- Majjhima Nikāya 36
Mahāsaccakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāsaccakasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Vesālī, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường Trùng Các.
SC 2Lúc bấy giờ, Thế Tôn đắp y thật đầy đủ, cầm y bát, muốn vào Vesālī để khất thực. Rồi Niganthaputta Saccaka tánh hay ngao du thiên hạ, trong khi đi khắp đó đây, đến tại Ðại Lâm, giảng đường Trùng Các. Tôn giả Ānanda thấy Niganthaputta Saccaka từ xa đi lại, liền bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, Niganthaputta Saccaka đang đến, tánh ưa luận chiến, biện luận thiện xảo, được số đông tôn kính. Bạch Thế Tôn, vị này ưa chỉ trích Phật, ưa chỉ trích Pháp, ưa chỉ trích Tăng. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn ngồi lại một lát.
SC 4Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Rồi Niganthaputta Saccaka đi đến chỗ Thế Tôn ở, nói lên những lời hỏi thăm, chúc tụng, xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Niganthaputta Saccaka nói với Thế Tôn
SC 5—Tôn giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn sống chuyên lo tu tập về thân, không tu tập về tâm. Tôn giả Gotama, những vị này cảm khổ thọ về thân. Sự tình này đã xảy ra, này Tôn giả Gotama, do cảm khổ về thân, chân sẽ bị tê liệt, quả tim có thể tức bể, máu nóng có thể trào ra từ miệng, có thể bị điên cuồng loạn tâm. Tôn giả Gotama, sự tình này xảy ra đối với người mà tâm tùy thuộc thân, khi tâm chịu sự điều khiển của thân. Vì sao vậy? Vì tâm không được tu tập. Tôn giả Gotama, nhưng có một số Sa-môn, Bà-la-môn, sống chuyên lo tu tập về tâm, không tu tập về thân. Tôn giả Gotama, những vị này cảm khổ thọ về tâm. Sự tình này đã xảy ra, này Tôn giả Gotama; do cảm khổ thọ về tâm, chân sẽ bị tê liệt, quả tim có thể tức bể, máu có thể trào ra từ miệng, có thể bị điên cuồng loạn tâm. Tôn giả Gotama, sự tình này xảy ra đối với người mà thân tùy thuộc tâm, khi thân chịu sự điều khiển của tâm. Vì sao vậy? Vì thân không được tu tập. Này Tôn giả Gotama, rồi tôi suy nghĩ: “Thật sự, Thanh văn đệ tử của Tôn giả Gotama sống chuyên lo tu tập về tâm không tu tập về thân?”
SC 6—Này Aggivessana, Ông nghe tu tập về thân như thế nào?
SC 7—Như Nanda Vaccha, Kisā Sankicca, Makkhàli Gosāla, những vị này, này Tôn giả Gotama, sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ ruồi bu, không ăn cá thịt, không uống rượu nấu, rượu men, cháo trấu. Những vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy các vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần.
SC 8—Này Aggivessana, họ có thể tự nuôi sống với mức độ như vậy chăng?
SC 9—Không phải vậy, này Tôn giả Gotama. Thỉnh thoảng, này Tôn giả Gotama, họ ăn những món ăn thù thắng loại cứng, họ ăn những món ăn thù thắng loại mềm, họ nếm những vị ăn thù thắng, họ uống những đồ uống thù thắng. Họ nhờ các món ăn ấy gầy dựng thân lực, làm cho thân to lớn, làm cho thân béo mập.
SC 10—Này Aggivessana, như vậy những gì ban đầu họ từ bỏ, về sau họ lại thọ dụng. Như vậy có tụ, có tán (có được, có mất) cho thân này. Này Aggivessana, Ông nghe tu tập về tâm như thế nào?
SC 11Niganthaputta Saccaka, được Thế Tôn hỏi tu tập về tâm, không có thể trả lời được. Rồi Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka
SC 12—Này Aggivessana, thân tu tập mà Ông vừa mới nói đầu tiên ấy không phải là thân tu tập đúng pháp trong giới luật của bậc Thánh. Này Aggivessana, Ông còn không hiểu thân tu tập, làm sao Ông có thể hiểu tâm tu tập. Và này Aggivessana, như thế nào là thân không tu tập, tâm không tu tập; như thế nào là thân tu tập, tâm tu tập? Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 13—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 14Niganthaputta Saccaka trả lời Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 15—Này Aggivessana, thế nào là thân không tu tập và thế nào là tâm không tu tập? Ở đây, này Aggivessana, kẻ vô văn phàm phu khởi lên lạc thọ. Người này được cảm giác lạc thọ, liền tham đắm lạc thọ và rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ. Người ấy, do cảm giác khổ thọ, nên sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc thọ ấy khởi lên cho người kia, chi phối tâm và an trú, do thân không tu tập. Khổ thọ ấy khởi lên chi phối tâm và an trú, do tâm không tu tập. Này Aggivessana, không luận người nào mà cả hai phương tiện đều có lạc thọ khởi lên, chi phối tâm và an trú, do thân không tu tập; khổ thọ khởi lên, chi phối tâm và an trú, do tâm không tu tập. Như vậy, này Aggivessana, người ấy là người có thân không tu tập và tâm không tu tập.
SC 16Và này Aggivessana, thế nào là thân tu tập và tâm tu tập? Ở đây, này Aggivessana, lạc thọ khởi lên cho vị Thánh đệ tử nghe nhiều. Vị này được cảm giác lạc thọ, nhưng không tham đắm lạc thọ, không rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ, vị ấy cảm giác khổ thọ nhưng không sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Này Aggivessana, lạc thọ ấy khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và không an trú, do thân có tu tập; khổ thọ ấy khởi lên cho vị kia, không chi phối tâm và không an trú, do tâm có tu tập. Này Aggivessana, không luận người nào mà cả hai phương tiện đều có lạc thọ khởi lên, không chi phối tâm và không an trú, do thân có tu tập; khổ thọ khởi lên, không chi phối tâm và không an trú, do tâm có tu tập, như vậy này Aggivessana, người ấy là người có thân tu tập, có tâm tu tập.
SC 17—Như vậy, tôi có lòng tin tưởng với Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama là vị có thân tu tập và có tâm tu tập.
SC 18—Này Aggivessana, dầu cho lời nói của Ông có vẻ trịch thượng và khiêu khích, nhưng Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Aggivessana, vì Ta đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lạc thọ thật sự khởi lên nơi Ta, chi phối tâm và an trú, hay khổ thọ thật sự khởi lên nơi Ta, chi phối tâm và an trú, sự tình như vậy không thể xảy ra.
SC 19—Phải chăng, một lạc thọ không khởi lên nơi Tôn giả Gotama một cách khiến cho lạc thọ ấy không thể chi phối tâm và an trú, phải chăng một khổ thọ khởi lên nơi Tôn giả Gotama một cách khiến cho khổ thọ ấy không thể chi phối tâm và an trú?
SC 20—Này Aggivessana, sao có thể không như vậy được? Ở đây, này Aggivessana, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ðời sống gia đình bị gò bó, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia như sống giữa hư không. Thật rất khó sống tại gia đình mà có thể sống hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh đời sống phạm hạnh thuần tịnh. Hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
SC 21Rồi này Aggivessana, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 22Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alāra Kālāma ở, khi đến xong liền thưa với Alāra Kālāma: “Hiền giả Kālāma, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này”. Này Aggivessana, được nghe nói vậy, Alāra Kālāma nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này Aggivessana, và không bao lâu Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Aggivessana, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
SC 23Này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: “Alāra Kālāma tuyên bố pháp này không phải chỉ vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú”. Chắc chắn Alāra Kālāma biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú”. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alāra Kālāma ở, sau khi đến Ta nói với Alāra Kālāma: “Hiền giả Kālāma, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?” Này Aggivessana, được nói vậy, Alāra Kālāma tuyên bố về Vô sở hữu xứ.
SC 24Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ: “Không phải chỉ có Alāra Kālāma có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alāra Kālāma tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú”.
SC 25Rồi này Aggivessana, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Alāra Kālāma ở, sau khi đến, Ta nói với Alāra Kālāma: “Này Hiền giả Kālāma, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” —“ Vâng, Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”.:” Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”.:” Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!”
SC 26Như vậy, này Aggivessana, Alāra Kālāma là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ”. Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
SC 27Rồi này Aggivessana, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này”. Ðược nói vậy, này Aggivessana, Uddaka Ramaputta nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này Aggivessana, Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Aggivessana, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí, và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
SC 28Này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: “Rama tuyên bố pháp này không phải vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú”. Chắc chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú”. Này Aggivessana, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?” Này Aggivessana, được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
SC 29Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ: “Không phải chỉ có Rama mới có lòng tin. Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú”.
SC 30Rồi này Aggivessana, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này Aggivessana, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” —“ Vâng Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”.:” Này Hiền giả, tôi cũng đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy.” Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!”
SC 31Như vậy, này Aggivessana, Uddaka Ramaputta là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
SC 32Này Aggivessana, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này Aggivessana, rồi Ta tự nghĩ: “Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn”. Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ rằng: “Thật đáng cố gắng tinh tấn ở nơi đây”.
SC 33Rồi này Aggivessana, ba ví dụ khởi lên nơi Ta, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe: Này Aggivessana, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống và đặt trong nước. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra”. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống đặt trong nước ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa thì có thể nhen lửa, khiến lửa nóng hiện ra được không?
SC 34—Thưa không, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì cành cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống lại bị ngâm trong nước, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.
SC 35—Cũng vậy, này Aggivessana, những Sa-môn hay những Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những gì đối với chúng thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt, nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác, và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Aggivessana, đó là ví dụ thứ nhất, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.
SC 36Này Aggivessana, rồi một ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra”. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến hơi nóng hiện ra được không?
SC 37—Thưa không, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống, dầu được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.
SC 38—Cũng vậy, này Aggivessana, những Sa-môn hay Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôm ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt. Nếu những Tôn giả Sa-môn, hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Aggivessana, đó là ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.
SC 39Này Aggivessana, rồi một ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, lửa nóng sẽ hiện ra”. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến nơi nóng hiện ra được không?
SC 40—Thưa được, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc cây ấy khô, không nhựa, lại được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô.
SC 41—Cũng vậy, này Aggivessana, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm được khéo đoạn trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị này cũng có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Aggivessana, đó là ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.
SC 42Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Ta hãy nghiến răng, dán chặt lên lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm!” Này Aggivessana, rồi Ta nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta. Này Aggivessana, như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục và đánh bại người ấy. Này Aggivessana, khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta, này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 43Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thì một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Aggivessana, ví như tiếng kinh khủng phát ra từ ống thổi bệ đang thổi của người thợ rèn. Cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thời một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị kích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 44Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Aggivessana, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc, cũng vậy, này Aggivessana, khi ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 45Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu, một cách kinh khủng. Này Aggivessana, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu một cách kinh khủng. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 46Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Aggivessana, ví như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dẫu cho niệm được an trú, không dao động nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại, nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 47Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Aggivessana, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Aggivessana, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm cánh tay một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai thì có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú, không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 48Lại nữa, này Aggivessana, chư Thiên thấy vậy nói như sau: “Sa-môn Gotama đã chết rồi”. Một số chư Thiên nói như sau: “Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng Sa-môn Gotama sắp sửa chết”. Một số chư Thiên nói như sau: “Sa-môn Gotama chưa chết. Sa-môn Gotama, cũng không phải sắp chết. Sa-môn Gotama là bậc A-la-hán, đời sống của một A-la-hán là như vậy”.
SC 49Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy hoàn toàn tuyệt thực”. Rồi này Aggivessana, chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Này Thiện hữu, Hiền giả chớ có hoàn toàn tuyệt thực. Này Thiện hữu, nếu Hiền giả có hoàn toàn tuyệt thực, chúng tôi sẽ đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Hiền giả, và nhờ vậy Hiền giả vẫn sống”. Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu Ta hoàn toàn tuyệt thực và chư Thiên này đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Ta và nhờ vậy Ta vẫn sống, thời như vậy Ta tự dối Ta”. Này Aggivessana, Ta bác bỏ chư Thiên ấy và nói: “Như vậy là đủ”.
SC 50Này Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: “Ta hãy giảm thiểu tối đa ăn uống, ăn ít từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ”. Và này Aggivessana, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống, ăn từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những gọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà; vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh; vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu; vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ da bụng”, thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Aggivessana, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện” thì Ta ngã qu? Úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Aggivessana, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Aggivessana, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.
SC 51Lại nữa, này Aggivessana, có người thấy vậy nói như sau: “Sa-môn Gotama có da đen”. Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama, da không đen, Sa-môn Gotama có da màu xám”. Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama da không đen, da không xám.” Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama da không đen, da không xám, Sa-môn Gotama có da màu vàng sẫm”. Cho đến mức độ như vậy, này Aggivessana, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại vì Ta ăn quá ít.
SC 52Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Thuở xưa có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Về tương lai, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng không thể có gì hơn nữa. Trong hiện tại, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Nhưng Ta, với sự khổ hạnh khốc liệt như thế này, vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?”
SC 53Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”. Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: “Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?” Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: “Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ”.
SC 54Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện?” Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: “Ta không sợ lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện”.
SC 55Rồi này Aggivessana, Ta suy nghĩ: “Nay thật không dễ gì chứng đạt lạc thọ ấy, với thân thể ốm yếu kinh khủng như thế này. Ta hãy ăn thô thực, ăn cơm chua”. Rồi này Aggivessana, Ta ăn thô thực, ăn cơm chua. Này Aggivessana, lúc bấy giờ, năm Tỷ-kheo đang hầu hạ Ta suy nghĩ: “Khi nào Sa-môn Gotama chứng pháp, vị ấy sẽ nói cho chúng ta biết”. Này Aggivessana, khi thấy Ta ăn thô thực, ăn cơm chua, các vị ấy chán ghét Ta, bỏ đi và nói: “Sa-môn Gotama nay sống đầy đủ vật chất, từ bỏ tinh tấn, trở lui đời sống sung túc”.
