- Majjhima Nikāya 35
Cūḷasaccakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷasaccakasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Vesālī, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường Trùng Các.
SC 2Lúc bấy giờ Niganthaputta Saccaka ở tại Vesālī tánh ưa luận chiến, biện luận thiện xảo, được số đông tôn kính. Vị này thường tuyên bố cho hội chúng ở Vesālī: “Ta không thấy một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào, là vị Hội chủ, là vị Giáo trưởng, vị Sư trưởng Giáo hội, dầu tự cho là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, khi đối thoại với ta, không ai là không run sợ, không hoảng sợ, không khiếp sợ, không ai là không toát mồ hôi nách. Dầu ta có đối thoại với một cột trụ vô tình, cột trụ ấy khi đối thoại với ta cũng run sợ, cũng hoảng sợ, cũng khiếp sợ, huống nữa là một người thường”.
SC 3Rồi Tôn giả Assaji vào buổi sáng đắp y, cầm bát vào Vesālī để khất thực. Niganthaputta Saccaka, thường hay ngao du thiên hạ, thấy Tôn giả Assaji từ xa đi lại. Sau khi thấy, Niganthaputta Saccaka liền đến gần Tôn giả Assaji, nói lên những lời hỏi thăm, chào đón, xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Niganthaputta Saccaka nói với Tôn giả Assaji
SC 4—Này Tôn giả Assaji, Sa-môn Gotama huấn luyện đệ tử như thế nào? Và có những bộ môn nào mà phần lớn Sa-môn Gotama giảng dạy được dành cho đệ tử?
SC 5—Này Aggivessana, như thế này, Thế Tôn huấn luyện đệ tử. Với những bộ môn như thế này, phần lớn Sa-môn Gotama giảng dạy được dành cho đệ tử: “Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Này các Tỷ-kheo, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã. Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã”. Như vậy này Aggivessana, Thế Tôn huấn luyện các đệ tử. Như vậy là các bộ môn mà phần lớn Thế Tôn giảng dạy được dành cho đệ tử.
SC 6—Này Tôn giả Assaji, thật sự chúng tôi đã thất vọng khi nghe Sa-môn Gotama thuyết giảng như vậy. Rất có thể chúng tôi sẽ gặp Tôn giả Gotama một thời nào đó và tại một chỗ nào đó. Rất có thể sẽ có một cuộc thảo luận. Rất có thể chúng tôi sẽ đoạn trừ ác tà kiến ấy.
SC 7Lúc bấy giờ, có khoảng độ năm trăm vị Licchavi tập hợp tai giảng đường vì một vài công vụ. Rồi Niganthaputta Saccaka đến chỗ các Licchavi ấy, sau khi đến, liền nói các vị ấy như sau
SC 8—Hãy đến, các Tôn giả Licchavi; hãy đến các Tôn giả Licchavi. Hôm nay sẽ có cuộc đàm luận giữa Sa-môn Gotama với ta. Nếu Sa-môn Gotama đứng đối thoại với ta như Tỷ-kheo Assaji, một vị đệ tử danh tiếng của ông ta đã làm, thì như một lực sĩ tay nắm chặt lông một con cừu có lông dài, có thể kéo tới, giật lui, vần quanh; cũng vậy, ta dùng lời nói, kéo tới, giật lui, vần quanh Sa-môn Gotama. Cũng như một người lực sĩ nấu rượu, sau khi nhận chìm một thùng rượu lớn xuống hồ nước sâu, nắm một góc thùng có thể kéo tới, giật lui, vần quanh; cũng vậy, ta dùng lời nói, kéo tới, giật lui, vần quanh Sa-môn Gotama. Và cũng như một lực sĩ nghiện rượu, sống phóng đãng, sau khi nắm góc một cái sàng, lắc qua lắc lại, lắc xoay quanh. Cũng vậy, ta sẽ dùng lời nói, lắc qua lắc lại, lắc xoay quanh Sa-môn Gotama. Và cũng như một con voi lớn sáu mươi tuổi, sau khi lặn xuống một hồ nước sâu, lại chơi trò phun nước; cũng vậy, ta nghĩ ta sẽ chơi trò chơi phun nước với Sa-môn Gotama. Hãy đến, các Tôn giả Licchavi. Hãy đến các Tôn giả Licchavi. Hôm nay sẽ có cuộc đàm luận giữa Sa-môn Gotama với ta.
SC 9Một số Licchavi nói như sau
SC 10—Làm sao Sa-môn Gotama có thể luận thắng Niganthaputta Saccaka? Niganthaputta Saccaka sẽ luận thắng Sa-môn Gotama.
SC 11Một số Licchavi lại nói như sau
SC 12—Làm sao chỉ là Niganthaputta Saccaka lại có thể luận thắng Thế Tôn? Thế Tôn sẽ luận thắng Niganthaputta Saccaka.
SC 13Rồi Niganthaputta Saccaka với khoảng năm trăm Licchavi vây quanh, cùng đi đến Ðại Lâm, giảng đường Trùng Các.
SC 14Lúc bấy giờ một số đông các Tỷ-kheo đang đi qua lại giữa trời. Niganthaputta Saccaka đến các Tỷ-kheo, sau khi đến, liền nói với các vị ấy
SC 15—Chư Tôn giả, nay Tôn giả Gotama ở đâu? Chúng tôi muốn yết kiến Tôn giả Gotama.
SC 16—Này Aggivessana, Thế Tôn sau khi đi sâu vào rừng Ðại Lâm, đang ngồi dưới một gốc cây để nghỉ trưa.
SC 17Rồi Niganthaputta Saccaka cùng với đại chúng Licchavi, sau khi đi sâu vào rừng Ðại Lâm, đến tại chỗ Thế Tôn. Sau khi đến Niganthaputta Saccaka nói lên với Thế Tôn những lời chúc tụng, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Một số Licchavi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số Licchavi nói lên với Thế Tôn những lời chúc tụng, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên; một số Licchavi chấp tay vái Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số Licchavi xưng tên họ của mình rồi ngồi xuống một bên; một số Licchavi im lặng ngồi xuống một bên.
SC 18Niganthaputta Saccaka sau khi ngồi xuống một bên nói với Thế Tôn
SC 19—Tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama một vấn đề, nếu Tôn giả Gotama cho phép tôi được hỏi.
SC 20—Này Aggivessana, hãy hỏi như Ông muốn.
SC 21—Tôn giả Gotama huấn luyện đệ tử như thế nào? Những bộ môn nào mà phần lớn Sa-môn Gotama giảng dạy được dành cho đệ tử?
SC 22—Này Aggivessana, như thế này Ta huấn luyện đệ tử. Với những bộ môn này, phần lớn Ta giảng dạy được dành cho đệ tử: “Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Này các Tỷ-kheo, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã. Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã”. Như vậy, này Aggivessana, Ta huấn luyện các đệ tử. Các bộ môn như vậy, phần lớn ta giảng dạy được dành cho đệ tử.
SC 23—Này Tôn giả Gotama, tôi có một ví dụ.
Thế Tôn nói
SC 24—Này Aggivessana, hãy nói lên ví dụ ấy.
SC 25—Như các hột giống, các cây cỏ này được lớn lên, được trưởng thành, được hưng thịnh là vì tất cả chúng đều y cứ vào đất, nương tựa vào đất. Nhờ vậy các hột giống, các cây cỏ này được lớn lên, được trưởng thành, được hưng thịnh. Tôn giả Gotama, như các công nghiệp nặng nhọc này được tạo tác, tất cả chúng đều y cứ vào đất, nương tựa vào đất. Nhờ vậy, các công nghiệp nặng nhọc này được tạo tác. Cũng vậy, này Tôn giả Gotama, như người này mà tự ngã là sắc, nhờ nương tựa sắc làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngã là thọ, nhờ nương tựa thọ làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngã là tưởng, nhờ nương tựa tưởng làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngã là các hành, nhờ nương tựa các hành làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngã là thức, nhờ nương tựa thức làm thiện sự hay ác sự.
SC 26—Này Aggivessana, như vậy có phải ông nói: “Sắc là tự ngã của ta, thọ là tự ngã của ta, tưởng là tự ngã của ta, hành là tự ngã của ta, thức là tự ngã của ta”?
SC 27—Tôn giả Gotama, như vậy tôi nói: “Sắc là tự ngã của ta, thọ là tự ngã của ta, tưởng là tự ngã của ta, hành là tự ngã của ta, thức là tự ngã của ta”. Và như đại chúng này cũng vậy.
SC 28—Này Aggivessana, đại chúng này có quan hệ gì với Ông? Này Aggivessana, hãy giải thích lời nói của Ông.
SC 29—Tôn giả Gotama, như vậy tôi nói: “Sắc là tự ngã của ta, thọ là tự ngã của ta, tưởng là tự ngã của ta, hành là tự ngã của ta, thức là tự ngã của ta”.
SC 30—Này Aggivessana, Ta sẽ hỏi Ông trở lại về vấn đề này. Ông có thể trả lời nếu Ông muốn. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Một vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajātasattu, con bà Videhi nước Magadha, vua này có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất không?
SC 31—Tôn giả Gotama, một vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajātasattu, con bà Videhi nước Magadha, vua này có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất. Này Tôn giả Gotama, cho đến các giáo đoàn, các đoàn thể, như các Vajjī, các Malla, vẫn có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất, còn nói gì một vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajātasattu, con bà Videhi nước Magadha. Này Tôn giả Gotama, vị ấy có quyền hành ấy và xứng đáng có quyền hành ấy.
SC 32—Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: “Sắc là tự ngã của ta”, Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: “Sắc của tôi như thế này, sắc của tôi không phải như thế này” không?
SC 33Ðược nói vậy Niganthaputta Saccaka giữ im lặng. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka
SC 34—Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: “Sắc là tự ngã của ta”, Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: “Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này” không?
SC 35Lần thứ hai, Niganthaputta Saccaka vẫn giữ im lặng.
SC 36Rồi Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka
SC 37—Này Aggivessana, nay Ông phải trả lời. Nay không phải lúc Ông giữ im lặng nữa. Này Aggivessana, ai được Như Lai hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.
SC 38Lúc bấy giờ thần Dạ xoa Vajirapani (Kim Cang Thủ) đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói, đứng trên không trên đầu Niganthaputta Saccaka với ý định: “Nếu Thế Tôn hỏi đến câu hỏi thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà Niganthaputta Saccaka không trả lời, thì ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh”. Chỉ có Thế Tôn và Niganthaputta Saccaka mới thấy thần Dạ xoa Vajirapani. Niganthaputta Saccaka sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng, ngược, chỉ tìm thấy sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự an ổn nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự nương tựa nơi Thế Tôn, liền bạch Thế Tôn
SC 39—Tôn giả Gotama hãy hỏi tôi, tôi sẽ trả lời.
