa ấy hoan hỷ sau khi đã liễu tri lời dạy của Đức Thế Tôn, hay là không?” Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, biến mất khỏi giảng đường Migāramātupāsāda ở Pubbārāma và hiện ra ở cõi trời Tāvatiṃsa. Lúc bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, đang vui hưởng, được vây quanh và phục vụ bởi năm trăm loại nhạc cụ chư thiên trong vườn Ekapuṇḍarīka. Sakka, vua của chư thiên, thấy Tôn giả Mahāmoggallāna từ xa đi đến. Thấy vậy, ngài cho dừng năm trăm loại nhạc cụ chư thiên ấy lại và đi đến chỗ Tôn giả Mahāmoggallāna; sau khi đến, nói với Tôn giả Mahāmoggallāna điều này: “Xin mời ngài Moggallāna đến, thiện lai, ngài Moggallāna! Thưa ngài Moggallāna, đã lâu lắm rồi ngài mới có dịp đến đây. Xin mời ngài Moggallāna ngồi, chỗ ngồi này đã được soạn sẵn.” Tôn giả Mahāmoggallāna ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sakka, vua của chư thiên, cũng lấy một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahāmoggallāna nói với Sakka, vua của chư thiên, đang ngồi một bên: “Này Kosiya, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng tóm tắt về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái như thế nào? Lành thay, chúng tôi cũng mong được chia sẻ phần nghe bài pháp ấy.”
“Mayaṁ kho, mārisa moggallāna, bahukiccā bahukaraṇīyā—appeva sakena karaṇīyena, api ca devānaṁyeva tāvatiṁsānaṁ karaṇīyena. Api ca, mārisa moggallāna, sussutaṁyeva hoti suggahitaṁ sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ, yaṁ no khippameva antaradhāyati. Bhūtapubbaṁ, mārisa moggallāna, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi. Tasmiṁ kho pana, mārisa moggallāna, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājiniṁsu. So kho ahaṁ, mārisa moggallāna, taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tato paṭinivattitvā vejayantaṁ nāma pāsādaṁ māpesiṁ. Vejayantassa kho, mārisa moggallāna, pāsādassa ekasataṁ niyyūhaṁ. Ekekasmiṁ niyyūhe satta satta kūṭāgārasatāni. Ekamekasmiṁ kūṭāgāre satta satta accharāyo. Ekamekissā accharāya satta satta paricārikāyo. Iccheyyāsi no tvaṁ, mārisa moggallāna, vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakaṁ daṭṭhun”ti? Adhivāsesi kho āyasmā mahāmoggallāno tuṇhībhāvena.
“My good Moggallāna, I have many duties, and much to do, not only for myself, but also for the gods of the thirty-three. Still, what is properly heard, learned, attended, and memorized does not vanish all of a sudden. Once upon a time, a battle was fought between the gods and the titans. In that battle the gods won and the titans lost. When I returned from that battle as a conqueror, I created the Palace of Victory. The Palace of Victory has a hundred towers. Each tower has seven hundred chambers. Each chamber has seven nymphs. Each nymph has seven maids. Would you like to see the lovely Palace of Victory?” Mahāmoggallāna consented with silence.
392. “Thưa ngài Moggallāna, chúng tôi có nhiều công việc, nhiều phận sự; công việc của riêng chúng tôi thì ít, mà công việc của chư thiên Tāvatiṃsa thì nhiều. Hơn nữa, thưa ngài Moggallāna, pháp nào đã được nghe kỹ, nắm giữ kỹ, tác ý kỹ, ghi nhớ kỹ, pháp ấy lại mau chóng biến mất đối với chúng tôi. Thưa ngài Moggallāna, thuở xưa, đã có một trận chiến giữa chư thiên và a-tu-la được dàn trận. Trong trận chiến ấy, thưa ngài Moggallāna, chư thiên đã chiến thắng, các a-tu-la đã bại trận. Thưa ngài Moggallāna, sau khi chinh phục trận chiến ấy, với chiến thắng trong tay, tôi đã quay về và cho xây dựng một cung điện tên là Vejayanta. Thưa ngài Moggallāna, cung điện Vejayanta có một trăm lẻ một tháp canh. Trong mỗi tháp canh, có bảy trăm phòng có chóp nhọn. Trong mỗi phòng có chóp nhọn, có bảy tiên nữ. Mỗi tiên nữ có bảy thị nữ. Thưa ngài Moggallāna, ngài có muốn xem sự tráng lệ của cung điện Vejayanta không?” Tôn giả Mahāmoggallāna đã im lặng chấp thuận.