SC 56Và này Aggivessana, sau khi ăn thô thực và được sức lực trở lại, Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 57Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 58Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 59Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 60Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này”. Như vậy, Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Aggivessana, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được trong đêm canh một, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 61Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những vị này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Aggivessana, đó là minh thứ hai Ta đã chứng được trong đêm canh giữa, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 62Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta biết như thật: “Ðây là Khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát.” Ta đã biết: “Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”. Này Aggivessana, đó là minh thứ ba mà Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
SC 63Này Aggivessana, Ta biết rằng khi Ta thuyết pháp cho đại chúng gồm hàng trăm người, mỗi người nghĩ như thế này về Ta: “Ðặc biệt cho ta, Sa-môn Gotama thuyết pháp”. Này Aggivessana, chớ có hiểu như vậy. Khi Như Lai thuyết pháp cho đại chúng, thì đó chỉ vì mục đích giảng dạy. Và Ta, này Aggivessana, sau khi chấm dứt một buổi thuyết giảng như vậy, Ta an trú nội tâm, làm cho tịnh chỉ, làm cho nhất tâm, làm cho định tĩnh trên định tướng thứ nhất ấy, và như vậy Ta sống an trú, trường cửu, vĩnh viễn.
SC 64—Như vậy, Tôn giả Gotama thật đáng tin cậy, vì Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có cho phép ngủ ban ngày không?
SC 65—Này Aggivessana, Ta có cho phép, vào cuối tháng hạ, sau khi khất thực về, sau khi xếp áo sanghati (đại y) thành bốn, chánh niệm tỉnh giác, Ta nằm xuống ngủ, nằm phía tay mặt.
SC 66—Này Tôn giả Gotama, như vậy một số Sa-môn, Bà-la-môn gọi là an trú nơi si ám.
SC 67—Này Aggivessana, như vậy không phải là si ám hay không si ám. Này Aggivessana, như thế nào là si ám và như thế nào là không si ám? Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 68Niganthaputta Saccaka trả lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 69—Ðối với ai, các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hãi, liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, vị ấy Ta gọi là còn si ám. Này Aggivessana, đối với ai các lậu hoặc đã được đoạn trừ, những lậu hoặc, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, vị ấy Ta gọi là không si ám. Này Aggivessana, sự đoạn trừ lậu hoặc là không si ám. Này Aggivessana, đối với Như Lai, các lậu hoặc đã được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, chúng bị cắt tận gốc, được làm như cây ta-la bị chặt đầu, khiến cho không thể tái sanh, không thể sanh lại trong tương lai. Này Aggivessana, ví như cây ta-la bị chặt đứt đầu, không lớn lên; cũng vậy, này Aggivessana, đối với Như Lai, các lậu hoặc đã được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền não, sanh khởi hậu hữu, đáng sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai, chúng bị cắt tận gốc, được làm như cây ta-la bị chặt đầu, khiến cho không thể tái sanh, không thể sanh lại trong tương lai.
SC 70Khi được nghe nói vậy, Niganthaputta Saccaka bạch Thế Tôn
SC 71—Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Dầu cho Tôn giả Gotama bị chống đối một cách mỉa mai, dầu cho bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ, như một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tôn giả Gotama, tôi xác nhận tôi cùng với Purāna Kassapa biện luận, vị này khi bị tôi dùng lời nói chất vấn, liền tránh né với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, và tỏ lộ sự phẫn nộ, sân hận, tức tối. Còn Tôn giả Gotama, dầu bị chống đối một cách mỉa mai, dầu bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tôn giả Gotama, tôi xác nhận tôi cùng với Makkhali Gosāla … Ajita Kesakambala … Pakudha Kaccāyana … Sanjaya Bellaṭṭhiputta … cùng với Nigaṇṭha Nātaputta biện luận, vị này khi bị tôi dùng lời nói chất vấn liền tránh né với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề và tỏ lộ sự phẫn nộ, sân hận và tức tối. Còn Tôn giả Gotama, dầu bị chống đối một cách mỉa mai, dầu bị công kích với những lời lẽ buộc tội, trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Và này Tôn giả Gotama, chúng tôi nay phải đi, chúng tôi có nhiều công việc, có nhiều việc phải làm.
SC 72—Này Aggivessana, Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
SC 73Rồi Niganthaputta Saccaka hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Đại Saccaka
Tena kho pana samayena bhagavā pubbaṇhasamayaṁ sunivattho hoti pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pavisitukāmo.
Atha kho saccako nigaṇṭhaputto jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkami. Addasā kho āyasmā ānando saccakaṁ nigaṇṭhaputtaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, saccako nigaṇṭhaputto āgacchati bhassappavādako paṇḍitavādo sādhusammato bahujanassa. Eso kho, bhante, avaṇṇakāmo buddhassa, avaṇṇakāmo dhammassa, avaṇṇakāmo saṅghassa. Sādhu, bhante, bhagavā muhuttaṁ nisīdatu anukampaṁ upādāyā”ti. Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Atha kho saccako nigaṇṭhaputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho saccako nigaṇṭhaputto bhagavantaṁ etadavoca:
Now at that time in the morning the Buddha, being properly dressed, took his bowl and robe, wishing to enter Vesālī for alms.
Then as Saccaka, the son of Jain parents, was going for a walk he approached the hall with the peaked roof in the Great Wood. Venerable Ānanda saw him coming off in the distance, and said to the Buddha, “Sir, Saccaka, the son of Jain parents, is coming. He’s a controversialist who pretends to be astute and is deemed holy by many people. He wants to discredit the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. Please, sir, sit for an hour out of sympathy.” The Buddha sat down on the seat spread out.
Then Saccaka went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha,
364. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Vesālī, trong Đại Lâm, tại Trùng Các Giảng Đường. Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đã đắp y chỉnh tề, mang y bát, và có ý định vào thành Vesālī để khất thực. Lúc ấy, Saccaka con của Nigantha, đang đi kinh hành, dạo quanh để thư giãn, đã đi đến Đại Lâm, nơi có Trùng Các Giảng Đường. Tôn giả Ānanda thấy Saccaka con của Nigantha từ xa đi đến. Thấy vậy, Tôn giả bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, Saccaka con của Nigantha đang đi đến kia, một người thích tranh luận, tự cho là bậc trí, được nhiều người xem là bậc thánh. Bạch Thế Tôn, người này muốn tìm lỗi của Phật, muốn tìm lỗi của Pháp, muốn tìm lỗi của Tăng. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà ngồi xuống một lát.’ Thế Tôn bèn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Bấy giờ, Saccaka con của Nigantha đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, ông nói lời chào hỏi thân hữu với Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Saccaka con của Nigantha bạch với Thế Tôn rằng:
“Santi, bho gotama, eke samaṇabrāhmaṇā kāyabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti, no cittabhāvanaṁ. Phusanti hi te, bho gotama, sārīrikaṁ dukkhaṁ vedanaṁ. Bhūtapubbaṁ, bho gotama, sārīrikāya dukkhāya vedanāya phuṭṭhassa sato ūrukkhambhopi nāma bhavissati, hadayampi nāma phalissati, uṇhampi lohitaṁ mukhato uggamissati, ummādampi pāpuṇissati cittakkhepaṁ. Tassa kho etaṁ, bho gotama, kāyanvayaṁ cittaṁ hoti, kāyassa vasena vattati. Taṁ kissa hetu? Abhāvitattā cittassa. Santi pana, bho gotama, eke samaṇabrāhmaṇā cittabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti, no kāyabhāvanaṁ. Phusanti hi te, bho gotama, cetasikaṁ dukkhaṁ vedanaṁ. Bhūtapubbaṁ, bho gotama, cetasikāya dukkhāya vedanāya phuṭṭhassa sato ūrukkhambhopi nāma bhavissati, hadayampi nāma phalissati, uṇhampi lohitaṁ mukhato uggamissati, ummādampi pāpuṇissati cittakkhepaṁ. Tassa kho eso, bho gotama, cittanvayo kāyo hoti, cittassa vasena vattati. Taṁ kissa hetu? Abhāvitattā kāyassa. Tassa mayhaṁ, bho gotama, evaṁ hoti: ‘addhā bhoto gotamassa sāvakā cittabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti, no kāyabhāvanan’”ti.
“Worthy Gotama, there are some ascetics and brahmins who live committed to the practice of developing physical endurance, without developing the mind. They suffer painful physical feelings. This happened to someone once. Their thighs became paralyzed, their heart burst, hot blood gushed from their mouth, and they went mad and lost their mind. Their mind was subject to the body, and the body had power over it. Why is that? Because their mind was not developed. There are some ascetics and brahmins who live committed to the practice of developing the mind, without developing physical endurance. They suffer painful mental feelings. This happened to someone once. Their thighs became paralyzed, their heart burst, hot blood gushed from their mouth, and they went mad and lost their mind. Their body was subject to the mind, and the mind had power over it. Why is that? Because their physical endurance was not developed. It occurs to me that The worthy Gotama’s disciples must live committed to the practice of developing the mind, without developing physical endurance.”
365. ‘Thưa ngài Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn sống chuyên tâm tu tập thân, chứ không tu tập tâm. Thưa ngài Gotama, họ cảm nhận những khổ thọ thuộc về thân. Thưa ngài Gotama, điều này đã từng xảy ra: khi một người bị khổ thọ thuộc về thân tác động, có thể đùi sẽ bị cứng đờ, tim có thể vỡ tung, máu nóng có thể trào ra từ miệng, người ấy có thể bị điên cuồng, tâm trí rối loạn. Thưa ngài Gotama, đối với người ấy, tâm này thuận theo thân, bị thân chi phối. Vì sao vậy? Vì tâm không được tu tập. Lại nữa, thưa ngài Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn sống chuyên tâm tu tập tâm, chứ không tu tập thân. Thưa ngài Gotama, họ cảm nhận những khổ thọ thuộc về tâm. Thưa ngài Gotama, điều này đã từng xảy ra: khi một người bị khổ thọ thuộc về tâm tác động, có thể đùi sẽ bị cứng đờ, tim có thể vỡ tung, máu nóng có thể trào ra từ miệng, người ấy có thể bị điên cuồng, tâm trí rối loạn. Thưa ngài Gotama, đối với người ấy, thân này thuận theo tâm, bị tâm chi phối. Vì sao vậy? Vì thân không được tu tập. Thưa ngài Gotama, tôi có suy nghĩ như sau: ‘Chắc chắn các đệ tử của ngài Gotama sống chuyên tâm tu tập tâm, chứ không tu tập thân.’’
“Kinti pana te, aggivessana, kāyabhāvanā sutā”ti?
“Seyyathidaṁ—nando vaccho, kiso saṅkicco, makkhali gosālo—etehi, bho gotama, acelakā muttācārā hatthāpalekhanā naehibhaddantikā natiṭṭhabhaddantikā na abhihaṭaṁ na uddissakataṁ na nimantanaṁ sādiyanti, te na kumbhimukhā paṭiggaṇhanti na kaḷopimukhā paṭiggaṇhanti na eḷakamantaraṁ na daṇḍamantaraṁ na musalamantaraṁ na dvinnaṁ bhuñjamānānaṁ na gabbhiniyā na pāyamānāya na purisantaragatāya na saṅkittīsu na yattha sā upaṭṭhito hoti na yattha makkhikā saṇḍasaṇḍacārinī, na macchaṁ na maṁsaṁ na suraṁ na merayaṁ na thusodakaṁ pivanti. Te ekāgārikā vā honti ekālopikā, dvāgārikā vā honti dvālopikā …pe… sattāgārikā vā honti sattālopikā. Ekissāpi dattiyā yāpenti, dvīhipi dattīhi yāpenti …pe… sattahipi dattīhi yāpenti. Ekāhikampi āhāraṁ āhārenti, dvīhikampi āhāraṁ āhārenti …pe… sattāhikampi āhāraṁ āhārenti. Iti evarūpaṁ addhamāsikampi pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyuttā viharantī”ti.
“But Aggivessana, what have you heard about the development of physical endurance?”
“Take, for example, Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, and the bamboo-staffed ascetic Gosāla. They go naked, ignoring conventions. They lick their hands, and don’t come or wait when called. They don’t consent to food brought to them, or food prepared on their behalf, or an invitation for a meal. They don’t receive anything from a pot or bowl; or from someone who keeps sheep, or who has a weapon or a shovel in their home; or where a couple is eating; or where there is a woman who is pregnant, breastfeeding, or who lives with a man; or where there’s a hound waiting or flies buzzing. They accept no fish or meat or beer or wine, and drink no fermented gruel. They go to just one house for alms, taking just one mouthful, or two houses and two mouthfuls, up to seven houses and seven mouthfuls. They feed on one saucer a day, two saucers a day, up to seven saucers a day. They eat once a day, once every second day, up to once a week, and so on, even up to once a fortnight. They live committed to the practice of eating food at set intervals.”
366. “Này Aggivessana, ông đã nghe nói về sự tu dưỡng thân như thế nào?” “Thưa Tôn giả Gotama, ví như thế này – Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, và Makkhali Gosāla – những vị này không mặc quần áo, hành xử tự do, liếm tay cho sạch. Họ không chấp nhận lời mời ‘xin mời đến’, không chấp nhận lời mời ‘xin hãy dừng lại’. Họ không nhận vật thực được mang đến trước mặt, không nhận vật thực được cúng dường riêng cho họ, không nhận lời thỉnh mời. Họ không nhận vật thực lấy từ miệng nồi, không nhận vật thực lấy từ miệng giỏ. Họ không nhận vật thực được cúng qua ngưỡng cửa, qua cây gậy, qua cái chày. Họ không nhận vật thực từ hai người đang ăn, từ phụ nữ mang thai, từ phụ nữ đang cho con bú, từ phụ nữ có quan hệ với đàn ông. Họ không nhận vật thực được quyên góp, không nhận ở nơi có chó đứng chờ, không nhận ở nơi có ruồi bu thành bầy. Họ không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu cất, không uống rượu men, không uống nước ngâm chua. Họ chỉ nhận vật thực ở một nhà và chỉ ăn một miếng, hoặc nhận ở hai nhà và ăn hai miếng… hoặc nhận ở bảy nhà và ăn bảy miếng. Họ sống chỉ với một bát nhỏ, hoặc sống với hai bát nhỏ… hoặc sống với bảy bát nhỏ. Họ ăn một ngày một lần, hoặc hai ngày một lần… hoặc bảy ngày một lần. Cứ như thế, họ sống theo hạnh thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí là nửa tháng một lần.”