SC 40—Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: “Sắc là tự ngã của ta”, thì Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: “Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này” không?
SC 41—Thưa không, Tôn giả Gotama.
SC 42—Hãy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hãy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: “Thọ là tự ngã của ta”, Ông có quyền hành gì đối với thọ ấy và có nói được, rằng: “Thọ của tôi phải như thế này, thọ của tôi không phải như thế này” không?
SC 43—Thưa không, Tôn giả Gotama.
SC 44—Hãy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hãy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: “Tưởng là tự ngã của ta”, Ông có quyền hành gì đối với tưởng ấy và có nói được rằng: “Tưởng của tôi phải như thế này, tưởng của tôi không phải như thế này” không?
SC 45—Thưa không, Tôn giả Gotama.
SC 46—Hãy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hãy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: “Các hành là tự ngã của ta”, Ông quyền hành gì đối với tự ngã ấy và có nói được rằng: “Các hành của tôi phải như thế này, các hành của tôi không phải như thế này” không?
SC 47—Thưa không, Tôn giả Gotama.
SC 48—Hãy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hãy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: “Thức là tự ngã của ta”, Ông quyền hành gì đối với tự ngã ấy và có nói được rằng: “Thức của tôi phải như thế này, thức của tôi không phải như thế này” không?
SC 49—Thưa không, Tôn giả Gotama.
SC 50—Hãy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hãy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
SC 51—Vô thường, Tôn giả Gotama.
SC 52—Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
SC 53—Là khổ, Tôn giả Gotama.
SC 54—Cái gì vô thường, khổ, biến hoại; có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 55—Thưa không, Tôn giả Gotama.
SC 56—Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Thọ … (như trên) … tưởng … (như trên) … các hành … (như trên) … Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Thức là thường hay vô thường?
SC 57—Vô thường, Tôn giả Gotama.
SC 58—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
SC 59—Là khổ, Tôn giả Gotama.
SC 60—Cái gì vô thường, khổ, biến hoại; có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 61—Thưa không, Tôn giả Gotama.
SC 62—Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Ai ái luyến khổ, chấp trước khổ, tham đắm khổ, quán khổ và nói: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Người ấy có thể liễu tri cái khổ của tự mình hay có thể sống trừ diệt khổ không?
SC 63—Làm sao có thể được, Tôn giả Gotama? Không thể như vậy, Tôn giả Gotama.
SC 64—Này Aggivessana, như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi chỗ này chỗ kia tìm kiếm lõi cây. Người ấy cầm một cái búa sắc bén, đi vào rừng. Người ấy có thể thấy ở đây thân một cây chuối lớn thẳng đứng, còn trẻ, không có khúc đốt. Người ấy có thể chặt gốc cây ấy. Sau khi chặt gốc cây, người ấy chặt ngọn cây. Sau khi chặt ngọn cây, người ấy có thể lột ra các lá cuộn tròn. Nhưng khi lột ra các lá cuộn tròn, người ấy không tìm được giác cây, còn nói gì đến lõi cây. Cũng vậy này Aggivessana, khi được Ta hỏi, Ta cật vấn, Ta chất vấn về những lời của Ông, Ông đã tự tỏ ra trống rỗng, trống không, thất bại. Nhưng này Aggivessana, những lời nói mà Ông tuyên bố cho hội chúng ở Vesālī: “Ta không thấy một Sa-môn hay Bà-la-môn nào, là vị Hội chủ, là vị Giáo trưởng, vị Sư trưởng Giáo hội, dầu có tự cho là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, khi đối thoại với Ta, không ai là không run sợ, không hoảng sợ, không khiếp sợ, không ai là không bị toát mồ hôi nách. Dầu Ta có đối thoại với một cột trụ vô tình, cột trụ ấy khi đối thoại với ta cũng run sợ, cũng hoảng sợ, cũng khiếp sợ, huống nữa là một người thường”. Nhưng chính từ nơi trán của Ông, này một người thường. Nhưng chính từ nơi trán của ông, này Aggivessana, những giọt mồ hôi đang chảy xuống, sau khi thấm qua thượng y, đang rơi xuống đất. Còn Ta, này Aggivessana, nay không có mồ hôi nào trên thân Ta.
SC 65Rồi Thế Tôn để lộ kim thân cho Hội chúng ấy thấy. Khi nghe nói vậy, Niganthaputta Saccaka im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, ngồi bàng hoàng, không nói một lời.
SC 66Rồi Dummukha, một người con Licchavi, biết được Niganthaputta Saccaka im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, ngồi bàng hoàng, không nói một lời, liền bạch Thế Tôn
SC 67—Bạch Thế Tôn, con có một ví dụ.
Thế Tôn nói
SC 68—Này Dummukha, hãy nói lên ví dụ ấy.
SC 69—Bạch Thế Tôn, như một hồ sen không xa làng hay thị trấn bao nhiêu, ở đây có con cua. Bạch Thế Tôn, rồi một số đông con trai hay con gái đi ra khỏi làng hay thị trấn ấy, đến tại hồ sen kia, sau khi đến, lặn xuống hồ nước ấy bắt con cua lên và đặt nó trên đất khô. Bạch Thế Tôn, khi con cua này thò ra cái càng nào, thì các đứa con trai hay con gái ấy, với cái gậy hay miếng sành, chặt, bẻ gãy và đập nát cái càng ấy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con cua ấy bị chặt, bị bẻ gãy, bị đập nát tất cả càng, không thể lội xuống hồ sen ấy như trước. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, mọi khúc thuyết, gian kế, tranh luận của Niganthaputta Saccaka đã bị Thế Tôn chặt đứt, bẻ gãy, đập tan. Và nay, bạch Thế Tôn, Niganthaputta Saccaka, không thể đến gặp Thế Tôn, chớ đừng nói là có ý định đàm luận.
SC 70Khi được nghe nói vậy, Niganthaputta Saccaka nói với Licchavi Dummukha
SC 71—Ông hãy ngừng nói, Dummukha! Ông hãy ngừng nói, Dummukha! Chúng tôi không đàm luận với Ông. Chúng tôi đang đàm luận với Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama, hãy để yên những lời nói của chúng tôi và lời nói của các Sa-môn, Bà-la-môn khác. Tôi nghĩ cuộc đàm luận vô bổ này thật đáng hối tiếc! Cho đến mức độ nào, một đệ tử Thanh văn của Tôn giả Gotama trở thành tuân phụng giáo điển, chấp nhận giảng huấn, nghi ngờ được đoạn trừ, do dự được diệt tận, thành tựu vô úy, sống trong giáo hội Bổn Sư, khỏi phải nương tựa vào ai?
SC 72—Ở đây, này Aggivessana, đệ tử Thanh văn của Ta, đối với mọi sắc pháp, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Ðối với mọi cảm thọ … đối với mọi tưởng … đối với mọi hành … đối với mọi thức, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Cho đến mức độ như vậy, này Aggivessana, một đệ tử Thanh văn của Ta trở thành tuân phụng giáo điển, chấp nhận giảng huấn, nghi ngờ được đoạn trừ, do dự được diệt tân, thành tựu vô úy, sống trong giáo hội Bổn sư, khỏi phải nương tựa một ai.
SC 73—Cho đến mức độ nào, này Tôn giả Gotama, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, các mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được chánh trí giải thoát?
SC 74—Ở đây, này Aggivessana, Tỷ-kheo đối với bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các sắc pháp, sau khi như thật quán sát với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, chứng được vô chấp thủ giải thoát. Ðối với bất cứ thọ nào … bất cứ tưởng nào … bất cứ hành nào … đối với bất cứ thức nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các thức, sau khi như thật quán sát với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, chứng được vô chấp thủ giải thoát. Cho đến mức độ này, này Aggivessana, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, các mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được chánh trí giải thoát.
SC 75Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỷ-kheo thành tựu ba pháp vô thượng: Kiến vô thượng, Ðạo vô thượng, Giải thoát vô thượng. Ðược giải thoát như vậy, này Aggivessana, vị ấy chỉ kính lễ, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai: “Thế Tôn đã giác ngộ, Ngài thuyết pháp để giác ngộ. Thế Tôn đã điều phục, Ngài thuyết pháp để điều phục. Thế Tôn đã tịch tĩnh, Ngài thuyết pháp để tịch tĩnh. Thế Tôn đã vượt qua, Ngài thuyết pháp để vượt qua. Thế Tôn đã chứng Niết-bàn, Ngài thuyết pháp để chứng Niết-bàn”.
SC 76Ðược nghe nói vậy, Niganthaputta bạch với Thế Tôn
SC 77—Tôn giả Gotama, chúng tôi thật là lỗ mãng, chúng tôi thật là khinh suất. Chúng tôi đã dám nghĩ dùng lời nói để luận chiến với Tôn giả Gotama! Này Tôn giả Gotama, rất có thể còn có sự an toàn cho một người chiến đấu với con voi điên, nhưng không thể có sự an toàn cho một người chiến đấu chống Tôn giả Gotama! Này Tôn giả Gotama, rất có thể còn có sự an toàn cho một người chiến đấu chống đám lửa hừng, nhưng không thể có sự an toàn cho một người chiến đấu chống Tôn giả Gotama! Này Tôn giả Gotama, rất có thể còn có sự an toàn cho một người chiến đấu với con rắn độc dữ tợn, nhưng không thể có sự an toàn cho một người chiến đấu với Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, chúng tôi thật lỗ mãng, chúng tôi thật là khinh xuất. Chúng tôi đã dám nghĩ, dùng lời nói để luận chiến với Tôn giả Gotama! Mong Tôn giả Gotama nhận lời, ngày mai dùng bữa ăn của tôi cùng với chúng Tỷ-kheo!
SC 78Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 79Rồi Niganthaputta Saccaka, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền nói với các Licchavi
SC 80—Các Tôn giả Licchavi hãy nghe tôi. Sa-môn Gotama ngày mai được mời ăn với chúng Tỷ-kheo. Hãy đem đến cho tôi những gì quý vị nghĩ là hợp thời.
SC 81Rồi những Licchavi ấy, sau khi đêm ấy đã mãn cho đem đến Niganthaputta Saccaka khoảng năm trăm phần cơm cúng dường nấu với sữa. Rồi Niganthaputta Saccaka, tại vườn của mình, cho soạn các món ăn thịnh soạn, loại cứng và loại mềm, rồi cho báo tin giờ cho Thế Tôn
SC 82—Tôn giả Gotama, nay đã đến giờ. Cơm đã sửa soạn xong.