Atha kho sakko ca devānamindo vessavaṇo ca mahārājā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ purakkhatvā yena vejayanto pāsādo tenupasaṅkamiṁsu. Addasaṁsu kho sakkassa devānamindassa paricārikāyo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ dūratova āgacchantaṁ; disvā ottappamānā hirīyamānā sakaṁ sakaṁ ovarakaṁ pavisiṁsu. Seyyathāpi nāma suṇisā sasuraṁ disvā ottappati hirīyati; evameva sakkassa devānamindassa paricārikāyo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ disvā ottappamānā hirīyamānā sakaṁ sakaṁ ovarakaṁ pavisiṁsu.
Atha kho sakko ca devānamindo vessavaṇo ca mahārājā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ vejayante pāsāde anucaṅkamāpenti anuvicarāpenti: “idampi, mārisa moggallāna, passa vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakaṁ; idampi, mārisa moggallāna, passa vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakan”ti.
“Sobhati idaṁ āyasmato kosiyassa, yathā taṁ pubbe katapuññassa. Manussāpi kiñcideva rāmaṇeyyakaṁ disvā evamāhaṁsu: ‘sobhati vata bho yathā devānaṁ tāvatiṁsānan’ti. Tayidaṁ āyasmato kosiyassa sobhati, yathā taṁ pubbe katapuññassā”ti.
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi: “atibāḷhaṁ kho ayaṁ yakkho pamatto viharati. Yannūnāhaṁ imaṁ yakkhaṁ saṁvejeyyan”ti.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi yathā vejayantaṁ pāsādaṁ pādaṅguṭṭhakena saṅkampesi sampakampesi sampavedhesi. Atha kho sakko ca devānamindo, vessavaṇo ca mahārājā, devā ca tāvatiṁsā acchariyabbhutacittajātā ahesuṁ: “acchariyaṁ vata, bho, abbhutaṁ vata, bho. Samaṇassa mahiddhikatā mahānubhāvatā, yatra hi nāma dibbabhavanaṁ pādaṅguṭṭhakena saṅkampessati sampakampessati sampavedhessatī”ti.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno sakkaṁ devānamindaṁ saṁviggaṁ lomahaṭṭhajātaṁ viditvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca: “yathā kathaṁ pana kho, kosiya, bhagavā saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ abhāsi? Sādhu mayampi etissā kathāya bhāgino assāma savanāyā”ti.
Then, putting Venerable Mahāmoggallāna in front, Sakka, lord of gods, and Vessavaṇa, the Great King, went to the Palace of Victory. When they saw Moggallāna coming off in the distance, Sakka’s maids, being discreet and prudent, each went to her own bedroom. They were just like a daughter-in-law who is discreet and prudent when they see their father-in-law.
Then Sakka and Vessavaṇa encouraged Moggallāna to wander and explore the palace, saying, “See, in the palace, my good Moggallāna, this lovely thing! And that lovely thing!”
“That looks beautiful for the venerable Kosiya, as befits one who has made merit in the past. Humans, when they see something lovely, also say: ‘It looks beautiful enough for the gods of the thirty-three!’ That looks beautiful for the venerable Kosiya, as befits one who has made merit in the past.”
Then Moggallāna thought, “This spirit lives much too negligently. Why don’t I stir up a sense of urgency in him?”
Then Moggallāna used his psychic power to make the Palace of Victory shake and rock and tremble with his big toe. Then Sakka, Vessavaṇa, and the gods of the thirty-three, their minds full of wonder and amazement, thought, “Oh lord, how incredible, how amazing! The ascetic has such power and might that he makes the god’s home shake and rock and tremble with his big toe!”
Knowing that Sakka was shocked and awestruck, Moggallāna said to him, “Kosiya, how did the Buddha briefly explain freedom through the ending of craving? Please share this talk with me so that I can also get to hear it.”