“Kiṁ pana te, aggivessana, tāvatakeneva yāpentī”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Appekadā, bho gotama, uḷārāni uḷārāni khādanīyāni khādanti, uḷārāni uḷārāni bhojanāni bhuñjanti, uḷārāni uḷārāni sāyanīyāni sāyanti, uḷārāni uḷārāni pānāni pivanti. Te imaṁ kāyaṁ balaṁ gāhenti nāma, brūhenti nāma, medenti nāmā”ti.
“But Aggivessana, do they get by on so little?”
“No, worthy Gotama. Sometimes they eat luxury fresh and cooked foods and drink a variety of luxury beverages. They gather their body’s strength, build it up, and get fat.”
“Này Aggivessana, phải chăng họ sống được chỉ với chừng ấy thôi sao?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy đâu. Thưa Tôn giả Gotama, đôi khi họ ăn những vật thực loại cứng rất thượng hạng, dùng những vật thực loại mềm rất thượng hạng, nếm những vật thực loại liếm rất thượng hạng, uống những loại thức uống rất thượng hạng. Họ làm cho thân này được gọi là có sức mạnh, được gọi là phát triển, được gọi là béo tốt.”
“Yaṁ kho te, aggivessana, purimaṁ pahāya pacchā upacinanti, evaṁ imassa kāyassa ācayāpacayo hoti. Kinti pana te, aggivessana, cittabhāvanā sutā”ti? Cittabhāvanāya kho saccako nigaṇṭhaputto bhagavatā puṭṭho samāno na sampāyāsi.
“What they earlier gave up, they later got back. That is how there is the increase and decrease of this body. But Aggivessana, what have you heard about development of the mind?” When Saccaka was questioned by the Buddha about development of the mind, he was stumped.
“Này Aggivessana, cái mà họ từ bỏ trước đây rồi lại bồi đắp về sau, như vậy thân này có sự tăng trưởng và suy giảm. Này Aggivessana, còn về sự tu dưỡng tâm, ông đã nghe nói như thế nào?” Khi được Đức Thế Tôn hỏi về sự tu dưỡng tâm, Saccaka, con của người Nigaṇṭha, đã không thể trả lời đầy đủ.
Atha kho bhagavā saccakaṁ nigaṇṭhaputtaṁ etadavoca: “yāpi kho te esā, aggivessana, purimā kāyabhāvanā bhāsitā sāpi ariyassa vinaye no dhammikā kāyabhāvanā. Kāyabhāvanampi kho tvaṁ, aggivessana, na aññāsi, kuto pana tvaṁ cittabhāvanaṁ jānissasi? Api ca, aggivessana, yathā abhāvitakāyo ca hoti abhāvitacitto ca, bhāvitakāyo ca hoti bhāvitacitto ca. Taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho saccako nigaṇṭhaputto bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
So the Buddha said to Saccaka, “The development of physical endurance that you have described is not the legitimate development of physical endurance in the Noble One’s training. And since you don’t even understand the development of physical endurance, how can you possibly understand the development of the mind? Still, as to how someone is undeveloped in physical endurance and mind, and how someone is developed in physical endurance and mind, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” replied Saccaka. The Buddha said this:
367. Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với Saccaka, con của người Nigaṇṭha, điều này: “Này Aggivessana, sự tu dưỡng thân mà ông đã nói trước đây, trong giới luật của bậc Thánh, đó không phải là sự tu dưỡng thân đúng pháp. Này Aggivessana, ông còn không biết về sự tu dưỡng thân, thì làm sao ông có thể biết về sự tu dưỡng tâm? Tuy nhiên, này Aggivessana, hãy nghe về thế nào là người có thân không được tu dưỡng và tâm không được tu dưỡng, và thế nào là người có thân được tu dưỡng và tâm được tu dưỡng. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” Saccaka, con của người Nigaṇṭha, đã vâng đáp Đức Thế Tôn: “Thưa vâng, Tôn giả.” Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Kathañca, aggivessana, abhāvitakāyo ca hoti abhāvitacitto ca? Idha, aggivessana, assutavato puthujjanassa uppajjati sukhā vedanā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno sukhasārāgī ca hoti sukhasārāgitañca āpajjati. Tassa sā sukhā vedanā nirujjhati. Sukhāya vedanāya nirodhā uppajjati dukkhā vedanā. So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. Tassa kho esā, aggivessana, uppannāpi sukhā vedanā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati abhāvitattā kāyassa, uppannāpi dukkhā vedanā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati abhāvitattā cittassa. Yassa kassaci, aggivessana, evaṁ ubhatopakkhaṁ uppannāpi sukhā vedanā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati abhāvitattā kāyassa, uppannāpi dukkhā vedanā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati abhāvitattā cittassa, evaṁ kho, aggivessana, abhāvitakāyo ca hoti abhāvitacitto ca.
“And how is someone undeveloped in physical endurance and mind? Take an unlearned ordinary person who has a pleasant feeling. When they experience a pleasant feeling they become full of lust for it. Then that pleasant feeling ceases. And when it ceases, a painful feeling arises. When they suffer painful feeling, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. Because their physical endurance is undeveloped, pleasant feelings occupy the mind. And because their mind is undeveloped, painful feelings occupy the mind. Anyone whose mind is occupied by both pleasant and painful feelings like this is undeveloped both in physical endurance and in mind.
368. “Này Aggivessana, thế nào là người có thân không được tu dưỡng và tâm không được tu dưỡng? Này Aggivessana, ở đây, đối với kẻ phàm phu vô văn, một cảm thọ lạc khởi lên. Khi được cảm thọ lạc ấy xúc chạm, vị ấy trở nên tham ái đối với lạc và đi đến tình trạng tham ái đối với lạc. Cảm thọ lạc ấy của vị ấy diệt đi. Do sự diệt đi của cảm thọ lạc, một cảm thọ khổ khởi lên. Khi được cảm thọ khổ ấy xúc chạm, vị ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực khóc lóc, đi đến si mê. Này Aggivessana, đối với vị ấy, cảm thọ lạc đã khởi lên ấy chiếm cứ tâm mà tồn tại do thân không được tu dưỡng, và cảm thọ khổ đã khởi lên ấy chiếm cứ tâm mà tồn tại do tâm không được tu dưỡng. Này Aggivessana, đối với bất kỳ ai mà cả hai phương diện đều như vậy, cảm thọ lạc đã khởi lên chiếm cứ tâm mà tồn tại do thân không được tu dưỡng, và cảm thọ khổ đã khởi lên chiếm cứ tâm mà tồn tại do tâm không được tu dưỡng, thì này Aggivessana, như vậy là người có thân không được tu dưỡng và tâm không được tu dưỡng.
Kathañca, aggivessana, bhāvitakāyo ca hoti bhāvitacitto ca? Idha, aggivessana, sutavato ariyasāvakassa uppajjati sukhā vedanā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno na sukhasārāgī ca hoti, na sukhasārāgitañca āpajjati. Tassa sā sukhā vedanā nirujjhati. Sukhāya vedanāya nirodhā uppajjati dukkhā vedanā. So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati. Tassa kho esā, aggivessana, uppannāpi sukhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati bhāvitattā kāyassa, uppannāpi dukkhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati bhāvitattā cittassa. Yassa kassaci, aggivessana, evaṁ ubhatopakkhaṁ uppannāpi sukhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati bhāvitattā kāyassa, uppannāpi dukkhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati bhāvitattā cittassa. Evaṁ kho, aggivessana, bhāvitakāyo ca hoti bhāvitacitto cā”ti.
And how is someone developed in physical endurance and mind? Take a learned noble disciple who has a pleasant feeling. When they experience a pleasant feeling they don’t become full of lust for it. Then that pleasant feeling ceases. And when it ceases, painful feeling arises. When they suffer painful feelings they don’t sorrow or wail or lament, beating their breast and falling into confusion. Because their physical endurance is developed, pleasant feelings don’t occupy the mind. And because their mind is developed, painful feelings don’t occupy the mind. Anyone whose mind is not occupied by both pleasant and painful feelings like this is developed both in physical endurance and in mind.”
369. “Này Aggivessana, thế nào là người có thân được tu dưỡng và tâm được tu dưỡng? Này Aggivessana, ở đây, đối với vị Thánh đệ tử hữu văn, một cảm thọ lạc khởi lên. Khi được cảm thọ lạc ấy xúc chạm, vị ấy không trở nên tham ái đối với lạc và không đi đến tình trạng tham ái đối với lạc. Cảm thọ lạc ấy của vị ấy diệt đi. Do sự diệt đi của cảm thọ lạc, một cảm thọ khổ khởi lên. Khi được cảm thọ khổ ấy xúc chạm, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến si mê. Này Aggivessana, đối với vị ấy, cảm thọ lạc đã khởi lên ấy không chiếm cứ tâm mà tồn tại do thân được tu dưỡng, và cảm thọ khổ đã khởi lên ấy không chiếm cứ tâm mà tồn tại do tâm được tu dưỡng. Này Aggivessana, đối với bất kỳ ai mà cả hai phương diện đều như vậy, cảm thọ lạc đã khởi lên không chiếm cứ tâm mà tồn tại do thân được tu dưỡng, và cảm thọ khổ đã khởi lên không chiếm cứ tâm mà tồn tại do tâm được tu dưỡng, thì này Aggivessana, như vậy là người có thân được tu dưỡng và tâm được tu dưỡng.”
“Evaṁ pasanno ahaṁ bhoto gotamassa. Bhavañhi gotamo bhāvitakāyo ca hoti bhāvitacitto cā”ti.
“Addhā kho te ayaṁ, aggivessana, āsajja upanīya vācā bhāsitā, api ca te ahaṁ byākarissāmi. Yato kho ahaṁ, aggivessana, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, taṁ vata me uppannā vā sukhā vedanā cittaṁ pariyādāya ṭhassati, uppannā vā dukkhā vedanā cittaṁ pariyādāya ṭhassatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
“I am quite confident that the worthy Gotama is developed in physical endurance and in mind.”
“Your words are clearly invasive and intrusive, Aggivessana. Nevertheless, I will answer you. Ever since I shaved off my hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness, it has not been possible for any pleasant or painful feeling to occupy my mind.”
370. ‘Bạch Tôn giả Gotama, con có lòng tịnh tín với ngài như vậy! Vì Tôn giả Gotama là người có thân được tu tập và có tâm được tu tập.’ ‘Này Aggivessana, chắc chắn lời nói này của ngươi đã được nói ra một cách công kích và ám chỉ, tuy nhiên ta sẽ giải thích cho ngươi. Này Aggivessana, kể từ khi ta cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, thì không có trường hợp nào mà một cảm thọ lạc khởi lên lại có thể chiếm lĩnh tâm ta mà tồn tại, hay một cảm thọ khổ khởi lên lại có thể chiếm lĩnh tâm ta mà tồn tại.’
“Na hi nūna bhoto gotamassa uppajjati tathārūpā sukhā vedanā yathārūpā uppannā sukhā vedanā cittaṁ pariyādāya tiṭṭheyya; na hi nūna bhoto gotamassa uppajjati tathārūpā dukkhā vedanā yathārūpā uppannā dukkhā vedanā cittaṁ pariyādāya tiṭṭheyyā”ti.
“Worthy Gotama mustn’t have experienced the kind of pleasant or painful feelings that would occupy the mind.”
‘Chắc hẳn Tôn giả Gotama không khởi lên loại cảm thọ lạc mà khi khởi lên có thể chiếm lĩnh tâm trí mà tồn tại; chắc hẳn Tôn giả Gotama không khởi lên loại cảm thọ khổ mà khi khởi lên có thể chiếm lĩnh tâm trí mà tồn tại.’
“Kiñhi no siyā, aggivessana? Idha me, aggivessana, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi: ‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
So kho ahaṁ, aggivessana, aparena samayena daharova samāno, susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā, akāmakānaṁ mātāpitūnaṁ assumukhānaṁ rudantānaṁ, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁ.
So evaṁ pabbajito samāno kiṅkusalagavesī anuttaraṁ santivarapadaṁ pariyesamāno yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavocaṁ: ‘icchāmahaṁ, āvuso kālāma, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun’ti.
Evaṁ vutte, aggivessana, āḷāro kālāmo maṁ etadavoca: ‘viharatāyasmā, tādiso ayaṁ dhammo yattha viññū puriso nacirasseva sakaṁ ācariyakaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā’ti.
So kho ahaṁ, aggivessana, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ pariyāpuṇiṁ. So kho ahaṁ, aggivessana, tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena lapitalāpanamattena ñāṇavādañca vadāmi theravādañca, ‘jānāmi passāmī’ti ca paṭijānāmi, ahañceva aññe ca.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘na kho āḷāro kālāmo imaṁ dhammaṁ kevalaṁ saddhāmattakena sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedeti, addhā āḷāro kālāmo imaṁ dhammaṁ jānaṁ passaṁ viharatī’ti.
“How could I not, Aggivessana? Before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’
Some time later, while still with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life—though my mother and father wished otherwise, weeping with tearful faces—I shaved off my hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness.
Once I had gone forth I set out to discover what is skillful, seeking the supreme state of sublime peace. I approached Āḷāra Kālāma and said to him, ‘Reverend Kālāma, I wish to lead the spiritual life in this teaching and training.’
Āḷāra Kālāma replied, ‘Stay, venerable. This teaching is such that a sensible person can soon realize their own denomination with their own insight and live having achieved it.’
I quickly memorized that teaching. As far as lip-recital and verbal repetition went, I spoke the doctrine of knowledge, the elder doctrine. I claimed to know and see, and so did others.
Then it occurred to me, ‘It is not solely by mere faith that Āḷāra Kālāma declares: “I realize this teaching with my own insight, and live having achieved it.” Surely he meditates knowing and seeing this teaching.’