SC 83Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến khu vườn của Niganthaputta Saccaka, sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi Niganthaputta Saccaka, tự tay hầu hạ các món ăn thịnh soạn loại cứng và loại mềm cho chúng Tỷ-kheo, cầm đầu là đức Phật. Rồi Niganthaputta sau khi biết Thế Tôn dùng bữa ăn đã xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một chiếc ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Niganthaputta Saccaka bạch Thế Tôn
SC 84—Này Tôn giả Gotama, trong cuộc bố thí này, nếu có công đức và công đức địa, mong rằng những vị bố thí sẽ được hưởng hạnh phúc.
SC 85—Này Aggivessana, sẽ có (công đức) cho những người bố thí, đối với người đáng được cúng dường như Ông, dầu Ông không phải là không có tham, không phải là không có sân, không phải là không có si; sẽ có (công đức) cho Ông, này Aggivessana, đối với người đáng được cúng dường như Ta, và Ta là người không có tham, không có sân, không có si.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 12–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Tiểu Saccaka
Tena kho pana samayena saccako nigaṇṭhaputto vesāliyaṁ paṭivasati bhassappavādako paṇḍitavādo sādhusammato bahujanassa. So vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsati: “nāhaṁ taṁ passāmi samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, saṅghiṁ gaṇiṁ gaṇācariyaṁ, api arahantaṁ sammāsambuddhaṁ paṭijānamānaṁ, yo mayā vādena vādaṁ samāraddho na saṅkampeyya na sampakampeyya na sampavedheyya, yassa na kacchehi sedā mucceyyuṁ. Thūṇaṁ cepāhaṁ acetanaṁ vādena vādaṁ samārabheyyaṁ, sāpi mayā vādena vādaṁ samāraddhā saṅkampeyya sampakampeyya sampavedheyya. Ko pana vādo manussabhūtassā”ti?
Now at that time Saccaka, the son of Jain parents, was staying in Vesālī. He was a controversialist who pretended to be astute and was deemed holy by many people. He was telling a crowd in Vesālī, “I don’t see any ascetic or brahmin who would not shake and rock and tremble, sweating from the armpits, were I to take them on in debate—not a leader of an order or a community, or the tutor of a community, and not even one who claims to be a perfected one, a fully awakened Buddha. Even an insentient post would shake and rock and tremble were I to take it on in debate. How much more then a human being!”
353. Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Đại Lâm (Mahāvana), trong ngôi chùa có nóc nhọn (Kūṭāgārasālā). Vào lúc bấy giờ, Saccaka, con của một Nigaṇṭha, đang cư ngụ tại Vesālī. Ông ta là người thích tranh luận, tự cho mình là bậc trí giả, và được nhiều người xem là bậc thiện trí. Tại hội chúng ở Vesālī, ông ta đã nói những lời như sau: ‘Tôi không thấy một Sa-môn hay Bà-la-môn nào, dù là người có giáo đoàn, có hội chúng, là vị đạo sư, hay ngay cả người tự xưng là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, mà khi bị tôi đối chất bằng luận thuyết lại không run rẩy, không nao núng, không lay động, và mồ hôi không đổ ra từ nách. Ngay cả nếu tôi đối chất bằng luận thuyết với một cây cột vô tri, thì cây cột ấy, khi bị tôi đối chất bằng luận thuyết, cũng sẽ run rẩy, nao núng, lay động. Huống nữa là một con người!’
Atha kho āyasmā assaji pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi. Addasā kho saccako nigaṇṭhaputto vesāliyaṁ jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno āyasmantaṁ assajiṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna yenāyasmā assaji tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā assajinā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho saccako nigaṇṭhaputto āyasmantaṁ assajiṁ etadavoca: “kathaṁ pana, bho assaji, samaṇo gotamo sāvake vineti, kathaṁbhāgā ca pana samaṇassa gotamassa sāvakesu anusāsanī bahulā pavattatī”ti?
“Evaṁ kho, aggivessana, bhagavā sāvake vineti, evaṁbhāgā ca pana bhagavato sāvakesu anusāsanī bahulā pavattati: ‘rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccaṁ. Rūpaṁ, bhikkhave, anattā, vedanā anattā, saññā anattā, saṅkhārā anattā, viññāṇaṁ anattā. Sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattā’ti. Evaṁ kho, aggivessana, bhagavā sāvake vineti, evaṁbhāgā ca pana bhagavato sāvakesu anusāsanī bahulā pavattatī”ti.
“Dussutaṁ vata, bho assaji, assumha ye mayaṁ evaṁvādiṁ samaṇaṁ gotamaṁ assumha. Appeva nāma mayaṁ kadāci karahaci tena bhotā gotamena saddhiṁ samāgaccheyyāma, appeva nāma siyā kocideva kathāsallāpo, appeva nāma tasmā pāpakā diṭṭhigatā viveceyyāmā”ti.
Then Venerable Assaji robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Vesālī for alms. As Saccaka was going for a walk he saw Assaji coming off in the distance. He approached him and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, Saccaka stood to one side and said to Assaji, “Worthy Assaji, how does the ascetic Gotama guide his disciples? And on what topics does instruction to his disciples generally proceed?”
“Aggivessana, this is how the Buddha guides his disciples, and his instructions to disciples generally proceed on these topics: ‘Form, feeling, perception, choices, and consciousness are impermanent. Form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. All conditions are impermanent. All things are not-self.’ This is how the Buddha guides his disciples, and how instruction to his disciples generally proceeds.”
“It’s sad to hear, worthy Assaji, that the ascetic Gotama has such a doctrine. Hopefully, some time or other I’ll get to meet the worthy Gotama, and we can have a discussion. And hopefully I can dissuade him from this harmful misconception.”
Lúc bấy giờ, Tôn giả Assaji vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào thành Vesālī để khất thực. Saccaka, con của Nigaṇṭha, trong khi đi dạo, đi bách bộ trong thành Vesālī, đã thấy Tôn giả Assaji từ xa đi đến. Thấy vậy, ông ta đi đến chỗ Tôn giả Assaji; sau khi đến, ông đã cùng Tôn giả Assaji chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, ông ta đứng sang một bên. Đứng một bên, Saccaka, con của Nigaṇṭha, nói với Tôn giả Assaji điều này: ‘Thưa ngài Assaji, Sa-môn Gotama huấn luyện các đệ tử như thế nào, và phần giáo huấn nào của Sa-môn Gotama thường được áp dụng cho các đệ tử?’ ‘Này Aggivessana, Thế Tôn huấn luyện các đệ tử như thế này, và phần giáo huấn này của Thế Tôn thường được áp dụng cho các đệ tử: ‘Này các Tỳ khưu, sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, các hành là vô thường, thức là vô thường. Này các Tỳ khưu, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, các hành là vô ngã, thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường, tất cả các pháp là vô ngã.’ Này Aggivessana, Thế Tôn huấn luyện các đệ tử như vậy, và phần giáo huấn này của Thế Tôn thường được áp dụng cho các đệ tử.’ ‘Thưa ngài Assaji, thật chúng tôi đã nghe một điều không hay, khi chúng tôi nghe về Sa-môn Gotama có thuyết như vậy. Mong rằng có lúc nào đó chúng tôi có thể gặp được Tôn giả Gotama ấy, mong rằng có thể có một cuộc đối luận nào đó, và mong rằng chúng tôi có thể làm cho ngài từ bỏ tà kiến xấu xa ấy!’
Tena kho pana samayena pañcamattāni licchavisatāni santhāgāre sannipatitāni honti kenacideva karaṇīyena. Atha kho saccako nigaṇṭhaputto yena te licchavī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te licchavī etadavoca: “abhikkamantu bhonto licchavī, abhikkamantu bhonto licchavī, ajja me samaṇena gotamena saddhiṁ kathāsallāpo bhavissati. Sace me samaṇo gotamo tathā patiṭṭhissati yathā ca me ñātaññatarena sāvakena assajinā nāma bhikkhunā patiṭṭhitaṁ, seyyathāpi nāma balavā puriso dīghalomikaṁ eḷakaṁ lomesu gahetvā ākaḍḍheyya parikaḍḍheyya samparikaḍḍheyya; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ ākaḍḍhissāmi parikaḍḍhissāmi samparikaḍḍhissāmi. Seyyathāpi nāma balavā soṇḍikākammakāro mahantaṁ soṇḍikākiḷañjaṁ gambhīre udakarahade pakkhipitvā kaṇṇe gahetvā ākaḍḍheyya parikaḍḍheyya samparikaḍḍheyya; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ ākaḍḍhissāmi parikaḍḍhissāmi samparikaḍḍhissāmi. Seyyathāpi nāma balavā soṇḍikādhutto vālaṁ kaṇṇe gahetvā odhuneyya niddhuneyya nipphoṭeyya; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ odhunissāmi niddhunissāmi nipphoṭessāmi. Seyyathāpi nāma kuñjaro saṭṭhihāyano gambhīraṁ pokkharaṇiṁ ogāhetvā sāṇadhovikaṁ nāma kīḷitajātaṁ kīḷati; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ sāṇadhovikaṁ maññe kīḷitajātaṁ kīḷissāmi. Abhikkamantu bhonto licchavī, abhikkamantu bhonto licchavī, ajja me samaṇena gotamena saddhiṁ kathāsallāpo bhavissatī”ti.
Tatrekacce licchavī evamāhaṁsu: “kiṁ samaṇo gotamo saccakassa nigaṇṭhaputtassa vādaṁ āropessati, atha kho saccako nigaṇṭhaputto samaṇassa gotamassa vādaṁ āropessatī”ti?
Ekacce licchavī evamāhaṁsu: “kiṁ so bhavamāno saccako nigaṇṭhaputto yo bhagavato vādaṁ āropessati, atha kho bhagavā saccakassa nigaṇṭhaputtassa vādaṁ āropessatī”ti?
Atha kho saccako nigaṇṭhaputto pañcamattehi licchavisatehi parivuto yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkami.
Now at that time around five hundred Licchavis were sitting together at the town hall on some business. Then Saccaka went up to them and said, “Come forth, good Licchavīs, come forth! Today I am going to have a discussion with the ascetic Gotama. If he stands by the position stated to me by one of his well-known disciples—a mendicant named Assaji—I’ll take him on in debate and drag him to and fro and round about, like a strong man would grab a fleecy sheep and drag it to and fro and round about! Taking him on in debate, I’ll drag him to and fro and round about, like a strong brewer’s worker would toss a large brewer’s sieve into a deep lake, grab it by the corners, and drag it to and fro and round about! Taking him on in debate, I’ll shake him down and about, and give him a beating, like a strong brewer’s mixer would grab a strainer by the corners and shake it down and about, and give it a beating! I’ll play a game of hemp-washing with the ascetic Gotama, like a sixty-year-old elephant would plunge into a deep lotus pond and play a game of hemp-washing! Come forth, good Licchavīs, come forth! Today I am going to have a discussion with the ascetic Gotama.”