393. Bấy giờ, Thiên chủ Sakka và Ðại vương Vessavaṇa, sau khi để Tôn giả Mahāmoggallāna đi trước, liền đi đến cung điện Vejayanta. Các thị nữ của Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Mahāmoggallāna từ xa đi đến; sau khi thấy, họ tàm quý, xấu hổ, liền đi vào phòng riêng của mình. Ví như nàng dâu khi thấy cha chồng thì tàm quý, xấu hổ, cũng vậy, các thị nữ của Thiên chủ Sakka khi thấy Tôn giả Mahāmoggallāna thì tàm quý, xấu hổ, liền đi vào phòng riêng của mình. Bấy giờ, Thiên chủ Sakka và Ðại vương Vessavaṇa mời Tôn giả Mahāmoggallāna đi kinh hành, đi dạo quanh trong cung điện Vejayanta: ‘Thưa ngài Moggallāna, xin ngài hãy xem sự khả ái này của cung điện Vejayanta; thưa ngài Moggallāna, xin ngài hãy xem sự khả ái này của cung điện Vejayanta.’ ‘Cung điện này của Tôn giả Kosiya thật lộng lẫy, đúng như quả phước của người đã tạo công đức trong quá khứ. Cả loài người khi thấy điều gì khả ái cũng nói rằng: “Chư hiền, thật lộng lẫy thay, giống như của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba!” Cung điện này của Tôn giả Kosiya thật lộng lẫy, đúng như quả phước của người đã tạo công đức trong quá khứ.’ Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna khởi lên ý nghĩ này: ‘Vị dạ-xoa này sống quá buông lung. Ta nên làm cho vị dạ-xoa này xúc động.’ Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna đã thực hiện một loại thần thông đến mức làm cho cung điện Vejayanta rung chuyển, chấn động, lay động bằng ngón chân cái. Bấy giờ, Thiên chủ Sakka, Ðại vương Vessavaṇa, và chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đều sinh tâm kinh ngạc, kỳ diệu: ‘Chư hiền, thật kinh ngạc thay! Chư hiền, thật kỳ diệu thay, về đại thần lực, đại oai lực của vị Sa-môn, đến nỗi ngài có thể làm cho thiên cung rung chuyển, chấn động, lay động bằng ngón chân cái!’ Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna, biết được Thiên chủ Sakka đang xúc động, lông tóc dựng đứng, liền nói với Thiên chủ Sakka lời này: ‘Này Kosiya, Thế Tôn đã thuyết giảng một cách tóm tắt về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái như thế nào? Lành thay, chúng tôi cũng muốn được dự phần nghe pháp thoại ấy.’
“Idhāhaṁ, mārisa moggallāna, yena bhagavā tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsiṁ. Ekamantaṁ ṭhito kho ahaṁ, mārisa moggallāna, bhagavantaṁ etadavocaṁ: ‘kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan’ti?
“My good fellow Moggallāna, I approached the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, ‘Sir, how do you briefly define a mendicant who is freed with the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans?’
394. ‘Thưa ngài Moggallāna, ở đây, tôi đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, tôi đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thưa ngài Moggallāna, sau khi đứng một bên, tôi đã bạch với Thế Tôn lời này: ‘Bạch Thế Tôn, do mức độ nào, một vị Tỷ-kheo, một cách tóm tắt, được gọi là người giải thoát nhờ đoạn tận ái, đạt đến mục đích tối hậu, đạt đến an ổn tối hậu khỏi các ách縛, thực hành phạm hạnh tối hậu, đạt đến cứu cánh tối hậu, là bậc tối thắng giữa chư thiên và loài người?’
Evaṁ vutte, mārisa moggallāna, bhagavā maṁ etadavoca: ‘idha, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti: “sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā”ti. Evañcetaṁ, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti “sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā”ti. So sabbaṁ dhammaṁ abhijānāti, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya sabbaṁ dhammaṁ parijānāti, sabbaṁ dhammaṁ pariññāya yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto, virāgānupassī viharanto, nirodhānupassī viharanto, paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati, anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati: “khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāti. Ettāvatā kho, devānaminda, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan’ti. Evaṁ kho me, mārisa moggallāna, bhagavā saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ abhāsī”ti.