371. ‘Này Aggivessana, tại sao lại không? Này Aggivessana, ở đây, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng ngộ, trong khi còn là Bồ-tát, ta đã có suy nghĩ này: ‘Đời sống gia đình thì chật chội, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì như khoảng trời quang đãng. Thật không dễ cho người sống tại gia thực hành phạm hạnh một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc được mài giũa. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.’ Này Aggivessana, sau một thời gian, khi ta còn trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời niên thiếu, trong khi cha mẹ không mong muốn, mặt đẫm lệ, đang khóc lóc, ta đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. Sau khi xuất gia như vậy, trong khi tìm kiếm điều gì là thiện, truy tầm con đường tối thượng, an tịnh, cao cả, ta đã đi đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, ta đã nói với Āḷāra Kālāma điều này: ‘Thưa hiền giả Kālāma, tôi muốn thực hành phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này.’ Này Aggivessana, khi được nói như vậy, Āḷāra Kālāma đã nói với ta điều này: ‘Mong hiền giả hãy ở lại, giáo pháp này là như vậy, nơi mà người có trí không bao lâu sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vào giáo lý của bậc thầy mình.’ Này Aggivessana, ta đã không bao lâu, một cách nhanh chóng, học thuộc giáo pháp ấy. Này Aggivessana, chỉ với chừng ấy, chỉ bằng sự mấp máy môi, chỉ bằng lời nói suông, ta vừa nói lời của người có trí, vừa nói lời của bậc trưởng lão, và ta thừa nhận rằng: ‘Tôi biết, tôi thấy,’ cả ta và những người khác. Này Aggivessana, ta đã có suy nghĩ này: ‘Āḷāra Kālāma không phải chỉ tuyên bố giáo pháp này với đức tin đơn thuần rằng: ‘Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú,’ chắc chắn Āḷāra Kālāma an trú trong khi biết và thấy giáo pháp này.’
Atha khvāhaṁ, aggivessana, yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavocaṁ: ‘kittāvatā no, āvuso kālāma, imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesī’ti? Evaṁ vutte, aggivessana, āḷāro kālāmo ākiñcaññāyatanaṁ pavedesi.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘na kho āḷārasseva kālāmassa atthi saddhā, mayhampatthi saddhā; na kho āḷārasseva kālāmassa atthi vīriyaṁ, mayhampatthi vīriyaṁ; na kho āḷārasseva kālāmassa atthi sati, mayhampatthi sati; na kho āḷārasseva kālāmassa atthi samādhi, mayhampatthi samādhi; na kho āḷārasseva kālāmassa atthi paññā, mayhampatthi paññā; yannūnāhaṁ yaṁ dhammaṁ āḷāro kālāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedeti tassa dhammassa sacchikiriyāya padaheyyan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṁ.
So I approached Āḷāra Kālāma and said to him, ‘Reverend Kālāma, to what extent do you say you’ve realized this teaching with your own insight?’ When I said this, he declared the dimension of nothingness.
Then it occurred to me, ‘It’s not just Āḷāra Kālāma who has faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom; I too have these things. Why don’t I make an effort to realize the same teaching that Āḷāra Kālāma says he has realized with his own insight?’ I quickly realized that teaching with my own insight, and lived having achieved it.
‘Rồi này Aggivessana, ta đã đi đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, ta đã nói với Āḷāra Kālāma điều này: ‘Thưa hiền giả Kālāma, ngài tuyên bố giáo pháp này đến mức độ nào, rằng: ‘Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú?’ Này Aggivessana, khi được nói như vậy, Āḷāra Kālāma đã tuyên bố về Vô Sở Hữu Xứ. Này Aggivessana, ta đã có suy nghĩ này: ‘Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có đức tin, ta cũng có đức tin; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có tinh tấn, ta cũng có tinh tấn; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có chánh niệm, ta cũng có chánh niệm; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có định, ta cũng có định; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có trí tuệ, ta cũng có trí tuệ. Vậy ta hãy nỗ lực để chứng ngộ giáo pháp mà Āḷāra Kālāma tuyên bố rằng ngài tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú.’ Này Aggivessana, ta đã không bao lâu, một cách nhanh chóng, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vào giáo pháp ấy.
Atha khvāhaṁ, aggivessana, yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavocaṁ: ‘ettāvatā no, āvuso kālāma, imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesī’ti?
‘Ettāvatā kho ahaṁ, āvuso, imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemī’ti.
‘Ahampi kho, āvuso, ettāvatā imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī’ti.
‘Lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso, ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ passāma. Iti yāhaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi taṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi; yaṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi tamahaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi. Iti yāhaṁ dhammaṁ jānāmi taṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi; yaṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi tamahaṁ dhammaṁ jānāmi. Iti yādiso ahaṁ tādiso tuvaṁ, yādiso tuvaṁ tādiso ahaṁ. Ehi dāni, āvuso, ubhova santā imaṁ gaṇaṁ pariharāmā’ti. Iti kho, aggivessana, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno attano antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesi.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘nāyaṁ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva ākiñcaññāyatanūpapattiyā’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, taṁ dhammaṁ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṁ.
So I approached Āḷāra Kālāma and said to him, ‘Reverend Kālāma, is it up to this point that you realized this teaching with your own insight, and declare having achieved it?’
‘I have, reverend.’
‘I too have realized this teaching with my own insight up to this point, and live having achieved it.’
‘We are fortunate, reverend, so very fortunate to see a venerable such as yourself as one of our spiritual companions! So the teaching that I’ve realized with my own insight, and declare having achieved it, you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it. The teaching that you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it, I’ve realized with my own insight, and declare having achieved it. So the teaching that I know, you know, and the teaching you know, I know. I am like you and you are like me. Come now, reverend! We should both lead this community together.’ And that is how my tutor Āḷāra Kālāma placed me, his pupil, on the same position as him, and honored me with high praise.
Then it occurred to me, ‘This teaching doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the dimension of nothingness.’ Realizing that this teaching was inadequate, I left disappointed.
“Này Aggivessana, rồi Ta đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa Hiền giả Kālāma, có phải chỉ đến mức độ này, Ngài tuyên bố pháp này sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ và chứng đắc không?’ Khi được nói vậy, Āḷāra Kālāma trả lời: ‘Thưa Hiền giả, chính đến mức độ này, tôi tuyên bố pháp này sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ và chứng đắc.’ Ta nói: ‘Thưa Hiền giả, tôi cũng vậy, đến mức độ này, tôi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đắc và an trú trong pháp này.’ Āḷāra Kālāma nói: ‘Thật là một lợi ích cho chúng tôi, thưa Hiền giả, thật là một điều may mắn cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một vị đồng phạm hạnh đáng kính như Ngài. Như vậy, pháp mà tôi tuyên bố sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ và chứng đắc, thì Ngài cũng đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đắc và an trú trong pháp đó; pháp mà Ngài đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đắc và an trú, thì tôi cũng tuyên bố pháp đó sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ và chứng đắc. Như vậy, pháp mà tôi biết thì Ngài cũng biết; pháp mà Ngài biết thì tôi cũng biết. Như vậy, tôi thế nào thì Ngài thế ấy, Ngài thế nào thì tôi thế ấy. Này Hiền giả, hãy lại đây, bây giờ cả hai chúng ta hãy cùng nhau lãnh đạo hội chúng này.’ Này Aggivessana, như vậy đó, Āḷāra Kālāma, là thầy của Ta, đã đặt Ta, là đệ tử, ngang hàng với chính mình, và đã tôn vinh Ta bằng sự tôn vinh cao quý nhất. Này Aggivessana, Ta suy nghĩ thế này: ‘Pháp này không đưa đến yếm ly, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự tái sanh vào cõi Vô Sở Hữu Xứ.’ Này Aggivessana, Ta, không hài lòng với pháp đó, đã nhàm chán và từ bỏ pháp đó mà ra đi.”
So kho ahaṁ, aggivessana, kiṅkusalagavesī anuttaraṁ santivarapadaṁ pariyesamāno yena udako rāmaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā udakaṁ rāmaputtaṁ etadavocaṁ: ‘icchāmahaṁ, āvuso, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun’ti.
Evaṁ vutte, aggivessana, udako rāmaputto maṁ etadavoca: ‘viharatāyasmā, tādiso ayaṁ dhammo yattha viññū puriso nacirasseva sakaṁ ācariyakaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā’ti.
So kho ahaṁ, aggivessana, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ pariyāpuṇiṁ. So kho ahaṁ, aggivessana, tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena lapitalāpanamattena ñāṇavādañca vadāmi theravādañca, ‘jānāmi passāmī’ti ca paṭijānāmi, ahañceva aññe ca.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘na kho rāmo imaṁ dhammaṁ kevalaṁ saddhāmattakena sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesi. Addhā rāmo imaṁ dhammaṁ jānaṁ passaṁ vihāsī’ti.
Atha khvāhaṁ, aggivessana, yena udako rāmaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā udakaṁ rāmaputtaṁ etadavocaṁ: ‘kittāvatā no āvuso rāmo imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesī’ti? Evaṁ vutte, aggivessana, udako rāmaputto nevasaññānāsaññāyatanaṁ pavedesi.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘na kho rāmasseva ahosi saddhā, mayhampatthi saddhā; na kho rāmasseva ahosi vīriyaṁ, mayhampatthi vīriyaṁ; na kho rāmasseva ahosi sati, mayhampatthi sati; na kho rāmasseva ahosi samādhi, mayhampatthi samādhi; na kho rāmasseva ahosi paññā, mayhampatthi paññā; yannūnāhaṁ yaṁ dhammaṁ rāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesi tassa dhammassa sacchikiriyāya padaheyyan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṁ.
Atha khvāhaṁ, aggivessana, yena udako rāmaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā udakaṁ rāmaputtaṁ etadavocaṁ:
I set out to discover what is skillful, seeking the supreme state of sublime peace. I approached Uddaka son of Rāma and said to him, ‘Reverend, I wish to lead the spiritual life in this teaching and training.’
Uddaka replied, ‘Stay, venerable. This teaching is such that a sensible person can soon realize their own denomination with their own insight and live having achieved it.’
I quickly memorized that teaching. As far as lip-recital and verbal repetition went, I spoke the doctrine of knowledge, the elder doctrine. I claimed to know and see, and so did others.
Then it occurred to me, ‘It is not solely by mere faith that Rāma declared: “I realize this teaching with my own insight, and live having achieved it.” Surely he meditated knowing and seeing this teaching.’
So I approached Uddaka son of Rāma and said to him, ‘Reverend, to what extent did Rāma say he’d realized this teaching with his own insight?’ When I said this, Uddaka son of Rāma declared the dimension of neither perception nor non-perception.
Then it occurred to me, ‘It’s not just Rāma who had faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom; I too have these things. Why don’t I make an effort to realize the same teaching that Rāma said he had realized with his own insight?’ I quickly realized that teaching with my own insight, and lived having achieved it.
So I approached Uddaka son of Rāma and said to him,
372. “Này Aggivessana, Ta, trong khi tìm kiếm điều thiện lành, tìm cầu trạng thái an tịnh, vô thượng, tối thắng, đã đi đến chỗ Udaka con của Rāma; sau khi đến, Ta nói với Udaka con của Rāma: ‘Thưa Hiền giả, tôi muốn thực hành phạm hạnh trong Pháp và Luật này.’ Này Aggivessana, khi được nói vậy, Udaka con của Rāma nói với Ta điều này: ‘Tôn giả cứ an trú, pháp này là như vậy, ở đây người có trí không bao lâu sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đắc và an trú trong giáo lý của thầy mình.’ Này Aggivessana, Ta không bao lâu, một cách nhanh chóng, đã học thuộc pháp đó. Này Aggivessana, Ta, chỉ với mức độ mấp máy môi, với mức độ lời nói suông, đã nói lên lời của người có trí và lời của bậc trưởng lão, và Ta đã tuyên bố: ‘Tôi biết, tôi thấy,’ cả Ta và những người khác cũng vậy. Này Aggivessana, Ta suy nghĩ thế này: ‘Chắc chắn Rāma không phải chỉ với lòng tin suông mà tuyên bố pháp này rằng: ‘Tôi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đắc và an trú.’ Chắc chắn Rāma đã an trú, biết và thấy pháp này.’ Này Aggivessana, rồi Ta đi đến chỗ Udaka con của Rāma; sau khi đến, Ta nói với Udaka con của Rāma: ‘Thưa Hiền giả, Rāma đã tuyên bố pháp này đến mức độ nào, sau khi đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đắc và nói rằng: ‘Tôi an trú’?’ Này Aggivessana, khi được nói vậy, Udaka con của Rāma đã tuyên bố về cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này Aggivessana, Ta suy nghĩ thế này: ‘Không phải chỉ Rāma mới có đức tin, Ta cũng có đức tin; không phải chỉ Rāma mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn; không phải chỉ Rāma mới có chánh niệm, Ta cũng có chánh niệm; không phải chỉ Rāma mới có định, Ta cũng có định; không phải chỉ Rāma mới có trí tuệ, Ta cũng có trí tuệ. Ta nên nỗ lực để chứng ngộ pháp mà Rāma đã tuyên bố rằng ngài đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đắc và an trú.’ Này Aggivessana, Ta, không bao lâu, một cách nhanh chóng, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đắc và an trú trong pháp đó.”
‘Ettāvatā kho āvuso rāmo imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesī’ti.
‘Ahampi kho, āvuso, ettāvatā imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī’ti.
‘Lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso, ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ passāma. Iti yaṁ dhammaṁ rāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi, taṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi; yaṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi, taṁ dhammaṁ rāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi. Iti yaṁ dhammaṁ rāmo abhiññāsi taṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi; yaṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi taṁ dhammaṁ rāmo abhiññāsi. Iti yādiso rāmo ahosi tādiso tuvaṁ; yādiso tuvaṁ tādiso rāmo ahosi. Ehi dāni, āvuso, tuvaṁ imaṁ gaṇaṁ pariharā’ti. Iti kho, aggivessana, udako rāmaputto sabrahmacārī me samāno ācariyaṭṭhāne ca maṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesi.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘nāyaṁ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva nevasaññānāsaññāyatanūpapattiyā’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, taṁ dhammaṁ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṁ.