At that, some of the Licchavis said, “How can the ascetic Gotama refute Saccaka’s doctrine, when it is Saccaka who will refute Gotama’s doctrine?”
But some of the Licchavis said, “Who is Saccaka to refute the Buddha’s doctrine, when it is the Buddha who will refute Saccaka’s doctrine?”
Then Saccaka, escorted by the five hundred Licchavis, went to the hall with the peaked roof in the Great Wood.
354. Vào lúc bấy giờ, khoảng năm trăm vị Licchavi đang tụ họp tại nghị đường (santhāgāra) vì một công việc nào đó. Khi ấy, Saccaka, con của Nigaṇṭha, đi đến chỗ các vị Licchavi ấy; sau khi đến, ông nói với các vị Licchavi điều này: ‘Các Tôn giả Licchavi hãy đến, các Tôn giả Licchavi hãy đến! Hôm nay tôi sẽ có một cuộc đối luận với Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama đứng vững trước tôi như vị đệ tử nổi tiếng của ngài tên là Assaji đã đứng vững, thì cũng như một người đàn ông khỏe mạnh nắm lông một con cừu đực lông dài mà kéo tới, kéo lui, kéo qua kéo lại, cũng vậy, tôi sẽ dùng luận thuyết để kéo Sa-môn Gotama tới, kéo lui, kéo qua kéo lại. Cũng như một người làm trong xưởng rượu khỏe mạnh, ném một tấm vải lọc rượu lớn vào một hồ nước sâu, rồi nắm lấy các góc mà kéo tới, kéo lui, kéo qua kéo lại, cũng vậy, tôi sẽ dùng luận thuyết để kéo Sa-môn Gotama tới, kéo lui, kéo qua kéo lại. Cũng như một người nghiện rượu khỏe mạnh nắm lấy vành một cái chổi lọc rượu mà giũ xuống, giũ lên, đập mạnh, cũng vậy, tôi sẽ dùng luận thuyết để giũ Sa-môn Gotama xuống, giũ lên, đập mạnh. Cũng như một con voi chúa sáu mươi tuổi, sau khi xuống một hồ sen sâu, chơi một trò gọi là ‘giặt vải gai’, tôi nghĩ rằng tôi cũng sẽ chơi với Sa-môn Gotama một trò ‘giặt vải gai’ như vậy. Các Tôn giả Licchavi hãy đến, các Tôn giả Licchavi hãy đến! Hôm nay tôi sẽ có một cuộc đối luận với Sa-môn Gotama.’ Trong số đó, một số vị Licchavi nói như sau: ‘Làm sao Sa-môn Gotama có thể bác bỏ luận thuyết của Saccaka, con của Nigaṇṭha? Trái lại, chính Saccaka, con của Nigaṇṭha, sẽ bác bỏ luận thuyết của Sa-môn Gotama.’ Một số vị Licchavi khác lại nói như sau: ‘Saccaka, con của Nigaṇṭha, là ai mà có thể bác bỏ luận thuyết của Thế Tôn? Trái lại, chính Thế Tôn sẽ bác bỏ luận thuyết của Saccaka, con của Nigaṇṭha.’ Khi ấy, Saccaka, con của Nigaṇṭha, được bao quanh bởi khoảng năm trăm vị Licchavi, đi đến Đại Lâm, đến ngôi chùa có nóc nhọn.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū abbhokāse caṅkamanti. Atha kho saccako nigaṇṭhaputto yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca: “kahaṁ nu kho, bho, etarahi so bhavaṁ gotamo viharati? Dassanakāmā hi mayaṁ taṁ bhavantaṁ gotaman”ti.
“Esa, aggivessana, bhagavā mahāvanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisinno”ti.
Atha kho saccako nigaṇṭhaputto mahatiyā licchaviparisāya saddhiṁ mahāvanaṁ ajjhogāhetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Tepi kho licchavī appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
At that time several mendicants were walking mindfully in the open air. Then Saccaka went up to them and said, “Good fellows, where is the worthy Gotama at present? For we want to see him.”
“Aggivessana, the Buddha has plunged deep into the Great Wood and is sitting at the root of a tree for the day’s meditation.”
Then Saccaka, together with a large group of Licchavis, went to the Buddha in the Great Wood, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. Before sitting down to one side, some of the Licchavīs bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent.
355. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi kinh hành ở ngoài trời. Khi ấy, Saccaka con của Nigaṇṭha đi đến chỗ các vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: “Thưa các ngài, hiện nay Tôn giả Gotama đang trú ở đâu? Vì chúng tôi mong muốn được yết kiến Tôn giả Gotama ấy.” “Này Aggivessana, đức Thế Tôn ấy, sau khi đi vào khu rừng Mahāvana, đang ngồi an trú ban ngày ở dưới một gốc cây nào đó.” Khi ấy, Saccaka con của Nigaṇṭha cùng với đại chúng Licchavi đông đảo đi vào khu rừng Mahāvana, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng đức Thế Tôn nói lên lời chào hỏi thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, đã ngồi xuống một bên. Cả những người Licchavi ấy, một số vị sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, đã ngồi xuống một bên; một số vị đã cùng đức Thế Tôn nói lên lời chào hỏi thân hữu, sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, đã ngồi xuống một bên. Một số vị hướng về phía đức Thế Tôn, chắp tay rồi ngồi xuống một bên; một số vị xưng tên và họ của mình ở gần đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số vị giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinno kho saccako nigaṇṭhaputto bhagavantaṁ etadavoca: “puccheyyāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ kiñcideva desaṁ, sace me bhavaṁ gotamo okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti.
“Puccha, aggivessana, yadākaṅkhasī”ti.
“Kathaṁ pana bhavaṁ gotamo sāvake vineti, kathaṁbhāgā ca pana bhoto gotamassa sāvakesu anusāsanī bahulā pavattatī”ti?
“Evaṁ kho ahaṁ, aggivessana, sāvake vinemi, evaṁbhāgā ca pana me sāvakesu anusāsanī bahulā pavattati: ‘rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccaṁ. Rūpaṁ, bhikkhave, anattā, vedanā anattā, saññā anattā, saṅkhārā anattā, viññāṇaṁ anattā. Sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, aggivessana, sāvake vinemi, evaṁbhāgā ca pana me sāvakesu anusāsanī bahulā pavattatī”ti.
Then Saccaka said to the Buddha, “I’d like to ask the worthy Gotama about a certain point, if you’d take the time to answer.”
“Ask what you wish, Aggivessana.”
“How does the worthy Gotama guide his disciples? And on what topics does instruction to his disciples generally proceed?”
“This is how I guide my disciples, and my instructions to disciples generally proceed on these topics: ‘Form, feeling, perception, choices, and consciousness are impermanent. Form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. All conditions are impermanent. All things are not-self.’ This is how I guide my disciples, and how instruction to my disciples generally proceeds.”
356. Saccaka con của Nigaṇṭha, sau khi đã ngồi xuống một bên, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Con muốn hỏi Tôn giả Gotama một vài điều, nếu Tôn giả Gotama cho con cơ hội để giải đáp câu hỏi.” “Này Aggivessana, hãy hỏi điều ngươi mong muốn.” “Thưa Tôn giả Gotama, ngài huấn luyện các đệ tử như thế nào? Và lời giáo huấn của Tôn giả Gotama đối với các đệ tử thường diễn ra theo phần nào?” “Này Aggivessana, Ta huấn luyện các đệ tử như thế này, và lời giáo huấn của Ta đối với các đệ tử thường diễn ra theo phần này: ‘Này các tỳ khưu, sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, các hành là vô thường, thức là vô thường. Này các tỳ khưu, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, các hành là vô ngã, thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường, tất cả các pháp là vô ngã.’ Này Aggivessana, Ta huấn luyện các đệ tử như thế này, và lời giáo huấn của Ta đối với các đệ tử thường diễn ra theo phần này.”
“Upamā maṁ, bho gotama, paṭibhātī”ti.
“Paṭibhātu taṁ, aggivessanā”ti bhagavā avoca.
“A simile strikes me, worthy Gotama.”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
“Thưa Tôn giả Gotama, một ví dụ đến với con.” Đức Thế Tôn đã nói: “Này Aggivessana, hãy nói ra ví dụ đó.”
“Seyyathāpi, bho gotama, ye kecime bījagāmabhūtagāmā vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjanti, sabbe te pathaviṁ nissāya pathaviyaṁ patiṭṭhāya. Evamete bījagāmabhūtagāmā vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjanti. Seyyathāpi vā pana, bho gotama, ye kecime balakaraṇīyā kammantā karīyanti, sabbe te pathaviṁ nissāya pathaviyaṁ patiṭṭhāya. Evamete balakaraṇīyā kammantā karīyanti.
Evameva kho, bho gotama, rūpattāyaṁ purisapuggalo rūpe patiṭṭhāya puññaṁ vā apuññaṁ vā pasavati, vedanattāyaṁ purisapuggalo vedanāyaṁ patiṭṭhāya puññaṁ vā apuññaṁ vā pasavati, saññattāyaṁ purisapuggalo saññāyaṁ patiṭṭhāya puññaṁ vā apuññaṁ vā pasavati, saṅkhārattāyaṁ purisapuggalo saṅkhāresu patiṭṭhāya puññaṁ vā apuññaṁ vā pasavati, viññāṇattāyaṁ purisapuggalo viññāṇe patiṭṭhāya puññaṁ vā apuññaṁ vā pasavatī”ti.
“All the plants and seeds that achieve growth, increase, and maturity do so depending on the earth and grounded on the earth. All the hard work that gets done depends on the earth and is grounded on the earth.
In the same way, an individual person’s self is form. Established on form they brim with merit and wickedness. An individual person’s self is feeling … perception … choices … consciousness. Established on consciousness they brim with merit and wickedness.”
“Ví như, thưa Tôn giả Gotama, bất cứ loại hạt giống và thảo mộc nào đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, sung mãn, tất cả chúng đều nương vào đất, đứng trên đất. Cũng vậy, các loại hạt giống và thảo mộc này đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, sung mãn. Hoặc ví như, thưa Tôn giả Gotama, bất cứ công việc nào cần dùng sức lực được thực hiện, tất cả chúng đều nương vào đất, đứng trên đất. Cũng vậy, các công việc cần dùng sức lực này được thực hiện. Cũng tương tự như vậy, thưa Tôn giả Gotama, cá nhân con người này, với sắc là tự ngã, đứng trên sắc mà tạo ra phước hoặc phi phước; cá nhân con người này, với thọ là tự ngã, đứng trên thọ mà tạo ra phước hoặc phi phước; cá nhân con người này, với tưởng là tự ngã, đứng trên tưởng mà tạo ra phước hoặc phi phước; cá nhân con người này, với các hành là tự ngã, đứng trên các hành mà tạo ra phước hoặc phi phước; cá nhân con người này, với thức là tự ngã, đứng trên thức mà tạo ra phước hoặc phi phước.”