When I had spoken the Buddha said to me: ‘Lord of gods, it’s when a mendicant has heard: “Nothing is worth insisting on.” When a mendicant has heard that nothing is worth insisting on, they directly know all things. Directly knowing all things, they completely understand all things. Having completely understood all things, when they experience any kind of feeling—pleasant, unpleasant, or neutral—they meditate observing impermanence, dispassion, cessation, and letting go in those feelings. Meditating in this way, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished. They understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.” That’s how I briefly define a mendicant who is freed through the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans.’ That’s how the Buddha briefly explained freedom through the ending of craving to me.”
‘Thưa ngài Moggallāna, khi được hỏi như vậy, Thế Tôn đã nói với tôi lời này: ‘Này Thiên chủ, ở đây, một vị Tỷ-kheo đã được nghe rằng: “Tất cả các pháp không đáng để chấp thủ.” Này Thiên chủ, khi vị Tỷ-kheo đã được nghe như vậy: “Tất cả các pháp không đáng để chấp thủ,” vị ấy thắng tri tất cả các pháp. Sau khi thắng tri tất cả các pháp, vị ấy liễu tri tất cả các pháp. Sau khi liễu tri tất cả các pháp, vị ấy cảm nhận bất cứ cảm thọ nào—hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc—vị ấy sống quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt, quán từ bỏ trong các cảm thọ ấy. Vị ấy, khi sống quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt, quán từ bỏ trong các cảm thọ ấy, không chấp thủ bất cứ điều gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không lo sợ. Không lo sợ, vị ấy tự mình đạt đến Niết-bàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.” Này Thiên chủ, đến mức độ ấy, một vị Tỷ-kheo, một cách tóm tắt, được gọi là người giải thoát nhờ đoạn tận ái, đạt đến mục đích tối hậu, đạt đến an ổn tối hậu khỏi các ách縛, thực hành phạm hạnh tối hậu, đạt đến cứu cánh tối hậu, là bậc tối thắng giữa chư thiên và loài người.’ Thưa ngài Moggallāna, Thế Tôn đã thuyết giảng cho tôi một cách tóm tắt về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái như vậy.’
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno sakkassa devānamindassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito pubbārāme migāramātupāsāde pāturahosi.
Atha kho sakkassa devānamindassa paricārikāyo acirapakkante āyasmante mahāmoggallāne sakkaṁ devānamindaṁ etadavocuṁ: “eso nu te, mārisa, so bhagavā satthā”ti?
“Na kho me, mārisa, so bhagavā satthā. Sabrahmacārī me eso āyasmā mahāmoggallāno”ti.
“Lābhā te, mārisa, suladdhaṁ te, mārisa yassa te sabrahmacārī evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo. Aho nūna te so bhagavā satthā”ti.
Moggallāna approved and agreed with what Sakka said. As easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from among the gods of the thirty-three and reappeared in the Eastern Monastery.
Soon after Moggallāna left, Sakka’s maids said to him, “Good fellow, was that the Blessed One, your Teacher?”
“No, it was not. That was my spiritual companion Venerable Mahāmoggallāna.”
“You’re fortunate, good fellow, so very fortunate, to have a spiritual companion of such power and might! We can’t believe that’s not the Blessed One, your Teacher!”
Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna, sau khi hoan hỷ, tùy hỷ lời nói của Thiên chủ Sakka, liền—ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy—biến mất khỏi cõi trời Ba Mươi Ba và hiện ra tại Ðông Viên, trong lầu của mẹ Migāra. Bấy giờ, không lâu sau khi Tôn giả Mahāmoggallāna rời đi, các thị nữ của Thiên chủ Sakka đã nói với Thiên chủ Sakka lời này: ‘Thưa ngài, có phải vị ấy là Thế Tôn, bậc Ðạo sư của ngài không?’ ‘Thưa các ngài, vị ấy không phải là Thế Tôn, bậc Ðạo sư của tôi. Vị ấy là Tôn giả Mahāmoggallāna, bạn đồng phạm hạnh của tôi.’ ‘Thưa ngài, thật là một lợi ích cho ngài, (thật là một lợi ích lớn cho ngài), khi bạn đồng phạm hạnh của ngài có đại thần lực, đại oai lực như vậy! Chắc chắn Thế Tôn, bậc Ðạo sư của ngài, phải phi thường biết bao!’