‘He had, reverend.’
‘I too have realized this teaching with my own insight up to this point, and live having achieved it.’
‘We are fortunate, reverend, so very fortunate to see a venerable such as yourself as one of our spiritual companions! So the teaching that Rāma had realized with his own insight, and declared having achieved it, you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it. The teaching that you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it, Rāma had realized with his own insight, and declared having achieved it. So the teaching that Rāma directly knew, you know, and the teaching you know, Rāma directly knew. Rāma was like you and you are like Rāma. Come now, reverend! You should lead this community.’ And that is how my spiritual companion Uddaka son of Rāma placed me in the position of a tutor and honored me with high praise.
Then it occurred to me, ‘This teaching doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the dimension of neither perception nor non-perception.’ Realizing that this teaching was inadequate, I left disappointed.
Này Aggivessana, rồi Ta đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta điều này: ‘Thưa hiền giả, có phải chỉ đến mức độ này mà ngài Rāma, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến, đã tuyên bố pháp này không?’ ‘Thưa hiền giả, đúng vậy, chỉ đến mức độ này mà ngài Rāma, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến, đã tuyên bố pháp này.’ ‘Thưa hiền giả, tôi cũng vậy, chỉ đến mức độ này, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến, tôi đang an trú trong pháp này.’ ‘Thưa hiền giả, thật là một lợi ích cho chúng tôi, thật là một điều may mắn cho chúng tôi, khi chúng tôi được gặp một vị đồng phạm hạnh như tôn giả. Như vậy, pháp nào mà ngài Rāma, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến, đã tuyên bố, thì pháp ấy ngài, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến, đang an trú; pháp nào mà ngài, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến, đang an trú, thì pháp ấy ngài Rāma, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến, đã tuyên bố. Như vậy, pháp nào ngài Rāma đã biết, pháp ấy ngài cũng biết; pháp nào ngài biết, pháp ấy ngài Rāma đã biết. Như vậy, ngài Rāma như thế nào, ngài cũng như thế ấy; ngài như thế nào, ngài Rāma cũng như thế ấy. Này hiền giả, bây giờ hãy đến, ngài hãy lãnh đạo hội chúng này.’ Này Aggivessana, như vậy đó, Udaka Rāmaputta, dù là đồng phạm hạnh với Ta, đã đặt Ta vào vị trí của một vị thầy, và đã cúng dường Ta với sự cúng dường cao quý. Này Aggivessana, Ta khởi lên ý nghĩ này: ‘Pháp này không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng tri, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự tái sanh vào cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ.’ Này Aggivessana, Ta, không thỏa mãn với pháp ấy, đã nhàm chán và từ bỏ pháp ấy mà ra đi.
So kho ahaṁ, aggivessana, kiṅkusalagavesī anuttaraṁ santivarapadaṁ pariyesamāno magadhesu anupubbena cārikaṁ caramāno yena uruvelā senānigamo tadavasariṁ. Tatthaddasaṁ ramaṇīyaṁ bhūmibhāgaṁ, pāsādikañca vanasaṇḍaṁ, nadiñca sandantiṁ setakaṁ supatitthaṁ ramaṇīyaṁ, samantā ca gocaragāmaṁ. Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘ramaṇīyo vata bho bhūmibhāgo, pāsādiko ca vanasaṇḍo, nadī ca sandati setakā supatitthā ramaṇīyā, samantā ca gocaragāmo. Alaṁ vatidaṁ kulaputtassa padhānatthikassa padhānāyā’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, tattheva nisīdiṁ ‘alamidaṁ padhānāyā’ti.
I set out to discover what is skillful, seeking the supreme state of sublime peace. Traveling stage by stage in the Magadhan lands, I arrived at the town of Senā in Uruvelā. There I saw a delightful park, a lovely grove with a flowing river that was clean and charming, with smooth banks. And nearby was a village to resort to for alms. Then it occurred to me, ‘This park is truly delightful, a lovely grove with a flowing river that’s clean and charming, with smooth banks. And nearby there’s a village to resort to for alms. This is good enough for striving for a gentleman wanting to strive.’ So I sat down right there, thinking: ‘This is good enough for striving.’
373. Này Aggivessana, Ta, trong khi tìm kiếm cái gì là thiện, trong khi truy tầm trạng thái an tịnh vô thượng, đã du hành tuần tự qua xứ Magadha và đi đến Senānigama ở Uruvelā. Ở đó, Ta thấy một vùng đất khả ái, một khu rừng đáng ưa thích, một dòng sông đang chảy với nước trong, bến nước tốt, thật khả ái, và xung quanh là một ngôi làng để khất thực. Này Aggivessana, Ta khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật vậy, thưa các vị, vùng đất này khả ái, khu rừng này đáng ưa thích, dòng sông này đang chảy với nước trong, bến nước tốt, thật khả ái, và xung quanh là một ngôi làng để khất thực. Nơi này thật thích hợp cho một thiện nam tử muốn tinh cần, để nỗ lực tinh cần.’ Này Aggivessana, Ta đã ngồi xuống ngay tại đó, với ý nghĩ: ‘Nơi này thích hợp để tinh cần.’
Apissumaṁ, aggivessana, tisso upamā paṭibhaṁsu anacchariyā pubbe assutapubbā. Seyyathāpi, aggivessana, allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ udake nikkhittaṁ. Atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṁ ādāya: ‘aggiṁ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, api nu so puriso amuṁ allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ, udake nikkhittaṁ, uttarāraṇiṁ ādāya abhimanthento aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”. “Taṁ kissa hetu”? “Aduñhi, bho gotama, allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ, tañca pana udake nikkhittaṁ. Yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, aggivessana, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi avūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṁ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho, so ca ajjhattaṁ na suppahīno hoti, na suppaṭippassaddho, opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. No cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. Ayaṁ kho maṁ, aggivessana, paṭhamā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā.
And then these three similes, which were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past, occurred to me. Suppose there was a green, sappy log, and it was lying in water. Then a person comes along with a drill-stick, thinking to light a fire and produce heat. What do you think, Aggivessana? By drilling the stick against that green, sappy log lying in water, could they light a fire and produce heat?”
“No, worthy Gotama. Why is that? Because it’s a green, sappy log, and it’s lying in the water. That person will eventually get weary and frustrated.”
“In the same way, there are ascetics and brahmins who don’t live withdrawn in body and mind from sensual pleasures. They haven’t internally given up or stilled desire, affection, infatuation, thirst, and passion for sensual pleasures. Regardless of whether or not they suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion, they are incapable of knowledge and vision, of supreme awakening. This was the first example that occurred to me.
374. Này Aggivessana, lại nữa, ba ví dụ, kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong Ta. Này Aggivessana, ví như một khúc củi tươi, còn nhựa, được đặt trong nước. Rồi một người đến, mang theo que đánh lửa phía trên, với ý nghĩ: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, ta sẽ làm cho hơi nóng xuất hiện.’ Này Aggivessana, ông nghĩ thế nào? Người ấy, lấy que đánh lửa phía trên mà cọ xát vào khúc củi tươi, còn nhựa, được đặt trong nước kia, có thể tạo ra lửa, làm cho hơi nóng xuất hiện không?” “Thưa Tôn giả Gotama, không thể được.” “Vì sao vậy?” “Thưa Tôn giả Gotama, vì khúc củi kia vừa tươi, vừa còn nhựa, lại còn được đặt trong nước. Người ấy sẽ chỉ chuốc lấy mệt mỏi và phiền não mà thôi.” “Này Aggivessana, cũng vậy, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sống không xa lìa các dục về thân và tâm, và lòng tham dục, ái dục, say đắm trong dục, khát ái trong dục, nhiệt não trong dục của họ đối với các dục chưa được đoạn trừ, chưa được lắng dịu ở bên trong; những vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy, dù họ có cảm thọ những cảm giác đau đớn, mãnh liệt, khốc liệt, cay đắng do nỗ lực tu tập, họ vẫn không có khả năng đạt đến tri kiến, đạt đến sự giác ngộ vô thượng. Và những vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy, dù họ không cảm thọ những cảm giác đau đớn, mãnh liệt, khốc liệt, cay đắng do nỗ lực tu tập, họ vẫn không có khả năng đạt đến tri kiến, đạt đến sự giác ngộ vô thượng. Này Aggivessana, đây là ví dụ thứ nhất, kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong Ta.
Aparāpi kho maṁ, aggivessana, dutiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā. Seyyathāpi, aggivessana, allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ, ārakā udakā thale nikkhittaṁ. Atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṁ ādāya: ‘aggiṁ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, api nu so puriso amuṁ allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ, ārakā udakā thale nikkhittaṁ, uttarāraṇiṁ ādāya abhimanthento aggiṁ abhinibbatteyya tejo pātukareyyā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”. “Taṁ kissa hetu”? “Aduñhi, bho gotama, allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ, kiñcāpi ārakā udakā thale nikkhittaṁ. Yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, aggivessana, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi vūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṁ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho so ca ajjhattaṁ na suppahīno hoti, na suppaṭippassaddho, opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. No cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. Ayaṁ kho maṁ, aggivessana, dutiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā
Then a second example occurred to me. Suppose there was a green, sappy log, and it was lying on dry land far from the water. Then a person comes along with a drill-stick, thinking to light a fire and produce heat. What do you think, Aggivessana? By drilling the stick against that green, sappy log on dry land far from water, could they light a fire and produce heat?”
“No, worthy Gotama. Why not? Because it’s still a green, sappy log, despite the fact that it’s lying on dry land far from water. That person will eventually get weary and frustrated.”
“In the same way, there are ascetics and brahmins who live withdrawn in body and mind from sensual pleasures. But they haven’t internally given up or stilled desire, affection, infatuation, thirst, and passion for sensual pleasures. Regardless of whether or not they suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion, they are incapable of knowledge and vision, of supreme awakening. This was the second example that occurred to me.
375. “Này Aggivessana, lại nữa, một ví dụ thứ hai, phi thường, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc củi tươi, còn nhựa, được vớt lên khỏi nước và đặt trên đất khô. Rồi một người đi đến, mang theo que cọ xát phía trên, và nói: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, ta sẽ làm cho hơi nóng xuất hiện’. Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào? Người ấy lấy que cọ xát phía trên mà cọ xát vào khúc củi tươi, còn nhựa, đã được vớt lên khỏi nước và đặt trên đất khô kia, liệu có thể tạo ra lửa, làm cho hơi nóng xuất hiện được không?” “Thưa Tôn giả Gotama, điều này không thể được.” “Vì sao vậy?” “Thưa Tôn giả Gotama, vì khúc củi kia tuy đã được vớt lên khỏi nước và đặt trên đất khô, nhưng nó vẫn còn tươi và còn nhựa. Người ấy chỉ chuốc lấy mệt mỏi và thất vọng mà thôi.” Cũng vậy, này Aggivessana, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sống xa lìa các dục về phương diện thân và tâm, nhưng lòng tham dục, ái dục, mê đắm trong dục, khao khát dục, và nhiệt não vì dục đối với các dục ở bên trong vẫn chưa được đoạn trừ hoàn toàn, chưa được lắng dịu hoàn toàn, thì những vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy, dù cho có cảm nhận những cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, nhức nhối do sự nỗ lực tinh tấn, họ vẫn không có khả năng đạt đến trí tuệ, tri kiến, và sự giác ngộ vô thượng. Và dù cho họ không cảm nhận những cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, nhức nhối do sự nỗ lực tinh tấn, họ vẫn không có khả năng đạt đến trí tuệ, tri kiến, và sự giác ngộ vô thượng. Này Aggivessana, đây là ví dụ thứ hai, phi thường, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong ta.”
Aparāpi kho maṁ, aggivessana, tatiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā. Seyyathāpi, aggivessana, sukkhaṁ kaṭṭhaṁ koḷāpaṁ, ārakā udakā thale nikkhittaṁ. Atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṁ ādāya: ‘aggiṁ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, api nu so puriso amuṁ sukkhaṁ kaṭṭhaṁ koḷāpaṁ, ārakā udakā thale nikkhittaṁ, uttarāraṇiṁ ādāya abhimanthento aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā”ti?
“Evaṁ, bho gotama”. “Taṁ kissa hetu”? “Aduñhi, bho gotama, sukkhaṁ kaṭṭhaṁ koḷāpaṁ, tañca pana ārakā udakā thale nikkhittan”ti.
“Evameva kho, aggivessana, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi vūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṁ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho, so ca ajjhattaṁ suppahīno hoti suppaṭippassaddho, opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, bhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. No cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, bhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. Ayaṁ kho maṁ, aggivessana, tatiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā. Imā kho maṁ, aggivessana, tisso upamā paṭibhaṁsu anacchariyā pubbe assutapubbā.
Then a third example occurred to me. Suppose there was a dried up, withered log, and it was lying on dry land far from the water. Then a person comes along with a drill-stick, thinking to light a fire and produce heat. What do you think, Aggivessana? By drilling the stick against that dried up, withered log on dry land far from water, could they light a fire and produce heat?”
“Yes, worthy Gotama. Why is that? Because it’s a dried up, withered log, and it’s lying on dry land far from water.”
“In the same way, there are ascetics and brahmins who live withdrawn in body and mind from sensual pleasures. And they have internally given up and stilled desire, affection, infatuation, thirst, and passion for sensual pleasures. Regardless of whether or not they suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion, they are capable of knowledge and vision, of supreme awakening. This was the third example that occurred to me. These are the three similes, which were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past, that occurred to me.