“Nanu tvaṁ, aggivessana, evaṁ vadesi: ‘rūpaṁ me attā, vedanā me attā, saññā me attā, saṅkhārā me attā, viññāṇaṁ me attā’”ti?
“Ahañhi, bho gotama, evaṁ vadāmi: ‘rūpaṁ me attā, vedanā me attā, saññā me attā, saṅkhārā me attā, viññāṇaṁ me attā’ti, ayañca mahatī janatā”ti.
“Aggivessana, are you not saying this: ‘Form is my self, feeling is my self, perception is my self, choices are my self, consciousness is my self’?”
“Indeed, worthy Gotama, that is what I am saying. And this big crowd agrees with me!”
“Này Aggivessana, có phải ngươi nói như vầy: ‘Sắc là tự ngã của tôi, thọ là tự ngã của tôi, tưởng là tự ngã của tôi, các hành là tự ngã của tôi, thức là tự ngã của tôi’?” “Thưa Tôn giả Gotama, quả thật con nói như vầy: ‘Sắc là tự ngã của tôi, thọ là tự ngã của tôi, tưởng là tự ngã của tôi, các hành là tự ngã của tôi, thức là tự ngã của tôi,’ và cả đám đông dân chúng này cũng vậy.”
“Kiñhi te, aggivessana, mahatī janatā karissati? Iṅgha tvaṁ, aggivessana, sakaññeva vādaṁ nibbeṭhehī”ti.
“Ahañhi, bho gotama, evaṁ vadāmi: ‘rūpaṁ me attā, vedanā me attā, saññā me attā, saṅkhārā me attā, viññāṇaṁ me attā’”ti.
“What has this big crowd to do with you? Please just unpack your own statement.”
“Then, worthy Gotama, what I am saying is this: ‘Form is my self, feeling is my self, perception is my self, choices are my self, consciousness is my self’.”
“Này Aggivessana, đám đông dân chúng sẽ làm được gì cho ngươi? Thôi nào, Aggivessana, ngươi hãy tự mình làm rõ luận điểm của chính mình đi.” “Thưa Tôn giả Gotama, quả thật con nói như vầy: ‘Sắc là tự ngã của tôi, thọ là tự ngã của tôi, tưởng là tự ngã của tôi, các hành là tự ngã của tôi, thức là tự ngã của tôi.’”
“Tena hi, aggivessana, taññevettha paṭipucchissāmi, yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, vatteyya rañño khattiyassa muddhāvasittassa sakasmiṁ vijite vaso—ghātetāyaṁ vā ghātetuṁ, jāpetāyaṁ vā jāpetuṁ, pabbājetāyaṁ vā pabbājetuṁ, seyyathāpi rañño pasenadissa kosalassa, seyyathāpi vā pana rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassā”ti?
“Vatteyya, bho gotama, rañño khattiyassa muddhāvasittassa sakasmiṁ vijite vaso—ghātetāyaṁ vā ghātetuṁ, jāpetāyaṁ vā jāpetuṁ, pabbājetāyaṁ vā pabbājetuṁ, seyyathāpi rañño pasenadissa kosalassa, seyyathāpi vā pana rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa. Imesampi hi, bho gotama, saṅghānaṁ gaṇānaṁ—Seyyathidaṁ—vajjīnaṁ mallānaṁ—vattati sakasmiṁ vijite vaso—ghātetāyaṁ vā ghātetuṁ, jāpetāyaṁ vā jāpetuṁ, pabbājetāyaṁ vā pabbājetuṁ. Kiṁ pana rañño khattiyassa muddhāvasittassa, seyyathāpi rañño pasenadissa kosalassa, seyyathāpi vā pana rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa? Vatteyya, bho gotama, vattituñca marahatī”ti.
“Well then, Aggivessana, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, Aggivessana? Consider an anointed aristocratic king such as Pasenadi of Kosala or Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha. Would they have the power in their own realm to execute those who have incurred execution, fine those who have incurred fines, or banish those who have incurred banishment?”
“An anointed king would have such power, worthy Gotama. Even federations such as the Vajjis and Mallas have such power in their own realm. So of course an anointed king such as Pasenadi or Ajātasattu would wield such power, as is their right.”
357. “Này Aggivessana, nếu vậy, Ta sẽ hỏi lại chính ngươi về vấn đề này. Ngươi hãy trả lời theo cách nào ngươi thấy hài lòng. Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có quyền lực trong lãnh thổ của mình để giết người đáng bị giết, phạt tiền người đáng bị phạt tiền, hay trục xuất người đáng bị trục xuất không? Ví như vua Pasenadi của nước Kosala, hay ví như vua Ajātasattu của nước Māgadha, con trai của hoàng hậu Vedehi?” “Thưa Tôn giả Gotama, một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh có quyền lực trong lãnh thổ của mình để giết người đáng bị giết, phạt tiền người đáng bị phạt tiền, hay trục xuất người đáng bị trục xuất. Ví như vua Pasenadi của nước Kosala, hay ví như vua Ajātasattu của nước Māgadha, con trai của hoàng hậu Vedehi. Thưa Tôn giả Gotama, ngay cả các liên minh và tập đoàn này, như là của người Vajjī và người Mallā, cũng có quyền lực trong lãnh thổ của họ để giết người đáng bị giết, phạt tiền người đáng bị phạt tiền, hay trục xuất người đáng bị trục xuất. Huống nữa là một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, ví như vua Pasenadi của nước Kosala, hay ví như vua Ajātasattu của nước Māgadha, con trai của hoàng hậu Vedehi? Thưa Tôn giả Gotama, quyền lực có thể có hiệu lực, và đáng được có hiệu lực.”
“Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, yaṁ tvaṁ evaṁ vadesi: ‘rūpaṁ me attā’ti, vattati te tasmiṁ rūpe vaso—evaṁ me rūpaṁ hotu, evaṁ me rūpaṁ mā ahosī”ti? Evaṁ vutte, saccako nigaṇṭhaputto tuṇhī ahosi. Dutiyampi kho bhagavā saccakaṁ nigaṇṭhaputtaṁ etadavoca: “taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, yaṁ tvaṁ evaṁ vadesi: ‘rūpaṁ me attā’ti, vattati te tasmiṁ rūpe vaso—evaṁ me rūpaṁ hotu, evaṁ me rūpaṁ mā ahosī”ti? Dutiyampi kho saccako nigaṇṭhaputto tuṇhī ahosi. Atha kho bhagavā saccakaṁ nigaṇṭhaputtaṁ etadavoca: “byākarohi dāni, aggivessana, na dāni te tuṇhībhāvassa kālo. Yo koci, aggivessana tathāgatena yāvatatiyaṁ sahadhammikaṁ pañhaṁ puṭṭho na byākaroti, etthevassa sattadhā muddhā phalatī”ti.
“What do you think, Aggivessana? When you say, ‘Form is my self,’ do you have power over that form to say: ‘May my form be like this! May it not be like that’?” When he said this, Saccaka kept silent. The Buddha asked the question a second time, but Saccaka still kept silent. So the Buddha said to Saccaka, “Answer now, Aggivessana. Now is not the time for silence. If someone fails to answer a legitimate question when asked three times by the Buddha, their head explodes into seven pieces there and then.”
“Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: điều mà ngươi nói rằng: ‘Sắc là tự ngã của tôi’, vậy quyền lực của ngươi có hiệu lực đối với sắc ấy không: ‘Mong rằng sắc của tôi hãy như thế này, mong rằng sắc của tôi đừng như thế này’?” Khi được nói như vậy, Saccaka, con của Nigaṇṭha, đã im lặng. Lần thứ hai, Đức Thế Tôn lại nói với Saccaka, con của Nigaṇṭha, điều này: “Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: điều mà ngươi nói rằng: ‘Sắc là tự ngã của tôi’, vậy quyền lực của ngươi có hiệu lực đối với sắc ấy không: ‘Mong rằng sắc của tôi hãy như thế này, mong rằng sắc của tôi đừng như thế này’?” Lần thứ hai, Saccaka, con của Nigaṇṭha, cũng đã im lặng. Khi ấy, Đức Thế Tôn nói với Saccaka, con của Nigaṇṭha, điều này: “Này Aggivessana, bây giờ hãy trả lời! Bây giờ không phải là lúc để ngươi im lặng. Này Aggivessana, bất cứ ai khi được Như Lai hỏi một câu hỏi hợp pháp đến lần thứ ba mà không trả lời, đầu của người ấy sẽ vỡ thành bảy mảnh ngay tại đây.”
Tena kho pana samayena vajirapāṇi yakkho āyasaṁ vajiraṁ ādāya ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ saccakassa nigaṇṭhaputtassa uparivehāsaṁ ṭhito hoti: “sacāyaṁ saccako nigaṇṭhaputto bhagavatā yāvatatiyaṁ sahadhammikaṁ pañhaṁ puṭṭho na byākarissati etthevassa sattadhā muddhaṁ phālessāmī”ti. Taṁ kho pana vajirapāṇiṁ yakkhaṁ bhagavā ceva passati saccako ca nigaṇṭhaputto.
Atha kho saccako nigaṇṭhaputto bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto bhagavantaṁyeva tāṇaṁ gavesī bhagavantaṁyeva leṇaṁ gavesī bhagavantaṁyeva saraṇaṁ gavesī bhagavantaṁ etadavoca: “pucchatu maṁ bhavaṁ gotamo, byākarissāmī”ti.
Now at that time the spirit Vajirapāṇī, taking up a burning iron thunderbolt, blazing and glowing, stood in the air above Saccaka, thinking, “If this Saccaka doesn’t answer when asked a third time, I’ll blow his head into seven pieces there and then!” And both the Buddha and Saccaka could see Vajirapāṇī.
Saccaka was terrified, shocked, and awestruck. Looking to the Buddha for shelter, asylum, and refuge, he said, “Ask me, worthy Gotama. I will answer.”