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ etadavoca: “abhijānāti no, bhante, bhagavā ahu ñātaññatarassa mahesakkhassa yakkhassa saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ bhāsitā”ti?
“Abhijānāmahaṁ, moggallāna, idha sakko devānamindo yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, moggallāna, sakko devānamindo maṁ etadavoca: ‘kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan’ti.
Then Mahāmoggallāna went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, do you recall briefly explaining freedom through the ending of craving to a certain well-known and illustrious spirit?”
“I do, Moggallāna.” And the Buddha retold all that happened when Sakka came to visit him, adding:
395. Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Mahāmoggallāna bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nhớ đã thuyết giảng một cách tóm tắt về sự giải thoát qua việc đoạn tận ái cho một vị dạ-xoa nào đó có danh tiếng và đại thần lực không?” “Này Moggallāna, Ta có nhớ. Ở đây, Sakka, vua của chư thiên, đã đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Này Moggallāna, khi đang đứng một bên, Sakka, vua của chư thiên, đã nói với Ta điều này: ‘Bạch Thế Tôn, đến mức độ nào thì một vị tỳ khưu được gọi là người giải thoát qua việc đoạn tận ái một cách tóm tắt, là người đã đạt đến mục đích tối hậu, đạt đến sự an ổn tối hậu khỏi các ách phược, đã hoàn thành phạm hạnh tối hậu, đã đạt đến chung cuộc tối hậu, là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người?’”
Evaṁ vutte, ahaṁ, moggallāna, sakkaṁ devānamindaṁ etadavocaṁ ‘idha devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti “sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā”ti. Evaṁ cetaṁ, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti “sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā”ti. So sabbaṁ dhammaṁ abhijānāti, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya sabbaṁ dhammaṁ parijānāti, sabbaṁ dhammaṁ pariññāya yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto, virāgānupassī viharanto, nirodhānupassī viharanto, paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati, anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati: “khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāti. Ettāvatā kho, devānaminda, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan’ti. Evaṁ kho ahaṁ, moggallāna, abhijānāmi sakkassa devānamindassa saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ bhāsitā”ti.
“That’s how I recall briefly explaining freedom through the ending of craving to Sakka, lord of gods.”
Này Moggallāna, khi được hỏi như vậy, Ta đã nói với Sakka, vua của chư thiên, điều này: ‘Này vua của chư thiên, ở đây, một vị tỳ khưu đã được nghe rằng: ‘Tất cả các pháp không đáng để chấp thủ.’ Này vua của chư thiên, khi vị tỳ khưu đã được nghe như vậy: ‘Tất cả các pháp không đáng để chấp thủ,’ vị ấy thắng tri tất cả các pháp. Sau khi thắng tri tất cả các pháp, vị ấy liễu tri tất cả các pháp. Sau khi liễu tri tất cả các pháp, vị ấy cảm thọ bất cứ cảm thọ nào, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc. Vị ấy sống quán vô thường trong các cảm thọ ấy, sống quán ly tham, sống quán đoạn diệt, sống quán từ bỏ. Vị ấy, khi sống quán vô thường, sống quán ly tham, sống quán đoạn diệt, sống quán từ bỏ trong các cảm thọ ấy, không chấp thủ bất cứ điều gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không bị dao động. Không bị dao động, vị ấy tự mình đạt đến viên tịch. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Này vua của chư thiên, đến mức độ này, một vị tỳ khưu được gọi là người giải thoát qua việc đoạn tận ái một cách tóm tắt, là người đã đạt đến mục đích tối hậu, đạt đến sự an ổn tối hậu khỏi các ách phược, đã hoàn thành phạm hạnh tối hậu, đã đạt đến chung cuộc tối hậu, là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người.’ Này Moggallāna, như vậy đó, Ta nhớ đã thuyết giảng cho Sakka, vua của chư thiên, một cách tóm tắt về sự giải thoát qua việc đoạn tận ái.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā mahāmoggallāno bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Mahāmoggallāna approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Mahāmoggallāna, với tâm hoan hỷ, đã tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Cūḷataṇhāsaṅkhayasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Tiểu Đoạn Tận Ái, kinh thứ bảy, đã chấm dứt.