376. “Này Aggivessana, lại nữa, một ví dụ thứ ba, phi thường, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong ta. Này Aggivessana, ví như có một khúc củi khô, hết nhựa, được đặt xa khỏi nước, trên đất khô. Rồi một người đi đến, mang theo que cọ xát phía trên, và nói: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, ta sẽ làm cho hơi nóng xuất hiện’. Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào? Người ấy lấy que cọ xát phía trên mà cọ xát vào khúc củi khô, hết nhựa, đã được đặt xa khỏi nước, trên đất khô kia, liệu có thể tạo ra lửa, làm cho hơi nóng xuất hiện được không?” “Thưa Tôn giả Gotama, điều này có thể được.” “Vì sao vậy?” “Thưa Tôn giả Gotama, vì khúc củi kia vốn đã khô, hết nhựa, lại còn được đặt xa khỏi nước, trên đất khô.” Cũng vậy, này Aggivessana, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sống xa lìa các dục về phương diện thân và tâm, và lòng tham dục, ái dục, mê đắm trong dục, khao khát dục, và nhiệt não vì dục đối với các dục ở bên trong đã được đoạn trừ hoàn toàn, đã được lắng dịu hoàn toàn, thì những vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy, dù cho có cảm nhận những cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, nhức nhối do sự nỗ lực tinh tấn, họ vẫn có khả năng đạt đến trí tuệ, tri kiến, và sự giác ngộ vô thượng. Và dù cho họ không cảm nhận những cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, nhức nhối do sự nỗ lực tinh tấn, họ vẫn có khả năng đạt đến trí tuệ, tri kiến, và sự giác ngộ vô thượng. Này Aggivessana, đây là ví dụ thứ ba, phi thường, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong ta. Này Aggivessana, ba ví dụ này, phi thường, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong ta.”
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ dantebhi dantamādhāya, jivhāya tāluṁ āhacca, cetasā cittaṁ abhiniggaṇheyyaṁ abhinippīḷeyyaṁ abhisantāpeyyan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, dantebhi dantamādhāya, jivhāya tāluṁ āhacca, cetasā cittaṁ abhiniggaṇhāmi abhinippīḷemi abhisantāpemi. Tassa mayhaṁ, aggivessana, dantebhi dantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato kacchehi sedā muccanti. Seyyathāpi, aggivessana, balavā puriso dubbalataraṁ purisaṁ sīse vā gahetvā khandhe vā gahetvā abhiniggaṇheyya abhinippīḷeyya abhisantāpeyya; evameva kho me, aggivessana, dantebhi dantamādhāya, jivhāya tāluṁ āhacca, cetasā cittaṁ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato kacchehi sedā muccanti. Āraddhaṁ kho pana me, aggivessana, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā dukkhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I, with teeth clenched and tongue pressed against the roof of my mouth, squeeze, squash, and scorch mind with mind?’ So that’s what I did, until sweat ran from my armpits. It was like when a strong man grabs a weaker man by the head or throat or shoulder and squeezes, squashes, and crushes them. In the same way, with teeth clenched and tongue pressed against the roof of my mouth, I squeezed, squashed, and crushed mind with mind until sweat ran from my armpits. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving. But even such painful feeling did not occupy my mind.
377. “Này Aggivessana, khi ấy ta suy nghĩ thế này: ‘Hay là ta nghiến răng, dùng lưỡi ép lên vòm miệng, rồi dùng tâm để chế ngự, đè nén, và hành hạ tâm?’ Này Aggivessana, rồi ta nghiến răng, dùng lưỡi ép lên vòm miệng, rồi dùng tâm để chế ngự, đè nén, và hành hạ tâm. Này Aggivessana, trong khi ta nghiến răng, dùng lưỡi ép lên vòm miệng, dùng tâm để chế ngự, đè nén, và hành hạ tâm, mồ hôi tuôn ra từ nách của ta. Này Aggivessana, ví như một người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy đầu hoặc vai của một người đàn ông yếu hơn rồi chế ngự, đè nén, và hành hạ người ấy; cũng vậy, này Aggivessana, trong khi ta nghiến răng, dùng lưỡi ép lên vòm miệng, dùng tâm để chế ngự, đè nén, và hành hạ tâm, mồ hôi tuôn ra từ nách của ta. Này Aggivessana, tinh tấn của ta được khơi dậy, không uể oải; chánh niệm được thiết lập, không xao lãng. Nhưng thân của ta bị kích động và không được an tịnh, vì bị sự nỗ lực đau đớn ấy hành hạ. Dù vậy, này Aggivessana, cảm thọ đau đớn như thế khởi lên nơi ta cũng không chiếm lĩnh được tâm ta và tồn tại.”
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca assāsapassāsesu uparuddhesu kaṇṇasotehi vātānaṁ nikkhamantānaṁ adhimatto saddo hoti. Seyyathāpi nāma kammāragaggariyā dhamamānāya adhimatto saddo hoti; evameva kho me, aggivessana, mukhato ca nāsato ca assāsapassāsesu uparuddhesu kaṇṇasotehi vātānaṁ nikkhamantānaṁ adhimatto saddo hoti. Āraddhaṁ kho pana me, aggivessana, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā dukkhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I practice the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose. But then winds came out my ears making a loud noise, like the puffing of a blacksmith’s bellows. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving. But even such painful feeling did not occupy my mind.
378. Này Aggivessana, ta đã có suy nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành thiền định không-hơi-thở.’ Này Aggivessana, ta đã ngưng hơi thở ra vào từ miệng và từ mũi. Này Aggivessana, khi ta ngưng hơi thở ra vào từ miệng và từ mũi, có tiếng động quá mức của các luồng gió thoát ra từ hai lỗ tai. Ví như tiếng động quá mức phát ra từ ống bễ của người thợ rèn đang được thổi, này Aggivessana, cũng giống như thế, khi ta ngưng hơi thở ra vào từ miệng và từ mũi, có tiếng động quá mức của các luồng gió thoát ra từ hai lỗ tai. Này Aggivessana, tuy nhiên nỗ lực của ta đã được khởi phát và không sụt giảm, chánh niệm đã được thiết lập và không xao lãng. Nhưng thân của ta bị kích động và không được an tịnh bởi chính sự khổ hạnh ấy, trong khi đang bị sự tinh tấn hành hạ. Này Aggivessana, dầu cho khổ thọ như thế đã khởi lên nơi ta, nó cũng không chiếm ngự và an trú trong tâm.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā muddhani ūhananti. Seyyathāpi, aggivessana, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evameva kho me, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā muddhani ūhananti. Āraddhaṁ kho pana me, aggivessana, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā dukkhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I keep practicing the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose and ears. But then strong winds ground my head, like a strong man was drilling into my head with a sharp point. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving. But even such painful feeling did not occupy my mind.
Này Aggivessana, ta đã có suy nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành thiền định không-hơi-thở.’ Này Aggivessana, ta đã ngưng hơi thở ra vào từ miệng, từ mũi, và từ tai. Này Aggivessana, khi ta ngưng hơi thở ra vào từ miệng, từ mũi, và từ tai, có các luồng gió quá mức đập vào đỉnh đầu. Ví như người đàn ông khỏe mạnh dùng mũi dùi sắc nhọn để khoan vào đỉnh đầu, này Aggivessana, cũng giống như thế, khi ta ngưng hơi thở ra vào từ miệng, từ mũi, và từ tai, có các luồng gió quá mức đập vào đỉnh đầu. Này Aggivessana, tuy nhiên nỗ lực của ta đã được khởi phát và không sụt giảm, chánh niệm đã được thiết lập và không xao lãng. Nhưng thân của ta bị kích động và không được an tịnh bởi chính sự khổ hạnh ấy, trong khi đang bị sự tinh tấn hành hạ. Này Aggivessana, dầu cho khổ thọ như thế đã khởi lên nơi ta, nó cũng không chiếm ngự và an trú trong tâm.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā sīse sīsavedanā honti. Seyyathāpi, aggivessana, balavā puriso daḷhena varattakkhaṇḍena sīse sīsaveṭhaṁ dadeyya; evameva kho me, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā sīse sīsavedanā honti. Āraddhaṁ kho pana me, aggivessana, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā dukkhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I keep practicing the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose and ears. But then I got a severe headache, like a strong man was tightening a strong leather strap around my head. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving. But even such painful feeling did not occupy my mind.
Này Aggivessana, ta đã có suy nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành thiền định không-hơi-thở.’ Này Aggivessana, ta đã ngưng hơi thở ra vào từ miệng, từ mũi, và từ tai. Này Aggivessana, khi ta ngưng hơi thở ra vào từ miệng, từ mũi, và từ tai, có những cơn đau đầu dữ dội. Ví như người đàn ông khỏe mạnh dùng một đoạn dây da chắc chắn để siết chặt quanh đầu, này Aggivessana, cũng giống như thế, khi ta ngưng hơi thở ra vào từ miệng, từ mũi, và từ tai, có những cơn đau đầu dữ dội. Này Aggivessana, tuy nhiên nỗ lực của ta đã được khởi phát và không sụt giảm, chánh niệm đã được thiết lập và không xao lãng. Nhưng thân của ta bị kích động và không được an tịnh bởi chính sự khổ hạnh ấy, trong khi đang bị sự tinh tấn hành hạ. Này Aggivessana, dầu cho khổ thọ như thế đã khởi lên nơi ta, nó cũng không chiếm ngự và an trú trong tâm.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti. Seyyathāpi, aggivessana, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṁ parikanteyya; evameva kho me, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti. Āraddhaṁ kho pana me, aggivessana, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā dukkhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I keep practicing the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose and ears. But then strong winds carved up my belly, like a deft butcher or their apprentice was slicing my belly open with a sharp meat cleaver. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving. But even such painful feeling did not occupy my mind.
Này Aggivessana, ta đã có suy nghĩ này: ‘Hay là ta thực hành thiền định không-hơi-thở.’ Này Aggivessana, ta đã ngưng hơi thở ra vào từ miệng, từ mũi, và từ tai. Này Aggivessana, khi ta ngưng hơi thở ra vào từ miệng, từ mũi, và từ tai, có các luồng gió quá mức cắt xé trong bụng. Ví như người đồ tể lành nghề hoặc đệ tử của người đồ tể dùng con dao mổ bò sắc bén để cắt xé bụng, này Aggivessana, cũng giống như thế, khi ta ngưng hơi thở ra vào từ miệng, từ mũi, và từ tai, có các luồng gió quá mức cắt xé trong bụng. Này Aggivessana, tuy nhiên nỗ lực của ta đã được khởi phát và không sụt giảm, chánh niệm đã được thiết lập và không xao lãng. Nhưng thân của ta bị kích động và không được an tịnh bởi chính sự khổ hạnh ấy, trong khi đang bị sự tinh tấn hành hạ. Này Aggivessana, dầu cho khổ thọ như thế đã khởi lên nơi ta, nó cũng không chiếm ngự và an trú trong tâm.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ appāṇakaṁyeva jhānaṁ jhāyeyyan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāse uparundhiṁ. Tassa mayhaṁ, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimatto kāyasmiṁ ḍāho hoti. Seyyathāpi, aggivessana, dve balavanto purisā dubbalataraṁ purisaṁ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṁ samparitāpeyyuṁ; evameva kho me, aggivessana, mukhato ca nāsato ca kaṇṇato ca assāsapassāsesu uparuddhesu adhimatto kāyasmiṁ ḍāho hoti. Āraddhaṁ kho pana me, aggivessana, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā. Sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā dukkhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
Apissu maṁ, aggivessana, devatā disvā evamāhaṁsu: ‘kālaṅkato samaṇo gotamo’ti. Ekaccā devatā evamāhaṁsu: ‘na kālaṅkato samaṇo gotamo, api ca kālaṁ karotī’ti. Ekaccā devatā evamāhaṁsu: ‘na kālaṅkato samaṇo gotamo, napi kālaṁ karoti, arahaṁ samaṇo gotamo, vihāro tveva so arahato evarūpo hotī’ti.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi:
Then it occurred to me, ‘Why don’t I keep practicing the breathless absorption?’ So I cut off my breathing through my mouth and nose and ears. But then there was a severe burning in my body, like two strong men grabbing a weaker man by the arms to burn and scorch him on a pit of glowing coals. My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I’d pushed too hard with that painful striving. But even such painful feeling did not occupy my mind.
Then some deities saw me and said, ‘The ascetic Gotama is dead.’ Others said, ‘He’s not dead, but he’s dying.’ Others said, ‘He’s not dead or dying. The ascetic Gotama is a perfected one, for that is how the perfected ones live.’
Then it occurred to me,
Này Aggivessana, Ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Hay là Ta thực hành thiền không-hơi-thở.’ Thế rồi, này Aggivessana, Ta đã nín hơi thở ra vào qua miệng, qua mũi, và qua tai. Này Aggivessana, khi Ta nín hơi thở ra vào qua miệng, qua mũi, và qua tai, có một sự nóng cháy mãnh liệt khởi lên trong thân Ta. Này Aggivessana, ví như có hai người đàn ông lực lưỡng, nắm lấy một người đàn ông yếu hơn ở hai cánh tay rồi hơ nóng, nung đốt trên hố than hồng; cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nín hơi thở ra vào qua miệng, qua mũi, và qua tai, có một sự nóng cháy mãnh liệt khởi lên trong thân Ta. Này Aggivessana, tinh tấn của Ta đã được phát khởi, không thối chuyển; niệm được thiết lập, không quên lãng. Nhưng thân của Ta bị kích động, không được an tịnh, vì bị sự tinh cần khổ đau ấy khuất phục. Này Aggivessana, dù những cảm thọ khổ đau như vậy đã khởi lên nơi Ta, chúng cũng không chiếm lĩnh và an trú trong tâm Ta. Này Aggivessana, lại nữa, có các vị chư thiên thấy Ta rồi nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama đã chết.’ Một số chư thiên khác nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng đang hấp hối.’ Một số chư thiên khác lại nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama chưa chết, cũng không đang hấp hối; Sa-môn Gotama là một vị A-la-hán, và trạng thái trú của một vị A-la-hán là như vậy.’
379. Này Aggivessana, Ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Hay là Ta thực hành việc tuyệt thực hoàn toàn.’ Bấy giờ, này Aggivessana, có các vị chư thiên đến gần Ta và nói như vầy: ‘Thưa ngài, ngài chớ nên thực hành việc tuyệt thực hoàn toàn. Nếu ngài thực hành việc tuyệt thực hoàn toàn, chúng tôi sẽ truyền dưỡng chất của chư thiên vào các lỗ chân lông của ngài, và ngài sẽ sống được nhờ vào đó.’ Này Aggivessana, Ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Nếu Ta tuyên bố là hoàn toàn không ăn, mà các vị chư thiên này lại truyền dưỡng chất của chư thiên vào các lỗ chân lông của Ta, và Ta sống được nhờ vào đó, thì đó sẽ là một sự dối trá đối với Ta.’ Thế rồi, này Aggivessana, Ta đã từ chối các vị chư thiên ấy và nói: ‘Thôi đi!’