Vào lúc ấy, dạ-xoa Vajirapāṇi, tay cầm một cây chày kim cang bằng sắt rực lửa, cháy sáng, chói lòa, đứng trên không trung phía trên Saccaka, con của Nigaṇṭha, (nghĩ rằng): ‘Nếu Saccaka, con của Nigaṇṭha này, khi được Đức Thế Tôn hỏi một câu hỏi hợp pháp đến lần thứ ba mà không trả lời, ta sẽ đập vỡ đầu hắn thành bảy mảnh ngay tại đây.’ Cả Đức Thế Tôn và Saccaka, con của Nigaṇṭha, đều thấy dạ-xoa Vajirapāṇi ấy. Khi ấy, Saccaka, con của Nigaṇṭha, sợ hãi, kinh hoàng, lông tóc dựng đứng, tìm kiếm sự bảo vệ nơi chính Đức Thế Tôn, tìm kiếm nơi ẩn náu nơi chính Đức Thế Tôn, tìm kiếm nơi nương tựa nơi chính Đức Thế Tôn, và nói với Đức Thế Tôn điều này: ‘Xin Tôn giả Gotama hãy hỏi con, con sẽ trả lời.’”
“Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, yaṁ tvaṁ evaṁ vadesi: ‘rūpaṁ me attā’ti, vattati te tasmiṁ rūpe vaso—evaṁ me rūpaṁ hotu, evaṁ me rūpaṁ mā ahosī”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“What do you think, Aggivessana? When you say, ‘Form is my self,’ do you have power over that form to say: ‘May my form be like this! May it not be like that’?”
“No, worthy Gotama.”
358. “Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: điều mà ngươi nói rằng: ‘Sắc là tự ngã của tôi’, vậy quyền lực của ngươi có hiệu lực đối với sắc ấy không: ‘Mong rằng sắc của tôi hãy như thế này, mong rằng sắc của tôi đừng như thế này’?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“Manasi karohi, aggivessana; manasi karitvā kho, aggivessana, byākarohi. Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ pacchimena vā purimaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, yaṁ tvaṁ evaṁ vadesi: ‘vedanā me attā’ti, vattati te tissaṁ vedanāyaṁ vaso—evaṁ me vedanā hotu, evaṁ me vedanā mā ahosī”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Think about it, Aggivessana! You should think before answering. What you said before and what you said after don’t match up. What do you think, Aggivessana? When you say, ‘Feeling is my self,’ do you have power over that feeling to say: ‘May my feeling be like this! May it not be like that’?”
“No, worthy Gotama.”
“Này Aggivessana, hãy chú tâm! Này Aggivessana, sau khi chú tâm, hãy trả lời. Lời trước của ngươi không khớp với lời sau, và lời sau không khớp với lời trước. Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: điều mà ngươi nói rằng: ‘Thọ là tự ngã của tôi’, vậy quyền lực của ngươi có hiệu lực đối với thọ ấy không: ‘Mong rằng thọ của tôi hãy như thế này, mong rằng thọ của tôi đừng như thế này’?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“Manasi karohi, aggivessana; manasi karitvā kho, aggivessana, byākarohi. Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, yaṁ tvaṁ evaṁ vadesi: ‘saññā me attā’ti, vattati te tissaṁ saññāyaṁ vaso—evaṁ me saññā hotu, evaṁ me saññā mā ahosī”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Think about it, Aggivessana! You should think before answering. What you said before and what you said after don’t match up. What do you think, Aggivessana? When you say, ‘Perception is my self,’ do you have power over that perception to say: ‘May my perception be like this! May it not be like that’?”
“No, worthy Gotama.”
“Này Aggivessana, hãy chú tâm! Này Aggivessana, sau khi chú tâm, hãy trả lời. Lời trước của ngươi không khớp với lời sau, và lời sau không khớp với lời trước. Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: điều mà ngươi nói rằng: ‘Tưởng là tự ngã của tôi’, vậy quyền lực của ngươi có hiệu lực đối với tưởng ấy không: ‘Mong rằng tưởng của tôi hãy như thế này, mong rằng tưởng của tôi đừng như thế này’?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“Manasi karohi, aggivessana; manasi karitvā kho, aggivessana, byākarohi. Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, yaṁ tvaṁ evaṁ vadesi: ‘saṅkhārā me attā’ti, vattati te tesu saṅkhāresu vaso—evaṁ me saṅkhārā hontu, evaṁ me saṅkhārā mā ahesun”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Think about it, Aggivessana! You should think before answering. What you said before and what you said after don’t match up. What do you think, Aggivessana? When you say, ‘Choices are my self,’ do you have power over those choices to say: ‘May my choices be like this! May they not be like that’?”
“No, worthy Gotama.”
“Này Aggivessana, hãy chú tâm! Này Aggivessana, sau khi chú tâm, hãy trả lời. Lời trước của ngươi không khớp với lời sau, và lời sau không khớp với lời trước. Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: điều mà ngươi nói rằng: ‘Các hành là tự ngã của tôi’, vậy quyền lực của ngươi có hiệu lực đối với các hành ấy không: ‘Mong rằng các hành của tôi hãy như thế này, mong rằng các hành của tôi đừng như thế này’?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“Manasi karohi, aggivessana; manasi karitvā kho, aggivessana, byākarohi. Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, yaṁ tvaṁ evaṁ vadesi: ‘viññāṇaṁ me attā’ti, vattati te tasmiṁ viññāṇe vaso—evaṁ me viññāṇaṁ hotu, evaṁ me viññāṇaṁ mā ahosī”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Think about it, Aggivessana! You should think before answering. What you said before and what you said after don’t match up. What do you think, Aggivessana? When you say, ‘Consciousness is my self,’ do you have power over that consciousness to say: ‘May my consciousness be like this! May it not be like that’?”
“No, worthy Gotama.”
“Này Aggivessana, hãy chú tâm! Này Aggivessana, sau khi chú tâm, hãy trả lời. Lời trước của ngươi không khớp với lời sau, và lời sau không khớp với lời trước. Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: điều mà ngươi nói rằng: ‘Thức là tự ngã của tôi’, vậy quyền lực của ngươi có hiệu lực đối với thức ấy không: ‘Mong rằng thức của tôi hãy như thế này, mong rằng thức của tôi đừng như thế này’?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“Manasi karohi, aggivessana; manasi karitvā kho, aggivessana, byākarohi. Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bho gotama”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bho gotama”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Think about it, Aggivessana! You should think before answering. What you said before and what you said after don’t match up. What do you think, Aggivessana? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, worthy Gotama.”
“Này Aggivessana, hãy tác ý. Này Aggivessana, sau khi đã tác ý, hãy trả lời. Lời nói sau của ông không ăn khớp với lời nói trước, hoặc lời nói trước không ăn khớp với lời nói sau. Này Aggivessana, ông nghĩ thế nào về điều này, sắc là thường hay vô thường?” – “Thưa Tôn giả Gotama, là vô thường.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Thưa Tôn giả Gotama, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Thưa Tôn giả Gotama, điều này không thích hợp.”
“Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, vedanā …pe… saññā …pe… saṅkhārā …pe… taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bho gotama”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bho gotama”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“What do you think, Aggivessana? Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, worthy Gotama.”
“Này Aggivessana, ông nghĩ thế nào về điều này, thọ... (tương tự)... tưởng... (tương tự)... các hành... (tương tự)... Này Aggivessana, ông nghĩ thế nào về điều này, thức là thường hay vô thường?” – “Thưa Tôn giả Gotama, là vô thường.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Thưa Tôn giả Gotama, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Thưa Tôn giả Gotama, điều này không thích hợp.”
“Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, yo nu kho dukkhaṁ allīno dukkhaṁ upagato dukkhaṁ ajjhosito, dukkhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, api nu kho so sāmaṁ vā dukkhaṁ parijāneyya, dukkhaṁ vā parikkhepetvā vihareyyā”ti?
“Kiñhi siyā, bho gotama? No hidaṁ, bho gotamā”ti.
“What do you think, Aggivessana? Consider someone who resorts, draws near, and clings to suffering, regarding it thus: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ Would they be able to completely understand suffering themselves, or live having wiped out suffering?”
“How could they? No, worthy Gotama.”
“Này Aggivessana, ông nghĩ thế nào về điều này? Người nào bám víu vào khổ, đi đến khổ, chìm đắm trong khổ, và xem xét khổ rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’, liệu người ấy có thể tự mình liễu tri khổ, hoặc có thể sống sau khi đã làm cho khổ được tận diệt không?” – “Thưa Tôn giả Gotama, làm sao có thể được? Thưa Tôn giả Gotama, điều này không thể được.”
“Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, nanu tvaṁ evaṁ sante dukkhaṁ allīno dukkhaṁ upagato dukkhaṁ ajjhosito, dukkhaṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“Kiñhi no siyā, bho gotama? Evametaṁ, bho gotamā”ti.
“What do you think, Aggivessana? This being so, aren’t you someone who resorts, draws near, and clings to suffering, regarding it thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“How could I not? Yes, worthy Gotama.”
“Này Aggivessana, ông nghĩ thế nào về điều này? Khi sự việc là như vậy, há chẳng phải ông là người bám víu vào khổ, đi đến khổ, chìm đắm trong khổ, và xem xét khổ rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ hay sao?” – “Thưa Tôn giả Gotama, làm sao lại không như vậy? Thưa Tôn giả Gotama, sự việc chính là như vậy.”
“Seyyathāpi, aggivessana, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya. So tattha passeyya mahantaṁ kadalikkhandhaṁ ujuṁ navaṁ akukkukajātaṁ. Tamenaṁ mūle chindeyya, mūle chetvā agge chindeyya, agge chetvā pattavaṭṭiṁ vinibbhujeyya. So tattha pattavaṭṭiṁ vinibbhujanto pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṁ?
Evameva kho tvaṁ, aggivessana, mayā sakasmiṁ vāde samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno ritto tuccho aparaddho. Bhāsitā kho pana te esā, aggivessana, vesāliyaṁ parisati vācā: ‘nāhaṁ taṁ passāmi samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, saṅghiṁ gaṇiṁ gaṇācariyaṁ, api arahantaṁ sammāsambuddhaṁ paṭijānamānaṁ, yo mayā vādena vādaṁ samāraddho na saṅkampeyya na sampakampeyya na sampavedheyya, yassa na kacchehi sedā mucceyyuṁ. Thūṇaṁ cepāhaṁ acetanaṁ vādena vādaṁ samārabheyyaṁ sāpi mayā vādena vādaṁ samāraddhā saṅkampeyya sampakampeyya sampavedheyya. Ko pana vādo manussabhūtassā’ti? Tuyhaṁ kho pana, aggivessana, appekaccāni sedaphusitāni nalāṭā muttāni, uttarāsaṅgaṁ vinibhinditvā bhūmiyaṁ patiṭṭhitāni. Mayhaṁ kho pana, aggivessana, natthi etarahi kāyasmiṁ sedo”ti. Iti bhagavā tasmiṁ parisati suvaṇṇavaṇṇaṁ kāyaṁ vivari. Evaṁ vutte, saccako nigaṇṭhaputto tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
“Suppose, Aggivessana, there was a person in need of heartwood. Wandering in search of heartwood, they’d take a sharp axe and enter a forest. There they’d see a big banana trunk, straight and young and grown unskewed. They’d cut it down at the base, cut off the top, and unroll the coiled sheaths. But they wouldn’t even find sapwood, much less heartwood.