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘yannūnāhaṁ thokaṁ thokaṁ āhāraṁ āhāreyyaṁ, pasataṁ pasataṁ, yadi vā muggayūsaṁ, yadi vā kulatthayūsaṁ, yadi vā kaḷāyayūsaṁ, yadi vā hareṇukayūsan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, thokaṁ thokaṁ āhāraṁ āhāresiṁ, pasataṁ pasataṁ, yadi vā muggayūsaṁ, yadi vā kulatthayūsaṁ, yadi vā kaḷāyayūsaṁ, yadi vā hareṇukayūsaṁ. Tassa mayhaṁ, aggivessana, thokaṁ thokaṁ āhāraṁ āhārayato, pasataṁ pasataṁ, yadi vā muggayūsaṁ, yadi vā kulatthayūsaṁ, yadi vā kaḷāyayūsaṁ, yadi vā hareṇukayūsaṁ, adhimattakasimānaṁ patto kāyo hoti. Seyyathāpi nāma āsītikapabbāni vā kāḷapabbāni vā; evamevassu me aṅgapaccaṅgāni bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma oṭṭhapadaṁ; evamevassu me ānisadaṁ hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma vaṭṭanāvaḷī; evamevassu me piṭṭhikaṇṭako uṇṇatāvanato hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma jarasālāya gopānasiyo oluggaviluggā bhavanti; evamevassu me phāsuḷiyo oluggaviluggā bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma gambhīre udapāne udakatārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti; evamevassu me akkhikūpesu akkhitārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma tittakālābu āmakacchinno vātātapena samphuṭito hoti sammilāto; evamevassu me sīsacchavi samphuṭitā hoti sammilātā tāyevappāhāratāya.
Then it occurred to me, ‘Why don’t I just take a little bit of food each time, a handful of broth made from mung beans, horse gram, chickpeas, or green gram?’ So that’s what I did, until my body became severely emaciated. Due to eating so little, my major and minor limbs became like the joints of an eighty-year-old or a dying man, my bottom became like a camel’s hoof, my vertebrae stuck out like beads on a string, and my ribs were as gaunt as the broken-down rafters on an old barn. Due to eating so little, the gleam of my eyes sank deep in their sockets, like the gleam of water sunk deep down a well. Due to eating so little, my scalp shriveled and withered like a green bitter-gourd in the wind and sun.
380. Này Aggivessana, Ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Hay là Ta chỉ ăn từng chút một, từng muỗng một, hoặc là nước canh đậu xanh, hoặc là nước canh đậu ván, hoặc là nước canh đậu Hà Lan, hoặc là nước canh đậu lăng.’ Thế rồi, này Aggivessana, Ta đã ăn từng chút một, từng muỗng một, hoặc là nước canh đậu xanh, hoặc là nước canh đậu ván, hoặc là nước canh đậu Hà Lan, hoặc là nước canh đậu lăng. Này Aggivessana, khi Ta ăn từng chút một, từng muỗng một, hoặc là nước canh đậu xanh, hoặc là nước canh đậu ván, hoặc là nước canh đậu Hà Lan, hoặc là nước canh đậu lăng, thân Ta trở nên vô cùng gầy còm. Chỉ vì ăn quá ít, các tay chân của Ta trở nên như những đốt của cây leo āsīti hay cây leo kāḷā. Chỉ vì ăn quá ít, mông của Ta trở nên như móng chân lạc đà. Chỉ vì ăn quá ít, xương sống của Ta lồi lõm như một chuỗi hạt. Chỉ vì ăn quá ít, các xương sườn của Ta nhô ra gãy đổ như giàn kèo của một căn nhà cũ nát. Chỉ vì ăn quá ít, tròng mắt của Ta nằm sâu trong hốc mắt, trông như những ánh sao lấp lánh dưới đáy giếng sâu. Chỉ vì ăn quá ít, da đầu của Ta bị nhăn nheo, héo úa như một quả bầu đắng còn non bị cắt lìa rồi phơi ngoài nắng gió.
So kho ahaṁ, aggivessana, udaracchaviṁ parimasissāmīti piṭṭhikaṇṭakaṁyeva pariggaṇhāmi, piṭṭhikaṇṭakaṁ parimasissāmīti udaracchaviṁyeva pariggaṇhāmi, yāvassu me, aggivessana, udaracchavi piṭṭhikaṇṭakaṁ allīnā hoti tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, aggivessana, vaccaṁ vā muttaṁ vā karissāmīti tattheva avakujjo papatāmi tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, aggivessana, imameva kāyaṁ assāsento pāṇinā gattāni anumajjāmi. Tassa mayhaṁ, aggivessana, pāṇinā gattāni anumajjato pūtimūlāni lomāni kāyasmā papatanti tāyevappāhāratāya.
Apissu maṁ, aggivessana, manussā disvā evamāhaṁsu: ‘kāḷo samaṇo gotamo’ti. Ekacce manussā evamāhaṁsu: ‘na kāḷo samaṇo gotamo, sāmo samaṇo gotamo’ti. Ekacce manussā evamāhaṁsu: ‘na kāḷo samaṇo gotamo, napi sāmo, maṅguracchavi samaṇo gotamo’ti. Yāvassu me, aggivessana, tāva parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto upahato hoti tāyevappāhāratāya.
Due to eating so little, the skin of my belly stuck to my backbone, so that when I tried to rub the skin of my belly I grabbed my backbone, and when I tried to rub my backbone I rubbed the skin of my belly. Due to eating so little, when I tried to urinate or defecate I fell face down right there. Due to eating so little, when I tried to relieve my body by rubbing my limbs with my hands, the hair, rotted at its roots, fell out.
Then some people saw me and said: ‘The ascetic Gotama is black.’ Some said: ‘He’s not black, he’s brown.’ Some said: ‘He’s neither black nor brown. The ascetic Gotama has dingy skin.’ That’s how far the pure, bright complexion of my skin had been ruined by taking so little food.
Này Aggivessana, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ da bụng,’ thì Ta lại nắm phải xương sống. Khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ xương sống,’ thì Ta lại nắm phải da bụng. Này Aggivessana, chỉ vì ăn quá ít, da bụng của Ta đã dính sát vào xương sống. Này Aggivessana, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ đi đại tiện hoặc tiểu tiện,’ thì Ta ngã úp mặt ngay tại chỗ đó, chỉ vì ăn quá ít. Này Aggivessana, để làm cho thân này dễ chịu, Ta dùng tay xoa bóp các chi thể. Này Aggivessana, khi Ta dùng tay xoa bóp các chi thể, những sợi lông có gốc đã mục rữa rụng khỏi thân Ta, chỉ vì ăn quá ít. Lại nữa, này Aggivessana, người ta thấy Ta rồi nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama có màu da đen.’ Một số người khác nói: ‘Sa-môn Gotama không có màu da đen, Sa-môn Gotama có màu da sẫm.’ Một số người khác lại nói: ‘Sa-môn Gotama không có màu da đen, cũng không có màu da sẫm, Sa-môn Gotama có màu da như cá maṅgura.’ Này Aggivessana, màu da của Ta vốn rất trong sạch và sáng ngời, nhưng đã bị hư hoại đến mức như vậy, chỉ vì ăn quá ít.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘ye kho keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayiṁsu, etāvaparamaṁ, nayito bhiyyo. Yepi hi keci anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayissanti, etāvaparamaṁ, nayito bhiyyo. Yepi hi keci etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, etāvaparamaṁ, nayito bhiyyo. Na kho panāhaṁ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya adhigacchāmi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ. Siyā nu kho añño maggo bodhāyā’ti?
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘abhijānāmi kho panāhaṁ pitu sakkassa kammante sītāya jambucchāyāya nisinno vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharitā. Siyā nu kho eso maggo bodhāyā’ti?
Tassa mayhaṁ, aggivessana, satānusāri viññāṇaṁ ahosi: ‘eseva maggo bodhāyā’ti.
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘kiṁ nu kho ahaṁ tassa sukhassa bhāyāmi, yaṁ taṁ sukhaṁ aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehī’ti? Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘na kho ahaṁ tassa sukhassa bhāyāmi, yaṁ taṁ sukhaṁ aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehī’ti.
Then it occurred to me, ‘Whatever ascetics and brahmins have experienced painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion—whether in the past, future, or present—this is as far as it goes, no-one has done more than this. But I have not achieved any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones by this severe, grueling work. Could there be another path to awakening?’
Then it occurred to me, ‘I recall sitting in the cool shade of a black plum tree while my father the Sakyan was off working. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. Could that be the path to awakening?’
Stemming from that memory came the understanding: ‘<em>That</em> is the path to awakening!’
Then it occurred to me, ‘Why am I afraid of that pleasure, for it has nothing to do with sensual pleasures or unskillful qualities?’ Then it occurred to me, ‘I’m not afraid of that pleasure, for it has nothing to do with sensual pleasures or unskillful qualities.’
381. Này Aggivessana, Ta đã khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã từng cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng do nỗ lực tinh tấn, thì cũng chỉ đến mức này là cùng, không thể hơn thế nữa. Bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng do nỗ lực tinh tấn, thì cũng chỉ đến mức này là cùng, không thể hơn thế nữa. Và bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại đang cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng do nỗ lực tinh tấn, thì cũng chỉ đến mức này là cùng, không thể hơn thế nữa. Nhưng với pháp khổ hạnh cay đắng này, Ta vẫn không chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng của bậc Thánh. Hay là có một con đường nào khác để đi đến giác ngộ chăng?’ Này Aggivessana, Ta đã khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Ta nhớ lại, khi phụ thân là vua Thích-ca đang cày ruộng, Ta ngồi dưới bóng mát của cây diêm-phù-đề, ly dục, ly bất thiện pháp, đã chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Hay đây chính là con đường đi đến giác ngộ chăng?’ Này Aggivessana, theo sau ký ức ấy, thức của Ta khởi lên: ‘Đây chính là con đường đi đến giác ngộ.’ Này Aggivessana, Ta đã khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Tại sao Ta lại sợ hãi sự an lạc ấy, một sự an lạc xa lìa các dục, xa lìa các pháp bất thiện?’ Này Aggivessana, Ta đã khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Ta không sợ hãi sự an lạc ấy, một sự an lạc xa lìa các dục, xa lìa các pháp bất thiện.’
Tassa mayhaṁ, aggivessana, etadahosi: ‘na kho taṁ sukaraṁ sukhaṁ adhigantuṁ evaṁ adhimattakasimānaṁ pattakāyena, yannūnāhaṁ oḷārikaṁ āhāraṁ āhāreyyaṁ odanakummāsan’ti. So kho ahaṁ, aggivessana, oḷārikaṁ āhāraṁ āhāresiṁ odanakummāsaṁ.
Tena kho pana maṁ, aggivessana, samayena pañca bhikkhū paccupaṭṭhitā honti: ‘yaṁ kho samaṇo gotamo dhammaṁ adhigamissati, taṁ no ārocessatī’ti. Yato kho ahaṁ, aggivessana, oḷārikaṁ āhāraṁ āhāresiṁ odanakummāsaṁ, atha me te pañca bhikkhū nibbijja pakkamiṁsu: ‘bāhulliko samaṇo gotamo, padhānavibbhanto, āvatto bāhullāyā’ti.
Then it occurred to me, ‘I can’t achieve that pleasure with a body so severely emaciated. Why don’t I eat some solid food, some rice and porridge?’ So I ate some solid food.
Now at that time the group of five mendicants were attending on me, thinking, ‘The ascetic Gotama will tell us of any truth that he realizes.’ But when I ate some solid food, they left disappointed in me, saying, ‘The ascetic Gotama has become indulgent; he has strayed from the struggle and returned to indulgence.’
382. Này Aggivessana, Ta đã khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Không dễ gì chứng đắc được sự an lạc ấy với thân thể gầy mòn quá mức như thế này. Hay là Ta nên dùng vật thực thô, là cơm và cháo lúa mạch?’ Này Aggivessana, rồi Ta đã dùng vật thực thô, là cơm và cháo lúa mạch. Này Aggivessana, lúc bấy giờ có năm vị Tỳ-khưu đang hầu hạ Ta, với ý nghĩ: ‘Pháp nào Sa-môn Gotama chứng đắc được, ngài sẽ giảng dạy cho chúng ta.’ Này Aggivessana, khi Ta dùng vật thực thô, là cơm và cháo lúa mạch, năm vị Tỳ-khưu ấy đã chán nản và rời bỏ Ta, nói rằng: ‘Sa-môn Gotama đã trở nên sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về đời sống hưởng thụ.’
So kho ahaṁ, aggivessana, oḷārikaṁ āhāraṁ āhāretvā, balaṁ gahetvā, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā sukhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā sukhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihāsiṁ, sato ca sampajāno. Sukhañca kāyena paṭisaṁvedesiṁ yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā sukhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati. Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā sukhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
After eating solid food and gathering my strength, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. But even such pleasant feeling did not occupy my mind.
As the placing of the mind and keeping it connected were stilled, I entered and remained in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. But even such pleasant feeling did not occupy my mind. And with the fading away of rapture, I entered and remained in the third absorption, where I meditated with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ But even such pleasant feeling did not occupy my mind. With the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, I entered and remained in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. But even such pleasant feeling did not occupy my mind.
383. Này Aggivessana, sau khi dùng vật thực thô và lấy lại sức lực, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Aggivessana, dù cảm thọ an lạc như vậy khởi lên, nó cũng không xâm chiếm và ngự trị tâm Ta. Làm cho tầm và tứ lắng dịu, Ta chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Aggivessana, dù cảm thọ an lạc như vậy khởi lên, nó cũng không xâm chiếm và ngự trị tâm Ta. Ly hỷ, Ta trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự an lạc mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, Ta chứng và trú Tam thiền. Này Aggivessana, dù cảm thọ an lạc như vậy khởi lên, nó cũng không xâm chiếm và ngự trị tâm Ta. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước kia, Ta chứng và trú Tứ thiền, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Aggivessana, dù cảm thọ an lạc như vậy khởi lên, nó cũng không xâm chiếm và ngự trị tâm Ta.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi.
Ayaṁ kho me, aggivessana, rattiyā paṭhame yāme paṭhamā vijjā adhigatā; avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno; yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā sukhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward recollection of past lives. I recollected my many kinds of past lives, with features and details.
This was the first knowledge, which I achieved in the first watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. But even such pleasant feeling did not occupy my mind.
384. Khi tâm đã được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, Ta hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời... (v.v.)... Như vậy, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. Này Aggivessana, đây là minh thứ nhất Ta đã chứng đắc trong canh đầu của đêm; vô minh đã bị diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã bị diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi; như điều xảy ra cho người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Aggivessana, dù cảm thọ an lạc như vậy khởi lên, nó cũng không xâm chiếm và ngự trị tâm Ta.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāmi …pe…
ayaṁ kho me, aggivessana, rattiyā majjhime yāme dutiyā vijjā adhigatā; avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno; yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā sukhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, I saw sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. I understood how sentient beings pass on according to their deeds.
This was the second knowledge, which I achieved in the middle watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. But even such pleasant feeling did not occupy my mind.
385. Khi tâm đã được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, Ta hướng tâm đến Sanh tử minh. Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy các chúng sanh chết đi và sanh lại, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh, Ta hiểu rõ chúng sanh trôi chảy theo nghiệp của họ... (v.v.)... Này Aggivessana, đây là minh thứ hai Ta đã chứng đắc trong canh giữa của đêm; vô minh đã bị diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã bị diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi; như điều xảy ra cho người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Aggivessana, dù cảm thọ an lạc như vậy khởi lên, nó cũng không xâm chiếm và ngự trị tâm Ta.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ. ‘Ime āsavā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ.
Tassa me evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccittha, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccittha, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccittha. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ ahosi.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti abbhaññāsiṁ.
Ayaṁ kho me, aggivessana, rattiyā pacchime yāme tatiyā vijjā adhigatā; avijjā vihatā, vijjā uppannā; tamo vihato, āloko uppanno; yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā sukhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward knowledge of the ending of defilements. I truly understood: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ I truly understood: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements.’
Knowing and seeing like this, my mind was freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When it was freed, I knew it was freed.
I understood: ‘Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.’
This was the third knowledge, which I achieved in the last watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. But even such pleasant feeling did not occupy my mind.
386. Với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động như vậy, Ta đã hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là Khổ’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là Khổ tập’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là Khổ diệt’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến Khổ diệt’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Đối với Ta, người biết như vậy, thấy như vậy, tâm đã giải thoát khỏi dục lậu, tâm đã giải thoát khỏi hữu lậu, tâm đã giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã giải thoát’. Ta đã thắng tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này Aggivessana, đây là minh thứ ba đã được Ta chứng đắc trong canh cuối của đêm; vô minh đã bị diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã bị diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi; cũng như đối với người đang sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần. Này Aggivessana, lạc thọ như vậy đã khởi lên nơi Ta nhưng không chiếm giữ và tồn tại trong tâm của Ta.
Abhijānāmi kho panāhaṁ, aggivessana, anekasatāya parisāya dhammaṁ desetā. Apissu maṁ ekameko evaṁ maññati: ‘mamevārabbha samaṇo gotamo dhammaṁ desetī’ti. Na kho panetaṁ, aggivessana, evaṁ daṭṭhabbaṁ; yāvadeva viññāpanatthāya tathāgato paresaṁ dhammaṁ deseti. So kho ahaṁ, aggivessana, tassāyeva kathāya pariyosāne, tasmiṁyeva purimasmiṁ samādhinimitte ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapemi sannisādemi ekodiṁ karomi samādahāmi, yena sudaṁ niccakappaṁ viharāmī”ti.
Aggivessana, I recall teaching the Dhamma to an assembly of many hundreds, and each person thought that I was teaching the Dhamma especially for them. But it should not be seen like this. The Realized One teaches others only so that they can understand. When that talk was finished, I stilled, settled, unified, and immersed my mind in samādhi internally in the same meditation subject as a basis of immersion as before, in which I regularly meditate.”
387. Này Aggivessana, Ta biết rằng Ta đã thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Và mỗi một người trong số họ đều nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết pháp nhắm riêng đến ta’. Nhưng này Aggivessana, không nên hiểu như vậy. Như Lai thuyết pháp cho những người khác chỉ vì mục đích để họ hiểu rõ. Này Aggivessana, sau khi kết thúc bài pháp thoại ấy, Ta an trú, lắng dịu, nhất tâm, và định tĩnh nội tâm ngay trong định tướng ban đầu ấy, nơi mà Ta thường xuyên an trú.
“Okappaniyametaṁ bhoto gotamassa yathā taṁ arahato sammāsambuddhassa. Abhijānāti kho pana bhavaṁ gotamo divā supitā”ti?
“Abhijānāmahaṁ, aggivessana, gimhānaṁ pacchime māse pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapetvā dakkhiṇena passena sato sampajāno niddaṁ okkamitā”ti.
“Etaṁ kho, bho gotama, eke samaṇabrāhmaṇā sammohavihārasmiṁ vadantī”ti?
“Na kho, aggivessana, ettāvatā sammūḷho vā hoti asammūḷho vā. Api ca, aggivessana, yathā sammūḷho ca hoti asammūḷho ca, taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho saccako nigaṇṭhaputto bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“I’d believe that of the worthy Gotama, just like a perfected one, a fully awakened Buddha. But do you ever recall sleeping during the day?”
“I do recall that in the last month of the summer, I have spread out my outer robe folded in four and lain down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware.”
“Some ascetics and brahmins call that a deluded abiding.”
“That’s not how to define whether someone is deluded or not. But as to how to define whether someone is deluded or not, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” replied Saccaka.
The Buddha said this:
Điều này của Tôn giả Gotama thật đáng tin cậy, cũng như điều đó là của một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhưng Tôn giả Gotama có biết là mình có ngủ ban ngày không? Này Aggivessana, Ta biết rằng, vào tháng cuối của mùa hạ, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, Ta đã trải tấm tăng-già-lê gấp tư, và nằm xuống ngủ, nghiêng về phía bên phải, chánh niệm và tỉnh giác. Thưa Tôn giả Gotama, một số sa-môn, bà-la-môn gọi việc ấy là sống trong si mê. Này Aggivessana, không phải chỉ với chừng ấy mà một người trở thành si mê hay không si mê. Hơn nữa, này Aggivessana, thế nào là người si mê và thế nào là người không si mê, ngươi hãy nghe điều đó, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói. ‘Thưa vâng, Tôn giả.’ Saccaka, con của Nigaṇṭha, đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Yassa kassaci, aggivessana, ye āsavā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā appahīnā, tamahaṁ ‘sammūḷho’ti vadāmi. Āsavānañhi, aggivessana, appahānā sammūḷho hoti. Yassa kassaci, aggivessana, ye āsavā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā pahīnā, tamahaṁ ‘asammūḷho’ti vadāmi. Āsavānañhi, aggivessana, pahānā asammūḷho hoti.
“Anyone who has not given up the defilements that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death is deluded, I say. For it’s not giving up the defilements that makes you deluded. Anyone who has given up the defilements that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death—is not deluded, I say. For it’s giving up the defilements that makes you not deluded.
388. Này Aggivessana, đối với bất kỳ ai mà các lậu hoặc làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền muộn, có quả báo là đau khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai, chưa được đoạn trừ, Ta gọi người ấy là ‘người si mê’. Này Aggivessana, chính vì chưa đoạn trừ các lậu hoặc mà một người trở thành si mê. Này Aggivessana, đối với bất kỳ ai mà các lậu hoặc làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền muộn, có quả báo là đau khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai, đã được đoạn trừ, Ta gọi người ấy là ‘người không si mê’. Này Aggivessana, chính vì đã đoạn trừ các lậu hoặc mà một người trở thành không si mê.
Tathāgatassa kho, aggivessana, ye āsavā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Seyyathāpi, aggivessana, tālo matthakacchinno abhabbo puna virūḷhiyā; evameva kho, aggivessana, tathāgatassa ye āsavā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā”ti.
The Realized One has given up the defilements that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. He has cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them so they are unable to arise in the future. Just as a palm tree with its crown cut off is incapable of further growth, in the same way, the Realized One has given up the defilements so they are unable to arise in the future.”
Này Aggivessana, đối với Như Lai, các lậu hoặc làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền muộn, có quả báo là đau khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai, đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai. Này Aggivessana, ví như cây ta-la bị chặt ngọn thì không thể nào mọc lại được nữa; cũng vậy, này Aggivessana, đối với Như Lai, các lậu hoặc làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền muộn, có quả báo là đau khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai, đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai.
Evaṁ vutte, saccako nigaṇṭhaputto bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yāvañcidaṁ bhoto gotamassa evaṁ āsajja āsajja vuccamānassa, upanītehi vacanappathehi samudācariyamānassa, chavivaṇṇo ceva pariyodāyati, mukhavaṇṇo ca vippasīdati, yathā taṁ arahato sammāsambuddhassa.
Abhijānāmahaṁ, bho gotama, pūraṇaṁ kassapaṁ vādena vādaṁ samārabhitā. Sopi mayā vādena vādaṁ samāraddho aññenaññaṁ paṭicari, bahiddhā kathaṁ apanāmesi, kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi. Bhoto pana gotamassa evaṁ āsajja āsajja vuccamānassa, upanītehi vacanappathehi samudācariyamānassa, chavivaṇṇo ceva pariyodāyati, mukhavaṇṇo ca vippasīdati, yathā taṁ arahato sammāsambuddhassa.
Abhijānāmahaṁ, bho gotama, makkhaliṁ gosālaṁ …pe… ajitaṁ kesakambalaṁ … pakudhaṁ kaccāyanaṁ … sañjayaṁ belaṭṭhaputtaṁ … nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ vādena vādaṁ samārabhitā. Sopi mayā vādena vādaṁ samāraddho aññenaññaṁ paṭicari, bahiddhā kathaṁ apanāmesi, kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi. Bhoto pana gotamassa evaṁ āsajja āsajja vuccamānassa, upanītehi vacanappathehi samudācariyamānassa, chavivaṇṇo ceva pariyodāyati, mukhavaṇṇo ca vippasīdati, yathā taṁ arahato sammāsambuddhassa.
Handa ca dāni mayaṁ, bho gotama, gacchāma. Bahukiccā mayaṁ, bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, aggivessana, kālaṁ maññasī”ti.
When he had spoken, Saccaka said to him, “It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing! How when the worthy Gotama is repeatedly attacked with inappropriate and intrusive criticism, the complexion of his skin brightens and the color of his face becomes clear, just like a perfected one, a fully awakened Buddha!
I recall taking on Pūraṇa Kassapa in debate. He dodged the issue, distracting the discussion with irrelevant points, and displaying annoyance, hate, and bitterness. But when the worthy Gotama is repeatedly attacked with inappropriate and intrusive criticism, the complexion of his skin brightens and the color of his face becomes clear, just like a perfected one, a fully awakened Buddha.
I recall taking on the bamboo-staffed ascetic Gosāla, Ajita of the hair blanket, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhiputta, and the Jain ascetic of the Ñātika clan in debate. They all dodged the issue, distracting the discussion with irrelevant points, and displaying annoyance, hate, and bitterness. But when the worthy Gotama is repeatedly attacked with inappropriate and intrusive criticism, the complexion of his skin brightens and the color of his face becomes clear, just like a perfected one, a fully awakened Buddha.
Well, now, worthy Gotama, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, Aggivessana, go at your convenience.”
389. Khi được nói như vậy, Saccaka, con của Nigaṇṭha, bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Thật vi diệu, thưa ngài Gotama! Thật hy hữu, thưa ngài Gotama! Dầu cho ngài Gotama bị chất vấn một cách dồn dập, bị công kích bằng những lời lẽ gay gắt như thế, sắc da của ngài vẫn trong sáng và vẻ mặt của ngài vẫn thanh tịnh, giống như của một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Thưa ngài Gotama, tôi nhớ lại đã từng tranh luận với Pūraṇa Kassapa. Khi bị tôi tranh luận, vị ấy đã trả lời quanh co, lảng sang chuyện khác, và biểu lộ sự tức giận, sân hận, và bất mãn. Nhưng với ngài Gotama, dầu bị chất vấn một cách dồn dập, bị công kích bằng những lời lẽ gay gắt như thế, sắc da của ngài vẫn trong sáng và vẻ mặt của ngài vẫn thanh tịnh, giống như của một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Thưa ngài Gotama, tôi nhớ lại đã từng tranh luận với Makkhali Gosāla... Ajita Kesakambala... Pakudha Kaccāyana... Sañjaya Belaṭṭhaputta... Nigaṇṭha Nāṭaputta. Khi bị tôi tranh luận, vị ấy cũng đã trả lời quanh co, lảng sang chuyện khác, và biểu lộ sự tức giận, sân hận, và bất mãn. Nhưng với ngài Gotama, dầu bị chất vấn một cách dồn dập, bị công kích bằng những lời lẽ gay gắt như thế, sắc da của ngài vẫn trong sáng và vẻ mặt của ngài vẫn thanh tịnh, giống như của một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Thưa ngài Gotama, giờ đây chúng tôi xin phép đi. Chúng tôi có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm’. – ‘Này Aggivessana, nay ông hãy làm theo những gì ông cho là phải thời’.
Atha kho saccako nigaṇṭhaputto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmīti.
Then Saccaka, the son of Jain parents, having approved and agreed with what the Buddha said, rose from his seat and left.
Bấy giờ, Saccaka, con của Nigaṇṭha, sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
Mahāsaccakasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Đại Saccaka, kinh thứ sáu, chấm dứt.