In the same way, when pursued, pressed, and grilled by me on your own doctrine, you turn out to be vacuous, hollow, and mistaken. But it was you who stated before the assembly of Vesālī: ‘I don’t see any ascetic or brahmin who would not shake and rock and tremble, sweating from the armpits, were I to take them on in debate—not a leader of an order or a community, or the tutor of a community, and not even one who claims to be a perfected one, a fully awakened Buddha. Even an insentient post would shake and rock and tremble were I to take it on in debate. How much more then a human being!’ But sweat is pouring from your forehead; it’s soaked through your robe and drips on the ground. While I now have no sweat on my body.” So the Buddha revealed his golden body to the assembly. When this was said, Saccaka sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say.
359. “Này Aggivessana, ví như một người đàn ông cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi quanh để tìm lõi cây, mang theo một chiếc rìu sắc bén đi vào rừng. Ở đó, người ấy thấy một thân chuối lớn, thẳng, non, không có u mấu. Người ấy chặt nó ở gốc, sau khi chặt ở gốc lại chặt ở ngọn, sau khi chặt ở ngọn lại bóc các bẹ lá ra. Trong khi bóc các bẹ lá, người ấy không tìm thấy cả giác cây, thì làm sao tìm thấy lõi cây được? Cũng vậy, này Aggivessana, khi được ta tra hỏi, thẩm vấn, chất vấn về chính luận thuyết của mình, ông đã trở nên trống rỗng, rỗng tuếch, và thất bại. Lại nữa, này Aggivessana, lời nói này đã được ông nói ra trong hội chúng ở Vesālī: ‘Ta không thấy một Sa-môn hay Bà-la-môn nào, dù là vị lãnh đạo của một Tăng đoàn, một giáo đoàn, một vị thầy của một giáo phái, thậm chí tự xưng là một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, mà khi bị ta tranh luận bằng luận thuyết lại không run rẩy, không chao đảo, không rung động, mồ hôi không toát ra từ nách. Nếu ta tranh luận bằng luận thuyết với cả một cây cột vô tri, nó cũng sẽ run rẩy, chao đảo, rung động khi bị ta tranh luận bằng luận thuyết. Huống nữa là một con người?’ Nhưng này Aggivessana, chính những giọt mồ hôi của ông, sau khi tuôn ra từ trán, đã thấm qua thượng y và rơi xuống đất. Còn ta, này Aggivessana, hiện nay trên thân không có mồ hôi.” Nói vậy xong, Thế Tôn vén y để lộ thân sắc vàng của Ngài trong hội chúng ấy. Khi được nói như vậy, Saccaka con của Nigaṇṭha ngồi im lặng, bối rối, vai rũ xuống, cúi mặt, chán nản, không thể đối đáp.
Atha kho dummukho licchaviputto saccakaṁ nigaṇṭhaputtaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā bhagavantaṁ etadavoca: “upamā maṁ, bhagavā, paṭibhātī”ti.
“Paṭibhātu taṁ, dummukhā”ti bhagavā avoca.
“Seyyathāpi, bhante, gāmassa vā nigamassa vā avidūre pokkharaṇī. Tatrāssa kakkaṭako. Atha kho, bhante, sambahulā kumārakā vā kumārikā vā tamhā gāmā vā nigamā vā nikkhamitvā yena sā pokkharaṇī tenupasaṅkameyyuṁ; upasaṅkamitvā taṁ pokkharaṇiṁ ogāhetvā taṁ kakkaṭakaṁ udakā uddharitvā thale patiṭṭhāpeyyuṁ. Yaññadeva hi so, bhante, kakkaṭako aḷaṁ abhininnāmeyya taṁ tadeva te kumārakā vā kumārikā vā kaṭṭhena vā kathalena vā sañchindeyyuṁ sambhañjeyyuṁ sampalibhañjeyyuṁ. Evañhi so, bhante, kakkaṭako sabbehi aḷehi sañchinnehi sambhaggehi sampalibhaggehi abhabbo taṁ pokkharaṇiṁ puna otarituṁ, seyyathāpi pubbe. Evameva kho, bhante, yāni saccakassa nigaṇṭhaputtassa visūkāyitāni visevitāni vipphanditāni tānipi sabbāni bhagavatā sañchinnāni sambhaggāni sampalibhaggāni; abhabbo ca dāni, bhante, saccako nigaṇṭhaputto puna bhagavantaṁ upasaṅkamituṁ yadidaṁ vādādhippāyo”ti.
Evaṁ vutte, saccako nigaṇṭhaputto dummukhaṁ licchaviputtaṁ etadavoca: “āgamehi tvaṁ, dummukha, āgamehi tvaṁ, dummukha, (…) na mayaṁ tayā saddhiṁ mantema, idha mayaṁ bhotā gotamena saddhiṁ mantema.
Knowing this, the Licchavi Dummukha said to the Buddha, “A simile strikes me, Blessed One.”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
“Sir, suppose there was a lotus pond not far from a town or village, and a crab lived there. Then several boys or girls would leave the town or village and go to the pond, where they’d pull out the crab and put it on solid ground. Whenever that crab extended a claw, those boys or girls would snap, crack, and break it off with a stick or a stone. And when that crab’s claws had all been snapped, cracked, and broken off it wouldn’t be able to return down into that lotus pond. In the same way, sir, the Buddha has snapped, cracked, and broken off all Saccaka’s twists, ducks, and dodges. Now he can’t get near the Buddha again looking for a debate.”
But Saccaka said to him, “Hold on, Dummukha, hold on! I wasn’t talking with you, I was talking with the worthy Gotama.
360. Bấy giờ, Dummukha, con trai của một người Licchavi, thấy Saccaka con của Nigaṇṭha đang ngồi im lặng, bối rối, vai rũ xuống, cúi mặt, chán nản, không thể đối đáp, liền bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, một ví dụ đến với con.” – “Này Dummukha, hãy để ví dụ ấy đến với ngươi,” Thế Tôn nói. – “Bạch Thế Tôn, ví như gần một ngôi làng hoặc một thị trấn có một cái ao. Ở đó có một con cua. Rồi, bạch Thế Tôn, nhiều cậu bé và cô bé từ làng hoặc thị trấn ấy đi ra, đến cái ao đó; sau khi đến, họ lội xuống ao, bắt con cua lên khỏi nước và đặt nó trên cạn. Bạch Thế Tôn, mỗi khi con cua ấy chìa càng ra, các cậu bé và cô bé ấy lại dùng gậy hoặc mảnh sành để cắt, đập gãy, và đập nát nó. Như vậy, bạch Thế Tôn, con cua ấy, với tất cả các càng đã bị cắt, bị đập gãy, bị đập nát, sẽ không thể trở lại ao như trước đây. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, bất cứ những sự vùng vẫy, quằn quại, và giãy giụa nào của Saccaka con của Nigaṇṭha, tất cả chúng đều đã bị Thế Tôn cắt đứt, đập gãy, và đập nát. Và bây giờ, bạch Thế Tôn, Saccaka con của Nigaṇṭha không thể đến gần Thế Tôn một lần nữa với mục đích tranh luận.” Khi được nói như vậy, Saccaka con của Nigaṇṭha nói với Dummukha, con trai của người Licchavi: “Hãy đợi đấy, Dummukha! Hãy đợi đấy, Dummukha! Chúng tôi không nói chuyện với ông. Ở đây, chúng tôi đang nói chuyện với Tôn giả Gotama.”
Tiṭṭhatesā, bho gotama, amhākañceva aññesañca puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ vācā. Vilāpaṁ vilapitaṁ maññe. Kittāvatā ca nu kho bhoto gotamassa sāvako sāsanakaro hoti ovādapatikaro tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane viharatī”ti?
“Idha, aggivessana, mama sāvako yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati; yā kāci vedanā …pe… yā kāci saññā …pe… ye keci saṅkhārā …pe… yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā, yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati. Ettāvatā kho, aggivessana, mama sāvako sāsanakaro hoti ovādapatikaro tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane viharatī”ti.
Worthy Gotama, leave aside that statement I made—as did various other ascetics and brahmins—it was, like, just a bit of nonsense. How do you define a disciple of the worthy Gotama who follows instructions and responds to advice; who has gone beyond doubt, got rid of indecision, gained assurance, and is independent of others in the Teacher’s instructions?”
“It’s when one of my disciples truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ They truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ That’s how to define one of my disciples who follows instructions and responds to advice; who has gone beyond doubt, got rid of indecision, gained assurance, and is independent of others in the Teacher’s instructions.”
361. “Thưa Tôn giả Gotama, xin hãy gác lại lời nói của chúng tôi và của các Sa-môn, Bà-la-môn khác. Tôi cho rằng đó chỉ là lời nói lảm nhảm. Thưa Tôn giả Gotama, đến mức độ nào thì một đệ tử của Tôn giả Gotama được xem là người thực hành giáo pháp, người tuân theo lời giáo huấn, đã vượt qua hoài nghi, đã chấm dứt phân vân, đã đạt đến sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác, và an trú trong giáo pháp của bậc Đạo Sư?” “Này Aggivessana, ở đây, đệ tử của Ta, đối với bất kỳ sắc nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, dù bên trong hay bên ngoài, dù thô hay tế, dù hạ liệt hay cao thượng, dù xa hay gần, vị ấy quán thấy tất cả sắc ấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Đối với bất kỳ thọ nào… đối với bất kỳ tưởng nào… đối với bất kỳ hành nào… đối với bất kỳ thức nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, dù bên trong hay bên ngoài, dù thô hay tế, dù hạ liệt hay cao thượng, dù xa hay gần, vị ấy quán thấy tất cả thức ấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Này Aggivessana, đến mức độ ấy, đệ tử của Ta được xem là người thực hành giáo pháp, người tuân theo lời giáo huấn, đã vượt qua hoài nghi, đã chấm dứt phân vân, đã đạt đến sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác, và an trú trong giáo pháp của bậc Đạo Sư.”
“Kittāvatā pana, bho gotama, bhikkhu arahaṁ hoti khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto”ti?
“Idha, aggivessana, bhikkhu yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādā vimutto hoti; yā kāci vedanā …pe… yā kāci saññā …pe… ye keci saṅkhārā …pe… yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādā vimutto hoti. Ettāvatā kho, aggivessana, bhikkhu arahaṁ hoti khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto.
Evaṁ vimuttacitto kho, aggivessana, bhikkhu tīhi anuttariyehi samannāgato hoti—dassanānuttariyena, paṭipadānuttariyena, vimuttānuttariyena. Evaṁ vimuttacitto kho, aggivessana, bhikkhu tathāgataññeva sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti—buddho so bhagavā bodhāya dhammaṁ deseti, danto so bhagavā damathāya dhammaṁ deseti, santo so bhagavā samathāya dhammaṁ deseti, tiṇṇo so bhagavā taraṇāya dhammaṁ deseti, parinibbuto so bhagavā parinibbānāya dhammaṁ desetī”ti.
“But how do you define a mendicant who is a perfected one, with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment?”
“It’s when a mendicant truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ And having seen this with right understanding they’re freed by not grasping. They truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ And having seen this with right understanding they’re freed by not grasping. That’s how to define a mendicant who is a perfected one, with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment.
A mendicant whose mind is freed like this has three unsurpassable qualities: unsurpassable seeing, practice, and freedom. They honor, respect, esteem, and venerate only the Realized One: ‘The Blessed One is awakened, tamed, serene, crossed over, and quenched. And he teaches Dhamma for awakening, self-control, serenity, crossing over, and extinguishment.’”
“Thưa Tôn giả Gotama, đến mức độ nào thì một vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận trừ các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí?” “Này Aggivessana, ở đây, vị Tỳ khưu, đối với bất kỳ sắc nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, dù bên trong hay bên ngoài, dù thô hay tế, dù hạ liệt hay cao thượng, dù xa hay gần, sau khi thấy tất cả sắc ấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi,’ vị ấy được giải thoát không còn chấp thủ. Đối với bất kỳ thọ nào… đối với bất kỳ tưởng nào… đối với bất kỳ hành nào… đối với bất kỳ thức nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, dù bên trong hay bên ngoài, dù thô hay tế, dù hạ liệt hay cao thượng, dù xa hay gần, sau khi thấy tất cả thức ấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi,’ vị ấy được giải thoát không còn chấp thủ. Này Aggivessana, đến mức độ ấy, vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận trừ các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí. Này Aggivessana, vị Tỳ khưu có tâm giải thoát như vậy được xem là đã thành tựu ba pháp vô thượng: kiến vô thượng, đạo vô thượng, và giải thoát vô thượng. Này Aggivessana, vị Tỳ khưu có tâm giải thoát như vậy chỉ tôn kính, quý trọng, tôn trọng, cúng dường Như Lai rằng: ‘Thế Tôn là bậc Giác Ngộ, Ngài thuyết pháp vì mục đích giác ngộ. Thế Tôn là bậc Điều Ngự, Ngài thuyết pháp vì mục đích điều ngự. Thế Tôn là bậc Tịch Tịnh, Ngài thuyết pháp vì mục đích tịch tịnh. Thế Tôn là bậc Vượt Thoát, Ngài thuyết pháp vì mục đích vượt thoát. Thế Tôn là bậc Bát-niết-bàn, Ngài thuyết pháp vì mục đích Bát-niết-bàn.’”
Evaṁ vutte, saccako nigaṇṭhaputto bhagavantaṁ etadavoca: “mayameva, bho gotama, dhaṁsī, mayaṁ pagabbā, ye mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ āsādetabbaṁ amaññimha. Siyā hi, bho gotama, hatthiṁ pabhinnaṁ āsajja purisassa sotthibhāvo, na tveva bhavantaṁ gotamaṁ āsajja siyā purisassa sotthibhāvo. Siyā hi, bho gotama, pajjalitaṁ aggikkhandhaṁ āsajja purisassa sotthibhāvo, na tveva bhavantaṁ gotamaṁ āsajja siyā purisassa sotthibhāvo. Siyā hi, bho gotama, āsīvisaṁ ghoravisaṁ āsajja purisassa sotthibhāvo, na tveva bhavantaṁ gotamaṁ āsajja siyā purisassa sotthibhāvo. Mayameva, bho gotama, dhaṁsī, mayaṁ pagabbā, ye mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ āsādetabbaṁ amaññimha. Adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
When he had spoken, Saccaka said to him, “Worthy Gotama, it was rude and impudent of me to imagine I could attack you in debate. For a person might find safety after attacking a rutting elephant, but not after attacking the worthy Gotama. A person might find safety after attacking a blazing mass of fire, but not after attacking the worthy Gotama. They might find safety after attacking a poisonous viper, but not after attacking the worthy Gotama. It was rude and impudent of me to imagine I could attack you in debate. Would the worthy Gotama together with the mendicant Saṅgha please accept tomorrow’s meal from me?” The Buddha consented with silence.
362. Khi được nói như vậy, Saccaka con của Nigaṇṭha bạch với Thế Tôn rằng: “Thưa Tôn giả Gotama, chính chúng tôi là những kẻ xấc xược, chính chúng tôi là những kẻ ngạo mạn, khi chúng tôi đã nghĩ rằng có thể công kích Tôn giả Gotama bằng lời tranh luận. Thưa Tôn giả Gotama, một người khiêu khích một con voi đang trong thời kỳ hung dữ có thể có được sự an toàn, nhưng một người khiêu khích Tôn giả Gotama thì không thể nào có được sự an toàn. Thưa Tôn giả Gotama, một người khiêu khích một đống lửa đang cháy hừng hực có thể có được sự an toàn, nhưng một người khiêu khích Tôn giả Gotama thì không thể nào có được sự an toàn. Thưa Tôn giả Gotama, một người khiêu khích một con rắn độc có nọc kịch độc có thể có được sự an toàn, nhưng một người khiêu khích Tôn giả Gotama thì không thể nào có được sự an toàn. Chính chúng tôi là những kẻ xấc xược, thưa Tôn giả Gotama, chính chúng tôi là những kẻ ngạo mạn, khi chúng tôi đã nghĩ rằng có thể công kích Tôn giả Gotama bằng lời tranh luận. Xin Tôn giả Gotama cùng với Tăng đoàn Tỳ khưu nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.” Thế Tôn đã im lặng nhận lời.
Atha kho saccako nigaṇṭhaputto bhagavato adhivāsanaṁ viditvā te licchavī āmantesi: “suṇantu me bhonto licchavī, samaṇo me gotamo nimantito svātanāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Tena me abhihareyyātha yamassa patirūpaṁ maññeyyāthā”ti.
Atha kho te licchavī tassā rattiyā accayena saccakassa nigaṇṭhaputtassa pañcamattāni thālipākasatāni bhattābhihāraṁ abhihariṁsu. Atha kho nigaṇṭhaputto sake ārāme paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi: “kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena saccakassa nigaṇṭhaputtassa ārāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho saccako nigaṇṭhaputto buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Atha kho saccako nigaṇṭhaputto bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho saccako nigaṇṭhaputto bhagavantaṁ etadavoca: “yamidaṁ, bho gotama, dāne puññañca puññamahī ca taṁ dāyakānaṁ sukhāya hotū”ti.
“Yaṁ kho, aggivessana, tādisaṁ dakkhiṇeyyaṁ āgamma avītarāgaṁ avītadosaṁ avītamohaṁ, taṁ dāyakānaṁ bhavissati. Yaṁ kho, aggivessana, mādisaṁ dakkhiṇeyyaṁ āgamma vītarāgaṁ vītadosaṁ vītamohaṁ, taṁ tuyhaṁ bhavissatī”ti.
Then, knowing that the Buddha had consented, Saccaka addressed those Licchavis, “Listen, gentlemen. I have invited the ascetic Gotama together with the Saṅgha of mendicants for tomorrow’s meal. You may all bring me what you think is suitable.”
Then, when the night had passed, those Licchavis presented Saccaka with an offering of five hundred servings of food. And Saccaka had delicious fresh and cooked foods prepared in his own park. Then he had the Buddha informed of the time, saying, “It’s time, worthy Gotama, the meal is ready.”
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to Saccaka’s park, where he sat down on the seat spread out together with the Saṅgha of mendicants. Then Saccaka served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Saccaka took a low seat and sat to one side.
Then Saccaka said to the Buddha, “Worthy Gotama, may the merit and the growth of merit in this gift be for the happiness of the donors.”
“Aggivessana, whatever comes from giving to a recipient of a religious donation such as yourself—who is not free of greed, hate, and delusion—will accrue to the donors. Whatever comes from giving to a recipient of a religious donation such as myself—who is free of greed, hate, and delusion—will accrue to you.”
363. Bấy giờ, Saccaka con của Nigantha, sau khi biết được sự chấp thuận của Thế Tôn, đã nói với các vị Licchavi ấy rằng: ‘Thưa quý ngài Licchavi, xin hãy nghe tôi. Sa-môn Gotama đã được tôi thỉnh mời cho ngày mai cùng với Tăng chúng. Do đó, xin quý ngài hãy mang đến cho tôi những gì mà quý ngài nghĩ là thích hợp cho vị ấy.’ Bấy giờ, sau khi đêm ấy trôi qua, các vị Licchavi ấy đã mang đến cho Saccaka con của Nigantha khoảng năm trăm nồi cơm làm vật thực cúng dường. Bấy giờ, Saccaka con của Nigantha, sau khi cho chuẩn bị các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm tại khu vườn của mình, đã cho người báo thời gian đến Thế Tôn: ‘Thưa ngài Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’ Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi đến khu vườn của Saccaka con của Nigantha. Sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn cùng với Tăng chúng. Bấy giờ, Saccaka con của Nigantha đã tự tay phục vụ, làm cho Tăng chúng với Đức Phật dẫn đầu được thỏa mãn và no đủ với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Bấy giờ, Saccaka con của Nigantha, khi thấy Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, bèn lấy một chỗ ngồi thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Saccaka con của Nigantha bạch với Thế Tôn rằng: ‘Thưa ngài Gotama, phước báo và sự dồi dào phước báo nào có trong sự bố thí này, mong rằng điều ấy sẽ đem lại an lạc cho các thí chủ.’ ‘Này Aggivessana, phước báo nào phát sanh do nương vào một người đáng cúng dường như vậy, người chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si, phước báo ấy sẽ thuộc về các thí chủ. Này Aggivessana, phước báo nào phát sanh do nương vào một người đáng cúng dường như Ta, người đã ly tham, đã ly sân, đã ly si, phước báo ấy sẽ thuộc về ông.’
Cūḷasaccakasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Tiểu Saccaka, kinh thứ năm, chấm dứt.